Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2019

CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

Tin Mừng CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT kể lại biến cố Đức Giêsu hiện ra với các tông đồ sau khi sống lại, với lời chúc “Bình an cho anh em !”. Và đoạn Tin Mừng từ câu 19 đến 29 chương 20, Gioan đã nhắc đến 3 lần lời chúc bình an này.
Khi chọn đoạn Tin Mừng với lời chúc bình an cho CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT, Giáo Hội muốn làm nổi bật bình an của Đức Giêsu Phục Sinh như hoa trái tuyệt vời thơm ngon của Lòng Thương Xót.
1.   Chỉ LÒNG THƯƠNG XÓT mới phát sinh ơn bình an :
Đức Giêsu đã không ban bình an của Ngài trước khi sống lại, và chỉ sau khi sống lại, Ngài mới ban bình an cho hết mọi người được gặp Ngài. Điều này làm chứng rằng ơn bình an chính là kết quả của Lòng Thương Xót đã được thực hiện qua cuộc tử nạn của Ngài. Nói cách khác, lòng thương xót phát sinh ơn bình an, nên ở đâu có Lòng Thương Xót, ở đó có bình an.
2. LÒNG THƯƠNG XÓT là điều kiện của Bình an :
Khi cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn còn hoắm sâu dấu đinh và lưỡi đòng, cũng như bảo Tôma xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn, và cùng lúc nói với các ông : “Bình an cho anh em !” (Ga 20,20-21; 20,26-27), Đức Giêsu muốn dậy các ông chân lý : người môn đệ được sai đi sẽ chỉ có ơn bình an và ban được ơn bình an của Ngài cho người khác, khi các ông có Lòng Thương Xótvà sống Lòng Thương Xót như Thầy mình. Ở ngoài Lòng Thương Xót, hay bỏ quên Lòng Thương Xót, người môn đệ không làm chứng được Đức Giêsu, Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, cũng không mang đến cho ai ơn bình an của Ngài, vì tâm hồn thiếu Lòng Thương Xót không nhận được Thánh Thần, là điều kiện tất yếu để được sai đi (Ga 20, 22).
Lòng Thương Xót như thế không chỉ là điều kiện để ban bình an của Đức Giêsu cho người khác, mà còn là đòi hỏi ở người muốn nhận ơn bình an của Ngài. Trái tim thương xót trở nên nhà của Thiên Chúa tình yêu, và nơi trú ngụ của Thiên Chúa, nguồn ơn sủng.
3.   Ơn bình an là bảo chứng của ơn gọi làm môn đệ Đức Giêsu :
Quà tặng của Đức Giêsu sống lại cho các môn đệ, cũng là hạnh phúc đích thực Thiên Chúa làm người ban cho con người chính là bình an của Ngài, bình an mà người đời không ban được. Vì thế, sứ vụ mà các môn đệ nhận được nơi Đức Giêsu khi được sai đi, chính là đem đến cho anh em đồng loại ở mọi nơi, mọi thời ơn bình an, là ơn sủng cao vời, lớn lao phát sinh từ cạnh sườn bị đâm thủng có máu và nước chảy ra của Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ nhân loại. 
Do đó, người môn đệ của Đức Giêsu sẽ tin tưởng lên đường, nếu tâm hồn người môn đệ ngập tràn ơn bình an, khi người môn đệ nằm lòng xác tín : bình an chỉ có được trong tâm hồn giầu Lòng Thương Xót.
Quả thực, Lòng Thương Xót là căn cớ, và động cơ của mầu nhiệm cứu độ. Vì xót thương mà Thiên Chúa làm người và cứu chuộc con người, nên ơn cứu độ là Bình An viên mãn của Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ có nền tảng là Lòng Thương Xót và nguồn mạch là Lòng Thương Xót.
Xin cho chúng con biết tìm kiếm bình an cho anh em và cho chính mình ở Lòng Thương Xót, và với Lòng Thương Xót.
Ước gì trong Lòng Thương Xót của Đức Giêsu, Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, và dung mạo đích thực của Chúa Cha giàu Lòng Thương Xót cho chúng ta được lớn lên mỗi ngày trong ơn Bình An và trở nên khí cụ đắc lực của Bình An giữa lòng thế giới hôm nay đang rực lửa hận thù. 
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2019

CHIẾN TRANH TÔN GIÁO SẼ CÓ HAY KHÔNG ?


      Lại một lần nữa, dư luận thế giới cực lực lên án hành vi bạo lực sát nhân rất đáng ghê tởm và hèn nhát của một số người Hồi Giáo cuồng tín, qúa khích đã đánh bom vào thứ hai, 22 tháng Tư năm 2019 tại ba nhà thờ Công Giáo, một ngay tại thủ đô Colombo của Sri-Lanka và hai nhà thờ khác ở Dehiwala không xa thủ đô, tất cả đều đang tham dự thánh lễ Phục Sinh, mừng Chúa sống lại. Cùng chung số phận với ba nhà thờ Công Giáo là bốn khách sạn khác. Con số tử vong lên đến 310, và bị thương 500 người theo thống kê cuối cùng của cảnh sát Sri-Lanka sáng thứ Ba, 23 tháng Tư. Tổ chức thực hiện cùng lúc 8 vụ đánh bom khủng bố này là NTJ (National Thowheeth Jama‘ath), một tổ chức Hồi Giáo quốc gia qúa khích.

Tất nhiên cảnh tượng chết chóc đã vô cùng kinh hoàng, khủng khiếp khi hàng trăm tín hữu công giáo chết tại chỗ và gấp đôi số đó đang quằn qụai, rên rỉ, la hét vì đau đớn và hoảng loạn. Đô trưởng của Colombo đã thảng thốt nghẹn lời khi ông bước vào nhà thờ vừa bị đánh bom khủng bố : Thật là một biển máu !.

 Biển máu ấy đã có cùng nguyên nhân, cùng động lực, cùng nạn nhân, cùng phương tiện từ rất nhiều năm qua, và ngày càng nhiều và tang thương, khủng khiếp hơn. Chính vì mức độ leo thang đó mà người ta phải nghĩ đến một cuộc chiến tranh tôn giáo có thể xẩy ra cho thế giới.

Chiến tranh tôn giáo là điều không mới mẻ, bởi dọc lịch sử nhân loại, con người đã nhân danh thiên chúa, thần linh, tôn giáo của mình để dùng bạo lực đàn áp, tiêu diệt tín hữu của các tôn giáo khác, mà họ cho là tà đạo. Những thời tử đạo, những cuộc thánh chiến đẫm máu mang tầm vóc thế giới, những cuộc sát phạt người khác tôn giáo dưới nhiều hình thức và ở những cấp độ khác nhau, cũng như những chủ trương, đường lối hoặc công khai, hoặc bí mật kỳ thị, bài xích các tôn giáo không phải của mình là những trang sử buồn, và tiếp tục đến hôm nay, tuy cách thức có tinh vi, khéo léo hơn đang đem nhân loại  đến gần vực thẳm của chia rẽ, hận thù, tự diệt.

Tại sao hậu qủa tai hại như vậy ?

Thưa vì không có cuộc chiến nào, dù là cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ quốc gia, cuộc chiến dành độc lập, hay cuộc chiến ý thức hệ có thể thôi thúc khí thế con người lên nhanh, lên mạnh với tốc độ cực kỳ khủng khiếp tới đỉnh của cao trào đấu tranh khi dấn thân liều lĩnh, quyết tâm hy sinh, và  qủa cảm không  sợ chết  bằng cuộc chiến  bảo vệ và bành trướng tôn giáo, bởi cuộc chiến tôn giáo không giống các cuộc chiến khác khi có thiên chúa chứng thực, chỉ huy, có thần thánh bênh đỡ, có thượng đế khen thưởng, có thần quyền bảo kê công phúc mai hậu.

Trong cuộc chiến này, người  tín hữu  bất ngờ trở thành người chiến sĩ dũng cảm của tôn giáo, khi ôm bom khủng bố tín đồ tôn giáo khác ; người đi theo tôn giáo cho một niềm tin thuần khiết bỗng biến thành kẻ sát nhân không gớm tay, vì cuồng tín ; người theo đạo để được giác ngộ và giải thoát, nghiã là được thoát khỏi thị phi, đố kị và đạt đến trạng thái bình an đột nhiên biến dạng thành những tay đồ tể khát cả máu trẻ em vô tội, yếu đuối ; người có một tôn giáo dậy ăn ngày ở lành, thương tha nhân và làm phúc cho người bất hạnh, kém may mắn  bất ngờ thay mặt đổi lòng để tay cầm dao, cầm súng lao  vào tàn sát đám đông không cùng tôn giáo với mình.

Những con người bị bạo lực biến thái này chính là những tín đồ  mê muội về giáo lý của tôn giáo mình  đã khoán trắng đời mình trong tay những người lãnh đạo tôn giáo cuồng tín, qúa khích, đầy tham vọng bất chính, để điên cuồng khủng bố, tàn sát người vô tội, trong khi giáo lý chính thống của bất cứ tôn giáo nào đều dậy ăn ngay ở lành, bác ái, vị tha, từ tâm, nhân hậu, qủang đại chia sẻ, giúp đỡ  tha nhân. Những con người biến thái đáng sợ này đã là những tín hữu sốt mến sống niềm tin tôn giáo, hăng say với đạo lành, nay bị  lòng ganh ghét tôn giáo kích động đã buông bỏ con người tôn giáo của mình, để trở thành công cụ bạo lực của những chức sắc lòng đầy tham, sân, si và nuôi mộng thống trị, bá chủ  thế giới bằng xóa bỏ sự sống của những người không theo tôn giáo của mình.

Như thế, điểm yếu thứ nhất ở tín hữu, tín đồ, đó là không nắm vững giáo lý tôn giáo mình theo, nên niềm tin không có nền tảng vững chắc, để bất cứ ai, nhất là những người nắm giữ thần quyền không đủ đức độ trong tôn giáo đều có thể làm lung lạc niềm tin và lôi kéo vào những hành vi đi ngược điều giáo lý dậy, và Đấng sáng lập tôn giáo muốn.

Không có kiến thức về tôn giáo mình theo đồng nghiã với không có niềm tin đúng nghiã, bởi tôn giáo sẽ vô nghiã hoàn toàn, nếu cá nhân không có một tương quan , tâm hồn mỗi người không giao lưu, gặp gỡ với Đấng mình tôn thờ, yêu mến, bởi tin là tín thác với lòng yêu mến vào Đấng mình tôn thờ ; nói cách khác, không ai tin thay ai được, cũng như không ai có thể chết và chịu thưởng, phạt đời sau thay cho người khác, nên tôn giáo không thể và không bao giờ có thể loại bỏ niềm tin cá nhân của từng tín hữu,  lòng tín thác của mỗi tín đồ nơi Đấng mà họ tôn thờ trong tôn giáo đã chọn.

Do đó, tôn giáo nào, hay lãnh đạo tôn giáo nào chủ trương tich biên niềm tin cá nhân của tín hữu, hay xóa bỏ tương quan riêng tư của mỗi tín đồ với Đấng thiêng liêng chắc chắn không thể là một tôn giáo đích thực, và không xứng đáng là ngưòi lãnh đạo tôn giáo đáng tin.

Điểm yếu thứ hai là cuồng tín.
Chúng ta biết, niềm tin chân chính hoàn toàn khác cuồng tín, mặc dù hầu hết người cuồng tín trước đó đã là người có niềm tin. Niềm tin chân chính  ở bất cứ Đấng thiêng liêng nào cũng là một mời gọi đến với Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối, vì chính Đấng thiêng liêng ấy là Chân - Thiện - Mỹ tuyệt đối, nên điểm khác biệt căn bản giữa người có niềm tin chân chính và người cuồng tín là một bên luôn hướng tới và đi tìm sự thật, cũng như những gì tốt đẹp, trong khi bên kia chấp nhận gian dối và nghiêng ngả về những điều không tốt, không đẹp, mà điển hình nơi người cuồng tín là :

- Thái độ nghi kị, khinh bạc, diễu cợt Đấng sáng lập và giáo lý của các tôn giáo khác.

- Chủ trương độc quyền niềm tin, và đường lối bắt mọi người phải gia nhập tôn giáo của mình.

- Bành trướng lòng ganh ghét, tị hiềm, đố kị đối với những người không cùng tôn giáo.

- Thực hành  tiêu chí kỳ thị, tẩy chay, cô lập trong sinh hoạt đời sống bất cứ ai không cùng tôn giáo.

- Sẵn sàng sử dụng bất cứ thủ đọan, phương tiện nào, kể cả sát nhân, phá hoại, khủng bố để bảo vệ và làm nổi bật tôn giáo mình theo. 

Nhìn vào một số tính cách và hoạt động cuồng tín điển hình vừa kể, chúng ta thấy tất cả đều không hướng đến sự thật và những gì Tốt, Đẹp mà đã là người, ai cũng phải chân nhận như lòng kính trọng Đấng thiêng liêng, không được xúc phạm đến thần thánh, phải tôn trọng quyền của con người, quyền tự do tin và không tin ; chưa kể phải có lòng nhân, không được gian dối, ghen ghét, hận thù, đàn áp, khống chế, tiêu diệt người khác, dù họ là ai, thuộc sắc tộc, tiếng nói hay theo tôn giáo, chính kiến nào, nhất là không được dùng bạo lực để làm tổn thương, hãm hại, giết chết người khác. Sự công bình và bác ái, vị tha phải là thước đo giá trị đạo đức, mà bất cứ  giáo lý nào, Đấng sáng lập tôn giáo nào cũng đều khuyên dạy, đồng thời sự bình an trong tâm hồn, bình an trong gia đình, xã hội luôn là niềm ước mong của tất cả các tín hữu, tín đồ bất kể khác biệt tôn giáo. 

Chính vì thế, niềm tin không còn là niềm tin khi tín đồ bịt mặt, ôm bom khủng bố để hàng trăm nạn nhân vô tội  mất mạng sống ; tín hữu không còn là người có đức tin khi trái tim rực lửa hận thù  và tay nhuốm máu các tín đồ tôn giáo khác ; giáo dân không còn là người công chính, người có lòng nhân khi miệng  vừa oang oang nhân danh thiên chúa chí thánh, chí tôn, vừa sặc sụa lời nguyền rủa, thề thốt tru diệt những ai không đi theo đạo mình.

Và qủa thực, đã không gì phi lý, phi nhân hơn khi nhân danh niềm tin để giết chết người không tin như mình, nhân danh thiên chúa nhân hậu để tra tấn, cắt cổ, bắn giết những con người cũng  như mình được dựng nên từ cung lòng Thiên Chúa yêu thương.

Như thế, ta có thể nói : khi niềm tin đi tìm bạo lực là sự xấu trong các sự xấu đáng kinh tởm nhất, xuất phát từ lòng ganh ghét, hận thù và  hoàn toàn trái ngược với lòng nhân,  tinh thần vị tha, đòi hỏi bác ái, và khao khát an bình thì niềm tin không còn tồn tại, nhưng phải lặng lẽ ra đi, nhường chỗ cho tai họa của cuồng tín bạo lực.

Do đó, chiến tranh tôn giáo có  xẩy ra hay không sẽ tùy thuộc mức độ mê muội, cuồng tín đưa đến kỳ thị, đố kỵ, hận thù, bạo lực giữa tín đồ, tín hữu các tôn giáo. Nếu không có những bài giảng, những buổi thuyết pháp sặc mùi đấu tranh tôn giáo, hừng hực hận thù đối với những ai không cùng niềm tin với mình, và đằng đằng sát khí trước cao trào thánh chiến, độc quyền tôn giáo thì cơ hội chiến tranh tôn giáo sẽ không còn. Nếu các chức sắc của các tôn giáo dùng uy tín và ảnh hưởng của mình quyết liệt lên án bạo lực, quyết tâm khước từ phương án bạo động, và kịch liệt đả phá những lời nói, việc làm  mang tính khích bác, mạ lị, tấn công các tôn giáo khác, thì tín đồ, tín hữu của các tôn giáo sẽ chẳng bị đẩy vào vùng lửa máu khủng bố, hoặc đóng vai đồ tể hoặc bị là nạn nhân. Nếu tôn giáo sống đúng sứ mệnh giải thoát chúng sinh, cứu độ con người của mình bằng thực hiện giáo lý công bình, bác ái, hỉ xả, bình an, thì không bao giờ có những cuộc đánh bom khủng bố tín hữu công giáo đang dự lễ trong thánh đường, tàn sát tín đồ phật giáo đang tụng kinh, niệm phật ở chùa, giáo dân Tin Lành không bị khủng bố trong nhà thờ, giáo hữu Do Thái không đổ máu trong hội đường, và hằng trăm tín đồ Hồi Giáo không bi thương giẫy dụa trong vũng máu giữa đền thờ bởi những người cuồng tín, quá khích, độc quyền tôn giáo cách man rợ .

Họ là những người cuồng tín đã nhân danh tôn giáo để giết chết những con người cũng có tôn giáo như họ. Họ là những người cực đoan đã nhân danh niềm tin để hủy hoại những người cũng đang sống niềm tin. Họ là những người mê muội nhưng qúa khích đã nhân danh thiên chúa, Đấng dựng nên con người để hành hạ, giết lát con người. Họ là những đã nhân danh quyền của thiên chúa để tước đọat quyền chính đáng và cao qúy của con người. Họ đã không sống như con người phải sống, tin như niềm tin dậy, thực hành tình yêu thương, tương trợ với đồng loại như đòi hỏi của giáo lý, chỉ vì lòng ganh ghét đã làm họ mất khả năng chấp nhận quyền tự do tin của người khác, và sự phong phú của các giá trị khác biệt trong các tôn giáo.
Tưởng nhớ các nạn nhân vô tội vì nhóm người cuồng tín, người viết xin được gừi đến bạn một ước nguyện : Ước gì mỗi người chúng ta khi tha thiết sống niềm tin của mình cũng biết trân qúy và tôn trọng niềm tin của người khác.

Jorathe Nắng Tím








      

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2019

BÌNH AN CHO NHAU !

Tin Mừng Gioan (20,19-29), và Luca (24,36) ghi lại rất rõ lời chúc Bình An của Đức Giêsu Phục Sinh, khi Ngài hiện ra với các môn đệ sau khi sống lại. 
Như quà tặng quý giá của tình yêu sau khi tự hiến làm của lễ chuộc tội mọi người trên thánh giá, Đức Giêsu âu yếm trao ban Bình An của Ngài cho các môn đệ và những người Ngài gặp: bình an của Thiên Chúa giầu lòng thương xót ban tặng những con người tội lỗi được xót thương.
Khi ban bình an cho con người, Đức Giêsu muốn nói cho con người biết : không gì quý hơn ơn Bình An của Thiên Chúa, không giá trị nào lớn hơn Bình An của Đấng Cứu Độ đã hiến mình làm của lễ giao hoà để Thiên Chúa được vinh danh và nhân loại được an bình. 
Vì thế, tiếng hát của các thiên thần trong đêm Giáng Sinh : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người Chúa thương” (Lc 2,14) là lời hứa của Thiên Chúa cho con người được yêu thương và cứu độ đã được thực hiện bởi cuộc tử nạn và sự sống lại của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người.
Vì thế, ơn Bình An phục sinh là ơn vô cùng nhiệm lạ, vô cùng quý giá, vô cùng cao cả mà con người nhận được từ Thiên Chúa, bởi Bình An này thuộc về Thiên Chúa, bình an mà thế gian không ban được, như Đức Giêsu đã khẳng định với các tông đồ (x. Ga 14,27).
Và nếu là ơn Bình An của chính Chúa thì quả thực Thiên Đàng đã “chớm nở ngay dưới thế”, và “tháng năm hoan lạc trôi từ đây”, như lời của bài thánh ca “Giêsu khoan nhân” của linh mục nhạc sĩ Tiến Dũng.
Nhưng một thực tế không “hoan lạc” như thiên đàng vẫn hằng ngày làm thế giới đảo lộn, làm lòng người đảo điên vì đủ thứ làm thế giới bất an, đủ chuyện làm lòng người bất ổn. Chiến tranh lan tràn, đe dọa khắp nơi, bất hoà thống trị từ trong tâm hồn ra ngoài gia đình, xã hội. Đó là cảnh thực của nhân loại hôm nay, và nhiều người nghi ngờ ơn bình an của Thiên Chúa. 
Người ta nghi ngờ tính chân thực của ơn bình an ; nghi ngờ tính hữu hiệu của ơn bình an ; nghi ngờ tính khả tín của Lời Hứa “Thầy để lại Bình An của Thầy cho chúng con” (Ga 14,27).
Đúng vậy, người ta sẽ nghi ngờ khi không biết : Thiên Chúa không hoạt động khi thiếu sự cộng tác của con người ; không cứu độ con người khi con người từ chối ơn cứu độ ; không quyết đoán, quyết định số phận đời đời của một người nào, nếu người ấy không tự nguyện hợp tác.
Người ta sẽ mãi mãi nghi ngờ ơn bình an của Đức Giêsu phục sinh, nếu quên một điều rất quan trọng, đó là Thiên Chúa không ban ơn bình an cách máy móc tự động, nhưng đòi tâm hồn phải được chuẩn bị như thửa ruộng đã được cầy xới để đón nhận hạt giống. Tin Mừng đã kể lại dụ ngôn “Người gieo giống” như sau : “Người gieo giống đi ra gieo giống. Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất. Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều ; nó mọc ngay vì đất không sâu ; nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô. Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt. Có những hạt lại rơi vào đất tốt, nên sinh hoa kết quả ...” (Mt 13,3-8).
Như thế, điều kiện để nhận ơn Bình An của Đức Giêsu Phục Sinh chính là phải có tâm hồn bình an, như đất tốt cho hạt nẩy mầm, sinh hoa kết trái, nên người không yêu mến và đi tìm bình an sẽ không bao giờ đón nhận được ơn an bình của Thiên Chúa.
Một cách cụ thể để chúng ta dễ nhận ra đòi hỏi của Thiên Chúa, đó là trong thánh lễ, ngay sau khi chủ tế nhân danh Đức Giêsu ban Bình An của Chúa cho cộng đoàn, thì lập tức chính chủ tế hoặc thầy phó tế kêu gọi cộng đoàn : “Anh chị em hãy chúc bình an cho nhau”.
“Hãy chúc bình an cho nhau” là hãy có ý nghĩ tốt đẹp về người khác, bởi khi nghĩ xấu về anh chị em mình, nhất thiết chúng ta ở trong tình trạng không bình an và đang gieo mầm ganh ghét, bất hoà.
“Hãy chúc bình an cho nhau” là không nói xấu, thêm bớt vào sự thật khách quan của một người hoặc một sự việc những thành kiến, định kiến mang tính ích kỷ, bất công, bởi chỉ trào ra ngoài sự gian ác qua cửa miệng, khi tâm hồn đã tràn đầy gian ác, mà gian ác luôn là nguyên nhân của hỗn loạn, bất an.
“Hãy chúc bình an cho nhau” là kềm chế với ý chí và ơn Chúa tất cả việc làm gây đau khổ cho người chung quanh, từ cái nhìn hằn học, khinh bỉ, đến thái độ khiêu khích, bạo hành, tấn công, bởi tâm hồn yêu mến và tìm kiếm bình an chính là tâm hồn hiền lành và khiêm nhường.
“Hãy chúc bình an cho nhau” là thực tâm muốn trao ban không chỉ ơn bình an vừa nhận được từ Chúa, mà còn trao tặng anh chị em chính bình an của tâm hồn minh, bình an do mình khao khát tìm kiếm và từng ngày nhọc nhằn, tận tụy gieo trồng, vun xới.
“Hãy chúc bình an cho nhau” là quảng đại cho đi chính bình an mình đang có, quả cảm xoá “cái tôi” đang yên ổn, an nhàn để trở nên của lễ hy sinh hiệp cùng lễ tế Thánh Giá của Đức Giêsu cho tâm hồn người anh em, cho gia đình người quen biết, cho tất cả mọi người được ơn an bình.
Quả thực, ơn bình an của Đức Giêsu chỉ ở lại với ai có tâm hồn khao khát bình an, tìm kiếm bình an như Đức Giêsu đã công bố trong Hiến Chương Nước Trời : “Phúc cho ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5, 9). Và những tâm hồn yêu chuông hoà bình mà Tin Mừng tuyên dương trong danh sách “những người được Cha Ta chúc phúc” (Mt 25,34) đã phải chiến đấu rất nhiều và gian khổ với chính mình để không rơi vào cạm bẫy của Satan, chuyên viên gây chia rẽ, bất hoà, sành sõi tạo rối loạn, bất an, và tinh khôn trong mưu đồ khơi dậy, châm ngòi lòng ganh ghét, tỵ hiềm, đố kị. 

Những cạm bẫy thường được Satan xử dụng là:
1.            Làm cho có chuyện khi chuyện không có:
Muốn gây bất an cho ai, cho cộng đoàn nào, ma quỷ chỉ cần dựng thành chuyện một câu chuyện không hề có. Thế là mọi người hoang mang, ngờ vực, xét đoán nhau bừa bãi; cả nhà hốt hoảng, lo âu ; nhiều người mất ăn mất ngủ vì thanh danh bị bôi nhọ, sự nghiệp bị lung lay, đời tư bị thô bạo đào bới, hạnh phúc gia đình bị trầm trọng đe dọa. Và không ai được bình an.
2.   Làm cho to chuyện khi chuyện chỉ là chuyên nhỏ cỏn con:
Người làm chuyện lớn biết làm nhỏ lại, hẹp lại, đơn giản lại một chuyện phức tạp, mà càng làm lan rộng càng đem lại hậu quả tiêu cực, bất lợi cho tất cả. Hoàn toàn khác với người làm chuyện lớn là người chỉ thích làm lớn chuyện, dù chuyện chỉ nhỏ như con kiến.
Họ là người luôn cố tình trầm trọng một vấn đề không quan trọng, làm cho rắc rối, nhiêu khê một sự việc vốn rất đơn giản, không có gì phải ầm ĩ. Và khi làm to một chuyện nhỏ, người thích làm lớn chuyện đồng thời cũng làm cho chuyện dễ trở thành khó, đơn sơ biến thành phức tạp, nhẹ nhõm trở nên nặng nề. Những người này làm nhiều người mất bình an, cộng đoàn hoảng loạn, xã hội rối ren, không chỉ vì tâm hồn thiếu bình an do không đủ quảng đại, bao dung, mà còn do tình trạng tâm lý bất ổn, bối rối vì không tự tin và không tín nhiệm người khác vì thiếu bản lãnh của họ. 

3. Phá hoại bình an như phương tiện thống trị, hoặc bất tuân phục :
Các nhà độc tài thường không cho dân được bình an, để dễ thống trị. Theo họ, khi dân được bình an là lúc dân có nhiều điều kiện và cơ hội đòi hỏi, yêu sách, nổi loạn, nên tốt hơn là liên tục tạo tình trạng bất ổn, bấp bênh để dân dồn hết tâm trí, và nỗ lực cho an toàn cá nhân, mà quên hoặc không còn khả thể nghĩ đến những chuyện khác .
Tất nhiên không chỉ các nhà độc tài ở tầm vóc quốc gia, nhưng mỗi người chúng ta cũng bị khuynh hướng thống trị đốc thúc và đôi khi cũng bị đẩy đến bờ ranh của thủ đoạn phá hoại bình an của người khác, của cộng đoàn để thủ lợi. 
Và không chỉ người có quyền biết dùng thủ đoạn phá hoại bình an của thuộc cấp để dễ sai bảo, cai trị, nhưng người dưới quyền cũng bị cám dỗ “quậy cho tanh bành” để phá người trên, khi gây ra tình trạng bất ổn, bất hoà, bất an do tinh thần bất tuân phục thúc đẩy.
Để kết luận, chúng ta có thể khẳng định : điều kiện thứ nhất để ơn bình an của Đức Giêsu phục sinh đến và cư ngụ trong cuộc đời mỗi người là tâm hồn mỗi người phải sẵn sàng đón nhận ơn bình an ấy bằng cố gắng sống an bình.
 Sống an bình khi loại bỏ khỏi tư tưởng, lời bói, việc làm tất cả những gì phá hoại bình an của mình và của người khác.
Tiếp đến là tự nguyện trở thành khí cụ bình an của Thiên Chúa, bằng biến mình thành những cánh tay nối dài của Thiên Chúa để chuyển ban ơn bình an của Đức
Giêsu phục sinh đến mọi người, như trong thánh lễ, chúng ta trao ban bình an của Đức Giêsu phục sinh cho nhau khi thân thiện cúi đầu chào nhau, hay thân ái bắt tay nhau với tâm tình và lời chúc “Bình An” của Đức Giêsu chúng ta vừa đón nhận.
Ước gì bình an của Thiên Chúa ngự trị trong tâm hồn mỗi người để gia đình, cộng đoàn, quê hương, thế giới được thoát cảnh ganh ghét, bạo lực, chết chóc nhưng được bình an trong trái tim của Đấng đã chết và sống lại để mọi người được hạnh phúc trong Bình An của Ngài.
Jorathe Nắng Tím 

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2019

Hai âm mưu đánh đổ “Niềm Tin Sống Lại”


Biến cố Phục Sinh của Đức Giêsu đã thay đổi toàn thể cục diện nhân loại, không chỉ niềm tin nơi người Kitô hữu, mà ở cả những người kịch liệt chống đối và tìm mọi cách tiêu diệt niềm tin ấy.
Thực vậy, biến cố này là nền tảng của Đức tin nơi người môn đệ Đức Giêsu, bởi nếu Đức Giêsu không sống lại thì niềm tin của họ “trống rỗng” như thánh Phaolô đã viết trong thư gửi giáo đoàn Côrintô; đồng thời là lý chứng hùng hồn được khẩn trương và triệt để khai thác bởi phe đối lập hầu dập tắt niềm tin vào một người có tên Giêsu quê Nadarét.

Tin Mừng Mátthêu kể lại rất chi tiết hai câu chuyện, đúng hơn là hai âm mưu xoá bỏ biến cố phục sinh của Đức Giêsu:
1. Âm mưu đề phòng việc cướp xác Đức Giêsu:
“Hôm sau, tức là ngày áp lễ đã qua, các thượng tế và những người Pharisêu kéo nhau đến ông Philatô và nói” : Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói : “Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy”. Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao tin trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước”. Ông Philatô bảo họ: “Thì có sẵn lính đó, các ngươi đi mà canh giữ theo cách các ngươi biết !”. Thế là họ ra đi canh giữ mồ, “niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ” ( Mt 27,62-66).
Phe chủ trương tiêu diệt Đức Giêsu đã thành công mỹ mãn khi dùng tay chính quyền bảo hộ Rôma đóng đinh Ngài vào thập giá. Thành quả hết sức lớn lao tưởng đã cho các thượng tế, kỳ lão, luật sĩ và nhóm Biệt Phái từ nay được ăn ngon ngủ yên, nào ngờ vẫn còn một nỗi lo khác tiếp tục đốt cháy tâm can họ : lo Đức Giêsu sống lại.
Nỗi lo thình lình ập tới khi có người trong họ chợt nhớ có nghe đâu đó lời hứa sẽ sống lại sau ba ngày của Đức Giêsu. Và lời hứa ấy thực đã làm họ phải bối rối, lo âu, điên đảo. Thế là họ lại bắt đầu những ngày tháng mất ăn mất ngủ như những tháng ngày trước đây khi bàn mưu tính kế đưa bằng được Đức Giêsu vào chỗ chết.
Lần này thì kế hoạch tương đối dễ, vì có lính canh gác cẩn mật, nên họ tin chắc sẽ không môn đệ nào của Đức Giêsu có thể đột nhập cướp xác để rồi phao tin Thầy mình sống lại.
 Nhưng lạ lùng thay ! Lính gác thay nhau bám trụ trước cửa mồ suốt ba ngày, thế mà Đức Giêsu đã sống lại, ra khỏi mồ lúc nào họ không hề hay biết. Chỉ đến “buổi sáng ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala và một bà khác cũng tên là Maria đi viếng mộ. Thình lình, đất rung chuyển dữ dội : thiên thần Chúa từ trời xuống lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên ; diện mạo người như ánh chớp và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ : Này các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này : Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Galilê trước các ông. Ở đó các ông sẽ được thấy Người” (Mt 28, 1-8).
2.     Âm mưu lừa đảo, dùng tiền mua chuộc lính canh làm chứng gian:
Khi được đội lính canh báo cáo hiện tình nguy cấp, và không còn có thể cứu vãn : Ông Giêsu không còn ở trong mồ, “các thượng tế liền họp với các kỳ mục ; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn và bảo : Các anh hãy nói như thế này : Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác. Nếu việc này đến tai quan tổng trấn, chính chúng tôi sẽ dàn xếp với quan và lo cho các anh được vô sự. Lính đã nhận tiền và làm theo lời họ dạy. Câu chuyện này được phổ biến giữa ngươi Do Thái cho đến ngày nay” ( Mt 28, 12-15).
Biết không còn có thể làm gì khác, khi chính đội lính gác bị một phen “thất kinh bát đảo” khi thiên thần hiện ra, đám chủ trương giết Đức Giêsu đành bỏ tiền mua chuộc đám lính để những người này làm chứng gian hầu bảo vệ điều họ đã chụp mũ Đức Giêsu : tên phiến loạn, phạm thượng, đã bị án tử hình, chết treo trên thập giá và chôn trong mồ .
 Sau khi âm mưu thứ nhất không thành, các thượng tế, kỳ lục và Pharisêu đã thiết kế âm mưu thứ hai không kém kinh dị : dùng tiền mua chuộc đám lính để làm chứng gian, vì chứng cứ từ những người lính canh mồ sẽ có giá trị hơn tất cả các lời chứng của các nhân chứng khác, đồng thời dùng thế lực tôn giáo và quan hệ để một lần nữa bịt miệng quan tổng trấn Philatô, người đã vì sợ mà kết án tử hình người vô tội là Đức Giêsu.
Nhưng rồi tất cả âm mưu và kế hoạch chống Đức Giêsu Phục Sinh của họ đều đã hoàn toàn thất bại, và họ quay mũi dùi vào các môn đệ và bắt bớ, tiêu diệt các ngài như Phêrô và Gioan đã bị các kinh sư, kỳ mục bắt và điệu ra trước Hội Đồng để tra hỏi, ở đó Phêrô bị họ thẩm vấn về việc ông đã chữa một người tàn tật. Và trước Hội Đồng, Phêrô đã long trọng công bố : “Chính nhờ danh Đức Giêsu Kitô, người Nadarét, Đấng mà quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được chữa lành... Đấng ấy là tảng đá mà quý vị là thợ xây loại bỏ, chính tảng đá ấy lại trở nên đá tảng góc tường. Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,10-12).
Đức Giêsu đã sống lại cách nay đã hơn hai ngàn năm, nhưng âm mưu và kế hoạch chống sự sống lại của Ngài vẫn không ngớt sôi nổi, dữ dội bởi những người và phe nhóm quyết tiêu diệt danh thánh Giêsu trong thế giới con người. Ngày nay, người ta có mạng lưới thông tin bao trùm, hệ thống tuyên truyền tinh xảo, kỹ thuật đa năng đa hiệu để tấn công Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài. Họ không ngại bôi nhọ uy tín, đốn hạ danh dự, hồ đồ vu khống, tàn nhẫn lên án và ác độc dùng mọi thủ đoạn đê tiện để biến Đức Giêsu thành kẻ lừa bịp, giáo lý của Ngài thành thuốc phiện mê hoặc, và Giáo Hội của Ngài thành nhóm người cuồng tín, lạc hậu, đi ngược trào lưu văn minh của nhân loại. Và để thực hiện nhanh chóng mục tiêu trên, không gì hay hơn là đánh sụp niềm tin Đức Giêsu sống lại, bởi nếu không tin Đức Giêsu sống lại, người ta không thể tin Ngài là Thiên Chúa, và mầu nhiệm Nhập Thể của Thiên Chúa làm người là nền tảng của Đức tin Kitô giáo sẽ lập tức bị tróc rễ, lật nhào.
 Là người Kitô hữu, chúng ta ý thức mình còn nhiều khiếm khuyết, lỗi lầm và không ngừng phải đấm ngực ăn năn và đổi mới, nhưng không vì thế, chúng ta sợ hãi, bỏ cuộc, đầu hàng, tháo lui trước những tấn công của thế lực thù ghét, tiêu diệt Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài. 
Nhưng trong mọi tình huống không thuận lợi, chúng ta không được quên điều này, đó là chính Đức Giêsu sẽ mãi bị xỉ nhục, lên án, đóng đinh, Giáo Hội của Ngài sẽ mãi bị bách hại, ngăn cấm, và môn đệ của Ngài sẽ không ngừng bị khinh miệt, tẩy chay, bởi lời Đức Giêsu mãi đúng cho mọi thời đại : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em ra khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em... Họ sẽ làm những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” (Ga 15,18-21).
Jorathe Nắng Tím 

THƯƠNG TÍCH THÁNH GIÁ CỦA ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH

Tin mừng Gioan 20, 19-27 kể rất rõ : Đức Giêsu sống lại đã hiện ra cho các môn đệ với thân mình đầy các vết thương tử nạn : tay chân với dấu đinh còn rịn máu và cạnh sườn sâu hoắm bởi lưỡi đòng đâm thâu qua, đặc biệt, Ngài đã nói với Tôma, người môn đệ đã tuyên bố : Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ tay vào lỗ đinh, và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin (Ga 20,25), khi Ngài trở lại gặp toàn thể Nhóm Mười Một, tám ngày sau lần hiện ra thứ nhất không có mặt Tôma : Đặt ngón tay vào đây và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin, sau khi chúc Bình An cho các ông (Ga 20,27).
Hiện ra với thương tích của khổ hình thánh giá, Đức Giêsu đã gây ngạc nhiên cho các môn đệ. Các ông ngỡ ngàng vì không thể ngờ Đức Giêsu, Thầy mình, với quyền năng Thiên Chúa đã tự sống lại từ cõi chết mà nay vẫn phải mang nguyên vẹn thương tích của cuộc khổ nạn trên thân xác phục sinh, mà đáng lẽ những thương tích ấy như dấu vết của thất bại ê chề, và chết chóc tang thương phải biến hết đi.
Sự kiện còn giữ lại trên mình những thương tích còn hằn sâu trên da thịt sau khi sống lại đặt ra cho các môn đệ Đức Giêsu một vấn đề : có thực Thầy là Thiên Chúa và đã sống lại hay chỉ là ma như Tin Mừng Luca kể lại : Đức Giêsu đứng giữa các ông và bảo : Bình an cho anh em Các ông kinh hồn bạt viá, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói : Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà ! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây ? (Lc 24,36-39).
Các ông không tin và hoảng hốt khi cho là ma, vì trong đầu các ông một Thiên Chúa không thể sống lại với thân xác con người đầy dấu ấn của nhục nhã, đau thương, chết chóc như vậy. Nghĩ là ma, vì những thương tích của thập giá hãi hùng, theo ý các ông, không còn được phép tồn tại trên thân thể sống lại của Con Người đã tự xưng là Thiên Chúa. 
Mang đầy đủ thương tích của thập giá khi hiện ra với các môn đệ, Đức Giêsu còn làm các ông hoài nghi, như Tin Mừng Mátthêu đã tường thuật : Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi (Mt 28,17). Hoài nghi Thầy mình đã sống lại đã đành, nhưng còn hoài nghi Thầy mình là người của Thiên Chúa sai đến, bởi nếu là người của Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa thì đã chẳng sống lại với thân xác mang dấu ấn của thất bại, và hình phạt của tội nhân bị kết án tử hình.
Đàng khác, các ông hoài nghi thiên tính của Đức Giêsu, vì nếu Ngài thực là Thiên Chúa thì thân xác phục sinh của Ngài phải sáng láng, toàn mỹ, không còn dấu vết của khổ hình, không còn dấu tích của roi đòn tra tấn, không còn dấu chỉ của con người có giới hạn, không còn dấu chứng của bạo lực bất công, nhất là không còn dấu hiệu của một con người Thiên Chúacòn phải tiếp tục đau khổ, và yếu đuối. 
Hiện ra sau khi sống lại với các môn đệ trong hình hài của con người đầy vết thương còn rướm máu, bằng chứng là môn đệ Tôma đã được chính Đức Giêsu mời thọc bàn tay vào vết thương ở cạnh sườn còn mở toang, sâu hoắm (Ga 20,27), Đức Giêsu đã làm các môn đệ của Ngài ngao ngán thất vọng, và không tin. Thánh sử Máccô đã ghi lại rất chi tiết và sống động : Người tỏ mình ra cho Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông đã không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người, sau khi Người sống lại (Mc 16,14).
Thực vậy, các môn đệ đã không tin Đức Giêsu là Thiên Chúa và đã tự mình sống lại từ cõi chết, nên chuyện các ông quên những lời Ngài  báo trước về cái chết và sống lại của Ngài đãđược các ông để ngoài tai, không những vì không muốn nghe, mà còn vì các ông muốn Đức Giêsu, nếu phải chết và sống lại, thì phải sống lại theo kiểu của một Thiên Chúa, nghiã là Ngài phải ngự giá uy nghi, sáng láng, oai phong lẫm liệt, có triều thần thiên quốc quây quần thờ lậy, hay ít nhất cũng phải hoành tráng như lần biến hình trên núi Tabo trước mặt Phêrô, Giacôbê, Gioan, khi dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng (Mt 17,1-2). Nhưng hôm nay, khi Ngài hiện ra, các ông bàng hoàng, bỡ ngỡ nhận ra Ngài, tuy sống lại từ cõi chết với quyền năng của Thiên Chúa, mà sao vẫn nhem nhuốc hình hài con người, và nhớp nhúa máu me các vết thương của khổ hình thánh giá.
Hình ảnh hiện ra sau khi sống lại của Đức Giêsu đã làm các ông choáng, vì tận thâm tâm, không ai trong các ông  muốn nhớ lại cảnh Con Người vác thánh giá dưới những trận mưa roi của lính gác, miệng liên hồi la ó tục tĩu hối thúc phạm nhân đi nhanh hơn đến nơi thi hành án tử ; không người nào muốn nhìn lại cảnh Thiên Chúa làm người  chịu đóng đinh trần truồng ô nhục trước những diễu cợt, khinh mạn của bàn dân thiên hạ ; không môn đệ nào muốn nghe kể lại con đường lên Giêrusalem để chịu khổ hình và đóng đinh của Thầy.
Điều các ông môn đệ muốn và chờ đợi ở Đức Giêsu Phục Sinh là một Thiên Chúa trăm phần trăm, không dính dáng đến con người nhếch nhác, tang thương, đau khổ để trước hết tỏ cho các chức sắc đạo đời Do Thái và quan quân Rôma là những người đã dính máu Con Thiên Chúa biết họ đã sai lầm, sau đó là hình phạt tương xứng với tội đã lên án và đóng đinh Thiên Chúa cho từng người.
Tắt một lời, ước mong Phục Sinh nếu có nơi các môn đệ sẽ là niềm mong ước Thầy sống lại trong hình hài, dung mạo, và quyền năng xét xử, luận phạt của Thiên Chúa oai hùng, dũng mạnh ; đồng thời, Ngài sẽ thực hiện quyền thống trị muôn dân muôn nước trên lãnh thổ, địa lý hữu hình, và tất nhiên các môn đệ sẽ là những người cùng thống trị muôn dân với Ngài. Đó là hình ảnh Đức Giêsu Phục Sinh có trong đầu các môn đệ, khi các ông nghe kháo láo Thầy đã sống lại, bởi não trạng làm quan lớn cai trị trong vương quốc của Thầy mà hai anh em, con ông Dêbêđê đã có lần bộc lộ và gây tranh cãi nẩy lửa giữa các môn đệ đã không dễ được gột rửa trong tâm trí các ông, nhưng vẫn âm ỉ, tiềm tàng và nay có cơ hội bùng phát, khi Đức Giêsu sống lại (Mt 20,20-23).  
Tin Mừng kể lại Đức Giêsu đã sống lại và hiện ra với rất nhiều người. Riêng với Nhóm Mười Một, Ngài đã hiện ra với hình hài con người còn nguyên vẹn thương tích của khổ hình thánh giá. Sự kiện này không phải ngẫu nhên hay không mang một ý nghĩa, trái lại, tất cả nằm trong ý muốn của Đức Giêsu Phục Sinh, Đấng đã muốn nói với Nhóm Mười Một và với tất cả những người tin và đi theo Ngài :
1.   Ngài là Thiên Chúa làm người và tiếp tục ở với con người cho đến tận thế, vì tên Ngài là EMMANUEL, Thiên Chúa ở với chúng ta.
Thiên Chúa làm người là Đức Giêsu đã không từ bỏ con người sau khi sống lại từ cõi chết, nhưng quyết định ở lại đến cùng với con người, đến  tận cùng của thời gian, đến cùng tận mọi ngõ ngách đường đời. Chính vì thế, sự sống lại của Đức Giêsu không chấm dứt hay cắt đứt sự có mặt của Thiên Chúa làm người và ở giữa con người trong dòng lịch sử vẫn đều trôi từng ngày của con người cho đến giây phút cuối cùng của lịch sử ấy.
Khi hiện ra với thân xác đầy vết thương của cuộc tử nạn, Đức Giêsu khẳng định Ngài là Thiên Chúa làm người đã chết, và sống lại bằng quyền năng của Thiên Chúa, để tiếp tục có mặt trong thế giới với hình hài, dung mạo của Thiên Chúa làm người đã chịu khổ hình, chết đóng đinh và sống lại với nguyên vẹn thân xác của thập giá cứu độ.
Đã không có gì khác biệt giữa Đức Giêsu Phục Sinh và Đức Giêsu dong duổi trên đường truyền giáo, bởi chỉ có một Đức Giêsu, nếu có khác biệt thì đó chính là những thương tích thánh giá trên thân thể của Ngài, như dấu ấn của tình yêu đến cùng và hiến lễ tình yêu toàn thiêu, khi Thiên Chúa làm người hiến mạng sống cho nhân loại mình yêu.     
Với thân xác phục sinh còn nguyên vẹn thương tích tử nạn, Đức Giêsu cho chúng ta biết Ngài vẫn là Thiên Chúa làm ngườiđể cứu độ người có tội ; Ngài vẫn  Thiên Chúa làm người giàu lòng xót thương, vì thương xót mà thân xác phủ kín lỗ đinh, lưỡi đòng và vô số vết roi hằn sâu da thịt ; Ngài vẫn là Thiên Chúa làm ngườiđể cảm thương, chia sẻ những đau khổ của con người, khi giữ những vết thương rướm máu nhục nhằn của người nghèo đói trên đôi tay, những loang lổ bất công của người bị áp bức, bóc lột ở bàn chân, và những lở loét bất hạnh của đời người bên cạnh sườn bị đâm thủng trên thân xác chịu đóng đinh.
Tất cả điều này được minh chứng hùng hồn và được bảo đảm vững chắc qua lời hứa của Đức Giêsu khi hiện ra với các môn đệ tại Galilê sau khi sống lại : Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20).
2.   Hiện ra với thân xác đầy thương tích tử nạn, Đức Giêsu muốn sai các môn đệ đi rao giảng một Thiên Chúa làm người chịu đóng đinh :
Các Tin Mừng đều ghi lại sứ mệnh được sai đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy (Mt 28,19) mà Đức Giêsu trao phó cho Nhóm Mười Một trong bối cảnh Ngài hiện ra sau khi sống lại với thân xác đầy thương tích tử nạn.
Qua đó, Ngài muốn các ông chỉ loan báo một mình Ngài là Đức Kitô chịu đóng đinh, vì chỉ Đức Kitô chịu đóng đinh mới  đáng được loan báo, bởi  duy nhất một mình Ngài đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá (Pl 2,8),  nên đã được Chúa Cha tôn vinh, như thánh Phaolô đã qủa quyết : Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất, và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái qùy, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng : Đức Giêsu Kitô là Chúa (Pl 2,9-11). Trong thư gửi giáo đoàn Côrintô, thánh tông đồ dân ngoại còn nhấn mạnh : Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ (1Cr 1,22-23). 
Sống lại và hiện ra với thân xác còn nguyên thương tích và sai đi làm chứng về mình (Lc 24,48), Đức Giêsu muốn các môn đệ làm chứng về mầu nhiệm thánh giá, mầu nhiệm của Thiên Chúa làm người đã chết cho con người để cứu chuộc con người.
Như thế, nội dung của rao giảng, cũng như chứng cứ, chứng từ đáng tin cậy mà các môn đệ phải làm chứng chính là Đức Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại với thân xác bầm tím, đầy những thương tích của khổ hình thánh giá cứu độ.
Và qủa thực, sẽ không có lời chứng nào có giá trị sinh ơn cứu sống ngoài lời chứng về Đức Giêsu đã chết và đã sống lại mình đầy thương tích ; cũng sẽ không có tông đồ, thừa sai, nhà truyền giáo nếu Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người chịu đóng đinh không được loan báo.
3.   Đức Giêsu Phục Sinh hiện ra với thương tích tử nạn muốn nói với các môn đệ của Ngài : Hãy mang lấy  thương tích của thánh giá, khi được sai đi:
a.   Ngài muốn các ông mang lấy thương tích của thánh giá, nghĩa là chia sẻ khổ đau với Ngài, để có thể cộng tác với Ngài trong công trình cứu độ, và chung phần vinh quang với Ngài, như thánh Phaolô đã nhắn nhủ người con thiêng liêng Timôthê: Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người (2 Tm 2,11-12).
b.   Ngài muốn các môn đệ đi đến muôn dân với tất cả thân phận bất toàn của con người, nghĩa là đến với anh em như mình là, không giả hình, diêm dúa hoá trang, không giấu giếm che đậy thiếu sót, bất toàn. Đến với mọi người bằng tấm chân tình, bằng sự thật của con người mỏng dòn mang trong mình bình sành qúy giá là Tin Mừng. Đến với người khác trong tâm tình và tư thế của người anh em cũng đau khổ như họ, cũng chịu thử thách như họ, cũng bị cám dỗ, và sa ngã như họ ; cũng nặng lòng ghen tuông, đố kỵ, nhỏ nhen, ích kỷ như họ ; cũng mình đầy thương tích của yếu đuối, lỗi lầm như họ và chỉ dám đặt hết hy vọng ở Đức Kitô chịu đóng đinh, với lời hứa của Ngài : Ơn Ta đủ cho con (2 Cr 12,9).
 Như thế, người môn đệ Đức Giêsu vừa mang thương tích của thánh giá để nhận lấy vào thân cho đủ mức những cực hình còn thiếu nơi Đức Kitô cho lợi ích của Thân Thể Người là Hội Thánh (Cl 1,24), và trở nên đồng hình đồng dạng với Thầy hầu góp phần cứu rỗi chính mình và anh em, vừa mang lấy thương tích của tội lỗi, sai phạm của chính mình để không kiêu căng ảo tưởng mình là  thánh thiện, hoàn hảo, không cao ngạo khinh dể, chối từ anh em, nhưng biết cảm thương người anh em yếu đuối, biết ân cần đỡ dậy người chị em ngã qụy dưới gánh nặng của cám dỗ, biết chia sẻ thiếu sót, khiếm khuyết của mọi người, bởi chính mình cũng yếu đuối, tội lụy, thân xác mình cũng phủ đầy những dấu vết của sai phạm, dầy kín những dấu chứng của phản bội, vô ơn, chằng chịt đan dệt vô số dấu tích của thiếu sót, lỗi lầm.
Mang trong mình thương tích của yếu đuối, người môn đệ sẽ không ngã lòng khi gục ngã trên đường rao giảng Tin Mừng, bởi ý thức thân phận hèn yếu, dòn mỏng và hồng ân được sai đi như tôi tớ bất xứng và vô ích sẽ cho người môn đệ có lòng khiêm tốn sức mạnh của Đức Kitô Phục Sinh để đứng lên, bắt đầu lại. Mang trong mình thương tích của đau khổ do bất công và bạo lực trong cuộc sống, người môn đệ sẽ không vô cảm trước khổ đau của người nghèo bị áp bức, bấn loạn của người bị trấn lột, và tủi buồn của người bị vu khống, hàm oan. Sau cùng, nhờ mang trong mình thương tích của người có tội cần được xót thương, người môn đệ sẽ biết thương xót mọi người, vì biết : cả người được sai đi rao giảng, và người được rao giảng đều là những con người bất toàn, bất xứng, mình đầy thương tích tội lỗi, bất xứng, bất toàn và luôn cần Lòng Thương Xót của Đức Kitô, Đấng chịu đóng đinh giầu lòng thương xót chữa lành.
Xin cho chúng con đức tin để can đảm và mau mắn lên đường với Đức Giêsu sống lại mình đầy thương tích, để loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh, bằng chính con người được mang thương tích Thánh Giá cứu độ của Đức Giêsu và thương tích tội lỗi, yếu đuối của riêng mình.
Jorathe Nắng Tím