Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 25 tháng 12, 2019

MÁI NHÀ NGÀY XUÂN


Những năm tháng còn bé, ở nhà với cha mẹ, không ai nghĩ đến hạnh phúc được ở nhà, có nhà, về nhà, nhưng khi lớn khôn vào đời, rồi bôn ba, phiêu bạt đó đây, người ta mới hiểu thế nào là hạnh phúc có được mái nhà, niềm vui được ở nhà với mẹ cha, và nỗi nhớ  nhà quay quắt những ngày đầu năm, Tết đến.
Qủa thế, không người con nào quên được nhà mình vào dịp đầu xuân : nhà mình rộn ràng, xôn xao những ngày trước Tết ; nhà mình được sơn phết, dọn dẹp, trang hoàng ; nhà mình sân trước vườn sau gọn gàng, sạch sẽ ; nhà mình khói hương ngào ngạt bàn thờ tổ tiên ; nhà mình ấm cúng chuyện trò bên nồi bánh chưng, bánh tét ; nhà mình mai, đào rực rỡ, hoa trái xum xuê ; nhà mình khấp khởi mong ngóng anh trai, chị gái từ xa về ; nhà mình rộn rã tiếng cười và chất ngất hạnh phúc đoàn tụ, yêu thương .
Chẳng thế mà cứ mỗi độ Xuân về, người xa quê lại chạnh lòng nhớ quê, người đi xa tìm về mái ấm, người tha hương thổn thức niềm thương nỗi nhớ mái nhà xưa, làng quê cũ, với gốc tre, bụi chuối, khóm trúc, luống khoai, rặng dừa. Và nhớ hơn cả là hình bóng ông bà, cha mẹ đã khuất với rất nhiều kỷ niệm ấm êm những năm tháng được sống với ông bà, cha mẹ.
Như bất cứ người con nào, chúng ta gắn bó với nhà mẹ cha, vì ở đây, chúng ta được sinh ra và nuôi lớn ; ở đây chúng ta được học làm người và từ đây chúng ta bước chân vào cuộc đời sau nhiều năm được chuẩn bị kỹ lưỡng, nên trách làm sao được, khi đứa con bị người ta đuổi ra khỏi nhà cha mẹ mình đã uất ức, điên cuồng phản ứng dữ dội ; khi cả nhà lăn lộn, hoảng lọan vì bị cưỡng chế ra khỏi nhà, trước khi nhà bị giật sập, san bằng theo lệnh quy họach. Cũng thế, không ai đã không khỏi ngậm ngùi, tiếc xót khi bất đắc dĩ phải bán nhà mẹ cha, miễn cưỡng phải chia năm xẻ bẩy mái ấm gia đình, bắt buộc phải để người xa lạ chiếm cứ, phá rỡ ngôi nhà tổ vô cùng qúy báu, thân thương.
Vâng, nhà cha mẹ, còn gọi là nhà tổ thực là một kho báu qúy giá mà không gì có thể mua được, đối với những đứa con có tâm hồn, và hiếu thảo. Sở dĩ phải có tâm hồn, vì ở vào cái thời thực dụng tận chân răng này, thì cha mẹ chưa chết, con cái đã nhao nhao đòi bán nhà chia của, hay ngọt ngào dụ dỗ cha mẹ nhường nhà đang ở, để những đứa con tham lam “chia năm xẻ bẩy” mái ấm, nhà tổ. Đây là sự thực đáng buồn ngày ngày xẩy ra trong xã hội hôm nay, bởi nhan nhản  những cha mẹ già chỉ ao ước được nhắm mắt trong ngôi nhà của mình đã tạo nên bằng mồ hôi nước mắt, thế mà cũng không được toại nguyện, vì những đứa con không có tâm hồn và bất hiếu của thời đại  thực dụng.
Vì thế, giữ được nhà tổ, giữ được mái ấm của cha mẹ đã xây dựng không còn là việc dễ làm và chuyện dễ có hôm nay nữa, bởi tiền của đã trở thành yếu tố quyết định, vượt xa giá trị gia đình, cũng như tương quan giữa các thành viên trong gia đình không còn mang tính thiêng liêng, bất khả xâm phạm, khi cha mẹ không còn được yêu kính, phụng dưỡng hết lòng, anh lớn không còn được em út yêu mến, vâng phục, và trật tự, nề nếp, gia phong bị đảo lộn, hủy hoại một cách khủng khiếp và tận gốc rễ. Những thảm cảnh tội ác gia đình như anh giết em, con hãm hại mẹ, cháu xiết cổ ông bà đến tắt thở, mà báo chí hằng ngày phải ngao ngán đăng tải là bằng chứng cho tình trạng xuống dốc của gia đình và số phận hẩm hiu của Mái Nhà.   
Nhưng không có mái nhà để nhớ, không còn mái nhà để ước mơ trở về, không nhà tổ để niềm hy vọng một ngày được sống lại kỷ niệm ấu thơ, niên thiếu trong chính nơi mình đã được sinh ra, được ẵm bế yêu thương, được chăm nom, dạy dỗ, nhất là được thở làn khí năm xưa của cha mẹ một đời tận tụy, hy sinh vì đàn con thơ dại, được hít hà mùi hương dịu dàng của cây mận “cổ thụ” gần giếng phiá sau nhà do chính tay mẹ trồng, được trèo lên cây xoài do tay cha chăm bẵm, và nhắm mắt tưởng nhớ tình cha ngọt ngào, những người con vô phúc xa nhà, xa quê cảm thấy hụt hẫng, chênh vênh, như thiếu vắng một cái gì quan trọng lắm trong cuộc đời mình.  
Không có mái nhà để nhớ, không còn mái nhà để thờ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người con xa xứ, xa quê sẽ buồn lắm mỗi độ Xuân về, vì Xuân găn liền với Nhà, Xuân không thể “không nhà”, Xuân chỉ rực rỡ, rộn ràng, nao nức, khấp khởi, vui tươi, hạnh phúc khi Xuân có Nhà, Xuân có người nhà, Xuân đón người đi xa về nhà, Xuân ngóng đợi người nhà ở xa, Xuân quây quần, tụ họp mọi người trong nhà. Không có nhà, Xuân bất hạnh vì thiếu tình cha, tình mẹ ; không còn nhà, Xuân thất thểu vì không bến đỗ bình yên ; không được ở trong nhà, Xuân cô đơn, lạc lõng ; không được vào nhà, Xuân ngậm ngùi, nức nở phận lang thang.   
Hôm nay Xuân về, là người con xa xứ, con kính cẩn cúi mình trước Chúa Xuân, là niềm vui của mọi người !
Xin Chúa Xuân ban cho dân con “Mái Nhà Quê Hương, Dân Tộc” an bình, cho mọi gia đình có mái  ấm yêu thương, cho cha mẹ già an nhàn trong nhà mình, cho con cái, cháu chắt quây quần, xum họp quanh ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, cậu mợ, anh chị em dưới mái nhà tổ an vui. Và con thiết tha xin Chúa Xuân ban hơi ấm mùa Xuân, và tình Xuân hy vọng cho tất cả những ai không nhà, vì bất cứ lý do nào.
Jorathe Nắng Tím
        

THÁNH GIUSE TRONG GIA ĐÌNH THÁNH

Mỗi lần chiêm ngắm Gia Đình của Đức Giêsu, chúng ta không khỏi ngạc nhiên về thánh Giuse, khuôn mặt quan trọng của Thánh Gia nhưng luôn mờ nhạt, kín đáo, âm thầm, và yên lặng. Không một lời về ngài, ngoại trừ “là người công chính” (Mt 1,19), còn tất cả các lời khác về ngài đều  là những Lời trong mơ, Lời thì thầm trong giấc ngủ.
Tin Mừng lễ Thánh Gia làm nổi bật thái độ chăm chú lắng nghe và hăng hái thực hiện Lời Thiên Chúa của thánh Giuse khi tường thuật tỉ mỉ về cuộc chạy trốn trước  lệnh truy lùng gắt gao của vua Hêrôđê, sau khi biết các đạo sĩ đã tìm đường khác về nhà, mà không trở lại Giêrusalem để gặp lại và cho Vua hay về nơi Hài Nhi Giêsu sinh ra :
Khi các đạo sĩ đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho Giuse rằng : “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập và cứ ở đó cho đế khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy ! Ông Giuse liền trỗi dậy và đang đêm, đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập. Ông ở đó cho đến khi vua Hêrôđê băng hà …” (Mt 2,13-15)
Thái độ của thánh Giuse cho chúng ta nhớ lại thái độ tuyệt đối vâng lời Thiên Chúa của Môsê đã đem vợ con về lại Ai Cập, khi Đức Chúa phán với ông ở Mađian : “Đi đi, hãy trở về Ai Cập, bởi vì mọi kẻ tìm cách làm hại mạnh sống ngươi đã chết cả rồi” (Xh 4,19).
Như Môsê, thánh Giuse đã tin tưởng tuyệt đối vào Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành. Ngài là con người của đức tin, khi đặt hết niềm tin vào Thiên Chúa, vào Lời Thiên Chúa và không nghi ngại lên đường với Hài Nhi và mẹ Ngài trốn khỏi cơn giận dữ và truy lùng tìm giết Hài Nhi của vua Hêrôđê, để bảo vệ tuyệt đối ngai vàng.
Như Đức Maria, người nữ có phúc hơn mọi người nữ đã kiên trì trong đức tin từ buổi Truyền Tin đến Lễ Hiện Xuống, ngang qua đường Thánh Giá và biến cố Phục Sinh, thánh Giuse đã không ngừng chú tâm lắng nghe Lời Thiên Chúa chỉ bảo, hướng dẫn để từng ngày, và ở bất cứ tình huống nào, ngài vẫn trung tín chu toàn bổn phận làm cha nuôi Đấng Cứu Thế, và làm bạn thanh sạch Đức Trinh Nữ Maria trong chương trình cứu độ mầu nhiệm.
Suốt đời làm gia trưởng, Thánh Giuse đã chỉ được nghe thiên sứ nói cho biết điều Thiên Chúa muốn trong giấc ngủ, giữa cơn mơ, và Tin Mừng ghi lại ba lần Ngài được báo mộng :
Lần thứ nhất khi thánh Giuse phân vân muốn bỏ Đức Mẹ cách kín đáo để giữ thanh danh cho Đức Mẹ khi thấy Đức Mẹ có thai : Đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,20-21). Và ngài đã đón Đức Mẹ về nhà mình, như Lời sứ thần dậy.
Lần thứ hai là lệnh thiên sứ truyền phải trốn qua Ai Cập, và ngài cũng nhanh chóng tuân hành, thực hiện (x.Mt 2, 13-15).
Lần thứ ba là, sau khi vua Hêrôđê băng hà, thiên sứ lại hiện ra với ông Giuse bên Ai Cập, báo mộng cho ông rằng : “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi. Ông liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen” (Mt 2,19-21). 
Biến cố Lời Thiên Chúa được nói với thánh Giuse trong giấc ngủ, giữa giấc mộng cho chúng ta thấy : đức tin là ơn sủng của Thiên Chúa, nhưng đức tin luôn đặt chúng ta trước một chọn lựa, và chọn lựa này không luôn dễ, bởi đức tin không luôn minh bạch, rõ ràng, chắc chắn, như kết qủa của khoa học thực nghiệm được  “cân, đo, đong, đếm”, nhưng đức tin đòi chúng ta phó thác ở Thiên Chúa khi đức tin được trình bầy và mời gọi trong tình trạng “luôn đủ ánh sáng để chúng ta thấy, đồng thời đủ bóng tối để chúng ta tin”, bởi nếu thấy rõ mồn một, nhìn được tỏ tường trên dưới, ngang dọc, thì cần gì đến tin, như khi ta gặp gỡ, chuyện trò, ăn uống với một người nào rồi, thì ta đâu cần phải tin vào lời của người khác nói về người này nữa. Cũng vậy, đức tin luôn đòi sự liều lĩnh dấn thân, tín thác của ta vào một mình Thiên Chúa, nhờ đó, hành vi đức tin mới có giá trị cứu rỗi, và như thế mới được gọi là đức tin.
Sở dĩ gia đình của thánh Giuse, Mẹ Maria và Đức Giêsu được gọi là gia đình thánh, không phải vì gia đình gồm toàn thánh, nhưng vì gia đình gồm những người luôn chú tâm lắng nghe Lời Thiên Chúa, tin vào Lời Chúa và đem ra thực hành, như Đức Giêsu đã qủa quyết trong Tin Mừng : “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21).
Vâng, Thánh Gia hôm nay mời gọi chúng ta lắng nghe Lời Thiên Chúa và thực hành Lời hằng sống ấy bằng yêu mến cha mẹ như bài đọc thứ nhất nhắc nhở : “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu… Hãy săn sóc cha con khi người đến tuổi già ; bao lâu người còn sống, chớ làm người buồn tủi. Người có lú lẫn, con cũng phải cảm thông, chớ cậy mình sung sức mà khinh dể người. Vì lòng hiếu nghiã với cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ đền bù tội lỗi cho con… Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Đức Chúa nguyền rủa. Thiên Chúa sẽ nhớ đến con, ngày con gặp khốn khó, và các tội con sẽ biến tan” (Hc 3, 3-4.12-15), và thực hiện điều Thiên Chúa muốn trong tương quan với các thành viên gia đình, cũng như với anh chị em trong cộng đoàn, như thánh Phaolô căn dặn trong bài đọc thứ hai : “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà, nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái: đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3, 12-14).  
Nơi thánh Giuse, người gia trưởng của đức tin, chúng ta noi gương chú tâm lắng nghe và trung thành thực thi Lời Thiên Chúa, bằng nhạy bén nhìn ra những dấu chỉ của Thiên Chúa trong lịch sử, cũng như qua con người. Với thánh Giuse, chúng ta học nhìn mọi sự, mọi biến cố với đôi mắt Đức Tin, và như ngài, chúng ta tập đi trên con đường tự do, bởi chỉ có Lời Thiên Chúa mới cho chúng ta được tự do đích thực trong Đức Tin.
Lạy thánh Giuse, vị gia trưởng rất yêu mến của Thánh Gia !
Xin  phù hộ và ban tràn đầy niềm vui trên ông bà, cha mẹ chúng con, và cho chúng con biết học với Thánh Cả gương thinh lặng xóa mình, bài học kín đáo quên mình, thái độ âm thầm hiến mình cho hạnh phúc của mọi người trong gia đình thân yêu của chúng con.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 19 tháng 12, 2019

TẠI SAO CHÚNG TA BỊ LỪA TIỀN ?

    Qua mang xã hội, và truyền hình an ninh chính thống, hằng ngày chúng ta xem, nghe không biết bao nhiêu vụ lừa đảo kỳ tình. Có những chiêu lừa bị  rồi vẫn không tin đó là sự thật ; có những màn lừa, thấy rồi cũng chưa dám nghĩ người ta có thể lừa giỏi đến thế. Và kết thúc mỗi câu chuyện lừa, người ta đều  được nghe  lời cảnh báo, dặn dò : phải  thận trọng đề phòng, phải đề cao, cảnh giác !
Nhưng đề phòng thế nào được khi chính người bị lừa đảo, trước đó đã là người đi tìm cho bằng được kẻ lừa đảo để được “gửi thân gửi phận”, như một thời người ta chen chúc nhau gửi tiền vào một công ty lừa đảo, vì tiền lời hàng tháng cao ngất ngưởng , hoặc hết lời năn nỉ, dấm dúi tiền cho đám cò, để được làm thân với tên lừa đảo siêu hạng và tự nguyện nộp hết gia sản cho hắn, vì mê man lãi xuất cực kỳ cao. Đề phòng đã khó, cảnh giác còn khó hơn, bởi dù có nghi ngờ, nghi vấn, nghi hoặc thế nào đi nữa, nhưng khi bị dụ dỗ, lại thấy người này người kia hớn hở “đầu tư”, góp vốn, nạn nhân bị lừa đảo thường đổi ý, tự trấn an, khi xóa đi ý nghĩ tiêu cực về tên lừa đảo chính hiệu, để rồi tự mình sa vào cạm bẫy.
Như thế, phương án tránh bị lừa không chỉ nằm ở “đề phòng, cảnh giác”, nhưng hệ tại ở một nguyên nhân khác, sâu sa hơn, nằm ngay trong ta, có sức thôi thúc, điều khiển quyết định của ta. Đó là lòng tham trước bả tiền bạc.
Quan sát các cú lừa ngọan mục của những Siêu Lừa thời đại, chúng ta nhận thấy lòng tham là mục tiêu được nhắm, lòng tham là đích phải đạt, bởi chỉ lừa được thiên hạ khi khơi dậy thành công ở thiên hạ lòng tham. Lòng tham như cò súng, nếu bật được cò, thì mới có con nhạn trúng đạn, mới có nạn nhân sập bẫy lừa đảo.
Qủa thực, lòng tham ở mỗi người là mồi ngon của đám thợ săn lừa đảo. Chúng biết hầu hết đều tham : nghèo thì tham để giầu, giầu thì tham để giầu hơn ; thiếu thì tham để có, có thì tham để thừa, bởi lòng tham thì vô tận, không đáy : có bao nhiêu cũng còn thiếu, có bao nhiêu cũng chẳng thừa. Và được mấy người biết mình đủ, nên đa số không biết dừng thu gom, vun vén, chắt bóp, nhặt nhụm của cải cho mình. Đó là cơn cám dỗ dai dẳng, kín đáo nằm phục trong tâm hồn mỗi người, mà không phải ai cũng đủ khả năng chiến thắng, vượt qua.
Không dễ vượt qua, vì lòng tham mạnh hơn lý trí, khi bầy ra một tương lai huy hoàng của người “không làm ăn vất vả, nhưng được ngồi mát, ăn bát vàng”, bởi lòng tham bao giờ cũng liên minh với tính lười biếng : không làm mà có ăn. Vì muốn giầu nhanh, bốc lẹ, mà lòng tham sẵn sàng lao vào bẫy lừa của “vốn nhỏ, nhưng lãi xuất cao chót vót”, đầu tư nhỏ giọt nhưng lời đậm, lãi kếch sù.
Không dễ chiến thắng, vì lòng tham lấn át ý chí, khi làm cho ý chí trở nên yếu đuối, suy nhược trước bả giầu sang, để sẵn sàng gạt đi những dấu hiệu, khả thể của thất bại trước những mạo hiểm liều lĩnh được thúc đẩy, hướng dẫn bởi lòng tham không đáy. Ý chí trong hoàn cảnh này còn bị tấn công bởi những người chung quanh cũng tham lam vô độ. Những lôi kéo, dục dã, đề nghị của nhân tố bên ngoài có sức tạo nên áp lực nặng nề, để nạn nhân mủi lòng, nhẹ dạ a dua theo.
Có rất nhiều trường hợp ta bị lừa vì chạy theo người chung quanh, hoặc nghe hàng xóm trầm trồ ca ngợi đường giây lừa đảo, mà chính họ không hề biết. Chẳng thế mà một trong những chiêu lừa có hiệu qủa cao của các tay “siêu lừa” là chúng luôn có dưới tay một đạo quân cò mồi “khéo mồm, dẻo miệng”.
Như thế, lòng tham làm lý trí lu mờ, dù lý trí có nhận ra nguy hiểm ; làm ý chí yếu đuối, dù ý chí trước đó cũng đã “mạnh mẽ” từ chối điều không nên làm. Không mấy người sau khi bị lừa, đã đau đớn, thờ thẫn thốt lên : “Lúc đầu, mình đã không muốn góp vốn, không muốn liều rồi, nhưng không hiểu sao lại đâm đầu vào, để chết đẹp, mất hết !”.
Thế mới biết mãnh lực của lòng tham. Nó có thể đánh gục cả lý trí, ý chí và xô đẩy cả những người được coi là khôn ngoan, đạo đức, kinh nghiệm, từng trải vào bẫy lừa tang thương.
Trong cuộc chơi lừa đảo thiếu văn hoá, đạo đức, và không nhân văn này, cả kẻ lừa đảo và người bị lừa đảo đều bị lòng tham khống chế, điều khiển : kẻ lừa đảo “lừa” người khác vì tham lam, mong có nhiều tiền nhờ trúng mánh, người bị lừa đảo “bị lừa” cũng vì tham lam, mong thu về món tiền lớn, nhờ trúng qủa. Trúng mánh hay trúng qủa đều là sản phẩm của cuộc chơi lừa đảo được kích động, kích cầu bởi lòng tham.
Tóm lại, khi lòng tham không được be bờ, ngăn chặn, nó sẽ bùng nổ và làm đảo lộn cuộc sống vốn bình yên, bởi đã có nhiều cuộc đời mất lẽ sống, mất lý tưởng, mất sự nghiệp, mất thanh danh, mất người thân, mất gia đình, có khi mất cả mạng sống, vì liều lĩnh gieo mình xuống vực thẳm của tham lam, khi nghe lời đường mật của những kẻ lừa đảo.
Ý thức lòng tham là nguyên nhân chính khiến chúng ta bị lừa đảo, chúng ta cần đặt ra  hàng dậu cần thiết để tránh những bước chân sa đà lọt bẫy :
1.                      Chúng ta cần kiểm soát lòng tham bằng ý thức lương thiện, công bình :
Ý thức công bình nhắc nở chúng ta tôn trọng quyền lợi của người khác, và lương thiện trong mọi hành vi. Với ý thức này, chúng ta sẽ không để lòng tham nổi cộm, bành trướng, khi dễ dàng đầu tư, góp vốn vào những thương vụ không trong sáng, thiếu minh bạch, bởi bất cứ phi vụ lừa đảo nào cũng có những dấu hiệu của bất công, bất chính : bất công vì chiếm đọat quyền lợi của ai đó, ở chỗ nào đó, và bất chính ở phương cách thực hiện, như khi góp vốn ít mà tiền lời qúa nhiều, chúng ta hiểu ngay : đây là một hành vi bất thường, vì không bình thường như pháp luật cho phép, nên xác xuất bất chính, bất công ắt phải rất cao.
2.                      Chúng ta cần be bờ tham vọng bằng “biết đủ” và giới hạn đúng mức các nhu cầu :
Tham vọng thì ai cũng có, bởi ai cũng muốn tiến thân, tiến tới, tiến nhanh tiến mạnh, nhưng nếu chiều theo tham vọng, thì tham vọng sẽ nhận chìm chúng ta trong biển sâu của chính tham vọng, khi chúng ta đánh mất chính mình vì mê mải chạy theo nó. Cũng như nhu cầu với con người thì vô cùng, vô tận, nếu không biết giới hạn đúng mức các nhu cầu, người ta sẽ đuối sức vì chạy theo giòng chảy không bao giờ ngưng nghỉ của nhu cầu.
Vì thế, người hạnh phúc là người biết be bờ tham vọng, không để tham vọng trở thành sóng thần cuốn trôi , bằng ý thức “biết đủ”, bởi “tri túc hà thời túc”, có biết đủ mới nhận mình đủ, còn người không bao giờ biết mình đủ, nghiã là không có khả năng tự giới hạn những nhu cầu sẽ chẳng bao giờ bình an, hạnh phúc vì luôn thấy mình thiếu, mãi mãi thấy mình chưa đủ. Và vì thấy còn qúa nhiều nhu cầu chưa được đáp ứng, nên sẽ suốt đời tham lam cố tìm cho đủ, cố tìm cách thoả mãn mọi nhu cầu, nhưng rất tiếc, tham vọng thì không cùng, nhu cầu thì vô tận, nên sẽ không bao giờ đủ đối với người không “biết đủ” cho mình.
Rơi vào vòng xóay của tham vọng không đáy và nhu cầu bất tận, chúng ta vô tình lạc vào vùng của tham lam, ở đó cạm bẫy lừa đảo giăng đầy, phủ kín.
Tóm lại, bao lâu còn sống, chúng ta còn phải đối diện, đối đầu với những chiêu trò lừa đảo đủ loại, nào là lừa tình bằng những lời ngọt ngào, có cánh, nào là lừa tiền bằng những thủ đoạn đánh thức lòng tham, và khả thể sập bẫy  hoàn toàn tùy thuộc sự tinh tế, khôn ngoan, và khả năng làm chủ bản thân của mỗi người. Khả năng làm chủ đó dựa trên ý thức lương thiện, công bình để giảm bớt lòng tham luôn hừng hực sôi nổi, và trên chọn lựa “biết đủ cho mình” để giới hạn cách hợp lý các nhu cầu trong cuộc sống.
Với tinh thần “tri túc hà thời túc”, và quyết tâm giới hạn các nhu cầu, chúng ta sẽ giảm thiểu mãnh lực của lòng tham là nguyên nhân chính đưa ta vào cạm bẫy của vô số những kẻ lừa đảo tiền bạc, mà xã hội hôm nay dường như không còn đủ khả năng kiểm soát, chế tài.
Jorathe Nắng Tím                                     

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2019

VĂN HÓA THANH LỊCH


Kinh nghiệm bản thân cho phép chúng ta khẳng định : không gì khổ hơn khi  phải sống với người thô lỗ, bậm trợn, sàm sỡ, sỗ sàng, dơ dáy, bẩn thỉu, “ăn tục nói phét” ... Thế mới biết gánh nặng ngàn cân phải gánh của người vợ có chồng “ăn nói” ngang ngược, lại thêm tật vũ phu, cái tròng khó gỡ của những đứa con có cha “ăn ở” bừa bãi, “ăn mặc” không giống ai.
Thanh lịch ở đây được hiểu là thanh tao, lịch thiệp. Đó là tình trạng, thái độ, nếp sống ngược lại với những gì bị coi là không xứng hợp với con người trong cách ăn ở, ăn nói, ăn uống, ăn mặc, nên người ăn ở bẩn thỉu, hôi hám vì biếng nhác dọn dẹp nhà cửa, chăm sóc thân thể, người ăn nói tục tĩu, ngang ngược, người ăn uống bê tha, thô lỗ, người ăn mặc lếch thếch, lôi thôi hay diêm dúa, lập dị như “lên đồng” đều bị coi là người thiếu văn hoá thanh lịch.
Văn hoá thanh lịch là dấu ấn của một xã hội văn minh, vì càng văn minh, con người càng thấy mình phải nâng tầm đời sống, trong đó đời sống tinh thần nắm phần quan trọng. Nhờ đời sống được nâng cao, con người không cư xử với nhau như thời còn “man di mọi rợ” ; nhờ ánh sáng văn minh, người ta biết đối xử nhân văn hơn ; nhờ môi trường văn minh, con người trở nên thanh nhã, lịch thiệp  trong mọi sinh hoạt.
Trong mọi sinh hoạt có nghiã toàn diện đời sống sẽ được nâng cấp, nâng tầm, để đời sống chung trở nên nhẹ nhõm, dễ chịu, vui vẻ, hạnh phúc, ở đó, mọi sinh hoạt, từ hôn nhân, gia đình, đến các sinh hoạt bên ngoài xã hội như học đường, đòan thể, nghể nghiệp, chính trị… đều dễ thở, khoan khoái, đơn sơ, tốt đẹp, mang lại niềm vui sống và nghị lực thăng tiến cho mọi người.
Như thế, văn hoá thanh lịch còn là kết qủa của giáo dục, đào tạo, vì bất cứ nền văn minh nào cũng phải đi qua ngưỡng cửa giáo dục, bởi không giáo dục, con người như măng non sẽ thành những cây tre bất trị, những buị tre gai góc, không ích lợi cho ai.
Chúng ta hãy nhìn vào nếp “ăn ở” của người thiếu văn hoá thanh lịch, khi nhà cửa bừa bãi, không ngăn nắp, trật tự, không sạch sẽ, nề nếp ; đồ ăn, thức uống nhơ nhớp, mất vệ sinh, bầy bừa từ bếp đến giường nằm, xông lên mùi tanh tưởi. Chúng ta không thể viện cớ nghèo mà tự cho phép ăn ở dơ dáy, không thể dựa vào thiếu thốn mà  buông thả, bệ rạc, vì ngăn nắp, trật tự trong nếp “ăn ở” là đòi hỏi tối thiểu đối với mọi người, không trừ ai.  
Tiếp theo, hãy quan sát cách “ăn nói” của người không có văn hoá thanh lịch. Họ sẽ nói năng cộc cằn, sống sượng, nói không suy nghĩ, và bạ đâu nói đó, nói “tầm bậy tầm bạ”, tục tĩu, thô bỉ, hồ đồ, sàm sỡ. Không được mọi người tôn trọng vì ăn nói “không ra làm sao” đã đành, họ còn làm cho người đối diện phải ngượng ngùng, mắc cở, vì những lời thô tục, hàm hồ, nhăng cuội, bốc phét của họ. Họ là những người không những không kiểm soát được tính khí, mà còn không nắm bắt được điều gì mình nói ra, chỉ vì thiếu hẳn một nền giáo dục làm người thanh lịch trong một xã hội có văn hoá, văn minh.
Cả trong cách ăn uống, người ta cũng cần được giáo dục ở gia đình, ngay từ tấm bé, để không trở thành người ăn uống thô lỗ, “phàm phu tục tử”, ăn “không trông nồi, ngồi không trông hướng”, ăn không ra người thanh nhã, lịch sự, nhưng bị khinh bỉ và bị đời đánh giá : ăn không như người ăn.  
Sau cùng, chúng ta quan sát cách ăn mặc của người thiếu văn hoá thanh lịch. Họ sẽ ăn mặc hoặc như người thiếu thốn, “khố rách áo ôm”, quần áo không giặt giũ đến nặng mùi  hôi hám, hoàn toàn khác với điều cha ông đã căn dặn : “đói cho sạch, rách cho thơm” ; hoặc mầu mè sặc sỡ, nhố nhăng, diêm duá, lập dị, khác người. Cả hai cách đều qúa đáng, vì lệch lạc, khi không tôn trọng chuẩn định thanh tao, trang nhã, và lịch sự của xã hội.
Tính cách thiếu văn hoá thanh lịch còn được nhận ra cả trong cách ăn xài, ăn chơi, bởi  người có văn hoá thanh lịch, dù ở hoàn cảnh nào, với điều kiện nào cũng luôn có dáng dấp thanh nhã, tư thế thanh tao, phong cách lịch sự của người văn minh, có văn hoá thanh lịch.
Để làm người có văn hoá thanh lịch, chúng ta cần đến giáo dục, khởi đầu là giáo dục con em ngay từ nôi ấm gia đình, để các em hiểu thế nào là thanh tao, trang nhã, lịch sự, không chỉ trong tư tưởng, mà còn  qua cách ăn ở, ăn nói, ăn uống, ăn mặc … Và điểm quan trọng nhất là khi sống có văn hoá thanh lịch, chúng ta không chỉ xây dựng vững chắc giá trị bản thân, làm tăng lòng kính trọng của người khác, tạo thêm nhiều tương quan tốt đẹp, gây nhiều tình cảm qúy báu, giúp mau chóng thành công, mà còn là một nghiã vụ đối với xã hội loài người, bởi khi sống thanh lịch, chúng ta thể hiện tinh thần vị tha, tôn trọng, yêu mến người khác một cách cụ thể, sống động và hữu hiệu nhất, bởi nhờ ăn ở ngăn nắp, trật tự, khách đến nhà sẽ vui vì cảm nhận được ta trân trọng đón tiếp ; nhờ ăn nói thanh lịch, người đối diện cảm thấy hạnh phúc, vì những lời dễ thương, những câu nói thắm đặm tình nghiã, và sâu sắc lòng tôn trọng của ta ; nhờ ăn uống thanh lịch, người đồng bàn sẽ “ăn ngon”, vì có ta là bạn hiền, bạn biết “ăn sạch, ăn đẹp, ăn vui”, ăn trong hạnh phúc được cùng nhau đồng bàn ; nhờ ăn mặc thanh lịch, ta không làm người chung quanh phải khó chịu, bực bội, tránh né  hoặc vì diêm dúa, lập dị  lôi kéo những ánh mắt khinh bỉ, thị phi, hoặc vì áo quần nặng mùi, hay thân xác không được chăm sóc, tắm rửa bốc mùi hôi.
Tóm lại, sống trong xã hội văn minh của thế kỷ XXI, thời đại của kỹ thuật cực kỳ tân tiến, chúng ta không thể bỏ qua văn hoá thanh lịch, vì văn minh loài người đòi buộc con người phải thanh lịch, bởi không thanh lịch, ta không thể là người văn minh. Có thanh lịch trong đời sống, sinh hoạt thường ngày giữa người với người mới rộn rã vui tươi ; có thanh lịch trong ứng xử, đời sống xã hội mới rộn ràng hạnh phúc ; có thanh lịch trong lời ăn tiếng nói, cuộc sống chung mới tránh được căng thẳng, đố kỵ, tỵ hiềm.
Nếu một xã hội ngày càng ngột ngạt vì qúa nhiều mâu thuẫn, bạo hành phần lớn do con người không cư xử thanh nhã, lịch thiệp với nhau, thì một xã hội mà mọi người đều được trang bị văn hoá thanh lịch sẽ đem lại niềm vui sống, nghị lực để thành công, nhờ ai nấy đều trở thành chất xúc tác tuyệt vời của niềm vui, hy vọng, hạnh phúc trong đòi sống.
Ước mong những thanh toán đẫm máu, những chém giết lãng xẹc vì ngôn từ qua lại thô lỗ, vì thái độ sàm sỡ, vì cách ứng xử không chút thanh lịch sớm chấm dứt trên đất nước chúng ta, để mọi người không còn phải sợ hãi, khớp cơ, tránh mặt, xa lánh nhau, nhưng thân thiện, chan hoà, ân cần chia sẻ, tương trợ, khi văn hoá thanh lịch được đón nhận như nền tảng xây dựng một xã hội văn minh, nhân bản, điều kiện không thể thiếu để sống chung an bình, hạnh phúc. 
Jorathe Nắng Tím     

BẠO HÀNH TRẺ EM TRONG GIA ĐÌNH

Từ năm 1990, Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á, và quốc gia thứ hai trên thế giới ký Công Ước Quốc Tế về Quyền Trẻ Em. Tuy thế, các cuộc bạo hành trẻ em trong gia đình, ở học đường, cũng như ngoài xã hội ngày càng gia tăng với  tốc độ chóng mặt. Nguyên nhân nào đã và đang đưa trẻ em chúng ta vào vùng bạo hành đầy đe dọa, nguy hiểm này ?
Thực vậy, nạn bạo hành trẻ em đang làm nhức nhối rất nhiều trái tim. Làm sao tim người yêu trẻ không nhức nhối trước những  Lương Văn Tĩnh ở Cao Bằng  đã  thường xuyên gánh chịu những trận đòn vô cớ của người cha bê tha rượu chè, suốt tuổi thơ cho đến ngày cha qua đời, những Đỗ Doãn Lập ở Bắc Ninh bị cha đánh bể đầu  bằng điếu cầy inox tháng tám năm 2015, những Phan Văn Sỹ ở Nghệ An bị  mẹ xích chân, đánh bầm mình bằng đòn gánh. Tháo được xích, em bỏ nhà đi hoang từ dạo mới bẩy tuổi. Làm sao lòng người yêu trẻ không quặn đau trước những bé gái như Nguyễn Thị Kim Linh ở Bình Thuận bị mẹ đổ xăng đốt sống chỉ vì không bán hết vé số mẹ giao, những bé thơ như Trần Phương Đại mới bốn tuổi đã  bị  cha bóp cổ chết, rồi vùi xác dưới cát, chỉ vì em thấy cha đi chơi với bồ nhí. Làm sao nước mắt cảm thương không xót xa chảy khi em bé Khương Minh Khôi, hai mươi lăm tháng tuổi bị bà ngoại là Thạch Thị Sương bạo hành  phải chuyển đến khoa cấp cứu của bệnh viện đa khoa Bạc Liêu ngày 6. 12.2019 trong tình trạng nguy kịch, và vụ việc xẩy ra gần  nhất, vào trung tuần tháng 12/2019  tại Sóc Trăng, khi  người cha  đã ép con trai tám tuổi uống rượu rồi đăng clip, để làm áp lực trên vợ, khi chị giận chồng bỏ đi. Đó là chưa kể những cảnh làm tan nát lòng người có trái tim yêu trẻ khi phải nghe kể những màn hành hạ dã man trẻ em tự kỷ ở một số trung tâm tự kỷ ngay tại thành phố Hồ Chí Minh.
Qủa thực, con số trẻ em bị bạo hành ngày càng tăng. Theo số liệu chính thức của cơ quan chức năng Việt Nam, thì mỗi năm có trên bốn ngàn vụ bạo hành nghiêm trọng phải xử lý trước pháp luật, nghiã là bên cạnh con số “bốn ngàn” này, còn rất nhiều “ngàn” vụ bạo hành chưa đạt đến mức trầm trọng để pháp luật phải nghiêm minh xử lý, nhưng điều này không có nghiã  không đem lại hậu qủa nặng nề cho nạn nhân.
Các nạn nhân đáng thương của bạo hành hầu hết đều còn ở tuổi thơ, cái tuổi phải được nuôi nấng, cưng chiều, ân cần dậy bảo ; cái tuổi quấn quýt bên mẹ cha, ngồi trên gối mẹ, trong vòng tay cha.
Các nạn nhân ở tuổi thơ bé bỏng đã không thể hiểu tại sao mình lại bị đối xử dã man, bị đánh đập như thú vật, bị xua đuổi như kẻ gian ác, bị chửi bới như kẻ thù bởi chính những người đã sinh ra mình ? Các nạn nhân thơ ngây ấy sẽ chỉ biết ghi nhớ vào da thịt từng cú đấm, từng cái tát, từng trận đòn, và khắc ghi vào xương tủy từng lời đay nghiến, từng ngày bị bỏ đói, từng đêm bị đuổi ra đường, từng lần bị lột trần truồng làm trò cười cho đám đông hàng xóm hiếu kỳ. Và tất cả những đau đớn trên thân xác, cũng như những đau khổ tinh thần được ghi nhớ, ghi khắc đó sẽ mãi ám ảnh suốt cuộc đời nạn nhân, mà hậu qủa là tính tự ty, nhút nhát, thiếu tự tin, tiêu cực trước mọi tình cảm, dè dặt, nghi ngại đối với mọi người, nhất là một mối căm thù không tên ngày càng lớn dần, chờ cơ hội bộc phát thành hành vi tội ác.
Vì thế, người ta không ngạc nhiên khi phần lớn nạn nhân bị bạo hành trong gia đình khi còn bé đã trở thành tội phạm khi trưởng thành. Những hình ảnh bạo hành khó tẩy xóa trong óc não, những vết thương, vết sẹo tình cảm bị tổn thương hằn sâu trong tâm hồn đã đánh thức các nạn nhân trở lại vùng bạo lực, đồng thời thôi thúc lòng căm thù và biến nạn nhân của bạo lực ngày xưa thành tác nhân của bạo lực hôm nay.          
Nếu quan sát kỹ lưỡng, người ta sẽ nhận ra một số nguyên nhân tâm lý  gây ra các vụ bạo hành trẻ em trong gia đình :
1.   Do cha mẹ tự cho mình độc quyền sở hữu con cái :
Vẫn biết con cái thuộc về cha mẹ và cha mẹ có quyền trên con cái. Nhưng ngoài quyền trên con, cha mẹ còn bổn phận nuôi dưỡng, giáo dục, mà bổn phận cao cả, quan trọng, nền tảng hơn hết, chính là Yêu Thương. Thiếu đi bổn phận yêu thương, cha mẹ không còn là cha mẹ đích thực ; sao lãng bổn phận yêu thương, cha mẹ không còn được coi là cha mẹ của con cái, bởi yêu thương bao trùm tất cả đời con, yêu thương ấp ủ đời con, yêu thương cho con lớn thành người, yêu thương xây dựng bản ngã, nhân vị, tương lai của con, yêu thương chuẩn bị cho con đôi cánh để con tự bay trong trời rộng thênh thang thuộc về con, yêu thương tập cho con từng bước để vào đời, yêu thương chấp nhận ở lại nhà dõi bóng con trên hành trình đời sống mà không trói buộc đôi chân con, không giam giữ tự do lựa chọn cuộc sống của con, và một khi đã yêu thương thì  loại bỏ “trước tiên, ngay lập tức và mãi mãi” những gì dính dáng đến bạo hành độc ác, bạo lực dã man, hung bạo làm sợ hãi.
Khi tự cho mình độc quyền sở hữu con cái, cha mẹ dễ quên ơn gọi làm cha mẹ để yêu thương, vì con cái cần ở cha mẹ tình yêu, lòng thương xót hơn tất cả những gì khác, do nhu cầu thiết yếu ở con cái chính là nhu cầu tình yêu.
Vì thế, một em bé, dù được ăn ngon, mặc đẹp, nhưng thiếu tình yêu của cha mẹ, cũng vẫn bất hạnh trong cuộc sống và mất quân bình trong tiến trình hình thành nhân cách. Tự cho mình độc quyền sở hữu con cái, cha mẹ sẽ biến con cái thành sở hữu vật hoặc phương tiện, và toàn quyền xử lý, sinh sát trên phương tiện, sở hữu vật đó. Đây là lý do nhiều cha mẹ khi được người ngoài can gián, khuyên nhủ đừng đánh đập, hành hạ con cái, đã ngang nhiên trả lời : “Con tôi, tôi sinh ra nó, nên tôi muốn làm gì trên nó thì làm”. Thế ra, hễ cứ sinh con là có toàn quyền cho con sống, hoặc bắt con chết ; hễ cứ làm cha mẹ là có quyền cho con làm con hoặc bắt con làm nô lệ. Não trạng thật đáng sợ và kinh khiếp đã và đang đe dọa biết bao cuộc đời con cái !
2.   Cha mẹ lầm lẫn giáo dục với trừng phạt :
Hình phạt trong giáo dục không bao giờ được mang tính bạo hành, bạo lực, vì giáo dục luôn được thôi thúc bởi tình yêu, và phải ở trong bầu khí yêu thương. Ở ngoài tình yêu, giáo dục không còn là giáo dục. Đây là nguyên tắc căn bản của giáo dục, nên khi không yêu thương, người ta không giáo dục.
Cha mẹ giáo dục con tất nhiên phải yêu thương con, nên khi sửa trị con bằng những hình phạt không mang tính tôn trọng nhân phẩm của con như sử dụng nhục hình, đọa đầy thân xác, chẳng hạn lột trần truồng, trói tay, xích chân, không cho ăn, hoặc đổ đồ ăn xuống đất và bắt con ăn như chó ; cũng như những hình phạt làm tổn thương tinh thần như chửi bới, nguyền rủa nặng lời, đại loại như : mày đừng sinh ra thì hơn, tao khổ vì mày, vì mày mà tao phải cơ cực, nuôi chó còn có lợi hơn nuôi mày, mày không phải con tao, mày là đồ vô tích sự, mày chết cho rồi, đi cho khuất … Tất cả đều không giáo dục, vì là bạo lực, bạo hành, và hoàn toàn ở ngoài,  đối nghịch với yêu thương.
Nếu đặt mình vào vị thế của con cái đang bị đánh đập, chửi rủa, cha mẹ sẽ thấy mình  không còn là con cái của cha mẹ yêu thương, không còn là thành viên của mái ấm gia đình, không còn là người được quyền làm con cái của cha mẹ, nhưng đơn thuần là kẻ thù không đội trời chung của cha mẹ, người đang la hét rủa xả và dã man đánh đập con cái.
Bị đặt vào hoàn cảnh bị cha mẹ trừng phạt tàn nhẫn như đang đánh quân thù ấy, hỏi có người con nào dám nghĩ mình là con cái được cha mẹ yêu thương, dám tin mình là con được sinh ra “từ lòng mẹ bao la như biển Thái Bình, từ công cha cao vời như núi Thái Sơn”. Chắc chắn là không, và mãi mãi là không trong tâm khảm những đứa con bị cha mẹ giáo dục bằng hành hình, tra tấn.
Tóm lại, không thể sử dụng bất cứ hình phạt nào phảng phất bạo lực khi sửa dậy con cái, bởi  giáo dục luôn dị ứng với bạo lực. Giáo dục đòi tình yêu, cần tình yêu và chỉ thành công với tình yêu. Do đó, cha mẹ đừng lầm lẫn giáo dục với trừng phạt, hiểu như phương tiện bạo lực để giáo dục con cái, bởi hành vi bạo lực dù với cách thế, hay mức độ nào cũng hoàn toàn phản giáo dục, vì đem lại những hậu qủa cực kỳ bất lợi cho con cái, và tai hại lâu dài trong tương quan giữa con cái với cha mẹ.
Ở đây, chúng ta cần thay đổi não trạng : “yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Có thể nguyên tắc đã áp dụng cách đây năm chục năm mà không gây bức xúc, khi mà ý thức nhân phẩm, nhân vị còn chưa rõ nét, nhưng ở vào thời đại mới, khi ý thức về quyền con người, quyền trẻ em, quyền cá nhân, quyền sống và hưởng hạnh phúc cuộc sống phát triển cao và mạnh, thì nguyên tắc giáo dục bằng roi đòn, thiết tưởng không còn hợp thời, vì cuộc sống ngày càng phát triển bắt buộc ta phải bỏ lại sau lưng những gì không còn xứng hợp với đòi hòi, nhu cầu mới của con người. Chúng ta cũng đừng quên : có rất nhiều cách sửa trị mang tính yêu thương và đạt hiệu qủa giáo dục cao, mà đã là cha mẹ, ai cũng biết phải làm gì cho hợp tình, hợp lý, hợp cảnh, một khi đã nằm lòng ý thức : bổn phận và quyền lợi chính yếu của cha mẹ là yêu thương con cái đến cùng, và tình yêu không bao giờ đội trời chung với bạo lực.
3.   Cha mẹ không sống cuộc sống của con :
Khi cho mình độc quyền sở hữu con cái, cha mẹ đã sai lầm cho mình có cả quyền trên toàn thể cuộc sống của con, khi dành độc quyền làm chủ đời con. Cha mẹ quên rằng không ai sống thay ai, chết thay ai, nhưng  mỗi người có cuộc đời riêng, phải sống cuộc đời riêng, và một mình làm cuộc đời  ấy. Người khác, dù cha mẹ cũng chỉ là người chuẩn bị, hướng dẫn, nâng đỡ, đồng hành, nhưng không bao giờ thay thế.
Vì thế, cha mẹ sẽ như chim mẹ tập cho chim con bay, để con tự mình bay trong trời rộng thênh thang, vì cả bầu trời ấy thuộc về con, và con được tự do, tha hồ bay lượn, làm cuộc đời mình trong đó. Sống thay con, nói cách khác, bắt con sống theo kiểu sống, nếp sống của mình, mà không cho con tự do chọn lựa cuộc sống, đó là xâm phạm quyền sống, chiếm đoạt quyền làm người của con. Và điều đó không xứng hợp với tình yêu chân chính của cha mẹ dành cho con cái, bởi cha mẹ yêu con cách chân chính phải biết chuẩn bị cho con vào đời bằng đôi chân của con, chuẩn bị cho con nhập cuộc bằng  khối óc, bàn tay của con, chuẩn bị cho con thành người  bằng tạo cho con niềm tin vào sứ mệnh làm người, trang bị cho con tình yêu đối với bản thân, với người và cuộc sống, đặc biệt lòng tự tin vào khả năng, và thiện chí. Cha mẹ yêu thương sẽ không lấy cánh đại bàng của mình mà che kín bầu trời tương lai của con, cũng không dùng nanh vuốt sắc nhọn đe dọa ước muốn mạo hiểm trước cuộc đời của con, càng không trở thành hàng rào, tường cao ngăn chặn, giam hãm hạnh phúc dấn thân nhập cuộc của con trên hành trình làm người.
Tóm lại, chỉ tình yêu đích thực của cha mẹ mới chấm dứt thảm trạng bạo hành trẻ em trong gia đình ; chỉ lòng thương của cha mẹ mới giải phóng con cái khỏi  nỗi sợ và đe dọa bị đánh đập, nguyền rủa ; chỉ hy sinh của cha mẹ mới cho con niềm vui và hạnh phúc được lớn lên làm người tự tin, tự trọng, tự trách nhiệm đời mình ; chỉ tâm hồn bao dung của cha mẹ mới cho con chắp cánh bay vào trời tương lai hy vọng ; chỉ tinh thần khai phóng, cởi mở của cha mẹ mới thực sự giáo dục con trở thành những con người đứng vững và bước nhanh trên đôi chân của mình ; chỉ tấm lòng nhân hậu và tâm tình trìu mến, dịu ngọt của cha mẹ mới sửa chữa những sai lầm, lấp đầy những khiếm khuyết, làm tròn trịa những thiếu sót của con, và chỉ trái tim yêu thương đến cùng của cha mẹ mới thực sự cho con hạnh phúc suốt đời được làm con cái của cha mẹ.
Noel về, mùa của tình yêu gia đình, mùa của niềm vui bé thơ, mùa hạnh phúc của những trái tim đang yêu và được yêu.
Xin Ánh Sáng Tình Yêu xua đi đêm tối của bạo lực trong các gia đình, để không một bé thơ nào còn bị bỏ đói, bị đánh đập, bị xua đổi, bị nguyền rủa, bị tống khứ khỏi  nôi ấm tình yêu là Cung Lòng Cha Mẹ, khỏi mái ấm tình yêu là Gia Đình An Vui, Hạnh Phúc kể từ Mùa Giáng Sinh Tình Yêu này.
Jorathe Nắng Tím     

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2019

BIẾN CỐ ĐAU BUỒN MÙA GIÁNG SINH

Giáng Sinh là lễ của niềm vui Cứu Độ, khi  Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thế, nhập thể để cứu con người khỏi chết đời đời; Giáng Sinh là ngày hân hoan, hạnh phúc, khi Tin Mừng : “Thiên Chúa yêu thương loài người” được loan báo. Vì thế Giáng Sinh rất vui, vì là mùa của Tình Yêu ; Giáng Sinh rất mừng, vì là mùa của Sự Sống !
Nhưng một biến cố tang tóc, đau buồn đã xẩy ra giữa mùa Giáng Sinh vui mừng. Biến cố đã làm nghẹn ngào tiếng hát : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm” của các thiên thần (Lc 2,14), bởi Thiên Chúa vừa mới sinh ra, chưa kịp được mọi người vinh danh, thì kẻ ác tâm đã lấy đi nhiều mạng sống vô tội ngay  tại Bêlem, nơi Thiên Chúa hạ sinh làm người ; biến cố đã làm khựng lại chân sáo phấn khởi, hân hoan “vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa” của các mục đồng (Lc 2,20), sau khi gặp được Hài Nhi  bọc tã, “đặt nằm trên máng cỏ” (Lc 2,16), bởi  hàng trăm hài nhi vô tội ở Bêlem và vùng lân cận đã bị giết chết oan uổng (x. Mt 2,16-18) ; biến cố đã làm hoa mắt các đạo sĩ trên đường từ Bêlem trở về xứ sở, khi nghe tin các hài nhi dưới hai tuổi ở Bêlem, nơi các vị vừa rời gót đã bị thảm sát theo lệnh của Hêrôđê, người đã khôn khéo dặn dò các vị : “xin qúy ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cùng đến bái lậy Người” (Mt 2, 8) ; biến cố đã làm thánh Giuse và Đức Maria  mất ăn mất ngủ, và “ngay trong đêm phải đưa Hài Nhi Giêsu trốn sang Ai Cập” (Mt 2,14) theo như lời thiên sứ  khẩn báo trong giấc mộng (Mt 2,13) ; và biến cố  đã lấy đi sự sống vừa nẩy mầm của hàng trăm trẻ thơ hoàn toàn trong trắng, ngây thơ, không can dự gì đến chuyện của người lớn, không biết gì đến chuyện triều đình, quốc gia, không liên quan gì đến chuyện ngai vàng, quyền lực, để  niềm đau, nỗi khổ  cùng với máu vô tội dâng cao ngút trời, làm chết ngất bao trái tim, tan nát bao cuộc đời ở Bêlem và vùng lân cận như Tin Mừng Mátthêu mô tả : “Ở Rama, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ : tiếng bà Rakhen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa” (Mt 2,18).
Vâng, tác giả của biến cố tang tóc, đau thương giữa mùa Giáng Sinh hồng phúc chính là Hêrôđê, vua dân Do Thái (x. Mt 2,16). Ông là vua, nên khi nghe có “vua dân Do Thái” sắp sinh ra, ông đã hỏang hốt, lo sợ mất ngai vàng, và tham vọng quyền lực đã thúc đẩy ông đi đến quyết định giết hết các trẻ thơ dưới hai tuổi.
Thủ đọan thật tinh vi, khi ra lệnh giết hết các trẻ thơ từ hai tuổi trở xuống ở Bêlem và các vùng lân cận, để bảo đảm trăm phần trăm việc thủ tiêu Hài Nhi Giêsu, vị vua tương lai của dân Do Thái. Theo tính toán thâm độc này, sẽ không có bất cứ xác suất dù nhỏ đến đâu, cũng như không còn bất cứ kẽ hở nào để lọt Hài Nhi Giêsu, đối tượng phải khẩn trương tiêu diệt.
Là vua, và tự cho mình là Sao, nên khi biết có Vì Sao Cứu Thế vừa xuất hiện ở Bêlem, trên lãnh thổ của mình đang trị vì, Sao Vua Hêrôđê đã quay cuồng, điên đảo tìm truy diệt cho kỳ được “Vì Sao lạ”, có tiềm năng đối đầu, đối kháng. Và ông đã thần tốc ban lệnh tiêu diệt “Vì Sao lạ” bằng ra lệnh tàn sát tất cả trẻ thơ trong vùng.
Dưới con mắt của phàm nhân, Hêrôđê là người “nhìn xa trông rộng” đã bao quát được cả thời gian và không gian để Hài Nhi Giêsu, vua tương lai của dân Do Thái không thể thoát khỏi bàn tay sát thủ của ông. Với suy tính của loài người, Hêrôđê là người khôn ngoan, khi thấy  trước, lường xa những bất trắc, nguy cơ cho ngai vàng, bằng cách diệt ngay lập tức và  tận gốc mọi mầm mống  bạo loạn, chiếm quyền, cướp ngôi. Trong tầm nhìn của con người, Hêrôđê là người biết tính toán, sắp đặt, khi không để bất cứ  bất ngờ bất lợi nào gây ảnh hưởng xấu đến uy quyền và vinh quang của mình. Tóm lại, ông là con người hoàn hảo, ông vua tuyệt vời, lãnh tụ tài giỏi. Ông có tất cả những điều kiện thành công theo kiểu thế gian, và như thế gian đòi hỏi, nhưng ông thiếu một điểm rất quan trọng để thành người, đó là lòng nhân ái.
Thực vậy, không phải tất cả những ai thành công là thành nhân, không phải cứ “công thành danh toại” là thành người, không phải cứ đạt địa vị cao, chỗ đứng tốt là người tốt và cao thượng. Bằng chứng là trước mắt chúng ta, không biết bao nhiêu người thành đạt mà gian ác ; không ít người làm lớn mà tầm thường, đáng kinh tởm , và được mấy người  nắm giữ vị thế cao ngất ngưởng trong thế gian mà nhân ái, dễ thương. 
Như Hêrôđê, làm vua  đáng lẽ để lo cho dân hạnh phúc, quốc gia phú cường, nhưng ông lại thủ đọan, nham hiểm ra lệnh giết cả những công dân bé bỏng, vô tội, tuổi đời chưa qúa hai năm, vì tham vọng cá nhân và  cơn giận điên cuồng. Rất nhiều người thế giá khác cũng đã dùng quyền, dùng tìền, dùng ảnh hưởng của mình để  tiêu diệt người khác không kém dã man, tàn bạo như Hêrôđê.
Hôm nay, Giáng Sinh về, chúng ta không quên biến cố tang tóc, đau thương đ xẩy ra ở Bêlem và vùng lân cận vào mùa Giáng Sinh cách đây hơn hai ngàn năm, và qua đó, chúng ta nhận ra:
1.   Tội ác là do chính con người gây ra :
Biến cố thảm sát hằng  trăm trẻ thơ vô tội được Tin Mừng Mátthêu tường thuật chi tiết chắc chắn chống lại ý muốn của Thiên Chúa, vì Ngôi Lời  giáng sinh cốt đem sự sống cho con người, và làm cho sự sống con người đạt giá trị linh thánh, và tuyệt đối, khi chính Thiên Chúa đã tự nguyện mang lấy “sự sống con người” ấy.
Cũng vì Thiên Chúa làm người như chúng ta, sống sự sống của loài người  chúng ta, mà sự sống con người không còn bị coi là rẻ rúng, tầm thường, vô vị, không giá trị, không ý nghiã. Trái lại, sự sống ấy được nâng cao, được tuyệt đối tôn trọng và giữ gìn, bảo vệ, để  không ai có quyền hủy hoại sự sống ấy, dưới bất cứ hình thức nào, dù là sự sống của mình hay của người khác, bởi sự sống thuộc về một mình Thiên Chúa, và chỉ một mình Thiên Chúa có quyền trên sự sống, sự chết của con người.
Do đó, khi có tội ác chống lại sự sống, thì chắc chắn tội ác ấy phát sinh từ gian ác, bạo lực của con người, như Cain đã giết chết em mình là Aben, và như Hêrôđê đã ra lệnh thảm sát hằng trăm trẻ thơ vô tội.
2.   Đau khổ là hậu qủa của tội ác :
Ở đâu có tội ác, ở đấy có đau khổ, cũng như ở đâu có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa, và ngược lại : khi có phúc đức của lòng nhân ái thì có bình an, và có Thiên Chúa thì có niềm vui thiên đàng, nên phần lớn đau khổ là do chính anh em gây ra cho ta, hoặc chính ta gây ra cho anh em.
Nếu Cain không ghen tức và không giết em mình, thì Aben đã được sống, và cả Cain cũng không bị Thiên Chúa phạt, đến nỗi phải đau đớn than thân trách phận : “Hình phạt dành cho con qúa nặng không thể mang nổi. Đây, hôm nay Ngài xua đuổi con khỏi mặt đất. Con sẽ phải trốn tránh để khỏi giáp mặt Ngài, sẽ phải lang thang phiêu bạt trên mặt đất, và bất cứ ai gặp con sẽ giết con” (St 4, 13-14) ; nếu Hêrôđê không ra lệnh giết các em bé, thì cha mẹ các em đâu phải chết ngất vì khổ đau, khi con không còn nữa ; nếu cậu thanh niên mười tám tuổi bốn tháng Nguyễn Hữu Tình không vì tự ái khi bị bà chủ trách mắng vì biếng nhác công việc, và bê tha bia rượu đã nhẫn tâm giết hết  năm người của gia đình bà chủ, thì  chẳng ai phải chết, và không bao giờ có bản án tử hình khắc nghiệt cho chính bản thân.
3.   Tội ác và đau khổ vẫn có mặt trong thế giới loài người cho đến tận thế :
Đau khổ lớn nhất của con người là sự chết, và sự chết đã theo tội lỗi vào thế gian, nên bao lâu còn con người thì còn tội lỗi, bao lâu còn tội lỗi, bấy lâu còn đau khổ, sự chết. Vì lẽ đó, Thiên Chúa xuống thế làm người để cứu loài người ra khỏi tội lỗi để con người được hạnh phúc ngay ở đời này, khi tội lỗi không còn khống chế những con người biết mở lòng đón nhận ơn sủng cứu độ của Ngôi Lời Thiên Chúa (x. Rm 5,12-19).
Điều này cũng có nghiã : Tội ác và đau khổ vẫn có mặt trong thế giới loài người, chứ không tự động biến mất, khi Ngôi Lời xuống thế, bởi Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của mỗi người để mỗi người tự chọn hoặc Thiên Chúa hoặc thế gian, hoặc gian ác hoặc nhân hậu, hoặc làm người thiện tâm hoặc làm người ác tâm, hoặc thuộc về Thiên Chúa hoặc thuộc về Satan, hoặc sống hoặc chết, hoặc lên thiên đàng hoặc xuống hoả ngục.
Khi Tin Mừng được loan báo Đấng Cứu Thế đã sinh ra, các thiên thần đã cho chúng ta biết : Bình An của Thiên Chúa chỉ dành cho những người thiện tâm, những người được Thiên Chúa thương. Thiện tâm hay được Thiên Chúa thương chính là những người có lòng tốt, có ý ngay lành, có nhân ái, có bác ái - yêu thương, có từ bi - hỉ xả. Họ là những người sống chân thật với tấm lòng vị tha, biết cảm thông và giúp đỡ, dám rộng lượng và khoan dung, bởi ơn An Bình của Ngôi Lời nhập thể không tuôn đổ bừa bãi trên thửa đất cằn khô của ganh ghét, trong những  trái tim sào huyệt của thủ đọan, mưu mô ác độc, ở những góc tối kiêu căng của quyền lực, danh vọng, nơi những con người ích kỷ, tham vọng, hãm hại tha nhân.
Thực vậy, xuống thế giữa thế giới loài người đầy tội ác và đau khổ, “Thiên Chúa làm người” đã trở nên Ơn Cứu Độ, Ơn Bình An cho tất cả những ai tội lỗi, đau khổ biết chạy đến và tin ở Ngài. Ngài chính là nơi nương náu cho tội nhân, chốn ủi an của người bất hạnh, đau khổ (x. Mt 5, 3-12), đồng thời cũng là Tiếng Gọi để mọi người đi theo Ngài lên đường loan báo Tin Vui cho toàn thể nhân loại : Hôm nay Thiên Chúa thương loài người, “hôm nay Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em” (Lc 2,11), hôm nay đoàn chiên bơ vơ, ngơ ngác có Mục Tử nhân lành đến ở cùng và hiến mạng sống “cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10). Và chỉ “nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài”, con người mới ra khỏi  vùng tăm tối của tội ác và “thung lũng” nước mắt khổ đau.
Để chạy đến với Đức Giêsu, tin Đức Giêsu và theo Đức Giêsu, chúng ta phải trở nên những con người thiện tâm, tức có lòng nhân ái, là điều kiện thiết yếu để được “Thiên Chúa làm người” thương và ban tràn đầy ơn Giáng Sinh của Ngài, ơn giải thoát khỏi cạm bẫy của tội ác và hậu qủa khổ đau, khi có Chúa là Chúa Chiên lành, có Nước Trời là gia nghiệp, có Lòng Thương Xót là bến đỗ hạnh phúc, Bình An.  
Ước gì thế giới sẽ giảm nhanh, thưa dần những biến cố tang tóc, đau thương hằng ngày làm nhói tim, đứt ruột, khi tội ác không ngừng lan rộng, hoành hành. Và điều ước ấy luôn đợi chờ sự cộng tác của mọi người thiện tâm trong việc loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ, Đấng đến để cho thế gian “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Jorathe Nắng Tím   

GIÁNG SINH VỀ, ĐỪNG HOANG MANG, SỢ HÃI !

Hơn lúc nào hết, trong những ngày này, qua báo chí, và các phương tiện truyền thông, dư luận thế giới xôn xao, kể cả hoang mang về nhiều sự việc liên quan đến Giáo Hội như cách chức Hồng Y, Giám Mục phải ra toà vì bao che tội ấu dâm của nhiều linh mục, giáo phận phải bán cơ sở mục vụ để bồi thường cho các nạn nhân bị lạm dụng, nhất là biến cố Hội Đồng Giám Mục Đức quyết định đi đến cùng tiến trình đặt lại nhiều vấn đề trong Giáo Hội, trong đó có vấn đề luân lý tình dục, độc thân linh mục, và kiểm soát lạm dụng quyền bính trong Giáo Hội.
Riêng người viết, trước những sóng gió tưởng “chết đến nơi”, thì hoàn toàn ngược lại : không xôn xao, cũng chẳng chao đảo, hoang mang, sợ hãi, nhờ dựa vào những suy nghĩ đơn sơ xin được mạo muội chia sẻ với Bạn:
1.   Thiên Chúa táo bạo trong tình yêu :
Không kể đã táo bạo trong tình yêu khi tự nguyện xuống làm người, Thiên Chúa của Đức Giêsu còn táo bạo trong tình yêu khi thành lập Nhóm Mười Hai Tông Đồ, là rường cột của Hội Thánh.
Đức Giêsu đã táo bạo lập một nhóm mà nhìn vào với đôi mắt thế gian, chúng ta thấy đó là một nhóm bình thường, không có gì nổi trội : bình thường vì đa số là dân đánh cá, thuyền chài, không được ăn học đến nơi đến chốn ; không có gì nổi trội, vì  hầu hết các vị đều nghèo hoặc chỉ đủ ăn, không ai thuộc giai cấp đại gia, giầu sang, phú qúy, trừ Mátthêu nhờ làm nghề thuế vụ ; một nhóm bết bát thấy rõ khi thường xuyên hục hặc tranh giành chỗ cao chỗ thấp, bên trái bên phải, vinh quang này, danh giá nọ trong vương quốc của Thầy, mà các vị cứ tự vẽ ra, rồi hù dọa, đấu đá, kéo bè kéo cánh thách thức, khích bác nhau (x. Mc 10, 35-40) ; bết bát, khi anh quản lý của nhóm có tên Giuđa thoạt nghe tình hình căng thẳng đã vội lén lút “đi đêm” với đối phương và bán Thầy mình với giá rẻ mạt ba chục bạc (x. Mc 14,10-11), rồi anh trưởng nhóm Simôn Phêrô năng nổ tuyên bố trung thành “Thưa Thầy, bỏ Thầy, chúng con biết theo ai ? Chỉ Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68), hoặc dõng dạc, trịnh trọng tuyên xưng : “Thầy là Đức Kitô” (Mc 8,29), nhưng khi Thầy bị bắt, bị tra vấn, hỏi cung bên trong dinh Thượng Tế Caipha thì chẳng ngại ngùng chối phăng : “Tôi không biết người này là ai” (x. Mc 14,66-71) ; một nhóm  bết bát, khi Thầy yếu nhược, nhục nhằn kéo lê Thánh Giá mà không một tông đồ dám lại gần, kề vai vác đỡ ; cả đến khi chết, tháo xác xuống rồi, cũng không tìm đâu ra bóng dáng các vị, ngoại trừ  Gioan nép mình kín đáo bên Đức Mẹ.
Tuy bình thường và bết bát như thế, nhưng Nhóm Mười Hai vẫn được Đức Giêsu yêu thương vô cùng và “đến cùng” (Ga 13,1). Ngài không bỏ ai, không khai trừ người nào, nhưng trung tín trong tình yêu dành cho từng vị. Chính tình yêu táo bạo của Ngài đã biến đổi các vị, và làm cho các vị nhận ra Thầy mình đích thực là Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót, và kết qủa là tất cả các vị, trừ Giuđa, đã trung thành và chết để làm chứng Thầy mình là Thiên Chúa, Đấng đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại. 
Vì thế, chúng ta có lý do tin rằng : Thiên Chúa có đường lối riêng của Ngài, khi táo bạo chọn những con người chẳng mấy gì sáng giá, và thành lập một Nhóm “nòng cốt” chẳng có gì đáng tin tưởng, kỳ vọng. Thế mà Giáo Hội của Ngài vẫn trường tồn với những con người bất toàn, yếu đuối ấy, chỉ vì nền tảng của Giáo Hội đã không là các ông, nhưng là Tình Yêu táo bạo của Thiên Chúa trên các ông.
Đây cũng là lý do để chúng ta yên lòng và không hoang mang khi những người lãnh đạo trong Giáo Hội xem ra bất xứng hay yếu đuối cách này cách khác. Chúng ta đừng quên chính Đức Giêsu đã chọn các vị, như đã chọn Nhóm Mười Hai rất bình thường và bết bát ngày xưa, để làm chứng cho mọi người : tình yêu táo bạo của Thiên Chúa, và sức mạnh, khôn ngoan của Ngài được thể hiện trong yếu đuối, tầm thường, bết bát của con người.  
2.   Thiên Chúa kiên nhẫn trong giáo dục :
Có lần Đức Giêsu thốt lên : “Ôi thế hệ cứng lòng không chịu tin ! Tôi còn phải ở cùng các người cho đến bao giờ, còn phải chịu đựng các người cho đến bao giờ nữa ?” (Mc 9,19), khi thấy các tông đồ không đủ xác tín. Ngài còn tỏ ra ngao ngán trước tính khí nóng nẩy, háo thắng, tham vọng, kiêu căng như Tin Mừng kể lại : “các ông cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả” (Mc 9,34) ; các ông  xin lửa từ trời xuống thiêu hủy một làng người Samari, vì họ không tiếp rước các ông (x. Lc 9,51-53), hoặc nhỏ nhen, cục bộ và bực tức, khó chịu vì : “có người nhân danh Thầy mà trừ qủy” (Mc 9,38), rõ ràng nhất là chuyện tông đồ trưởng Phêrô đã giận dữ sử dụng bạo lực khi “rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ” của Thượng tế tên là Mankhô khi Đức Giêsu bị bắt (x. Ga 18,10). Trong bất cứ đề nghị mang tính tham vọng,  bạo lực, thiếu bác ái, huynh đệ  nào của các tông đồ, Đức Giêsu đều dậy các tông đồ phải nhân hậu, bao dung, quảng đại, cởi mở, và hiền lành, khiêm nhường.
Điều đáng chú ý ở đây là sự kiên nhẫn trong giáo dục của Đức Giêsu. Bằng chứng là Ngài không loại bỏ những thành viên “khó bảo, khó dậy, khó đào tạo”, nhưng nhìn vào thiện chí đổi mới của các ông và ơn đổi mới của Thiên Chúa. Ngài  nhẫn nại trông cậy vào Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ đến sau Ngài để tiếp tục giáo dục, chỉ dậy, nhắc bảo, đổi mới các tông đồ, như Tin Mừng Gioan đã ghi lại : sau khi trách Philípphê : “Thầy ở với anh em đã lâu, thế mà anh Philiphê, anh chưa biết Thầy ư ? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói : ‘Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha’…” (Ga 14,9), Đức Giêsu đã khẳng định : “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26).  
Thực vậy, cũng với tình yêu táo bạo và trung tín, Đức Giêsu đã tin tưởng vào sự đổi mới của những con người hôm nay còn đang rất bất xứng, bệ rạc, và ban cho họ ơn Chúa Thánh Thần để từng ngày nhận ra tình yêu của Ngài dành cho họ, và họ sẽ được đổi mới bởi tình yêu táo bạo và trung tín này.
Thế nên ngày chịu chức, ngày tấn phong, ngày tuyên khấn không được coi như đích đến, hay tột điểm của thánh thiện, vì như các tông đồ phải chờ Chúa Thánh Thần hiện xuống, các vị mới “toàn tâm toàn ý” mãnh liệt xác tín sứ vụ tông đồ, và hết mình thực hiện sứ vụ đó một cách qủa cảm bằng lên đường truyền giáo khắp nơi, cho dù phải hy sinh chính mạng sống mình.
Do đó, phê phán với ác ý để làm mất uy tín, hạ thấp danh dự những người của Giáo Hội thiết tưởng là việc không nên làm, nhưng phải tránh, nếu chúng ta tin vào đường lối giáo dục mầu nhiệm của Thiên Chúa đối với những người Chúa chọn. Vấn đề còn lại là các vị ấy có ý thức mình chưa hoàn thiện để không kiêu căng, tự phụ, phách lối, cao ngạo, cửa quyền, trịch thượng, khinh mạn, loại bỏ người này người nọ, nhưng từng ngày học với Chúa bài học hiền lành và khiêm nhường (x. Mt 11,29), để trở nên mục tử tốt lành (x.Ga 10), vị thượng tế biết cảm thương như thánh Phaolô viết : “Thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối ; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy” (Dt 5, 1-3), đồng thời, giáo dân tức đoàn chiên của các vị cũng phải  ý thức : không ai có quyền xét đoán, lên án ai (x. Mt 7,1-5), vì  tất cả mọi người đều có thể được đổi mới, và Thiên Chúa kỳ vọng ở cố gắng đổi mới của mỗi người, bởi Thiên Chúa có đường lối giáo dục nhiệm mầu riêng của Ngài đối với từng người, và ban đủ ơn cho những người có thiện chí trên đường đi theo và phụng sự Ngài.
Với ý thức: mình cần được trở nên tốt hơn, và không có quyền xét đoán, lên án ai, chúng ta thực sự làm chứng tình yêu táo bạo, lòng kiên nhẫn không gì sánh được trong công trình đào tạo con người của Thiên Chúa, nhờ đó, chúng ta không bực dọc, bất mãn trước thiếu sót, kể cả tội lỗi của những tông đồ, môn đệ Đức Giêsu, đồng thời giúp chúng ta biết thương cảm, chia sẻ, nâng đỡ, cầu nguyện cho các vị, cũng như các vị luôn cầu nguyện cho chúng ta.  
3.    Thiên Chúa dùng tất cả để huấn luyện chúng ta thành những “kẻ lưới người”  thiện nghệ :
Mục tiêu của Ơn Gọi tông đồ là “các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở nên những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1,17).
Với mục tiêu này, Đức Giêsu đã trực tiếp huấn luyện các tông đồ, để các ông trở nên những ngư phủ thiện nghệ “đánh cá người” trong cung cách hiền lành và khiêm nhường (Mt 11,29) của người đầy tớ trung tín và tận tụy phục vụ (x. Mt 24,45) với nếp sống Bát Phúc (x. Mt 5,3-12), bằng tinh thần cầu nguyện, phó thác, nhất là đời sống hy sinh của mục tử nhân lành sẵn sàng hiến mạng sống vì đoàn chiên (x. Ga 10).
Để đạt mục tiêu trên, nghiã là để được trở nên “đồng hình đồng dạng” với Đức Giêsu (Rm 8,29), người  đi theo Ngài được Ngài dẫn dắt qua mọi nẻo đường : có nẻo đường thênh thang, nhưng cũng có nẻo đường lầy lội, quanh co, dốc đá, hiểm trở ; có nẻo đường thơ mộng, lãng mạn, nhưng cũng có nẻo đường chán ngán, thất vọng ; có nẻo đường đầy hoa thơm cỏ lạ, nhưng cũng có nẻo đường hoang vu, đầy cạm bẫy ; có nẻo đường ngập tràn tình cảm đạo đức, nhưng cũng có nẻo đường khô khan, nguội lạnh, hoang vắng ; có nẻo đường thánh thiện, ngát hương thiêng nhân đức, nhưng cũng có nẻo đường  ngã qụy, giập vùi lê lết ; có nẻo đường hướng đạo người khác, nhưng cũng có nẻo đường yếu đuối, đáng thương ; có nẻo đường khấp khởi mừng reo chiến thắng, ngày về vinh quang, nhưng cũng có nẻo đường cô thân, thất bại, tủi buồn, lầm lũi. 
Và trên tất cả mọi nẻo đường, với mọi tình huống, tâm trạng, Thiên Chúa luôn có mặt như người Cha nhân hậu giầu lòng thương xót, chậm bất bình, rất khoan dung, nên không một chi tiết nào, dù dơ bẩn đến đâu, không một mầu sắc nào, dù xám xịt, đen ngòm cỡ nào, mà không được Thiên Chúa dùng để tạo nên tác phẩm tuyệt vời của Tình Yêu, bởi từ bàn tay và trái tim yêu thương vời vợi, Thiên Chúa vẽ được những chữ thẳng trên những hàng kẻ cong, biến những tội lỗi thành cơ hội để huấn luyện tâm tình thống hối, biết ơn, và sử dụng chính những ngang ngược, kiêu căng, ngạo mạn, để dạy bài học khiêm tốn, bao dung, nhân hậu với người khác. Xác tín điều này, thánh Phaolô đã qủa quyết với tín hữu Rôma : “Chúng ta biết rằng : Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định” (Rm 8,28).
Vì thế, sẽ không có lý do để chúng ta phê phán người khác đang khi họ còn trên đường và chưa đến đích, bởi tất cả chúng ta đều là lữ khách trên đường về, là môn sinh đang được đào tạo, huấn luyện để trở nên môn đệ đích thực và xứng danh trong chương trình Cứu Thế của Đức Giêsu. Đó cũng là lý do không cho phép chúng ta hoang mang, chao đảo, bất mãn trước những thiếu sót, khuyết điểm, kể cả tội lỗi của người khác trong Giáo Hội, dù họ là ai, ở phẩm trật nào, nắm giữ trách nhiệm  quan trọng đến đâu. Trái lại, với niềm tin vào chương trình đào tạo táo báo yêu thương và kiên nhẫn đến cùng của Thiên Chúa, chúng ta giúp nhau tránh những vấp ngã, chia sẻ với nhau những phương cách đối phó, giải quyết, mà không bôi bác, làm tổn thương nhau, vì trên hết và trước hết, tất cả chúng ta là chi thể của một Thân Thể duy nhất với đòi hỏi quan trọng nhất là Hiệp Nhất trong Đức Ái.  
Giáng Sinh về, xin ơn Bình An của Ngôi Lời nhập thể ở trong tâm hồn những người anh em đang lo âu cho tương lai, tiền đồ của Giáo Hội, hay bất mãn, bực bội, thất vọng vì những “linh tinh, lôm côm, rắc rối” gây ra cho Giáo Hội bởi chính những người của Giáo Hội, khi tin rằng Đức Giêsu yêu Giáo Hội như Hiền Thê dấu ái và không ngừng đào tạo, đổi mới, thánh hoá tất cả chúng ta, những con người ngu muội, yếu đuối, tội lỗi thuộc về Giáo Hội ấy, bởi cho những con người tầm thường, bết bát, tội lụy là tất cả chúng ta, mà Đức Giêsu đã lập Giáo Hội của Ngài trên nền tảng các Tông Đồ.
Jorathe Nắng Tím