Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2020

LẶNG LẼ YÊU THƯƠNG (Tác giả : Nắng Tím - Mây Đen)

Lời Ngỏ
Nếu tuổi thơ vô tư bám áo mẹ, nắm tay cha nhõng nhẽo, nũng nịu; tuổi dậy thì e ấp, chập chững yêu; tuổi lứa đôi tay trong tay phấn khởi xây mộng lành, thì tuổi bốn mươi, năm mươi là tuổi yêu thương lặng lẽ.
Lặng lẽ yêu, lặng lẽ chiều, lặng lẽ hy sinh, lặng lẽ quên mình, lặng lẽ chịu đựng, lặng lẽ gánh vác, lặng lẽ chôn vùi  kỷ niệm, lặng lẽ trải bước trước mặt, lặng lẽ nhìn tương lai vô định, lặng lẽ trở vào hồn mình cô quạnh, và lặng lẽ « tìm giết người trong mộng đã quên thề ».
Ôi cái tuổi lặng lẽ vì muốn quên nhiều chuyện, nhiều thứ; cái tuổi giằng co, gồng mình sám hối; cái tuổi một mình đi lạc giữa thật - hư; cái tuổi long đong giữa quê cha đất tổ; cái tuổi nặng sầu giữa phố xá phồn hoa.
Lặng lẽ đi rồi lặng lẽ về. Thương cái tuổi trải nghiệm giữa vô thường cuộc sống; tội nghiệp cái tuổi đôi lúc ngu xuẩn nghĩ mình còn trẻ nên tự tin qúa đáng, lại đôi khi đần độn tưởng mình sắp chết vì già nua nên mặc cảm đong đầy. Cái tuổi giữa thênh thang và chật hẹp, giữa tít cao và thấp tận cùng, giữa thần thánh cao siêu và kinh tởm sa đọa, giữa thiện tâm phục vụ và ác tâm tàn phá. 
Tuổi xế trưa của một đời xây mộng, nhưng mộng chưa thành mà tằm đã hết nhả tơ. Thế mới biết tình lặng lẽ đã xa xôi như mộng vỡ, và lạnh lùng lơ lửng như bóng ma trơi.    
Viết  « Lặng Lẽ Yêu Thương » là viết về trăm mối rối bời của đời hôn nhân đầy thách đố; là nuốt vào trong những giọt lệ đắng đót chưa kịp chảy đã cạn khô của đời làm chồng làm vợ giữa đêm đen lận đận; là cảm nhận muôn vàn ngao ngán trước những phức tạp của cuộc tình rất mong manh; là gắn bó thiết thân với khắc khoải của niềm tin nổi trôi giữa đại dương thử thách.
Viết về ai hay viết cho ai cũng là « thay lời muốn nói », viết thay tâm sự của chồng gửi vợ, nói thay lời của vợ nhắn  chồng. Chuyện của hai người lặng lẽ yêu nhau là câu chuyện dài lẩm cẩm, đứt đoạn, không cấu trúc, không bố cục, không trước sau, không chải chuốt lãng mạn, không mạch lạc câu cú, không « rào trước đón sau », không đại ngôn ba hoa, cũng không e thẹn, ngượng ngùng ; nói tắt là nghĩ sao viết vậy, có gì viết nấy: đơn sơ như tâm sự, đơn giản như tâm hồn, vì đơn thuần là tâm sự yêu thương, là lặng lẽ của hai tâm hồn.
Bạn đọc sẽ thả trôi đời mình theo tâm sự  của Chàng và Nàng trên giòng tâm sự của những chuyện tình lặng lẽ nắng sớm, mây chiều này.   

Thứ Năm, 27 tháng 2, 2020

MÙA CHAY TRUYỀN GIÁO 7

                                Suy Niệm 7 :  NGƯỜI LỮ HÀNH
Không mấy người hiểu được vị thế “không luôn dễ hiểu” của nhà truyền giáo, khi được sai đi rao giảng và làm chứng Đức Giêsu vừa như tông đồ, và thầy dậy, vừa như người lữ khách đồng hành với người được rao giảng.
Cái “không luôn dễ hiểu” hệ tại ở một khúc mắc khó hiểu, đó là : đã là tông đồ thì niềm tin vào Đức Giêsu tất phải vững chãi, trung kiên ; đã là thầy dậy “những gì liên quan đến Thiên Chúa” (x. Lc 24,27) ắt cũng phải hiểu biết thâm sâu, thấu đáo về Thiên Chúa. Vậy mà trong thực tế, các tông đồ của Đức Giêsu, cũng như các nhà truyền giáo nối tiếp sứ vụ loan báo Tin Mừng của Nhóm Mười Hai đã không luôn đạt được đòi hỏi này.
Trước hết, Tin Mừng cho chúng ta biết các tông đồ là những người được chính Đức Giêsu kêu gọi và tuyển chọn để làm môn đệ thân tín, “bạn hữu tri âm tri kỷ” (Ga 15,15), “kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1,17), “người thu phục người khác” (Lc 5,10), người được sai đi “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19), và các vị  được Đức Giêsu ban cho quyền chăn dắt như mục tử nhân lành (x.Ga 10), quyền giáo huấn để “dậy bảo muôn dân tuân giữ điều Thầy đã truyền” (Mt 28,20), và  quyền tha tội, thánh hoá (x. Ga 20,19-20).
Qủa thực, Đức Giêsu không những đã tín nhiệm, mà còn trực tiếp huấn luyện các vị, để các vị trở thành mục tử chăn dắt, thầy dậy và tư tế, và ước mơ của Ngài là các vị  trở nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài trong mọi sự.
Nếu chỉ dừng ở đây, chúng ta sẽ khó có thể lý giải : tại sao có những môn đệ, nhà truyền giáo sống không xứng đáng với ơn gọi của nhà truyền giáo, môn đệ ? Cắt nghiã thế nào hiện tượng suy thoái đạo đức, xa rời lý tưởng, kể cả xa lạ với sứ vụ được trao phó ? Giải thích làm sao hiện trạng không chỉ suy thoái mà còn phản Tin Mừng, đối nghịch với giáo lý đức tin, và luân lý Kitô giáo của một số ít nhà truyền giáo ? Và hiểu thế nào cho đúng khi có những môn đệ tuyệt vọng trên đường truyền giáo, thất vọng, tiếc nuối vì đã “bỏ mọi sự đi theo Đức Giêsu”, bất mãn, công kích Giáo Hội là Mẹ đã cưu mang, nuôi lớn và sai đi ?
Vâng, chúng ta không thể dừng lại ở ơn gọi tông đồ, sứ vụ truyền giáo, chức vụ thầy dậy, mục tử của nhà truyền giáo, mà quên các vị vẫn mãi là người Lữ Hành như bất cứ người Kitô hữu nào nói riêng, và toàn thể nhân loại nói chung, bởi tất cả đều được mời gọi cùng bước đi trên hành trình về Đất Hứa, cùng lên đường về Nước Trời, cùng đi theo một Đức Giêsu, Mục Tử duy nhất và đời đời.
Vì còn là người lữ hành trên đường lữ thứ đầy cám dỗ, thử thách, mà Phêrô, tông đồ trưởng, người được Đức Giêsu đăc biệt yêu thương và tín nhiệm đã nhiều lần to tiếng nào là : “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống (Mt 16,16), “Bỏ Thầy, chúng con biết theo ai, vì Thầy có lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68), nào là “cho dù tất cả có vấp phạm đi nữa, thì con cũng nhất định là không” (Mc 14,29), và ngon lành hơn nữa khi  “gan cùng mình” qủa quyết một “câu xanh dờn, hết ý” : “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mc 14,31), nhưng rồi không lâu sau đã công khai chối phăng Thầy mình ba lần liên tiếp: “Tôi thề là không biết người các ông nói là ai” (Mc 14,71).
Tin Mừng Máccô còn ghi thêm : “Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy” (Mc 14,31), nghiã là cùng thề thốt sống chết, cùng tuyên xưng nẩy lửa, cháy bỏng, ngoạn mục, nhưng kết qủa là tất cả, ngoại trừ Gioan : người thì chối bỏ, phản bội, người thì chỉ điểm lấy tiền (x. Mc 14,10-11) người thì bỏ trốn để bảo toàn tính mạng, như thánh sử Máccô đã ghi rõ : “Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mc 14,50).
Vì còn mang phận người Lữ Hành trên đường dài nhiều chông gai, thách đố, nhà truyền giáo, hay môn đệ Đức Giêsu cần ý thức : tuy mang sứ vụ cao cả, mang ơn gọi cao siêu, mang quyền tha tội cao trọng, các vị cũng vẫn không dứt  bỏ được thân phận Lữ Khách, nên bất cứ lúc nào cũng có thể ngã qụy, “vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối” (Mc 14,38) ; bất cứ ở đâu cũng có thể “lỡ bước sa chân”, vì chính Đức Giêsu đã cảnh báo : “Tất cả anh em sẽ vấp ngã, vì Kinh Thánh đã chép : “Ta sẽ đánh người chăn chiên, và chiên sẽ tan tác” (Mc 14,27) ; bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể bị “sa chước cám dỗ”, vì “Xatan xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31) ; bất cứ tình huống nào cũng có thể lạc đường, mất hướng, vì “đây là thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22,53) ; bất cứ tình trạng nào cũng có thể dẫn tới nguy cơ làm điều bất công, bất chính, vì “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19).
Vì còn phải làm người lữ khách đến hết đường đời, nên dù là môn đệ chính danh, dù được chọn làm tông đồ đích thực, nhà truyền giáo vẫn có lúc bâng khuâng nghi nan, có lúc lầm lũi sau màn sương dầy đặc, có khi ngao ngán trong đường hầm tăm tối, có hồi mệt mỏi, chùn chân, sờn lòng bên vệ đường đói lả, như ngôn sứ Êli ngày xưa trên đường lên núi Hôrép.
Và hình ảnh người Lữ Hành vật vã vì vất vả, bải hoải vì thất bại, bàng hoàng vì phút chốc tất cả đều tan hoang, dở dang, lỡ làng đã thể hiện rõ nét ở hai môn đệ trên đường Emmau :
“Cũng ngày hôm ấy”, tức ngày thứ ba sau khi Đức Giêsu chết và an táng trong mồ, “có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những việc mới xẩy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người” (Lc 24,13-16).
Hai ông kể cho người bạn đường mới là Đức Giêsu : “chuyện ông Giêsu Nadarét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá » (Lc 24,19-20).
Hai ông đã kể cho Đức Giêsu nghe những gì các ông đã biết về Đức Giêsu, và những gì thượng tế và thủ lãnh dân Do Thái đã làm cho Ngài. Và tất cả điều đó đều thật, đúng như các ông biết. Nhưng có một điều quan trọng mà các ông đã nghe, đã biết, nhưng quên hẳn, đó là “Lời Hứa sẽ sống lại từ cõi chết”, mà Đức Giêsu đã nói đi nói lại đến ba lần với các ông : “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21 ; 17,23 ; 20,18-19).
Quên Lời Hứa sống lại là dấu chỉ của thiếu sót, là hậu qủa của cơn chấn động sợ hãi, là khủng hoảng tột cùng khi hy vọng đột ngột tan vỡ. Các môn đệ của Đức Giêsu từ mấy năm nay, tuy có lúc căng thẳng vì bị người Do Thái chống đối, nhóm Pharisêu khích bác, gây sự, nhưng  không ai bỏ cuộc, vì hy vọng vào vương quốc  sắp đến của Thầy, hy vọng ai nấy sẽ được vinh hiển với danh phận, chức tước ngất ngưởng cao sang (x.Mc 10,35-40). Nay mọi việc xẩy ra hoàn toàn trái ngược làm tiêu tan hy vọng quan lộ, làm sụp đổ hy vọng một đời vinh quang, và dồn các ông vào ngõ bí, đẩy các ông vào thế kẹt, hoàn toàn bế tắc.
Đây chính là lúc các ông nhận ra phận lữ hành, thân lữ khách của mình, mà thất vọng là dấu ấn chính hiệu, không thể chối cãi, khi chính miệng các ông thú nhận : “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ítraen” (Lc 24,21).
Trước đây tuy vẫn hy vọng, nhưng hy vọng này không là hy vọng của đức tin “tin một lần là xong”, không là hy vọng của đức tin “gỗ đá, chỉ cần được đục đẽo, tạo hình một lần là trọn vẹn”, nhưng là hy vọng của đức tin phải được lớn lên từng ngày, đức tin liên lỷ chịu thử thách để trưởng thành, đức tin trôi nổi, xây sát, trầy trợt, bị tung lên dìm xuống tơi tả để  có sức dẻo dai chịu đựng. Đó là đức tin của lữ khách nên trong niềm hy vọng có nghi nan, phân vân, thắc mắc, do dự, có khả thể bỏ đi, hay ở lại, có tự do đi tiếp hay bỏ cuộc, như những thách đố cần thiết của đức tin, như thử thách để lớn lên của hy vọng.  
Vì thế, các môn đệ đã có lần nghi ngờ về giáo lý của Thầy mình, thậm chí  nhiều môn đệ đã nói với Đức Giêsu : “Lời này chướng tai qúa. Ai mà nghe nổi ?” (Ga 6,60), khi Ngài mặc khải : “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống” (Ga 6,54-55), hoặc hồ nghi, thắc mắc về phần thưởng dành cho các ông, khi Phêrô, đại diện anh em lên tiếng hỏi Đức Giêsu : “Thầy coi, phần chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì ?” (Mt 19,27). Và rất nhiều lần các ông đã do dự, phân vân trước cám dỗ bỏ Ngài, như “nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Ga 6,66).   
Vì đức tin là đức tin của người sống, nên đức tin phải sống động, và vì sống và động, nên đức tin có thể hy vọng trước đây, nhưng bây giờ thất vọng. Hy vọng trước đây khi được thấy tận mắt những phép lạ nước hoá thành rượu ở tiệc cưới Cana (x. Ga 2,1-12), bánh hoá nhiều nuôi cả đám đông hàng vạn người (x.Mt 15,32-39), người què đi được, người mù được sáng mắt, người bị qủy ám được giải thoát (x. Mt 4,23-24) kể cả kẻ chết được sống lại (x. Ga 11,1-44), nhưng hôm nay thì thất vọng và đầy ngờ vực, nghi nan, khi Thầy bị kết án tử đóng đinh (x. Lc 24,21-24).  
Vâng, thất vọng, ngờ vực, thắc mắc, nghi nan là dấu ấn chính hiệu khi đường đời không luôn thênh thang của người lữ hành, khi thuyền đời không luôn thuận buồm xuôi gió của lữ khách ; là dấu ấn không thể chối cãi, vì người lữ hành không thể biết hết những gì sẽ xẩy ra, lữ khách không thể nắm chắc, tiên liệu mọi sự, mọi việc của chặng đường ngày mai, và đường dài tương lai sắp tới.
Con đường đức tin “vững chắc, thênh thang” của các môn đệ hôm nào khi cùng thầy lên núi Tabo biến hình, hay cùng Thầy vào thành thánh giữa tiếng hoan hô vang trời của dân chúng hâm mộ nay bỗng chênh vênh, gập ghềnh, quanh co, đầy bất trắc, chướng ngại nguy hiểm, và hoàn cảnh bi đát này đã đánh thức các ông ra khỏi giấc mộng vàng khanh tướng, để trở về với thân lữ khách, kiếp lữ hành dong duổi, gian lao, còn phải  trường kỳ chiến đấu cam go, cực khổ mới mong đạt đích, đi đến cùng đường.
Giấc mộng đức tin “một lần hoàn thành cho tất cả”, “một lần hoàn hảo cho cả đời” của hai môn đệ đã vỡ toang trên đường Emmau, khi các ông phải thẹn thùng nghe Đức Giêsu trách móc : “Các anh chẳng hiểu gì cả. Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ !” (Lc 24,25). Và hai môn đệ đã nhận ra ơn gọi lữ khách phải luôn đồng hành với mọi người, khi “lòng họ bừng cháy lên” mắt họ mở ra nhận ra Đức Giêsu khi “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ”, khi đồng bàn với họ (Lc 24,30-31).
Như thế, nhà truyền giáo ngoài sứ vụ loan báo và làm chứng Đức Giêsu, còn mang một nghiã vụ khác nữa, đó là đồng hành với mọi người không chỉ như anh em, mà còn như người lữ hành cùng một thân phận, lữ khách cùng một điều kiện, bạn đường cùng một hoàn cảnh.
Nếu Đức Giêsu sai các môn đệ đi truyền giáo, Ngài cũng sai các ông lên đường và đồng hành với mọi người, đặc biệt với người được các ông loan báo Tin Mừng, giới thiệu Đức Giêsu.
Vì thế, tinh thần chủ nhân của Tin Mừng, não trạng độc quyền Lời Thiên Chúa, thái độ của kẻ thánh thiện vượt trội trên mọi người, kiểu sống của người giầu có bố thí, thi ân, ảo tửởng đức tin của mình là số một, tất cả đều không xứng hợp với nhà truyền giáo, vì như mọi người, nhà truyền giáo vẫn còn phải cùng mọi người bước đi trên đường, vẫn mãi là lữ khách đường xa, vẫn chưa hết chông gai, khó khăn, thử thách của người lữ hành trên hành trình gặp Chúa và anh em.
Hơn thế nữa, hành trình của nhà truyền giáo luôn mang hai đòi hỏi có cùng một giá trị : đòi hỏi là người hướng đạo, và đòi hỏi là lữ khách, bạn đường của mọi người. Thiếu một trong hai, bước chân truyền giáo không thăng bằng, nhưng khập khiễng, sẽ làm chao đảo, vấp ngã nhà truyền giáo ; chỉ dựa vào quyền được trao để chăn dắt, dậy dỗ, tha tội, thánh hoá, mà quên bổn phận đồng hành của người lữ hành, nhà truyền giáo sẽ từ xa lạ đến xa cách, từ phân biệt đến biệt lập, từ cao ngạo đến lố bịch, từ lập dị đến kệch kỡm. Và như thế, nhà truyền giáo không thể chu toàn sứ vụ truyền giáo được Giáo Hội trao.
Con đường Emmau của hai môn đệ khi niềm tin đổ dốc như bóng chiều sụp đổ chính là con đường truyền giáo của những người được sai đi. Trên con đường này, Đức Giêsu có mặt và cùng đi : đi để giảng dậy, giải thích cho các ông những gì liên quan đến Thiên Chúa (x. Lc 24,27) ; đi như “một người lữ hành, lữ khách” đồng hành bên các ông để nâng đỡ, an ủi, làm phấn chấn tinh thần và đốt cháy lên niềm hy vọng  sắp tắt như “ngày sắp tàn” trong tim các ông (Lc 24,29) ; đi với sứ vụ của nhà truyền giáo vừa rao giảng, hướng đạo, vừa đồng hành chia sẻ.
Ngài chia sẻ nỗi buồn, chia sẻ thất vọng, chia sẻ những xót xa của môn đệ mất thầy, chia sẻ u uất của con mất cha, chia sẻ  cay đắng của một niềm tin từ nay không dám nuôi niềm hy vọng. Như lữ khách khi trời đã xế chiều, Đức Giêsu vui lòng ở lại, và cùng chia sẻ cơm canh với hai môn đệ sau quãng đường dài đức tin nhiều thử thách.  
Và như Đức Giêsu đã giảng dậy, giải thích “những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24,27) trên đường Emmau, nhà truyền giáo cần đuợc trang bị những gì thuộc về Thiên Chúa, cũng như các nhân đức siêu nhiên, cảm nghiệm thiêng liêng để hướng dẫn mọi người đến gặp Thiên Chúa. Đồng thời, nhà truyền giáo không quên xây dựng cho mình những đức tính nhân bản cần thiết, để trở thành người  bạn đường tử tế, nhân hậu, công bình, dễ mến, đáng tin, hào hiệp, qủa cảm, hy sinh, có tinh thần đồng đội, để đồng hành với mọi người đi hết con đường Chúa muốn mọi người cùng đi, và qủang đại chia sẻ ơn huệ của Ngài cho tất cả những ai biết yêu thương và đồng tâm nhất trí đi tìm Ngài.     
Xin Chúa thương các nhà truyền giáo và ban cho các vị học với Đức Giêsu phục sinh trên đường Emmau, khi biết rao giảng, giải thích “những gì liên quan đến Thiên Chúa”, đồng thời biết đồng hành như người lữ khách, bạn đường của mọi người, để cảm thông, nâng đỡ và chia sẻ đến tận cùng những đau buồn, cay đắng, thất vọng của những tâm hồn khắc khoải, thao thức trên hành trình đi tìm Chúa là Chân Thiện Mỹ  tuyệt đối, và đốt  lên trong trái tim họ lửa Hy Vọng của Niềm Tin vào Đức Giêsu, Đấng đã sống lại thật  từ cõi chết như lời Người đã hứa để đem Sự Sống đời đời và Hạnh Phúc đích thực cho hết mọi người. Alléluia !
Jorathe Nắng Tím

ĐƯỜNG SỐNG



        Đời sống mỗi người là một hành trình, vì đời sống không tĩnh lặng, ù lì, đứng yên một chỗ, nhưng sinh động, biến chuyển, di dời, thay đổi liên tục : từ hôm qua sang hôm nay để đến ngày mai, từ tuổi thơ ở đầu đường sống đến tuổi già ở cuối đường sống. Vì thế sống là lên đường, sống là chân không ngừng bước tới từ khởi điểm đến đích điểm, nên đời sống chính là đường sống. Trên con đường sống này, ai nấy đều muốn và cố giữ sự sống ; ai nấy đều tìm mọi cách để bảo toàn mạng sống ; ai nấy đều đầu tư cho hạnh phúc cuộc sống ; và ai nấy đều ước mơ đường sống của mình có một ý nghiã và giá trị tuyệt vời.
Chính vì đời sống là đường sống, mạng sống là hành trình sống, sự sống là những bước chân trong đời sống, nên người ta có thể không cần dùng đến súng đạn, gươm đao, thuốc độc, ghế điện để giết người, để tước đọat mạng sống, tiêu diệt sự sống của người khác, mà dùng một phương cách khác bề ngoài xem ra rất sạch sẽ, văn minh, nhân văn, nhưng thực chất là sát nhân chính hiệu, giết người đích danh và cũng tàn bạo, dã man, ác độc như bao vụ giết người máu me, thê thảm, tàn nhẫn, kinh hoàng khác, đó là chặt đường sống, cắt đường sống, bịt đường sống của người khác.
Cắt đường sống của người đàn bà bị bắt qủa tang ngoại tình vừa bị giải đến, chúng ta chỉ cần chiếu theo luật Môsê, rồi ung dung, thanh thản gật đầu, và oai phong, nghiêm nghị phất tay cho xứng danh người lãnh đạo có uy quyền và khôn ngoan. Và chỉ cần có bấy nhiêu từ người lãnh đạo « vị luật mà không vị nhân », chỉ lo bảo vệ luật lệ, nguyên tắc mà không quan tâm đến sự sống con người, thì tức khắc làn mưa đá sẽ giập vùi tấm thân liễu yếu đào tơ « lỡ ngoại tình vì trót yêu », khi cắt đứt không tiếc thương con đường sống của một con người rất đáng thương đang thống thiết nài xin lòng thương xót của đồng loại để được tiếp tục bước đi trên « hành trình sống » với chồng con (x. Ga 8,1-11).
Qủa thực, chiếu theo Luật sẵn có mà làm thì dễ hơn trăm ngàn lần như Đức Giêsu đã phải « se dạ thắt lòng », phải gồng mình đối phó với đám thượng tế giả hình và kỳ hào ác ôn đang nhao nhao đòi ném đá người đàn bà có tội, trong khi chính họ đầy tội để tìm ra một luật trừ, một kẽ hở cho người đàn bà sắp bị thi hành án tử một lối thoát, một lỗ nhỏ chui ra khỏi tử lộ tìm lại con đường sống.
Họ hoàn toàn khác Đức Giêsu, Thiên Chúa của lòng thương xót đã vượt lên Lề Luật để cứu sống người đàn bà tưởng phải chết trong vài phút tới, khi mở cho chị con đường sống với ơn bình an của Ngài : « Con hãy đi bình an và đừng phạm tội nữa » (Ga 8,11).
Chặt đường sống của cô gái điếm tìm đường hoàn lương khi cô lấm lét mon men đến gặp người có quyền để xin một lối nhỏ trở về làm người tử tế, chúng ta chỉ cần dựa theo dư luận, nghe theo đám đông, nghiêng theo ban cố vấn gồm toàn những « diều hâu » đói xác người, những trái tim cạn máu thương xót, những đao thủ mặt lạnh tanh nguyên tắc, điều lệ, những cặp mắt vô hồn, vô cảm để đanh thép lườm thẳng mặt người phụ nữ tội lỗi và hét to cho mọi người cùng nghe: « Cô là hạng người trắc nết, không nên đến gần chúng tôi là những người đã được thánh hiến ». Và chỉ cần thái độ lạnh lùng, nghiêm khắc, khinh bỉ của kẻ có quyền « tha tội » như thế thôi cũng đã đủ chặt đứt phăng đường sống của cô gái « đứng đường » đang sướt mướt khóc, ăn năn .
Chọn lựa này hoàn toàn khác chọn lựa đầy trắc ẩn và kính trọng tội nhân của Đức Giêsu, Đấng thực sự có quyền tha tội, chứ không chỉ có quyền vì được ủy quyền bởi người có quyền như chúng ta, khi Ngài mở cho chị một con đường sống : « Ai yêu nhiều thì được tha nhiều » (Lc 7,47), và « lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an » (Lc 7,50).
Bịt đường sống của người con phung phá « thân tàn ma dại » trở về thì chỉ cần đanh nét mặt lại, gầm gừ một chặp, rồi thẳng tay xua đuổi : « Đồ con mất nết, hoang đàng. Cút đi khỏi mặt tao. Thà mày đừng sinh ra thì hơn ! ». Chỉ cần những lời chua chát, cay độc, đắng đót như thế từ miệng của người được người khác gọi là cha cũng đã quá đủ để bịt đường sống của đứa con đang « dở sống dở chết » cố lết thân về để tạ tội, xin được thứ tha. Vì qủa thực, nếu nhân danh uy tín gia đình, danh dự gia tộc, truyền thống giáo xứ để xua đuổi, loại trừ người con lỡ làng, tội lụy, chúng ta sẽ được khen là cứng rắn, có lập trường, có kỷ cương, có đường lối, dám nói dám làm, mà không mang tiếng là người cha nhu nhược, yếu đuối, lụy con ; không bị những đứa con « ngoan » khác trong nhà so bì, trách móc, hờn dỗi ; không bị hàng xóm « tiếng chì tiếng bấc » cho là chiều con, sợ con ; không bị họ hàng thân thuộc chê cười là « đã không biết dậy con, lại còn bị con xỏ mũi »
Một lần nữa, thái độ chọn lựa này hoàn toàn khác với những gì mà người cha nhân hậu của Đức Giêsu đã làm khi con ông trở về sau những ngày đi hoang : «Anh ta còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để. Bấy giờ người con nói rằng : « Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, con chẳng còn đáng gọi là con cha nữa… ». Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng : « Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng ! Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy » ( Lc 15, 20 -23).
Sự khác biệt càng rõ nét giữa Đức Giêsu và chúng ta và trước anh mù từ lúc mới sinh vừa được Đức Giêsu chữa lành (x. Ga 9, 1 - 41).
Ai trong chúng ta cũng biết, người mù đi đường khổ sở thế nào, mà sống là phải từng ngày bước đi trên đường sống, nên mù loà là một mất mát, thiệt thòi, thử thách lớn. Vì thế khi được sáng mắt, người mù như tìm lại con đường sống mới và anh ta ngập tràn hạnh phúc. Thế mà những người Pharisêu như chúng ta đã không vui khi thấy người mù được sáng, nhưng giận dữ khi anh ta từ nay được thấy rõ, nhìn rõ con đường sống của mình.
Không vui, nhưng giận dữ trước hạnh phúc của người khác tức là muốn phá hoại hạnh phúc đang có của họ ; không hài lòng vì người mù được sáng mắt để thấy đường đi tức muốn triệt phá đường sống vừa bừng sáng của người này ; không chấp nhận việc Đức Giêsu cho ngtười mù được nhìn thấy là một phép lạ tức muốn người mù phải đầy đọa mãi trong bóng tối, và không bao giờ được thấy rõ con đường sống.
Rất nhiều lần, chúng ta đã cùng các ông Pharisêu trưng dẫn luật Thiên Chúa của sự sống để giết chết sự sống ; quy chiếu điều khoản này, chú thích kia trong bộ Giáo Luật dầy cộm được nâng niu, giữ kỹ để ngang nhiên đặt con người thấp hơn ngày Sabát khi lên án Đức Giêsu : «Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày Sabát » khi Ngài mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh rất tội nghiệp, đáng thương (Ga 9,16).
Vâng, đường sống chính là sự sống, vì khi cắt đường sống, người ta không thể tiếp tục sống, như người đàn bà ngoại tình đang run rẩy trước « đường trở về với đời sống làm vợ làm mẹ » sắp bị cắt đứt bởi những người đàn ông nắm giữ thần quyền nhưng thiếu từ tâm, nghiã khí, cao thượng. Vâng, đường sống chính là con người sống, vì khi đường sống bị chặt, con người đang sống sẽ phải chết, như những người « thấp cổ bé miệng » bị cường quyền dồn vào đường cùng đã phải chọn cái chết để tự giải thoát. Vâng, đường sống bảo đảm sự sống, nên người ta không thể sống, nếu không còn một ngõ ngách, một lối nhỏ, một khe rãnh được bố thí cho, để có thể đi đến ngày mai, đi về một nơi có bình minh sự sống.
Và vì thế, giết người kiểu văn minh nhất chính là bịt kín đường sống của đối phương ; sát nhân kiểu tân kỳ, ngoạn mục nhất là đóng kín đường sống của người mình muốn tiêu diệt ; đánh gục người khác cách « nhân văn, có học » nhất chính là khoá kín đường sống của họ. Với cách này, chẳng ai sẽ cho ta là gian ác, bất nhân, tàn nhẫn ; chẳng người nào nhận ra bàn tay nhuốm máu và lòng dạ nham hiểm, ác thú của ta ; nhất là chẳng ai đủ nhậy bén để nhìn ra con người thật « sát nhân » đáng sợ và rất kinh tởm của ta.
Trong cuộc sống, bạn cũng như tôi, chúng ta đã ít nhiều nghe nói, chứng kiến, hoặc đối diện với những con người dùng quyền lực để đóng đường sống của kẻ không cùng phe cánh ; dùng thế lực để cắt đường sống của người bị nghi ngờ không cùng quan điểm, đường lối ; dùng ảnh hưởng bao trùm trời đất để bít kín đường sống của người không gập lưng, cúi đầu « nâng bi », nịnh bợ, xông hương, thuần phục ; dùng thủ đọan ma mãnh để triệt phá không thương tiếc đường sống của người dám lên tiếng nhắc nhở, cảnh tỉnh mình. Và chắc chắn, tôi cũng như bạn, chúng ta cũng đã gặp trong cuộc đời đầy bất công, bạo lực này những thân phận ngắc ngoải chết, ngậm ngùi chết, tức tưởi chết, quằn quại chết vì hết đường sống, vì đường sống bị phong toả, triệt hạ bất công, bất chính, bất nhân.
Và cũng như chúng ta, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhận diện cả kẻ đóng đường sống của anh em và người bị anh em đóng đường sống khi nói về Giuđa, người môn đệ đã bán Thầy mình, trong bài giảng ngày 11.04.2016 tại nhà nguyện thánh Mátta : Ngài đã lên án thái độ đóng đường sống của các thượng tế và luật sĩ trong đạo Do Thái ở Giêrusalem, khi thẳng thừng từ chối lời xin « trả lại tiền » của Giuđa , và thay vì đưa tay cho Giuđa bám trong khi tuyệt vọng, đã tạt vào mặt Giuđa gáo nước « lạnh lùng, đầy khinh bỉ » khi sẵng giọng xua đuổi: « Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh », mặc dù Giuđa đã tự thú với họ: « Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan » (Mt 27,4).
Chính thái độ đóng đường sống của các thượng tế và luật sĩ đã đẩy Giuđa đến đường cùng, ở đó, ông đã phải « ném số bạc vào Đền Thờ và ra đi thắt cổ » (Ga 27,5), bởi đừng quên : Giuđa « khi thấy Người », tức Đức Giêsu, Thầy mình, « bị kết án, thì hối hận » (Ga 27,3). Đây là dấu chứng không thể chối cãi Giuđa đang muốn được cứu sống bằng một bàn tay nâng đỡ, bằng một lời có thể là lời trách móc nhưng chia sẻ, có thể là lời với cung giọng nóng giận nhưng rộng lượng thứ tha. Nói đúng hơn, Giuđa đang đợi chờ một bàn tay dắt ông trở về con đường sống vừa đánh mất. Nhưng rất tiếc và rất đáng thương, Giuđa, tuy hối hận và nhận mình có tội vì làm người vô tội phải chết oan, đã không tìm được một bàn tay nâng đỡ, một lời ủi an, chia sẻ cực kỳ cần thiết mang tính cứu sinh trong lúc « thập tử nhất sinh » vì tuyệt vọng.
Chia sẻ không rụt rè, mặc cảm của Đức Thánh Cha muốn nói lên rằng : ngay trong Giáo Hội hôm nay vẫn không thiếu những « thượng tế, luật sĩ » chai cứng lòng thương xót, cằn cỗi tình huynh đệ, khô héo tình mục tử nên sẵn sàng giải quyết mau chóng, ruốt ráo vấn đề của con người bằng đóng luôn đường sống của con người. Và nếu trong đạo, hiện tượng đóng đường sống vẫn còn nhan nhản , thì ngoài đời không biết « đường sống » bị đóng nhiều và đe dọa kinh khủng đến mức nào ?
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2020

TÔN VINH MẸ LA VANG - NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM

MẸ BIẾT VÀ MẸ THƯƠNG
Sở dĩ Thánh địa La Vang tràn ngập con cái từ muôn phương đổ về, và Trà Kiệu, Tà Pao, Bình Triệu... lúc nào cũng rền vang kinh Mân Côi vì bất cứ ai, bất luận người lương giáo đều tin một điều : Đức Maria là người Mẹ biết và thương.
Thương và Biết là nhịp đập của trái tim Mẹ, khác với nhiều người : biết mà không thương, có khi tệ hơn : biết để giết, biết để triệt.
Thương và Biết là nét khôn ngoan, dịu dàng của đôi mắt Mẹ từ ái, bao dung hải hà, không như những cặp mắt cú vọ, diều hâu của nhiều người lúc nào cũng mở toang hau háu, như muốn lột trần và “ăn tươi nuốt sống” đồng loại.
Thương và Biết là tiếng hát trưa hè bên võng Mẹ ru con, là vỗ về nâng đỡ con thơ trên giường bệnh, mà ngoài Mẹ, không tiếng hát, lời ru nào êm ái, thánh thiện hơn, cũng không bàn tay nào đưa con vào tinh yêu sâu thẳm và hy vọng bao la, dạt dào.
Thương và Biết là bước chân nhẹ như hơi thở ngọt ngào của tình mẫu tử, là mồ hôi trên trán, nước mắt chảy dài suốt đời Mẹ cho đời con bớt truân chuyên, nghiệt ngã.
Thương và Biết là gánh nặng đời con làm oằn vai đời Mẹ, bất hạnh đời con làm lảo đảo, liêu xiêu bóng Mẹ dưới trăng khuya, mà chỉ tiếng vo ve của đàn muỗi, tiếng nỉ non của côn trùng và róc rách của mương rạch mới hiểu được nỗi niềm thầm kín.
Thương và Biết là khao khát của Me được ở bên con suốt đời, được gần con mãi mãi, không vì hạnh phúc của Me, nhưng vì hạnh phúc của con.
Thương và Biết là tình yêu liều lĩnh, mãnh liệt của Mẹ sẵn sàng thí mạng cho con được sống, “quyết sinh quyết tử” cho con được bình an.
Thương và Biết là trọn vẹn đường đời, toàn thể sinh hoạt, toàn phần con người, toàn diện cuộc sống Mẹ dành cho con, không giữ lại cho mình, dù một chút phần riêng, để con không phải thiếu thốn.


Đức Maria thực là người Mẹ biết và thương.
Mẹ biết mọi người, biết mỗi người, biết từng người. Mẹ biết nhiều việc, biết nhiều sự, biết đủ chuyện. Và Mẹ biết để thương, biết nhiều để thương nhiều, biết tất cả để thương bao la.
Mẹ biết chúng ta thiếu rất nhiều: thiếu tiền ăn, tiền nhà, tiền trả nợ, tiền nuôi chồng con, tiền chợ cho vợ, tiền học cho con, tiền nuôi cha mẹ già hai bên, tiền thuế má, tiền nộp hàng tuần cho xã hội đen để được yên ổn làm ăn, tiền đám cưới, đám tang, và nhiều thứ tiền phải chi tiêu khác ...
Mẹ biết chúng ta cần rất nhiều: cần ăn, cần mặc, cần khỏe, cần đẹp, cần có người yêu, cần bằng cấp, cần việc làm, cần sự nghiệp, cần phe cánh, cần bạn bè, cần thành công, cần nổi danh, cần an ninh, cần hiện tại an toàn, cần tương lai bảo đảm, cần tuổi già an nhàn, cần con cháu ngoan ngoãn, thành danh, cần không bị dịch Corona cướp đi mạng sống của mình và người thân, cần đủ thứ, đủ chuyện, đủ việc, đủ người ...
Và chúng ta không ngừng nhắc khéo Mẹ những thứ chúng ta cần, những sự chúng ta thiếu ... mỗi khi đến gặp Mẹ.
Bên cạnh những nhu cầu và thiếu thốn thường xuyên và quen thuộc mà chúng ta không mệt mỏi kêu xin, van nài, còn nhiều cái thiếu, cái cần, kể cả cái dư thừa nguy hiểm khác, mà chúng ta có thể không biết mình thiếu, mình cần, mình dư để xin Mẹ thương ban hoặc lấy đi; cũng có thể biết nhưng cố tình làm ngơ, vì còn trăm phầntiếc nuối.
Đó là những cái thiếu tử tế, lương thiện, công bình đối với anh em, những cái thiếu văn hoá, nhân văn, tình người trong ứng xử, những cái thiếu đạo đức làm người, làm con Chúa.
Đó là những cái cần “hiền lành, khiêm tốn”, “nhẫn nhục, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy sự chân thật” ( 1 Cr 13, 4-6).
Đó là những dư thừa nguy hiểm cho hạnh phúc và bình an : dư thừa lưu manh, ma mãnh, dư thừa bon chen, bạo lực, dư thừa đố kỵ, thị phi, dư thừa “trên đội dưới đạp”, dư thừa hèn nhát, nịnh bợ kẻ có quyền, có tiền, dư thừa hống hách đàn áp, bóc lột , lợi dụng người nghèo yếu, “thấp cổ bé miệng”, dư thừa huyênh hoang lố bịch dựa thế nuốt lời, “cả vú lấp miệng em”, chụp mũ người công chính.
Trong tất cả những cái thiếu, cái cần, cái dư phải bỏ đi ấy, “ cái thiếu lòng trông cậy và cái cần lắng nghe Mẹ dặn dò là quan trọng hơn cả”.
Bởi lòng trông cậy cho ta niềm xác tín: Mẹ biết và Mẹ thương; bởi lòng trông cậy cho ta niềm tin tưởng : Mẹ biết rất nhiều và Mẹ rất thương yêu; bởi lòng trông cậy cho ta hạnh phúc: Mẹ biết , Mẹ thương , Mẹ giải quyết, phù hộ.
Mẹ không biết để nổi giận, trừng phạt, không biết để lập hồ sơ truy tố, không biết để rêu rao, bôi bác, khinh bỉ, nhưng biết để thương xót, thông cảm, cứu giúp như tước hiệu “Hằng Cứu Giúp” của Mẹ.
Mẹ không biết rồi để đó, như nhiều cửa miệng có gang, có thép, có vàng nhưng chuyên hứa lèo, hứa cuội, cho người dưới xình bụng, ngắc ngư vì bội thực “bánh vẽ”, nhưng Mẹ tinh tế biết trước con cái thiếu gì, cần gì như ở tiệc cưới làng Cana, Mẹ đã biết trước và nhìn trước để lo liệu tất cả : nói nhỏ với Chúa Giêsu xin Ngài can thiệp bằng phép lạ cho sáu chum nước hoá thành rượu ngon ( x. Ga 2,1-11).
Mẹ biết Chúa Giêsu sẽ không từ chối lời Mẹ xin, ý Mẹ muốn, tình yêu Mẹ dành cho con cái loài người, nên Mẹ đã kín đáo dặn dò gia nhân ở tiệc cưới : “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” ( Ga 2, 5).
Vì thế, lắng nghe và làm theo lời Mẹ dặn là điều chúng ta không thể bỏ qua, nếu muốn được Chúa chúc phúc, vì chỉ Mẹ là Mẹ Thiên Chúa mới biết Thiên Chúa muốn gì, và được Thiên Chúa trân quý, nhận lời bênh đỡ, cầu bầu.
Lắng nghe và làm theo lời dặn dò của Me là làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì Mẹ chỉ lo cho vinh danh của Chúa Giêsu, Con Mẹ, và hạnh phúc đích thực, đời đời của chúng ta. Lắng nghe và làm theo lời Mẹ nhắn nhủ là nắm chắc Nước Trời làm gia nghiệp, là có Thiên Đàng ngay tại thế. Lắng nghe và làm theo lời Mẹ khuyên nhủ, chúng ta được bình an, vì luôn có Mẹ giữ gìn, chở che, bênh vực “khi nay cũng như giờ lâm tử”.
Lậy Mẹ La Vang, Nữ Vương Giáo Hội Việt Nam, xin cho chúng con tin yêu Mẹ và nhận Mẹ là Mẹ của chúng con, để không một phút giây trong đời nghi nan, ngờ vực điều tối quan trọng là Mẹ biết và Mẹ thương chúng con.
Vì biết và thương, Mẹ luôn có mặt và đồng hành với Giáo Hội qua những lần hiện ra ở khắp nơi với những dặn dò, khuyên nhủ, cảnh báo.
Vì biết và thương, nên chúng con tin rằng Mẹ sẽ ban cho chúng con sự gì còn thiếu, sự gì đang cần, và lấy ra khỏi chúng con sự gì phải bỏ đi để Chúa Giêsu được yêu mến, tin thờ và chúng con được cứu rỗi.
Sau hết, xin Mẹ thương ban cho chúng con ơn sám hối, trở về với Con Mẹ yêu dấu, và đừng bao giờ để chúng con xa Mẹ, để vui buồn Mẹ con có nhau, và khi đến giờ chúng con đi gặp Chúa, sẽ có Mẹ
cùng đi với chúng con.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2020

MÙA CHAY TRUYỀN GIÁO (6)

                                      Suy Niệm 6 : CHO VÀ NHẬN
Không ai cho nhiều bằng nhà truyền giáo : các vị cho cả cuộc đời, cho tuổi thanh xuân, cho tương lai, sự nghiệp, cho đời sống giầu sang, thoải mái, cho cả những quyền hưởng thụ chính danh, chính nghiã, chính đáng vì Nước Trời. Nhưng cũng không ai nhận nhiều bằng nhà truyền giáo : nhận tình yêu thương, lòng kính trọng, sự giúp đỡ tinh thần, vật chất của rất nhiều người, khi được sai đi truyền giáo.
Vì thế, hơn ai hết, nhà truyền giáo hiểu cho là gì, nhận là gì, và phải nhận và cho thế nào cho xứng hợp với ơn goi, sứ vụ truyền giáo của mình.
Trước hết nhà truyền giáo ý thức mình phải cho đi, vì truyền giáo là truyền cho người khác giáo lý, cảm nhận, chứng từ niềm tin, và ngay cả chính bản thân mình, và giao cho người khác kho tàng chân lý đức tin mình nhận được từ Giáo Hội.
Cũng vì sứ mệnh của truyền giáo là “truyền giao” không ngừng, nên nhà truyền giáo là người được mời gọi cho đi hào sảng, trao ban quảng đại, dâng hiến không mệt mỏi, như Ơn Gọi truyền giáo đòi hỏi, một Ơn Gọi nhận nhiều để cho nhiều, nhận tất cả để cho tất cả, mà không giữ lại bất cứ sự gì đã nhận được làm của riêng.
Nhưng tại sao nhà truyền giáo phải cho đi tất cả những gì đã nhận ?
Vì tất cả những gì nhà truyền giáo nhận được để lên đường truyền giáo, cũng như những gì nhận được trên đường truyền giáo đều đến từ Thiên Chúa, và từ những người được Thiên Chúa sai đến, như “cánh tay nối dài” của Thiên Chúa để nâng đỡ, hỗ trợ nhà truyền giáo.
Nhưng để nhận được tất cả từ Thiên Chúa, để nhận ra tất cả là Hồng Ân của Thiên Chúa, nhà truyền giáo phải “từ bỏ tất cả” trước đó, vì “ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mang sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10,37-39).
Chính vì phải từ bỏ tất cả, mà khi nhận được từ Thiên Chúa ơn gọi làm tông đồ, ơn gọi truyền giáo, sứ vụ rao giảng Tin Mừng, nhà truyền giáo nhận ra một điều rất quan trọng, đó là không còn gia sản nào thuộc về mình, không còn tài sản nào mang tên mình, không còn sự nghiệp nào mang dấu ấn của mình, nhưng tất cả thuộc về Chúa, thuộc quyền sở hữu của Chúa, những gì mình có là của Chúa, những gì mình được sử dụng thuộc quyền sở hữu của Chúa.
Nhờ thế, nhà truyền giáo tự do đón nhận, để được tự do ban phát, tự do nhận lãnh, để được tự do trao dâng. Bởi khi “từ bỏ tất cả những gì không thuộc về Thiên Chúa”, để chỉ nhận về mình những gì thuộc về Thiên Chúa, nhà truyền giáo mới thực sự được hoàn toàn giải phóng khỏi mọi ràng buộc hoặc tinh thần, hoặc vật chất với bất cứ đối tượng thế gian nào, để “toàn tâm, toàn ý, toàn thân” thuộc về Chúa, mà không vương vấn, gắn bó của cải với bất cứ con người trần tục nào, và chỉ một mình Chúa  mới thực là Đấng làm chủ cuộc đời nhà truyền giáo.
Đó là lý do Đức Giêsu đã không nhận làm môn đệ anh thanh niên giầu có (x. Mt 19,16-22), cũng như những người vừa muốn đi theo Ngài, vừa muốn trở về nhà lo an táng cha mẹ, khi nói với người đó : “Anh hãy đi theo tôi, hãy để kẻ chết chôn kẻ chết” (Mt 8,22).
Nói như vậy, Đức Giêsu không bảo chúng ta bất hiếu với cha mẹ, hay vô tình với người thân trong gia đình, nhưng sự cường điệu cố ý của Ngài muốn nói lên đòi hỏi ở người môn đệ : phải triệt để  cởi bỏ tất cả, để thuộc về một mình Chúa, và chỉ làm công việc của Nước Trời.
Nhưng tại sao Đức Giêsu muốn nhà truyền giáo phải cởi bỏ đến độ không còn gì, như chính Ngài “không có cả chỗ tựa đầu”, trong khi “con cáo còn có hang, chim trời còn có tổ” ? (Mt 8,19) ; tại sao Ngài muốn các vị “đừng mang theo vàng bạc, bao bị”, đến quần áo, giầy dép cũng phải đơn sơ, giản dị, vừa đủ, không được dư thừa khi đi rao giảng Tin Mừng ?
Thưa vì Ngài muốn nhà truyền giáo không có gì thuộc về mình, không còn gì là tư hữu, để chỉ còn thuộc về một mình Ngài, như người thợ làm công việc cho Ngài, và ngoài một mình Ngài, không ai sẽ là người trả công.
Không ai sẽ là người trả công cho nhà truyền giáo, để nhà truyền giáo hoàn toàn tự do truyền giáo, mà không bị bất cứ một áp lực trần thế nào, từ bất cứ người nào, đoàn thể, phe nhóm, tổ chức nào, vì không ai được nhận là “ông chủ” của nhà truyền giáo, ngoài Đức Giêsu. “Lãnh lương” của một mình Đức Giêsu, nhà truyền giáo sẽ không lệ thuộc ai, không bị ai lèo lái, ra lệnh, bắt buộc, điều khiển trong sứ vụ truyền giáo, bởi Đấng đã sai nhà truyền giáo “ra khơi, ra xa, ra sâu” không ai ngoài ông chủ có tên Giêsu.
Như thế, nhà truyền giáo mới tự do thi hành sứ vụ của mình, mới hạnh phúc thực hiện bài sai của Đức Giêsu mà không lấm lét sợ hãi người nào, không mặc cảm tự ti vì được ai đó cho tiền, nuôi ăn, giúp đỡ, càng không bị buộc chân, buộc tay, kể cả buộc cổ vì lấn cấn, lôm côm chuyện tiền bạc, vật chất với người này, người nọ, cho chuyện này chuyện kia.
Khi bảo các môn đệ : “Đừng kiếm vàng bạc, hay tiền giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn” (Mt 10,10), Đức Giêsu muốn nhà truyền giáo sống đơn sơ, giản dị, nghèo khó để nhà truyền giáo vừa không trở nên gánh nặng vật chất cho ai, vừa không bị lệ thuộc người nào. Không trở nên gánh nặng cho ai, vì không coi mình là người có quyền đòi hỏi, có quyền bắt người khác phục dịch “tận răng”, có lý do coi người khác như gia nhân, đầy tớ ; không lệ thuộc người nào, vì biết mình là thợ đáng được hưởng công, là đầy tớ đuợc chủ nuôi ăn, nuôi ở. Chủ đây là Thiên Chúa, Đấng sai nhà truyền giáo vào làm vườn nho của Ngài như một người thợ, một người làm, và được nuôi ăn bởi chính ông chủ rất tốt lành, quảng đại.
Đức Giêsu cũng đã nói cho các môn đệ biết Ngài nuôi các vị thế nào, khi căn dặn : “Anh em vào bất cứ thành nào, làng nào, thì hãy dò hỏi xem ở đó ai là người xứng đáng, và hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. Vào nhà nào, anh em hãy chúc bình an cho nhà ấy. Nếu nhà ấy xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ đến với họ ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em. Nếu người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại” (Mt 10,11-14).
Rõ ràng là Đức Giêsu đã bảo đảm khâu sinh sống thường ngày của nhà truyền giáo, bằng gửi đến cho các vị những “người xứng đáng”, được coi như “cánh tay nối dài” của Thiên Chúa, những cộng sự viên trung tín của ông chủ. Họ được phân bổ để lo liệu đời sống thường ngày cho nhà truyền giáo với tư cách anh em của nhà truyền giáo, vì chính họ cũng là thợ, là người làm cho cùng một  ông chủ của tất cả là Đức Giêsu.
Do đó, tương quan giữa nhà truyền giáo và những người giúp đỡ, chia sẻ vật chất, hoặc tinh thần với nhà truyền giáo là tương quan anh em, tương quan giữa những người thợ cùng làm vườn nho của Thiên Chúa, và không bao giờ được biến thái thành tương quan chủ - tớ, tương quan vua chúa - quần thần, tương quan kẻ thống trị - người nô lệ.
Qủa thực, nếu nhà truyền giáo không xác định chỗ đứng và vai trò “người thợ” và quyền lợi “được nuôi ăn” của một người làm, một tay thợ, khi được sai đi truyền giáo của mình, thì nhà truyền giáo sẽ rơi vào một trong hai tình trạng : hoặc ảo tưởng mình là người đến để thống lãnh, cai trị và có quyền đòi hỏi những người mình đến gặp để rao giảng, truyền giáo phải cung phụng mình như ý mình muốn ; hoặc sẽ mặc cảm “ăn bám, ở nhờ” và rụt rè, ngượng ngùng, e ngại trước những người có lòng tốt, khi phải nhận sự giúp đỡ của họ.
Cả hai đều nguy hiểm : trong trường hợp thứ nhất sẽ mang đến nguy hiểm kiêu căng, ngạo mạn, cửa quyền, độc tài, độc tôn, nhất là phung phí đồng tiền từ mồ hôi nước mắt của người khác, và hưởng thụ cách bất công, bất chính, không xứng hợp với ơn gọi và sứ mệnh được sai đi để yêu thương, phục vụ. Trường hợp thứ hai cũng nguy hiểm không kém, đó là tình trạng tự ty, hèn nhát, thiếu tự trọng, không bản lãnh, nhất là đánh mất nhân phẩm khi hạ thấp giá trị của mình, vì phải lệ thuộc.
Chỉ với ý thức là người được sai đi làm công, làm thợ trong vườn nho, đồng lúa của Thiên Chúa, và đáng được chủ nuôi ăn, nuôi ở, nhà truyền giáo mới bình an, hồn nhiên, khiêm tốn đón nhận những chia sẻ, trợ giúp của người khác để nuôi mình và làm việc truyền giáo, mà không kiêu căng coi đó là quyền được phục vụ, quyền được đòi hỏi, quyền được thoả mãn mọi nhu cầu cá nhân, đồng thời không tự ty mặc cảm, đánh mất chính mình vì nghĩ mình ăn bám, ở nhờ, sống “thân tầm gửi”, dựa dẫm.
Xa hơn nữa, Đức Giêsu muốn các môn đệ của Ngài, cũng như các nhà truyền giáo biết đứng ở vị thế  người thợ, người làm công của Ngài và được Ngài quan phòng, lo liệu tất cả (x. Mt 10,10), vì chỉ ở vị thế này, người môn đệ, nhà truyền giáo mới có thể cho đi tất cả, vì tất cả đều đã đến từ Thiên Chúa, tất cả đã được Thiên Chúa ban cho đầy đủ.
Nhà truyền giáo vì nhận từ Thiên Chúa sẽ nhân danh Thiên Chúa mà trao ban cho người khác ; nhà truyền giáo không có gì của mình, nên dễ dàng cho đi “nhưng không” những gì đã nhận “nhưng không”, bởi một khi tưởng mình là chủ, nghĩ mình có quyền cho hay không cho, ảo tưởng mình là tác nhân, tác giả của “kho tàng thiêng liêng, chân lý bất diệt”, nhà truyền giáo sẽ rơi vào tình trạng  hoàn toàn trái ngược với ước mong của Đức Giêsu khi được kêu gọi và sai đi :
Ngài đợi chờ tinh thần phục vụ như tôi tớ ở nhà truyền giáo : “Cũng như Con Người đến không phải để người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,28). Chính tinh thần phục vụ như tôi tớ làm cho nhà truyền giáo trở thành một chứng nhân đầy thuyết phục, vì chỉ ở tinh thần và đời sống khiêm nhường, phục vụ như tôi tớ, người ta mới nhận ra “Đức Giêsu, Chiên Thiên Chúa, Đấng đến để gánh tội nhân loại”.
Ngài mong chờ tinh thần phó thác tuyệt đối ở Thiên Chúa quan phòng ở nhà truyền giáo, và muốn người được chọn và sai đi “đừng lo cho mạng sống : lấy gì mà ăn ; cũng đừng lo cho thân thể : lấy gì mà mặc” (Mt 6,25), vì “Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6, 32-34).
Có tinh thần phó thác, nhà truyền giáo mới không tìm cách vun vén, chắt bóp, thu gom, ki bo, góp nhặt, kể cả mưu đồ biển thủ, tranh giành, chiếm đọat, biến của công thành của riêng, làm cho tiền từ túi người chạy qua túi mình, và như thế tâm hồn nhà truyền giáo sẽ không còn chỗ cho Tin Mừng, trái tim nhà truyền giáo sẽ không còn khả năng khao khát các linh hồn, và hoạt động truyền giáo sẽ chỉ còn là  kinh doanh vật chất cho bản thân, gia đình, phe nhóm.
Đức Giêsu thường tỏ ra ưu tư trước những cám dỗ vật chất, tiền bạc, vì Ngài biết mãnh lực vô hình của chúng. Chẳng thế mà Ngài luôn cảnh tỉnh các môn đệ sức quyến rũ và tàn phá của vật chất, khi coi Tiền Của như ông chủ đối nghịch với “ông chủ Thiên Chúa” : “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24). Đồng thời, Ngài khuyến cáo nguy cơ thiếu trung tín khi của cải làm lu mờ lương tâm người môn đệ, nhà truyền giáo, cũng là người quản lý gia nghiệp Ngài : “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em ?” (Lc 16,10-12).   
Và sau cùng, chính Đức Giêsu đã dậy các môn đệ của Ngài một nguyên tắc đối với tất cả những gì mình có, dù là vật chất hay tinh thần, dù là của cải tự nhiên hay kho tàng siêu nhiên, đó là : “Anh em đã nhận được nhưng không, thì cũng phải cho đi nhưng không” (Mt 10,8).
Qủa thực, nếu bình tâm, không chỉ nhà truyền giáo, mà tất cả chúng ta sẽ đều thấy mình đã nhận rất nhiều và nhưng không từ Thiên Chúa, qua Giáo Hội, gia đình,  học đường, đất nước, thế giới là cánh tay nối dài của Thiên Chúa, và tiền công Ngài trả thì vượt qúa xa công sức chúng ta làm cho Ngài, như Đức Giêsu đã khẳng định trong dụ ngôn “thợ làm vườn nho” (x. Mt 20,1-16).
Cũng vì Thiên Chúa không bao giờ chịu thua lòng qủang đại của bất cứ ai, và là “ông chủ rất tốt bụng” (Mt 20,15), như Tin Mừng qủa quyết : “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,37-38), nên Thiên Chúa muốn nhà truyền giáo, cũng như tất cả những ai đi theo Ngài phải phó thác và qủang đại trao ban những gì đã lãnh nhận.        
Tóm lại, càng ý thức mình là “người làm công được Thiên Chúa trả công”, là “đầy tớ được sai đến để phục vụ”, mà không là quan chức cai trị, khi rao giảng Tin Mừng và làm chứng Đức Giêsu cho muôn dân, nhà truyền giáo sẽ càng biết NHẬN cách xứng đáng, và xứng hợp với ơn gọi, sứ vụ của mình, như Chúa muốn. Cũng vậy, càng biết mình được chọn để làm máng chuyển ban, nhịp cầu truyền giao, người qủan lý phân phát gia sản của chủ, nhà truyền giáo càng biết CHO nhưng không, cho quảng đại, vì có sư gì đã nhận mà đã không nhận “nhưng không”, có gì có mà đã không có như hồng ân đầy tràn, có gì được mà đã không được như ân huệ của lòng thương xót hải hà, chứa chan ?
Đời truyền giáo là đời của người được gọi và sai đi để Cho và Nhận : nhận Thiên Chúa và cho Thiên Chúa, nhận ân sủng và cho ơn phúc, nhận an bình và cho bình an, nhận hạnh phúc và cho hoan lạc, nhận hy vọng và cho cậy trông, nhận Tin Mừng và cho Tin Vui nhận Lời Hứa và cho kỳ công, nhận Nước Trời và cho  Thiên Đàng, bởi nhà truyền giáo chỉ biết “CHO nhưng không như đã NHẬN nhưng không, được thúc bách bởi Tình Yêu vô vị lợi, vô cùng và đến cùng của Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng đã đến trong thế gian để mọi người được sống và sống dồi dào (Ga 10,10).
Jorathe Nắng Tím   

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2020

ĐỂ TÌNH YÊU ĐƯỢC SỐNG LẠI


Nghĩ đến sự chết, tôi sợ lắm. Tôi sợ chết bởi đã quen sống, bởi không biết gì về thế giới bên kia, không kinh nghiệm gì về sự chết. Nếu tình yêu đòi tôi phải chết dài dài, chết hằng ngày vì người tôi yêu, vì hoà mình vào nỗi đau và cuộc đời bất trắc của những người tôi yêu; vì chấp nhận lên xuống thăng trầm dâu bể với số phận của những người yêu tôi, vì lấy phận mình, nghiệp mình, duyên mình để vun trồng cây tình yêu và vui lòng bị cuốn xoáy đến tận cùng luận lý của tình yêu thì qủa thực không những sự chết làm tôi sợ mà ngay cả sự sống, cuộc sống cũng làm tôi sợ.
Trước những sòng phẳng nghiệt ngã của tình yêu, tôi thấy tình yêu mắc mỏ, kiêu sa và “chảnh ”qúa. Nó đòi tôi phải hy sinh không ngừng, phải phấn đấu không ngơi nghỉ, phải chịu đựng suốt đời. Và hầu như phải kiên nhẫn chờ đến cây số sau cùng của đời người, tôi mới hiểu tình yêu là gì và giá trị mầu nhiệm của nó. Như thế, tôi sẽ dong duổi suốt đời trên hành trình mầu nhiệm nếu tôi chọn yêu thương; nhưng liệu tôi có trung thành đến cùng khi ở vào những bước ngoặt éo le, những khúc quanh nguy hiểm, những vực thẳm sương mù, những sa mạc bão táp?
Cái khổ của tôi hôm nay là sợ chết, nhưng lại không chịu dừng chân. Tuy sợ phải chết dài dài, chết liên lỷ; nhưng tôi lại ham đi đến cùng luận lý của tình yêu chân thực. Giằng co nơi con người bất toàn, có giới hạn tạo nên trong tôi niềm lo, nỗi sợ rất mênh mang, nhưng hữu lý. Tôi đã thấy nhiều người đã đi đến tận cùng luận lý của tình yêu. Họ đã yêu và đã chết cho tình yêu để hậu thế trong đó có tôi không ngớt ca tụng, ngưỡng mộ họ. Nhưng lòng cảm phục ấy không mạnh đủ để tôi an tâm dấn thân theo họ. Tôi vẫn mông lung, mơ hồ cảm thấy còn thiếu một đảm bảo.
Điều ấy rất đúng vì tôi còn băn khoăn cho ngày mai sau khi đã nhiều lần chết vì tình yêu, tôi còn phân vân về kết qủa công trình “hy sinh vì yêu” của tôi. Ai sẽ đảm bảo đời tôi sẽ hạnh phúc, sau chuỗi ngày tân khổ, ai sẽ cho tôi niềm hy vọng “sau cơn mưa, trời lại sang”? Tôi có nhiều vấn đề mới, lo âu mới trong tôi bao lâu tôi chưa mua được “bảo hiểm sau những lần chết”.
Đức Kitô cũng có những giây phút như tôi, như anh chị trước khổ đau và những lần chết câm lặng vì tình yêu. Ngài cảm thấy lo sợ khủng khiếp, cơn lo sợ trước viễn cảnh mù mịt, trước tương lai đen tối trong giờ phút tột cùng đơn côi. Những lời than âm ỉ nghẹn ngào: “Tâm hồn Thầy xao xuyến lo sợ quá… Lạy cha, cha có thể cất chén đắng này cho con? Cha có thể lấy đi khỏi con những giờ phút kinh hoàng sợ hãi này?” (Ga 12,27).
Tâm sự rất “người” ấy Đức Kitô đã sống, đã gồng mình gánh chịu. Ở vào những khúc ngoặt trên hành trình yêu thương, Ngài cũng hoảng hốt run rẩy đổ mồ hôi máu như ta, Ngài cũng rùng mình muốn lẩn tránh, muốn buông xuôi, muốn dừng chân bỏ cuộc. Như con người, Đức Kitô đã chịu khổ và nỗi khỗ lớn nhất của con người là khổ vì yêu. Khi nghĩ đến những lần chết vì hy sinh cho tình yêu, cho người mình yêu, Đức Kitô đã liên tưởng đên hình ảnh chôn vùi của hạt luá nằm trong đất, chết trong đất. Hình ảnh thật buồn, thật nản lòng, thật tang thương. Còn gì tủi hơn là bị chôn đi. Còn gì nhục hơn là bị vùi xuống. Còn gì đau hơn là bị nhận chìm. Hạt luá đã chết trong tủi buồn đau thương. Hình ảnh buồn đến từ tâm sự buồn, Đức Kitô dẫn đến một hình ảnh đẹp tràn đầy hy vọng: “Hạt lúa phải chết đi mới đem lại muà màng sung túc” (Ga 12,24).
Như thế, niềm hy vọng thực và thành qủa thực chỉ đến từ những lần chết, những cái chết. Hạt luá không thể trổ sinh những nhánh luá vàng, óng ả; nếu nó không chấp nhận chịu chôn vùi trong đất, thối ra và chết đi. Sự sống đã đến từ sự chết. Sự sống đã được phôi thai, tạo hình trong chính cái chết. Sự sống đã nẩy mầm và khai sinh do sự chết. Ai đã cho hạt luá đã chết ấy khả năng sinh ra nhiều hạt luá, nhiều nhánh luá? Ai đã gởi gắm trong sự chết của những hạt luá bé nhỏ tiềm năng của một cánh đồng luá vàng bát ngát?
Hung bạo của sự chết đã trở thành sức mạnh của sự sống và Đức Kitô đã dùng chính hình ảnh này như một đảm bảo niềm hy vọng hạnh phúc cho những người đi theo Ngài trên đuờng yêu thương. Đây chính là “bảo hiểm an toàn” cho đời yêu thương của mỗi người. Niềm hy vọng của hạt luá biết mình sẽ đem lại muà màng ngay khi bị chôn vùi, tiêu tan. Không niềm hy vọng và bảo đảm này, cố gắng yêu thương, công trình hy sinh của hạt luá sẽ vô ích, lố bịch. Cũng trong niềm hy vọng đó, Đức Kitô ngay trong những giờ phút bấn lọan tinh thần, ê chề thân xác nhất đã can đảm chấp nhận sống cái chết kinh dị, hãi hùng: “Nhưng Lạy Cha, chính vì giờ này mà con đã đến” (Ga 12,27).
Ngài biết con đường Ngài phài đi, đau lhổ phài gánh chịu cho tình yêu được trọn vẹn, cho đường tình không đứt quãng, cho ân tình không dở dang. Niềm hy vọng sống lại luôn có mặt trên đuờng tình Ngài đi, luôn nâng đỡ thập giá nặng nề trên vai Ngài, luôn khai mở một ngày mai có bình minh nắng ấm: “Thầy sẽ lên đưòng đi Giêrusalem, ở đó người ta sẽ lên án, đánh đập, khạc nhổ, khinh mạn và đóng đinh Thầy, nhưng ba ngày sau Thầy sẽ sống lại” (Mc 10,33-34).
Hy cọng sống lại trở thành bảo hiểm an toàn cho những lần chết. Hy vọng ấy sẽ không thành ảo vọng vì có “Đức Kitô là Đường, Sự Thật, Sự Sống” bảo đảm: “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng Ngài phục sinh. Nếu ta chịu khổ với Ngài, ta sẽ cùng Ngài thống trị” (Tm 2,11-12).
Lạy Đức Kitô, Đấng là Tình yêu, là con đường tình bất tận! Xin cho con nhiệt tâm theo Chúa, dù đưòng tình nhiều oan nghiệt, đắng đót, chông gai. Chiúa đã không là “đường Tiền, đường Quyền, đường Thế Lực” hay đưòng nào khác, Chúa chỉ là đường Tình Yêu và trên tuyến đường tình duy nhất này, Chúa đến với nhân loại, với con.
Ờ mỗi ngã tư đường tình con đi, con đều thấy thập giá, những cây gỗ cong queo, xấu xí. Có phải những cây gỗ ấy sẽ trổ bông, xanh lá ngày sống lại? Có phải những chùm lá của thân gỗ khô thô kệch, sần sùi bị nguyền ruả ấy sẽ rợp bóng cho nhiều cuộc đời lầm lỡ? Ở mỗi ngã tư đường, con vẫn thấy tay Chúa vẫy đều nhắn nhủ con: “Hãy cố bước từng bước trong yêu thương”.