Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 23 tháng 3, 2019

Những Người Phụ Nữ Trên Đường Thánh Giá


Đường đời chỉ có một, nhưng nhiều tuyến khác nhau trải trên nhiều cây số dài: có tuyến thênh thang, tráng nhựa cho xe cuộc đời phóng bon bon, nhưng cũng có tuyến gập ghềnh đầy hố bom, ổ bò; có tuyến sương mù dày đặc, hiểm trở cheo leo, có tuyến xa lộ thẳng băng, thoải mái, an toàn. Đường đời có khúc quanh, khúc thẳng, khúc ngang, khúc rẽ khiến lữ khách có vui có buồn, có nhục có vinh, có lên có xuống, có lúc bạn đồng hành nườm nượp, có khi thui thủi chiếc bóng đơn côi và đường đời mỗi người dài ngắn như cuộc đời có sinh có tử, có khởi có kết. Cái khác ở mỗi tuyến đường đời, nét đặc biệt của mỗi cây số đường đời là sự có mặt của người khác: đường vui dễ có bạn đồng hành, nhưng đường buồn thường cô quạnh, hắt hiu.
Đường đời Đức Kitô bước vào những cây số cuối cùng, trên tuyến về đoạn kết, với nhiều nhân vật mới xuất hiện như Caipha, Philatô, Hêrôđê, Simon người thành Kyrênê, Giuse Arimathê, hai tội phạm cùng chịu án đóng đinh, đội lý hình, đám đông hiếu kỳ… nhưng có nhiều người thân quen vắng mặt như các ông Anrê, Giacôbê, Philípphê, Batôlômêô, Mátthêu, Tôma, Tađêô...

Quan sát kỹ những khuôn mặt thân quen trên đường Thánh Giá, người ta thấy phía các ông vắng mặt nhiều hơn phía các bà.
Nếu kể hết những người đàn ông thân quen đã có mặt với Đức Kitô lúc này thì phải kể Phêrô, Giuđa, Gioan, nhưng ngoại trừ Gioan có mặt như người bạn, người môn đệ, còn hai ông kia đã hiện diện như hai người phản bội.
Phía các bà, ngoài mấy cô gái giúp việc trong dinh Thượng tế Caipha đã cắc cớ, hạch hỏi Phêrô: “Cả anh nữa, hình như anh cũng là môn đệ của Giêsu?” Miệng lưỡi “bắt nọn, dò thám, tra hỏi” đầy quyền lực và khôn khéo bắt chẹt của đàn bà đã làm Phêrô sợ hãi, quýnh quáng bai bải chối Thầy: “Cô nói gì kỳ vậy, tôi chẳng hề quen biết người này” (Ga 18,17). Kế đến là phu nhân quan tổng trấn Philatô. Bà kín đáo nhắc chồng: “Đừng can thiệp vào việc người công chính này, vì hôm nay tôi thấy trong người xốn xang, bất ổn vì một giấc chiêm bao về người đó” (Mt 27,19). Trực giác của đàn bà đã ngăn cản hành động sai lầm của đàn ông. Rất tiếc, Philatô đã không nghe những cảnh giác, nhắc nhở của vợ, vì mị dân và sợ mất chức.
Còn lại là “những người phụ nữ thành Giêrusalem đi theo đấm ngực, khóc thương Chúa” (Mt 23,27); dưới chân thập giá thì có “Maria, mẹ Đức Giêsu” (Ga 19,25), “bà Maria Mađalêna, bà Maria, mẹ hai ông Giacôbê và Giuse và bà Giêbêđê” (Mt 27,56); táng xác Đức Giêsu thì cũng là Maria, mẹ Ngài và hai bà Maria Mađalêna và Maria, mẹ hai ông Giuse và Giacôbê (Mc 15,47). Sáng sớm ngày “thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời chưa mọc thì bà Mađalêna, bà Maria, mẹ ông Giacôbê và bà Salômê” cùng mang thuốc thơm ra thăm mộ Đức Kitô (Mc 16,1-2) và Mađalêna đã từ mộ trống chạy về báo tin Phục Sinh cho các môn đệ còn đang lẩn trốn vì sợ người Do Thái lùng bắt (Ga 20,18).
Các bà đã đi theo và ở lại với Đức Kitô cho đến cây số cuối cùng của đường Thánh Giá vất vả, tang thương. Khuôn mặt phụ nữ chiếm trọn không gian đẫm máu và nước mắt từ phút đầu bị bắt đến đỉnh đồi Canvê thê thảm và mộ phần tăm tối. Bóng dáng đàn bà đã bám chặt từng phút của thời gian chịu nạn. Bàn tay non nớt của phái yếu đã giải quyết hậu sự của đại sự cứu chuộc. Đôi chân mềm, thon nhỏ của phái đẹp đã đạp trên gai góc, đá sỏi của đoạn đường đầy thử thách kinh hoàng. Các bà đã cương quyết hơn phái mạnh, đã can đảm hơn nòi giống anh hùng, đã lì lợm hơn các “đấng mày râu”, nhất là đã hết tình, trọn tình cho người mình yêu.
Các bà đã hết tình với Đức Kitô vì đã yêu bằng một tình yêu chân thực. Khi yêu ai, ta bị hút bởi người ấy khi sẵn sàng ra khỏi mình để hướng về người ấy; đồng thời mở tâm hồn, thân xác để đón nhận người ta yêu. Chính vì mở ra để đón nhận, mở ra để hướng tới mà khi yêu, trái tim ta trở nên dễ đau, dễ vỡ, dễ khổ, dễ buồn vì từ đây ta mang người khác với tất cả cuộc đời của họ, mang người ta yêu với buồn vui, thành công, thất bại của họ.

Nhận hết về mình, đón hết cho mình, mang trọn trong mình, nên người yêu khổ thì ta đau, người yêu khóc thì ta rơi lệ, người yêu nhục thì ta tủi, người yêu thất bại thì ta xót xa, người yêu buồn thì ta sầu héo. Đời ta mang đời người ấy vì ta yêu chính con người và cuộc đời họ. Điều gì xúc phạm đến con người họ là xúc phạm đến ta. Và ta có thể hy sinh tất cả, trở nên mọi sự để yêu thương, che chở, cứu chữa, nâng đỡ, bảo vệ người ta yêu.
Tình yêu chân thực, vì nhắm thẳng con người nên không là tình chỉ yêu khi có lợi, yêu người khác vì yêu mình, yêu người khác vì tình của họ thoả mãn những đòi hỏi vật chất, tinh thần của ta. Yêu chân thực vì thế sẽ không độc quyền, độc tài, độc đoán, kể cả độc ác, vì yêu là yêu chính đối tượng, yêu con người đối tượng, yêu vì hạnh phúc của đối tượng hơn là yêu những gì đối tượng làm cho ta.
Tình yêu này sẽ không đưa đến giận dữ, hận thù, vì sẽ không rơi vào tình trạng: khi tình có lợi thì vui, khi tình bất lợi thì buồn, khi đánh mất tình thì chán nản, thất vọng. Lợi ích thu nhặt trong tình yêu không phải là điều tình yêu tìm kiếm, nhưng con người được yêu mới thực là đối tượng của tình yêu. Yêu chính con người nên tình vượt trên những tính toán thực dụng, những tình cảm lúc có lúc không, ngay cả lý tưởng bám trên con người ấy, bởi lý tưởng có thể mất trong khi con người vẫn còn. Tình yêu chân thực không nhắm lợi nhuận hay thành quả, được việc, nên khi người yêu không còn gì, mất tất cả, hay bất lực, tàn phế, ta vẫn yêu được họ, vì con người họ mới chính là đối tượng của tình yêu. Lấy lợi ích, thành quả, ngay cả những điều tốt lành người yêu có thể mang lại làm đối tượng của tình yêu, ta đã vô tình dọn đường đến nghĩa địa cho tình yêu, bởi sẽ có lúc tình yêu chết đứng giữa trời khi người yêu không còn có lợi, không thể mang lại thành công, thành quả, thành tích. Đó là sự khác biệt giữa buổi sáng Đức Kitô làm phép lạ cho năm chiếc bánh và hai con cá hoá thành nhiều với đông đủ các tông đồ (Mc 6,38) và buổi chiều thứ sáu tuần thánh chịu đóng đinh trên Thánh Giá với duy nhất một mình môn đệ Gioan (Ga 19,26).
Hướng đến duy nhất con người Đức Kitô như đối tượng của tình yêu, các bà đã có mặt chia sẻ, lo liệu cho người mình yêu dù người mình yêu đã chết, chẳng còn gì để cho, chẳng còn chi để mơ ước, hy vọng. Yêu trọn vẹn con người Đức Kitô, các bà đã đặt trọng tâm tình mình vào một mình Đức Kitô, nên ngay khi Ngài một mình thất thế, thất bại, một mình vác thập giá, một mình chịu đóng đinh, một mình chết tức tưởi, một mình trong mộ phần lạnh lẽo, các bà vẫn hết tình, trọn tình vì chỉ một mình Ngài, duy một mình Ngài là Đấng các bà yêu thương.
Tình yêu chân thực đã làm trái tim các bà nhạy cảm trước đau khổ của Đức Kitô và hiểu được nỗi niềm của Ngài. Tình yêu làm cho khả năng đón nhận nơi các bà nhạy bén, tinh tế để nhận ra tín hiệu của Lời và Tình Yêu từ trái tim Ngài. Tình yêu cho các bà lòng xót thương trước nhục nhằn, khó nhọc, cô đơn của người tử tội đang lê những bước vất vả dưới sức nặng của thập giá. Tình yêu cho các bà nghị lực để nhẫn nại chịu đựng và can đảm lăn xả, liều thân vì Đức Kitô. Tình yêu đã không còn làm các bà sợ bị chụp mũ, theo dõi, truy lùng, bắt bớ như các tông đồ đã sợ và đồng loạt bỏ trốn. Tình yêu đã không làm các bà tiếc công tiếc của, tiếc giờ ở lại đến cùng dù biết rằng theo Ngài, ở lại với Ngài lúc này là chọn lựa bất lợi, “mang hại vào thân”. Tình yêu chân thực đốt cháy tâm can, thúc giục các bà cáng đáng những việc rất khó, đi vào những nơi rất khó, nói lên những lời rất khó mà nhiều người khác không làm được sợ bị phiền phức, liên lụy. Và tình chỉ hướng về con người mình yêu đã dẫn các bà đến hoa trái của tình yêu là cho đi chính mình.
Cho đi chính mình vì người mình yêu là cao điểm của tình yêu khi chủ thể vượt qua hàng rào những ham muốn của ích kỷ, vượt thoát “cái tôi” trung tâm. Khuynh hướng ích kỷ, hưởng thụ, tôn thờ, o bế “cái tôi” luôn có mặt và tác yêu tác quái trong tâm hồn mỗi người. Triết học gọi là “vị kỷ”, một khuynh hướng tiềm tàng làm con người rất khó ra khỏi quỹ đạo “cái tôi” để đến với người khác, càng khó khi phải cho đi và rất khó khi phải hiến thân, hiến mình. Thần học xếp những rào cản này vào hàng hậu quả của tội nguyên tổ. Để vớt vát, người ta sắp xếp một công ước tạm, đó là: tôi hiến thân cho anh, nhưng tôi muốn anh cũng phải hiến thân cho tôi, để tôi không thua lỗ. Xét trên bình diện thực tế nhân loại, tình “có đi có lại” mới bền, mới toại lòng nhau, nhưng xét cho cùng, tình yêu kiểu “bánh ít đi, bánh quy lại” cũng chỉ là tình bị ích kỷ giới hạn, kiểm soát: tôi yêu người khác vì chính tôi, hơn là yêu người khác vì họ. Ích kỷ đã chiếm cứ mảnh đất trái tim, đòi hỏi quyền kiểm soát và giới hạn món quà dành cho tha nhân khi ra lệnh cho trái tim không được quên phần mình.

Tình các bà dành cho Đức Kitô hôm nay trên những cây số sau cùng của đời Ngài là tình yêu các bà đã học ở Ngài. Các bà đã nhạy bén nhận ra tình của Đức Kitô trong suốt năm tháng truyền giáo là một tình yêu hoàn toàn quên mình, một tình yêu trọn vẹn cho đi, một tình yêu toàn phần dâng hiến. Đức Kitô đã không giữ lại cho mình bất cứ một mối lợi hay đòi quyền sở hữu trên bất cứ một thứ gì, một người nào khi yêu thương. Tình của Ngài tinh ròng, trong sáng, vuông vức, tròn trĩnh; có nghĩa là không sứt mẻ, mờ tối vì ích kỷ, vì “cái tôi”. Cảm phục và cảm mến tình yêu vô vị lợi, tình yêu cho đi không cần hồi đáp, tình chấp nhận trao dâng một chiều của Đức Kitô, các bà đã học yêu như Ngài và đang áp dụng bài học yêu chân thực, yêu hết tình, hết mình khi ở với Ngài dưới chân thập tự, bên mộ phần ảm đạm, buổi sáng sớm phục sinh.
Sự có mặt của các bà làm nổi bật sự vắng mặt của các ông. Không phải vô cảm hay vô ơn mà đồng loạt vắng mặt, nhưng vì các ông đã dành cho trí thông minh một chỗ đứng ưu tiên trên tình yêu. Con rắn, hình ảnh của Lucifer, trong vườn địa đàng đã thành công lôi kéo Ađam và Evà kiêu ngạo khi khôn khéo đưa đẩy ông bà đi theo đòi hỏi của trí thông minh, thay vì chấp nhận đòi hỏi của tình yêu. Thiên Chúa muốn hai ông bà ở trong tình yêu khi vâng phục lời căn dặn yêu thương của Ngài: “Đừng ăn quả của cây này”. Khi căn dặn như vậy, Ngài muốn giữ ông bà trong hạnh phúc của bí mật tình yêu, bí mật mà bất cứ một mối tình nào, người tình nào cũng trân quý như một quà tặng mầu nhiệm cho nhau. Bí mật giữa hai người yêu nhau, bí mật giữa tình nhân, bí mật của vợ chồng là bí mật tuyệt vời, bí mật cao đẹp và quý báu mà bất cứ ai cũng không được phép tìm biết; bởi khi bí mật ấy bị lộ tẩy, bị té tát trước công chúng, bị phanh phui trước mọi người thì tình của họ không thể tồn tại, vì bí mật chính là sức sống của tình yêu. Trong tình yêu giữa hai người, khi không còn bí mật, người ta hết yêu nhau và không còn hiểu tình yêu là gì nữa bởi bí mật trong tình yêu nối kết hai người yêu nhau, làm nên sức mạnh của tình yêu để họ có thể tiếp tục đồng hành trên đường tình muôn lối.
Đặt ông bà nguyên tổ trong trạng thái và bầu khí tình yêu trọn vẹn với Ngài, Thiên Chúa có với ông bà một bí mật, bí mật đó là lòng vâng phục. Vâng phục trong tình yêu không phải “vong thân, đánh mất mình” như khi miễn cưỡng vâng lời một quyền bính độc tài, độc đoán. Trái lại, vâng phục trong tình yêu là hợp tác chân thành với một người lớn hơn mình, có quyền trên mình để đem lại hạnh phúc cho mình. Vâng phục như thế là vui vẻ tự nguyện lệ thuộc vào một người lớn hơn để được hạnh phúc, vì trong vâng phục ấy, người lớn hơn yêu thương, kết hợp và đem lại tự do cho người bé nhỏ vâng phục mình. Vâng phục trong tình yêu luôn dắt đến hiệp nhất và tự do, vì mục đích của vâng phục là làm triển nở nhân vị và đời sống của người vâng phục, đồng thời đem lại hạnh phúc tối đa cho họ, như Thiên Chúa đã muốn ông bà nguyên tổ vâng phục là để ông bà được tự do, hiệp nhất và hạnh phúc trong Ngài. Thần dữ không muốn ông bà tự do, hạnh phúc đã tìm cách phá hủy lòng vâng phục bằng thúc đẩy ông bà bất tuân, từ chối vâng phục. Ma quỷ đã dụ ông bà ra khỏi bầu khí yêu thương để rơi vào vùng lý luận khi xúi ông bà đừng thèm lệ thuộc Thiên Chúa, nhưng hãy tự mở trí khôn, dùng trí thông minh của mình để biết như Thiên Chúa biết, hiểu như Thiên Chúa hiểu, nghĩa là trở nên bằng Thiên Chúa khi tự phá hủy bí mật tình yêu giữa Ngài và ông bà.
Đặt trí thông minh và lý luận trên tình yêu, con người dễ rơi vào tình trạng xóa bỏ mọi bí mật và muốn biết hết mọi sự, muốn mọi sự được chứng minh, kiểm nghiệm. Nhưng chính khi đòi bằng Thiên Chúa vì mình thông minh, con người đã tự nghiền nát chính mình vì lúc ấy con người thực sự vong thân, mất tự do khi lệ thuộc ma quỷ vốn thấp kém hơn con người và chỉ tìm vinh quang cho nó, thay vì mưu tìm tự do, hạnh phúc cho con người.
Con trai thường giống mẹ, nghe mẹ hơn bố, như đàn ông giống mẹ Evà khi suy nghĩ mông lung, bâng khuâng thắc mắc và muốn tò mò tìm biết: Tại sao có cây biết lành biết dữ? Tại sao Thiên Chúa dặn dò không được ăn? Tại sao và tại sao? Cũng vì những “Tại sao?” đầy óc, đầy đầu mà các ông đã không yêu thương và trung thành được như các bà, vì không tôn trọng bí mật của tình yêu. Các ông môn đệ của Đức Kitô đã thắc mắc, để rồi phân vân, nghi ngờ sứ mệnh và vai trò Cứu Thế của Thầy. Các ông đã dùng đầu óc thông minh, vận dụng khả năng lý luận trí thức để đặt lại vấn đề đi theo Thầy của mình. Các ông đã vặn ép trí khôn để rồi xếp Thầy mình vào hàng những người mang nhiều ảo tưởng. Chính vì ra khỏi những bí mật tình yêu giữa Thầy trò, những ân cần căn dặn riêng tư trong bữa cuối, những bí mật về con người - Thiên Chúa của Thầy mà các ông đã bỏ rơi Thầy mình ở những cây số chông gai, thử thách cuối đời. Thông minh nhân loại đã hướng dẫn lý luận con người của các ông để không một mầu nhiệm tình yêu nào giữa các ông và Đức Kitô còn cơ may tồn tại. Kết quả là các ông đã cư xử với Ngài tệ hơn nhiều người khác không quen biết Ngài.

Các bà thì ngược lại: tình yêu lúc nào cũng ưu tiên, nên yêu không cần suy nghĩ, thương không cần lý luận. Các bà cần và sống cho những bí mật của tình yêu vì trái tim các bà là nơi gìn giữ, bảo tồn bí mật. Bí mật của tình yêu với Đức Kitô nơi các bà là tình cho đi không tính toán của Ngài. Chỉ một điều ấy thôi đã tạo ấn tượng lớn, sâu sắc trong tim các bà và trái tim đã nhạy bén hiểu được chính xác sứ điệp của tình yêu ấy. Chỉ một lần được ngồi dưới chân, được tha thứ, được an ủi, được nâng đỡ đã đủ làm con tim các bà suốt đời lưu giữ bí mật tình yêu của Đức Kitô và sự thông minh của tình yêu, không như trí thông minh lý luận của nam giới, đã cho các bà trực giác, linh cảm đại sự của Ngài còn tiếp nối sau buổi chiều tử nạn.
Bí mật của tình yêu thì chỉ tình yêu mới có khả năng giải mã. Lấy thông minh, lý luận mà giải mã bí mật tình yêu là giết chết tình yêu, vì tình yêu không chịu bị mổ xẻ, phanh thây nhưng đòi toàn phần, toàn diện, toàn thân. Với toàn thân hy sinh, toàn diện cộng tác, toàn phần trao tặng, các bà đã hoàn toàn cho Đức Kitô và vì Ngài, ngoài ra không nhắm bất cứ một phúc lợi, vinh dự nào cho mình.
Những ngày chịu nạn, Đức Kitô đã bị phần đông các ông bỏ rơi. Cũng may còn có các bà; nếu không thì thật là tội nghiệp!

Đàn ông thường ỷ mình thông minh, nhưng chưa chắc thông minh của trí khôn đã nắm bắt được những thực tại mầu nhiệm của tâm hồn. Đàn ông cậy mình suy nghĩ chín chắn nhưng chưa chắc đã qua mặt được trực giác, linh cảm của đàn bà. Đàn bà bé nhỏ hay bị đàn ông ăn hiếp và chê là “cạn suy, chậm hiểu”, nhưng suy hiểu của trí khôn chưa chắc thấu đạt những lý lẽ bí mật của trái tim. Đức Kitô đã có lần đặt tình yêu đơn sơ của những người bé nhỏ lên trên trí thông minh của những người khoa bảng và tạ ơn Chúa Cha đã “không cho những người khôn ngoan, thông thái biết những mầu nhiệm, mà chỉ tỏ cho những người bé mọn” (Mt 11,25). Tình yêu thì luôn bé nhỏ như phận nữ luôn bé bỏng, mong manh; nhưng chính trong mong manh, bé nhỏ Thiên Chúa đã gửi gắm những bí mật tình yêu của Ngài cho nhân loại.
Xin cho các bà mẹ, các bà chị, các cô em của chúng tôi luôn sống chân thực với tình yêu của mình để như Đức Maria luôn giữ kín mầu nhiệm tình yêu ấy trong lòng (Lc 2,51) và như Mađalêna loan báo Tin Mừng Sống Lại với trái tim tràn ngập mầu nhiệm tình yêu (Ga 20,18).

Nhân Danh


https://www.youtube.com/watch?v=qc93UWA1NSY
Sai lầm lớn của người kiêu ngạo là nghĩ tự mình làm nên tất cả, một mình “tự lực cánh sinh”, tự sức mình “công thành danh toại” mà không cần đến ai.
Người kiêu ngạo vô tình hoặc cố tình quên một điều quan trọng: ngay cả được nhận là “tự lực tự cường, tự lực cánh sinh, tự biên tự diễn, tự tung tự tác”, ít nhiều họ cũng đã dựa vào danh tánh, danh giá, danh dự, danh xưng, danh nghĩa, danh thế của ông bà, cha mẹ, gia đình, tổ chức, trường lớp, hội đoàn, quốc gia, dân tộc, Giáo Hội vì con người không bẩm sinh toàn năng và không luôn luôn, mãi mãi tự mình làm được mọi sự. Con người chỉ nhất thời thành công và một thời vang bóng, chứ chẳng ai “vạn đại” huy hoàng và “thiên thu” vinh hiển; vì thế đã có nhiều thời lận đận và một phần đời “bóng ẩn, vô danh”.
Lận đận, không tự mình đứng vững trên đôi chân, nên mượn chân người khác để bước tới. Lao đao, không tự vượt được sóng gió cuộc đời nên nắm sào của người khác để khỏi chìm xuồng, chết đuối. Vô danh, không ai biết đến nên mượn “danh thiếp”, xin thư giới thiệu, cần đôi lời ngỏ đẩy đưa, đánh bóng của người khác để được thành người “hữu danh với đời”. Và hiện tượng bóng tan, hình tàn, ảnh chụp phôi pha, nhạt nhoà phải nhờ cậy danh thế rực rỡ, danh thiếp “nhiều hàng” của người khác để tái chế, phục hồi, “bo” lại “cái tôi” là câu chuyện của đời thường rất bình thường và không ai ngạc nhiên khi thấy ta và người, người cùng ta đều nhốn nháo, không mệt mỏi nhân danh người này người nọ, nhân danh thế lực này thế lực kia, nhân danh đoàn thể, tổ quốc, tôn giáo, nhân danh các thứ lý tưởng, các thứ giá trị hữu hình, vô hình, nhân danh những ý niệm trừu tượng, tôn giáo, thần thánh, nhân danh cả Thiên Chúa, địa ngục, luyện ngục, thiên đàng trong sinh hoạt hàng ngày giữa nhau. Nhân danh người khác, nhân danh một giá trị, nhân danh một lý tưởng, nhân danh một thực thể siêu hình, thiêng liêng là một việc mà người ta làm nhiều và dễ dàng đến độ nhiều khi chính đương sự cũng không ý thức mình đang làm cái việc “mượn tiếng, nhân danh” bừa bãi ấy.
Như thế, nhân danh một người là mượn uy tín, cậy uy lực, nhờ uy quyền của người ấy; nhân danh một tổ chức là núp bóng vinh quang của tổ chức ấy; nhân danh một Đấng thiêng liêng là thần phục, tôn thờ, tín thác, cậy trông vào Đấng ấy và đương sự nhân danh tự nhận mình bé nhỏ, yếu đuối, cần được giúp đỡ, chở che trước người, trước tổ chức, trước Đấng mình nhân danh. Cầm tấm danh thiếp của ông chủ tịch ủy ban đến gặp phòng nhân sự, ta dựa vào uy tín của ông chủ tịch để có được một chỗ làm mà ta biết trước: nếu tự mình đến, chắc chắn sẽ bị từ chối với đủ mọi lý do. Đến gặp Bề Trên với danh nghĩa cộng đoàn giáo xứ sẽ dễ dàng được việc hơn “một mình chiếc bóng đơn côi”. “Con ông cháu cha” hay anh chị của dì phước khi có việc vẫn sáng giá, nặng cân hơn những anh chàng, cô nàng “vô danh tiểu tốt”, không gia thế cũng chẳng vai vế trong xứ đạo. Xã hội là cộng đồng liên đới, nên việc tốt, tiếng thơm của cha mẹ tạo cho con cái một vị thế được yêu mến, uy tín của một tổ chức tạo tiếng nói cho thành viên và mọi người được hưởng hoa trái thơm ngọt của người khác một cách bình thường, tự nhiên.
Đường vào khổ nạn của Đức Kitô bắt đầu “ngon lành” bằng cuộc đón rước hoành tráng của đám đông khi họ hoan hô Ngài là “Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến” (Ga 12,13), nhưng lập tức có dấu hiệu “chẳng lành” khi các Thuợng tế và Hội Đồng Kỳ Mục được nhóm họp bất thường để nhân danh Thiên Chúa, nhân danh trật tự đạo đức, nhân danh lề luật Môsê, nhân danh lợi ích chung của dân tộc, nhân danh tương lai của con cháu Israel ra quyết định khẩn cấp triệt hạ Đức Kitô dưới chiêu bài hợp tình hợp lý: “Thà một người chết cho toàn dân được nhờ” (Ga 12,48-50), để rồi những cây số tiếp theo trên đường Thánh Giá đã thêm nhiều “nhân danh” khác càng lúc càng “chẳng lành”, đặc biệt “nhân danh” của Thượng tế Caipha: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, ta truyền cho anh phải nói: anh có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không?” Thượng tế nhân danh Thiên Chúa hạch hỏi Đức Kitô nhưng chủ yếu là kết tội Đức Kitô “phạm thượng” khi nhân danh Thiên Chúa.
Ngài có tên là Thiên Chúa (Tv 67,5) và danh tánh Ngài là Thánh (Ed 36,23), là Vinh Quang, Vinh dự (Tv 8,2; 88,3; 134,13), là Sức Mạnh toàn năng (Tv 19,8), là Cứu Nguy, Phù Hộ (Tv 123,8), là Thương Xót chở che (Tv 19,2), là Bao La, Vĩ Đại (Ml 1,11), là Vĩnh Cửu, đời đời (Tv 134,13) và vượt trên hết các tên (Ep 1,21).
Danh Ngài phải được kính sợ (Tv 60,6), yêu mến (Tv 5,12; 60,37) và loan truyền (Tv 21,23; Ga 17,6; Rm 9,17). Danh Ngài phải được ca ngợi, chúc tụng (Tv 7,18) và nài xin, khẩn cầu (St 4,26; Rm 10,13). Không ai được xúc phạm, khinh mạn, làm ô uế Danh Ngài (Lv 22,32; Gr 34,16) hay lấy Danh Ngài mà thề nguyền bừa bãi (Lv 19,12). Hãy nhân danh Ngài mà giảng dạy (Gr 26,16), nhân danh Ngài mà nói tiên tri (Gr 14,15), chúc phúc ( 2S 6,18), thanh tẩy (Mt 28,19; Cv 2,28), nhân danh Ngài mà xua đuổi tà thần (Lc 9,49); Mc 16,17), chữa lành bệnh tật (Cv 3,6; 4,9-10).
Đó là “nội dung” Danh Thiên Chúa và những đòi hỏi đối với Danh Ngài. Đó cũng là kết quả nhận được từ Danh Ngài. Nhưng thực tế Danh thánh ấy đã bị con người thi nhau bôi nhọ, lạm dụng.

1.   Con người đã “nhân danh Thiên Chúa” là Tình yêu như bình phong che giấu ác tâm và hành động thiếu bác ái, từ tâm đối với anh em. Khi muốn tiêu diệt Đức Kitô, các thượng tế, luật sĩ đã tỉnh bơ nhân danh Thiên Chúa và tự động nhân danh quyền lợi của Thiên Chúa. Danh Thiên Chúa được sử dụng như lá chắn che đậy âm mưu kết tội người vô tội, lên án người công chính, chỉ vì ghen tức, hận thù và vì người ấy không thuộc tổ chức, đoàn thể, không theo đường lối, chủ trương của mình. Không tìm được tội, không kiếm ra lỗi nơi Đức Kitô, các ông phải nại đến Thiên Chúa ở trên cao và rất xa, mượn danh Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng, không nói gì, không phản ứng gì trước những hành động vấy máu người vô tội. Các ông biết, chỉ có cách nhân danh Thiên Chúa thinh lặng mới bịt được miệng đám đông và những người ủng hộ Đức Kitô; chỉ có cách nhân danh Đấng vô hình, mới chặn được những phản ứng của những người sống hữu hình; chỉ có cách nhân danh Thiên Chúa ở trên trời, mới thực hiện được những ý đồ đen tối, ác ôn ở dưới đất; chỉ có cách nhân danh Thiên Chúa nhân hậu mới kiếm cho mình chút uy tín và dáng dấp hiền lành hầu dụ dỗ, lừa bịp dân chúng và dẫn họ vào mê lộ hận thù, ghen ghét.


Các ông đã nhân danh một Thiên Chúa vắng mặt để lên án một Thiên Chúa có mặt, đã nhân danh một Thiên Chúa công bình để kết tội một Thiên Chúa công chính, đã nhân danh một Thiên Chúa yêu loài người để xử tử một Thiên Chúa làm người. Khi nhân danh Thiên Chúa, các ông không coi mình là người nhỏ bé, thụ tạo mong manh trước Đấng toàn năng mà các ông phải cần đến; trái lại, các ông đã đặt danh Ngài dưới sự điều khiển của mình khi “tác yêu tác quái” và làm ô uế danh Ngài bằng chủ trương hận thù, hành động hận thù, tiếp sức cho hận thù.
Hận thù không là tình yêu như bóng tối không là ánh sáng, nên đâu có hận thù ở đó không có tình yêu, đâu có bóng tối, ánh sáng không có mặt. Khi nhân danh Thiên Chúa là tình yêu để trả thù con người, nhân danh Thiên Chúa là tình thương để cưỡng chế con người, nhân danh Thiên Chúa an bình để gieo rắc tao loạn, con người đã xúc phạm trầm trọng Danh thánh Chúa, vì đi ngược đòi hỏi của danh Ngài.


Là tình yêu, Thiên Chúa chỉ cho mượn danh Ngài để yêu thương, cho dùng danh Ngài để an ủi, cho lấy nhân danh Ngài để xây dựng một thế giới huynh đệ, bác ái, nhân bản. Ngài không chấp nhận bất cứ ai cướp danh Ngài mà kêu gọi cô lập, đàn áp, trấn lột, hành hạ người khác, vì hạnh phúc được yêu thương của người khác là vinh quang của danh Ngài, niềm vui được an ủi, sẻ chia của người khác là sức mạnh của danh Ngài, hoan lạc được tha thứ, cứu độ của người khác là ơn sủng từ danh Ngài.
Vì thế, khi ai đó nhân danh Đức Kitô - Thiên Chúa để bắt người khác phải khổ đau, bất hạnh, ép người khác phải khốn đốn, gian lao, đẩy người khác vào đường cùng, ngõ bí, người đó không phải đến từ Thiên Chúa, không được Thiên Chúa sai, không là sứ giả loan báo Tin Mừng Cứu độ. Một ai đó tự tiện nhân danh Đức Kitô – Thiên Chúa để căm phẫn trừng phạt, điên cuồng nghiền nát, phẫn nộ đánh gục người khác, dù họ là ai: đối phương kẻ thù hay người không cùng chính kiến, đường lối, phe nhóm là mạo danh Thiên Chúa, giả danh Đức Kitô, Đấng đến không để hủy diệt, dập tắt, nhưng để yêu thương, băng bó, chữa lành, thứ tha, giao hoà.
Người thuộc về Thiên Chúa sẽ nhân danh Thiên Chúa để chúc phúc, ban bình an. Người yêu mến Thiên Chúa sẽ nhân danh Thiên Chúa để đỡ người vấp ngã dậy, chữa lành kẻ tật bệnh (Cv 3,6). Người của Thiên Chúa sai đến sẽ nhân danh Thiên Chúa an ủi kẻ âu lo, thứ tha người có tội (1Ga 2,12), bênh đỡ người yếu đuối, quả phụ, mồ côi. Người có Thiên Chúa sẽ ký thác đời mình vào danh Chúa để như Phêrô, Gioan: “Vàng bạc tôi không có, nhưng tôi cho bác những gì tôi có. Đó là: nhân danh Đức Giêsu Kitô, người làng Nazareth, tôi truyền cho bác đứng dậy mà đi” (Cv 3,6). Hai tông đồ của Đức Kitô đã nhân danh Đức Kitô ban cho bác hành khất bị què từ lúc mới sinh quà tặng lớn lao, lớn hơn ước mơ của bác, đó là được đứng dậy đi. Và dấu chỉ duy nhất để nhận ra ai là người của Thiên Chúa chính là việc làm bác ái, lời dạy yêu thương của người ấy khi họ hành động “nhân danh Đức Kitô”.
Cũng vậy, ma quỷ không thể nhân danh Thiên Chúa vì Hận Thù không thể đi với Tình Yêu, nên ai nhân danh Thiên Chúa Yêu Thương để phục vụ Hận Thù, người ấy không thuộc về Thiên Chúa, nhưng mạo danh Thiên Chúa phục vụ ma quỷ. Các thượng tế, luật sĩ Do Thái đã nhân danh Thiên Chúa để giết Thiên Chúa. Các ông đã lấy danh Thiên Chúa mà thi hành kế hoạch phi nhân, gian ác của thần dữ. Điều đáng trách nơi các ông là sự lạm dụng triệt để danh Thiên Chúa cho những việc làm thiếu từ tâm, bác ái, chống lại chính Thiên Chúa là Tình Yêu.

2. Nhân danh Thiên Chúa để áp đảo sự thật và tiêu diệt chứng nhân sự thật. Khi Nicôđêmô lên tiếng giữa buổi họp Hội Đồng: “Lề Luật của chúng ta không kết án ai khi chưa tra hỏi người ấy trước và chưa biết việc người ấy làm”, ông đã bị cả đám Biệt Phái phản đối dữ dội: “Cả ông nữa, ông cũng là người xứ Galilê? Hãy mở Kinh Thánh mà xem, có tiên tri nào xuất hiện từ Galilê bao giờ” (Ga 7,51-52).
Họ nhân danh Lời Chúa để “cả vú lấp miệng em” trấn áp một sự thật mà họ không muốn đối diện, đó là: phải điều tra thật kỹ lưỡng trước khi kết tội một người, nếu không sẽ kết án oan uổng người vô tội. Sự thật này các ông biết, nhưng cố tình tránh né, trốn chạy bằng cách to miệng nhân danh Lời Chúa trong Kinh Thánh để xóa bỏ sự thật của tội ác mà các ông đang quyết tâm làm cho bằng được. Hận thù làm tăm tối trái tim và ánh sáng chân lý không đến được tâm hồn độc địa, gian ác. Để biện minh cho hành động phủ nhận sự thật, các ông đã nhân danh sự thật của Lời Chúa để bịt miệng chứng nhân sự thật. Nicôđêmô đã không lên tiếng được vì sự thật đã bị bóp cổ chết tức tưởi khi cả đám sấn sổ chửi bới, nguyền rủa, thoá mạ, vì ông đã bênh vực cho Sự Thật là Đức Kitô.
Thượng tế Caipha cũng nhân danh quyền lợi của đền thờ Thiên Chúa để dẹp ngang sự thật của Đức Kitô khi Ngài trả lời ông và đơn phương kết tội Ngài là “phạm thượng và không cần thêm chứng cớ gì nữa” khi Ngài khẳng định: Tôi là Con Thiên Chúa (Mt 26,60-65). Sự thật bị phủ đầu, “bề hội đồng” cách man rợ, phi nhân khi gian dối được nước tung hoành. Con người gian đến độ nhân danh Nhà Chúa để giết Thiên Chúa; con người nói dối đến độ đem chính Thiên Chúa là Thiên Chúa của sự thật làm cầu chứng cho lưu manh, xảo quyệt. Kết quả là: “Tôi đến nhân danh Thiên Chúa, Cha tôi thì các ông không đón nhận, nhưng nếu có người khác lấy danh nghĩa mình mà đến thì các ông lại tiếp rước. Thật tình, các ông chỉ tìm vinh quang cho nhau, còn vinh quang đến từ một mình Thiên Chúa thì các ông lại chối bỏ!” (Ga 5,43-44). Và Đức Kitô đã lắc đầu thất vọng trước ngoan cố điêu ngoa của họ (Ga 5,45-47).


Thiên Chúa là Sự Thật, nhưng sự thật thường xuyên bị người ta nhân danh chính Thiên Chúa mà bóp méo, xuyên tạc. Miệng lưỡi con người độc như nọc rắn và lưỡi ấy lại không xương nên đã bao nhiêu sự thật, bao nhiêu chứng nhân của sự thật đã nhận về cho mình số phận bẽ bàng, chua cay, bạc bẽo. Sự thật đã không ngừng bị chính những người tự nhận là người của Thiên Chúa, người làm việc cho Thiên Chúa “nhân danh Thiên Chúa” để bưng bít, phong toả, cấm vận, bóp chết sự thật. Không thiếu những người tự xưng là chứng nhân của Thiên Chúa Sự Thật đã nhân danh Thiên Chúa để bôi bác, miệt thị, xỉ nhục, hành hạ những chứng nhân đích thực của Sự Thật, chỉ vì những người này đã không chịu a dua, đồng loã cắt xén, tô vẽ lại sự thật như họ muốn để phục vụ những ham hố ích kỷ.
Đức Kitô là Sự Thật, nên ai yêu mến và phục vụ sự thật, người ấy có Thiên Chúa. Cũng như Tình Yêu, Sự Thật là dấu hiệu để nhận ra ai là người của Thiên Chúa khi họ nhân danh Thiên Chúa. Người nhân danh Thiên Chúa để gạt bỏ sự thật, không đối diện sự thật, không trao đổi để cùng tìm ra sự thật, không lắng nghe sự thật, không tôn trọng sự thật chắc chắn không thể là người yêu mến sự thật; và nếu không yêu mến sự thật, họ cũng không yêu mến Thiên Chúa, Đấng “là Đường, là Sự Thật” (Ga 14,16). Họ như những người Biệt Phái giả hình, nói một đàng làm một nẻo, tâm địa thì độc ác mà bề ngoài thì chu chắm, nghiêm trang, thánh thiện. Sự thật là ánh sáng, ánh sáng chiếu sáng tâm tư bên trong cũng như soi sáng hành động, đời sống bên ngoài. Bóng tối không đi với ánh sáng, nên có khéo “nhân danh Thiên Chúa” đến cỡ nào, người không yêu mến sự thật cũng sẽ đánh rơi mặt nạ chứng nhân sự thật và gian dối sẽ lộ diện nguyên hình.

3.   Họ đã nhân danh Thiên Chúa Sự Sống để giết chết con người. Khi nhân danh Thiên Chúa hằng sống để lên án tử cho Đức Kitô, các vị trong Hội Đồng Kỳ Mục Do Thái đã cướp quyền định đoạt sống chết nơi con người của Thiên Chúa. Khi nhân danh tương lai “sống còn” của con cái Israel, nhân danh tiền đồ của dân riêng Thiên Chúa (Ga 18,4) để lấy Đức Kitô làm “dê tế thần”, các ông đã phủ nhận sự sống như giá trị tuyệt đối nơi con người, nơi mỗi người mà bất kỳ ai đều không có quyền xâm phạm. Các ông thừa biết: luật Môsê cấm giết người, nhưng người cần giết lúc này vì quyền lợi của phe nhóm các ông và lúc này đang có người cần giết để bảo đảm vị thế lãnh đạo của các ông là Đức Kitô, đối thủ đáng ngại và cần phải khử càng sớm càng tốt. Không tìm được lý do để truy tố, họ đành mượn đến danh Thiên Chúa hằng sống để giết chết Thiên Chúa vô tội, đành nại đến “sự sống giả sử” của miêu duệ còn xa trong tương lai để khẩn trương giết chết một người đang sống, đành nhân danh “máu giả tưởng” của con cháu để tức khắc làm đổ máu người ngay lành, công chính (Mt 27,25).
Sự sống đã bị con người nhân danh “Thiên Chúa hằng sống” lấy mất đi và bao lâu con người còn bị sự chết thống trị trái tim, còn để sự chết chiếm đóng tâm hồn, bấy lâu sự sống con người còn bị đe doạ, khủng bố.
Từ ngày 11 đến ngày 19 tháng ba năm 2012, nước Pháp rúng động vì anh Mohammed Merah, 23 tuổi, người Pháp gốc Algêri. Anh đã “nhân danh Đức Alla, thiên chúa của Hồi giáo” bắn chết bảy người, trong đó có em Myriam Monsonego 7 tuổi, hai em Arieh 4 tuổi, Gabriel 5 tuổi và cha của hai em là Jonathan Sandkler 30 tuổi, người Do Thái trước cổng trường Ozar Hatorah tại thành phố Toulouse, miền nam nước Pháp. Anh đã nhân danh đức Alla, thiên chúa của anh để giết những người không hề ân oán, hận thù hay quen biết anh. Anh giết họ một cách man rợ chưa từng thấy khi lạnh lùng quay phim những nạn nhân đang quằn quại đau đớn dưới mũi súng tàn nhẫn của anh với mục đích sẽ tung lên mạng những thước phim ngập máu để tự tuyên dương thành tích và khơi dậy, củng cố lòng hận thù đối với những dân tộc không đi theo tôn giáo “bạo lực” của anh. Một tín đồ nhân danh thiên chúa của mình để giết người vô tội chỉ có thể được gọi là một tên sát nhân điên cuồng, một quái vật hơn là một tín đồ chân chính, vì nếu có một thiên chúa khát máu, kêu gọi tín đồ giết người thì thiên chúa ấy sẽ chỉ là thiên chúa của hận thù và tên của thiên chúa ấy sẽ là Ác Quỷ. Nếu có một tôn giáo chủ trương dùng bạo lực để truyền giáo, dùng súng đạn để thống lĩnh, bá chủ, dùng khủng bố để tiêu diệt những người không theo mình thì tôn giáo ấy quả thực là tai hoạ kinh hoàng của nhân loại và tín đồ của tôn giáo ấy thực là những đồ tể khát máu.
Vì thế, không thể có người tín hữu nhân danh Đức Kitô để làm hại sự sống của mình và người khác. Không thể có người của Thiên Chúa nhân danh Chúa để quảng bá một chương trình “phò sự chết”, ủng hộ kế hoạch hủy diệt sự sống. Người theo Đức Kitô, Đấng là Sự Sống phải là người hết lòng phục vụ sự sống con người, cổ võ nền văn minh sự sống và làm tất cả những gì có thể làm để gìn giữ, bảo vệ, níu kéo sự sống con người. Người tông đồ của sự sống xác tín rằng: một mạng người mang giá trị của cả nhân loại và giá trị sự sống là một giá trị tuyệt đối, không có gì thay thế được.
Tuần Thánh có những “nhân danh” để thuận lợi vu oan, những “nhân danh” để nhẹ nhàng khép lại hồ sơ truy tìm sự thật, những “nhân danh” để mau chóng bức tử người vô tội. Đức Kitô là nạn nhân của những “nhân danh” ấy khi người ta đã say sưa nhân danh Thiên Chúa, công trình của Thiên Chúa, Lời Thiên Chúa, dân Chúa, nước Chúa để cố đẩy đưa Con Thiên Chúa lên thập tự. Ngài đã bị kết án đóng đinh và chết vì những nhân danh giả dối, mạo nhận của con người.
Ước gì, danh Đức Kitô, Thiên Chúa bị đóng đinh sẽ không bị chúng ta nhân danh để đóng đinh anh em, nhưng trong danh Ngài, tất cả chúng ta được giải phóng và giao hoà với Thiên Chúa và mọi người.

Những Người Ở Xa Phía Sau

https://www.youtube.com/watch?v=HFOT0DL3cmQ
Sinh hoạt xã hội cũng như sinh hoạt riêng của mỗi cá nhân giống nhau ở chỗ có nhiều mặt, nhiều phía: phía trước - phía sau, mặt chìm - mặt nổi. Có người chẳng nổi nang xuất hiện bao giờ, nhưng lại nắm trọng trách quyết định hoặc ảnh hưởng lớn trong đường lối, kế hoạch chung của cộng đồng; có người suốt đời chìm sâu, thầm lặng nhưng là cố vấn khôn ngoan luôn được bạn bè hội ý; có người sinh ra để “đứng mũi chịu sào” phía trước, nhưng cũng có người chỉ ở phía sau kín đáo chuẩn bị, âm thầm sắp xếp, lặng lẽ thực hiện. Cách chung thì người ta chỉ biết những bộ mặt nổi, ở phía trước, còn những hình bóng chìm, phía sau thường mãi là bóng nhạt, hình mờ luôn rơi vào “không tên, không biết”.
Chung quanh cuộc đời Đức Kitô có rất nhiều khuôn mặt chìm nổi, xa gần, phía trước phía sau. Những nhân vật nổi được nhắc đến nhiều như Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan, Maria Mađalêna, Đức Maria, mẹ Ngài, bên cạnh đám đông thầm lặng, phía sau gồm những người đi theo nghe Ngài giảng, những phụ nữ đạo đức, những đại gia rộng rãi, quảng đại, những thanh niên, thiếu nhi, những người đau bệnh, những binh lính trong quân đội Rôma, những người Do Thái trong hàng ngũ Pharisiêu, trong tổ chức ái quốc Zêlốt… Đặc biệt trong những ngày khổ nạn, có nhiều bộ mặt rất nổi như môn đệ Giuđa, tổng trấn Philatô, thầy thượng phẩm Caipha, ông Simon người làng Kyrênê và nhiều người nổi khác… Ở giai đoạn lo liệu “hậu sự” cho Đức Kitô, xuất hiện hai nhân vật, tuy được nêu tên nhưng thuộc thành phần những người “giữ mặt chìm, ở phía sau”. Nhân thân của hai ông đặc biệt và có những đóng góp đặc biệt vào cuộc đời Đức Kitô. Đó là các ông Nicôđêmô và Giuse người thành Arimathê.
Ông Nicôđêmô “thuộc phái Pharisiêu và là một thân hào nhân sĩ Do Thái” (Ga 3,1). Pharisiêu là nhóm trí thức, thông luật, có uy tín trong dân và chủ trương tuân giữ nhiệm nhặt lề luật Môsê. Nhiều người trong nhóm đã bị Đức Kitô nặng lời khiển trách vì cung cách trịch thượng, kiêu căng, giả hình, thiếu bác ái, từ tâm (Mt 23). Nhóm này rất căm giận Đức Kitô và tích cực trong việc thực hiện âm mưu giết Ngài. Tuy thuộc phe đối lập chống Đức Kitô, nhưng Nicôđêmô vẫn thỉnh thoảng tìm gặp Đức Kitô ban đêm để trao đổi, đàm đạo (Ga 3,2). Có lần vì bênh vực Đức Kitô giữa buổi họp, ông đã bị các bạn Pharisiêu kịch liệt phản đối, đe doạ (Ga 7,50-52). Buổi chiều hạ xác Đức Kitô xuống khỏi Thánh Giá, “ông Nicôđimô cũng tới, mang theo độ một trăm cân mộc dược và trộn với trầm hương... rồi liệm xác Đức Kitô trong khăn như tục lệ của người Do Thái” (Ga 19,39-40).
Còn “ông Giuse là một nhân viên trong Hội Đồng Kỳ Mục của người Do Thái”. Hội Đồng Kỳ Mục là cơ quan điều hành mọi sinh hoạt đạo đời của người Do
Thái ở Giêrusalem. “Ông là người ngay thẳng, công chính. Ông không tán thành quyết định và hành động của các thành viên khác trong Hội Đồng” (Lc 23,50-51). Ông là môn đệ Đức Kitô, nhưng là môn đệ bí mật, kín đáo, ẩn danh, không muốn cho ai biết. Ông theo Đức Kitô nhưng theo ở phía sau, mặt chìm, trong bóng tối. “Ông đã đến xin tổng trấn Philatô cho tháo xác Đức Kitô xuống” (Ga 19,38) và chôn cất Ngài trong phần mộ còn mới của ông (Mt 27,59).
Hai ông thuộc thành phần kính trọng, ủng hộ, giúp đỡ Đức Kitô nhưng đứng phía sau và ở trong bóng tối. Hai ông đại diện cho số không nhỏ những người theo Đức Kitô ở đàng xa, không ra mặt, không mở lời, không gia nhập Giáo Hội, cũng không nhận mình là người có đạo. Tâm hồn hai ông và những người bí mật theo Chúa có những nét đẹp của lương tâm trong sáng, công chính, lương thiện và nét dễ thương của cuộc sống từ tâm, bác ái.

1.   Các ông có một lương tâm trong sáng, nên thấy rõ sự thật và con người thật của Đức Kitô. Sự thật và con người thật của Đức Kitô vào thời điểm đó đã bị phủ nhận, bóp méo, thay hình đổi dạng bởi Hội Đồng Kỳ Mục và nhóm Biệt Phái mà các ông là thành viên có thế giá. Đức Kitô đã bị chụp mũ, vu oan trắng trợn bởi các đồng nghiệp và các ông bị đặt trước tình trạng giằng co giữa sự thật không được tôn trọng, con người thật không được nhận diện đúng đắn và áp lực, lợi ích của phe nhóm. Các ông biết, người ta đã ngụy tạo, cắt xén, tô vẽ con người Giêsu thành một tên tội phạm nguy hiểm cho trật tự chung, tương lai xứ sở và lề luật Môsê vì thành kiến, vì lợi ích cá nhân, ảnh hưởng phe nhóm, nhất là vì ghen ghét, hận thù. Chỉ có hai ông, một người trong Hội Đồng, một người là thành viên nhóm Biệt Phái đã không tán thành những âm mưu đen tối, bất chấp sự thật của phe nhóm mình. Lương tâm trong sáng đã cho các ông nhận ra sự thật về Đức Kitô và sự thật đã kéo các ông đến với Ngài.
Với lương tâm trong sáng, Nicôđêmô đã nhận ra Đức Kitô là người công chính và tính xác thực của những phép lạ Ngài làm, nên đã kín đáo đến gặp Ngài ban đêm và gọi Ngài là Tôn Sư, Đấng Thiên Chúa sai đến và câu chuyện giữa hai người đã rất phong phú, sống động, thân tình (Ga 3,1-21).

2. Các ông là những người ngay chính, lương thiện nên đã đi vào đối thoại với Đức Kitô một cách cởi mở, chân thành khi tôn trọng sự thật và với thái độ tương kính. Người ta không đối thoại với nhau được phần lớn là vì thiếu lương thiện. Không lương thiện, người ta sẽ “ăn gian, nói dối” khi tranh luận vì sự thật không là mục tiêu phải đạt, sẽ “cả vú lấp miệng em” vì luật rừng của “kẻ mạnh” được lấy làm luật chơi và thói “lấy thịt đè người” được dùng như kỹ thuật dành lợi thế. Chiến thắng sẽ không là sự thật nhưng là kẻ mạnh, người quyền thế và thất bại thấy trước sẽ dành cho kẻ yếu, người thấp cổ bé miệng “không tiếng nói”, không thế lực.
Phải lương thiện như các ông mới dám lên tiếng như Nicôđêmô trước mọi người trong buổi họp, giữa lúc tuyệt đại đa số đồng lòng quyết định phải giết Đức Kitô: “Lề luật của chúng ta không cho phép kết án ai khi chưa tra hỏi người ấy trước và khi chưa biết rõ việc người ấy làm” (Ga 7,51). Lương thiện cũng giúp các ông can đảm, không sợ hãi nhưng chấp nhận bị phản đối, cô lập khi bênh vực người vô tội, bị hàm oan (Ga 7,52). Và lương thiện đã lôi cuốn các ông lại gần Đức Kitô, con người công chính đang bị vu vạ, cáo gian.

3.   Các ông có từ tâm, bác ái khi dùng uy tín của mình đến gặp Philatô và xin tháo xác Đức Kitô. Nếu không có hai ông là những người có thế giá chưa chắc gì xác Đức Kitô đã được trao trả sớm ngay chiều thứ sáu để tẩm liệm xứng đáng, vì người ta có thể để xác tội phạm trên thập giá qua lễ mới cho tháo xuống, đem chôn. Lòng tốt đã thúc đẩy hai ông hăng say, nhiệt tình lo liệu xin lấy xác và chôn cất Đức Kitô: hai ông đã đem đến vải mới, mộc dược, dầu thơm để liệm xác và ông Giuse đã hiến luôn phần mộ của mình cho Đức Kitô an nghỉ (Lc 23,50-53; Ga 19,38-42). Lòng tốt không tính toán, tìm lợi, tìm danh nhưng thầm lặng, kín đáo, nhẹ nhàng của hai ông đã giải quyết nhanh chóng và hữu hiệu “hậu sự” của Đức Kitô và đỡ cho Đức Mẹ cũng như tang gia nghèo một gánh nặng lớn. Thực ra, Đức Kitô bây giờ chỉ còn là một xác chết rách bươm, tím bầm thương tích, có gì để nịnh hót, chạy chọt, còn gì để bợ đỡ, xin xỏ. Lòng tốt ở hai ông lúc này mới tinh tuyền, thuần khiết làm sao, vì không dính bén một sợi chỉ đợi chờ, một đường tơ kiếm chác, ngoài từ tâm, bác ái đối với một con người đã chết, một con người thất thế, hết thời. Thương yêu, giúp đỡ lúc này mới khó, mới tuyệt, vì chỉ duy lòng tốt mới đủ kiên nhẫn ở lại đồng cảm và duy nhất từ tâm mới đủ khả năng có mặt sẻ chia.
Bên cạnh hai ông, có rất nhiều người cùng đi chung tuyến đường kín đáo, bí mật đến gặp Đức Kitô. Họ là những người thiện tâm với lương tâm trong sáng chân nhận sự thật, với lương thiện cởi mở đón nhận sự thật và với bác ái từ tâm yêu thương, bênh đỡ nạn nhân của sự thật. Có thể họ bị coi là những người hèn nhát, không dám công khai chọn một chiến tuyến, một con đường, một lãnh tụ; có thể họ bị chê là những người đi hai hàng, thờ hai chúa, làm tôi hai chủ; có thể họ bị khinh là đám thời cơ chủ nghĩa, đón gió, chờ thời; có thể họ bị miệt thị là những tay “ăng ten”, tên nội gián, kẻ nội thù; có thể họ bị người quen cô lập, xếp vào thành phần không dứt khoát, cuốn theo chiều gió, lừng khừng; và có thể họ bị ngăn cản, cấm đoán đến gặp Đức Kitô vì bị kết án là phường lưu manh, vô đạo…
Nhưng có lẽ, không ai biết họ hơn Đức Kitô vì ban đêm họ đã đến gặp Ngài; không ai hiểu họ hơn Đức Kitô vì lợi dụng đêm hôm, họ đã ngồi hàng giờ tâm sự, đàm đạo, học hỏi với Ngài; không ai quý họ hơn Đức Kitô vì họ đã vất vả thu xếp đến gặp Ngài trước những con mắt cú vọ rình mò và miệng đời ác độc; không ai thương họ hơn Đức Kitô vì hoàn cảnh tế nhị đã chưa cho phép họ đến với Ngài giữa thanh thiên bạch nhật, công khai, phía trước, hàng đầu.
Tuy đứng xa, nhưng có thể họ thấy rõ Đức Kitô hơn người đứng gần, vì mắt họ trong sáng. Tuy bí mật, kín đáo nhưng có thể tình nghĩa giữa Đức Kitô với họ thắm thiết, đậm đà, thân mật hơn người xắng xít, năng nổ, ồn ào nhưng nông cạn, hời hợt. Tuy không mang huy hiệu trên cầu vai, túi áo như những thành viên chính thức của hội đoàn, Giáo Hội, nhưng tâm hồn họ có thể đã đầy ắp Đức Kitô.
Thiên Chúa đến với con người qua những sáng kiến “cao thấu tầng trời, sâu tận vực thẳm” và mở ra hàng ngàn ngàn triệu những con đường dẫn con người đến với Ngài. Vì thế, không ai có quyền ngăn cản Đức Kitô mở lối, không ai có quyền kiểm soát đường bay của gió, không ai có quyền đóng khung, quy định hoạt động của Thánh Thần và Thiên Chúa tự do đến với mọi người trong tình trạng, cảnh huống, điều kiện riêng của họ. Ở trong Chúa, có tất cả những gì đẹp nơi con người, những gì tốt nơi con người, những gì thật nơi con người để tất cả những người thiện tâm khao khát Chân Thiện Mỹ sẽ gặp được Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối, ước vọng tối hảo của con người.
Hai ông Nicôđêmô và Giuse Arimathê không những đã gặp, đàm đạo với Đức Kitô mà còn được hạnh phúc nhận xác, rồi tẩm liệm, chôn cất Ngài. Ai dám nghĩ hai ông đã không được Đức Kitô thương và ai dám điểm mặt các ông là những tên hoạt đầu, đón gió, chờ thời, hai hàng, ngoại đạo?
Chắc chắn Tuần Thánh năm nay, ở đàng xa, phía sau nhà thờ, trong đêm khuya thanh vắng đang có rất nhiều bước chân rất nhẹ, rất êm tìm đến gặp gỡ Đức Kitô. Đó là những bước chân dễ thương, từ tâm, lương thiện, vững vàng, can đảm nhờ tâm hồn trong sáng, những bước chân, tuy âm thầm, dè dặt, bí mật, không để lại dấu vết nhưng sẽ đi đến tận cùng đường Thánh Giá của Đức Kitô.

Viếng Mộ

https://www.youtube.com/watch?v=IMUSzcmapXo
Mộ là nơi chôn người chết, không gian của chết chóc, buồn sầu, nên không ai tìm đến mộ mà vui chơi, nhẩy nhót, rượu chè, không ai ra mộ mà cười nói huyên thuyên, nhố nhăng lơi lả. Mộ giữ người chết trong lòng đất. Mộ vùi sâu thi hài. Mộ lưu giữ công khai tấm ảnh người quá cố với dòng chữ ngắn ghi tên, ngày sinh, ngày tử. Mộ buồn lắm dù có ngập hoa bao phủ. Mộ lạnh lắm dù có nến thắp lung linh. Mộ sợ lắm dù cả nhà đang quây quần, xúm xít. Mộ xa lắm dù có áp ngực, quỳ gối kề bên.
Mỗi lần “đưa ma” là thấy mộ. Mộ há to mồm cạp lấy quan tài như đang cơn đói. Mộ vội vã đóng cửa, gài then bằng đống đất đầy, vun cao. Mộ khép kín, nén chặt để không ai có thể cầy xới, bới đào trừ ra đàn kiến và đám côn trùng cứng cổ. Mộ lãnh đạm, lạnh lùng: đến giờ là đóng tấm đan, lấp đất, không trì hoãn tiếc thương, không chần chừ quyến luyến. Và ai cũng thua quyết định của mộ và khẩn trương lấp kín, đóng chặt, chèn kỹ lưỡng, bỏ lại người chết an nghỉ trong mộ phần hiu quạnh.


Vì là tuần tử nạn, tuần có “Thiên Chúa làm người” chết, nên Tuần Thánh không tránh được chuyện mai táng, mộ phần: “Nơi Đức Giêsu bị đóng đinh có một thửa vườn và trong vườn có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do Thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giêsu ở đó” (Ga 19,41-42).
Thế là từ nay mộ được thêm uy quyền, vì chôn được “Thiên Chúa”. Chôn con người đã đành, chôn luôn Thiên Chúa thì quả thực mộ toàn năng.
Mộ và sự chết đã hợp tác, hợp lực chôn Đức Kitô để chứng tỏ: chết là hết vì sự chết không nói gì, người chết không nói gì, nay đến Thiên Chúa chết cũng nín thinh, không nói gì. Mộ phần và sự chết thành công khi thấy con người đến mộ mà khóc: khóc vì mất người thân, khóc vì không cứu vớt được những dấu ái, yêu thương khi thần chết vung tay tung lưỡi hái. Mộ và sự chết nhìn nhau cười ha hả khi quan tài là dấu chấm hết của kiếp nhân sinh. Và mộ ôm sự chết nhảy mừng khi con người quỵ ngã, nức nở, ngậm ngùi đưa tiễn người thân vào mộ phần u tối.
Hôm chôn Đức Kitô, chị Maria Madalêna cũng có mặt. Chị nhớ lại cách đây không lâu, vừa lo xong đám tang em trai được mấy ngày thì Đức Kitô đến viếng mộ. Hôm ấy, “vừa thấy Ngài, chị liền phủ phục dưới chân mà nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây thì em con không chết. Thấy chị khóc và những người Do Thái cùng đi với chị cũng khóc, Đức Kitô thổn thức trong lòng và xao xuyến. Ngài hỏi: “Xác để ở đâu?” Mọi người trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem”. Đức Kitô bật khóc... Rồi Ngài đi đến mộ. Ngôi mộ là một cái hang có phiến đá đậy lại. Ngài bảo: “Lấy phiến đá ra!” Chị cả Matta liền nói: “Thưa Thầy nặng mùi lắm rồi, vì em con đã chôn được bốn ngày”. Đức Giêsu bảo: “Nào Thầy đã chẳng nói với chị, nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang Chúa sao?” Rồi người ta đem phiến đá đi. Đức Giêsu ngước mắt lên và nói: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha luôn nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha sai con”. Nói xong, Ngài kêu lớn tiếng: “Anh Lazarô, hãy ra khỏi mồ!” Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải và mặt còn phủ khăn” (Ga 11,32-44).
Là chỗ thân tình, nên nghe tin Lazarô chết, Đức Kitô đã vội về Bêtania viếng mộ. Như bao cuộc viếng mộ khác đã không tránh khỏi thổn thức, bùi ngùi, xao xuyến, nước mắt lưng tròng, sụt sùi thống thiết, nức nở nhớ thương và cũng như bao người khác đi viếng mộ người thân, Đức Kitô đã bồi hồi và bật khóc khi đến mộ. Tình cảm dành cho người quá cố biểu lộ qua những giọt lệ lăn dài trên má, những đôi mắt buồn, cay sè, đỏ hoe, những bước chân nặng nề sầu thảm của tang gia và những người hàng xóm tháp tùng Đức Kitô cùng đi viếng mộ. Trước mộ phần u tối với xác người đã hôi thối, không ai ngờ Đức Kitô đã gọi người chết ra khỏi mồ và cho sống lại, kể cả Maria, vì cô chỉ dám nghĩ: “Nếu Thầy ở đây thì em con không chết”, chứ nào dám nghĩ: kể cả em con chết rồi, Thầy vẫn có thể làm cho sống lại, vì thấy “xác đã chôn bốn ngày và đã nặng mùi hôi” (Ga 11,39).


Bên xác Đức Kitô hôm nay, chiều thứ sáu tuần thánh, càng nhớ phép lạ Ngài làm cho em mình sống lại, Maria càng thương Đức Kitô và thổn thức, xao xuyến như Ngài đã xao xuyến, thổn thức trước mộ Lazarô.
Như Đức Kitô đã vội vã về Bêtania viếng mộ em mình, hôm nay “Ngày thứ nhất sau ngày Sabát, lúc sáng sớm, trời còn tối, Maria Madalêna đã đi viếng mộ Đức Kitô. Cô thấy tảng đá đã lăn ra khỏi cửa mộ”. Hốt hoảng, cô chạy về tìm Simon Phêrô và Gioan. Cả hai cùng chạy đến xem và họ thấy khăn liệm còn đấy mà xác thì không còn… Buồn bã, hai môn đệ trở về nhà vì họ nghĩ ai đó đã đánh cắp xác Đức Kitô và không nhớ ra lời Đức Kitô đã dặn: Thầy sẽ sống lại từ cõi chết. “Còn Maria, cô cứ đứng khóc bên cạnh mộ, vừa khóc vừa nghiêng mình ngó vào bên trong. Cô thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã táng xác Chúa, một thiên thần ở phía đầu, một thiên thần ở phía chân. Thiên thần hỏi: “Cô kia, sao khóc thế?” Maria đáp “Người ta lấy mất Chúa tôi rồi và tôi không biết họ để Người ở đâu”. Nói xong, cô quay lại đằng sau và thấy Chúa Giêsu đứng đấy, nhưng cô không nhận ra Ngài. Chúa Giêsu hỏi: “Chị này, sao mà khóc thế?” Cô Maria tưởng đó là người làm vườn, nên hỏi: “Thưa ông, nếu có phải ông đã đem Thầy tôi đi thì xin cho tôi biết ông để ở đâu, để tôi đi lấy về”. Chúa Giêsu gọi: “Maria!” Bà nhận ra Chúa và kêu lên “Rabbôni” nghĩa là “Thầy” (Ga 20,1-16).
Cùng một nhân vật Maria Mađalêna, hôm trước cô đã cùng đi với Đức Kitô ra viếng mộ em trai Lazarô, hôm nay, một mình đi viếng mộ Đức Kitô. Hôm trước cô cùng khóc với Đức Kitô trước mộ em, hôm nay một mình, cô nức nở khóc Đức Kitô. Hôm trước, có Đức Kitô an ủi, hôm nay có hai thiên thần và Đức Kitô ủi an nhưng cô không nhận ra Ngài. Hôm trước có đông người cùng đi viếng mộ, hôm nay gọi thêm được Phêrô, Gioan, nhưng cả hai đã vội đến vội đi, bỏ cô thui thủi một mình với mộ trống. Hôm trước xác tuy đã nặng mùi nhưng còn đó, hôm nay “người ta đã lấy mất xác Thầy”. Hôm trước, cô còn có Thầy để nhõng nhẽo, trách yêu: “Nếu Thầy ở đây thì em con đã không chết”, hôm nay Thầy chết rồi, lại còn bị lấy mất xác, cô lấy ai để phụng phịu bắt đền. Hôm trước, Thầy làm phép lạ, hôm nay chẳng biết người ta đánh cắp rồi để xác Thầy ở đâu.
Maria Mađalêna với hai lần viếng mộ trong khoảng thời gian không mấy xa nhau. Hai lần viếng mộ đều có Đức Kitô: lần trước cô đi với Ngài, lần sau cô đi viếng Ngài; lần trước Ngài xao xuyến, bồi hồi trước mộ em cô, lần này cô xao xuyến, bồi hồi trước mộ Ngài; lần trước Ngài khóc em cô, lần sau cô khóc Ngài; lần trước Ngài cho Lazarô, em cô sống lại, lần này Ngài tự mình sống lại; lần trước cô gọi Thầy, lần này Thầy gọi tên cô; lần trước cô chạy ra đầu làng đón Thầy, lần này Thầy đứng ngoài cửa mồ, ngay sau lưng cô; lần trước cô vui mừng vì em trai được Thầy cho sống lại, lần này cô mừng vui vì Thầy phục sinh; lần trước em cô ra khỏi mồ chân tay còn quấn vải, mặt còn phủ khăn, lần này Ngài ra khỏi mộ mà vải liệm, khăn che mặt vẫn còn đó; lần trước có đám đông, lần này có thiên thần; lần trước nước mắt cô khô vì em cô được sống lại, lần này dòng lệ cô ngưng chảy vì Thầy đã phục sinh từ cõi chết; lần trước cô phấn khởi mời Thầy về nhà dùng bữa mừng em cô sống lại, lần này Thầy sai cô đi báo Tin Mừng Phục Sinh cho các anh em môn đệ của Thầy và cả lần trước lần này, cả hai lần cô đều có Thầy.
Cả hai lần viếng mộ, Maria đều có Đức Kitô: lần trước có Đức Kitô, Ngài đã làm phép lạ cho em cô được sống lại, lần sau có Đức Kitô, Đấng đã sống lại từ trong cõi chết; lần trước có Đức Kitô ban sự sống, lần sau có Đức Kitô là “sự sống và sự sống lại”; lần trước có Đức Kitô gọi người chết ra khỏi mồ, lần sau chính Ngài ra khỏi mồ vì Ngài là sự sống; lần trước Ngài sai người ta lấy đi phiến đá cửa mồ, lần sau Ngài tự đẩy phiến đá và mở cửa mồ đi ra.
Hai lần viếng mộ, Maria Mađalêna đều chứng kiến “phép lạ sự sống” mà người làm phép lạ là Đức Kitô. Cả hai lần, cô đều đi với, đi cùng, đi gặp, đi theo Đức Kitô là sự sống và cả hai lần cô được thấy sự sống đã chiến thắng sự chết. Cả hai lần, cô đã quấn quýt Đức Kitô là sự sống và cô đã nhìn tận mắt con người được sống lại nhờ quyền năng của Đức Kitô. Cả hai lần cô đã gắn bó, bám chặt lấy Đức Kitô và cô đã không thất vọng vì sự sống đã trả cô những người thân đã mất. Cả hai lần, cô đã biểu lộ tình yêu thiết tha dành cho Đức Kitô và cô đã được sự sống làm khô mắt lệ, làm trái tim tràn ngập niềm vui. Cả hai lần cô đã đi theo Đức Kitô và đã được Đức Kitô mời tham dự vào mầu nhiệm phục sinh: lần đầu, cô năn nỉ mời Đức Kitô ra viếng mộ, nhờ đó mà em cô được sống lại, lần sau cô viếng mộ Ngài rất sớm, nhờ thế mà Tin Mừng Phục Sinh được nhanh chóng loan truyền. Cả hai lần cô đã lắng nghe Đức Kitô và nhận ra Ngài là Thiên Chúa của sự sống, Thiên Chúa của người sống. Cả hai lần cô đã không để mất Đức Kitô và đã được Ngài âu yếm gọi tên. Cả hai lần cô đã tin ở Đức Kitô và cô đã không phải thất vọng.
Đi viếng mộ Lazarô, Đức Kitô đã nghe thần chết đắc thắng, ngạo nghễ trước bàn dân thiên hạ: “Chết là hết đời, chết là hết sống, còn gì đâu mà thương với khóc, vì chết chấm dứt tất cả, đoạn tuyệt tất cả, hủy bỏ tất cả… bằng cớ là xác người chết đã thối rữa ra rồi!” Đi viếng mộ Lazarô, Đức Kitô, Thiên Chúa của sự sống và người sống đã lật mặt gian dối và chỉ mặt thần chết: “Hỡi thần chết, mày là thằng nói láo, lừa bịp, vì chết không phải là hết, chết không phải hủy diệt, nhưng chết chỉ là một bước chuyển tiếp vào đời sống mới, một tiến trình cần thiết để đi vào sự sống đời đời. Chết có đau đớn đấy, nhưng là nỗi đau của người mẹ sinh con, nỗi đau cần thiết cho sự sống. Chết không là nỗi đau tuyệt vọng, nhưng là đau đớn cho sự sống mới được phát sinh”. Làm phép lạ cho Lazarô sống lại, Đức Kitô đã cho mọi người thấy: Thiên Chúa có quyền trên sự chết và Ngài sẽ làm sống lại tất cả mọi người đã chết. Sự chết không độc quyền bá chủ nghĩa trang, mộ phần, nhưng khi Thiên Chúa đến, Ngài sẽ làm cho người chết sống lại, đi ra khỏi mồ. Sự chết không còn uy lực trên con người, vì Thiên Chúa sự sống đã chiến thắng, tiêu diệt sự chết.
Đi viếng mộ Đức Kitô, cô Maria đã thấy Đức Kitô sống lại và sự chết không còn quyền gì trên Ngài. Đi viếng mộ Đức Kitô, Maria đã gặp Đức Kitô đang sống và sự chết bị hoàn toàn triệt hạ khi mộ phần bị mở tung, toang hoang, trống rỗng. Chỗ chết bây giờ là đất sống. Mộ chôn người chết bây giờ là thiên đàng có thiên thầnthong thả ngồi chơi. Nghĩa địa, bãi tha ma bây giờ là nơi quy tụ những người sống lại. Chết không còn làm người sống sợ vì chết chỉ là một quãng đường dẫn từ sự sống bên này qua sự sống bên kia. Chết không còn làm người sống tuyệt vọng, vì sau cái chết có sự sống, đàng sau cửa tử lấp ló ánh nắng buổi sáng phục sinh. Chết không còn làm người sống ủ rũ, đau buồn, vì Thiên Chúa sự sống sẽ ghé qua viếng mộ và làm cho người chết sống lại.


Viếng mộ với Đức Kitô là giới thiệu Thiên Chúa Nguồn Sống với người chết, là nài xin ơn sống lại cho họ và xác tín sự sống này không bị hủy diệt, tiêu tan, nhưng chỉ đổi thay, chuyển biến, chờ một đời sống mới. Viếng mộ với Đức Kitô là nắm chắc ơn sống lại cho người thân đã chết, vì Đức Kitô rất dễ thổn thức, xao xuyến, bật khóc trước người quá cố và nhiệt tình làm phép lạ cho họ sống lại. Viếng mộ với Đức Kitô là nhận về niềm vui được cứu sống, vì Ngài là sự sống đã đến trong thế gian để mọi người được sống và sống dồi dào (Ga 10,10).
Tuần Thánh với mộ phần, nhưng là phần mộ trống rỗng, không người chết, không mùi hôi xác chết, không giòi bọ rút tỉa tử thi. Tuần Thánh có người chết, nhưng người chết tự tung cửa mộ, ra khỏi mồ. Tuần Thánh có Thiên Chúa bị loài người giết chết, chôn kín trong mộ, nhưng cửa mồ mở toang, thiên thần có mặt, Thiên Chúa phục sinh. Tuần Thánh vì có Đấng Thánh của Thiên Chúa nằm chết với con người, nên từ nay Tuần Thánh là cọc mốc đánh dấu chiến thắng của Thiên Chúa Sự Sống trên Tử Thần ác độc, dữ dằn. Tuần Thánh có Thiên Chúa phục sinh nên sự chết từ nay không còn làm con người sợ, vì có chết đi mới được sống lại với Ngài, “như hạt lúa có bị chôn vùi, thối đi mới nẩy mầm, đơm hạt” (Ga 12,25).
Như Maria Mađalêna đã đi viếng mộ Chúa và viếng mộ với Chúa để nhận được niềm vui sống lại, xin cho mỗi người cũng được hưởng trọn niềm vui Phục Sinh khi biết nắm chặt tay Đức Kitô trên đường đưa người thân đến mộ, trên đường đi viếng xác người quá cố, cũng như trên đường dẫn đến phần mộ riêng của mình.
Có Đức Kitô cùng đi, ở đâu cũng sẽ là thiên đàng, dù là mộ phần tăm tối. Có Đức Kitô ở cùng, nơi nào cũng sẽ rộn rã niềm vui, dù là nghĩa trang sầu thương, khóc lóc tức tưởi. Có Đức Kitô đồng hành, đường nào cũng dắt về sự sống, dù là tử lộ kinh hoàng. Có Đức Kitô ở bên, nơi nào cũng sẽ là mái ấm, dù giữa nghĩa trang cô liêu, vắng lạnh. Có Đức Kitô trong đời, đời sẽ tràn ngập sự sống “Phục Sinh” và ngày nào cũng là “ngày Thiên Chúa đã làm ra, chúng ta hãy hoan hỷ vui mừng. Halêluia !” (Tv 117,24).

Lòng Chúa Thương Xót

Phong trào “Lòng Chúa thương xót” những năm qua tạo nên nhiều thắc mắc, ý kiến, khuynh hướng phò - chống trái ngược nhau. Có cha xứ cấm bổn đạo đến nhà thờ Chí Hoà mỗi trưa thứ năm hàng tuần để dự những buổi lễ kính lòng thương xót Chúa do cha Trần Đình Long, dòng Thánh Thể tổ chức; có cha lại tán thành, tạo điều kiện; có người xem những buổi tụ tập đông người quanh “Lòng Thương Xót” là mê tín; có đấng khác cho rằng: đây là thời cấp bách truyền rao lòng Chúa xót thương và nhiệt tình ủng hộ.
Thực ra, không phải mới có lòng Chúa thương xót và Chúa mới chỉ bắt đầu xót thương con người mấy năm nay. Nhưng từ thuở đời đời và cho đến tận thế, Chúa vẫn một lòng xót thương và trung thành với giao ước xót thương nhân loại của Ngài. Các tổ phụ Israel, Đức Maria và Giáo Hội vẫn hằng ca tụng không ngơi nghỉ “Lòng thương xót Chúa trải qua từ đời nọ đến đời kia hằng bao bọc những người kính sợ Chúa” (Lc 1,50). Như thế, lòng thương xót đã có từ ngàn đời và không bao giờ bị gián đoạn, đứt khúc hay tàn lụi, phôi pha. Lòng thương xót ấy bền vững đời đời và đối tượng của lòng thương xót là con người biết kính sợ Chúa.
Biết kính sợ Chúa là điều kiện duy nhất để nhận lòng thương xót: “Hãy đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây. Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào” (Is 55,1). Mua mà không phải trả tiền tức là đến lãnh không, nhận hàng “free”. Sở dĩ lòng thương xót còn xa lạ, mới mẻ vì bấy lâu ta chưa biết kính sợ Chúa, chưa xem Chúa là cần thiết cho cuộc đời, nên chẳng “tìm Ngài khi Ngài còn cho gặp và kêu cầu Ngài lúc Ngài còn ở kề bên” (Is 55,6).
Biết kính sợ Chúa là lắng tai nghe và đến với Ngài (Is 55,3). Đó là thái độ mở lòng và quyết tâm, điều kiện để nhận lòng thương xót. Vì thế, đặt thêm những điều kiện mới khác để nhận được lòng thương xót là xúc phạm chính lòng thương xót, vì Thiên Chúa đã muốn ban tặng trái tim thương xót của Ngài một cách quảng đại, không bủn xỉn tính toán.
Chính vì lòng thương xót được cho đi một cách dễ dàng, “nhưng không”, nên mới có chuyện người anh lớn khó chịu khi thấy cha vui mừng cho hạ dê béo mừng em trở về sau những năm dài đi hoang (Lc 15,28), mới có chuyện bực bội khi thấy người khác được nhận vào làm giờ chót mà vẫn ăn lương cả ngày (Mt 20,11-12), mới có chuyện bất mãn khi thấy người tội lỗi được “trở lại” vài phút trước khi chết và người ngoại đạo nhận được ơn này ơn kia. “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối của các ngươi không phải là đường lối của Ta… Bởi trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55,8-9).
Không như tư tưởng con người, Thiên Chúa đã lấy lòng thương xót làm sự thánh thiện của mình (Lc 6,36) để thay vì lấy uy quyền của “Thiên Chúa các đạo binh”, lấy “chí công vô tư” nghiêm khắc của Thiên Chúa chánh án, quan toà làm nền cho sự thánh thiện, Ngài đã chọn trái tim bằng thịt hay xúc động, dễ cảm thông, luôn chạnh lòng. Thay vì chọn cho mình tên gọi “nổ rền vang, kêu hoành tráng”, Thiên Chúa đã tự chọn cho mình tên “Thiên Chúa Tình Yêu” nhẹ nhàng, êm ái, tên của Thiên Chúa khiêm hạ, vâng lời, hy sinh, có trái tim từ bi, nhân hậu, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung (1Ga 4,8; 4,16).
Không như đường lối con người, Thiên Chúa đã bất chấp logic bình thường của con người khi biểu dương danh thánh và sự thánh thiện của Ngài là tình yêu thương xót trên những kẻ đã xúc phạm đến Ngài. Cứu Israel ra khỏi các dân tộc thống trị dù Israel phản nghịch, bội ước, Thiên Chúa đã hành động ngược lại tư tưởng và đường lối của con người khi đơn phương và vô điều kiện tha thứ cho Israel: “Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, mà vì danh thánh của Ta” (Is 36,22). Vì danh Ngài là Thiên Chúa nhân hậu, giàu lòng xót thương, nên Ngài không thể không xót thương, nhân hậu; nếu không Ngài sẽ tự lừa dối khi từ chối chính mình. Vì danh Ngài là Thiên Chúa thánh thiện do lòng thương xót, nên Ngài chỉ biết xót thương vì Ngài luôn thánh thiện (Xh 34,6; Tv 102,8).
Tiên tri Isaia đã trình bày những việc Thiên Chúa làm vì xót thương Israel trong bài đọc đêm vọng Phục Sinh như niềm hy vọng cho những ai biết kính sợ, chạy đến với Ngài:

1. Thiên Chúa đã đem Israel ra khỏi các dân tộc và quy tụ họ trên đất của họ (Is 36,24). Tha hương là nỗi khổ mọi người. Không được sống trên quê cha đất tổ là một bất hạnh nên có người con xa xứ, “tha phương cầu học hay cầu thực” nào đã chẳng chạnh lòng nhớ quê, dù quê hương ấy bệ rạc, rách nát, khốn khó thế nào đi nữa.
Dân tộc Israel “nổi tiếng” với lịch sử triền miên bị lưu đầy, bách hại. Thế kỷ hai mươi tưởng đã xa thời man rợ, thế mà hơn sáu triệu người Israel đã bị tiêu diệt trong các trại tập trung của Đức quốc xã, dưới bàn tay hung bạo của nhà độc tài Hitler. Cựu Ước cũng đã ghi lại các cuộc lưu đầy mà Israel phải chịu và nỗi khổ lưu đầy đã là bất hạnh được thấy rõ nhất trong lịch sử dân Chúa. Xót thương dân mà Ngài đã chọn, Thiên Chúa cho họ trở về quê hương, trên đất của tổ tiên, cha ông, mặc dù “đi đến đâu, họ cũng xúc phạm đến danh Ta giữa chư dân và làm cho ra ô uế đất ấy vì lối sống và hành vi của họ” (Is 36,17.20).
Hồi hương dân riêng, Thiên Chúa cũng hồi hương tâm hồn con người để con người được an cư lạc nghiệp. Hồi hương đối với người tín hữu là trở về với Đức Kitô, để trên quê hương là Đức Kitô, tâm hồn người tín hữu được hạnh phúc bình an.



2.   Thiên Chúa “thanh tẩy họ để họ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần” (Is 36,25). Một ngày không tắm còn được, nhưng một tháng không tắm thì quả là kinh hoàng. Những ai đã ở tù hay trại tỵ nạn đều ít nhiều kinh nghiệm về chuyện hiếm nước, “yêu nước” khi thân xác nhầy nhụa, dơ bẩn, hôi hám vì lâu ngày không tắm. Tâm hồn không tắm cũng ngứa ngáy, bứt rứt, khó chịu như thân xác ghẻ lở vì ở dơ. Thiên Chúa muốn tâm hồn dân Ngài được thoải mái, mát mẻ khi tắm sạch, rửa sạch họ khỏi mọi tội lỗi. Tình yêu thương xót như nước sẽ rửa sạch mọi ô uế và cho tâm hồn nên trinh trắng, trong sạch. Sạch để đón nhận trọn vẹn tình Chúa thương xót. Trắng để Thiên Chúa thánh thiện do lòng xót thương biến đổi nên giống Ngài hơn.

3.   Ngài ban tặng họ một quả tim mới bằng thịt (Is 36,26) để thay thế quả tim cũ chai đá, cứng cỏi, gian tà, ngoan cố. Trái tim là tổng hành dinh điều khiển đời sống. Người có trái tim nhân hậu sẽ yêu thương hết tình và tha thứ hết mình. Người có trái tim độc ác sẽ chỉ suy nghĩ và làm điều ác độc. Tim trong sáng cho cuộc đời trong sáng. Tim đen tối làm cuộc đời tối đen. Vì thế, thay áo đổi quần, thay nhà đổi xe, thay da đổi thịt hay thay đổi gì đi nữa trên thân thể cũng không bằng thay tâm, đổi lòng; bởi trái tim, tâm hồn mới cần được đổi thay để nhờ đó, tất cả sẽ được tự động thay đổi. Trái tim vui đem về hạnh phúc. Trái tim buồn đem lại khổ đau. Trái tim thánh thiện đem ơn cứu sống. Trái tim chai đá trả về kiêu căng hủy diệt. Nhưng không ai thay được tim người khác hay tự đổi được tim mình, vì tim là cơ quan trọng yếu nên rất khó thâm nhập, là cơ năng phức tạp nên rất khó can thiệp, đổi thay, ngoại trừ Thiên Chúa và Thánh Thần của Ngài. Chỉ một mình Thiên Chúa mới thay đổi được trái tim con người và đặt vào quả tim mới bằng thịt. Với quả tim mới, con người mới được tái tạo sẽ xây dựng một trời mới, một đất mới của Thần Khí mới (Is 36,27).
Đó là viễn cảnh sống lại của tâm hồn, là hứa hẹn ngày phục sinh từ cõi chết, là bước chân trở về với lòng Chúa xót thương, Đấng sẽ làm mới lại tất cả bằng cách ban cho con người một quả tim mới bằng thịt để biết chạnh lòng xót thương, động lòng trắc ẩn và rộng lòng sẻ chia.
Ban lại quả tim mới thay quả tim đen tội lỗi, ban lại trái tim bằng thịt thay tâm địa kiêu căng, Thiên Chúa thương xót con người mà chính Ngài đã tạo dựng với trái tim yêu thương như hình ảnh Ngài. Tiếc xót tạo vật mình yêu quý, thương nhớ hình ảnh mình dựng nên, Thiên Chúa phải tự trở về với danh Ngài, tự tìm về căn tính yêu thương của Ngài để có cớ cứu chuộc và tái tạo con người khi ban cho họ nguồn sống mới trong một tâm hồn mới bởi một Thần Khí mới. Sự sống lại của Đức Kitô chính là sự sống mới được ban cho con người. Trong sự sống mới này, con người sẽ “đi theo thánh chỉ, tuân giữ các giáo huấn” (Is 36,27) và Thiên Chúa sẽ “giao hoà với con người bằng giao ước mới và Ngài không còn nhớ lại lỗi lầm xưa”. Giao Ước mới sẽ được ghi khắc tận đáy lòng, sâu thẳm trong trái tim mỗi người và từ bé chí lớn, trẻ em đến người già, tất cả sẽ đều biết và yêu mến Thiên Chúa, bởi Ngài tha thứ tất cả lỗi lầm và chẳng nhớ lầm lỗi của ai (Gr 31,31-34).
Đêm vọng Phục Sinh cùng anh chị em tân tòng nhận bí tích Thánh Tẩy, chúng ta sống mầu nhiệm nước phục sinh, nước từ cạnh sườn Đức Kitô trên Thánh Giá. Đây là nước của lòng thương xót, nước mang ơn thanh tẩy, thứ tha, nước ban sự sống, nước làm mát tâm hồn, làm dịu cơn khát, làm mềm đất khô, làm tươi cuộc đời. Đây là nước mà ai cũng có thể đến kín múc, không phải trả tiền, không bị đóng thuế. Nước yêu thương, an ủi, nước thương xót dạt dào, nước đổi mới, tái tạo.
Ngôn sứ Êzêkien đã giúp ta ra khỏi những thắc mắc, nghi vấn về lòng thương xót Chúa và tránh cho ta sai lầm khi đặt tư tưởng “cao vời khôn ví” của Thiên Chúa vào khung hẹp ý nghĩ của loài người, đặt đường lối vô cùng nhiệm lạ của Thiên Chúa vào khung nhỏ kế hoạch của nhân loại, nhìn công trình bao la của Thiên Chúa trong nhãn giới hạn hẹp của thế gian.
Lời sấm của ngôn sứ cũng nhắc ta đừng vẽ chân dung Thiên Chúa theo khuôn mẫu, tiêu chuẩn của ta, đừng gán ghép hình ảnh ta cho dung mạo Ngài, nhưng tìm kiếm và làm sáng hình ảnh, dung mạo Thiên Chúa trong ta; bởi lòng thương xót Chúa vượt xa ý nghĩ, tâm tư và tầm nhìn rất giới hạn của con người. Lòng thương ấy cứu chữa vô điều kiện, cứu chuộc không biên giới, cứu độ không so đo, cho đi không mặc cả, sẻ chia không tính toán và trao ban không đòi thế chấp, biên lai.
Và mãi mãi vượt xa tư tưởng, đường lối loài người, lòng thương xót của “Thiên Chúa làm người” chỉ muốn được yêu con người và ao ước con người nhận ra hình ảnh xót thương của mình trong tâm hồn họ, hình ảnh một tình yêu xót thương luôn chữa lành, đổi mới.