Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2019

Những Người Ở Xa Phía Sau

https://www.youtube.com/watch?v=HFOT0DL3cmQ
Sinh hoạt xã hội cũng như sinh hoạt riêng của mỗi cá nhân giống nhau ở chỗ có nhiều mặt, nhiều phía: phía trước - phía sau, mặt chìm - mặt nổi. Có người chẳng nổi nang xuất hiện bao giờ, nhưng lại nắm trọng trách quyết định hoặc ảnh hưởng lớn trong đường lối, kế hoạch chung của cộng đồng; có người suốt đời chìm sâu, thầm lặng nhưng là cố vấn khôn ngoan luôn được bạn bè hội ý; có người sinh ra để “đứng mũi chịu sào” phía trước, nhưng cũng có người chỉ ở phía sau kín đáo chuẩn bị, âm thầm sắp xếp, lặng lẽ thực hiện. Cách chung thì người ta chỉ biết những bộ mặt nổi, ở phía trước, còn những hình bóng chìm, phía sau thường mãi là bóng nhạt, hình mờ luôn rơi vào “không tên, không biết”.
Chung quanh cuộc đời Đức Kitô có rất nhiều khuôn mặt chìm nổi, xa gần, phía trước phía sau. Những nhân vật nổi được nhắc đến nhiều như Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan, Maria Mađalêna, Đức Maria, mẹ Ngài, bên cạnh đám đông thầm lặng, phía sau gồm những người đi theo nghe Ngài giảng, những phụ nữ đạo đức, những đại gia rộng rãi, quảng đại, những thanh niên, thiếu nhi, những người đau bệnh, những binh lính trong quân đội Rôma, những người Do Thái trong hàng ngũ Pharisiêu, trong tổ chức ái quốc Zêlốt… Đặc biệt trong những ngày khổ nạn, có nhiều bộ mặt rất nổi như môn đệ Giuđa, tổng trấn Philatô, thầy thượng phẩm Caipha, ông Simon người làng Kyrênê và nhiều người nổi khác… Ở giai đoạn lo liệu “hậu sự” cho Đức Kitô, xuất hiện hai nhân vật, tuy được nêu tên nhưng thuộc thành phần những người “giữ mặt chìm, ở phía sau”. Nhân thân của hai ông đặc biệt và có những đóng góp đặc biệt vào cuộc đời Đức Kitô. Đó là các ông Nicôđêmô và Giuse người thành Arimathê.
Ông Nicôđêmô “thuộc phái Pharisiêu và là một thân hào nhân sĩ Do Thái” (Ga 3,1). Pharisiêu là nhóm trí thức, thông luật, có uy tín trong dân và chủ trương tuân giữ nhiệm nhặt lề luật Môsê. Nhiều người trong nhóm đã bị Đức Kitô nặng lời khiển trách vì cung cách trịch thượng, kiêu căng, giả hình, thiếu bác ái, từ tâm (Mt 23). Nhóm này rất căm giận Đức Kitô và tích cực trong việc thực hiện âm mưu giết Ngài. Tuy thuộc phe đối lập chống Đức Kitô, nhưng Nicôđêmô vẫn thỉnh thoảng tìm gặp Đức Kitô ban đêm để trao đổi, đàm đạo (Ga 3,2). Có lần vì bênh vực Đức Kitô giữa buổi họp, ông đã bị các bạn Pharisiêu kịch liệt phản đối, đe doạ (Ga 7,50-52). Buổi chiều hạ xác Đức Kitô xuống khỏi Thánh Giá, “ông Nicôđimô cũng tới, mang theo độ một trăm cân mộc dược và trộn với trầm hương... rồi liệm xác Đức Kitô trong khăn như tục lệ của người Do Thái” (Ga 19,39-40).
Còn “ông Giuse là một nhân viên trong Hội Đồng Kỳ Mục của người Do Thái”. Hội Đồng Kỳ Mục là cơ quan điều hành mọi sinh hoạt đạo đời của người Do
Thái ở Giêrusalem. “Ông là người ngay thẳng, công chính. Ông không tán thành quyết định và hành động của các thành viên khác trong Hội Đồng” (Lc 23,50-51). Ông là môn đệ Đức Kitô, nhưng là môn đệ bí mật, kín đáo, ẩn danh, không muốn cho ai biết. Ông theo Đức Kitô nhưng theo ở phía sau, mặt chìm, trong bóng tối. “Ông đã đến xin tổng trấn Philatô cho tháo xác Đức Kitô xuống” (Ga 19,38) và chôn cất Ngài trong phần mộ còn mới của ông (Mt 27,59).
Hai ông thuộc thành phần kính trọng, ủng hộ, giúp đỡ Đức Kitô nhưng đứng phía sau và ở trong bóng tối. Hai ông đại diện cho số không nhỏ những người theo Đức Kitô ở đàng xa, không ra mặt, không mở lời, không gia nhập Giáo Hội, cũng không nhận mình là người có đạo. Tâm hồn hai ông và những người bí mật theo Chúa có những nét đẹp của lương tâm trong sáng, công chính, lương thiện và nét dễ thương của cuộc sống từ tâm, bác ái.

1.   Các ông có một lương tâm trong sáng, nên thấy rõ sự thật và con người thật của Đức Kitô. Sự thật và con người thật của Đức Kitô vào thời điểm đó đã bị phủ nhận, bóp méo, thay hình đổi dạng bởi Hội Đồng Kỳ Mục và nhóm Biệt Phái mà các ông là thành viên có thế giá. Đức Kitô đã bị chụp mũ, vu oan trắng trợn bởi các đồng nghiệp và các ông bị đặt trước tình trạng giằng co giữa sự thật không được tôn trọng, con người thật không được nhận diện đúng đắn và áp lực, lợi ích của phe nhóm. Các ông biết, người ta đã ngụy tạo, cắt xén, tô vẽ con người Giêsu thành một tên tội phạm nguy hiểm cho trật tự chung, tương lai xứ sở và lề luật Môsê vì thành kiến, vì lợi ích cá nhân, ảnh hưởng phe nhóm, nhất là vì ghen ghét, hận thù. Chỉ có hai ông, một người trong Hội Đồng, một người là thành viên nhóm Biệt Phái đã không tán thành những âm mưu đen tối, bất chấp sự thật của phe nhóm mình. Lương tâm trong sáng đã cho các ông nhận ra sự thật về Đức Kitô và sự thật đã kéo các ông đến với Ngài.
Với lương tâm trong sáng, Nicôđêmô đã nhận ra Đức Kitô là người công chính và tính xác thực của những phép lạ Ngài làm, nên đã kín đáo đến gặp Ngài ban đêm và gọi Ngài là Tôn Sư, Đấng Thiên Chúa sai đến và câu chuyện giữa hai người đã rất phong phú, sống động, thân tình (Ga 3,1-21).

2. Các ông là những người ngay chính, lương thiện nên đã đi vào đối thoại với Đức Kitô một cách cởi mở, chân thành khi tôn trọng sự thật và với thái độ tương kính. Người ta không đối thoại với nhau được phần lớn là vì thiếu lương thiện. Không lương thiện, người ta sẽ “ăn gian, nói dối” khi tranh luận vì sự thật không là mục tiêu phải đạt, sẽ “cả vú lấp miệng em” vì luật rừng của “kẻ mạnh” được lấy làm luật chơi và thói “lấy thịt đè người” được dùng như kỹ thuật dành lợi thế. Chiến thắng sẽ không là sự thật nhưng là kẻ mạnh, người quyền thế và thất bại thấy trước sẽ dành cho kẻ yếu, người thấp cổ bé miệng “không tiếng nói”, không thế lực.
Phải lương thiện như các ông mới dám lên tiếng như Nicôđêmô trước mọi người trong buổi họp, giữa lúc tuyệt đại đa số đồng lòng quyết định phải giết Đức Kitô: “Lề luật của chúng ta không cho phép kết án ai khi chưa tra hỏi người ấy trước và khi chưa biết rõ việc người ấy làm” (Ga 7,51). Lương thiện cũng giúp các ông can đảm, không sợ hãi nhưng chấp nhận bị phản đối, cô lập khi bênh vực người vô tội, bị hàm oan (Ga 7,52). Và lương thiện đã lôi cuốn các ông lại gần Đức Kitô, con người công chính đang bị vu vạ, cáo gian.

3.   Các ông có từ tâm, bác ái khi dùng uy tín của mình đến gặp Philatô và xin tháo xác Đức Kitô. Nếu không có hai ông là những người có thế giá chưa chắc gì xác Đức Kitô đã được trao trả sớm ngay chiều thứ sáu để tẩm liệm xứng đáng, vì người ta có thể để xác tội phạm trên thập giá qua lễ mới cho tháo xuống, đem chôn. Lòng tốt đã thúc đẩy hai ông hăng say, nhiệt tình lo liệu xin lấy xác và chôn cất Đức Kitô: hai ông đã đem đến vải mới, mộc dược, dầu thơm để liệm xác và ông Giuse đã hiến luôn phần mộ của mình cho Đức Kitô an nghỉ (Lc 23,50-53; Ga 19,38-42). Lòng tốt không tính toán, tìm lợi, tìm danh nhưng thầm lặng, kín đáo, nhẹ nhàng của hai ông đã giải quyết nhanh chóng và hữu hiệu “hậu sự” của Đức Kitô và đỡ cho Đức Mẹ cũng như tang gia nghèo một gánh nặng lớn. Thực ra, Đức Kitô bây giờ chỉ còn là một xác chết rách bươm, tím bầm thương tích, có gì để nịnh hót, chạy chọt, còn gì để bợ đỡ, xin xỏ. Lòng tốt ở hai ông lúc này mới tinh tuyền, thuần khiết làm sao, vì không dính bén một sợi chỉ đợi chờ, một đường tơ kiếm chác, ngoài từ tâm, bác ái đối với một con người đã chết, một con người thất thế, hết thời. Thương yêu, giúp đỡ lúc này mới khó, mới tuyệt, vì chỉ duy lòng tốt mới đủ kiên nhẫn ở lại đồng cảm và duy nhất từ tâm mới đủ khả năng có mặt sẻ chia.
Bên cạnh hai ông, có rất nhiều người cùng đi chung tuyến đường kín đáo, bí mật đến gặp Đức Kitô. Họ là những người thiện tâm với lương tâm trong sáng chân nhận sự thật, với lương thiện cởi mở đón nhận sự thật và với bác ái từ tâm yêu thương, bênh đỡ nạn nhân của sự thật. Có thể họ bị coi là những người hèn nhát, không dám công khai chọn một chiến tuyến, một con đường, một lãnh tụ; có thể họ bị chê là những người đi hai hàng, thờ hai chúa, làm tôi hai chủ; có thể họ bị khinh là đám thời cơ chủ nghĩa, đón gió, chờ thời; có thể họ bị miệt thị là những tay “ăng ten”, tên nội gián, kẻ nội thù; có thể họ bị người quen cô lập, xếp vào thành phần không dứt khoát, cuốn theo chiều gió, lừng khừng; và có thể họ bị ngăn cản, cấm đoán đến gặp Đức Kitô vì bị kết án là phường lưu manh, vô đạo…
Nhưng có lẽ, không ai biết họ hơn Đức Kitô vì ban đêm họ đã đến gặp Ngài; không ai hiểu họ hơn Đức Kitô vì lợi dụng đêm hôm, họ đã ngồi hàng giờ tâm sự, đàm đạo, học hỏi với Ngài; không ai quý họ hơn Đức Kitô vì họ đã vất vả thu xếp đến gặp Ngài trước những con mắt cú vọ rình mò và miệng đời ác độc; không ai thương họ hơn Đức Kitô vì hoàn cảnh tế nhị đã chưa cho phép họ đến với Ngài giữa thanh thiên bạch nhật, công khai, phía trước, hàng đầu.
Tuy đứng xa, nhưng có thể họ thấy rõ Đức Kitô hơn người đứng gần, vì mắt họ trong sáng. Tuy bí mật, kín đáo nhưng có thể tình nghĩa giữa Đức Kitô với họ thắm thiết, đậm đà, thân mật hơn người xắng xít, năng nổ, ồn ào nhưng nông cạn, hời hợt. Tuy không mang huy hiệu trên cầu vai, túi áo như những thành viên chính thức của hội đoàn, Giáo Hội, nhưng tâm hồn họ có thể đã đầy ắp Đức Kitô.
Thiên Chúa đến với con người qua những sáng kiến “cao thấu tầng trời, sâu tận vực thẳm” và mở ra hàng ngàn ngàn triệu những con đường dẫn con người đến với Ngài. Vì thế, không ai có quyền ngăn cản Đức Kitô mở lối, không ai có quyền kiểm soát đường bay của gió, không ai có quyền đóng khung, quy định hoạt động của Thánh Thần và Thiên Chúa tự do đến với mọi người trong tình trạng, cảnh huống, điều kiện riêng của họ. Ở trong Chúa, có tất cả những gì đẹp nơi con người, những gì tốt nơi con người, những gì thật nơi con người để tất cả những người thiện tâm khao khát Chân Thiện Mỹ sẽ gặp được Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối, ước vọng tối hảo của con người.
Hai ông Nicôđêmô và Giuse Arimathê không những đã gặp, đàm đạo với Đức Kitô mà còn được hạnh phúc nhận xác, rồi tẩm liệm, chôn cất Ngài. Ai dám nghĩ hai ông đã không được Đức Kitô thương và ai dám điểm mặt các ông là những tên hoạt đầu, đón gió, chờ thời, hai hàng, ngoại đạo?
Chắc chắn Tuần Thánh năm nay, ở đàng xa, phía sau nhà thờ, trong đêm khuya thanh vắng đang có rất nhiều bước chân rất nhẹ, rất êm tìm đến gặp gỡ Đức Kitô. Đó là những bước chân dễ thương, từ tâm, lương thiện, vững vàng, can đảm nhờ tâm hồn trong sáng, những bước chân, tuy âm thầm, dè dặt, bí mật, không để lại dấu vết nhưng sẽ đi đến tận cùng đường Thánh Giá của Đức Kitô.

Viếng Mộ

https://www.youtube.com/watch?v=IMUSzcmapXo
Mộ là nơi chôn người chết, không gian của chết chóc, buồn sầu, nên không ai tìm đến mộ mà vui chơi, nhẩy nhót, rượu chè, không ai ra mộ mà cười nói huyên thuyên, nhố nhăng lơi lả. Mộ giữ người chết trong lòng đất. Mộ vùi sâu thi hài. Mộ lưu giữ công khai tấm ảnh người quá cố với dòng chữ ngắn ghi tên, ngày sinh, ngày tử. Mộ buồn lắm dù có ngập hoa bao phủ. Mộ lạnh lắm dù có nến thắp lung linh. Mộ sợ lắm dù cả nhà đang quây quần, xúm xít. Mộ xa lắm dù có áp ngực, quỳ gối kề bên.
Mỗi lần “đưa ma” là thấy mộ. Mộ há to mồm cạp lấy quan tài như đang cơn đói. Mộ vội vã đóng cửa, gài then bằng đống đất đầy, vun cao. Mộ khép kín, nén chặt để không ai có thể cầy xới, bới đào trừ ra đàn kiến và đám côn trùng cứng cổ. Mộ lãnh đạm, lạnh lùng: đến giờ là đóng tấm đan, lấp đất, không trì hoãn tiếc thương, không chần chừ quyến luyến. Và ai cũng thua quyết định của mộ và khẩn trương lấp kín, đóng chặt, chèn kỹ lưỡng, bỏ lại người chết an nghỉ trong mộ phần hiu quạnh.


Vì là tuần tử nạn, tuần có “Thiên Chúa làm người” chết, nên Tuần Thánh không tránh được chuyện mai táng, mộ phần: “Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn và trong vườn có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do Thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó” (Ga 19,41-42).
Thế là từ nay mộ được thêm uy quyền, vì chôn được “Thiên Chúa”. Chôn con người đã đành, chôn luôn Thiên Chúa thì quả thực mộ toàn năng.
Mộ và sự chết đã hợp tác, hợp lực chôn Đức Kitô để chứng tỏ: chết là hết vì sự chết không nói gì, người chết không nói gì, nay đến Thiên Chúa chết cũng nín thinh, không nói gì. Mộ phần và sự chết thành công khi thấy con người đến mộ mà khóc: khóc vì mất người thân, khóc vì không cứu vớt được những dấu ái, yêu thương khi thần chết vung tay tung lưỡi hái. Mộ và sự chết nhìn nhau cười ha hả khi quan tài là dấu chấm hết của kiếp nhân sinh. Và mộ ôm sự chết nhảy mừng khi con người quỵ ngã, nức nở, ngậm ngùi đưa tiễn người thân vào mộ phần u tối.
Hôm chôn Đức Kitô, chị Maria Madalêna cũng có mặt. Chị nhớ lại cách đây không lâu, vừa lo xong đám tang em trai được mấy ngày thì Đức Kitô đến viếng mộ. Hôm ấy, “vừa thấy Ngài, chị liền phủ phục dưới chân mà nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây thì em con không chết. Thấy chị khóc và những người Do Thái cùng đi với chị cũng khóc, Đức Kitô thổn thức trong lòng và xao xuyến. Ngài hỏi: “Xác để ở đâu?” Mọi người trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem”. Đức Kitô bật khóc... Rồi Ngài đi đến mộ. Ngôi mộ là một cái hang có phiến đá đậy lại. Ngài bảo: “Lấy phiến đá ra!” Chị cả Matta liền nói: “Thưa Thầy nặng mùi lắm rồi, vì em con đã chôn được bốn ngày”. Đức Giêsu bảo: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị, nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang Chúa sao?” Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giêsu ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha luôn nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha sai con”. Nói xong, Ngài kêu lớn tiếng: “Anh Lazarô, hãy ra khỏi mồ!” Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn” (Ga 11,32-44).
Là chỗ thân tình, nên nghe tin Lazarô chết, Đức Kitô đã vội về Bêtania viếng mộ. Như bao cuộc viếng mộ khác đã không tránh khỏi thổn thức, bùi ngùi, xao xuyến, nước mắt lưng tròng, sụt sùi thống thiết, nức nở nhớ thương và cũng như bao người khác đi viếng mộ người thân, Đức Kitô đã bồi hồi và bật khóc khi đến mộ. Tình cảm dành cho người quá cố biểu lộ qua những giọt lệ lăn dài trên má, những đôi mắt buồn, cay sè, đỏ hoe, những bước chân nặng nề sầu thảm của tang gia và những người hàng xóm tháp tùng Đức Kitô cùng đi viếng mộ. Trước mộ phần u tối với xác người đã hôi thối, không ai ngờ Đức Kitô đã gọi người chết ra khỏi mồ và cho sống lại, kể cả Maria, vì cô chỉ dám nghĩ: “Nếu Thầy ở đây thì em con không chết”, chứ nào dám nghĩ: kể cả em con chết rồi, Thầy vẫn có thể làm cho sống lại, vì thấy “xác đã chôn bốn ngày và đã nặng mùi hôi” (Ga 11,39).


Bên xác Đức Kitô hôm nay, chiều thứ sáu tuần thánh, càng nhớ phép lạ Ngài làm cho em mình sống lại, Maria càng thương Đức Kitô và thổn thức, xao xuyến như Ngài đã xao xuyến, thổn thức trước mộ Lazarô.
Như Đức Kitô đã vội vã về Bêtania viếng mộ em mình, hôm nay “Ngày thứ nhất sau ngày Sabát, lúc sáng sớm, trời còn tối, Maria Madalêna đã đi viếng mộ Đức Kitô. Cô thấy tảng đá đã lăn ra khỏi cửa mộ”. Hốt hoảng, cô chạy về tìm Simon Phêrô và Gioan. Cả hai cùng chạy đến xem và họ thấy khăn liệm còn đấy mà xác thì không còn… Buồn bã, hai môn đệ trở về nhà vì họ nghĩ ai đó đã đánh cắp xác Đức Kitô và không nhớ ra lời Đức Kitô đã dặn: Thầy sẽ sống lại từ cõi chết. “Còn Maria, cô cứ đứng khóc bên cạnh mộ, vừa khóc vừa nghiêng mình ngó vào bên trong. Cô thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã táng xác Chúa, một thiên thần ở phía đầu, một thiên thần ở phía chân. Thiên thần hỏi: “Cô kia, sao khóc thế?” Maria đáp “Người ta lấy mất Chúa tôi rồi và tôi không biết họ để Người ở đâu”. Nói xong, cô quay lại đằng sau và thấy Chúa Giêsu đứng đấy, nhưng cô không nhận ra Ngài. Chúa Giêsu hỏi: “Chị này, sao mà khóc thế?” Cô Maria tưởng đó là người làm vườn, nên hỏi: “Thưa ông, nếu có phải ông đã đem Thầy tôi đi thì xin cho tôi biết ông để ở đâu, để tôi đi lấy về”. Chúa Giêsu gọi: “Maria!” Bà nhận ra Chúa và kêu lên “Rabbôni” nghĩa là “Thầy” (Ga 20,1-16).
Cùng một nhân vật Maria Mađalêna, hôm trước cô đã cùng đi với Đức Kitô ra viếng mộ em trai Lazarô, hôm nay, một mình đi viếng mộ Đức Kitô. Hôm trước cô cùng khóc với Đức Kitô trước mộ em, hôm nay một mình, cô nức nở khóc Đức Kitô. Hôm trước, có Đức Kitô an ủi, hôm nay có hai thiên thần và Đức Kitô ủi an nhưng cô không nhận ra Ngài. Hôm trước có đông người cùng đi viếng mộ, hôm nay gọi thêm được Phêrô, Gioan, nhưng cả hai đã vội đến vội đi, bỏ cô thui thủi một mình với mộ trống. Hôm trước xác tuy đã nặng mùi nhưng còn đó, hôm nay “người ta đã lấy mất xác Thầy”. Hôm trước, cô còn có Thầy để nhõng nhẽo, trách yêu: “Nếu Thầy ở đây thì em con đã không chết”, hôm nay Thầy chết rồi, lại còn bị lấy mất xác, cô lấy ai để phụng phịu bắt đền. Hôm trước, Thầy làm phép lạ, hôm nay chẳng biết người ta đánh cắp rồi để xác Thầy ở đâu.
Maria Mađalêna với hai lần viếng mộ trong khoảng thời gian không mấy xa nhau. Hai lần viếng mộ đều có Đức Kitô: lần trước cô đi với Ngài, lần sau cô đi viếng Ngài; lần trước Ngài xao xuyến, bồi hồi trước mộ em cô, lần này cô xao xuyến, bồi hồi trước mộ Ngài; lần trước Ngài khóc em cô, lần sau cô khóc Ngài; lần trước Ngài cho Lazarô, em cô sống lại, lần này Ngài tự mình sống lại; lần trước cô gọi Thầy, lần này Thầy gọi tên cô; lần trước cô chạy ra đầu làng đón Thầy, lần này Thầy đứng ngoài cửa mồ, ngay sau lưng cô; lần trước cô vui mừng vì em trai được Thầy cho sống lại, lần này cô mừng vui vì Thầy phục sinh; lần trước em cô ra khỏi mồ chân tay còn quấn vải, mặt còn phủ khăn, lần này Ngài ra khỏi mộ mà vải liệm, khăn che mặt vẫn còn đó; lần trước có đám đông, lần này có thiên thần; lần trước nước mắt cô khô vì em cô được sống lại, lần này dòng lệ cô ngưng chảy vì Thầy đã phục sinh từ cõi chết; lần trước cô phấn khởi mời Thầy về nhà dùng bữa mừng em cô sống lại, lần này Thầy sai cô đi báo Tin Mừng Phục Sinh cho các anh em môn đệ của Thầy và cả lần trước lần này, cả hai lần cô đều có Thầy.
Cả hai lần viếng mộ, Maria đều có Đức Kitô: lần trước có Đức Kitô, Ngài đã làm phép lạ cho em cô được sống lại, lần sau có Đức Kitô, Đấng đã sống lại từ trong cõi chết; lần trước có Đức Kitô ban sự sống, lần sau có Đức Kitô là “sự sống và sự sống lại”; lần trước có Đức Kitô gọi người chết ra khỏi mồ, lần sau chính Ngài ra khỏi mồ vì Ngài là sự sống; lần trước Ngài sai người ta lấy đi phiến đá cửa mồ, lần sau Ngài tự đẩy phiến đá và mở cửa mồ đi ra.
Hai lần viếng mộ, Maria Mađalêna đều chứng kiến “phép lạ sự sống” mà người làm phép lạ là Đức Kitô. Cả hai lần, cô đều đi với, đi cùng, đi gặp, đi theo Đức Kitô là sự sống và cả hai lần cô được thấy sự sống đã chiến thắng sự chết. Cả hai lần, cô đã quấn quýt Đức Kitô là sự sống và cô đã nhìn tận mắt con người được sống lại nhờ quyền năng của Đức Kitô. Cả hai lần cô đã gắn bó, bám chặt lấy Đức Kitô và cô đã không thất vọng vì sự sống đã trả cô những người thân đã mất. Cả hai lần, cô đã biểu lộ tình yêu thiết tha dành cho Đức Kitô và cô đã được sự sống làm khô mắt lệ, làm trái tim tràn ngập niềm vui. Cả hai lần cô đã đi theo Đức Kitô và đã được Đức Kitô mời tham dự vào mầu nhiệm phục sinh: lần đầu, cô năn nỉ mời Đức Kitô ra viếng mộ, nhờ đó mà em cô được sống lại, lần sau cô viếng mộ Ngài rất sớm, nhờ thế mà Tin Mừng Phục Sinh được nhanh chóng loan truyền. Cả hai lần cô đã lắng nghe Đức Kitô và nhận ra Ngài là Thiên Chúa của sự sống, Thiên Chúa của người sống. Cả hai lần cô đã không để mất Đức Kitô và đã được Ngài âu yếm gọi tên. Cả hai lần cô đã tin ở Đức Kitô và cô đã không phải thất vọng.
Đi viếng mộ Lazarô, Đức Kitô đã nghe thần chết đắc thắng, ngạo nghễ trước bàn dân thiên hạ: “Chết là hết đời, chết là hết sống, còn gì đâu mà thương với khóc, vì chết chấm dứt tất cả, đoạn tuyệt tất cả, hủy bỏ tất cả… bằng cớ là xác người chết đã thối rữa ra rồi!” Đi viếng mộ Lazarô, Đức Kitô, Thiên Chúa của sự sống và người sống đã lật mặt gian dối và chỉ mặt thần chết: “Hỡi thần chết, mày là thằng nói láo, lừa bịp, vì chết không phải là hết, chết không phải hủy diệt, nhưng chết chỉ là một bước chuyển tiếp vào đời sống mới, một tiến trình cần thiết để đi vào sự sống đời đời. Chết có đau đớn đấy, nhưng là nỗi đau của người mẹ sinh con, nỗi đau cần thiết cho sự sống. Chết không là nỗi đau tuyệt vọng, nhưng là đau đớn cho sự sống mới được phát sinh”. Làm phép lạ cho Lazarô sống lại, Đức Kitô đã cho mọi người thấy: Thiên Chúa có quyền trên sự chết và Ngài sẽ làm sống lại tất cả mọi người đã chết. Sự chết không độc quyền bá chủ nghĩa trang, mộ phần, nhưng khi Thiên Chúa đến, Ngài sẽ làm cho người chết sống lại, đi ra khỏi mồ. Sự chết không còn uy lực trên con người, vì Thiên Chúa sự sống đã chiến thắng, tiêu diệt sự chết.
Đi viếng mộ Đức Kitô, cô Maria đã thấy Đức Kitô sống lại và sự chết không còn quyền gì trên Ngài. Đi viếng mộ Đức Kitô, Maria đã gặp Đức Kitô đang sống và sự chết bị hoàn toàn triệt hạ khi mộ phần bị mở tung, toang hoang, trống rỗng. Chỗ chết bây giờ là đất sống. Mộ chôn người chết bây giờ là thiên đàng có thiên thầnthong thả ngồi chơi. Nghĩa địa, bãi tha ma bây giờ là nơi quy tụ những người sống lại. Chết không còn làm người sống sợ vì chết chỉ là một quãng đường dẫn từ sự sống bên này qua sự sống bên kia. Chết không còn làm người sống tuyệt vọng, vì sau cái chết có sự sống, đàng sau cửa tử lấp ló ánh nắng buổi sáng phục sinh. Chết không còn làm người sống ủ rũ, đau buồn, vì Thiên Chúa sự sống sẽ ghé qua viếng mộ và làm cho người chết sống lại.


Viếng mộ với Đức Kitô là giới thiệu Thiên Chúa Nguồn Sống với người chết, là nài xin ơn sống lại cho họ và xác tín sự sống này không bị hủy diệt, tiêu tan, nhưng chỉ đổi thay, chuyển biến, chờ một đời sống mới. Viếng mộ với Đức Kitô là nắm chắc ơn sống lại cho người thân đã chết, vì Đức Kitô rất dễ thổn thức, xao xuyến, bật khóc trước người quá cố và nhiệt tình làm phép lạ cho họ sống lại. Viếng mộ với Đức Kitô là nhận về niềm vui được cứu sống, vì Ngài là sự sống đã đến trong thế gian để mọi người được sống và sống dồi dào (Ga 10,10).
Tuần Thánh với mộ phần, nhưng là phần mộ trống rỗng, không người chết, không mùi hôi xác chết, không giòi bọ rút tỉa tử thi. Tuần Thánh có người chết, nhưng người chết tự tung cửa mộ, ra khỏi mồ. Tuần Thánh có Thiên Chúa bị loài người giết chết, chôn kín trong mộ, nhưng cửa mồ mở toang, thiên thần có mặt, Thiên Chúa phục sinh. Tuần Thánh vì có Đấng Thánh của Thiên Chúa nằm chết với con người, nên từ nay Tuần Thánh là cọc mốc đánh dấu chiến thắng của Thiên Chúa Sự Sống trên Tử Thần ác độc, dữ dằn. Tuần Thánh có Thiên Chúa phục sinh nên sự chết từ nay không còn làm con người sợ, vì có chết đi mới được sống lại với Ngài, “như hạt lúa có bị chôn vùi, thối đi mới nẩy mầm, đơm hạt” (Ga 12,25).
Như Maria Mađalêna đã đi viếng mộ Chúa và viếng mộ với Chúa để nhận được niềm vui sống lại, xin cho mỗi người cũng được hưởng trọn niềm vui Phục Sinh khi biết nắm chặt tay Đức Kitô trên đường đưa người thân đến mộ, trên đường đi viếng xác người quá cố, cũng như trên đường dẫn đến phần mộ riêng của mình.
Có Đức Kitô cùng đi, ở đâu cũng sẽ là thiên đàng, dù là mộ phần tăm tối. Có Đức Kitô ở cùng, nơi nào cũng sẽ rộn rã niềm vui, dù là nghĩa trang sầu thương, khóc lóc tức tưởi. Có Đức Kitô đồng hành, đường nào cũng dắt về sự sống, dù là tử lộ kinh hoàng. Có Đức Kitô ở bên, nơi nào cũng sẽ là mái ấm, dù giữa nghĩa trang cô liêu, vắng lạnh. Có Đức Kitô trong đời, đời sẽ tràn ngập sự sống “Phục Sinh” và ngày nào cũng là “ngày Thiên Chúa đã làm ra, chúng ta hãy hoan hỷ vui mừng. Halêluia !” (Tv 117,24).

Lòng Chúa Thương Xót

Phong trào “Lòng Chúa thương xót” những năm qua tạo nên nhiều thắc mắc, ý kiến, khuynh hướng phò - chống trái ngược nhau. Có cha xứ cấm bổn đạo đến nhà thờ Chí Hoà mỗi trưa thứ năm hàng tuần để dự những buổi lễ kính lòng thương xót Chúa do cha Trần Đình Long, dòng Thánh Thể tổ chức; có cha lại tán thành, tạo điều kiện; có người xem những buổi tụ tập đông người quanh “Lòng Thương Xót” là mê tín; có đấng khác cho rằng: đây là thời cấp bách truyền rao lòng Chúa xót thương và nhiệt tình ủng hộ.
Thực ra, không phải mới có lòng Chúa thương xót và Chúa mới chỉ bắt đầu xót thương con người mấy năm nay. Nhưng từ thuở đời đời và cho đến tận thế, Chúa vẫn một lòng xót thương và trung thành với giao ước xót thương nhân loại của Ngài. Các tổ phụ Israel, Đức Maria và Giáo Hội vẫn hằng ca tụng không ngơi nghỉ “Lòng thương xót Chúa trải qua từ đời nọ đến đời kia hằng bao bọc những người kính sợ Chúa” (Lc 1,50). Như thế, lòng thương xót đã có từ ngàn đời và không bao giờ bị gián đoạn, đứt khúc hay tàn lụi, phôi pha. Lòng thương xót ấy bền vững đời đời và đối tượng của lòng thương xót là con người biết kính sợ Chúa.
Biết kính sợ Chúa là điều kiện duy nhất để nhận lòng thương xót: “Hãy đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây. Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào” (Is 55,1). Mua mà không phải trả tiền tức là đến lãnh không, nhận hàng “free”. Sở dĩ lòng thương xót còn xa lạ, mới mẻ vì bấy lâu ta chưa biết kính sợ Chúa, chưa xem Chúa là cần thiết cho cuộc đời, nên chẳng “tìm Ngài khi Ngài còn cho gặp và kêu cầu Ngài lúc Ngài còn ở kề bên” (Is 55,6).
Biết kính sợ Chúa là lắng tai nghe và đến với Ngài (Is 55,3). Đó là thái độ mở lòng và quyết tâm, điều kiện để nhận lòng thương xót. Vì thế, đặt thêm những điều kiện mới khác để nhận được lòng thương xót là xúc phạm chính lòng thương xót, vì Thiên Chúa đã muốn ban tặng trái tim thương xót của Ngài một cách quảng đại, không bủn xỉn tính toán.
Chính vì lòng thương xót được cho đi một cách dễ dàng, “nhưng không”, nên mới có chuyện người anh lớn khó chịu khi thấy cha vui mừng cho hạ dê béo mừng em trở về sau những năm dài đi hoang (Lc 15,28), mới có chuyện bực bội khi thấy người khác được nhận vào làm giờ chót mà vẫn ăn lương cả ngày (Mt 20,11-12), mới có chuyện bất mãn khi thấy người tội lỗi được “trở lại” vài phút trước khi chết và người ngoại đạo nhận được ơn này ơn kia. “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta… Bởi trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55,8-9).
Không như tư tưởng con người, Thiên Chúa đã lấy lòng thương xót làm sự thánh thiện của mình (Lc 6,36) để thay vì lấy uy quyền của “Thiên Chúa các đạo binh”, lấy “chí công vô tư” nghiêm khắc của Thiên Chúa chánh án, quan toà làm nền cho sự thánh thiện, Ngài đã chọn trái tim bằng thịt hay xúc động, dễ cảm thông, luôn chạnh lòng. Thay vì chọn cho mình tên gọi “nổ rền vang, kêu hoành tráng”, Thiên Chúa đã tự chọn cho mình tên “Thiên Chúa Tình Yêu” nhẹ nhàng, êm ái, tên của Thiên Chúa khiêm hạ, vâng lời, hy sinh, có trái tim từ bi, nhân hậu, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung (1Ga 4,8; 4,16).
Không như đường lối con người, Thiên Chúa đã bất chấp logic bình thường của con người khi biểu dương danh thánh và sự thánh thiện của Ngài là tình yêu thương xót trên những kẻ đã xúc phạm đến Ngài. Cứu Israel ra khỏi các dân tộc thống trị dù Israel phản nghịch, bội ước, Thiên Chúa đã hành động ngược lại tư tưởng và đường lối của con người khi đơn phương và vô điều kiện tha thứ cho Israel: “Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, mà vì danh thánh của Ta” (Is 36,22). Vì danh Ngài là Thiên Chúa nhân hậu, giàu lòng xót thương, nên Ngài không thể không xót thương, nhân hậu; nếu không Ngài sẽ tự lừa dối khi từ chối chính mình. Vì danh Ngài là Thiên Chúa thánh thiện do lòng thương xót, nên Ngài chỉ biết xót thương vì Ngài luôn thánh thiện (Xh 34,6; Tv 102,8).
Tiên tri Isaia đã trình bày những việc Thiên Chúa làm vì xót thương Israel trong bài đọc đêm vọng Phục Sinh như niềm hy vọng cho những ai biết kính sợ, chạy đến với Ngài:

1. Thiên Chúa đã đem Israel ra khỏi các dân tộc và quy tụ họ trên đất của họ (Is 36,24). Tha hương là nỗi khổ mọi người. Không được sống trên quê cha đất tổ là một bất hạnh nên có người con xa xứ, “tha phương cầu học hay cầu thực” nào đã chẳng chạnh lòng nhớ quê, dù quê hương ấy bệ rạc, rách nát, khốn khó thế nào đi nữa.
Dân tộc Israel “nổi tiếng” với lịch sử triền miên bị lưu đầy, bách hại. Thế kỷ hai mươi tưởng đã xa thời man rợ, thế mà hơn sáu triệu người Israel đã bị tiêu diệt trong các trại tập trung của Đức quốc xã, dưới bàn tay hung bạo của nhà độc tài Hitler. Cựu Ước cũng đã ghi lại các cuộc lưu đầy mà Israel phải chịu và nỗi khổ lưu đầy đã là bất hạnh được thấy rõ nhất trong lịch sử dân Chúa. Xót thương dân mà Ngài đã chọn, Thiên Chúa cho họ trở về quê hương, trên đất của tổ tiên, cha ông, mặc dù “đi đến đâu, họ cũng xúc phạm đến danh Ta giữa chư dân và làm cho ra ô uế đất ấy vì lối sống và hành vi của họ” (Is 36,17.20).
Hồi hương dân riêng, Thiên Chúa cũng hồi hương tâm hồn con người để con người được an cư lạc nghiệp. Hồi hương đối với người tín hữu là trở về với Đức Kitô, để trên quê hương là Đức Kitô, tâm hồn người tín hữu được hạnh phúc bình an.



2.   Thiên Chúa “thanh tẩy họ để họ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần” (Is 36,25). Một ngày không tắm còn được, nhưng một tháng không tắm thì quả là kinh hoàng. Những ai đã ở tù hay trại tỵ nạn đều ít nhiều kinh nghiệm về chuyện hiếm nước, “yêu nước” khi thân xác nhầy nhụa, dơ bẩn, hôi hám vì lâu ngày không tắm. Tâm hồn không tắm cũng ngứa ngáy, bứt rứt, khó chịu như thân xác ghẻ lở vì ở dơ. Thiên Chúa muốn tâm hồn dân Ngài được thoải mái, mát mẻ khi tắm sạch, rửa sạch họ khỏi mọi tội lỗi. Tình yêu thương xót như nước sẽ rửa sạch mọi ô uế và cho tâm hồn nên trinh trắng, trong sạch. Sạch để đón nhận trọn vẹn tình Chúa thương xót. Trắng để Thiên Chúa thánh thiện do lòng xót thương biến đổi nên giống Ngài hơn.

3.   Ngài ban tặng họ một quả tim mới bằng thịt (Is 36,26) để thay thế quả tim cũ chai đá, cứng cỏi, gian tà, ngoan cố. Trái tim là tổng hành dinh điều khiển đời sống. Người có trái tim nhân hậu sẽ yêu thương hết tình và tha thứ hết mình. Người có trái tim độc ác sẽ chỉ suy nghĩ và làm điều ác độc. Tim trong sáng cho cuộc đời trong sáng. Tim đen tối làm cuộc đời tối đen. Vì thế, thay áo đổi quần, thay nhà đổi xe, thay da đổi thịt hay thay đổi gì đi nữa trên thân thể cũng không bằng thay tâm, đổi lòng; bởi trái tim, tâm hồn mới cần được đổi thay để nhờ đó, tất cả sẽ được tự động thay đổi. Trái tim vui đem về hạnh phúc. Trái tim buồn đem lại khổ đau. Trái tim thánh thiện đem ơn cứu sống. Trái tim chai đá trả về kiêu căng hủy diệt. Nhưng không ai thay được tim người khác hay tự đổi được tim mình, vì tim là cơ quan trọng yếu nên rất khó thâm nhập, là cơ năng phức tạp nên rất khó can thiệp, đổi thay, ngoại trừ Thiên Chúa và Thánh Thần của Ngài. Chỉ một mình Thiên Chúa mới thay đổi được trái tim con người và đặt vào quả tim mới bằng thịt. Với quả tim mới, con người mới được tái tạo sẽ xây dựng một trời mới, một đất mới của Thần Khí mới (Is 36,27).
Đó là viễn cảnh sống lại của tâm hồn, là hứa hẹn ngày phục sinh từ cõi chết, là bước chân trở về với lòng Chúa xót thương, Đấng sẽ làm mới lại tất cả bằng cách ban cho con người một quả tim mới bằng thịt để biết chạnh lòng xót thương, động lòng trắc ẩn và rộng lòng sẻ chia.
Ban lại quả tim mới thay quả tim đen tội lỗi, ban lại trái tim bằng thịt thay tâm địa kiêu căng, Thiên Chúa thương xót con người mà chính Ngài đã tạo dựng với trái tim yêu thương như hình ảnh Ngài. Tiếc xót tạo vật mình yêu quý, thương nhớ hình ảnh mình dựng nên, Thiên Chúa phải tự trở về với danh Ngài, tự tìm về căn tính yêu thương của Ngài để có cớ cứu chuộc và tái tạo con người khi ban cho họ nguồn sống mới trong một tâm hồn mới bởi một Thần Khí mới. Sự sống lại của Đức Kitô chính là sự sống mới được ban cho con người. Trong sự sống mới này, con người sẽ “đi theo thánh chỉ, tuân giữ các giáo huấn” (Is 36,27) và Thiên Chúa sẽ “giao hoà với con người bằng giao ước mới và Ngài không còn nhớ lại lỗi lầm xưa”. Giao Ước mới sẽ được ghi khắc tận đáy lòng, sâu thẳm trong trái tim mỗi người và từ bé chí lớn, trẻ em đến người già, tất cả sẽ đều biết và yêu mến Thiên Chúa, bởi Ngài tha thứ tất cả lỗi lầm và chẳng nhớ lầm lỗi của ai (Gr 31,31-34).
Đêm vọng Phục Sinh cùng anh chị em tân tòng nhận bí tích Thánh Tẩy, chúng ta sống mầu nhiệm nước phục sinh, nước từ cạnh sườn Đức Kitô trên Thánh Giá. Đây là nước của lòng thương xót, nước mang ơn thanh tẩy, thứ tha, nước ban sự sống, nước làm mát tâm hồn, làm dịu cơn khát, làm mềm đất khô, làm tươi cuộc đời. Đây là nước mà ai cũng có thể đến kín múc, không phải trả tiền, không bị đóng thuế. Nước yêu thương, an ủi, nước thương xót dạt dào, nước đổi mới, tái tạo.
Ngôn sứ Êzêkien đã giúp ta ra khỏi những thắc mắc, nghi vấn về lòng thương xót Chúa và tránh cho ta sai lầm khi đặt tư tưởng “cao vời khôn ví” của Thiên Chúa vào khung hẹp ý nghĩ của loài người, đặt đường lối vô cùng nhiệm lạ của Thiên Chúa vào khung nhỏ kế hoạch của nhân loại, nhìn công trình bao la của Thiên Chúa trong nhãn giới hạn hẹp của thế gian.
Lời sấm của ngôn sứ cũng nhắc ta đừng vẽ chân dung Thiên Chúa theo khuôn mẫu, tiêu chuẩn của ta, đừng gán ghép hình ảnh ta cho dung mạo Ngài, nhưng tìm kiếm và làm sáng hình ảnh, dung mạo Thiên Chúa trong ta; bởi lòng thương xót Chúa vượt xa ý nghĩ, tâm tư và tầm nhìn rất giới hạn của con người. Lòng thương ấy cứu chữa vô điều kiện, cứu chuộc không biên giới, cứu độ không so đo, cho đi không mặc cả, sẻ chia không tính toán và trao ban không đòi thế chấp, biên lai.
Và mãi mãi vượt xa tư tưởng, đường lối loài người, lòng thương xót của “Thiên Chúa làm người” chỉ muốn được yêu con người và ao ước con người nhận ra hình ảnh xót thương của mình trong tâm hồn họ, hình ảnh một tình yêu xót thương luôn chữa lành, đổi mới.

Cái Chết Của ĐỨC KITO

https://www.youtube.com/watch?v=c7jN-M-kb-g
Chết là một ám ảnh cũng có tuổi tác như con người, nhưng khác con người, ám ảnh chết càng lớn, càng có tuổi lại càng mạnh và càng làm con người sợ. Trước tuổi năm mươi, tôi ít nghĩ về sự chết, nhưng sau cái tuổi “tri thiên mệnh” ấy, tôi thấy sự chết cứ như quanh quẩn, vờ vĩnh muốn làm quen, lại gần… kể cả trong giấc ngủ bắt đầu đứt quãng của tuổi sắp về hưu.
Chết ám ảnh con người, vì chết là một thực tại không thể tránh. Chết làm con người sợ, vì chết là một ẩn số không ai tự mình hay nhờ người khác giải được. Chết vào đời cùng sự sống, nên khi chào đời cũng là lúc ý thức về một ngày lìa đời được ươm mầm. Chết có sẵn, không cần phải kiếm tìm. Chết có mặt, không cần điểm danh. Chết sẵn sàng, không cần mời gọi. Chết biết những gì phải làm, không cần nhắc nhở. Chết biết mình là ai, không cần được giới thiệu. Chết bí mật từ lý lịch đến hành vi, thái độ. Chết lạnh lùng, lãnh đạm không cho ai quen và chết đơn độc, kiêu hãnh không muốn ai kết bạn.
Sợ chết như một tai hoạ, vì chết quả là tai hoạ lớn nhất cuộc đời. Thua lỗ, khánh kiệt còn tìm cách gượng dậy, mất sự nghiệp, mất người yêu còn cơ hội kiếm người yêu, sự nghiệp khác; nhưng chết đến lấy đi sự sống thì coi như tàn đời, toi đời, hết đời mà đời tàn thì chẳng còn gì gỡ gạc cho đời tươi, đời hết thì chẳng hòng chi kiếm lại đời.
Chết kinh hoàng, chết đe doạ nên nghĩ đến chết là nghĩ đến ngày cùng, đường cùng và tất cả dừng ở điểm cuối cùng đáng sợ, sầu thảm, thê lương: giờ chết. Vì thế, một số đông không dám nghĩ đến sự chết, không phải vì anh hùng, can đảm, nhưng vì quá sợ chết.
Chết day dứt tâm can, cào cấu suy tư người sống và biến thành nỗi lo khôn nguôi, thường xuyên, bám chặt cuộc đời. Vì thế, có người lo chuẩn bị chu đáo hậu sự cho mình như tự giải thoát khỏi nỗi lo định mệnh và ám ảnh sẽ phải chết hơn là một đối đầu quả cảm.
Không người nào đã không một lần thấy trong đời mình người chết và cảnh buồn của đám tang. Thấy người khác chết và nghĩ đến sự chết của mình… Nghĩ thế thôi chứ không mường tượng được mình sẽ chết thế nào, ở đâu và ai sẽ tiễn mình ra mộ phần.
Tuần Thánh kết thúc bằng cái chết của Đức Kitô, cái chết của một con người trăm phần trăm, cái chết rất người vì xuống được tận cùng thẳm sâu khốn quẫn của thân phận người, cái chết của một Thiên Chúa đã toàn năng trong sáng kiến chết thảm, chết nghèo, chết cô đơn, chết nhục nhã, chết trong tình trạng thất sủng, thất thế, thất bại của con người cùng khốn nhất trong con cái loài người, nhưng đồng thời cũng là cái chết rất đẹp của con người biết mình là con Thiên Chúa qua thái độ tự nguyện và phó thác tuyệt đối cái chết đời mình trong Tình Yêu.

1.   Đức Kitô đã chết cái chết của người nghèo. Không những chết nghèo, Ngài còn chết khát, chết đói trên Thánh Giá khi thều thào: “Ta khát” (Ga 19,28). Người nghèo thường chết đói vì sống còn chưa có ăn, nói gì chết; khi sống còn thất thường bữa đói bữa no, bữa đực bữa cái nói chi lúc sắp lìa đời. Đức Kitô sống khó nghèo, nên chết cũng nghèo khó: nghèo nên không áo quần tươm tất; nghèo nên gia đình phải mượn người này, nhờ người kia từ khăn liệm đến mồ chôn. Cũng vì nghèo, nên đám tang đơn sơ, không linh đình kèn trống, không vòng hoa phúng điếu, không điếu văn tiếc thương, không trướng lộng ghi nhớ công trạng. Chết nghèo nên chỉ có Mẹ và vài người thân lặng lẽ tiễn đưa. Ngài đã chết nghèo trong cảnh nghèo của người nghèo nhất…

2. Đức Kitô đã chết cái chết thảm. Nhìn xác người lính chết trận, người bị tai nạn xe, người bị đâm chém, ta tội nghiệp họ vì chết thảm thương, chết không nguyên hình, chết không toàn thây. Cái chết thảm gây xúc động mạnh và hình ảnh người chết tạo ấn tượng sâu sắc, khó phai. Treo lâu giờ trên Thánh Giá, thân xác Đức Kitô không còn một phần nhỏ lành lặn: “mặt mày tan nát chẳng ra người”, chân tay, cạnh sườn bị đâm thủng, nát bươm thương tích, bầm tím khắp người. Ai nhìn cũng phải sợ hãi quay đi. Ai thấy cũng phải thất kinh, sững sờ (Is 52,14-15).
Người ta sợ chết đường chết chợ, chết bụi chết bờ, vì coi đó là vô phúc, bất hạnh. Nhưng Đức Kitô không chỉ “vô phúc, bất hạnh” chết không nhà không cửa mà còn chết treo trần truồng trên đỉnh đồi, nơi thi hành án tử hình, trước mắt mọi người. Chết bờ bụi dẫu sao cũng còn đỡ vô phúc hơn chết đóng đinh như tội phạm nguy hiểm. Tính cách thảm thương đã lên đến tột đỉnh trong cái chết của Con Thiên Chúa và vực thẳm giữa vinh quang Thiên Chúa và ô nhục tội phạm đã vời vợi, ngun ngút, vượt sức tưởng tượng của con người.

3. Đức Kitô chết cái chết cô đơn, nhục nhã. Vẫn biết chết là chết một mình, đơn độc, vì có ai đi theo ai ở giờ chết, có ai muốn theo ai vào cõi chết, có ai dám cùng ai chết bao giờ. Tuy nhiên, chết mà được người thân quây quần, âu yếm, an ủi vẫn thấy yên dạ, ấm lòng và “dễ” chết hơn. Đức Kitô cô đơn khi Chúa Cha hoàn toàn im lặng, cái im lặng làm se dạ thắt lòng người con hấp hối: “Lạy Cha, sao Cha bỏ con?”
Ngài cũng chết trong tình trạng thất thế vì chương trình cứu thế không được ai ủng hộ ở giờ chót, trái lại hầu như tất cả đều bỏ rơi Ngài. Ngài chết giữa những thất bại: thất bại trong việc đào tạo nhóm tông đồ là những cán bộ nòng cốt, rường cột khi người thì phản bội, kẻ bỏ trốn; thất bại trong đường lối ngoại giao với thế quyền, thần quyền, khi cả toà đời, toà đạo cùng kết tội, lên án. Ngài chết trong hoàn cảnh xem như bị thất sủng không những từ Chúa Cha mà còn từ phía những người đã chịu ơn, hâm mộ. Những người không nắm vững câu chuyện thì bảo nhau: ông này sinh ra lầm thời nên thất bại vì thất sách. Những người thân quen thì ngậm ngùi trách: tại Ngài làm việc thất cách nên mới ra nông nỗi. Ai cũng có lý để lý giải cái chết nhục nhã, tang thương của Đức Kitô theo ý họ… và chỉ một mình Ngài biết giá trị của cái chết cô đơn, nhục nhã.

4.   Đức Kitô chết cái chết tự nguyện. Cái chết của Đức Kitô rất nghèo, bi thảm và nhục nhã, cô đơn, nhưng Ngài đã tự nguyện chấp nhận cái chết buồn ấy. Ngài biết trước tình huống sẽ dẫn đến án tử hình và lòng căm phẫn, ngoan cố, cứng lòng trước sự thật của giai cấp lãnh đạo tôn giáo sẽ không để Ngài yên. Cái chết sừng sững trước mặt Ngài và ngày càng lớn, áp đảo, đe doạ. Là con người, Ngài cũng sợ chết và xin Chúa Cha tránh cho Ngài khỏi chết, nhưng khi bình tâm trước đòi hỏi của sứ mạng, Ngài an bình tự nguyện nộp mình, chịu chết để thánhĐấng đã sai Ngài được trọn vẹn: “Nhưng xin theo ý Cha, đừng theo ý con” (Mc 14,36). Cái chết không còn thế thượng phong và mất uy lực trên Ngài khi Ngài không còn sợ chết, khi tinh thần vâng phục và ý chí muốn làm vui lòng Chúa Cha trở nên mãnh liệt. Ngài chỉ còn duy nhất một ước muốn là làm theo ý Cha Ngài, nên dù có chết, ước muốn ấy cũng phải được thực hiện. Chết đã thực sự “hết thời, hết ép phê” ở Ngài, vì tình Ngài dành cho Chúa Cha và cho sứ mạng cứu độ nhân loại vượt xa tất cả và lớn hơn tất cả, kể cả sự chết.

5.    Đức Kitô chết vì người khác. Chết vì người khác khi nghĩ đến tha thứ cho những người hành hạ, lên án, xử tử mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, bởi họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Giết một người với kế hoạch lâu dài, tính toán từng chi tiết mà bảo không biết thì quả là cố tình bao che, chạy chữa. Vì người khác nên Ngài lo lắng tương lai cô quả của Mẹ và ngày mai bấp bênh của môn đệ mình yêu khi trối Gioan cho Đức Mẹ và nhờ Gioan phụng dưỡng Mẹ mình (Ga 19,26-27). Cái chết của Đấng Cứu Độ nên là cái chết hoàn toàn vì người khác, vì nhân loại. Nhờ cái chết của “Đấng đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,8), nhân loại được rửa sạch mọi tội lỗi và chuộc lại ơn làm con Thiên Chúa cho hạnh phúc đời đời của mình.

6. Đức Kitô đã chết cái chết hy vọng khi hứa hạnh phúc Nước Trời cho người tội phạm cùng chịu đóng đinh: “Ngay hôm nay, anh sẽ được ở cùng Ta trên thiên đàng” (Lc 23,43). Ông đại diện nhân loại được Đức Kitô hứa ban hạnh phúc Nước Trời nhờ ơn cứu độ từ sự chết của Ngài. Cái chết của Đức Kitô đã mang hy vọng cứu rỗi cho con người vì nhờ cái chết của Ngài mà con người được giao hoà cùng Thiên Chúa.

7.  Đức Kitô chết cái chết của người con khi tuyệt đối phó thác vào cha mình, dù không một vệt sáng yêu thương, một tia hy vọng giữa đường hầm tăm tối: “Lạy Cha, con phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Là con Thiên Chúa, Ngài đã ký thác trọn đời trong tay Cha để sống cũng như chết, Ngài luôn được ở với Cha, ở trong Cha và không một sức mạnh nào, kể cả sự chết có thể tách con khỏi cha. Chết trong tay Cha là niềm vui của con. Chết với lòng trung thành vâng phục Cha là hạnh phúc của con. Chết trong tình yêu Cha là ước mong của con. Đức Kitô là người con có phúc được chết trong tay Cha mình và giờ chết đã là giờ Ngài hoàn thành tốt đẹp sứ mạng được Chúa Cha trao phó (Ga 19,30).
Lạy Đức Kitô chịu chết trên Thánh Giá, nếu Chúa không chết, con sẽ mãi mãi sợ chết vì tưởng chết là hết, chết là diệt vong, chết là tàn lụi. Nếu Chúa không chết, con sẽ mãi trốn tránh, không dám nhìn thẳng sự chết, đối diện sự chết vì nghĩ chết là tận cùng số kiếp, về với cát bụi hư không. Nếu Chúa không chết, con kinh hãi lắm giờ chết, vì phải một mình đi vào cõi hư vô, tuyệt vọng. Nếu Chúa không chết, con sẽ chẳng mất công chuẩn bị hành trang cho chuyến đi sau cùng vào cõi chết, vì cõi chết có gì hiện hữu để chờ để mong, để chuẩn bị.
Nhưng vì con và cho con, Chúa đã chết để con biết: nếu con sống cũng là sống cho Chúa và chết cũng là chết cho Chúa; để con biết: Chúa có mặt và cùng đi với con vào đời sau; để con biết Chúa không bỏ ai tín thác ở Chúa trong giờ lâm tử; để con biết lòng xót thương Chúa theo con đến giây phút cuối đời; để con biết Chúa chết cho hạnh phúc đời đời của con; để con biết “trong tay Chúa, con phó thác linh hồn con”; và để con biết: dù phải chết nghèo, chết nhục, chết thảm, chết cô đơn, nhưng nếu được chết trong tình yêu và lòng vâng phục thánh ý Chúa, con sẽ vô cùng mãn nguyện, vì Chúa ơi, được chết với Chúa, con chắc chắn sẽ được sống với Chúa muôn đời (2Tm 2,11).

Thứ Sáu, 22 tháng 3, 2019

Thánh Thể - Mầu Nhiệm Tình Yêu

https://www.youtube.com/watch?v=qc93UWA1NSY
“Khi yêu, người ta rất lạ”, nên bước vào tình yêu, ai cũng thấy mình lơ lửng lạc vào một thế giới xa lạ nhưng kỳ thú, khác với thế giới mình đang sống. Yêu rồi thì xem ra “chân không còn đạp đất và đầu cũng chẳng đội trời” vì thân xác thì lâng lâng và tâm hồn thì bay bổng bốn bề ngang dọc. Người ta yêu cái thú thương đau của tình yêu, yêu cái vị đắng đắng của tình yêu, yêu cái chua chua của tình yêu và tình yêu càng đắng, càng chua, càng thương đau thì tình cho nhau càng đậm đà, thấm thía.
“Khi yêu, đường đi hay lạc lối”, nên đời người yêu nhau thường đẹp như mơ, đẹp đến độ không biết mình đang ở cõi nào: cõi mộng hay cõi tiên, cõi trên hay cõi trần, cõi trời hay cõi đất, cõi này hay cõi sau, cõi mơ hay cõi thực…
“Khi yêu, tình cho đi rất nhiều”, nên yêu rồi thì chẳng phải chỉ cởi nón, cởi mũ, cởi áo, mà còn cởi đến cả túi tiền, danh dự, sự nghiệp, linh hồn, sự sống cho nhau.
“Khi yêu, mình nhận chẳng bao nhiêu”, nhưng chẳng mấy khi dám than van, tính toán vì Tình cứ bảo “ít nhiều cũng chẳng bao nhiêu, bao nhiêu ít ấy bấy nhiêu Tình nhiều”, nên đành lấy ít làm nhiều, lấy không làm có cho Tình được vui.
“Khi yêu, tình ngu si dễ thương”. Ngu si, khờ dại thì đáng trách, đáng buồn, chứ “ngu si dễ thương” thì biết trách thế nào và trách vào đâu? Chẳng thế mà mỗi ngày có hàng tỷ tỷ người ngu trở thành người dễ thương và tỷ tỷ người đang yêu không biết mình khờ dại.
Đức Kitô đã làm người trong tất cả điều kiện của con người, với trọn vẹn thân phận người, nên tình yêu nhân loại của Ngài cũng không khác tình yêu trong tim ta. Tình Ngài cũng đã có lúc thăng hoa xúc động (Ga 15), có lúc lãng mạn bên bờ giếng (Ga 4,6-7), có lúc sầu tủi một mình (Mc 14,37)), có khi quặn thắt, hắt hiu (Mc 14,34). Ngài cũng nếm đủ đắng cay, chua mặn của tình người, tình đời khi bị bỏ rơi, vô ơn, phản bội. Như con người, Ngài cũng “cho đi rất nhiều, nhận chẳng bao nhiêu” và yêu đến độ điên cuồng, khờ dại, ngu si. Như con người, tình Ngài cũng bâng khuâng, mơ mộng, cũng tha thiết, mặn nồng, cũng vất vả thương đau, cũng miệt mài đeo đuổi, cũng nhẫn nại đợi chờ. Hình ảnh Ngài với người đàn bà ngoại tình hay trong dụ ngôn người cha nhân hậu, bao dung đã nói lên tình Ngài không khác tình ta, nhưng bao la, dạt dào, sâu thẳm, tuyệt vời hơn gấp bội.
Trước khi tự hiến mình chịu chết, Đức Kitô đã làm một bước nhảy vọt trong tình yêu đối với con người, bước nhảy vọt vượt sức con người, vượt trí con người, vượt tầm ước đoán con người, vượt ngưỡng tình yêu nhân loại. Ở những ngày cuối đời, Đức Kitô đã vận dụng sự khôn ngoan của Thiên Chúa nơi Ngài để có những sáng kiến độc đáo trong tình yêu, sáng kiến mà chỉ Thiên Chúa mới có thể nghĩ ra và thực hiện và bí tích Thánh Thể là một trong những sáng kiến tuyệt vời nhiệm lạ.
Cả ba Tin Mừng nhất lãm đều kể lại chi tiết việc Đức Kitô lập bí tích Thánh Thể: “Đang khi ngồi ăn, Ngài cầm lấy bánh tạ ơn, rồi bẻ ra, trao cho các môn đệ mà nói: “Hãy nhận lấy mà ăn, vì đây là Mình Ta”. Đoạn Ngài cầm lấy chén rượu, tạ ơn rồi trao cho các môn đệ mà nói: “Đây là Máu Ta, máu giao ước sẽ đổ ra cho nhiều người” (Mt 26,26-29; Mc 14,22-24; Lc 22,19-20).
Qua sáng kiến lập Bí Tích Thánh Thể, Đức Kitô đã mạc khải: Ngài là Tình Yêu đến cùng, Tình yêu ở cùng, Tình yêu khiêm hạ tận cùng, Tình Yêu đắm đuối đến điên khùng, Tình Yêu vô cùng của một Thiên Chúa vô cùng yêu thương.

1.  Tình yêu đến cùng. Tình con người cho nhau thường hay bị mắc kẹt, đứt đoạn vì một giới hạn, điều kiện nào đó. Có thể sức khoẻ, tiền bạc, địa vị, danh phận làm đường tình mất hướng, đổi hướng. Có thể tương lai bất định làm thuyền tình chao đảo. Có thể yếu đuối, tội lỗi của người tình biến đường tình thành ngõ cụt, không lối ra. Có thể tham vọng bất chính, ước mơ hão huyền làm tình yêu hao mòn, mệt mỏi. Và để rồi, đang ở bất cứ cây số nào trên đường tình, người ta vẫn có khả thể phụ tình bỏ nhau, quên nhau.
Không như tình yêu với nhiều “khả thể mang tính đe dọa”, Đức Kitô là Tình Yêu đến cùng, nghĩa là không một giới hạn, một điều kiện nào có thể làm trệch hướng hay gián đoạn, chặn đứng bước chân trên đường tình đến với nhân loại của Ngài, vì “Ngài vốn yêu thương những kẻ thuộc về Ngài và yêu họ đến cùng” (Ga 13,1). Yêu đến cùng đời sống, thân phận, hạnh phúc, khổ đau, thành công, thất bại, công trạng, hình phạt của đối tượng. Yêu đến cùng thăng trầm, tội lỗi, vô ơn, phản bội của người tình. Yêu đến cùng quá khứ bất toàn, hiện tại bất xứng, tương lai bất ổn của người yêu. Và yêu đến cùng giây phút lâm chung hoàn toàn bất lực của con người mình say mê, “phải lòng”. Đối tượng của “tình yêu đến cùng” nơi Đức Kitô, vì thế không có lý do để nghi ngại bị bỏ rơi, nghi ngờ người yêu phản bội hay nghi nan, ngờ vực tính chung thủy, sắt son. Đức Kitô với trái tim Thiên Chúa chỉ biết yêu thương đến cùng và không bỏ rơi bất cứ ai trên đường đi đến cùng của Tình yêu.



2. Tình yêu ở cùng. Yêu ai là muốn ở gần người ấy, nên chớm yêu là nghĩ ngay đến chuyện đi chung, ngồi chung, nằm chung, ở chung, làm chung, chơi chung, chịu chung, hưởng chung, sống chung, kể cả chết chung nhau nữa. Tình yêu đòi kết hợp, quấn quít, cuộn tròn trong nhau, nên yêu mà mỗi đứa mỗi nơi, mỗi người một nước xa cách nghìn trùng thì không gì đau đớn, khổ sở cho bằng. Yêu mà xa xôi, cách biệt thì tình chẳng bao giờ nguôi và lòng chẳng bao giờ thỏa.

Đức Kitô không muốn xa con người, vì con người đã chiếm trọn trái tim Ngài. Nghĩ đến giờ phải xa con người mà xót xa, nên Ngài quyết định ở lại với con người mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20). Lập bí tích Thánh Thể, Ngài đã thành công vượt mức trong giấc mơ ở cùng con người, nên một với con người (Ga 17,21) và sáng kiến độc đáo, mầu nhiệm của bí tích Thánh Thể đã cho Ngài thực hiện hoàn hảo tình Chúa yêu con người cao vời, sâu thẳm đến độ: “Thiên Chúa ở trong con người và con người được ở trong Thiên Chúa” (Ga 17,26) như cành nho kết hợp với cây nho và cho dù cành có muốn rời cây, cây cũng không bao giờ bỏ cành (Ga 15).

3.   Tình yêu khiêm hạ tận cùng. Thiên Chúa của Đức Kitô nổi bật ở lòng khiêm hạ: khiêm hạ trong lòng Đức Mẹ, khiêm hạ nơi máng cỏ Bêlem (Lc 2,7), khiêm hạ ẩn dật ở Nazareth, khiêm hạ khi chịu phép rửa của Gioan (Lc 3,21), khiêm hạ ngồi chung bàn với người tội lỗi (Mt 9,11), khiêm hạ “đến để phục vụ, chứ không để được phục vụ” (Mc 10,45), khiêm hạ trên lưng lừa con vào đền thánh (Ga 12,15), khiêm hạ trước toà án Philatô, khiêm hạ trên đường lên núi Sọ, khiêm hạ trên Thánh Giá, khiêm hạ vùi chôn trong mồ (Ga 19).
Lòng khiêm hạ của Đức Kitô làm kinh ngạc nhiều người và cũng nên cớ vấp phạm cho nhiều người. Làm sao có thể hiểu được một Thiên Chúa chấp nhận ở lại với con người trong tấm bánh rất tầm thường, không một dấu hiệu thần thiêng, đặc biệt? Làm sao hiểu được “tấm bánh là Thiên Chúa” chịu để con người “đặt đâu ngồi đó”, cắt vuông cắt tròn, chia năm xẻ bảy, bẻ lớn bé nhỏ, xé to xé vụn mà không một lần khiếu nại? Và hơn hai ngàn năm nay, Thiên Chúa ẩn mình trong tấm bánh đã không tức giận phản đối khi bị xúc phạm, không sừng sổ bất bình khi bị coi thường, không nghiêm khắc trừng phạt khi bị khinh mạn, sỉ nhục.


Càng suy, ta càng thắc mắc, tự hỏi: làm sao Thiên Chúa vô cùng cao cả, thánh thiện, toàn năng lại khép mình khiêm tốn, yếu đuối, thấp hèn trong hình bánh bé mọn, mềm yếu? Và tấm bánh thì lớn hơn được những gì và làm sợ được ai? Miếng bánh thì giá trị bao nhiêu và đe doạ được người nào? Mụn bánh cân nặng mấy gam và mang lại ích lợi bao nhiêu?
Và ta chỉ còn biết “phục bái tôn thờ” sáng kiến mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa chọn cho mình tấm bánh rất nhỏ, rất rẻ, rất thường để ở lại với loài người, để bất cứ ai cho dù nghèo hèn đến đâu, yếu đuối cỡ nào, bé nhỏ làm sao cũng đến được với Ngài và Ngài đến được với họ vì bánh ăn hằng ngày để sống nên ai cũng cần, cũng gần, cũng thân. Đến với người mình thân, mình gần, mình cần; tìm cái mình cần, mình gần, mình thân luôn dễ dàng, đơn giản, nhanh chóng và không mặc cảm, ngại ngùng. Bánh không là đồ quý hiếm, mắc tiền, khó mua, nhưng là nhu cầu đời thường: ở đâu cũng có, đến đâu cũng gặp, tìm đâu cũng thấy, nên bánh thiết thân, thiết thực với thực tế đời người và không xa lạ với sự sống.
Chọn ẩn mình trong bánh, Đức Kitô chọn chỗ ở gần con người nhất, chỗ con người ai cũng đến được và ai cũng phải đến để được sống và sống dồi dào.
Như thế khiêm hạ tận cùng của Thiên Chúa trong Thánh Thể là biểu hiện sống động của Tình Yêu muốn ban sự sống cho mọi người: sự sống ấy như nước mưa thấm sâu vào đất, như sương trời bao phủ từng cọng cỏ dại bé bỏng, mong manh bên đường, như tuyết trắng chen sâu trong kẽ đá, phủ kín những cành khô, trơ trụi.


Làm tấm bánh được bẻ ra cho mọi người, Thiên Chúa muốn ở với hết mọi người, nhất là những người nghèo khó, buồn phiền, tù đầy, đau yếu, những người bị bỏ rơi, lên án, những người cô quả, chiếc bóng đơn côi, những người tội lỗi bị khai trừ, vì đó là sứ mệnh Cứu Thế của Ngài (Lc 4,18). Làm tấm bánh được chia cho hết mọi người, Đức Kitô muốn đến với mọi tâm hồn để yêu thương và san sẻ chính sự sống của Ngài. Và mãi mãi Thánh Thể là mầu nhiệm của Tình yêu Thiên Chúa, Tình yêu không thể rời xa con người nên đã “hạ mình thật sâu, nhận lấy phận tôi tớ... mặc lấy xác thể phàm nhân. Ngài còn tự hạ hơn nữa bằng vâng phục chết và đã chết trên thập tự” (Pl 2,7-8).

4.  Tình yêu điên khùng. Thiên Chúa không điên, nhưng tình yêu của Ngài không “bình thường” dưới mắt con người khi Ngài làm gương và dạy phải “yêu kẻ thù, làm ơn cho kẻ ghét mình, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ, bỏ vạ mình” (Mt 5,44), lại còn lạ đời hơn khi dạy: “giơ tiếp má trái, nếu má phải vừa bị người ta tát, cho luôn cả áo khoác ngoài, nếu ai đó đòi lấy áo trong, đi thêm hai dặm đường nữa, nếu họ bắt đi với họ một dặm. Và ai xin thì cho, ai mượn thì đừng từ chối” (Mt 5,39-42).
Yêu như thế không điên khùng là gì? Yêu như thế làm sao thích hợp với xã hội hôm nay? Yêu như thế có đến trẻ con mẫu giáo của thời kinh tế thị trường, thời đại “hip hop” cũng phải nín cười cho là khùng điên, “người cõi trên mới xả trại”. Chỉ có “Thiên Chúa làm người” mới dám xâm mình yêu kiểu khùng điên. Chỉ có Đức Kitô - ngôi Lời nhập thể mới dám yêu theo “mốt” ngược đời, lập dị; bởi thời nay, có ai còn ngây thơ, dại khờ yêu để thua lỗ, yêu để thiệt thòi, yêu để mất mát?
Chọn thập giá để minh chứng tình yêu đến cùng và vô cùng, Đức Kitô đã chọn làm người điên dại, ngu xuẩn vì với con người thập giá là thất bại, sỉ nhục, đần độn, xấu xa (1Cr 1,21-23).
lại với con người trong tấm bánh bé nhỏ, Đức Kitô lại thêm một lần làm người tình điên. Người tình điên yêu đắm đuối, say mê, yêu không “nhìn trước ngó sau”, yêu bất chấp “điều ong tiếng ve”, yêu ngang ngược, liều lĩnh như tình yêu thúc bách. Say yêu con người, Thiên Chúa Tình yêu cũng đã trở nên điên khùng dưới mắt loài người. Nhưng “sự điên khùng của Thiên Chúa thì vượt quá sự khôn ngoan loài người và sự yếu đuối của Thiên Chúa thì trổi vượt hơn sức mạnh thế gian” (1Cr 1,25) và “con người vật chất không thể nhận ra những điều thuộc về Thánh Thần, nên cho đó là điên dại” (1Cr 2,14), vì “sự khôn ngoan của thế gian là sự điên dại trước mặt Chúa” (1Cr 3,19).
Thánh Phaolô đã trình bày trong hai thư gửi giáo đoàn Côrintô “cái điên điên khùng khùng” của Thiên Chúa Tình yêu khi Ngài yêu nhân loại, đồng thời quả quyết chính “cái khùng khùng điên điên” ấy mới thực là khôn ngoan, sức mạnh mà chỉ những ai ở trong Thánh Thần mới nhận ra “Đức Kitô là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,24).
Như thế, thập giá dưới mắt người đời là điên dại và Thánh Thể dưới mắt thế gian là điên khùng để rồi tất cả những người đi theo Đức Kitô “Thánh Giá, Thánh Thể” cũng sẽ bị xếp vào hạng những người khùng khùng điên điên. Thánh Phaolô đã có kinh nghiệm điên khùng này, kinh nghiệm của người tông đồ hết lòng vì Thập Giá Đức Kitô khi ngài viết cho giáo đoàn Côrintô: “Chớ gì anh chị em chịu đựng một chút cái điên khùng của tôi” (2Cr 11,1).
Tuần Thánh là tuần của Thánh Thể, tuần của sức mạnh tình yêu biểu lộ trong yếu đuối (2Cr 12,9), tuần của tình yêu tận cùng và đến cùng, tuần của Thiên Chúa điên cuồng yêu thương nhân loại.
Quỳ trước Thánh Thể, ta chẳng thấy gì bằng con mắt thịt nhân loại vì “Tấm Bánh” đơn sơ, bình thường, bé nhỏ quá, mọn hèn quá!
Bởi tấm bánh Thánh Thể là mầu nhiệm tình yêu nên chỉ Thánh Thần Tình yêu mới mở được đôi mắt nặng nề trần tục. Xin Thánh Thần cho đầu gối con khiêm tốn quỳ thờ lạy và mắt con khiêm nhường xin được Đức Tin bù lại, nếu giác quan mãi mãi không cảm thấy gì.

Rửa Chân

https://www.youtube.com/watch?v=gZZglx-4WV8
Tìm Thiên Chúa trong những dấu lạ, sự lạ, phép lạ phi thường, lớn lao là khuynh hướng của phần đông con người. Người đương thời với Đức Kitô cũng đổ xô đi xem Đức Kitô làm phép lạ như thiên hạ ngày nay lũ lượt, tấp nập rủ nhau đi xem mặt trời quay chỗ này, tượng Chúa khóc chỗ nọ, tượng Mẹ cười chỗ kia. Chuyện kỳ lạ hấp dẫn tính hiếu kỳ và con người thích gặp Thiên Chúa trong những chuyện thần kỳ, khác lạ hơn tìm gặp Ngài giữa đời thường, trong sinh hoạt bình thường của những ngày thường, bên những con người tầm thường.
Bữa tối chia tay, thầy trò bùi ngùi lưu luyến. Đã ba năm sống bên nhau, ngọt bùi, buồn vui cùng chia sẻ nên giờ sắp phải chia lìa mà chia lìa đau thương, tang tóc, hỏi ai không đứt ruột? Tuy ở gần Đức Kitô, nhưng các môn đệ chưa biết rõ Ngài là ai và sứ mệnh cứu độ của Ngài là gì, sẽ diễn biến ra sao. Chính vì thế, sát kề ngày chịu khổ nạn của Thầy mà các ông vẫn ganh tị, tranh giành chỗ ngồi chỗ đứng trong vương quốc sắp tới của Ngài (Lc 22,24). Đêm nay, trong bữa ăn sau cùng, Đức Kitô muốn nói hết về Ngài và những gì sắp xảy đến. Ngài thẳng thắn cho các ông biết: “Trong các con sẽ có người nộp Thầy” (Ga 13,21), “Thầy sẽ bị coi như người gian ác” (Lc 22,37), “sẽ chịu đóng đinh” (Mt 26,2) và “đêm nay các con sẽ vì Thầy mà sa ngã” (Mt 26,31). Cho biết trước đường Thánh Giá Ngài sắp đi và căn dặn các ông hết mọi điều: “người ta sẽ bạc đãi, xử tệ, hành hạ, trục xuất, truy lùng chúng con vì tôi tớ không hơn chủ. Chúng con đừng sợ vì Thánh thần ở với chúng con sẽ cho chúng con biết mọi chân lý, sẽ báo trước cho chúng con về tương lai. Phần chúng con: hãy ở trong tình yêu Thầy” (Ga 16,1-15).
Căn dặn, trăn trối, nhưng Đức Kitô chưa đi vào cốt lõi của điều Ngài muốn nói. Phải chờ cho tình thầy trò thấm vào tim qua ly rượu chia phôi, “Ngài mới đứng dậy, rời bàn, cởi áo ngoài ra và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Kitô đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13,4-5). Hành động bất ngờ nhưng không xa lạ trong tục lệ Do Thái. Hành động bất thường nhưng là những việc tầm thường: cởi áo, lấy nước, rửa chân, lau sạch trong đời thường. Đức Kitô đã dùng những việc rất thường để mạc khải chính Ngài là Thiên Chúa tuyệt đối khiêm nhường.

1.   Rửa chân cho môn đệ, Đức Kitô đã “đứng dậy, rời bàn”. Ngài đã rời chỗ ngồi trọng vọng, danh dự, được hầu hạ để đến quỳ trước mặt môn sinh. Quỳ trước mặt ai là nhận mình thấp hơn họ. Quỳ dưới chân ai là nhận mình hèn yếu. Chỉ đầy tớ mới quỳ dưới chân chủ, chỉ con người mới quỳ trước Đấng Tạo Dựng, chỉ con cái mới quỳ bên cha mẹ, ngoài ra ai quỳ dưới chân ai bao giờ… Thế mà Đức Kitô đã quỳ dưới chân con người để tỏ tình Ngài yêu con người đến cực độ (Ga 13,1).



2. Rửa chân con người, Đức Kitô đã “cởi áo và lấy khăn thắt lưng”. Đây là hình ảnh của từ bỏ, hình ảnh vượt qua “cái tôi vĩ đại, cái tôi háo danh, cái tôi quyền lực, cái tôi hưởng thụ” và cột chặt kiêu căng, tham vọng, gian tà là bản năng và khuynh hướng xấu khi đến với tha nhân. “Người khác” đã thay thế “cái tôi”. “Người khác” là vua, là người được “cái tôi” ân cần phục vụ. Có bỏ mình mới yêu được người khác. Có quên mình bằng kìm hãm tham vọng thống trị, bằng triệt tiêu mưu đồ lợi dụng người khác mới có thể yêu thương và phục vụ. Rửa chân là phục vụ hết tình, là hầu hạ hết mình, nhưng cũng là xoá mình, quên mình, mất mình, bỏ mình thật tình. Bởi phục vụ mà đặt mình trong đó thì còn bị cám dỗ dùng người khác làm bình phong, bung xung che đậy cái tôi ích kỷ, tham vọng. Đức Kitô đã cởi bỏ tất cả vinh dự là Thiên Chúa để xuống thật sâu, xuống sát chân con người để rửa chân cho con người. Hành động rửa chân vốn bình thường nơi con người đã trở nên phi thường khi Thiên Chúa đích thân quỳ xuống rửa chân. Hành động ấy phi thường khi Thiên Chúa khiêm hạ làm công việc tầm thường nhất của người đầy tớ: rửa chân ông chủ. Trong tầm thường, Thiên Chúa đã tỏ mình là “Thiên Chúa đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình cứu độ muôn dân” (Mt 21,28).



3. Đức Kitô “đổ nước vào chậu và rửa chân cho các môn đệ”. Nước tượng trưng cho trong sạch, tinh tuyền. Nước là hình ảnh của sự sống. Lấy nước rửa chân cho con người, Đức Kitô muốn thanh tẩy con người bằng ơn thánh và ban lại cho con người đời sống mới. Nước làm con người nên sạch, như ơn thánh thanh tẩy tâm hồn. Phêrô nhanh trí nhận ra ý nghĩa của nước và việc làm của Đức Kitô khi Ngài bảo ông: “Nếu không để Thầy rửa chân, con sẽ không được chung phần cùng Thầy”, nên đã vội xin Đức Kitô: “Lạy Thầy, xin cứ rửa, không những rửa chân mà cả tay và đầu con nữa” (Ga 13,8-9). Ý thức chỗ nào trên thân xác mình cũng dơ bẩn, nhem nhuốc, ông đã xin Chúa rửa toàn thân như thái độ khiêm tốn, biết mình tội lỗi của những tâm hồn thống hối, ăn năn.
Lấy nước, rửa chân con người, Đức Kitô đã làm công việc hằng ngày của tôi tớ vì trong Nước Ngài: “Kẻ lớn nhất phải ở như kẻ rốt hết và kẻ cai trị phải ở như người tôi tớ” (Lc 22,26).

4.    Sau cùng, “Ngài lấy khăn thắt lưng mà lau”. Lau chân cho ai là tỏ lòng kính trọng, yêu mến người ấy. Người ta có thể phục vụ mà không yêu mến, hầu hạ mà không ân tình, giúp đỡ mà không tình cảm, làm phúc mà không bác ái, bố thí mà không chạnh lòng thương. Có nhiều việc bên ngoài rất tốt, rất tình, rất tử tế, nhưng thâm ý rất xấu, rất độc, rất ác. Có nhiều nụ hôn rất tình, rất thương, rất trìu mến, nhưng cũng không thiếu những cái hôn rất đáng ngại, đáng nghi, đáng sợ. Bằng chứng là Giuđa đã hôn Đức Kitô để ra dấu cho lính bắt Ngài. Bằng cớ là Philatô đã công khai rửa tay vô tội nhưng đã giao Đức Kitô vô tội cho các trưởng tế, kỳ lão đem đi xử tội. Con người có thân xác để biểu lộ ý nghĩ, tình cảm của tâm hồn, nhưng không hẳn thân xác ấy luôn được phép diễn tả trung thực những tình cảm, ý nghĩ bên trong, vì trái tim con người có thể là trung tâm của tình yêu, sự thật, nhưng cũng có thể là sào huyệt của mưu mô, tội ác.


Đức Kitô lau chân cho con người để nói lên Ngài yêu con người, tôn trọng con người, trân quý con người khi phục vụ con người. Phục vụ mà không kính trọng là xúc phạm người được phục vụ. Phục vụ mà không yêu mến là hạ thấp giá trị của người được phục vụ. Ngay cả các nữ tu đêm ngày phục vụ các bệnh nhân siđa, phong cùi, nếu không thật tình yêu mến, kính trọng những người bệnh, các chị cũng chỉ là những người làm công: làm để có công và vô tình làm tổn thương những người bệnh này, vì tính vô cảm lãnh đạm, vô tâm hờ hững và vô ý coi thường của trái tim thiếu vắng nồng nàn, quan tâm, chăm sóc của tình yêu.
Trở về chỗ, sau khi rửa chân các môn đệ, Đức Kitô mới nói: “Các con gọi Thầy là Thầy, là Chúa, điều đó phải lắm, vì quả thực Thầy là Thầy và là Chúa. Vậy nếu Thầy là Chúa là Thầy mà còn rửa chân cho các con thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho các con để các con cũng làm cho nhau như Thầy đã làm cho các con” (Ga 13,13-15).
Đức Kitô đã “nói là làm, làm rồi mới nói, làm trước nói sau”, không như chúng ta: nói mà không làm hay chỉ nói mà chẳng bao giờ làm. Đức Kitô không chỉ dạy một bài học về “khiêm nhường phục vụ trong yêu thương”, mà còn tỏ mình là Thiên Chúa rất khiêm hạ, xóa mình trước con người, điều mà các môn đệ rất bất ngờ, bỡ ngỡ. Ngài đã dùng chính công việc rất tầm thường của một tôi tớ tầm thường trong công việc bình thường phải làm thường ngày để mạc khải một chân lý phi thường: Thiên Chúa đã xuống tận chân con người để rửa chân, lau chân cho con người. Các môn đệ không phải tìm tòi xa xôi, tìm hỏi người thông thái, tìm hiểu dấu lạ này điềm lạ kia để biết Đức Kitô là ai, nhưng chỉ nhìn vào thái độ bỏ chỗ, bỏ mình, quỳ xuống rửa chân của Ngài, các ông đã hiểu Ngài là ai và đường đi của Ngài sẽ diễn ra thế nào. Vì hiểu Ngài là Thiên Chúa khiêm hạ thẳm sâu và sẽ phải chôn vùi, thối đi như hạt lúa, nên Phêrô mới hăng hái thân thưa: “Tại sao con không thể theo Thầy đi ngay bây giờ. Con sẵn sàng thí mạng vì Thầy mà...” (Ga 13,37 ).
Đức Kitô cũng không dạy khơi khơi một bài học, “học để quên” như những bài học bình thường, vì tất cả những gì Ngài làm, Ngài nói, Ngài căn dặn trong giờ phút sau cùng trước khi đi chịu chết đều mang một tầm quan trọng đặc biệt và là những việc trọng đại không phải chỉ để nhớ mà để sống và thi hành. Trong bữa ăn từ biệt nghiêm trọng nhưng chan chứa tình nghĩa, thân mật, Đức Kitô đã rửa chân, lập phép Thánh Thể, lập chức Linh Mục và căn dặn, nhắc nhở về tình yêu thương. Rửa chân tuy không là bí tích nhưng không thể được giảm thiểu, giản lược như một nghi thức tượng trưng, không nội dung, không quan trọng. Trái lại, hành động Đức Kitô làm lâu nhất, trịnh trọng và cảm động nhất chính là quỳ xuống trước mặt các môn đệ mà rửa chân cho các ông. Như tình yêu Thiên Chúa từ Trời cao đáp xuống con người dơ bẩn cần được tẩy rửa, Đức Kitô đặt tình yêu của Ngài trên bàn chân người tội lỗi để tỏ tình Ngài yêu họ bao la, không biên giới, vô điều kiện. Lau chân con người tội lỗi, một lần nữa, tình yêu khiêm hạ của Thiên Chúa đã làm sửng sốt trái tim nhân loại và Đức Kitô đã thêm một sáng kiến độc đáo để nói lên tình Ngài yêu đến cùng, tình Ngài xuống sâu tận cùng, tình vô thủy vô chung, tình bao la đến vô cùng.
Đến lượt chúng ta rửa chân cho nhau. Đến phiên chúng ta đứng dậy, rời chỗ ngồi danh dự, rời địa vị cao sang, rời quyền lực cai trị, rời tổng hành dinh “cái tôi”, đồng thời thắt lại tham vọng, siết lại nhu cầu, buộc lại đòi hỏi để làm công việc rửa chân của tôi tớ với lòng yêu mến, kính trọng. Đến giờ chúng ta bị đặt trước lệnh truyền: “Chúng con hãy rửa chân cho nhau”. Đến lúc chúng ta phải quyết định đứng dậy, cởi áo, lấy nước, quỳ xuống rửa chân người anh em khó tính, khó thương, khó chịu, khó chiều hay tiếp tục ngồi lì ở ghế danh dự, được hầu hạ. Đến thời chúng ta phải liều mình ra khỏi tháp ngà “cái tôi ích kỷ” để phục vụ một cách vô danh, vô vị lợi như người đầy tớ vô tích sự phải làm những việc xem ra “vô ích” của mình.
Tuần Thánh là thời điểm thuận lợi để những quyết định rửa chân cho nhau được thực hiện. Không dễ bỏ một cơ hội được trọng vọng, nói gì đến bỏ một chỗ ngồi sẵn có. Không dễ bỏ một liên đới, một thân quen nói chi đến bỏ cả chính mình, bỏ cả đời mình. Vì thế rửa chân cho nhau là việc khó vì đòi bỏ tất cả để có thể đứng dậy mà không bực bội, cởi áo mà không tiếc nuối, mắc cở, lấy nước vào thau mà không ngại ngùng vất vả, buộc dây ngang bụng mà không bực bội, càu nhàu, nhất là quỳ xuống trước mặt anh em mà không ngượng ngùng, miễn cưỡng và rửa chân, lau chân với niềm vui của tình yêu hết mình phục vụ.
Rửa chân là cao điểm của Đức Ái. Ở cao điểm này, ta gặp được trọn vẹn “Con người - Thiên Chúa” của Đức Kitô, một Thiên Chúa khiêm hạ làm người tôi tớ để yêu thương, phục vụ con người. Tất cả chương trình sống của người theo Đức Kitô được vạch sẵn trong biến cố Rửa Chân chiều thứ năm Tuần Thánh, một chương trình rất ngắn nhưng cam go và đòi nhiều hy sinh: “Bỏ mình, phục vụ trong yêu thương”.