Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2019

ĐẤT HY VỌNG

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT I, MÙA VỌNG, Năm A
Ngay khi dựng nên Ađam và Evà, Thiên Chúa đã ban cho hai ông bà Đất : “Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Êđen, ở phiá đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra. Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác. Một con sông từ Eđen chảy ra tưới khu vườn…Đức Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Eđen, để cày cấy và canh giữ đất đai”. Đức Chúa là Thiên Chúa truyền lệnh cho con người rằng : “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn ; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,8-17). Và Ađam, Evà sống hạnh phúc trên đất Thiên Chúa ban. “Ađam gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt… Cả hai trần truồng mà không xấu hổ trước mặt nhau” (St 24-25).   
Sách Sáng Thế cho chúng ta hình ảnh địa đàng, đất hạnh phúc mà Thiên Chúa ban cho con người, ở đó, con người có mọi sự, nhất là có tình yêu Thiên Chúa và tình yêu đồng loại. Họ được an vui, sung sướng và không chút vướng víu phiền muộn bởi mặc cảm, hay tội lỗi, bởi họ trong trắng, hồn nhiên trên Đất của Thiên Chúa.
Nhưng rồi Đất hạnh phúc “bị nguyền rủa vì ngươi, ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi mới kiếm được miếng ăn từ đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất” (St 3,17-19).
Vâng, tai hoạ đã ập đến trên đất người, sau khi Ađam, Evà bất tuân lệnh Thiên Chúa ăn trái cây biết điều thiện điều ác mà Thiên Chúa cấm (x. St 3,6) : địa đàng bị lấy lại, đất lành biến thành đất dữ và cả hai thấy mình trần truồng phải kết lá làm khố che thân (x. St 3,7), họ không dám giáp mặt Thiên Chúa, nhưng lẩn trốn Ngài (x. St 3,8-9), và bị trục xuất ra khỏi vườn hạnh phúc (x. St 3,24).
Qủa thực, chỉ một hình ảnh thấy mình trần truồng và xấu hổ kết lá làm khố che thân cũng đã đủ nói lên những mất mát kinh khủng và tận cùng của ông bà nguyên tổ sau khi phạm tội. Ông bà đã mất hết, và một trong những cái mất quan trọng chính là mất Đất sống, mất Đất lành, mất Đất tình yêu, mất Đất hoan lạc, mất Đất hạnh phúc, mất Đất bình an, mất Đất mà Thiên Chúa chúc phúc và đặt con người vào ở. Mất Đất của Thiên Chúa, con người trở thành vô gia cư, vì không đất ở khi sống, không nơi an nghỉ khi theo đất trở về .
Nhưng Thiên Chúa là Thiên Chúa “giầu lòng thương xót” sẽ làm “từ gốc tổ Giesê đâm ra một nhánh nhỏ, từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non. Thần khí Đức Chúa sẽ ngự trên vị này… Sẽ không còn tai ác và tàn phá trên khắp núi thánh, vì sự hiểu biết Đức Chúa sẽ tràn ngập đất này, cũng như nước lấp đầy lòng biển” (Is 11,1-2.9). Với lòng bao dung, tha thứ, Thiên Chúa sẽ cho “dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước lũ lượt kéo nhau đi mà rằng : Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Giacóp, để Người dạy ta biết đường lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ” (Is 2,2-3). Và mọi người nhận ra : “Ơn phù trợ đến từ Đức Chúa là Đấng dựng nên cả đất trời” (Tv 121,2). 
Trước ánh sáng của niềm hy vọng được thương xót, thánh Phaolô đã đặt cho tín hữu Rôma câu hỏi : “Anh em biết chúng ta đang ở thời nào không ?”, và ngài khẳng định : “Đã đến lúc  anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia” (Rm 13,11).
Ngày ấy đã gần khi Thiên Chúa trả lại Đất hứa cho con người, và ban cho nhân loại Đấng Cứu Thế, bởi trong lòng thương xót vô bờ bến, “sự sa ngã của Ađam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người” (Rm 5,15). Ngài sẽ ban cho nhân loại trở nên công chính, nghiã là được sống và sống đời đời (x. Rm 5,18-20) trên Đất, và trong Nhà của Thiên Chúa, như ngôn sứ Giêrêmia đã tiên báo : “Thành sẽ được dựng nên trên nơi phế tích, dinh thự sẽ tọa lạc trên chính chỗ xưa. Từ các nơi ấy sẽ vọng ra lời cảm tạ và tiếng reo mừng… Con cái nó sẽ lại được như xưa, và cộng đoàn của nó sẽ đứng vững trước nhan Ta” (Gr 30,18-20).
Và cũng như thời Nôe, vào ngày cứu độ, Thiên Chúa tẩy sạch tội lỗi và thực hiện một sáng tạo mới, như thánh Gioan đã viết trong sách Khải Huyền : “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to : “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người là Thiên Chúa - ở - cùng - họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết ; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,1-4).
Họ đây chính là “những người có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5,3), nghèo khó để làm giầu hạnh phúc của đồng loại, nghèo khó để không ai chung quanh họ phải khổ vì nghèo, phải nhục nhằn, tủi phận vì túng thiếu ; họ đây là “những ai hiền lành” (Mt 5,4), hiền lành như Chiên Thiên Chúa, để cùng Thiên Chúa gánh tội trần gian, cùng Thiên Chúa mang lấy hết bệnh hoạn, tật nguyền của nhân loại, hiền lành để không ai sống gần họ bị từ bỏ, bị ruồng rẫy, hay bị lên án, khai trừ như Thiên Chúa  bao dung, rộng lượng luôn yêu thương, đón nhận mọi người ; họ là “những người bị bách hại vì sống công chính” (Mt 5,10) để trở thành tiếng nói của người không tiếng nói, nơi ẩn náu an toàn của người cô qủa, vô gia cư, bị truy lùng, và chính họ sẽ nhận đuợc “Đất hứa làm gia nghiệp” (Mt 5,4), “Nước Trời là sở hữu” (Mt 5,3), và vương quốc Thiên Chúa là nơi cư ngụ.
Vâng, Mùa Vọng đến với niềm hy vọng tìm lại Đất hứa đã mất, gặp lại địa đàng đã từ đó bị đuổi ra, và niềm hy vọng ấy chỉ trở thành sự thật khi Thiên Chúa từ trời cao đến cư ngụ trên đất đã bị chúc dữ, nguyền rủa, và ở lại trên đất ấy với con người.
Vì thế, mầu nhiệm Nhập Thể cũng chính là mầu nhiệm Nhập Thế, khi “Thiên Chúa làm người” xuống trên đất này, ở giữa thế giới này, cư ngụ ngay trong nhà của những con người tội lỗi này để yêu thương, chữa lành, cứu chuộc. Với “Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng tôi”, đất đã bị nguyền rủa, chúc dữ xưa, nay được tẩy rửa để nên đất mới, đất lành, đất sinh mầm ơn cứu rỗi. Với Thiên Chúa đến và cắm lều cư ngụ trên đất của con người, từ nay con người không còn sợ bị Thiên Chúa xua đuổi, trục xuất (x.St 3,24), cũng không như Cain bị Thiên Chúa qưở trách : “Từ dưới đất, tiếng máu của em ngươi đang kêu lên Ta. Giờ đây ngươi bị nguyền rủa bởi chính đất đã từng há miệng hút lấy máu em ngươi, do tay ngươi đổ ra” (St 4,10-11), và Cain cay đắng thở than : “Hình phạt dành cho con qúa nặng, không thể mang nổi. Đây, hôm nay, Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất, và bất cứ ai gặp con sẽ giết con” (St 4,13-15).
Mùa vọng về với niềm hy vọng “đất người” được đón Thiên Chúa đến “làm người và cư ngụ giữa loài người”, để đất người cằn khô được ơn Cứu Độ tưới mát, đất chết chóc được trở nên “đất hứa”, “một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất chảy sữa và mật ong” (Xh 3,8), đất sinh gai góc tội lỗi được trở thành vườn nho tuyệt vời (x. Mt 20,1-16), và đất hoang, không sự sống trở thành đồng cỏ xanh tươi có dòng nước trong lành (x. Tv 23), nhà của con người có Thiên Chúa, nhà của Thiên Chúa ở giữa con người (x. Ga 1,11.14).   
     Jorathe Nắng Tím

ĐƯỜNG HY VỌNG

    Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG VỌNG, Năm A
Không ai vào đời mà không đi trên đường đời, bởi đời là những con đường, những lối ngõ chằng chịt, đan dệt thành cuộc đời mỗi người. Sở dĩ đường đời đan dệt thành cuộc đời, vì số phận cuộc đời mỗi người hệ tại ở những bước chân đi : có những bước chân sai lạc vì giận dữ, rủ em ra ngoài đồng để giết chết em của Cain đã làm cuộc đời tan nát vì bị nguyền rủa (x. St 4,1-16) ; có những bước chân yêu mến vâng phục “rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12,1) của Ápraham để “ngươi sẽ thành một dân lớn, tên tuổi ngươi được lừng lẫy và ngươi sẽ là một mối phúc lành” (St 12,2).
Như thế, quyết định đi đâu, đi trên con đường nào là việc của mỗi người, bởi chọn một con đường, chọn một hướng đi, chọn một lối về hoàn toàn thuộc quyền tự do của mỗi người, và ai nấy tự mình trách nhiệm trên chọn lựa ấy.
Vì tự do chọn và tự trách nhiệm trên chọn lựa, mà con đường được chọn của mỗi người trở nên tương lai, số phận của họ. Và vì là số phận, nên việc chọn một con đường, chọn một hướng đi luôn là việc hệ trọng, lôi kéo sự quan tâm của Thiên Chúa, vì Ngài yêu thương con cái Ngài đang lạc lõng, hay dong duổi trên các lối ngõ đường đời.
Kinh Thánh cho chúng ta biết : “con đường ác nhân khác nào ngõ tối, chúng không biết mình sẽ vấp vào đâu” (Cn 4, 19), những con đường của “kẻ hả hê khi làm điều ác, thích thú khi làm điều tồi tệ xấu xa. Đường chúng đi đầy uẩn khúc, lối chúng về thật quanh co” (Cn 2,14-15), “nhà nó ở nghiêng về cõi chết, lối nó đi dẫn tới các âm hồn. Kẻ theo nó rồi, không hề trở lại, chẳng ai tìm được đường về cõi sống” (Cn 2,18-19). “Vậy mà chúng chẳng hay chẳng hiểu, cứ bước đi giữa tăm tối, mịt mù” (Tv 82,5), “đường chúng đi trở nên trơn trượt ; chúng bị đẩy vào nơi tăm tối và té nhào trong đó. Vì Ta sẽ khiến tai họa ập xuống trên chúng” (Gr 23,12).
Sở dĩ con đường ác nhân là con đường tai họa, dẫn đến sự chết, vì đó là con đường chống lại Thiên Chúa, đi ngược lại thánh ý của Thiên Chúa như ngôn sứ  Xôphônia đã tuyên báo : “Chúng sẽ bị Ta vây hãm, và sẽ bước đi như những kẻ mù, vì đã đắc tội với Đức Chúa. Máu chúng sẽ đổ ra chan hoà, và thịt chúng rữa ra như rác rưởi” (Xp 1,17), hoặc như sách Đệ Nhị Luật đã ghi lại lời nguyền rủa của Đức Chúa đối với người không nghe tiếng Chúa và  không đi trên đường của Ngài : “Đức Chúa sẽ làm cho anh em bị điên khùng, mù loà, loạn trí. Anh em sẽ mò mẫm giữa trưa, như người mù mò mẫm trong bóng tối, và sẽ không thấy đường mà đi” (Đnl 28,28-29).
Từ nay, ánh sáng và con đường gắn liền nhau, bởi đường tăm tối, đường không đèn, đường không ánh sáng, người đi đường sẽ dễ vấp ngã như Tin Mừng Mátthêu đã viết về những người Pharisêu kiêu căng, cứng lòng : “Cứ để mặc họ. Họ là những nngười mù dắt người mù. Mù mà lại dắt mù. Cả hai sẽ lăn cù xuống hố” (Mt 15,14) 
Nhưng ánh sáng không soi đường, chỉ lối cho những ai chối bỏ ánh sáng, như Tin Mừng Gioan đã khẳng định : “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã chuộng bóng tối hơn ánh sáng, vì các việc họ làm đều xấu xa. Qủa thật, ai làm điều ác thì ghét ánh sáng, và không đến cùng ánh sáng, để các việc họ làm khỏi bị chê trách. Nhưng kẻ sống theo sự thật thì đến cùng ánh sáng, để thiên hạ thấy rõ : các việc người ấy đã đươc thực hiện trong Thiên Chúa” (Ga 3,19-21) ; cũng như Tin Mừng Luca đã reo mừng ánh sáng : “Thiên Chúa ta đầy lòng trắc ẩn, cho Vầng Đông tự chốn cao vời viếng thăm ta, soi sáng những ai ngồi trong tăm tối và trong bóng tử thần, dẫn ta bước vào đường nẻo bình an.” (Lc 1, 78-79).             
Mùa Vọng đem về Lời Hứa ánh sáng của Thiên Chúa, để đường đời trở thành đường hy vọng ; để không một ai đi trên đường mà bị vấp ngã, lọt hố, rơi vào nơi chết chóc, kể cả kẻ mù loà như ngôn sứ Isaia đã nói : “Ta dẫn người mù tối qua những lối chưa tường, trên nẻo đường mới lạ, sẽ dìu họ bước đi. Ta biến đổi bóng tối thành ánh sáng soi họ, và uốn khúc gập ghềnh thành quan lộ thẳng băng” (Is 42,16).
Với Lời Hứa mở ra con đường Hy Vọng cho muôn dân, Đức Giêsu là con đường hy vọng đến trong thế gian để dẫn nhân loại mù loà đang bước đi trong tối tăm đến hoan lạc, bình an của sự thật, tình yêu và sự sống. Ngài chính là con đường Thiên Chúa đi, con đường của Thiên Chúa, vì chính Ngài là “Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14,6), đế ai nấy đều sẽ phấn khởi thốt lên : “Bấy giờ con sẽ hiểu thế nào là công bình, thế nào là chính trực công minh : đó là đường đưa tới hạnh phúc” (Cn 2,9).
Mùa Vọng về, mở ra một trời hy vọng cho khách lữ hành trên đường hy vọng được Thiên Chúa đến thăm. Ngài là Đấng Thánh của Thiên Chúa, thánh thiện vì bao dung, nhân hậu, giầu lòng thương xót, “Người sẽ không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không phán quyết theo lời người khác nói, nhưng xét xử công minh cho người thấp cổ bé miệng, và phán quyết vô tư bênh kẻ nghèo trong xứ sở” (Is 11,3-4) ; Ngài chúc phúc cho những ai hiền lành, khiêm nhu, hay chạnh lòng thương xót, những người vất vả, nghèo đói, sầu khổ, khóc lóc, bị vu khống, bách hại trên đường đời và hứa ban cho họ Đất Hứa, Nước Trời làm gia nghiệp (x. Mt 5,3.4.5.7.11).
Mùa Vọng về, mang đến từng tâm hồn niềm hy vọng  của “đường về yêu thương” có Cha Nhân Hậu là Thiên Chúa vẫn ngàn đời trung tín trong tình cha ; vẫn ngọt ngào xót thương, tha thứ ; vẫn giầu có, hào sảng với đứa con hoang đàng, một thời bất hiếu, phản phúc, vô ơn (x. Lc 15,11-32).
Mùa Vọng về, mở ra con đường hy vọng, trên đó, Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” cùng đi với mỗi người, bởi chính Ngài là Đường của Thiên Chúa cho nhân loại : đường tự do, đường công chính, đường ân sủng, đường ánh sáng, đường yêu thương, đường tha thứ, đường sự thật, đường bình an, đường hạnh phúc, đường  cứu độ, đường về sự sống đời đời.
Và để niềm Hy Vọng Cứu Độ được thực hiện trên mọi nẻo đường đời, và “để mọi người sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa” (Lc 3,6), Mùa Vọng mời gọi chúng ta  cùng với thánh Gioan Tiền Hô : “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mt 3,3), để mọi thung lũng gian tham, bất chính phải lấp cho đầy, mọi núi đồi kiêu căng, thủ đọan phải bạt cho thấp, mọi khúc quanh co gian dối phải uốn cho ngay, và đường lồi lõm thị phi, đố kị phải san cho phẳng (x. Lc 3,5).
Ước gì đường đời chúng ta đi mãi mãi là Đường Hy Vọng, Đường của Thiên Chúa, Nguồn Hy Vọng Cứu Độ của chúng ta.  
     Jorathe Nắng Tím     
     

Thứ Tư, 20 tháng 11, 2019

Khi Tội Ác Trở Thành Bình Thường

“Bình thường” được hiểu như tình trạng hợp tình, hợp lý, nhất là hợp pháp, hợp luật, hợp lề thói, khuôn khổ. Khi nói em bé sinh ra bình thường, lớn lên đi học bình thường, thi cử bình thường, sinh hoạt bình thường là người ta muốn nói về một cuộc sống đạt chuẩn mực nhân văn, một nếp sống hài hoà, đúng mức, đáp ứng đòi hỏi, quy ước của xã hội, và góp phần làm cho xã hội tốt đẹp, hạnh phúc hơn.
Hiểu như thế, đời sống bình thường được tạo nên bởi những việc bình thường không còn là bình thường kiểu không có gì đáng nói, không có gì đáng kể, không có gì đáng nhớ, không có gì đáng lo, không có gì phải bận tâm, suy nghĩ, nặng lòng. Trái lại, bình thường từ đây mang một giá trị vừa nhân văn vừa đạo đức không thể xem nhẹ, coi thường, và càng không được phép loại bỏ bao lâu con người còn ý thức nghĩa vụ sống xứng đáng nhân phẩm, và tìm đạt hạnh phúc như nhu cầu của đời làm người.
Vì thế, khi con người chấp nhận là bình thường những điều không thể được coi là bình thường đối với quy luật làm người, hoặc biến thành bình thường những việc trái ngược luân lý, đạo đức, lẽ phải thì sự thật bình thường phải được tôn trọng nay sẽ bị hãm hiếp ; sự sống bình thường không thể bị tấn công nay sẽ bị đe dọa ; trật tự, kỷ cương bình thường phải được tuân giữ nay sẽ bị tháo gỡ, và an bình, hạnh phúc bình thường là giá trị mọi người khát khao tìm kiếm nay sẽ bị hủy bỏ, triệt tiêu.
Thực tế đã chứng minh tai họa khủng khiếp cho hôm nay và tai ương khó tránh cho ngày mai, nếu hiện tượng “bình thường hoá” những ý nghĩ, lời nói, việc làm không bao giờ được phép trở nên bình thường trong sinh hoạt xã hội loài người.
Đúng vậy, nếu lương tâm không còn được lên tiếng và được lắng nghe như một đòi hỏi luân lý, nhưng tốt xấu, thiện ác, lành dữ, công tội, tất cả bị trộn lẫn, cào bằng, và các hành vi xấu xa, ác độc, hung dữ, tội lỗi bỗng chốc được coi là bình thường thì quả thực con người đã lạc đường, lạc hướng vì đánh mất ý thức tội lỗi như ánh sáng của ngọn hải đăng cho tầu thuyền cập bến ; nếu chồng vì giận và trả thù vợ đã nhẫn tâm dìm chết hai con thơ dưới biển, rồi lạnh lùng báo tin cho vợ chỗ giấu xác con, cũng như anh lớn chỉ vì vài tấc đất đã biến gia đình em út thành lò sát sinh ngập máu khi trời vừa sáng, thì còn tìm được ở đâu an toàn và hạnh phúc vốn rất bình thường của gia đình ? Nếu những màn “xử đẹp” hung bạo của nhóm nữ sinh cấp hai khi điên cuồng, man rợ kéo tóc, lột xé quần áo, cào nát mặt mũi, đấm đá khắp thân thể một bạn cùng lớp chỉ vì bạn này đã vô ý cười tình với bồ của một bạn trong nhóm, và sự kiện không bình thường ấy lại được hầu hết coi là bình thường, thì ôi thôi, tương lai đất nước sẽ biết đặt vào tay ai ? Nếu đang lái xe trong thành phố, giữa “thanh thiên bạch nhật” mà dây chuyền bị giật, nhẫn cưới bị lột theo cánh tay đứt rời loang máu do hai sát thủ trẻ tuổi, mà đám đông đến nay vẫn coi là chuyện bình thường, không có gì phải ầm ĩ thì quả thực chẳng còn gì để đợi chờ ở thế hệ trẻ của đất nước này.
Nếu em bé không còn được hồn nhiên chạy nhẩy trong sân nhà, vì ba mẹ sợ kẻ gian bắt cóc đem đi bán thận, và người già không còn dám ở nhà một mình, vì sợ lâm cảnh “cướp của giết người”, mà dư luận vẫn bình thản xếp vào chuyện bình thường, thì hỏi sao niềm tin giữa người với người không tuột dốc, băng hoại, và hy vọng một cuộc sống hạnh phúc trong công lý, hoà bình không trở thành ảo tưởng, phù phiếm ? Nếu đi đến đâu hay ở đâu cũng phải đối đầu với thực phẩm độc hại, trái cây chích hoá chất để làm lớn, giữ mầu, thịt cá ươn thối được ngâm trong thuốc tẩy làm tươi, mà dân gian vẫn cho là chuyện bình thường thì than ôi, hỏi sao toàn dân không ung thư, “sơ gan cổ chướng”, yếu đuối, bạc nhược ? Nếu trên dưới, ngang dọc, trong ngoài đều một bài tham ô, hối lộ, một giuộc cửa quyền, bóc lột, một kiểu phe nhóm lợi ích, một chiêu gian dối, lừa lọc, mà mọi người vẫn thấy bình thường, thì hỏi sao lòng người không còn trong, tâm người không còn lành, tay người không còn sạch, mắt người không còn sáng ? Nếu mua gì cũng sợ đồ giả, gặp gỡ ai cũng sợ người gian, làm việc gì cũng sợ bị sa lưới, sập bẫy, mà ai nấy vẫn coi là bình thường, thì hỏi sao càng ngày người ta càng “ăn không ngon, ngủ không yên” ? Và nếu danh bạ toàn thể tội ác đủ loại, đủ cỡ được coi là danh sách kê khai bình thường không còn đủ sức làm giật mình hay đánh thức lương tri, cũng như những hành dộng bạo lực xâm hại con người, làm tổn thương nhân phẩm, sự sống không còn kéo chú ý, thu hút mọi người quan tâm, thì chúng ta không thể nhắm mắt trốn chạy một sự thực phũ phàng, đó là xã hội chúng ta sống đang cận kề vực thẳm bất hạnh, lâm nguy.
Nhưng tại sao tội ác lại có thể được coi là bình thường dễ dàng đến thế ? Tại sao dù biết là tội ác mà nhiều người cũng cứ chấp nhận một cách bình thường đến ngạc nhiên như vậy ?
Người ta dễ dàng coi tội ác là bình thường vì nghĩ tội ác có thể đem lại hạnh phúc khi chỉ sử dụng tội ác như phương tiện, và không gây thiệt hại trực tiếp cho ai. Cũng có thể tội ác được biến thành bình thường khi tội ác được coi là phương án cuối cùng để thoát khỏi đường cùng, khi mức ác của tội tự động được chủ thể giảm bớt, làm nhẹ, mà không quy chiếu vào một nguyên tắc đạo đức, luân lý nào.
Sau cùng, tội ác được coi là chuyện bình thường khi lương tâm bị ích kỷ bịt miệng, trái tim bị “ganh ăn tức ở” bóp chết, chân tay bị tham lam vô đáy, và dục vọng vô độ trói chặt, để con người luân lý bị tê liệt, con người đạo đức bị hủy diệt, con người tử tế bị loại trừ, con người văn hoá, nhân văn bị tẩy chay. Và một xã hội ở đó luân lý, đạo đức không có mặt, người tử tế, có văn hoá, nhân văn không còn chỗ đứng, ảnh hưởng, thì tội ác đương nhiên được coi là bình thường và nghiễm nhiên chiếm cứ mọi sinh hoạt đời thường, để xã hội loài người trở thành một chiến trường tang thương, một thương trường độc ác, một tình trường dối trá, phản bội dọn đường cho bước chân bất thường của hỏa ngục trong thế giới loài người bất hạnh, đáng thương.
 Ước mong mỗi người sẽ giật mình tỉnh thức để không quên : tội ác sẽ mãi là tội ác và trái của tội ác sẽ ngàn đời đắng đót, độc hại, để cùng nhau chặn đứng bước chân tai họa, hủy diệt của tội ác bằng từ chối coi tội ác là chuyện bình thường trong sinh hoạt đời thường.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 19 tháng 11, 2019

Văn Hoá Tích Cực

Tích cực hay tiêu cực là hai hướng, hai thái độ, hai tính cách, hai gam mầu khác nhau mà người ta chọn cho mình trong sinh hoạt cuộc sống từ tư duy, thao thức, ước mơ đến cử chỉ, hành động.
Cùng một vấn đề, người chọn hướng tích cực sẽ mở ra thông thoáng, bung ra xa rộng, trong khi người đứng về phía tiêu cực sẽ đóng khoá, thắt chặt. Cùng một sự kiện, người có thái độ tích cực sẽ đón nhận nhẹ nhàng, đơn sơ, dễ dàng, đang khi tiêu cực nhận chìm, nhấn sâu, làm cho gay go, khúc mắc. Cùng một hoàn cảnh, người mang tính cách tích cực sẽ cởi mở, lạc quan, khác người tiêu cực bi quan, ngần ngại. Trước cùng một con người, với cùng tương quan, người chọn sắc thái tích cực sẽ niềm nở, ân cần, chân thành, cảm thông, cộng tác, trái lại, người chọn gam tiêu cực lại ngờ vực, nghi nan, chần chừ, thu mình dè dặt, phê phán. Những khác biệt trên làm cho hai bên tích cực và tiêu cực không thể đi chung đường, về chung hướng, vì không cùng mẫu số chung.
Trong cuộc sống, người tích cực luôn vượt trội, vì tự thân, tích cực đã là bệ phóng với xác xuất thành công cao. Tích cực đem lại cơ hội thuận tiện, tốt đẹp cho các tương quan, đồng thời là thửa đất mầu mỡ cho hạt giống may mắn nẩy mầm. Khác với người tiêu cực có khuynh hướng nhìn đời bằng mắt kiếng xám đen, đánh giá mọi việc bằng thước đo chi li, tính toán, nhận định mọi người bằng “bới lông tìm vết”, và thường quan tâm đến những khuyết điểm, lỗi lầm của người khác, người tích cực nhìn xa thấy rộng, nhân nghĩa, tử tế và cao thượng, bao dung.
Cũng chính vì thế mà người tiêu cực không bao giờ hài lòng về cuộc đời, với
người đời và sự đời. Họ cũng khó hài lòng với chính mình, vì chung quanh xem ra chẳng có ai, chẳng sự gì mang đến cho họ niềm vui và tin tưởng.
Quả thực, sống với người tiêu cực, ta khó có thể thăng tiến, vì “nhất cử nhất động” đều bị phê bình, chỉ trích, và điều này làm ta mất tinh thần, nhụt nhuệ khí. Ở gần người tiêu cực, sáng kiến của ta khó có cơ may thực hiện, phát huy, vì thường bị bóp chết từ trong trứng nước, do ý kiến “bàn ra, chủ bại” của họ. Hợp tác với người tiêu cực, ta không dễ vượt qua những thách đố, vì trước khi đối mặt với khó khăn, thử thách, ta đã nao núng trước những bế tắc do họ bầy ra. Chia sẻ với người tiêu cực, tiên thiên ta sẽ nhận từ họ lời khuyên nên bỏ cuộc, đầu hàng. Và như thế, đời sẽ chỉ còn là một bi kịch, một ao nước tù ngầu đục, và một trời vô vọng, giông bão.
Sở dĩ cuộc sống ngày càng trở nên nặng nề, khó cam, nhiều áp lực là vì cuộc đời ngày càng bị tô đen, làm tối bởi những người tiêu cực. Tuy không làm tổn thương thân xác ai, nhưng tính tiêu cực của họ làm sa sút tinh thần, băng hoại nhiệt huyết của những con người thiện chí, nhưng tài năng còn non trẻ đang chập chững vào đời, bởi đang khi cần được tích cực nâng đỡ, tích cực phát huy bằng tất cả những gì tích cực thì vô phúc chạm mặt với những tiêu cực nghiệt ngã.
Ngoài ra, tiêu cực còn lấy đi cơ hội đổi mới, cải thiện nơi những con người đang cố đứng lên, tìm dường về từ thất bại, lầm lỗi. Hơn ai hết, những con người này, vì mong manh, dễ vỡ do bị tổn thương trầm trọng sẽ nhiều lần cần những đầu óc tích cực, những trái tim tích cực, những bàn tay tích cực để có thể vượt qua khó khăn, thách đố lắm lúc tưởng như vượt sức người có hạn.
Sau cùng, tinh thần tích cực còn là hành vi nhân ái của con người vị tha, bác ái, khi biết nhìn vào những điểm son, điều tốt, việc làm cao quý, và những giá trị được che giấu nhưng không thể bỏ quên của người khác, thay vì xét nét, tìm tòi, đào bới những khuyết điểm, tội lụy của họ. Chọn lựa tích cực cũng còn là nét đẹp của tâm hồn cao thượng khi biết ưu tiên làm nổi bật những đức tính đáng yêu, những việc làm đáng quý của người chung quanh, mà không nhỏ nhen lên án những vết nám nhỏ nhoi, không nhỏ mọn soi bói những thiếu sót nhỏ nhặt.
Tóm lại, văn hoá tích cực là văn hoá xây dựng, vun trồng, ở đó tất cả mọi người được thăng tiến. Nhờ văn hoá này mà nhiều phận người tưởng bèo bọt giạt trôi đã an bình về bến ; nhiều kiếp sống tưởng đánh mất ngày mai đã vươn xa, đi tới ; nhiều số phận tưởng chìm sâu tuyệt vọng đã đứng lên, trỗi dậy ; nhiều con người tưởng đã chẳng còn gì nay tìm lại tất cả.
Và mãi mãi, cuộc sống cần tinh thần tích cực, hướng đi tích cực, tư duy tích cực, chọn lựa tích cực, hành động tích cực của những con người tích cực.
Jorathe Nắng Tím

VĂN HOÁ DỄ THƯƠNG

Dễ thương là hạnh phúc lớn nhất của người được yêu và đang yêu, vì chỉ người biết mình được yêu rất nhiều mới biết mình dễ thương, và chỉ người đang yêu rất nhiều mới hiểu giá trị vời vợi của hạnh phúc dễ thương với mọi người.
Vì thế khi say nắng, có mấy tình nhân, nhân tình đã không dễ thương với nhau ? Và khi nồng nàn, cháy bỏng, chẳng đôi lứa nào đã hạnh phúc bên nhau mà thiếu lửa dễ thương.
Qủa thực, cái làm cho chúng ta dễ thương không phải là danh phận, chức quyền, của cải, vị thế xã hội, ngược lại, chính những cái vừa kể lại là nguyên nhân làm chúng ta trở nên dễ ghét, khó thương, bởi có chút danh phận thì dễ kiêu căng, lố bịch ; tanh tanh mùi quyền thì dễ phách lối, khinh người ; lờm lợm vinh hoa thì dễ sang chảnh, hợm hĩnh, để rồi dễ thương bị cắt xén, loại bỏ không tiếc thương.
Trong đời thường, biết bao người khi gặp lại, ta ngỡ ngàng, hụt hẫng khi nhận ra họ không còn dễ thương như ngày nào, không còn dễ thương như ngày xưa, và ở họ, dễ thương chỉ còn là chuyện qúa khứ, kỷ niệm của ngày đó qua rồi, hình ảnh nhạt phai của ngày ấy rất xa xôi, chứ hôm nay thì ôi thôi, khó thương có hạng, dễ ghét có bằng cấp. Và như thế, dễ thương chỉ có thể có trong trái tim yêu thương, ở con người biết mình đang được yêu thương.
Bởi trái tim có yêu thương, cái nhìn mới trong sáng dễ thương ; trái tim có chất ngất yêu thương, nụ cười mới tươi thắm dễ thương ; trái tim có chan hoà yêu thương, lời nói mới thân thiện dễ thương ; trái tim có rộn rã yêu thương, thái độ mới dễ thương hào sảng. Bởi có biết mình được yêu thương, tim óc mới rạng rỡ dễ thương, thái độ, cử chỉ mới ân tình dễ thương, và cuộc đời mới dễ thương tuyệt vời.  
Thực ra, không ai sống mà có thể từ chối yêu, hay không để mình được yêu bởi người khác, vì tình yêu tuy ít ai học để thấu đáo, ít ai nghiên cứu để biết phải yêu thế nào, thương làm sao, nhưng không vì thế mà người ta tránh được sức mạnh luôn điều khiển, chi phối, ảnh hưởng trên mọi sinh hoạt đời người của tình yêu, bởi một lý do đơn giản nhưng căn bản, đó là con người được sinh ra từ tình yêu để không ngừng khao khát yêu và được yêu, như đòi hỏi và điều kiện tất yếu để hạnh phúc. Vì thế, dù có tất cả, nắm giữ tất cả, cai quản tất cả, làm nên tất cả, nhưng không yêu và không được yêu, người ta vẫn thấy mình thiếu thốn, khốn nạn, bất hạnh, vô phúc. 
Nếu tình yêu quan trọng và cần thiết cho con người và đời sống đến mức độ không thể thiếu, thì chẳng ai có thể tự cho mình là người không yêu thương ai, và cũng không thể nói : chẳng được thương yêu bởi người nào. Ý nghĩ này qủa không tưởng, và là sản phẩm chính hiệu của ảo tưởng và kiêu căng, bởi tất cả mọi người tuy ít nhiều, cách này hay cách khác đều yêu và được yêu. Vấn đề là đã không biết mình yêu và được yêu, hoặc không công bằng, lương thiện nhận mình đang yêu và được yêu.
Vâng, không ai không yêu thương và không được thương yêu, vì tình yêu là quà tặng vĩ đại của Thượng Đế dành cho mọi người, và là kho tàng hạnh phúc tuyệt vời con người toàn quyền sử dụng và có khả năng trao tặng nhau, nên từ khước, chối bỏ tình yêu mình đang có, đang nhận, cũng như nhắm mắt, lạnh lùng làm lơ trước tình yêu mình nên trao dâng và tình yêu mình được nhận lãnh thiết tưởng là hành vi đánh mất mình trầm trọng và rất tội nghiệp, đáng thương.
Nhận ra mình đang yêu và được yêu, biết mình đang thương và được thương không những là điều kiện để sống hạnh phúc, mà còn là lý do để mình dễ thương với chính mình là người đang yêu thương, và dễ thương với mọi người là những người đang yêu thương mình. Với ý thức tình yêu, chúng ta sẽ  hồn nhiên dễ thương với người thấp kém, bé nhỏ, yếu đuối hơn chúng ta, vì tình yêu đích thực mang nặng cảm thương và biết chạnh lòng ; với cảm thức tinh tế của người đang yêu, chúng ta đơn sơ dễ thương với những người cần đến mình, vì tình yêu chính danh mang theo lòng tốt, tình nhân loại ; với niềm vui dạt dào của người được yêu thương, chúng ta đằm thắm nhưng qủa cảm dễ thương với những người không mấy thiện cảm với mình, vì cây tình yêu qúy hiếm chỉ  cho đời những bông hoa tuyệt đẹp, tuyệt xinh khi được chăm bẵm bằng qủang đại, bao dung ; và với hạnh phúc được mãi mãi yêu thương, chúng ta ân cần dễ thương với những người mà một đời ơn sâu, nghiã nặng, vì tình yêu đậm đà, sâu lắng niềm tri ân.
Mến chúc bạn luôn gặp trên đường đời những con người dễ thương, vì không gì hạnh phúc hơn được đồng hành với những bạn đường dễ thương. Chung đường bên đôi chân dễ thương của những con người dễ thương, đường đời sẽ bớt mệt nhọc, truân chuyên, chuyện đời sẽ bớt khó khăn, căng thẳng, và việc đời sẽ bớt nặng nề, nhiêu khê.
Nhưng để ước mơ được chắc chắn  thực hiện, tôi với bạn, chúng ta cũng không ngừng cố gắng trở nên những bạn đường dễ thương, những con người dễ thương với tâm tình dễ thương, ngôn từ dễ thương, nụ cười dễ thương, ánh mắt dễ thương, cử chỉ dễ thương, nếp sống dễ thương, và cả một đời dễ thương khi không ngừng ý thức : tôi đang rất yêu và rất được yêu.
Jorathe Nắng Tím   

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2019

CÁI CHẾT VÀ NỖI SỢ HÃI

  
Tháng mười một, mùa thu.
    Mùa của những cơn mưa rả rích với bầu trời giăng đầy mây xám.
    Tháng kính nhớ các linh hồn với đủ sắc màu của hoa cúc tô điểm, xoá tan sự lạnh lẽo các nghĩa trang.
    Nhưng bên cạnh vẻ đẹp quyến rũ của mùa thu với hoa cúc, lãng mạn nên thơ với lá vàng rơi rụng, mùa thu cũng là mùa có nhiều người ra đi hơn so với các mùa khác trong năm.
    Cũng không thoát được vòng xoay khắc nghiệt của thời gian, mùa thu năm nay tôi phải đối diện với sự ra đi của một người bạn chí thân từ thời niên thiếu.
    Bạn tôi mắc căn bệnh ung thư từ hơn bốn năm nay. Bốn năm kiên trì chống chọi với bệnh tật, chịu đựng nhiều đau đớn thể xác, đương đầu với những cơn khủng hoảng tâm lý vì tuyệt vọng. Bốn năm với những đợt hoá trị nóng cháy người, những lần thử máu đến cạn kiệt sức lực. Bốn năm đối đầu với những cơn nôn thốc tháo vì ảnh hưởng của thuốc... Cuối cùng cơ thể bé nhỏ nhưng đầy can đảm và nghị lực của bạn tôi cũng đành bất lực đầu hàng căn bệnh quái ác dường như đang thao túng hoành hành mọi lúc, mọi nơi.
   Vào bệnh viện, nhìn bạn tôi nằm trên giường giăng kín những đường truyền nước biển, dây thở oxy, máy móc chung quanh, cơ thể gần như không còn sức sống... tôi không khỏi chạnh lòng. Thương bạn tôi, thương thân phận người mỏng dòn như cánh hoa sớm nở tối tàn, thương cho kiếp người mong manh trước vô thường của cuộc sống .
    Sau những câu chào thăm, hỏi han, hai chúng tôi chỉ biết yên lặng nhìn nhau. Mọi ngôn từ dường như vô nghĩa, không một lời nào có thể diễn đạt được ý nghĩ của chúng tôi trong lúc này, lúc mà ranh giới của sự sống và cái chết đang rất mơ hồ mong manh, lúc mà chia xa đang đến rất gần chúng tôi.
    Rồi bỗng dưng bạn tôi đưa bàn tay gầy guộc nắm lấy tay tôi và bật khóc. Tiếng khóc không thành lời nhưng đã lột tả được tận cùng của nỗi sợ hãi. Sợ vì biết cái chết đang đến gần mà không sao tránh được. Sợ vì sắp phải xa hết mọi người thân yêu để đi đến một nơi vô định không biết trước. Sợ vì chuyến đi đơn độc không người đồng hành, không biết điểm đến. Sợ vì không biết những gì đang đợi mình ở phía trước. Sợ vì không biết rồi mình sẽ ra sao, về đâu ở thế giới bên kia...
    Thật là khủng khiếp khi phải đối diện với những nỗi sợ hãi trước chuyến đi cuối cùng của cuộc đời. Và tôi thấy thương bạn tôi vô cùng.
    Rời bệnh viện trên đường về tôi lại nhận được tin một người bạn thân khác bên nhà cũng không khỏe. Lại nhớ đến những lời nói của chồng tôi cách đây mấy ngày : “Anh có cảm tưởng mình sắp chết, không còn sống lâu...” Tôi lại giật mình sợ hãi. Một nỗi sợ khác với nỗi sợ của bạn tôi nhưng cũng không kém phần nặng nề, kinh khủng.
    Tôi thật sự sợ hãi khi nghĩ đến ngày phải lần lượt chứng kiến sự ra đi của những người thân yêu. Rồi tôi sẽ phải sống ra sao khi không còn người thân bên cạnh? Tôi sợ nỗi cô đơn hiu quạnh khi vắng bóng người thân. Tôi sợ một mình trước khó khăn bế tắc của cuộc sống mà không người chia sẻ.
Tôi thấy sợ cho viễn cảnh đơn độc một mình trên đời, một mình sau này ra đi.
    Vậy hoá ra cái chết không chỉ mang sợ hãi đến cho người ra đi mà còn là nỗi sợ của cả người ở lại.
    Trước sự sợ hãi mà cái chết mang đến cho cả hai phía người đi kẻ ở, tôi chợt thấy mình cần phải gấp rút thay đổi.
    Thật vậy, thời gian không còn nhiều và vô thường thì luôn hiện hữu nên tôi thấy cần trao yêu thương nhiều hơn cho người thân, cần trân quý hơn những giờ phút bên nhau. Tranh giành, hơn thua, được mất có mang được gì khi đối diện với cái chết? Giận hờn, ganh ghét, trách móc còn có giá trị gì khi phải ra đi ? Khoảng cách của sự sống và cái chết chỉ có thể được nối gần nhau qua yêu thương, được rút ngắn lại qua sự tử tế chân tình trao nhau.
    Ngoài đường lá vàng vẫn tiếp tục rơi rụng như bạn tôi rồi cũng phải ra đi nhưng bầu trời hôm nay điểm chút nắng cho tôi niềm hy vọng với yêu thương đong đầy, để chúng tôi, kẻ ở người đi, sẽ không còn cảm thấy sợ hãi trước sự chia xa của cái chết.
    Cầu mong bạn tôi ra đi bình an, tôi cũng hy vọng mình sẽ an bình ra đi sau khi đã sống trọn vẹn yêu thương với mọi người.
Mây Tím

ĐỨC GIÊSU, VUA NHÂN HẬU

                                      Suy Niệm TIN MỪNG LỄ ĐỨC GIÊSU KITÔ, VUA VŨ TRỤ - CHÚA NHẬT XXXIV, Năm C             
Cao cả hơn mọi người, quyền thế hơn mọi người, giầu sang hơn mọi người thì chỉ có vua. Làm vua thì muốn gì có nấy, muốn bao nhiêu cũng được, đòi bao nhiêu thần dân cũng phải cung phụng dư thừa, nên ai cũng thích làm vua, cũng mơ được làm công chúa, hoàng tử, có thân thế hoàng gia để đời mình được bao phủ bằng tất cả những gì mình muốn.
Nhưng  điều mơ ước thầm kín của con người, cái con người cặm cụi, mầy mò tìm kiếm hơn cả trong giấc mơ làm vua, chính là quyền lực để thống trị người khác và được người khác phục vụ. Nó luôn là khao khát cháy bỏng nơi mỗi người như Đức Giêsu đã có lần khẳng định : Anh em biết : thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy : Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em. Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mt 20,25-28).
Qủa thực, Đức Giêsu là Vua toàn thể nhân loại, Vua toàn thể vũ trụ, Vua cả vương quốc Thiên Đàng, vì Ngài là Thiên Chúa, Đấng sẽ ngự đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên thần theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người… như Đức Giêsu đã mặc khải khi nói về Cuộc Phán Xét chung (Mt 25,31), nhưng Ngài không làm vua theo kiểu thế gian, không làm vua như giấc mơ phàm tục của con người, không làm vua để hà hiếp, bóc lột, gian tham, hưởng thụ, nhưng hoàn toàn ngược lại những gì con người háo hức tìm kiếm, khát khao mong đợi.    
Khi khẳng định : Con Người đến để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người (Mt 20,28), Vua Giêsu đã cho chúng ta, là thần dân của Ngài biết rõ Ngài làm vua thế nào, đường lối cai trị và mục tiêu của Ngài ra sao.
1.   Ngài là Vua nhân hậu :
Hoàn toàn khác các vị vua ở thế gian, Đức Giêsu đã đến trong thế gian để trở thành vị vua nhân hậu : nhân hậu với trẻ em, khi bảo các tông đồ : Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng vì Nước Trời là của những ai giống như chúng ( Mt 19,14) ; nhân hậu với những người đau yếu, bệnh tật, khi ân cần an ủi, chữa lành họ, như ngôn sứ Isaia đã tiên báo về Ngài : Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta (Mt 8,16-17) ; nhân hậu với những người bị qủy ám và xua đuổi ma qủy ra khỏi họ (x. Mt 8,28-34) ; nhân hậu với những người tội lỗi bị xã hội tẩy chay, và đến dùng bữa với họ, vì Tôi không  đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi (x. Mt 9,10-13) ; nhân hậu với những người ngoại đạo khi làm phép lạ chữa thân nhân họ và công khai tuyên dương đức tin của họ : Tôi không thấy một người Ítraen nào có lòng tin như thế (Mt 8,10) ; nhân hậu với người đàn bà ngoại tình bị bắt qủa tang và cứu sống chị khỏi bị ném đá theo Luật Môsê, mà không một lời trách móc, miệt thị, nguyền rủa, nhưng dễ thương, tế nhị : Tôi không lên án chị đâu ! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa ! (Ga 8,11) ; nhân hậu với bà goá đang đau khổ vì con trai duy nhất vừa mất, khi cho con bà sống lại trên đường đem chôn (x. Lc 7,11-16) ; nhân hậu với con người luôn bị cám dỗ, khi chấp nhận vào sa mạc để bị cám dỗ như con người (x. Mt 4, 1-11) ; nhân hậu với những mảnh đời mục đồng nghèo khổ, cơ hàn phải sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật (Lc 2,8) khi chọn hang lừa, máng cỏ Bêlem làm nơi hạ sinh để họ được là những người đầu tiên gặp Emmanuel - Thiên Chúa làm người và ở cùng chúng ta ; nhân hậu với đôi tân hôn giữa tiệc cưới chẳng may hết rượu, và làm phép lạ cho sáu chum nước lã biến thành sáu chum rượu ngon (x. Ga 2,1-11) ; nhân hậu với cậu con trai hoang đàng, tội lụy khi chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để khi chợt trông thấy anh ta còn ở đằng xa (Lc 15,20) ; nhân hậu cả với đối phương, kẻ thù khi xin Chúa Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm (Lc 23,34), và dậy bảo các tông đồ : Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,43) ; nhân hậu với những ai sầu khổ, khóc lóc, bị hàm oan, bách hại, bị đời o ép, xử tệ, bất công, và hứa Nước Trời và phần thưởng vô cùng lớn lao trên thiên đàng cho họ (x. Mt 5,3-12) ; nhân hậu với đám đông đang đói vì khao khát lắng nghe Tin Mừng và làm phép lạ hoá bánh ra nhiều cho họ no nê (x. Mt 15,32-38), nhân hậu với dân chúng Do Thái khi thốt lên : Đã bao lần Ta muốn tập hợp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập hợp đàn con dưới cánh, mà các ngươi không chịu”. (Mt 23,37).  
Thực vậy, Đức Giêsu đã mặc khải Ngài là Vua khi nhắc lại cho những người Pharisêu lời của vua Đavít nói về Ngài, khi được Thần Khí soi sáng : Đức Chúa phán cùng Chúa Thượng tôi : bên hữu Cha đây, Con lên ngự trị, để rồi bao thù địch, Cha sẽ đặt dưới chân Con, và Ngài cắt nghiã thêm cho họ : Vậy nếu vua Đavít gọi Đấng Kitô là Chúa Thượng, thì làm sao Đấng Kitô lại là con vua ấy được ? (x. Mt 22,41-45). Nhưng Ngài không là Vua theo kiểu thế gian, mà là Vua nhân hậu ngồi trên lưng lừa con tiến vào Đền Thờ như lời ngôn sứ đã báo trước : Hãy bảo thiếu nữ Sion ; kià Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi. Người hiền hậu ngồi trên lưng lừa, lưng lừa con, là con của một con vật chở đồ (Mt 21,4).
2.   Đường lối của vua Giêsu là Khiêm Nhường và Thương Xót :
Dù là Thiên Chúa, là Vua, nhưng Ngài đã chọn đường lối trút bỏ hết vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên phàm nhân, sống như người trần thế. Người còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự (Pl 2,7-8) ; Ngài khiêm nhường qùy xuống rửa chân cho con người, dù Ngài là Thiên Chúa (x. Ga 13,1-5) ; Ngài khiêm nhường trước Thượng Hội Đồng Do Thái (x. Lc 22,66-71), trước toà án Philatô và Hêrôđê (x. Lc 23,2-12) ; Ngài khiêm nhường khi bị nhục mạ trên đường Thánh Giá : Hắn đã cứu người khác, thì cứu lấy mình đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa (Lc 23,35), và suốt đời đã khiêm nhường từ thời khắc nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria cho đến giây phút cuối cùng của đời làm người khi lớn tiếng kêu Lậy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha (Lc 23,46).
Bên cạnh Khiêm Nhường là Lòng Thương Xót, đó là hai chân đi trên đường cai trị của Vua Giêsu. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1). Yêu vô cùng và yêu đến cùng là đặc tính của tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa không yêu nửa chừng, yêu thời vụ, yêu nhất thời, yêu mây bay, qua đường, nhưng yêu đến cùng. Tình yêu đến cùng ấy cũng là tình yêu không bao giờ dời đổi, sút giảm, thay biến, nghiã là lúc nào cũng đầy tràn, nồng nàn, bao la, chứa chan, vô cùng, tuyệt đối. Hãy nhìn người cha nhân hậu đã không hề thay đổi tình yêu dành cho cậu con thứ hoang đàng. Trước khi cậu đòi chia của, bỏ nhà đi hoang, cho đến khi cậu trở về với thân tàn ma dại, người cha Thiên Chúa ấy vẫn một tình yêu thương, một lòng thương xót, một mực bao dung, cho dù đã có bao lời dèm pha, thị phi, phê bình ông nhu nhược, và xúi ông từ con, không cho cậu vào nhà.
Thực vậy, Đức Vua Giêsu đã khiêm nhường để có thể thương xót hết mọi người chẳng trừ ai, nên bất cứ ai xin Ngài thương xót đều đã được Ngài xót thương. Tin Mừng là dung mạo khiêm nhường và thương xót của Đức Giêsu, Vua nhân hậu, ở đó, chúng ta nhận ra đường lối cai trị trong vương quốc của Ngài. Dụ ngôn tên đầy tớ mắc nợ không có lòng thương xót đã vẽ lên hình ảnh của Đức Vua nhân hậu, giầu lòng thương xót, đã chạnh lòng  thương và tha luôn cho tên đầy tớ món nợ khổng lồ mười ngàn yến vàng, khi anh ta sấp mình xin Đức Vua thương xót. Và đòi hỏi của Đức Vua với người đầy tớ được thương xót  ấy cũng chỉ là lòng thương xót anh phải có đối với anh em mình (x ; Mt 18,23-35), như Đức Giêsu đã tuyên bố trong Hiến Chương Nước Trời : Phúc cho ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương (Mt 5,7).
3.   Mục tiêu của Vua Giêsu là hiến mạng sống để cứu chuộc nhân loại :
Không đọạn Tin Mừng nào đã làm nổi bật sứ vụ của Đức Giêsu trong thế gian bằng Tin Mừng Gioan, chương 10, với hình ảnh sống động Mục Tử nhân lành :
Tôi là cửa cho chiên ra vào… Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ… Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào (Ga 10,7-10). Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên (Ga 10,11).
Là Vua và là Đấng Cứu Độ, Đức Giêsu ngay từ buổi đầu đời mục vụ đã được giới thiệu là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian (Ga 1,29), vì mục tiêu phải đạt của Ngài là cứu chuộc mọi người bằng giá máu và mạng sống của mình, cho dù có lúc Ngài đã phải rùng mình khiếp sợ đến toát mồ hôi máu, trước giờ lên đường chịu khổ hình và chết tức tưởi trên Thánh Giá (x. Lc 22,42-44).
Vâng, Đức Giêsu chính là Vua, nhưng là Vua nhân hậu, cai trị bằng đường lối Khiêm Nhường và Thương Xót để đạt mục tiêu Cứu Chuộc muôn người khỏi chết đời đời, và được làm con Thiên Chúa. Chính vì Vua Giêsu không cao sang, kiêu kỳ, hống hách ; đi đâu không ngưạ xe, cờ quạt, trống kèn hoành tráng ; đến đâu không quân dân rầm rộ phủ phục, bái chào ; ở đâu không cung điện nguy nga, thê thiếp, tùy tùng, kẻ hầu người hạ ; làm gì cũng không ồn ào, inh ỏi, long trời lở đất, nên không mấy người đã nhận ra Ngài là Đức Vua, bằng chứng là ngay giây phút Đức Giêsu nhân hậu, khiêm nhường, và giầu lòng thương xót chiến thắng Thần Chết, chiến thắng ma qủy và hoàn thành công trình Cứu Chuộc toàn thể nhân loại cũng không mấy người nhận ra Ngài là Thiên Chúa, Vua muôn vua, Chúa các Chúa để tôn thờ, cảm tạ, vinh danh, trái lại, đám đông chỉ thấy Đức Vua ấy là tên tử tội bị đóng đinh trần truồng và chết tức tưởi ô nhục như tội nhân trên thập tự, ngoại trừ người gian phi cùng chịu đóng đinh bên phải, đã nhận ra Ngài là Vua và đã tha thiết xin Ngài : Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !. Và  Đức Giêsu, Vua nhân hậu, khiêm nhường, giầu lòng thương xót đã thân tình, âu yếm trả lời anh : Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng (Lc 23,43).       
Lậy Chúa Giêsu, xin cũng thương xót chúng con và cho chúng con được vào Nước Chúa như người gian phi trên thập giá ở giờ chết đã nhận ra Chúa là Vua nhân hậu, giầu lòng xót thương !
Jorathe Nắng Tím

BÊN GIƯỜNG NGƯỜI SẮP QUA ĐỜI

Bên giường người bạn những ngày cuối cùng của đời người, sau hơn bốn năm chống chọi với căn bệnh ung thư, tôi phần nào cảm được nỗi sợ ở người biết mình sắp giã từ cuộc đời, người đời để vĩnh viễn ra đi, không bao giờ trở lại. Trong nỗi sợ của người sắp ra đi ấy, tôi nhận ra nỗi sợ của chính mình…
Tôi nhận ra mình sợ đau trong nhăn nhó, quằn quại của bạn tôi mỗi lần ngưng thuốc giảm đau. Nhìn bạn toát mồ hôi hột, co dúm người, rên xiết van xin y tá tăng liều lượng morphine, mà chân tay tôi bủn rủn vì sợ. Tôi nhận ra mình sợ xa người thân, khi thấy bạn tôi  nghẹn ngào, hai giòng lệ chảy dài, mỗi lần vợ con, bạn hữu ghé thăm, và đau đớn giấu mặt  nức nở khi người thân tạm biệt ra về. Tôi nhận ra mình sợ bị bỏ rơi, quên lãng, khi bạn tôi thèm được người đến thăm nắm chặt bàn tay, hay âu yếm xoa nhẹ đôi bàn chân gầy xơ xác, trắng bệch. Tôi nhận ra mình sợ khoảng không chơi vơi, trống trải không điểm tựa, không trụ bám, khi đôi mắt vô hồn của bạn tôi  bâng quơ  lạc lõng như ở một cõi vô định nào đó vô cùng xa xôi. Tôi nhận ra mình sợ  bị trừng phạt, khi toàn thân bạn tôi  run rẩy sợ hãi và miệng ú ớ hốt hoảng đến thảm thương. Tôi nhận ra mình sợ tan biến vào hư vô, khi đôi mắt  hoắm sâu, vàng vọc, thất thần của bạn tôi  lạnh lùng và cay đắng quét dài trên thân xác tàn tạ, cạn kiệt sức sống của chính mình. Tôi nhận ra mình sợ thần chết nham nhở và tàn nhẫn với lưỡi hái sắc nhọn đã chực sẵn ở đầu giường, khi đôi bàn tay bạn tôi cứ quờ qụang tìm đường trốn chạy.
Vâng, bên giường bạn tôi ở những ngày sau cùng của một  đời người, tôi thực sự biết sợ, khi tận mắt nhìn bạn tôi sợ : sợ đau, sợ bị bỏ rơi, sợ bị trừng phạt, sợ chơi vơi, sợ  bị tan biến,  sợ sẽ vỡ vụn, sợ đi vào hủy diệt, hư vô …
                                                                          ***
Rồi bạn tôi chết… Những ngày bên xác bạn, tôi miên man nghĩ về một ngày đến phiên mình chết. Tuy sợ, rất sợ, nhưng tôi liều một phen đối diện với cái chết, trực diện với thần chết và tự đặt mình vào tình huống của giờ chết, với mục đích tìm cho mình cách thế nào để bớt sợ, bớt hốt hoảng, bớt kinh hoàng, bớt khủng khiếp khi đến phiên mình hấp hối, lâm chung.  
Nhưng dù đã  khó nhọc tìm kiếm trong kho tàng tri thức của nhân loại, tôi cũng không gặp được bí quyết nào để chết mà không sợ, chết mà không lo, chết mà không hoang mang, hãi hùng,  mà chỉ thấy và bị ám ảnh mãi những gì tôi đã thấy ở bạn tôi trước giờ chết : cô đơn và bất lực. Tôi sẽ như bạn tôi cô đơn, vì không ai chịu chia sẻ với tôi cái chết, không ai chịu chết theo tôi cho có bầu có bạn trên đường vào cõi chết chưa một lần khám phá, tham quan ; tôi sẽ như bạn tôi bất lực, vì không còn làm chủ được bất cứ sự gì trong tôi, thuộc về tôi, liên quan đến tôi, nhưng nhắm mắt, xuôi tay, xương cốt rã rời, hơi thở vội vã, sự sống hối hả tàn lụi. Bên cạnh cô đơn và bất lực của chính mình là bất lực toàn phần của toàn thể thế giới loài người trước cái chết của tôi, bởi không ai có thể  kéo dài  thêm  cho tôi một giây sự sống, không người nào có thể thay đổi số phận  phải chết của tôi, và không quyền lực trần gian nào có thể cứu tôi ra khỏi sự chết.
Chính trong bế tắc tuyệt vọng của tư duy về sự chết, tôi nhận ra mình chỉ còn duy nhất một khả thể là bám víu vào Thượng Đế toàn năng với niềm hy vọng không bị trừng phạt, và tiêu diệt.
Niềm tin lúc này với tôi qủa thực không còn là mê tín, thừa thãi, ấu trĩ, hoang đường, vì chỉ còn lại niềm tin mới  cứu tôi ra khỏi hãi hùng, kinh sợ ; chỉ niềm tin mới cho tôi an lòng ; chỉ niềm tin mới ban cho tôi niềm hy vọng, bởi chính mắt tôi đã thấy người sắp chết không bám víu, nương tựa được vào ai, vì không ai còn là bến bờ hy vọng, thành quách an toàn, nơi nương náu chở che bảo đảm , do luật lệ nghiệt ngã của sự chết là mỗi người phải ra đi một mình, không hành trang, không sức vóc, không tài năng, không của cải, không quyền lực, không bạn đường, không người hướng đạo. Niềm tin với tôi  bỗng dưng không còn là đồ trang sức xa xỉ, phụ tùng rẻ tiền, nhưng thiết yếu đến độ nếu không tin, tôi không thể sống nổi vì qúa sợ chết, không còn bình an để làm việc vì cảnh tượng hấp hối bi thương ám ảnh nặng nề, và tôi nhận ra  tôi chỉ còn duy nhất một Đấng Chủ Tạo đã cho tôi vào đời, làm người là nơi tôi phải đặt trọn niềm tin.
Tôi thấy mình có quyền đặt niềm tin ở Ngài, vì chỉ mình Ngài mới có thể cứu tôi, và tôi tin rằng chính Đấng ấy sẽ gọi tôi ra khỏi cuộc đời, đi vào một thế giới khác cũng thuộc về Ngài, qua ngưỡng cửa sự chết, như Ngài đã gọi tôi vào cuộc đời, trong thế giới thuộc về Ngài mà tôi đang sống, qua ngưỡng cửa sự sống. Lý trí tự nhiên và suy luận hợp lý cho phép tôi tin rằng : phải có một Đấng toàn năng đã cho tôi vào đời làm người, và suốt cuộc đời, Đấng ấy đã gìn giữ tôi để tôi được tồn tại, nên tôi cũng có quyền và được thúc bách tin rằng : cũng chính Ngài sẽ dắt tôi đến tận cùng của hành trình dương thế để vào một cuộc sống khác, cũng do Ngài sắp xếp, chuẩn bị, bởi Ngài là Thượng Đế, là Đấng Tạo Dựng mà tôi trực giác thấy : luôn yêu thương mọi loài Ngài đã dựng nên và cho chúng hạnh phúc trọn vẹn và tương lai tốt đẹp, ngời sáng. Cũng lý trí và trực giác, tôi nhận ra Ngài là Thượng Đế của Tình Yêu đã tạo dựng  vũ trụ và con người vì yêu thương, để tất cả mọi loài được sinh ra từ tình Ngài yêu thương sẽ được trở về với Ngài là nguồn yêu thương tuyệt đối.
Một khi đã nhận ra Ngài là Yêu Thương tuyệt đối, Yêu Thương vô cùng, Yêu Thương đời đời trung tín, tôi sẽ nhận ra một chân lý khác là chính Ngài sẽ bảo đảm cho giờ chết của tôi, nói cách khác, tôi tìm thấy nơi Ngài bảo đảm vững chắc cho tôi không sợ khi giờ chết đến, không phải run rẩy khi phải lìa đời, không chút hoang mang, tuyệt vọng khi phải cô đơn, bất lực bỏ mọi sự, mọi người đi vào cõi chết, bởi  có Ngài, tôi sẽ không cô đơn, bất lực ; có Ngài tôi sẽ không đi vào cõi chết chơi vơi, hư vô ;  có Ngài là Tình Yêu, tôi sẽ không bị  xua đuổi, trừng phạt, hủy diệt đời đời.  
Vâng, tôi không thể  được sinh ra bởi một Đấng toàn năng, mà lại cô đơn, bất lực đi vào cõi chết mà không có Ngài ; tôi không thể được sinh ra bởi Đấng là tình yêu, mà phải cô quạnh, lầm lũi đi vào vùng hủy diệt, bởi tình yêu luôn bất tử và sức mạnh của tình yêu là sự sống lại và sự sống miên trường, vĩnh cửu ; tôi cũng không thể bị bỏ rơi, quên lãng, hay bị trừng phạt dễ dàng bởi Đấng dựng nên tôi và yêu thương tôi, bởi tôi tin đời tôi cũng như đời của mọi người không thể là ngẫu nhiên vô nghiã trước một Thượng Đế có tên là Tình Yêu. Và như thế, lý trí tự nó đã cho phép tôi nhận ra cái vô lý của lo sợ, và phi lý của tuyệt vọng ở giờ chết, vì tin rằng Đấng tạo dựng nên tôi toàn năng và yêu thương sẽ không thể bỏ rơi thụ tạo thuộc về mình ở giờ vượt qua sự chết đi vào cõi sống đời đời, như đã cho nó được vượt qua cát bụi hư vô để làm người trong thế giới hôm nay. Lý trí còn khuyến khích tôi chẳng nên qúa lo sợ khi giờ chết đến, bởi chết không là đối thủ ngang cơ, ngang hàng, ngang tầm của Thượng Đế ; chết không phải đối thủ đáng ngại của Thượng Đế, nhưng chết nằm trong tay Thượng Đế, bởi chính Ngài sắp xếp và định đọat thời điểm gọi mỗi người về với Ngài, vì tất cả thuộc về Ngài, và sự sống, sự chết của tất cả  đều nằm trong trái tim và bàn tay yêu thương, quan phòng của Ngài.  
Tuy thế tôi đã chỉ yên lòng, vững dạ, khi nhận ra một chân lý cuối cùng rất quan trọng, đúng hơn là đòi hỏi mang tính định mệnh bảo đảm giờ mình sẽ chết, đó là thái độ và việc làm yêu thương trong cuộc sống.
Sở dĩ, tôi cần phải yêu thương để không phải run rẩy, sợ hãi ở giờ chết, bởi vào giờ sau cùng ấy, ngoài vốn liếng tình yêu đã suốt đời chắt chiu, gom góp , chẳng hành trang nào được xem là đáng giá ; ngoài sự nghiệp yêu thương đã tần tảo suốt đời xây dựng, không kho tàng nào có cửa được gọi tên, định giá ; ngoài yêu thương được tận tụy gieo vãi, vun trồng, tuyệt nhiên không một công trạng, thành qủa nào được ghi nhận ; ngoài tình yêu suốt đời cần mẫn đan dệt, không trang phục nào được xem là xứng đáng để được mời vào đại yến tiệc đời sau ; ngoài Tình Yêu như dấu hiệu duy nhất để được Thượng Đế nhận ra là con cái, không một đồng phục, huy hiệu, huân chương, lon lá nào được chứng thực ; ngoài Tình Yêu như tiếng nói còn lại duy nhất khi miệng lưỡi cứng đơ, thân xác lạnh lẽo khi linh hồn lià khỏi xác, không tuyên ngôn nẩy lửa, hoặc  mỹ từ lộng lẫy, hùng hồn nào có khả năng vang vọng ; ngoài Tình Yêu là thông hành bắt buộc ở  ngưỡng cửa vào vương quốc Thiên Đàng, không một bằng cấp, chứng chỉ, chứng minh thư, giấy giới thiệu nào có giá trị ; ngoài Tình Yêu là cán cân tội phúc, không đơn vị hay phương tiện  đo lường nào được công nhận ở giờ phân xử công minh, bởi không lúc nào đức công minh của Thượng Đế được thể hiện trọn vẹn ở giờ chết, khi tất cả mọi người, bất luận nam nữ, sang hèn, giầu nghèo, đẹp xấu, giỏi giang, ngu si, qúy tộc, thứ dân, ông chủ, đầy tớ đều chung nhau một mẫu số Tình Yêu như quà tặng qúy giá và như bổn phận phải thực hiện.
Như quà tặng qúy giá, vì mỗi người đều nhận như nhau, bằng nhau tình yêu từ Thượng Đế ; như bổn phận phải thực hiện, vì khả năng yêu thương được ban đồng đều cho mọi nguời để yêu thương tha nhân trở thành đòi hỏi duy nhất của Thượng Đế ở mỗi người. Do đó, không ai được miễn trừ vinh dự, quyền lợi và nghiã vụ Yêu Thương, vì yêu thương làm con người nên giống Thượng Đế, để con người nhận ra Thượng Đế là Cha, và Thượng Đế nhận ra con người là con, đồng thời mọi người nhận ra nhau là anh em cùng được sinh ra, cùng được  yêu thương, cùng được gọi về bởi một Cha để chung một nguồn Yêu Thương, chung một mái ấm hạnh phúc , chung một cung lòng yêu thương của Thượng Đế, mà từ đó mỗi người đã được sinh ra, vào đời.
Từ những ngày cuối đời của bạn tôi đến ngày đưa tiễn bạn về với đất, tôi đi từ cảm nhận sợ hãi  trước cái chết đến niềm tin ở Thượng Đế, và nhận ra điều Ngài muốn tôi thực hiện trong cuộc sống để khi phải đến trước ngưỡng cửa của sự chết, như nhịp cầu cần thiết đi vào thế giới của sự sống mới, tôi sẽ không phải lo âu, sợ hãi, hoang mang, tuyệt vọng. Và tôi hiểu : điều tối cần thiết tôi phải làm ngay bây giờ là tập sống yêu thương mỗi ngày, tập ý thức lẽ sống yêu thương từng ngày, vì con  người được sinh vào đời để yêu thương, như lòng mong ước của Thượng Đế, nên nếu kiên trì đồng hành mỗi ngày với yêu thương, cái chết có bất ngờ đến, bước đi tới cũng vẫn là những bước chân yêu thương trên hành trình cuộc sống. Và khi yêu thương có mặt, Thượng Đế sẽ không vắng bóng, bởi đâu có yêu thương, ở đấy có Thượng Đế, và khi có Thượng Đế, tôi tin sẽ chẳng có gì làm con người phải qúa khiếp sợ, kinh hãi ở giờ tử biệt”.
Sở dĩ không phải quá khiếp sợ, vì khi tập sống yêu thương hằng ngày, nghiã là sống yêu thương từng phút giây của hiện tại ; là tập thân thiện đón nhận hết mọi người tôi gặp gỡ mỗi ngày ; là quảng đại chia sẻ những gì tôi có từ tâm tình, thời gian đến khả năng, vật chất ; là bao dung bỏ qua, cho chìm xuống những bất công, mâu thuẫn, đối kháng, và tổn thương tinh thần cũng như vật chất người khác gây ra cho tôi; là thao thức, khắc khoải lo cho tương lai và hạnh phúc của mọi người, bắt đầu từ những người thân yêu tôi có trách nhiệm ; là hết tình, hết mình cộng tác với mọi người trong việc xây dựng một xã hội công bình, nhân ái ; là khiêm tốn dấn thân chung vai sát cánh với những người thiện chí trong công tác phục vụ những anh chị em bất hạnh, kém may mắn ; là hào sảng, hồn nhiên, chân thành và trung tín trong mọi tương quan để tâm hồn luôn trong sáng, lương tâm luôn ngay thẳng hầu trở thành sứ giả Bình An cho mọi người.
Vì thế, sống yêu thương ở giây phút hiện tại là tất cả những gì Thượng Đế mong đợi ở mỗi người, vì trước mặt Ngài, chỉ hiện tại là đáng kể, vì là thời gian duy nhất con người có trong tay để biểu hiện tình yêu đối với Ngài và với anh em đồng loại, vì quá khứ đã qua, và ngày mai chưa tới. Sống yêu thương ngay giây phút hiện tại là việc làm không chỉ bao gồm lòng trân qúy Tình Yêu như qùa tặng của Thượng Đế, nhiệt tình chu toàn bổn phận yêu thương của con người, mà còn là thái độ chân thành  tạ tội, sám hối, ăn năn lầm lỗi. Sống yêu thương ngay lúc này và ở đây còn là bằng chứng của trái tim đầy thiện chí muốn nên tốt hơn, tử tế hơn, đạo hạnh hơn mỗi ngày như đòi hỏi của sự thánh thiện. Sống yêu thương hôm nay, với hết mọi người, kể cả với người không dễ thương, nhưng dễ ghét, với người biết hết mọi sự trừ biết điều, với người không quen hy sinh vì người khác, mà chỉ  sành sỏi hy sinh người khác vì mình, tôi sẽ thấm thiá giá trị cứu chuộc, ý nghiã cứu rỗi, sức mạnh cứu độ của bài học tình yêu mà Đức Giêsu đã dậy nhân loại :
Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ? … Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện (Mt 5,44-46.48).
Vâng, nhờ được ở bên cạnh những ngày cuối đời, và chứng kiến sự ra đi của người bạn rất trân qúy, tôi đã hiểu ra : chỉ có tình yêu được sống mỗi ngày, và hiện thực từng ngày, đặc biệt tình yêu bao dung, tha thứ, tôi mới tìm lại được Bình An trong chính Đấng đã cho tôi vào đời và sẽ lấy tôi ra khỏi đời theo chương trình yêu thương của Ngài, mà chương trình yêu thương thì bao giờ cũng mang lại kết qủa an bình, hạnh phúc.
     Với niềm tín thác ở Thượng Đế là Tình Yêu bất diệt và trung tín, cùng với nỗ lực liên lỷ yêu thương  từng ngày, chắc chắn nỗi sợ chết trong tôi sẽ dần dà nguôi ngoai, phai nhạt, vì được thay thế bằng niềm hy vọng được bảo chứng, khi tôi xác tín và năng thầm nhủ : Sống hay chết, mình vẫn cố yêu thương. 
Jorathe Nắng Tím