Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 9 tháng 5, 2019

CHỦ CHĂN NHÂN LÀNH

              Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH, Năm C
      Ở vào thời buổi bạo lực, cái thời mà lòng nhân ái, vị tha bị coi là xa xỉ ; cái buổi mà người  hiền lành, khiêm tốn, từ tâm, quảng đại, bao dung bị xếp vào hàng lạc hậu, khờ khạo, ngờ nghệch, hay rởm đời, thì ý niệm nhân từ và hiền lành qủa thực không biết có nên bàn tới hay không ?
    Bởi rất khó bàn, vì trong xã hội thực dụng, được xem như thửa đất lý tưởng cho bạo lực phát triển, người ta không còn muốn nghe bàn những chuyện không mang lại lợi nhuận, tiện ích, mà nhân ái, từ tâm là  mặt hàng  hầu như ế ẩm kiên định, lỗi thời mãn tính, lạc  cung thường xuyên, và lệch nhịp cố hữu.
    Bởi rất khó bàn, vì người nhân lành ngày càng bị diệt bằng nhiều cách, và trở nên qúy hiếm đến độ  không còn dễ gặp trong đời hình ảnh, dáng dấp những người hiền lành, nhân từ đích thực, và hậu qủa là một ngày không xa, người ta sẽ đánh mất  ý niệm nhân lành, nói cách khác, con người sẽ không còn gần gũi, quen thuộc, nhưng dần xa lạ với lòng nhân ái, tình yêu nhân loại của mình.  
   Qủa thực, chưa bao giờ bức tranh xã hội lại rực đỏ mầu bạo lực như hôm nay: bạo lực khắp nơi, từ tổ ấm gia đình đến học đường, phố xá, từ trong đạo ngoài đời, từ tuổi trẻ đến tuổi già, từ học trò đến thầy cô, từ ngôn từ đến hành động, từ cách ăn nói đến cách ăn mặc, từ dáng đi đến kiểu lái xe… Tắt một lời, trong nhà ngoài ngõ, đâu đâu cũng thấy bóng bạo lực rình rập, đe dọa và cuộc sống ngày càng bất ổn, bất an.
   Chính trong bối cảnh xã hội bạo lực đáng lo, đáng sợ, đáng buồn đang làm chúng ta thất vọng, Đức Giêsu đã sống lại, và hiện diện giữa chúng ta.
   Ngài đã sống lại từ cái chết do bạo lực ; sống lại từ cái chết được bạo lực thai nghén, hình thành, cấu trúc ; sống lại từ cái chết được tính toán và lập trình bởi những con người có trái tim rực lửa bạo lực của hận thù.
   Vâng, chính ghen ghét, hận thù đã dẫn đến tư tưởng bạo lực, lời nói bạo lực, việc làm bạo lực, và bạo lực luôn mang đến hỗn loạn, và chết chóc, trái ngược với bình an và sự sống là hoa trái tất yếu của yêu thương, nhân hậu, thương xót, bao dung…
   Đức Giêsu đã sống lại như Mục Tử nhân lành để đàn chiên của Ngài không bị bạo lực của ganh ghét, hận thù, hiện thân của ma qủy khống chế, sát hại.
   Tin Mừng Gioan chương 10 cực tả chân dung Mục Tử nhân lành, ở đó có đối kháng gắt gao, có chiến tuyến rõ rệt giữa Đức Giêsu và thủ lãnh thế gian : Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi ; tôi biết chúng và chúng theo tôi.
   Đối kháng ấy được nhận ra :  Một bên là Đức Giêsu, chủ chăn nhân lành, một bên là kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. (Ga 10,10) ; một bên là Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên, bên kia kẻ làm thuê, không quan tâm gì đến chiên, vì chiên không thuộc về hắn, nên khi thấy sói đến, hắn bỏ chiên mà chạy. Sói vồ lấy chiên và làm cho chiên tán loạn (Ga 10, 12).
    Sự khác biệt giữa chủ chăn nhân lành và kẻ trộm, kẻ làm thuê chính là sự hy sinh mạng sống. Kẻ trộm hy sinh chiên vì mình, vì kẻ trộm lấy tiền bạc, gia sản, và cả mạng sống của chiên vì tư lợi, để vinh thân phì gia, trong khi chủ chăn nhân lành hy sinh chính mình vì chiên, như Đức Giêsu đã qủa quyết : Tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên. (Ga 10,15). Chính sự hy sinh của mục tử nhân lành đã không để chiên bị bọn cướp bắt đi và giết hại (Ga 10,28) ; chính sự hy sinh hiến mạng của chủ chăn đã cứu chiên khỏi chết ; và chính sự sống được trọn vẹn dâng hiến, hy sinh của chủ chăn qủa cảm, nhân hậu đã cho chiên được sống và sống dồi dào (Ga 10,10 ).
  Vâng, quà tặng lớn nhất mà Đức Giêsu ban tặng chính là sai đến trong thế giới những mục tử nhân lành như lòng Chúa mong ước. Chúa không mong ước gì ở mục tử Ngài chọn và sai đến với đoàn chiên của Ngài ngoài tấm lòng nhân từ và hiền lành của chính Ngài là mục tử hiền lành và khiêm nhường tận đáy lòng.
   Vì thế, Ngài không cần những mục tử giỏi giang nhưng hống hách, những mục tử có tài nhưng ngạo mạn, những mục tử khoa bảng nhưng thủ đọan, những mục tử tang bang tế thế nhưng hời hợt, những mục tử trên cả tuyệt vời trong quản trị nhưng tâm hồn vô cảm, những mục tử khôn khéo nhưng tham vọng, những mục tử chỉn chu nhưng lười biếng, những mục tử nghiêm trang nhưng băng giá, lạnh lùng.
  Đức Giêsu chỉ mong ước các môn đệ  của Ngài mang lấy trái tim mục tử nhân lành của chính Ngài, bởi mục tử có lòng nhân từ  mới có thể yêu thương, biết rõ và gọi tên từng con chiên (Ga 10,3) ; mục tử hiền lành thì chiên mới nghe được tiếng mục tử và mới dám đi theo (Ga 10,4), vì biết sẽ được dắt đến đồng cỏ xanh tươi và không phải thiếu thốn gì (Ga 10,9) ; mục tử có trái tim nhân hậu mới đủ sức nhẫn nại mà lắng nghe những tâm sự không đầu không đuôi của đám chiên nghèo, thất học ; mục tử đầy lòng khoan dung mới có thể thấu hiểu và xót xa những mảnh đời chiên ghẻ lở, đáng thương ; và trên hết, mục tử giầu lòng thương xót như Chúa Cha là Đấng giầu lòng xót thương mới có thể hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên.
  Qủa thực, nếu quà tặng lớn Đức Giêsu Phục Sinh đã ban cho thế giới là các mục tử nhân lành, giầu lòng thương xót để mọi người được bình an và được sự sống đời đời, thì mất mát, thiệt hại lớn cho thế giới cũng sẽ là sự tha hoá của các mục tử được sai đến, khi các ngài không còn lòng nhân hậu, tính hiền lành, trái tim thương xót như Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành để bảo vệ, che chở, hướng dẫn, và hy sinh chính mình cho sự sống của đoàn chiên, như lòng Chúa mong ước.
 Đây cũng là dịp để mỗi người Kitô hữu ý thức tầm quan trọng mang tính mầu nhiệm cứu độ của các mục tử được Chúa sai đến cho thế giới và bổn phận yêu mến, kính trọng, cộng tác, nâng đỡ, nhất là cầu nguyện cho các vị.
   Lậy Đức Giêsu Phục Sinh là Mục Tử rất nhân lành ! Xin ban cho chúng con nhiều mục tử nhân lành, giầu lòng thương xót như Chúa hằng mong ước.       
Jorathe Nắng Tím 

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2019

ĐỨC GIÊSU Rất Tình !

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT III PHỤC SINH (Ga 21,1-17) 
Tin Mừng Gioan hôm nay làm nổi bật chân dung một Đức Giêsu Rất Tình với các môn đệ và với Phêrô, môn đệ đã chối mình. 
Được gọi là có tình, rất tình với nhau khi người ta quan tâm đến nhau. 
Đức Giêsu sau khi sống lại đã biểu hiện tình yêu của mình với các môn đệ khi hiện ra với các ông và quan tâm đến hiện trạng của các ông khi lắng nghe các ông than thở : “không có gì ăn” (Ga 21,5), vì “đêm ấy họ không bắt được con cá nào” (Ga 21,3).
Một nhóm ngư phủ chuyên nghiệp mà suốt đêm không bắt được con cá nào thì quả thực chết đói đến nơi. Và tình trạng thiếu thốn của các môn đệ đã là mối bận tâm hàng đầu của Đức Giêsu khi Ngài hiện ra thăm các ông. 
Quan tâm đến việc làm, sinh kế, Đức Giêsu còn quan tâm đến tình trạng đói no của các ông hôm nay, khi hỏi các ông : “anh em có gì ăn không ?” (Ga 21,5). Hỏi “có gì ăn không ?” là cách hỏi tế nhị tránh cho các môn đệ câu trả lời khó nói, vì Ngài biết các ông vất vả suốt đêm mà không bắt được con cá nào.
Quan tâm đến ai là muốn biết người ấy có hạnh phúc, bình an không. Nhưng quan tâm không chỉ dừng lại ở biết, mà được thôi thúc đi đến việc làm : làm tất cả để người mình yêu được hạnh phúc lớn nhất, trọn vẹn nhất. 
Đức Giêsu đã không quan tâm để chỉ biết các môn đệ là những người mình yêu đang gặp khó khăn kinh tế, nhưng giúp các ông ra khỏi bế tắc bằng chỉ cho các ông : “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá” (Ga 21,6) và làm phép lạ cho cá vào lưới nhiều đến độ “không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá” (Ga 21, 6). Và bữa ăn có cá tươi vừa bắt từ biển hôm ấy ngay trên bờ biển đã đem lại niềm vui khôn tả cho cả Thầy và trò. 
Tuy vậy, quan tâm đến sinh kế, miếng cơm manh áo mới chỉ là một phần bổn phận của tình yêu nơi những con người sống rất tình với người khác. Còn một quan tâm khác bên cạnh không kém quan trọng , đó là bình an trong tâm hồn. 
Đức Kitô sống lại đến thăm các môn đệ và ban bình an cho các ông. Ngài biết các môn đệ của mình vừa trải qua một cơn thử thách nặng nề hơn nghìn lần ác mộng, vì những gì xẩy ra quả thật vượt xa những tang thương, đổ nát và ê chề thất bại các ông có thể tưởng tượng. Hỏi ai trong các môn đệ Đức Giêsu đã có thể nghĩ có ngày Thầy mình sẽ bị kết án là tên phiến loạn, trong khi Ngài vẫn tôn trọng chính quyền và công khai trả lời : “Trả cho Xêda những gì thuộc về Xêda” (Lc 20,25), nghĩa là Ngài không xách động dân làm loạn, chống lại nghĩa vụ đóng thuế cho chính quyền Rôma ; hỏi ai trong các ông có thể nghĩ. Thầy mình sẽ bị toàn dân đả đảo nguyền rủa lộng ngôn, phạm thượng mặc dù suốt đời Ngài chỉ làm theo thánh ý Chúa Cha và hỏi ai trong họ có thể nghĩ sẽ có ngày Thầy mình bị đem đi đóng đinh, ô nhục trần truồng chết trên thập giá, trong khi cả một đời chỉ rao giảng và thực hiện Yêu Thương. Chẳng thế mà đã ba lần báo trước : “Thày sẽ lên Giêrusalem để chịu chết” (Mt 16,21), nhưng không môn đệ nào đã tin, và Phêrô, anh trưởng nhóm còn tỏ ra khó chịu, can ngăn (Mt 16,22-23). 
Vì thế, tâm hồn các môn đệ những ngày sau biến cố tử nạn của Đức Giêsu vẫn còn tan nát, héo hắt, hoang mang, hoảng sợ, không chỉ vì mất Thầy, mất người lãnh đạo, mất chốn tựa nương, mà còn mất hướng đi, mất lẽ sống, mất điểm tựa, mất tinh thần, mất niềm tin, mất hy vọng, mất những gì đã xây dựng và mất luôn những gì ấp ủ, ước mơ.
Đức Giêsu biết các ông khổ lắm, khổ vì mất hết đã đành, mà còn khổ vì miệng đời nguyền rủa, ngạo nghễ, cười chê. Và trong tất cả Phêrô là người đau khổ nhất. Phêrô không chỉ khổ nỗi khổ chung của anh em môn đệ, mà còn đau vì mặc cảm phản bội, vì đã yếu đuối chối  không quen biết Đức Giêsu . Biết Phêrô  đau khổ rất nhiều, Đức Giêsu đã đặc biệt rất tình với ông. Với ba lần cùng một câu hỏi : “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không ?” (Ga 21,15.16.17), Đức Giêsu đã cho ông biết tình Ngài bao la và ngàn triệu lần lớn hơn tội ông. 
Ba lần gặng hỏi đến nỗi Phêrô phải ngượng ngùng, Đức Giêsu cố ý tạo cho Phêrô cơ hội công khai tuyên xưng tình yêu của mình để ra khỏi mặc cảm trước anh em vì đứng đầu nhóm mà hèn nhát chối Thầy. 
Quả thực, ba lần kiên quyết, vững mạnh tuyên xưng : “Lạy Thầy, con yêu mến Thầy” đã xoá sạch vết tích tội lỗi và mặc cảm của ba lần yếu đuối, nhát đảm lầm lỡ thốt ra lời phản phúc : “Tôi thề là không biết người ấy là ai !” (Mt 26,74). 
Ở đây, chúng ta cần nắm bắt một điều rất quan trọng là nền tảng cho sự sống của các cộng đoàn Kitô trong mọi thử thách, đó là dù thế nào đi nữa, dù bị bách hại đến đâu, dù mất hết không còn gì, dù bị chính quyền truy lùng, giáo quyền xua đuổi, bỏ rơi, trục xuất, các môn đệ của Đức Giêsu sau những ngày Thầy tử nạn vẫn gắn bó ở với nhau trong tình yêu huynh đệ, bằng chứng là các ông no đói có nhau, cùng tìm về nghề cũ, cùng kiếm kế sinh nhai. Khung cảnh Đức Giêsu hiện ra hôm nay, chính là khung cảnh gắn bó huynh đệ giữa các môn đệ. Đó là điều quan trọng nhất các ông đã giữ lại được cho mình trong khi tất cả đều đã mất hết. Các ông đã giữ được điều cốt yếu học được từ Thầy là  “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). 
Khung cảnh yêu thương giữa các môn đệ với nhau và rất tình giữa Đức Giêsu và các môn đệ năm xưa là ước mơ, cố gắng và lời cầu xin của chúng ta mỗi ngày cho Giáo Hội.
Xin Chúa thương xót và tiếp tục “rất tình” với chúng con. Ước gì chúng ta biết làm chạnh lòng Thiên Chúa bằng cố gắng sống tình với nhau mỗi ngày, như Chúa dạy. 
Jorathe Nắng Tím

MÙA HOA !

Thưở đất nước còn nghèo, người dân không chỉ “thắt lưng buộc bụng”, mà còn “buộc miệng thắt lòng” lo từng bữa ngô sắn, vậy mà có lúc ngô sắn cũng chẳng có, nên mấy ai nghĩ đến chuyện trồng hoa, tặng hoa, ngắm hoa. 
Hôm nay thì hoa đã khởi sắc trong tâm hồn và nhiều người đã biết giá trị làm đẹp cuộc đời, làm vui lòng người, “thay lời người muốn nói với người” của hoa và đây đó những vườn hoa rực rỡ, những tiệm hoa trải dài làm người ta thân quen lại với hoa .
Ngày xưa coi thường hoa vì cho rằng hoa không phục vụ nhu cầu đích thực của con người, nên hoa không được đứng ngang hàng với luống khoai, cụm sắn, vì sắn khoai nuôi ăn, làm no bụng, trong khi hoa chỉ để chơi, chẳng nuôi được ai ; hoa không được trân quý, gìn giữ, bảo vệ, nên một thời rất dài hoa đã hoàn toàn khuất bóng, và người ta đã làm mặt lạ với hoa. Nhẫn tâm hơn, khi cao trào sôi nổi, người ta đã phá những vườn hoa mang tầm vóc công trình nghệ thuật quốc gia để lấy đất trồng mì, rau muống ngay giữa lòng thành phố.
Viết về hoa, thì điều quan trọng phải được nêu lên trước hết, đó là chỗ đứng của hoa trong thiên nhiên vạn vật. 
Không ai chối cãi được sự hiện diện bao trùm của hoa : ở đâu cũng có hoa, tít tắp trên đỉnh núi cao đến tận vực sâu thăm thẳm, và cả trong lòng biển bao la, hoa đều chen vai góp mặt ; rồi mùa nào hoa nấy, thời tiết nào hoa cũng rộn ràng tươi nở, bất kể xuân, hạ, thu, đông, dù nóng như thiêu đốt giữa sa mạc, hay lạnh cóng như Bắc cực băng tuyết, cỡ nào hoa cũng khoe sắc, tỏa hương.
Tiếp đến là vẻ đẹp và hương thơm phong phú của hoa. Quả thực, không ai có thể tự phụ nghĩ mình biết hết các loại hoa, cũng không nhà thực vật nào dám nghĩ mình nắm hết trong tay đặc tính của từng loài hoa. 
Tuần qua, người viết thật bỡ ngỡ khi đọc tài liệu về một loài hoa có tên latinh : Amorphophallus titanum với độ cao 3 mét, và tỏa ra chung quanh đến 800 mét một mùi thối làm nôn mửa. Điều thật bất ngờ là hoa lại cho mùi thối, chứ không cho hương thơm như mọi người thường nghĩ, cũng như thân cây đáng lẽ thẳng, thì lại có loại cây thân cong queo, uốn éo đến 90 độ như một loại cây trong khu rừng Krzywy ở Ba Lan.
Với chỗ đứng bao trùm và hương sắc phong phú, hoa đã có những đóng góp lớn trong thiên nhiên, vũ trụ cũng như trong sinh hoạt đời sống của con người:
1.       Hoa làm đẹp thiên nhiên :
Không thể bỏ quên hoa trong công trình thiên nhiên tuyệt đẹp của Thượng Đế, vì hoa làm đẹp trái đất ; hoa tô điểm địa cầu; hoa làm không gian khô khan, cằn cỗi trở nên tươi thắm, dịu dàng, lôi cuốn.  
Hoa biến đất chết thành đất sống, làm cho đất bị nguyền rủa thành đất hứa. Không chỉ làm đẹp đất xấu, hoa còn làm hiền đất độc, làm trẻ đất già nua, làm mầu mỡ đất son sẻ.
 2. Hoa đóng góp vào đời sống con người :
a. Khi làm phấn khởi lòng người : 
Ai cũng vui hơn khi ngắm huệ xinh lúc vui, bớt buồn nếu được ở bên nàng cẩm chướng khi u sầu, nguôi ngoai tâm sự dưới dàn thiên lý vô tư lả lơi trước gió, và nhẹ lòng trước hồn nhiên, thanh thản của đám cúc vàng thích nhí nhảnh đùa vui.
Hạnh phúc của hoa mang lại cho con người là dịu ngọt của sự sống, an ủi của niềm tin và vui mừng của hy vọng. Hoa không biết nói như con người nhưng biết đồng cảm với con người và biết gợi lên trong tâm hồn con người những tình cảm tích cực góp phần xây dựng hạnh phúc con người trong cuộc sống.
Người yêu hoa yêu đời và dễ yêu người hơn những người không thích hoa, vì hoa giúp điều chỉnh tình cảm, nuôi dưỡng tình cảm cao thượng, làm phong phú và bền vững tình cảm chân chính. Người yêu hoa học được nhiều điều hay, lãnh hội nhiều giá trị từ dáng dấp, hương sắc, sinh hoạt của hoa. Nếu hoa trinh nữ bẽn lẽn, e ấp cho ta nhận ra nét đẹp của tính đằm thắm, liêm sỉ, thì đóa hồng nhung thắm đỏ chỉ cho ta hạnh phúc của tình yêu tha thiết, nồng nàn, hoặc như cánh quỳnh lan dậy ta cái mong manh, chóng qua của kiếp người. Vấn đề là chúng ta có học ở hoa những bài học quý giá mà Thượng Đế đã kín đáo gửi gắm qua mỗi nụ hoa, từng cánh hoa được tạo dựng từ tay Ngài.
 b. Hoa nói thay con người :
Nói thay con người khi con người không biết phải nói gì, hay không tìm được lời để diễn tả tâm tình và điều muốn nói.
Trước Thượng Đế, con người đôi khi bất lực, không “nói được nên lời” trước ơn thiêng phúc lạ nhận được, nên phải cậy nhờ đến hoa, nhờ hoa nói giùm, cậy hoa giúp diễn tả lòng yêu mến, tri ân.
Hoa sẽ giúp nâng tâm hồn lên cao, làm cho lời cầu nguyện thêm sốt sắng ; hoa sẽ hiệp lực cùng con người cung kính tôn thờ, khiêm tốn tạ tội, và thành khẩn van xin. Chính trong tâm tình này mà nhiều người đã yêu hoa, vì muốn được cùng hoa ca ngợi Đấng mình yêu mến.
Trước người khác, hoa cũng làm công tác “thay lời muốn nói và thay người muốn nói”. 
Có rất nhiều điều ta không thể nói với ai đó bằng lời, mà ngay cả có đủ lời cũng không thể nói được. Trong những trường hợp này sẽ chỉ có hoa mới đủ khả năng đảm nhận và hoàn thành xuất sắc sứ mạng “thay người muốn nói và nói thay người những điều khó nói”.
Như yêu ai, ta đâu dễ tỏ tình, vì cơ hội không luôn thuận lợi, và khó tiên liệu phản ứng của đối tượng yêu. Nhưng với bó hồng tươi thắm, tình ta đã được tỏ, lời yêu trong tim đã được nói.
Để chia sớt khổ đau với người bạn thân vừa mất mẹ, hoa tím ân tình sẽ thay ta nói lời nghẹn ngào, và hoa trắng tiễn đưa sẽ giúp ta gửi trao niềm thương tiếc.
Và trong mọi cảnh huống khó nói, khó diễn tả tâm tình, hoa luôn có mặt và sẵn sàng thay ta, giúp ta thực hiện tốt sứ mệnh chuyển tải thông tin, gửi trao tâm tình. 
Hoa còn phản ánh tình trạng tâm hồn của chính ta, khi ta mượn hương hoa, sắc hoa để nói với chính mình, như khi vui, ta muốn có bình hoa đủ mầu rực rỡ, nhưng khi buồn, ta chỉ muốn một mình lặng lẽ với bóng mimosa.
 Mùa hoa về, muôn sắc hoa đua nở cũng là lúc tâm hồn mỗi người được mời gọi mở ra với Trời, với người và với chính mình. 
Mở ra với Trời trong niềm vui tri ân Đấng Chủ Tạo của muôn hoa trên địa cầu ; mở ra với người qua ngôn ngữ thanh cao, thân thương, ý nhị, khôn ngoan, đằm thắm và hiệu nghiệm của ngàn hoa quanh ta trong đời ; mở ra với mình trong diệu vợi, nhiệm mầu của hương hoa thanh khiết, dịu dàng luôn làm say mê, nao nức tâm hồn người lữ khách đường xa.
Tháng Năm bắt đầu bằng truyền thống tặng nhau hoa “muguet” hạnh phúc, cử chỉ ăm ắp tình người, tràn đầy kính trọng, thương mến, như khởi điểm của hành trình đến với Trời, gặp gỡ nhau, tìm về chính mình luôn được làm mới lại mỗi mùa hoa về. 

Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2019

CHÚNG TÔI CHỈ KỂ LẠI

Sách Công Vụ các Tông Đồ là hoạt động truyền giáo của các thánh tông đồ sau khi Đức Giêsu sống lại và về trời. Thực ra hoạt động truyền giáo này không ra ngoài việc kể lại những gì các vị đã thấy, đã nghe khi ở với Đức Giêsu, từ lúc đi theo Ngài cho đến khi Ngài sống lại, và sai các vị đi loan báo Tin Mừng. Trong khi kể lại những gì đã thấy, đã nghe ở Đức Giêsu, các vị không quên nói cho mọi người biết những trải nghiệm của riêng mình để làm chứng với niềm xác tín : Chúng tôi đã gặp gỡ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ muôn dân.
     Trước hết, như giao điểm giữa Cựu Ước và Tân Ước, ở vị thế con gái Sionmẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria đã là người chứng thứ nhất bằng kể lại :
     Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh, chí tôn… Đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người (Lc 1,49).
     Mẹ kể lại ơn hồng phúc lạ của lòng thương xót Thiên Chúa luôn tuôn đổ trong lịch sử của nhân loại từ đời nọ đến đời kia, nghiã là không lúc nào Thiên Chúa không yêu thương và rời mắt chăm sóc con cái mình.
     Kể lại kỳ công cao vời của tình yêu là tâm tình yêu mến, biết ơn sâu đậm và cao qúy nhất của người được yêu ; nói cho người khác biết những việc làm cao cả của người yêu thực hiện cho mình là hành động đáng yêu nhất của người được yêu, và Đức Maria đã làm công việc kể lại rất đáng yêu của người rất được yêu này.
      Nhưng Đức Maria đã không dừng lại ở những điều cao cả Thiên Chúa làm cho Mẹ và nhân loại, mà còn kể cho mọi người : Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới (Lc 1,48), bởi đó là sự thật cũng đáng yêu, đáng qúy như sự thật Thiên Chúa là Đấng chí thánh, chí tôn.
     Đức Maria đã kể lại chính đời sống của Mẹ : đời nữ tỳ hèn mọn được sống trong tình yêu chăm sóc, che chở của Thiên Chúa toàn năng. Hai sự thật gặp gỡ trong một con người : thân phận tội lụy, yếu đuối cần được thương xót, và Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ giầu lòng xót thương hằng thương xót những ai kính sợ Người (Lc 1,49).  
     Như thế, việc truyền giáo, tức loan báo Đức Giêsu cho thế giới phải được rặp theo khuôn mẫu kể lại của Đức Maria, người Kitô hữu đầu tiên, nhà truyền giáo đầu tiên, người làm chứng đầu tiên rất tuyệt vời, và đẹp lòng Thiên Chúa. Khuôn mẫu ấy gồm:
1.     Kể lại việc Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả :
  Bởi phải kể lại những việc cao cả, kỳ diệu Thiên Chúa làm cho mình, cho gia đình, cho bạn hữu xa gần, cũng như cho Giáo Hội, quê hương, thế giới, chúng ta mới nhớ lại, để chân nhận và xác tín cùng với mọi người : Thiên Chúa thật chí thánh, chí tôn ! (Lc 1,49).
     Thiên Chúa chí thánh, chí tôn, hằng thương xót những ai kính sợ Ngài là mục tiêu của truyền giáo, chủ đích của việc loan báo Tin Mừng, nên việc phải làm đầu tiên của người làm chứng chính là kể lại kỳ công do tay Thiên Chúa làm nên, và những điều cao cả, lạ lùng Ngài đã thực hiện vì lòng thương xót.
2.     Kể lại tình trạng bất toàn, chênh vênh, mong manh, yếu đuối, thấp hèn của mình :
  Công việc thứ hai có mục đích làm nổi chủ đích vinh danh Chúa là nói lên thân phận thực của mình, kể lại sự thật đời mình, sự thật hầu như luôn đối nghịch với sự thánh thiện, toàn năng của Thiên Chúa.
    Đức Maria, tuy là người đầy ơn phúc, tràn ngập ân sủng cũng không dám nhận mình là người thánh thiện, mà chỉ dám kể lại cho bà chị họ Êlisabét và hết mọi đời phận nữ tỳ hèn mọn của mình. Sở dĩ nhận mình là phận nữ tỳ hèn mọn, vì Mẹ biết mình luôn đáng thương, và cần được Thiên Chúa xót thương.
    Qủa thực, kể cho mọi người nghe biết mình là người luôn cần lòng thương xót của Thiên Chúa là việc làm không kém quan trọng trong sứ mệnh được sai đi loan báo Tin Mừng, bởi có nhận mình là phận hèn mọn, ta mới cần được thương xót ; có cần được thương xót, ta mới cần đến Đấng chí thánh, chí tôn… hằng thương xót … (Lc 1, 49-50), và khi được Thiên Chúa thương xót, linh hồn ta mới có thể ngợi khen Thiên Chúa,  và thần trí hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ như  Đức Maria (x. Lc 1,46). 
    Tiến trình khởi sự từ nhận thức mình là người yếu đuối  đến niềm vui trong Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ phải đi qua trải nghiệm của ơn sủng lòng thương xót, vì nếu chỉ biết mình tội lỗi, mà không cảm nghiệm ơn thứ tha, hoà giải từ lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta không thể cảm được niềm vui được tha thứ, và hạnh phúc của người con hoang đàng ngày trở về trong vòng tay yêu thương của cha. Cũng vậy nếu chỉ kể về Thiên Chúa toàn năng, chí tôn, chí thánh, mà bỏ qua tình trạng bi thương, đáng thương của mình và phép lạ của lòng thương xót Chúa thì không ai có thể xác tín và tuyên xưng : Chính Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ tôi.
3.     Kể lại niềm vui, hạnh phúc khi được Thiên Chúa thương xót :   
     Đức Maria đã không ngần ngại bộc lộ niềm vui làm phấn khởi, rạo rực cả tâm hồn Mẹ khi kể lại những điều cao cả Thiên Chúa đã thực hiện, nhất là đã không e dè khi nói về hạnh phúc được Thiên Chúa đoái thương nhìn tới : Vâng, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc (Lc 1,48).
     Đây là niềm vui chính đáng của tội nhân được xóa hết tội ; hạnh phúc đích thực của người tôi tớ hèn mọn được Thiên Chúa nhìn tới và xót thương ; bình an của kẻ cơ cùng, yếu đuối được Thiên Chúa là Đấng toàn năng, chí thánh, chí tôn bênh đỡ, hộ phù. Họ là những người mang cả trời xuân tạo dựng, là tạo vật tuyệt vời hạnh phúc trong tình yêu của Đấng chủ tạo, là chú chiên bé bỏng, ngơ ngác lạc đàn được chủ chăn nhân lành bồng ẵm trên vai.
    Đây cũng là kinh nghiệm của người đã gặp gỡ, sống với và chia sẻ với  Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người họ đang kể về Ngài cho người khác. Thiếu những kinh nghiệm thiêng liêng sống động, mà niềm vui được Thiên Chúa yêu thương, cứu chữa là cảm nghiệm đặc trưng nơi những người nhận được lòng thương xót, người ta sẽ không làm chứng về Thiên Chúa cách hữu hiệu và thuyết phục. Trái lại, với lời kể đơn sơ, chân thực xuất phát từ tâm hồn, và niềm xác tín nhờ kinh nghiệm sống của bản thân mà người nghe sẽ dễ dàng đồng cảm và đón nhận Tin Mừng.
     Tóm lại, Đức Maria đã loan báo Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa bằng kể lại việc cao cả Chúa làm, kể lại thân phận nữ tỳ mọn hèn của mình và kể lại niềm vui được Thiên Chúa yêu thương đoái nhìn tới.
     Noi gương truyền giáo của Đức Mẹ, các tông đồ cũng không làm gì khác hơn là làm chứng Đức Giêsu bằng kể lại những gì đã thấy, đã nghe, đã cảm nghiệm nơi Đức Giêsu, như chính Đức Giêsu đã nói với hai môn đệ của Gioan tẩy giả khi được sai đến gặp và hỏi Ngài : Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác ? (Lc 7,19). Đức Giêsu đã trả lời họ : Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy, tai nghe : người mù được thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe tin mừng (Lc 7, 22).
    Trên hành trình truyền giáo được sách Công Vụ các Tông Đồ thuật lại, tông đồ trưởng Phêrô, cũng như các tông đồ khác trong khi làm chứng bằng kể lại cuộc đời Đức Giêsu cho đám đông (Cv 2,22-36) đã làm cho nhiều người đón nhận lời ông, và chịu phép rửa (Cv 2,41).   
       Tuy thế, các tông đồ, trong khi làm chứng bằng kể lại những gì đã thấy, đã nghe ở Đức Giêsu suốt thời gian Người sống giữa chúng ta, kể từ khi Người được ông Gioan làm phép rửa cho đến ngày Người lià bỏ chúng ta và được rước lên trời (Cv 1, 21-22) đều ý thức hai điều quan trọng, đó là:
a.     Người làm chứng luôn có ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần :
   Như Thượng Hội Đồng Do Thái đã làm chứng khi nghe hai ông Phêrô và Gioan kể về Đức Giêsu trước mặt họ :
Họ ngạc nhiên khi thấy ông Phêrô và Gioan mạnh dạn, và biết rằng hai ông là những người không có chữ nghiã, lại thuộc giới bình dân. Họ nhận ra hai ông là những người đã từng theo Đức Giêsu (Cv 4,13).
Và cộng đoàn tín hữu đầu tiên cũng khẳng định điều này : Nhờ quyền năng mạnh mẽ Thiên Chúa ban, các tông đồ làm chứng Chúa Giêsu đã sống lại. Và Thiên Chúa ban cho các ông dồi dào ân sủng (Cv 4,33).
b.     Thiên Chúa là Đấng sẽ làm chứng cho chứng nhân :
   Trong Tin Mừng Gioan, chính Đức Giêsu đã xác quyết trước những người Pharisêu: Tôi làm chứng cho chính mình, và Chúa Cha là Đấng đã sai tôi cũng làm chứng cho tôi (Ga 8,18). Vì thế, người được Đức Giêsu sai đi làm chứng về Ngài cũng sẽ được Thiên Chúa làm chứng cho họ.

       Vâng, Đức Giêsu đã sống lại, và tảng đá đóng kín cửa mồ đã bị bật tung, mở ra cho tất cả những ai muốn đi theo Ngài con đường loan báo Tin Mừng trước mặt. Từ nay, tảng đá kếch sù, đen đúa, nặng nề, ám khí tử thần ấy không còn quyền lực ngăn cấm, đe dọa, khống chế, áp đảo, và làm sợ nữa, bằng chứng là Maria Mácđala đã không còn sợ và thôi khóc, nhưng chạy đi báo các môn đệ : Tôi đã thấy Chúa, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà (Ga 20,18), khi thấy tảng đá đã lăn khỏi mồ (Ga 20,1), và thấy Đức Giêsu đứng đó (Ga 20,14).
    Trên con đường loan báo Tin Mừng hôm nay, chúng ta nhận ra anh mù từ thưở mới sinh được Đức Giêsu cho sáng mắt đang kể lại việc kỳ diệu Đức Giêsu đã làm cho anh và qủa quyết trước các người Pharisêu và đám đông : Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : Anh hãy đến hồ Siloác mà rửa. Tôi đã đi, đã rửa và tôi đã nhìn thấy (Ga 9,11).
   Trên con đường loan báo Đức Giêsu cho thế giới hôm nay, chúng ta gặp lại người bệnh đã ba mươi tám năm được Đức Giêsu chữa trong ngày Sabát. Anh đang kể lại phép lạ  vừa nhận được : Chính người chữa tôi khỏi bệnh đã nói với tôi : Anh hãy vác chõng mà đi ! (Ga 5,11).
    Trên con đường loan báo Đức Giêsu sống lại, chúng ta thấy người phụ nữ Samari đang kể cho bà con lối xóm những gì chị đã thấy và nghe ở Đức Giêsu, người đã xin chị chút nước uống (Ga 4,7). Họ đã tin vào lời chị kể, và  sau khi được gặp Ngài, cả dân làng đã nói với chị :  Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Qủa thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian (Ga 4,42). 
      Vâng, trên con đường loan báo Tin Mừng trước mặt, chúng ta được mời gọi noi gương Đức Mẹ, các tông đồ, và mọi người được Thiên Chúa tỏ lòng từ bi, nhân hậu kể lại kỳ công Chúa đã làm cho chúng ta, và bộc lộ niềm vui của thân phận yếu đuối, tội lụy khi được Thiên Chúa  xót thương, đoái nhìn.  
        Vấn đề là chúng ta có nhận ra ơn Chúa, và những điều cao cả, kỳ diệu Ngài làm cho chúng ta hay không, như tâm tình nhắc nhở của Đức Giêsu gửi trao mỗi người chúng ta khi nói với người đàn bà Samari : Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị : Cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống (Ga 4,10).     
 Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2019

CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

Tin Mừng CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT kể lại biến cố Đức Giêsu hiện ra với các tông đồ sau khi sống lại, với lời chúc “Bình an cho anh em !”. Và đoạn Tin Mừng từ câu 19 đến 29 chương 20, Gioan đã nhắc đến 3 lần lời chúc bình an này.
Khi chọn đoạn Tin Mừng với lời chúc bình an cho CHÚA NHẬT LÒNG THƯƠNG XÓT, Giáo Hội muốn làm nổi bật bình an của Đức Giêsu Phục Sinh như hoa trái tuyệt vời thơm ngon của Lòng Thương Xót.
1.   Chỉ LÒNG THƯƠNG XÓT mới phát sinh ơn bình an :
Đức Giêsu đã không ban bình an của Ngài trước khi sống lại, và chỉ sau khi sống lại, Ngài mới ban bình an cho hết mọi người được gặp Ngài. Điều này làm chứng rằng ơn bình an chính là kết quả của Lòng Thương Xót đã được thực hiện qua cuộc tử nạn của Ngài. Nói cách khác, lòng thương xót phát sinh ơn bình an, nên ở đâu có Lòng Thương Xót, ở đó có bình an.
2. LÒNG THƯƠNG XÓT là điều kiện của Bình an :
Khi cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn còn hoắm sâu dấu đinh và lưỡi đòng, cũng như bảo Tôma xỏ ngón tay vào lỗ đinh và đặt bàn tay vào cạnh sườn, và cùng lúc nói với các ông : “Bình an cho anh em !” (Ga 20,20-21; 20,26-27), Đức Giêsu muốn dậy các ông chân lý : người môn đệ được sai đi sẽ chỉ có ơn bình an và ban được ơn bình an của Ngài cho người khác, khi các ông có Lòng Thương Xótvà sống Lòng Thương Xót như Thầy mình. Ở ngoài Lòng Thương Xót, hay bỏ quên Lòng Thương Xót, người môn đệ không làm chứng được Đức Giêsu, Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, cũng không mang đến cho ai ơn bình an của Ngài, vì tâm hồn thiếu Lòng Thương Xót không nhận được Thánh Thần, là điều kiện tất yếu để được sai đi (Ga 20, 22).
Lòng Thương Xót như thế không chỉ là điều kiện để ban bình an của Đức Giêsu cho người khác, mà còn là đòi hỏi ở người muốn nhận ơn bình an của Ngài. Trái tim thương xót trở nên nhà của Thiên Chúa tình yêu, và nơi trú ngụ của Thiên Chúa, nguồn ơn sủng.
3.   Ơn bình an là bảo chứng của ơn gọi làm môn đệ Đức Giêsu :
Quà tặng của Đức Giêsu sống lại cho các môn đệ, cũng là hạnh phúc đích thực Thiên Chúa làm người ban cho con người chính là bình an của Ngài, bình an mà người đời không ban được. Vì thế, sứ vụ mà các môn đệ nhận được nơi Đức Giêsu khi được sai đi, chính là đem đến cho anh em đồng loại ở mọi nơi, mọi thời ơn bình an, là ơn sủng cao vời, lớn lao phát sinh từ cạnh sườn bị đâm thủng có máu và nước chảy ra của Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ nhân loại. 
Do đó, người môn đệ của Đức Giêsu sẽ tin tưởng lên đường, nếu tâm hồn người môn đệ ngập tràn ơn bình an, khi người môn đệ nằm lòng xác tín : bình an chỉ có được trong tâm hồn giầu Lòng Thương Xót.
Quả thực, Lòng Thương Xót là căn cớ, và động cơ của mầu nhiệm cứu độ. Vì xót thương mà Thiên Chúa làm người và cứu chuộc con người, nên ơn cứu độ là Bình An viên mãn của Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ có nền tảng là Lòng Thương Xót và nguồn mạch là Lòng Thương Xót.
Xin cho chúng con biết tìm kiếm bình an cho anh em và cho chính mình ở Lòng Thương Xót, và với Lòng Thương Xót.
Ước gì trong Lòng Thương Xót của Đức Giêsu, Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, và dung mạo đích thực của Chúa Cha giàu Lòng Thương Xót cho chúng ta được lớn lên mỗi ngày trong ơn Bình An và trở nên khí cụ đắc lực của Bình An giữa lòng thế giới hôm nay đang rực lửa hận thù. 
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 23 tháng 4, 2019

CHIẾN TRANH TÔN GIÁO SẼ CÓ HAY KHÔNG ?


      Lại một lần nữa, dư luận thế giới cực lực lên án hành vi bạo lực sát nhân rất đáng ghê tởm và hèn nhát của một số người Hồi Giáo cuồng tín, qúa khích đã đánh bom vào thứ hai, 22 tháng Tư năm 2019 tại ba nhà thờ Công Giáo, một ngay tại thủ đô Colombo của Sri-Lanka và hai nhà thờ khác ở Dehiwala không xa thủ đô, tất cả đều đang tham dự thánh lễ Phục Sinh, mừng Chúa sống lại. Cùng chung số phận với ba nhà thờ Công Giáo là bốn khách sạn khác. Con số tử vong lên đến 310, và bị thương 500 người theo thống kê cuối cùng của cảnh sát Sri-Lanka sáng thứ Ba, 23 tháng Tư. Tổ chức thực hiện cùng lúc 8 vụ đánh bom khủng bố này là NTJ (National Thowheeth Jama‘ath), một tổ chức Hồi Giáo quốc gia qúa khích.

Tất nhiên cảnh tượng chết chóc đã vô cùng kinh hoàng, khủng khiếp khi hàng trăm tín hữu công giáo chết tại chỗ và gấp đôi số đó đang quằn qụai, rên rỉ, la hét vì đau đớn và hoảng loạn. Đô trưởng của Colombo đã thảng thốt nghẹn lời khi ông bước vào nhà thờ vừa bị đánh bom khủng bố : Thật là một biển máu !.

 Biển máu ấy đã có cùng nguyên nhân, cùng động lực, cùng nạn nhân, cùng phương tiện từ rất nhiều năm qua, và ngày càng nhiều và tang thương, khủng khiếp hơn. Chính vì mức độ leo thang đó mà người ta phải nghĩ đến một cuộc chiến tranh tôn giáo có thể xẩy ra cho thế giới.

Chiến tranh tôn giáo là điều không mới mẻ, bởi dọc lịch sử nhân loại, con người đã nhân danh thiên chúa, thần linh, tôn giáo của mình để dùng bạo lực đàn áp, tiêu diệt tín hữu của các tôn giáo khác, mà họ cho là tà đạo. Những thời tử đạo, những cuộc thánh chiến đẫm máu mang tầm vóc thế giới, những cuộc sát phạt người khác tôn giáo dưới nhiều hình thức và ở những cấp độ khác nhau, cũng như những chủ trương, đường lối hoặc công khai, hoặc bí mật kỳ thị, bài xích các tôn giáo không phải của mình là những trang sử buồn, và tiếp tục đến hôm nay, tuy cách thức có tinh vi, khéo léo hơn đang đem nhân loại  đến gần vực thẳm của chia rẽ, hận thù, tự diệt.

Tại sao hậu qủa tai hại như vậy ?

Thưa vì không có cuộc chiến nào, dù là cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ quốc gia, cuộc chiến dành độc lập, hay cuộc chiến ý thức hệ có thể thôi thúc khí thế con người lên nhanh, lên mạnh với tốc độ cực kỳ khủng khiếp tới đỉnh của cao trào đấu tranh khi dấn thân liều lĩnh, quyết tâm hy sinh, và  qủa cảm không  sợ chết  bằng cuộc chiến  bảo vệ và bành trướng tôn giáo, bởi cuộc chiến tôn giáo không giống các cuộc chiến khác khi có thiên chúa chứng thực, chỉ huy, có thần thánh bênh đỡ, có thượng đế khen thưởng, có thần quyền bảo kê công phúc mai hậu.

Trong cuộc chiến này, người  tín hữu  bất ngờ trở thành người chiến sĩ dũng cảm của tôn giáo, khi ôm bom khủng bố tín đồ tôn giáo khác ; người đi theo tôn giáo cho một niềm tin thuần khiết bỗng biến thành kẻ sát nhân không gớm tay, vì cuồng tín ; người theo đạo để được giác ngộ và giải thoát, nghiã là được thoát khỏi thị phi, đố kị và đạt đến trạng thái bình an đột nhiên biến dạng thành những tay đồ tể khát cả máu trẻ em vô tội, yếu đuối ; người có một tôn giáo dậy ăn ngày ở lành, thương tha nhân và làm phúc cho người bất hạnh, kém may mắn  bất ngờ thay mặt đổi lòng để tay cầm dao, cầm súng lao  vào tàn sát đám đông không cùng tôn giáo với mình.

Những con người bị bạo lực biến thái này chính là những tín đồ  mê muội về giáo lý của tôn giáo mình  đã khoán trắng đời mình trong tay những người lãnh đạo tôn giáo cuồng tín, qúa khích, đầy tham vọng bất chính, để điên cuồng khủng bố, tàn sát người vô tội, trong khi giáo lý chính thống của bất cứ tôn giáo nào đều dậy ăn ngay ở lành, bác ái, vị tha, từ tâm, nhân hậu, qủang đại chia sẻ, giúp đỡ  tha nhân. Những con người biến thái đáng sợ này đã là những tín hữu sốt mến sống niềm tin tôn giáo, hăng say với đạo lành, nay bị  lòng ganh ghét tôn giáo kích động đã buông bỏ con người tôn giáo của mình, để trở thành công cụ bạo lực của những chức sắc lòng đầy tham, sân, si và nuôi mộng thống trị, bá chủ  thế giới bằng xóa bỏ sự sống của những người không theo tôn giáo của mình.

Như thế, điểm yếu thứ nhất ở tín hữu, tín đồ, đó là không nắm vững giáo lý tôn giáo mình theo, nên niềm tin không có nền tảng vững chắc, để bất cứ ai, nhất là những người nắm giữ thần quyền không đủ đức độ trong tôn giáo đều có thể làm lung lạc niềm tin và lôi kéo vào những hành vi đi ngược điều giáo lý dậy, và Đấng sáng lập tôn giáo muốn.

Không có kiến thức về tôn giáo mình theo đồng nghiã với không có niềm tin đúng nghiã, bởi tôn giáo sẽ vô nghiã hoàn toàn, nếu cá nhân không có một tương quan , tâm hồn mỗi người không giao lưu, gặp gỡ với Đấng mình tôn thờ, yêu mến, bởi tin là tín thác với lòng yêu mến vào Đấng mình tôn thờ ; nói cách khác, không ai tin thay ai được, cũng như không ai có thể chết và chịu thưởng, phạt đời sau thay cho người khác, nên tôn giáo không thể và không bao giờ có thể loại bỏ niềm tin cá nhân của từng tín hữu,  lòng tín thác của mỗi tín đồ nơi Đấng mà họ tôn thờ trong tôn giáo đã chọn.

Do đó, tôn giáo nào, hay lãnh đạo tôn giáo nào chủ trương tich biên niềm tin cá nhân của tín hữu, hay xóa bỏ tương quan riêng tư của mỗi tín đồ với Đấng thiêng liêng chắc chắn không thể là một tôn giáo đích thực, và không xứng đáng là ngưòi lãnh đạo tôn giáo đáng tin.

Điểm yếu thứ hai là cuồng tín.
Chúng ta biết, niềm tin chân chính hoàn toàn khác cuồng tín, mặc dù hầu hết người cuồng tín trước đó đã là người có niềm tin. Niềm tin chân chính  ở bất cứ Đấng thiêng liêng nào cũng là một mời gọi đến với Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối, vì chính Đấng thiêng liêng ấy là Chân - Thiện - Mỹ tuyệt đối, nên điểm khác biệt căn bản giữa người có niềm tin chân chính và người cuồng tín là một bên luôn hướng tới và đi tìm sự thật, cũng như những gì tốt đẹp, trong khi bên kia chấp nhận gian dối và nghiêng ngả về những điều không tốt, không đẹp, mà điển hình nơi người cuồng tín là :

- Thái độ nghi kị, khinh bạc, diễu cợt Đấng sáng lập và giáo lý của các tôn giáo khác.

- Chủ trương độc quyền niềm tin, và đường lối bắt mọi người phải gia nhập tôn giáo của mình.

- Bành trướng lòng ganh ghét, tị hiềm, đố kị đối với những người không cùng tôn giáo.

- Thực hành  tiêu chí kỳ thị, tẩy chay, cô lập trong sinh hoạt đời sống bất cứ ai không cùng tôn giáo.

- Sẵn sàng sử dụng bất cứ thủ đọan, phương tiện nào, kể cả sát nhân, phá hoại, khủng bố để bảo vệ và làm nổi bật tôn giáo mình theo. 

Nhìn vào một số tính cách và hoạt động cuồng tín điển hình vừa kể, chúng ta thấy tất cả đều không hướng đến sự thật và những gì Tốt, Đẹp mà đã là người, ai cũng phải chân nhận như lòng kính trọng Đấng thiêng liêng, không được xúc phạm đến thần thánh, phải tôn trọng quyền của con người, quyền tự do tin và không tin ; chưa kể phải có lòng nhân, không được gian dối, ghen ghét, hận thù, đàn áp, khống chế, tiêu diệt người khác, dù họ là ai, thuộc sắc tộc, tiếng nói hay theo tôn giáo, chính kiến nào, nhất là không được dùng bạo lực để làm tổn thương, hãm hại, giết chết người khác. Sự công bình và bác ái, vị tha phải là thước đo giá trị đạo đức, mà bất cứ  giáo lý nào, Đấng sáng lập tôn giáo nào cũng đều khuyên dạy, đồng thời sự bình an trong tâm hồn, bình an trong gia đình, xã hội luôn là niềm ước mong của tất cả các tín hữu, tín đồ bất kể khác biệt tôn giáo. 

Chính vì thế, niềm tin không còn là niềm tin khi tín đồ bịt mặt, ôm bom khủng bố để hàng trăm nạn nhân vô tội  mất mạng sống ; tín hữu không còn là người có đức tin khi trái tim rực lửa hận thù  và tay nhuốm máu các tín đồ tôn giáo khác ; giáo dân không còn là người công chính, người có lòng nhân khi miệng  vừa oang oang nhân danh thiên chúa chí thánh, chí tôn, vừa sặc sụa lời nguyền rủa, thề thốt tru diệt những ai không đi theo đạo mình.

Và qủa thực, đã không gì phi lý, phi nhân hơn khi nhân danh niềm tin để giết chết người không tin như mình, nhân danh thiên chúa nhân hậu để tra tấn, cắt cổ, bắn giết những con người cũng  như mình được dựng nên từ cung lòng Thiên Chúa yêu thương.

Như thế, ta có thể nói : khi niềm tin đi tìm bạo lực là sự xấu trong các sự xấu đáng kinh tởm nhất, xuất phát từ lòng ganh ghét, hận thù và  hoàn toàn trái ngược với lòng nhân,  tinh thần vị tha, đòi hỏi bác ái, và khao khát an bình thì niềm tin không còn tồn tại, nhưng phải lặng lẽ ra đi, nhường chỗ cho tai họa của cuồng tín bạo lực.

Do đó, chiến tranh tôn giáo có  xẩy ra hay không sẽ tùy thuộc mức độ mê muội, cuồng tín đưa đến kỳ thị, đố kỵ, hận thù, bạo lực giữa tín đồ, tín hữu các tôn giáo. Nếu không có những bài giảng, những buổi thuyết pháp sặc mùi đấu tranh tôn giáo, hừng hực hận thù đối với những ai không cùng niềm tin với mình, và đằng đằng sát khí trước cao trào thánh chiến, độc quyền tôn giáo thì cơ hội chiến tranh tôn giáo sẽ không còn. Nếu các chức sắc của các tôn giáo dùng uy tín và ảnh hưởng của mình quyết liệt lên án bạo lực, quyết tâm khước từ phương án bạo động, và kịch liệt đả phá những lời nói, việc làm  mang tính khích bác, mạ lị, tấn công các tôn giáo khác, thì tín đồ, tín hữu của các tôn giáo sẽ chẳng bị đẩy vào vùng lửa máu khủng bố, hoặc đóng vai đồ tể hoặc bị là nạn nhân. Nếu tôn giáo sống đúng sứ mệnh giải thoát chúng sinh, cứu độ con người của mình bằng thực hiện giáo lý công bình, bác ái, hỉ xả, bình an, thì không bao giờ có những cuộc đánh bom khủng bố tín hữu công giáo đang dự lễ trong thánh đường, tàn sát tín đồ phật giáo đang tụng kinh, niệm phật ở chùa, giáo dân Tin Lành không bị khủng bố trong nhà thờ, giáo hữu Do Thái không đổ máu trong hội đường, và hằng trăm tín đồ Hồi Giáo không bi thương giẫy dụa trong vũng máu giữa đền thờ bởi những người cuồng tín, quá khích, độc quyền tôn giáo cách man rợ .

Họ là những người cuồng tín đã nhân danh tôn giáo để giết chết những con người cũng có tôn giáo như họ. Họ là những người cực đoan đã nhân danh niềm tin để hủy hoại những người cũng đang sống niềm tin. Họ là những người mê muội nhưng qúa khích đã nhân danh thiên chúa, Đấng dựng nên con người để hành hạ, giết lát con người. Họ là những đã nhân danh quyền của thiên chúa để tước đọat quyền chính đáng và cao qúy của con người. Họ đã không sống như con người phải sống, tin như niềm tin dậy, thực hành tình yêu thương, tương trợ với đồng loại như đòi hỏi của giáo lý, chỉ vì lòng ganh ghét đã làm họ mất khả năng chấp nhận quyền tự do tin của người khác, và sự phong phú của các giá trị khác biệt trong các tôn giáo.
Tưởng nhớ các nạn nhân vô tội vì nhóm người cuồng tín, người viết xin được gừi đến bạn một ước nguyện : Ước gì mỗi người chúng ta khi tha thiết sống niềm tin của mình cũng biết trân qúy và tôn trọng niềm tin của người khác.

Jorathe Nắng Tím