Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2020

MẸ, NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM

Viết về người Phụ Nữ Việt Nam là vinh dự lớn cho người viết, vì được viết về Mẹ. Hơn nữa, tâm tư dành cho người phụ nữ Việt Nam có tên “Mẹ” ấy, cũng là tâm tình người viết kính trao, mến gửi về nhiều người phụ nữ khác có những tên khác như dì, cô, mợ, thím, chị, em, bạn gái, người yêu, người tình… và tất cả các Phụ Nữ Việt Nam là đồng bào, đồng hương qúy mến.
Mẹ tôi cũng như phần đông phụ nữ Việt Nam khác ít quan tâm đến chuyện trang điểm, làm đẹp, làm xinh, nhưng lại rất tình. Mẹ tình với bố, tình với con cháu, nhưng dễ thương nhất vẫn là cuộc sống tình nghiã của Mẹ với mọi người. Đặc biệt Mẹ tình nghiã với họ nội, mặc dù thời làm dâu, mẹ khổ nhiều với các cô, em của bố, vì cái thời ấy, có mấy ai “về làm dâu nhà chồng” mà không khổ. Thế mà chưa một lần tôi nghe mẹ thở than, kể lể đời làm dâu của mẹ, và tỏ ý trách móc bà nội, các cô, mà  chỉ qua lời kể của các dì : “Mẹ mày làm dâu khổ sở lắm”, chúng tôi mới biết đời Mẹ cũng nhiều vất vả gian truân.
Mẹ không được đi học, vì văn hoá Khổng Mạnh xem nhẹ, coi thường phụ nữ, và ông bà ngoại là những ngưòi chịu ảnh hưởng nặng nề của chủ nghiã “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, khi quy định, kiểm sóat chặt chẽ đời người phụ nữ, theo quy luật : “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” - còn bé thì ở nhà với cha mẹ, lấy chồng phải theo chồng, chồng chết phải theo con, nên Mẹ không được xếp vào hàng người “thông minh, có học”. Nhưng chúng tôi không cần Mẹ thông minh, chỉ say mê, ngưỡng mộ đời hy sinh, quên mình của Mẹ.  
Những năm tháng ly loạn, đổi thay bao đời chính trị, mầu cờ, Mẹ vẫn luôn là người “ở lại sau cùng” để đối phó, gánh vác, lãnh chịu hậu qủa, vì Bố không thể ra mặt đương đầu, bởi đàn ông ở nước tôi, thời nào, thể chế nào cũng dễ dàng bị đưa đi “biệt tăm biệt tích”, không ngày về.
Mẹ không giỏi giang, kiểu bà Tú Xương : “Quanh năm buôn bán ở ven sông. Nuôi đủ năm con với một chồng” như thơ ông tú ca tụng vợ, nhưng Mẹ rất dịu dàng, và nét dịu dàng đã vượt xa cái giỏi giang Mẹ thiếu. Mẹ dịu dàng trong lời ăn tiếng  nói, nên không làm mất lòng ai ; Mẹ dịu dàng khi khuyên bảo, dậy dỗ, nên chẳng con cháu nào giận dỗi Mẹ ; Mẹ dịu dàng trong hành xử, nên không ai bị Mẹ làm tổn thương vì Mẹ, dù đôi khi Mẹ cũng cố ý lái người khác đi theo đường hướng, ý muốn của Mẹ.
Mẹ cũng không bề ngoài bầy vẽ cầu kỳ, nhưng đơn sơ, chân thành, tế nhị, nên con cháu không ngượng ngùng hỏi han, tâm sự, không ngại ngùng giữ kẽ, đóng kịch, giả hình, nhưng gần gũi con cháu vì thật thà, hiểu đươc mọi người vì chân thành, đơn sơ, và được mọi người tin tưởng, yêu mến, vì kín đáo, tế nhị.
Hôm nay Mẹ không còn nữa, nhưng Mẹ vẫn là hình ảnh người phụ nữ Việt Nam mà con ca ngợi khi có dịp, và những đức tính của Mẹ luôn là niềm hãnh diện của con về người phụ nữ Việt Nam.
Con say mê hình ảnh Mẹ Việt Nam, cũng là hình ảnh người phụ nữ Việt Nam một đời chỉ biết hết mình, hết tình Hy Sinh : hy sinh cho cha mẹ, hy sinh cho chồng con, hy sinh vì làng xóm, hy sinh vì đất nước, dân tộc. Ở đâu trên quê hương ngàn năm nô lệ, trăm năm đô hộ, mấy chục năm chinh chiến, tiếp nối là thời gian đằng đẵng căng thẳng chẳng biết đến khi nào bình an, thanh thản, người phụ nữ Việt Nam vẫn tần tảo hy sinh, tận tụy quên mình, và là người “sau cùng ở lại” cho vẹn nghiã, trọn tình với gia đình, non sông.
Con ngưỡng mộ Mẹ vì Mẹ sống vì mọi người, cũng như ngưỡng mộ người phụ nữ Việt Nam suốt đời thiệt thòi, không chỉ vì xã hội “trọng nam khinh nữ”, “chồng chúa vợ tôi”, “con gái là ngoại tộc”, mà còn vì não trạng và thú vui thiếu nhân văn của không ít người xem phụ nữ chỉ là công cụ phục vụ, và phương tiện đáp ứng nhu cầu.
Con trân qúy Mẹ vì một đời lương thiện, chính trực, cũng như trân trọng người phụ nữ Việt Nam giữa cuộc sống nhiễu nhương, xô bồ đầy bất công, bất chính vẫn “nhẫn nại, kiên cường từng ngày dậy dỗ con thơ ăn ngay ở lành, kính trên nhường dưới, tiên học lễ - hậu học văn, vị tha, bác ái”.
Con ghi khắc hình ảnh khiêm tốn, hiền lành, “chịu thương chịu khó” của Mẹ, như sẽ chẳng bao giờ để phai nhoà trong tâm tưởng người phụ nữ Việt Nam không chỉ anh hùng trong chiến tranh, khi thay chồng nuôi dậy đàn con bé bỏng, mà còn anh dũng thay chồng lặn lội từ sáng sớm đến chiều hôm kiếm ăn nuôi cha mẹ già, và đàn con, khi chồng ngoài chiến trường trước “làn tên mũi đạn”, hay trong trại cải tạo heo hút, xa xôi.
Con hạnh phúc mỗi khi thấy Mẹ nhìn con từ bàn thờ có hương khói nghi ngút, cũng là giây phút con nhớ đến và nguyện cầu ơn bình an cho tất cả phụ nữ Việt Nam, vì hơn ai hết, những người Phụ Nữ Việt Nam đáng kính, đáng yêu, đáng mến luôn là niềm hãnh diện không chỉ của con, mà của cả dân tộc, giống nòi.
Mẹ ơi, nhớ Mẹ nhiều trong ngày lễ Thế Giới Phụ Nữ, con cũng nhớ những người Phụ Nữ Việt Nam con quen biết, chịu ơn, yêu thương, gắn bó, có trách nhiệm, và càng yêu Mẹ, con càng thương mến, biết ơn họ hơn. 
Mẹ là người phụ nữ đầu tiên con biết, con yêu, và là người thứ nhất đã dậy con lòng kính trọng người phụ nữ. Nhờ Mẹ, con khám phá giá trị tuyệt vời và không thể thiếu của người phụ nữ cho con người và cho cuộc sống. Là người phụ nữ đầu tiên đi vào đời con, đúng hơn là con đi vào đời Mẹ, khi được êm ấm chở che trong cung lòng Mẹ, để con được Mẹ truyền cho tình yêu, tấm lòng qủang đại, hào hiệp và cao thượng phải có đối với phụ nữ, vì qua Mẹ con hiểu phần nào hy sinh trời bể nhưng âm thầm, lặng lẽ, kín đáo của người Phụ Nữ Việt Nam như Mẹ. Và con xác tín một điều : vì không có Mẹ, không thể có con ; thiếu Mẹ, con không thể làm người và thành nhân, nên con cũng không thể hạnh phúc trong đời làm người, nếu không có những người Phụ Nữ tình nghiã, dịu dàng, hy sinh, kín đáo, tế nhị là Mùa Xuân của nhân loại, Hy Vọng của mọi Thế Hệ và Trái Tim của đời con.
Viết về Mẹ, người phụ nữ Việt Nam mà người viết say mê, ngưỡng mộ, trân qúy, biết ơn là “thay lời muốn nói” với tất cả Phụ Nữ Việt Nam, với một ước mơ và lời cầu : Ước mơ quê hương chúng ta thôi bất hạnh, và cầu cho người phụ nữ trên đất nước này được hưởng trọn vẹn Hạnh Phúc làm con, làm chị, làm em, làm vợ, làm  mẹ, làm bà, bởi một lý do rất đơn giản : người phụ nữ Việt Nam suốt đời luôn là “người đầu tiên có mặt để chịu thiệt thòi”, và là “người cuối cùng ở lại” để gánh hết hậu qủa thương đau.
Jorathe Nắng Tím  

ĐƯỢC ĐI VÀO VINH QUANG CỦA THIÊN CHÚA


                Suy niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 2, Mùa Chay, Năm A
Được yêu thương, chiều chuộng hơn các tông đồ khác, “các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê” đã được Đức Giêsu cho theo mình, “đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17, 1-2).
Cuộc biến hình của Đức Giêsu đã xẩy ra sau khi Ngài “bắt đầu tỏ ra cho các môn đệ biết : Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Và tất nhiên, phản ứng chung của các môn đệ là buồn rầu, lo âu, thất vọng, ngoại trừ Phêrô đã kéo riêng Người ra và trách Người : “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy !” (Mt 16,22), nhưng tức khắc ông đã bị Đức Giêsu nặng lời khiển trách : “Satan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,23).
Thực vậy, dù đã gần tròn ba năm ở với Thầy, nhưng các tông đồ vẫn chưa hiểu hết đường lối của Thầy mình, nên các vị vẫn “bán tín bán nghi” sứ mệnh Cứu Thế của Đức Giêsu.
Sở dĩ các vị chưa thể hiểu hết, vì cho đến lúc này, các vị vẫn ở trong đời thường, nhìn Đức Giêsu với đôi mắt bình thường, chấp nhận đi theo Đức Giêsu như một môn sinh bình thường, và đánh giá Thầy mình cũng bình thường như các sư phụ khác trong đời thường.
Chính vì thế, Đức Giêsu đã biến hình, và cuộc biến hình của Ngài trước mặt ba tông đồ là một biến cố rất quan trọng thay đổi tư duy và củng cố chọn lựa đi theo Ngài của cả Nhóm Mười Hai :
1.   Biến cố “Biến Hình” đã được thực hiện ở ngoài đời sống bình thường :
Tin Mừng ghi lại rất rõ : “Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao” (Mt 17,1).
“Đi riêng ra một chỗ” nói lên một cách biệt, một không gian đặc biệt, một nơi chốn sinh hoạt không bình thường như những ngày thường, vì vị trí hiện diện đã “khác thường”.
Khi “đi riêng ra một chỗ”, Đức Giêsu tách ba môn đệ ra khỏi đời sống thường ngày, ở đó, các ông đã chỉ thấy ở Thầy mình những gì thuộc thế giới bình thường, mà không thể thấy những “phi thường” ở Thầy.
Điều này nói lên sự cần thiết của nhu cầu “đi riêng ra với Thiên Chúa”, bằng “đi ra khỏi” con người mình, nhà mình, “đi ra khỏi” danh phận, quyền lợi, ảnh hưởng của mình, để “trơ trọi, trần trụi” một mình với Thiên Chúa, bởi chúng ta chỉ thực sự tìm gặp được Thiên Chúa, được chạm vào Thân Thể Thiên Chúa, được thấy tận mắt Thiên Chúa, được diện đối diện với Thiên Chúa trong vinh quang của Ngài, nếu chúng ta chấp nhận “đi riêng ra một chỗ” với Ngài trong tình trạng không tìm kiếm gì, ngoài tìm kiếm Ngài ; không gánh gồng, đeo mang  gì, ngoài khát vọng được thấy Ngài ; không tham vọng, ước mơ gì, ngoài được ở với Ngài, như ba môn đệ đã theo Ngài, “đi riêng ra một chỗ” mà không cần biết mình đi đâu, không cần mang theo cơm nước, áo quần gì, mà chỉ biết được theo Ngài “đi riêng ra một chỗ”.
Đức Giêsu đưa các ông “tới một ngọn núi cao” (Mt 17,1). Núi cao trong truyền thống Kinh Thánh là nơi Thiên Chúa ngự đến (x. Tv 67,16 ; 1 V 19,8), nơi Thiên Chúa chọn để nói với con người, nơi con người nghe được tiếng Thiên Chúa, như Môsê (x.Xh 19,3 ; Đnl 32,49), nơi thờ phượng Thiên Chúa (x. Xh 3,12 ; Ed 20,40).
Trong Tân Ước, Đức Giêsu cũng thường lên núi để cầu nguyện (x. Mt 14,23), lên núi để giảng dậy (x. Mt 5,1), và những ngày sau hết, “ban ngày Đức Giêsu giảng dậy trong Đền Thờ ; nhưng đến tối, Người đi ra và qua đêm tại núi gọi là núi Ôliu” (Lc 21,37).
Đưa ba tông đồ cùng Ngài lên “một ngọn núi cao”, Đức Giêsu đã chọn cho các ông một không gian đặc biệt, một nơi chốn “thánh thiện” xa khỏi đời thường, một chỗ thinh lặng, thanh vắng, bởi Thiên Chúa chỉ nói với con người trong tĩnh lặng, và sâu lắng của tâm hồn, xa khỏi những huyên náo, ồn ào của dòng đời bon chen, vội vã, vì Thiên Chúa  của chúng ta là “Đấng hiện diện nơi kín đáo” (Mt 6,18), luôn căn dặn môn đệ Ngài “cầu nguyện nơi kín đáo” (x. Mt 6,6), làm phúc cách kín đáo (x. Mt 6,3), ăn chay càng phải kín đáo hơn (x. Mt 18).
2.   Biến cố “Biến Hình” tỏ cho các tông đồ vinh quang Thiên Chúa của Đức Giêsu :
Khi biến hình, Đức Giêsu đã cho ba tông đồ khám phá dung mạo vinh quang thuộc về Thiên Chúa của Ngài, mà bấy lâu các ông còn nghi ngờ. Dung mạo này hoàn toàn khác với dung mạo các ông thường gặp, khi Ngài ở với các ông, cùng các ông dong duổi trên khắp nẻo đường truyền giáo, nhất là không giống chút nào dung mạo mà các ông sẽ thấy trên đường Ngài vác Thánh Giá, và giang tay chết trên Núi Sọ.
Nhờ được thấy dung mạo vinh quang trên núi khi Đức Giêsu biến hình, mà các ông sẽ nhận ra Ngài sau khi Ngài sống lại từ cõi chết.
Vinh quang Thiên Chúa ấy còn được tỏ ra khi các ông nghe được tiếng phán ra từ đám mây : “Đây là Con yêu dấu của Ta. Các ngươi hãy vâng lời Người !” (Mt 17,5).
Sau cùng, sự có mặt của hai ông Môsê, và Êlia, là hai nhân vật rất quan trọng trong Cựu Ước “hiện ra đàm đạo” với Đức Giêsu đã là bảo chứng chắc chắn và hùng hồn về thiên tính của Thầy mình (x. Mt 17,3).
3.   Biến cố Biến Hình có mục đích củng cố niềm tin của các môn đệ Đức Giêsu :
Qua ba tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan, là ba vị có uy tín, Đức Giêsu đã dùng biến cố Biến Hình để củng cố niềm tin vào Ngài không chỉ của ba ông, mà của tất cả các tông đồ, môn đệ khác.
Ngài biết các ông sắp phải trải qua cơn sóng gió dữ dội làm chao đảo niềm tin vào Ngài của các ông, khi Ngài “phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết” (Mt 16,21). Cũng vì niềm tin sẽ bị lung lay, do thử thách nặng nề, và thách đố cam go khi thấy Thầy mình bị kết án tử hình, đóng đinh vào thập giá, mà các ông sẽ rất khó tin : ngày thứ ba Đức Giêsu sẽ sống lại, như Ngài đã nói trước với các ông (x. Mt 16,21).
Vì thế, Đức Giêsu đã cho ba người trong các ông thấy vinh quang của Ngài khi biến hình, để các ông tin tưởng, và nâng đỡ nhau tin vào mầu nhiệm Phục Sinh vinh quang sau khổ hình và tử nạn của Ngài
Tóm lại, với biến cố Biến Hình vinh quang trên núi cao, chúng ta được Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” mời gọi theo Ngài “đi riêng ra một chỗ”, để được thấy Ngài trong vinh quang của Thiên Chúa chí thánh, toàn năng, được nghe chính tiếng Chúa Cha nói về Ngài, hầu đức tin của chúng ta đủ mạnh để lên đường làm  chứng về Ngài trước muôn dân.
Hành trình làm chứng ấy chắc chắn không dễ, nhưng hứa hẹn nhiều bất trắc, rủi ro, nguy hiểm, “vì tôi tớ không hơn chủ. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,20). Nhưng hành trình ấy tràn đầy hy vọng và tình yêu, vì được Chúa Cha bảo đảm qua tiếng Ngài phán từ đám mây : “Đây là Con yêu dấu của Ta… Hãy vâng lời Người !”, và chính Đức Giêsu, Đấng sai chúng ta lên đường làm chứng Tin Mừng đã âu yếm trấn an : “Chỗi dậy đi, đừng sợ !” (Mt 17,7), như Ngài đã ân cần đến gần và động viên các tông đồ Phêrô, Giacôbê, Gioan khi các vị “ngã sấp mặt xuống đất”, vì kinh hoàng, sợ hãi (x. Mt 17,6), bởi Ngài đã hứa cho những ai theo Ngài “được đi vào vinh quang của Thiên Chúa”.  
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 28 tháng 2, 2020

Thay Lời Kết (Lặng Lẽ Yêu Thương)

Trên đây là những dòng tâm sự không đầu không đuôi, những cục “xì-trét” to đùng, những phụng phịu, hờn dỗi, những giận dữ bất ngờ, những xót xa đột xuất, những mơ ước bâng khuâng, những mòn mỏi đợi chờ… của hai người đã một thời tha thiết yêu, nay vẫn còn yêu nhưng dật dờ, cô đơn, lặng lẽ.
Bạn đọc gặp ở đây tâm sự buồn, rất buồn, vì tâm hồn hai người đang ngổn ngang trăm nỗi, không khúc chiết, phân đoạn, vì trái tim họ đang rối rắm, hoang mang, sục sôi u uất.
Đây là cảnh sống của không ít hôn nhân đang khủng hoảng, là tâm sự của số đông đôi lứa trong thử thách. Thử thách, khủng hoảng là những thách đố cần thiết của đời người. Riêng với hôn nhân, thử thách, khủng hoảng không chỉ là thách đố, mà còn là “lương thực hằng ngày”.
Những chia sẻ không lớp lang của hai người đang vừa lặng lẽ yêu thương, vừa lặng lẽ rẽ đường, đổi hướng nhắc nhở người trong cuộc ý thức cái chênh vênh phức tạp của khúc quanh đời vợ chồng.
Chính trong vô trật tự của cảm xúc, trong xáo trộn của ký ức, trong hỗn mang của quay quắt khát khao, trong miên man vô tận của thao thức mà người ta nói thật, viết thật, nghĩ thật, chia sẻ thật; cũng như khi rớt xuống đáy sâu của hiện hữu, con người sẽ tự nguyện tháo bỏ mọi mặt nạ.
Những sự thật tình cảm trên có thể là sự thật của bạn. Rất có thể, hoàn cảnh của nhân vật Chàng và Nàng cũng là tình trạng của nhiều người không tên, và sự thật của cặp vợ chồng “Chàng - Nàng” cũng là sự thật của nhiều hôn nhân, gia đình.  
Tình yêu đôi lứa ở vào độ tuổi bốn mươi, năm mươi là tình giữa trưa hè nắng cháy nên hay choáng váng, mệt nhoài khi bước chân nặng nề, vòng tay buông lơi, môi hôn hờ hững. Cũng vào thời điểm này, nhiều căng thẳng phát sinh làm cho tình yêu  trở nên ươn lười, lặng lẽ.
Mục đích của người viết là chia sẻ những khó khăn của thời vợ chồng “khó ăn khó ở”, vì hằn sâu nhiều hiểu lầm, lấn cấn nhiều tiêu cực, chất chồng nhiều lầm lỗi, bởi có mấy vợ chồng tránh khỏi lục đục, và mấy cặp đôi được coi là hoàn hảo, có chăng là trên màn ảnh, sân khấu, tivi…
Đời vợ chồng giăng mắc nhiều vấn đề, vì là đời của nhiều người cùng lúc phải gắn với nhau: đời vợ, đời chồng, đời cha mẹ, con cái, đời thân sinh hai bên.. Tất cả đan quyện, chằng chịt như màng nhện, nên lắm lúc lôm côm, rối ren đến nhức đầu.
Có nhiều thái độ trước  hôn nhân lặng lẽ: Có người coi chuyện “không muốn nói với nhau” là chuyện nhỏ, không cần quan tâm. Một khi rơi vào tình trạng lặng lẽ lạnh lùng rồi, thì người chồng thường tiên phong để cuộc tình trôi luôn, mà không nặng lòng tìm phương án cứu chữa; có người đợi chờ thời gian như thần dược sẽ vực dậy hôn nhân đang hấp hối; nhiều người khác “án binh bất động”, không phải vì không biết phải làm gì, nhưng vì không muốn làm gì, vì tự ái, sĩ diện.
Tự ái, sĩ diện là hai kẻ thù lớn trong khủng hoảng hôn nhân. Thực ra, hai người tận đáy sâu tâm hồn đều muốn “tái lập hoà bình, ổn định ân ái”, nhưng tự ái to đùng, sĩ diện vĩ đại, nên cả hai không ai mở lời, làm bước chân thứ nhất. Cứ thế cho đến khi cả hai không còn nhận ra nhau, vì lặng lẽ đã giết chết tình yêu trong họ từ lúc nào.   
Tự ái làm hai người xa nhau, vì khi tự ái cả hai không nhìn nhau, không hướng về nhau, không nghĩ đến hạnh phúc, nhu cầu của nhau, nhưng mỗi người chỉ nhìn mình, nghĩ về mình, tìm chính mình. Trong hôn nhân, càng tìm mình, càng mất nhau; càng lo cho mình, càng xa nhau; càng củng cố pháo đài bản thân, càng làm đổ vỡ lâu đài “hôn nhân”. Bởi chấp nhận  cưới vợ, lấy chồng là chấp nhận quên một phần hay nhiều phần đời mình, có khi phải quên cả cuộc sống riêng cho hạnh phúc chung của hai người. Khư khư giữ cho mình tất cả từ định kiến, đam mê, thói quen, nếp sống, nhu cầu… e rằng sẽ chẳng có nhau lâu.  
Lặng lẽ vì thế không mang tính tích cực nào, nhưng rất nguy hiểm khi trở thành một loại siêu vi trùng âm thầm, êm ả, nhẹ nhàng, kín đáo đục khoét cơ thể Hôn Nhân. Vợ chồng bắt đầu bằng ngao ngán cái im lặng nặng nề, nhưng rồi sẽ quen và cho rằng: “im lặng là vàng”, khi mỗi người một góc đời riêng, một góc phòng riêng, một góc tình riêng, một góc phố riêng, mà tự nhiên và đương nhiên chẳng ai còn quyền đá động, can thiệp trên ai. Cả hai thấy mình được tự do chắp cánh … cho đến lúc một tờ ly dị có chữ ký vội vã, nguyệch ngoạc của hai người để hợp thức hoá tình trạng “đời riêng, riêng đời” từ lâu đã thành nếp.
Nêu lên những cạm bẫy của “lặng lẽ ” trong hôn nhân, người viết không bi quan, đầu hàng, thỏa hiệp nhưng cùng bạn đọc tìm những phương án hữu hiệu để trả lại cho hôn nhân tiếng nói cười rạng rỡ, và chia sẻ yêu thương rộn ràng.
1. Trước hết, cả hai cần khiêm tốn trở về :
Nghe hai chữ khiêm tốn, người đang giận sẽ khó có thể chấp nhận, vì cho rằng: khiêm tốn là thua, khiêm tốn là đầu hàng, là lép vế, là “sợ vợ, lụy chồng”, khiêm tốn sẽ làm cho đối phương “thừa thắng xông lên”,  mở đường cho “địch ” thừa cơ hội lấn lướt, ra điều kiện, yêu sách.
Đúng vậy, người ta sợ khiêm tốn sẽ trở thành cái cớ, cơ hội cho đối phương “thừa thắng xông lên” để thêm một lần nữa mình bị vùi dập. Như “gà phải cáo”, người trong cuộc biết sợ, và “nhất cử, nhất động” sẽ e dè, ngần ngại dấn thân. Cũng vì ngần ngại mà cả hai không tỏ ra khiêm tốn trước nhau. Cũng vì e dè, mà chẳng bên nào chịu nhún nhường, “xuống nước”, nhưng nuôi dưỡng một tình hình luôn căng thẳng, đối đầu !
Vì trở về là trở về với nhau, nên hai người phải cùng khiêm tốn, cùng có thiện chí trở về. Đó là chià khoá tháo cởi tranh chấp, gỡ mở đối kháng đang  âm ỉ trong lặng lẽ chờ ngày bùng nổ.
Trở về với nhau đòi ước muốn trở về của cả hai người, bởi một người không muốn thì làm sao có nhau để trở về? Thiện chí là lòng muốn, thiện chí là khao khát, thiện chí là ước ao, nên đường về với nhau sẽ mãi là “đường đi không đến”, nếu chỉ một người thiện chí, còn người kia cố chấp, ngoan cố; chỉ một bên “xuống nước”, còn bên kia cứ ào ạt tấn công. Thiếu thiện chí của một người, mọi cố gắng đều sẽ không đem lại kết qủa xây dựng, hàn gắn hôn nhân của hai người.
Phải cả hai, vì hôn nhân được hình thành bởi hai người. Có những công việc rất khó, nhưng chỉ cần một người thiện chí đã đủ tái tạo, hình thành, cứu vãn, nhưng riêng hôn nhân, vì là đời chung của hai người, là tập hợp của riêng hai người, nên không thay đổi được gì, nếu cả hai không cùng cộng tác. Đã không thiếu những người vợ, người chồng đơn phương “khiêm tốn trở về”, những người vợ sẵn sàng xuống sâu tận bùn để cứu hôn nhân đang đổ vỡ, vớt gia đình đang chết chìm, nhưng thiện chí ấy cuối cùng cũng đành bó tay trước người chồng cứng cỏi, mù quáng và  thách thức, ngông cuồng.
Cái khó của hôn nhân là làm gì cũng phải cả hai, nên đơn phương hoạch định, đơn phương hành động đều không mang lại kết qủa mong muốn. Tính cách “cộng thể, tập hợp, hiệp nhất nên một” trong hôn nhân đã thực sự đặt vợ chồng đang có vấn đề trước một khó khăn rất nhiêu khê, phức tạp, đó là “phải cùng nhau bắt đầu lại”.
2. Can đảm bắt đầu lại:
“Bắt đầu lại” mới nghe tưởng dễ, nhưng cực kỳ khó khăn khi phải bắt tay xây dựng lại mọi sự từ đống tro tàn lạnh lẽo. Không dễ chút nào khi phải đứng dậy và làm lại tất cả từ đổ vỡ hoang tàn. Nhìn lại quá khứ bẽ bàng, nhìn lại tháng ngày lặng lẽ, nhìn vào sinh hoạt căng thẳng, nhớ lại những trận cuồng phong “đấu đá” kiểu chiến tranh “lúc nóng, lúc lạnh”, người ta nghi ngờ hạnh phúc ở tương lai, và chột dạ lo lắng: ngày mai  sẽ chẳng có gì khá hơn, có khi còn tệ hơn gấp bội. Vì thế, tâm trạng chung của  những cặp vợ chồng đang có vấn đề là không tin ở một tương lai sáng hơn.   
Chính niềm tin đang rất yếu đuối như tình yêu đang bấp bênh, chao đảo làm cho hai người không dám tin ở nhau, và không đủ can đảm bắt đầu lại.
Nhưng nếu không bắt đầu lại, thì cuộc tình sẽ tan vỡ, hôn nhân sẽ chết dần mòn, và gia đình sẽ ly tan. Có những trái tim đã vỡ toang khi nghĩ đến thảm họa ly dị, nhưng lại không đủ can đảm để cùng người ấy bắt đầu lại. Có những tâm sự đắng đót, chua cay khi mường tượng đám con mỗi đứa mỗi ngả, rười rượi buồn bỏ tổ ra đi, nhưng bắt đầu lại thì không đủ nghị lực, và liều lĩnh.
Người trong cuộc không can đàm, thiếu nghị lực phần lớn vì không tin vào sức mình, khi người kia vẫn hờ hững, dửng dưng, lạnh lùng, lặng lẽ. Bắt đầu lại trong hôn nhân không những đòi can đảm, mà còn đòi hợp tác, vì  hôn nhân không là chuyện riêng, việc riêng, đời riêng của một người, nhưng là đời hai người cộng chung, việc hai người gom lại, chuyện hai người cùng kể, lịch sử của hai người cùng viết. Cái khó của hôn nhân là cái gì cũng chung, việc gì cũng làm cùng, vì thế mà  dễ ”bất thành” khi thiếu một trong hai, dễ “bất công” nếu chỉ một trong hai hưởng, dễ “bất nhân”, nếu một trong hai bị loại trừ, khinh miệt, coi thường.
Tuy thế, vẫn luôn cần một bàn chân bước trước, một bàn tay tiên phong  để bàn chân kia bước theo, bàn tay khác bám vào. Phải can đảm làm lại bằng liều lĩnh, xâm mình làm bước chân thứ nhất tuy rất ngượng ngùng, khó khăn. Ngượng ngùng vì lâu ngày không làm cho nhau, nay “bắt đầu lại” tự nhiên thấy “kỳ kỳ”. Khó khăn vì lâu nay bỏ quên, nay “làm lại” thấy “lạ lạ, không quen”. Nhiều khi rất muốn, nhưng vì ngượng ngùng lại thôi, nhiều lần đã sẵn sàng nhưng thấy khó lại bỏ cuộc. Tâm lý chung của con người là thế: không làm chưa hẳn là không muốn làm, nhưng phần lớn vì ngượng ngùng, khó khăn nên bỏ không làm.
Hiểu được điều này, hai người một khi đã có cùng thiện chí hàn gắn sẽ mau mắn và tinh tế tiếp tay bắt đầu lại. Chỉ cần một cử chỉ nhẹ nhàng, một nụ cười chúm chím, một ánh mắt thông cảm, một bàn tay thân yêu đã đủ để hai người “thiện chí” tìm về chung lối.
Bắt đầu lại cũng đòi tin tưởng vào tương lai. Cơn cám dỗ đời đời của con người là nghi ngờ tương lai trước mặt. Nghi ngờ tương lai sẽ ngăn cản bước chân đi tới, bàn tay bắt đầu làm lại. Nghi ngờ tương lai cụ thể trong hôn nhân là nghi ngờ thiện chí của người bạn đời, nghi ngờ khả năng trở về, đổi mới của vợ hoặc chồng. Chính vì nghi ngờ mà người ta không bao giờ dám bắt đầu lại từ hoang tàn, đổ nát của qúa khứ.
Hãy can đảm nhìn tương lai với đôi mắt hy vọng. Phải có hy vọng, dám hy vọng, tương lai mới ló dạng. Phải liều lĩnh với hy vọng, thì hạnh phúc ở ngày mai mới xuất hiện. Hôn nhân là đời sống nhìn từ bên ngoải tưởng dễ, nhưng rất khó nếu phải sống, mà chỉ ở trong cuộc mới biết, và thấm thiá cảm nghiệm.
Tóm lại, “bắt đầu lại” là chuyện phải tính, việc phải làm, nếu không muốn khai tử hôn nhân một khi hôn nhân đang bên bờ vực thẳm. Tuy bắt đầu làm lại là một việc khó, đòi can đảm và nhiều hy sinh, nhưng không bắt đầu lại, hai người sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau trên cùng tuyến đường đời.
Thực ra, không phải chỉ “bắt đầu lại” khi hai người rơi vào khủng hoảng trầm trọng và sắp chia tay, nhưng mỗi ngày sống với nhau là mỗi ngày phải cùng nhau bắt đầu lại. Những cặp vợ chồng ý thức cuộc sống chung luôn có nhiều bất đồng, trái ý thuờng nhắc nhau phải bắt đầu lại mỗi ngày để không bao giờ một trong hai người trệch hướng, lạc đường. Bắt đầu lại trong ý nghiã này chính là cùng nhìn lại từng ngày sống chung để cùng nhau chỉnh sửa cho tốt đẹp hơn, hoàn hảo hơn, tình nghiã hơn đời hôn nhân.
Can đảm làm lại còn đòi ý thức về thời gian và hạnh phúc. Thời gian thường làm người ta sợ, có khi sợ vì dài qúa, lâu qúa, nhưng cũng có khi sợ vì ngắn quá, nhanh qúa. Khi can đảm làm lại, hai người không nên quá chú tâm vào thời gian, nhưng nên đặt trọng tâm vào chính hạnh phúc như giá trị đời đời vượt trên thời gian. Có như thế, hai người mới không so đo tính toán với thời gian ít nhiều, mà chỉ đồng tâm nhất trí cùng đạt hạnh phúc khi cùng đi tìm hạnh phúc như giá trị đời đời.
Can đảm bắt đầu lại không bằng tìm những việc lớn, như đã từng làm lớn chuyện gây khổ cho nhau, không đợi những dịp lớn, như đã từng chớp cơ hội làm lớn những chuyện nhỏ không đáng nói của nhau, cũng không cần sự có mặt của đám đông như đã từng mượn sự hiện diện của người này người nọ để diễu cợt, nói xấu, lên án nhau, nhưng bắt đầu lại bằng những chuyện nhỏ, rất nhỏ để tạo lại từng ngày niềm tin đã mất hay đang mất, bằng chắt chiu từng cử chỉ thân thương, từng hành động quan tâm đến nhau, từng giọng nói, nụ cười chia sẻ, giao hoà.
Cuộc tình đã vỡ, như chiếc bình thủy tinh qúy giá rơi bể trên sàn nhà, muốn hàn gắn phải nhặt từng mảnh vụn, và kiên nhẫn, tinh tế, tỉ mỉ sắp xếp. Không nên vội vàng, ồ ạt, xô bồ, trái lại, phải tế nhị, nhỏ bé, đơn sơ, và kiên trì, nhẫn nại. Bởi mỗi đổ vỡ, mỗi rạn nứt tình cảm có độ dài, độ sâu, độ rộng của nó, như những nét gấp của lịch sử. Phải nhẹ nhàng đừng làm thức giấc nỗi đau, nhưng đồng thời phải can đảm đối diện để vết thương được chữa lành.
Can đảm làm lại là cố gắng phi thường của con người, và chỉ con người mới có sức mạnh thần thánh để cứu vớt, chữa lành tình yêu đã đổ vỡ, bị tổn thương.           
Có những việc rất khó làm, những cản trở rất khó vượt qua, nhưng không làm, không vượt qua, người ta sẽ không còn cơ hội nào khác. Sửa sai, hàn gắn đều là những việc rất khó, khó đến nỗi ít người dám nghĩ, dám làm. Ở vào tình trạng lặng lẽ ngày càng lạnh lẽo, việc rất khó nhưng phải làm chính là can đảm bắt đầu lại những bước chân đã cùng đi bên nhau trên đường tình ngày nào, bắt đầu lại những ước mơ ngày xưa hai đứa cùng dệt, bắt đầu lại những “tay trong tay, vai kề vai, má áp má” của ngày xưa thân ái. Bắt đầu lại như em bé quên mình đã phạm lỗi trong vòng tay của  mẹ. Bắt đầu lại như ngày mai mới thực là ngày đầu biết yêu, biết sống.
“Bắt đầu lại” còn đòi nhìn quá khứ trong toàn thể đời sống, để không quên, cũng không phủ nhận, nhưng lương thiện đón nhận qúa khứ như một phần đời có buồn có vui, có cố gắng, ngã qụy, có nước mắt, tiếng cười, có khổ cực, sướng vui, có nhục nhằn, vinh dự. Không phủ nhận những thất bại trên đường tình, nhưng không cắt đường tình vì thất bại, bởi đã là đường sao tránh khỏi những gai góc, cỏ rả, bùn lầy, hố rãnh. Con đường của con người phải được hiểu là con đường chưa hoàn hảo, đúng hơn là không bao giờ hoàn toàn êm ả, yên hàn, không sự cố, bởi bao lâu còn là người, còn đi trên đường đời, bấy lâu còn vất vả, khó nhọc, khổ đau. Phận làm người là thế, đời con người là thế, nên cầu toàn, muốn người của mình toàn hảo, đời hôn nhân không sóng gió, tình yêu không thử thách là tự ru mình vào ảo tưởng nguy hiểm nhất.
Cầu toàn và tuyệt đối hoá là kẻ thù của “đường về”, và  của “bắt đầu lại”, bởi người cầu toàn sẽ bị ám ảnh bởi một cuộc sống còn thiếu sót, ở đó người yêu sẽ tiếp tục lỗi lầm, vợ, chồng sẽ còn trái ý, hục hặc, và đường đời sẽ còn quanh co, gập ghềnh. 
Nói cách khác, vợ, chồng bên bờ vực thẳm chia tay, trong tình huống xem ra không thể cứu vãn thường yếm thế đầu hàng trước lần ra trận sau cùng, thất vọng trước khi hành động, buông xuôi trước khi bắt đầu lại, bởi một nỗi lo về khả năng đổi mới của người kia, hơn là khả năng thay đổi của mình. Ý nghĩ “người kia sẽ rất khó thay đổi” làm người ta ngao ngán một lần làm lại, và lo sợ thất bại sẽ ê chề hơn. Vì thế, đế làm lại, bắt đầu lại, nối lại tơ hồng hôn nhân đã đứt tưởng không gì cần thiết hơn là tin ở phép lạ tình yêu. 
3. Tin ở phép lạ tình yêu:
Thời gian lặng lẽ giữa hai người càng dài, tình yêu giữa họ càng bị rút ngắn. Lặng lẽ càng nặng nề, yêu thương càng vơi nhẹ. Lặng lẽ càng bao phủ, niềm tin cho nhau càng lã chã rơi rụng. Đó là hiện tình của những cặp đôi không còn nồng nàn, tha thiết để sống với nhau hết tình, hết mình.
Nguyên nhân chính đưa đến “lặng lẽ” dù tình rất cần xôn xao hạnh phúc, náo nhiệt niềm vui, líu lo ân ái, ồn ào chia sẻ là vì hai người đã mất niềm tin ở nhau. Đọc những tâm sự rất buồn của Chàng và Nàng ở phần trên, chúng ta thấy họ rất buồn, buồn vì không còn tin nhau. Nàng không còn tin Chàng vì những chuyện ngoài luồng, Chàng cũng không tránh khỏi tình trạng mất niềm tin, vì những chuyện “không đâu” của Nàng. Hai người không còn tin nhau, dù trước đó đã trao nhau niềm tin trọn vẹn. Hai người không còn dám “thật” với nhau, dù ngày xưa không dấu nhau một chuyện nhỏ li ti, một phân li sự thật.
Như Ađam, Evà thấy mình trần truồng sau khi phạm tội nên ngượng ngùng, mắc cở, lấy lá che thân, hai người cũng lấy đủ thứ để chống chế, che đậy sự thật bẽ bàng về mình khi không còn nồng nàn thương nhau, trọn vẹn tin nhau, dù trước đó họ chẳng hề che đậy, dấu diếm nhau “cái mình” chân thật.
Thảm kịch của con người là mất niềm tin, vì niềm tin là tất cả, cho dù mọi sự đã vụt mất, tiêu tan. Mất niềm tin, người ta không còn chỗ dựa, không còn hướng đi, bởi niềm tin tự nó đã là chỗ ở, bến bờ trông đợi của đời người. Đánh mất những cái khác còn hy vọng tìm lại, vì còn niềm tin bảo kê, chuộc lại, nhưng mất niềm tin thì chẳng còn gì để tìm, vì tất cả sẽ theo niềm tin tan biến.
Nhưng không lẽ hôn nhân sẽ lặng lẽ chết vì không thể tìm lại niềm tin ?
Cứ bình thường là thế, nghiã là hai người sẽ phải chia tay, nghìn trùng xa cách, vì không thể mãi mãi ngột ngạt bên nhau. Giải pháp được ưu tiên cho hai người hết thương nhau sẽ là “đường ai nấy đi, đời ai nấy sống”, và hôn nhân sẽ kết thúc lặng lẽ, không trống không kèn như đã được chuẩn bị, báo trước bằng chuỗi ngày lặng lẽ yêu thương. Thực ra, trong lặng lẽ, hai người đã quay quắt đặt lại vấn đề tình yêu của họ. Hai chữ yêu thương đi liền “lặng lẽ” từ lâu đã được hiểu trong ý nghiã truy cứu, xem lại, phản biện này.  
Để cứu vớt tình yêu đang lặng lẽ chết, hai người phải tin một điều: tình yêu là một mầu nhiệm mà cho đến tận cùng đời sống, người ta cũng không hiểu hết căn tính, ý nghiã và giá trị của tình yêu. Tình yêu có sức mạnh kỳ diệu, có khả năng biến đổi, có những sáng kiến lạ lùng mà bất cứ ai đã một lần yêu đểu cảm nghiệm.
Tình yêu không như những thực thể bình thường khác, nhưng nhiệm lạ, tuyệt vời bởi có quyền năng biến không thành có, chuyển bại thành thắng, đánh thức trái tim đang ngủ, phục sinh đời người đã chết. Tình yêu như ánh sáng làm sáng rực căn phòng tăm tối, và ánh sáng kỳ diệu của tình yêu xua ngay đêm tối hận thù, đuổi hẳn đêm đen đố kỵ, diệt tận gốc mù u ngờ vực. Ánh sáng toàn năng ấy làm sáng toàn diện, toàn phần. Ắnh sáng không đội trời chung với đêm đen, không đồng lõa cùng tăm tối, nhưng quyết liệt, dứt khoát, mạnh bạo dành lại toàn phần lãnh thổ tâm hồn, toàn quyền thống trị trái tim.
Khi ý thức tình yêu là phép mầu nhiệm lạ, phép mầu kỳ lạ làm con người hết xa lạ, thôi lơ là, hai người đang lặng lẽ sẽ lấy lại niềm tin bằng tin vào tình yêu nhiệm lạ, tin vào khả năng làm phép lạ của tình yêu.
Qủa thực, khi tình yêu đã kề bờ vực thẳm thì người ta chỉ còn trông cậy vào phép lạ, vì ngoài phép lạ không gì có thể cứu sống được tình yêu đang hấp hối, ngoài chính tình yêu. Bệnh yêu  chỉ có thể chữa bằng thuốc yêu, và người chết vì thiếu thốn,  cạn kiệt tình yêu sẽ chỉ  được hồi sinh nhờ yêu và được yêu.
Vì thế, để tình yêu hôn nhân thôi hết lặng lẽ “chết chóc”, hai người phải dám làm cho nhau những  phép lạ tình yêu, những phép lạ mang lại ơn cứu sống, ơn phục sinh, ơn đổi mới, ơn hoà giải, ơn bình an. Chỉ có những phép lạ của tình yêu mới vực dậy được tình yêu suy sụp. Chỉ phép lạ của tình yêu mới trả lại da thịt hồng hào cho tình yêu đang chết. Chỉ phép lạ của tình yêu mới lấy hai người ra khỏi cơn khủng hoảng tàn phá của buồn tủi, hờn giận, trách móc, nhất là của sợ hãi, khinh miệt. Chỉ phép lạ của tình yêu mới ngăn được cơn giông phẫn nộ “đòi nợ tình” của hai người đang căm tức vì lỡ làng, thiệt hại do bởi đã yêu nhau. Chỉ phép lạ của tình yêu mới làm nguôi ngoai bão táp hận tình của hai trái tim đang rực lửa tình thù. Chỉ phép lạ của tình yêu mới tái lập trời mới, đất mới, ngày mới với bầu trời quang đãng bình an. Chỉ phép lạ của tình yêu mới trả hai người về giòng sông hiền hòa, đại dương tha thứ. Chỉ phép lạ của tình yêu mới làm cho hai người thôi tính sổ đời, và quên hết lỗi lầm của nhau.
Phép lạ tình yêu là những bé nhỏ kín đáo gửi trao nhau, những quan tâm tế nhị dành cho nhau, những thân thương  nhẹ nhàng, những thấp thoáng trải lòng, những tâm sự hối lỗi, những thao thức đợi chờ, những khắc khoải vươn lên. Phép lạ tình yêu cần những  bé nhỏ, đơn sơ, chân thực để xóa những cồng kềnh, nặng nề, phức tạp, dối gian của qúa khứ. Phép lạ tình yêu cần nhau, hơn cần những trung gian, cố vấn. Cần có nhau trong thỏ thẻ đối thoại, cần có nhau trong trầm lắng ăn năn, để không ai ở ngoài nhau, không gì ở bên lề cuộc tình có thẩm quyền điều khiển, chi phối sự thật của nhau. Chính sự thật sẽ giải phóng hai người khỏi nhà tù lặng lẽ, và sự thật sẽ thực sự có mặt khi hai người cùng cho phép tình yêu trong họ làm phép lạ.     
Làm phép lạ tình yêu để lấy lại niềm tin ở nhau đã mất. Làm phép lạ tình yêu để cả hai không còn cay đắng dằn vặt. Làm phép lạ tình yêu  là “tập yêu nhau” như ngày xưa  ngây thơ, khờ dại.
“Tập yêu lại” trong tình trạng tình yêu xuống cấp, đổ dốc không phanh tưởng là chuyện viển vông, hoang đường, nhưng thực ra là việc khẩn cấp phải thực hiện, bởi không còn phương án nào tốt hơn để cứu một cuộc tình sắp chết là mau chóng đem tình yêu trở lại bằng bắt đầu tập yêu.
Tại sao phải nói đến tập yêu khi cả hai đã dầy kinh nghiệm xương máu vì yêu?
Thưa vì cả hai đã yêu, nhưng chưa nhận ra tình yêu là một mầu nhiệm, nên đã không yêu nhau như những mầu nhiệm. Cũng vì giản đơn tình yêu, hai người đã giản đơn đời mầu nhiệm của nhau, vì thế mà hai người cứ mãi hiểu lầm, ngờ vực, căng thẳng, mẫu thuẫn, đối kháng trong đời sống chung. Vì không nhìn tình yêu, hôn nhân, và đời nhau như những mầu nhiệm, nên người ta dễ dàng tự cho phép giải quyết hôn nhân như giải quyết những vấn đề thấy được, kiểm chứng được. Vì hôn nhân mầu nhiệm bị xếp xuống hàng vấn đề có thể đo lường, nghiệm thu, nên hôn nhân khó cất được đôi cánh huyền diệu, thần thánh của mình.
Như thế việc phải tập đầu tiên là nhìn tình yêu hôn nhân như mầu nhiệm để rồi tập yêu “người yêu” như yêu một mầu nhiệm. Ý niệm mầu nhiệm có thể làm người ta sợ, không dám yêu, nhưng nếu không yêu con người như yêu một mầu nhiệm, người ta sẽ không bao giờ biết yêu người. Và vì không biết yêu như phải yêu, không biết yêu như con người đáng yêu mà hôn nhân mãi mãi nhiêu khê, lấn cấn.           
Tập yêu người như yêu một mầu nhiệm sẽ không còn làm con tim nhức nhối, lòng dạ xót xa vì tình lỡ, tình phụ, bởi tình yêu mầu nhiệm không ngừng mở ra những cánh cửa mầu nhiệm mới, dẫn vào đường tình mầu nhiệm xa tít tắp, và dắt đến khung trời mầu nhiệm mênh mông, vời vợi sau những vấp ngã, thất bại. Tình yêu mầu nhiệm sẽ không bị hạn hẹp trong thời gian, không tính bằng năm tháng, không đo lường bằng thành công, thất bại, nhưng  sâu thẳm, bao la, cao vời, tuyệt đối. Đời người nhờ mầu nhiệm tình yêu làm thăng hoa sẽ phong phú vô tận, cao cả vô cùng, trải rộng vô biên.
Tập yêu người như yêu một mầu nhiệm còn là một thách đố chỉ có ở con người cao cả. Thách đố trước vận mệnh cuộc đời, thách đố trước thử thách của tình yêu là thách đố hiện sinh vĩ đại nhất. Con người vốn vĩ đại, cao cả, nhưng chỉ qua thách đố, con người mới nhận ra mình cao cả, vĩ đại.     
Tóm lại, có tin tình yêu hôn nhân là mầu nhiệm, hai người mới vượt nổi những sóng gió của thử thách, khủng hoảng, vì mầu nhiệm sẽ đưa hai người vào một viễn tượng mới của tình yêu tuyệt đối. Có tin vào mầu nhiệm, tình yêu hai người mới đủ sức vượt hữu hình, vượt tự nhiên để đến một thế giới siêu hình, siêu nhiên mang tầm tuyệt đối. Ở tuyệt đối, tình yêu gặp chính mình, nhận diện chính mình. Nhờ thế, những mâu thuẫn giữa hai người ở bình diện tự nhiên, hữu hạn sẽ được hoá giải để cả hai cùng mở lòng, tung cánh cho tình yêu hôn nhân của họ bay cao tít tắp đến tận Đấng là TÌNH YÊU Tuyệt Đối, Vĩnh Cửu.      
 Paris, Muà hè 2014
 Nắng Tím - Mây Đen

NÀNG (Lặng Lẽ Yêu Thương)


Mình ơi !
Hai tiếng thân thương ngày xưa mình vẫn dùng để âu yếm gọi nhau không biết đã rủ aó ra đi khỏi đời chúng mình từ khi nào ? Hai từ đơn sơ nhưng ấm áp, mộc mạc nhưng nồng nàn mà một thời chỉ cần nhìn thấy nhau là môi miệng mình đã dễ dàng thốt ra trao tặng. Hai từ quá đỗi thân quen hầu như không thể thiếu trong đời sống hằng ngày của chúng mình. Quá quen thuộc, quá cần thiết và quá dễ dàng tự nhiên trao nhau như hơi thở. Thế mà hôm nay, cũng hai từ đó nhưng sao lại hiếm hoi, xa lạ, ngượng ngùng và khó khăn quá?
Cũng có đôi lúc em muốn được gọi lại anh bằng hai tiếng yêu thương ngày đó nhưng lưỡi em tự dưng tê cứng, môi miệng em bỗng ngại ngùng khó thốt khi chợt nghĩ liệu mình có còn « tuy hai mà một »  để hai từ « mình ơi » đó nói lên được sự hợp nhất gắn bó đời nhau ? Người ta gọi nhau là « mình ơi »  khi cả hai xem nhau là một, người này là xương thịt, là « mình » của người kia. Nhưng em và anh, mình đã không còn là « một »  kể từ khi anh chọn cho mình cách sống « chuyện ai nấy biết, đời ai nấy lo », cả hai hoàn toàn « ngoài vùng phủ sóng » của nhau.
Và em đã xót xa lặng lẽ nuốt vào lòng hai tiếng « mình ơi » thân quen, dung dị nay đã thành xa xỉ với chúng mình…
Không biết đã là đêm thứ bao nhiêu em nằm cô đơn trên chiếc giường đôi của chúng mình. Em chợt nhớ đến thời hai đứa còn  thiếu thốn, chỉ một chiếc giường đơn chật hẹp, một tấm chăn bé nhỏ nhưng sao tình mình trải rộng đến ngút ngàn, vòng tay anh ấm áp ôm trọn lấy người em run rẩy trong những đêm đông gió lạnh. Giờ đây, đầy đủ chăn êm, nệm ấm, gối nhung nhưng em lại cảm thấy lạnh hơn bao giờ hết. Tình nồng một thời của chúng mình đã bốc hơi từ khi nào để bây giờ cả hai đều cô đơn lẻ bóng với gối chăn riêng mình ? Thiên đường hạnh phúc của hai đứa mất hút từ bao giờ để thay vào một địa ngục lạnh lẽo mỗi người một góc ?
Nguyên nhân nào để nồng nàn nên lạnh lẽo, yêu thương hóa hững hờ, thân thương thành xa lạ, gần gũi bỗng cách xa ?  Lỗi ở sự xuất hiện của người xưa, lỗi vì anh thiếu chung thủy hay lỗi ở em đã vụng về không biết níu giữ bước chân anh ? Trách người, trách anh, hay tự trách mình có thay đổi được gì một khi tình mình đã rơi vỡ, yêu thương đã đi vào lặng lẽ…
Em lặng lẽ yêu anh, lặng lẽ nhớ anh… bởi giữa hai đứa từ ngày nói với nhau những lời cuối : « không làm phiền nhau nữa » đã không còn chung vùng phủ sóng… nên thiếu những thanh âm rạo rực, vắng những xúc động xôn xao, và khi đêm về, mỗi tâm hồn là một không gian khép kín.
Lỗi ở ai ? Em không dám trả lời câu hỏi; bởi trả lời là gọi về những kỷ niệm buồn nhiều hơn vui; là khơi dậy nỗi đau « chúng mình có mặt trong đời nhau để làm khổ nhau »; là hằn sâu hơn vết thương lòng; là làm cho tháng ngày còn lại nặng nề, lặng lẽ hơn.
Hôm nay ngồi xem lại những bức ảnh ngày xưa và những bức hình mình mới chụp, em mới nhận rõ hơn lẽ « vô thường » của đời sống…Những vòng tay ngày nào quấn quít ôm chặt lấy nhau trong từng bức ảnh đã dần buông lơi với thời gian để đến hôm nay mình chỉ cho ra đời những bức ảnh vô hồn trong đó hai người đứng cạnh nhau là hai khoảng trời riêng biệt…
Cũng miệng cười đó, cũng bóng dáng thân yêu ngày nào nhưng trong từng bức ảnh cạnh nhau bây giờ dường như đã hình thành một vách ngăn vô hình giữa hai đứa để vòng tay mất hút vòng tay, để môi cười không còn tươi, mắt nhìn thôi  rạng rỡ.
Cái lẽ vô thường đã chi phối quá nhiều trong tình yêu của chúng mình phải không anh ? Vì vô thường nên yêu thương đầy ắp trở thành vơi, vòng tay siết chặt trở nên buông lỏng, ánh mắt nồng nàn hóa xa xăm, môi cười đắm đuối thành hờ hững.
Cũng vì hiểu được lẽ vô thường nên em đành để tình mình vào một góc khuất trái tim, nơi đó em một mình hoài niệm về quá khứ để nhớ thương, tiếc xót và để chạnh lòng nhận ra mình vẫn còn yêu ; một thứ tình yêu không tiếng nói, chẳng tiếng cười, không ồn ào cháy bỏng nhưng lại rất đậm sâu, da diết trong từng tiếng thở dài của một thứ tình đã phôi pha, lặng lẽ…  
« Anh có tự do của anh. Anh muốn đi đâu, làm gì là quyền của anh, không ai có thể ép buộc anh, kể cả em. » Trong suốt thời gian sống với nhau em được nghe rất nhiều lần lời tuyên bố hùng hồn này của anh, và lần nào em cũng chỉ gật đầu không ý kiến. Im lặng để hai đứa khỏi tranh cãi, tán thành để gia đình được an vui. Nhưng anh có biết khi xác định cái quyền tự do tuyệt đối của mình như thế vô tình anh đã phủ nhận khế ước sống chung của nhau không ?
Yêu nhau, chấp nhận đến với nhau cũng đồng nghiã với việc mình sẽ phải mất đi một phần tự do của đời sống độc thân, phải bớt đi « cái tôi » của riêng mình mà hoà vào cái chung của đời nhau. Hôn nhân là một ràng buộc, mà đã gọi là ràng buộc thì không thể có trọn vẹn tự do được mà ít nhiều người này phải lệ thuộc người kia. Lệ thuộc không có nghiã là phải qụy lụy nhau nhưng là trách nhiệm trên nhau, với nhau và vì nhau ; chồng có trách nhiệm với vợ, vợ có trách nhiệm với chồng và cả hai có trách nhiệm với con cái để xây dựng một mái ấm hạnh phúc. Thiếu trách nhiệm, sớm muộn tự do sẽ trở thành phóng túng và lửa yêu thương sẽ lụi tàn bởi những cơn mưa tình phóng đãng ngoài mái ấm.
Khi tuyên xưng quyền tự do tuyệt đối của mình, có lẽ « cái tôi » của riêng anh đã được khẳng định, được vuốt ve thỏa mãn, nhưng cùng lúc hình ảnh người đàn ông có trách nhiệm, cây cao bóng cả của gia đình, cũng đang mờ nhạt dần trong mắt em…
Lại một đêm nữa mình nằm cạnh nhau nhưng « đồng sàng dị mộng ». Chung giường, chung chăn, chung gối nhưng con tim đã không còn chung nhịp đập vì đường tình đã không còn  chung lối mộng. Mình nằm cạnh nhau, thật gần nhưng cũng rất xa. Cả hai đứa đều thức nhưng tình mình thì đã ngủ vùi từ rất lâu. Anh trách em « cấm vận » anh trong đời sống tình dục mà không thông cảm cho nỗi đau đớn tâm lý khi phải ăn nằm với nhau, không hiểu được cái cảm giác « ghê sợ » của em bây giờ mỗi lần anh chạm vào người em. Làm sao em có thể tìm lại được cảm giác hạnh phúc ngày nào, làm sao em có thể đạt được tột đỉnh của khoái cảm khi trong đầu em luôn hình dung cảnh anh đã chung chạ với người phụ nữ khác? Có thể anh cũng như đa số đàn ông, xem chuyện ăn nằm « ngoài luồng » là bình thường miễn sao vẫn chăm lo vợ con, chu toàn trách nhiệm là được; nhưng với phụ nữ như em thì điều đó đã xúc phạm đến lòng chung thủy trong đời sống lứa đôi và nhất là đã làm tổn thương đến tình yêu của hai đứa. Dù không còn hờn trách gì chuyện đã qua, không còn buồn giận gì anh nhưng vết thương lòng vẫn còn đó, nỗi đau vẫn còn đó, tuy âm ỉ nhưng lại có sức tàn phá mãnh liệt chuyện ân ái của chúng mình.
Anh nằm bên em, vẫn hơi thở, vẫn mùi thịt da quen thuộc nhưng đâu rồi những nồng nàn yêu thương một thửơ ? Lắm lúc em cũng muốn được quay sang ôm lấy người anh như ngày nào nhưng điều gì đã ngăn cản vòng tay em? Nhớ lắm, khát khao lắm những nụ hôn nồng cháy ngày xưa nhưng sao môi má cứ mãi trơ lì băng giá ? Thèm lắm được nằm gọn trong vòng tay, được yêu thương đắm đuối nhưng sao tay chân cứ ngượng ngùng, buông lơi thừa thãi ? Và đâu rồi những cảm xúc yêu thương khó tả khi hai cơ thể chạm vào nhau qua từng cái trở mình ?
Em tự hỏi. Anh lặng lẽ đi vào giấc ngủ. Em lặng lẽ nhìn anh,  như tình mình đang lặng lẽ trôi về hai hướng… 
Sáng nay nghe anh bảo lâu rồi chưa ăn bánh rán, và em lại lui cui vào bếp làm bánh rán cho anh như bao lần khác. Em vẫn còn yêu anh, chiều anh nhiều đến vậy sao? Lẽ nào với từng ấy thời gian tình mình rơi vào lặng lẽ, tình yêu vẫn âm ỉ tồn tại trong em? Hay chỉ là một thói quen, một nếp sống đã hằn sâu, in đậm? Cái thói quen yêu anh, chiều anh, không nghĩ ngợi, không toan tính. Cái nếp sống chỉ biết sống cho anh, vì anh mà không nghĩ đến mình. Kể từ khi mới yêu nhau cho đến bây giờ, mình luôn sống trong nếp sống đó phải không anh? Một nếp sống trong đó em yêu anh đến quên mình, em chiều anh không giới hạn và anh chỉ việc vô tư, an nhiên tự tại tận hưởng hạnh phúc được yêu, được chiều. Vô tư nên anh không cần để ý, chẳng phải nghĩ ngợi. Tự tại nên với anh, mọi yêu thương đều bình thường, mọi chiều chuộng đều đương nhiên. Bình thường như bao thứ bình thường khác, tự nhiên đến, tự nhiên có nên anh không cần trân quý, chẳng bận tâm gìn giữ.
Hôm nay em lại làm bánh rán cho anh. Em lặng lẽ nhồi bột, lặng lẽ vo tròn từng chiếc bánh trong cái lặng lẽ của tình mình đang xuống cấp. Cũng là những chiếc bánh rán tự tay em làm như ngày nào nhưng không biết hôm nay anh có nhận ra được hương vị đã không còn ngon ngọt, đậm đà như xưa ? Thiếu ngọt ngào, mất hương vị bởi lẽ em chỉ làm như một quán tính, một thói quen mà không còn niềm vui phục vụ, hạnh phúc trao ban. Ngày xưa em gửi yêu thương trong từng chiếc bánh, ngày nay mỗi chiếc bánh gói theo một tiếng thở dài của em xót xa cho tình mình đã rơi vào lặng lẽ…
Bữa tiệc đã tàn, bạn bè đều đã ra về…Em lui cui dọn dẹp bát điã ngổn ngang như lòng em cũng đang ngổn ngang trăm mối.
Em tự hỏi liệu mình có đang vui như những tiếng cười dòn tan trong bữa tiệc ? Tình yêu mình có tuyệt vời như những cái nhìn ngưỡng mộ của bạn bè ? Mình có thật sự hạnh phúc như những lời trầm trồ tán thưởng của mọi người ? Hay tất cả chỉ là một màn kịch vừa chấm dứt?
Không biết từ lúc nào chúng mình đã bất đắc dĩ trở thành những kịch sĩ đại tài trước gia đình hai bên, trước bạn bè, đồng nghiệp của hai đứa. Mọi người nhìn vào cứ nghĩ mình là « cặp đôi hoàn hảo » mà có ai biết được khi sân khấu hạ màn, khi không còn khán giả, hai đứa lại trở về đời thực với hai khoảng trời riêng, trống trải, cô đơn của hai tâm hồn không còn nhìn về một hướng, hai con tim đã lỗi nhịp yêu thương.
Anh nghĩ gì khi phải nhập vai người chồng tuyệt vời, em khó khăn ra sao khi phải đóng vai người vợ hạnh phúc ? Tại sao lại không là « thật » như ngày xưa tình mình rất đẹp, đời mình rất thật hả anh ? Tại sao gian dối đã có mặt, phản bội đã xen vào để tình mình hết thật và đời mình trở thành sân khấu ? Tại sao và tại sao ?
Mình sẽ còn phải đóng kịch đến bao giờ ? Và liệu có phép mầu nào để những chuyện cổ tích trong kịch trở thành hiện thực cho mình có thể tìm lại được hạnh phúc thật của ngày xưa dấu ái không anh ?...
“Nếu em có con với anh ấy chị có buồn, có giận em không?...”
Khi nghe người đàn bà “một thời yêu anh” hỏi em câu đó, không hiểu sao em không buồn, không giận cũng chẳng ghen tuông mà chỉ thấy một sự tiếc xót trào dâng. Tiếc cho cô ấy, tiếc cho người chồng, tiếc cho anh và tiếc cho cả chính em.
Tiếc cho cô ấy cả một thời con gái vất vả mới tạo dựng được hạnh phúc, để rồi hôm nay, ở cái tuổi không còn trẻ để bồng bột yêu thương hay đúng hơn là đã xế chiều đủ để chín mùi trong suy nghĩ, vậy mà vẫn không kềm chế được cảm xúc đã lăn xả vào vòng tay anh, phản bội chồng con, đánh đổi hạnh phúc hiện thực cho một thứ tình xưa ảo tưởng.
Tiếc cho người chồng đã quá yêu thương, tin tưởng vợ mình nên chẳng những không ngăn cản, không hờn ghen mà còn vui vẻ, cao thượng tạo điều kiện cho cô ấy gặp lại người xưa.
Tiếc cho anh, người đàn ông giỏi giang nhiều tài, thần tượng của em và của nhiều người đã tự đánh mất hình ảnh đẹp của chính mình chỉ vì chút giàu có của người đàn bà đó.
Tiếc cho em, đã “tự tin quá đáng” vào một thứ tình yêu vĩnh cửu. Em ngu ngơ cứ ngỡ chỉ cần chân thật yêu nhau, sống cho nhau, vì nhau đã đủ để có nhau và giữ nhau mãi, không ngờ tình yêu cũng chỉ là một thứ không nằm ngoài qui luật của “vô thường” nên cũng dễ đổi thay, nay còn mai mất.
Giá mà cả bốn người chúng ta đều hiểu được tính bất định của tình yêu để đừng quá ảo tưởng, quá tự tin thì vợ chồng cô ấy đã không phải chia tay và anh với em đã không rơi vào tình trạng lặng lẽ bên đời nhau như bây giờ…
Cả tuần nay, cả hai chúng mình đều đi công tác nên đã phải gửi con ở nhà chị em. Hôm nay đón con về, anh tỏ vẻ không hài lòng khi thấy con không được sạch sẽ như ý muốn. Rồi khi nghe con kể về những bữa ăn thiếu thốn ở nhà dì, cơn bực bội trong anh chợt bừng lên như ngọn lửa. Anh so sánh về sự sạch sẽ, kỹ lưỡng, về điều kiện sung túc của em gái anh với chị em. Và anh đã thốt ra những lời không hay về chị em…
Là mẹ, em cũng xót xa khi thấy con không được chăm sóc chu đáo như mong muốn nhưng thử hỏi mình có cách giải quyết nào tốt hơn không ? Các em gái anh còn trẻ, chăm sóc con mình chắc chắn sẽ chu đáo hơn người chị lớn tuổi của em nhiều. Em rất hiểu vấn đề, biết rất rõ con sẽ đầy đủ, sung sướng hơn khi ở với ai nhưng mình làm gì có cách giải quyết khác hơn là phải gửi con ở nhà dì hở anh ? Khi lớn tiếng trách móc, nặng lời với chị của em sao anh không chịu nhớ tới chuyện các em gái anh đã từ chối nhận lời trông cháu ?  Giữa một người không đủ khả năng nhưng rộng lòng giúp mình với một người dư khả năng, đủ điều kiện mà thiếu thiện chí thì ai đáng trách hơn ?
Mẹ luôn dạy em con gái lập gia đình phải xem gia đình chồng là gia đình mình thì vợ chồng mới hạnh phúc lâu dài được nên em chưa bao giờ nghĩ đến chuyện hơn thua, phân biệt gia đình anh, gia đình em; vậy nên hôm nay em rất buồn khi nghe những lời không hay của anh dành cho chị em thay vì cám ơn chị đã thương vợ chồng mình mà giúp đỡ dù khả năng chị rất hạn hẹp.
Tối nay khi cơn nóng giận dịu xuống, em mong anh sẽ suy nghĩ lại mọi chuyện để đừng vì những lời thiếu tự chủ trong lúc nóng giận mà vô tình đẩy yêu thương xa hơn về hai hướng anh nhé…
Hôm nay dọn dẹp lại kệ sách, tình cờ bản nhạc « một đời yêu » anh viết tặng em rơi xuống đất. Và một chuỗi ký ức lại hiện về trong em…
Ngày đó, một ngày chủ nhật đẹp trời, anh đầy cảm hứng ngồi vào  đàn và sáng tác một lúc nhiều bài nhạc, trong đó « một đời yêu » anh dành tặng riêng em. Em ngập tràn niềm vui ngồi nghe anh vừa đàn vừa hát. Từng chữ, từng câu, từng giai điệu đã ru hồn em lạc vào thế giới lung linh muôn màu của tình yêu ; lòng em đong đầy hạnh phúc theo tiếng đàn giọng hát của anh. Mình đã cùng nhau hợp tâm, hiệp ý để đặt lời sửa chữ ; và anh đã vội vã rủ em cùng đi sang nhà một người bạn nhạc sĩ để nhờ họ hòa âm phối khí cho chỉnh những sáng tác còn ướt mực của anh.
Từ nhà người bạn về, em mới hiểu cảm hứng của anh, nhiệt huyết của anh hôm đó không dành cho em mà mục đích chỉ dành riêng cho người khác, một người bạn thân của anh. Hóa ra cảm hứng của anh ngày hôm đó là để dành cho bạn anh, sự vội vàng nhờ hòa âm là để kịp ngày mừng sinh nhật người ấy. « Một đời yêu » hay những bản nhạc khác chỉ là chút cảm hứng dư thừa sót lại trong anh hôm đó. Vì dư thừa nên không cần  nhờ chỉnh sửa ; vì thứ yếu nên chỉ làm rồi vứt đó. Giá mà anh nghĩ đến bạn nhưng cũng đừng quên em, phải chi anh trân quý tình bạn nhưng cũng đừng xem nhẹ tình chồng vợ…Trong đời sống vợ chồng, một chút vô tình tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn trong việc nuôi dưỡng hay làm héo úa tình yêu, anh có biết không ?
Hôm nay bản nhạc lại vô tình rơi xuống đất, nhìn tờ giấy đã ngả vàng, một chút ngậm ngùi khi chợt nghĩ bản nhạc đã bị quên lãng một thời gian cũng như tình mình đã rơi vào lặng lẽ từ rất lâu…
« Ở hai đầu nỗi nhớ, yêu và thương sâu hơn… »
Câu hát nào văng vẳng từ chiếc máy của người hàng xóm bổng khiến em chạnh lòng. Ngoài trời đang mưa, và em đang ngồi trong nỗi nhớ. Không phải nỗi nhớ trong hạnh phúc, nhớ « ở hai đầu » như những người yêu nhau đang xa cách ; nhưng là nhớ một mình, nhớ âm thầm, nhớ xót xa bởi em và anh, mình đã lặng im đi bên đời nhau lặng lẽ.
 Sao mình không thể giữ mãi được tình yêu như ngày đầu ? Cái thửơ mà ngồi sát cạnh nhau mình vẫn thấy chưa đủ gần, vừa rời nhau một bước, nhớ nhung đã đong đầy? Nguyên nhân nào đã  đẩy tình mình đi quá xa để bây giờ tuy không « ở hai đầu » nhưng giữa hai đứa lại tồn tại một khoảng cách để đôi lúc ngồi thật gần nhau nhưng tâm hồn lại xa nhau vời vợi ? Đời sống lứa đôi khó khăn, phức tạp đến thế sao anh?  Yêu anh hết tình, chiều anh hết lòng, chăm lo anh hết sức vẫn không thể giữ được nhau. Có lẽ vì tình em trao anh quá dễ dàng, quá trọn vẹn, quá tròn đầy nên anh không thấy quý như một câu người ta vẫn nói “tình yêu phải để cho đói, no quá nó sẽ chết”. Và có lẽ đôi lúc vẫn cần một cơn nắng gắt, một làn gió mạnh, một chút mưa sa để hoa trái  tình yêu phát triển viên mãn hơn là nuôi dưỡng tình yêu trong cái bình lặng nhàm chán phải không anh? 
Và câu hát  “ở hai đầu nỗi nhớ, yêu và thương sâu hơn…”  lại văng vẳng bên tai em…                                                                                                                                        
Em chết điếng người, đứng yên như trời trồng khi đọc được những dòng tin nhắn âu yếm tình tứ của ai đó trên điện thoại của anh. Một cú « nóc ao » trên võ đài chắc cũng chỉ làm điếng người đến thế, một cú đấm trời giáng chắc cũng chỉ tối tăm mặt mũi đến vậy. Và hôm nay anh đã tặng em một đòn chí tử hạ gục em ngay trên trận địa tình yêu. Còn gì nữa không anh ? Một lần phản bội nhau, một vết thương nát hồn nhau vẫn chưa đủ sao anh ? Anh còn muốn xoáy vào tim em bao nhiêu lần nữa mới vừa ?
Anh đó sao ? Tình yêu của em, người đàn ông lịch lãm, tài năng em vẫn ngưỡng mộ tôn thờ đó sao ? Không lẽ cứ là đàn ông thì phải ham vui, thích của lạ, thèm phở chê cơm ? Và chẳng lẽ hai chữ « thủy chung » luôn là thứ hàng quý hiếm, khó tìm đối với cánh đàn ông các anh ?
Thiếu chung thủy đã đành, các anh còn nhẫn tâm hơn khi luôn nói xấu vợ nhà để tạo hoàn cảnh éo le, khơi dậy lòng trắc ẩn nơi các « em gái ». Bữa cơm nhà ngày nào cũng tươm tất sốt nóng khói yêu thương ; từng chiếc quần tấm áo, cả đến cái cà vạt khăn tay cũng được giặt là, xếp cất cẩn thận. Một cái hắt hơi, một thoáng đau đầu đã đủ để cuống cuồng xiêu vẹo bước chân em.Thế mà trong tin nhắn nào, trong e-mail nào gửi các « bé yêu » anh cũng than thở thân anh khốn khổ cô đơn, phải tự lo cho bản thân, nay đói mai đau mà vợ con chẳng đoái hoài…Có bạc bẽo quá không ? Có vô ơn quá không và có nghịch lý quá không khi anh phủ nhận mọi yêu thương, tình nghĩa chỉ để tìm kiếm một thứ tình cảm khác, tuy mới lạ, nóng bỏng rừng rực lửa yêu thương lúc này nhưng liệu có chắc sẽ đậm sâu hy sinh như tình chồng vợ, thăm thẳm nghĩa sắt son hai chữ phu thê? ….
Hôm nay xem lại chồng thư cũ, em chợt giật mình nhớ lại mình cũng đã từng có một thời yêu nhau nồng nàn sâu đậm đến thế. Hóa ra cái lặng lẽ yêu thương mà bấy lâu nay mình vẫn cho là bình thường chỉ là một sự biến dạng, thoái hóa chứ từ khởi thủy tình yêu mình cũng ngập tràn màu hồng hạnh phúc phải không anh ? Những lời lẽ yêu thương, âu yếm ; những nhớ nhung mong đợi mà bây giờ anh đang trao cho người khác cũng chính là những gì mà ngày xưa em từng đón nhận. Vậy thì tại sao chủ thể vẫn chỉ là anh mà đối tượng không còn là em nữa ? Lỗi ở anh, ở em hay lỗi tại cả hai chúng ta đã không biết nâng niu gìn giữ hạnh phúc để bây giờ cung đàn phải lỗi nhịp cho bản nhạc tình thôi thánh thót du dương?
Trách anh đào hoa, bay bướm, thiếu thủy chung, em cũng tự trách mình không đủ dịu dàng, bao dung, nhẫn nhịn để giữ chặt tay anh. Lẽ ra khi nhìn vào chiếc nhẫn mình trao cho nhau ngày trước em phải tự nhắc mình nhớ nhiều hơn đến chữ “nhẫn”, để biết cách chịu đựng, nhẫn nhục, ôn hòa hơn là những giận hờn, trách móc, mỉa mai, nặng lời. Có muộn quá không anh để mình cùng nhìn lại, cùng nhận ra lỗi lầm, cùng bao dung tha thứ cho nhau và có còn khả thể không anh để khơi dậy lại ngọn lửa tình yêu lâu nay đang âm thầm lịm tắt bởi những cơn sóng lạnh lẽo của tình mình lặng lẽ ? 
« Ở nhà em xem anh không ra gì chứ ra ngoài anh vẫn còn có giá lắm.. »
Khi nói với niềm kiêu hãnh và có chút trách móc em như thế có bao giờ anh chịu khó nhìn lại mình, xem « anh ở gia đình » và « anh ngoài đường » có giống nhau không ? Ra ngoài thì lúc nào anh cũng hào hoa, ăn nói duyên dáng, luôn biết phục vụ, đưa vai giúp đỡ, đúng nghĩa một người đàn ông ga lăng lịch lãm thì thử hỏi sao người ta không cảm phục tán dương anh chứ ? Về đến nhà nếu không say xỉn thì anh chỉ biết chúi đầu vào chiếc máy vi tính hay dán mắt vào chương trình truyền hình không cần biết đến con cái học hành ra sao, nhà cửa thế nào. Cơm nước dọn lên cũng phải chờ đợi, nhiều lúc bữa cơm nguội lạnh hâm lại mấy lần mới thấy anh ngồi vào bàn.  Em chưa bao giờ có ý xem thường anh nhưng chỉ chọn cho mình cách im lặng, « không là gì của nhau » cũng vì tôn trọng anh đấy thôi. Từ lúc nào chẳng biết, nguyên nhân nào chẳng rõ, anh không còn bàn bạc, chẳng chia sẻ, và cũng hết tâm sự với em. Không bàn bạc vì tiếng nói, ý kiến đã không còn giá trị , không chia sẽ là biểu hiện của niềm tin vắng bóng và không tâm sự có nghiã từ nay mỗi đứa « riêng một góc trời » không còn ở trong quỹ đạo của đời nhau nữa. Là vợ chồng nhưng mình không còn « chung một đời riêng »  mà anh đã tự chọn « riêng một đời chung » thì em có tôn thờ, thần tuợng hay tán dương, khen ngợi liệu có còn ý nghĩa gì không đối với anh ?...
Sáng nay con rất vui được gặp lại anh và lòng em ngập tràn hạnh phúc mừng đón anh về sau một thời gian dài anh về thăm quê. Niềm vui chưa nói hết, nỗi mừng chưa kịp trọn, em đã nghe câu than thở vô tình của anh: «  về đây buồn quá… »
Thật vậy sao anh ? Mái ấm gia đình, tình vợ chồng, nghĩa cha con, nỗi nhớ thương, mong đợi của em và con không còn chút giá trị gì sao? Lý do nào khiến anh vừa về đến nhà chưa hết một ngày đã chồn chân muốn trở gót ra đi ? Điều gì ở quê nhà đã hấp dẫn và cuốn hút anh đến quên cả lối về ? Hay vì tình yêu lặng lẽ của em đã không còn đủ sức nắm giữ tay anh ?
Lặng lẽ yêu, lặng lẽ chiều, lặng lẽ nhớ mong…em cứ nghĩ mình cũng sẽ mãi được yêu thương trong lặng lẽ như thế. Nhưng bây giờ em mới hiểu cái « lặng lẽ » đó đã dần biến thành « lạnh lẽo », đưa tình mình đến « lạnh lùng » đáng sợ và đau xót hơn, hôm nay chúng ta đã trở thành « lạ lẫm » không còn nhận ra khuôn mặt tình yêu của nhau nữa. Chẳng lẽ tình mình đã đi đến kết thúc rồi sao anh ? Anh phải làm gì ? Em phải làm sao ? Em và anh,  ai sẽ là người đi những bước đầu để đưa tình mình ra khỏi tình trạng yêu thương lặng lẽ quá nguy hiểm này ???
Hôm nay mình trở lại thăm biển sau bao nhiêu năm bỏ quên cái thú ngắm hoàng hôn, nhìn mặt trời khuất dần bên kia biển. Có quá nhiều sở thích, thú vui chung đã bị mình lãng quên kể từ khi chúng ta lặng lẽ đi bên đời nhau phải không anh ?
Biển ngàn đời vẫn vậy, nhưng mình hôm nay đã khác. Em nhớ lần đầu tiên cùng nhau ra biển, hai đứa đã rất tâm đắc với một bài hát và tự nói với nhau mình sẽ mãi như « thuyền và biển »  Nhưng  cái thửơ « chỉ có biển mới biết thuyền đi đâu về đâu » đã thuộc về quá khứ  và những ngày không gặp nhau bây giờ biển đã không còn bạc đầu thương nhớ, lòng thuyền cũng chẳng còn đau rạn vỡ nữa bởi hôm nay mình đã không còn nằm trong quỹ đạo của đời nhau . Đã xa rồi những tối nằm tâm sự, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống. Đã hết rồi những sáng ngồi bàn bạc, toan tính chuyện tương lai. Không bàn bạc, hết sẻ chia vì anh có những « khoảng trời riêng » cần che đậy, dấu giếm. Chẳng muốn tâm sự, chẳng buồn lo tính chuyện ngày mai bởi em quá mệt mỏi với niềm tin đã từng vụn vỡ . Và như thế, dù không phải cách xa nhau nhưng lòng hai đứa vẫn chỉ còn “sóng gió và bão tố”. Sóng gió của dối gian và bão tố của niềm tin bị bội phản.
Hôm nay nhìn lại biển, em chợt thấy mình như những cơn sóng nhỏ lăn tăn còn anh là bờ cát rộng. Sóng cứ miệt mài chung thủy trôi vào bờ để được ôm lấy cát mặc cho cát cứ vô tình đẩy sóng ra xa, để rồi có những lúc quá mỏi mệt sóng không còn đủ sức vào bờ với cát, cát lại chực chờ đợi gió đến cuốn bay…
Bao giờ thì biển yên, gió lặng để tình ta có thể trở lại như xưa ?
Ngồi ôn lại những kỷ niệm thời con gái và nhớ lại ước mong con cái « yên bề gia thất » của Bố Mẹ ngày xưa, em chợt cười một mình. Liệu có bao giờ gia thất được yên ổn như cha mẹ thường mong đợi hay đời sống gia đình luôn bấp bênh, sóng gió ? 
Ở cái tuổi chưa quá già để nghĩ đến sự chết nhưng cũng không còn trẻ để mơ mộng, ảo tưởng về một thứ tình yêu vĩnh cửu ; cái tuổi đủ để cảm nhận được « vô thường » luôn hiện hữu, em chợt tiếc nuối thửơ độc thân. Cũng vẫn là cô đơn, cô độc, cô liêu ; cũng vẫn  một mình đi, một mình về, một mình ăn, một mình ngủ, nhưng dường như trong cái lẻ loi, đơn độc của đời độc thân vẫn tiềm tàng một niềm an vui tự tại chứ không đắng đót vị bẽ bàng, ngỡ ngàng, phũ phàng và lỡ làng của đời lứa đôi thất bại.
Nếu biết trước được hạnh phúc quá bé nhỏ trước cái mênh mông của vô thường, có lẽ em đã không chọn đời hôn nhân đầy thách đố. Người ta thường nghĩ đời sống ngắn ngủi nên thường vội yêu, vội hứa, vội thề nguyền nhưng thật ra đời người lại quá dài đủ để trải rộng, phơi bày hết mọi dối gian, mọi phản bội, vong thề. Và phải chăng « Tu là cội phúc, tình là dây oan » mới thực là chân lý của hạnh phúc ?
Một tình cờ ngẫu nhiên lại khiến em phát hiện thêm những gian dối của anh, và cũng như bao lần khác em lại yên lặng không nói gì, mặc cho anh cứ ung dung tự tại nghĩ mình đã che dấu được mọi điều. Chính sự an nhiên bình thản của anh đã làm em chán chường, mệt mỏi. Chán chường vì anh nói dối mọi chuyện, mọi lúc, mọi nơi đến nỗi bây giờ chuyện nói dối đã trở thành như hơi thở không thể thiếu đối với anh. Mệt mỏi khi cứ phải giả ngây giả ngô trước những lời dối trá. Sự thật không còn, niềm tin vắng bóng liệu có còn chổ nào cho tình yêu trú ngụ?
“Em muốn nghĩ sao thì nghĩ tùy em, anh không nói nữa..”
Cứ mỗi lần tranh cãi, khi không thể giải thích được những vấn đề em nêu ra, trước những chứng cứ cụ thể, anh lại dùng đến biện pháp bất cần, ngang ngược cố hữu để khóa miệng em. Mỗi khi chứng tỏ bản lĩnh “bất cần đời” bằng cách bỏ đi khi tranh cãi như thế, anh cứ nghĩ mình đã thành công trong việc trấn áp cho qua chuyện bởi lẽ anh biết chắc một điều là “em rất yêu anh”.
Và cứ như thế, anh thường xuyên áp dụng phương pháp độc tài “ngang hơn cua” để cắt đứt đối thoại, “bịt mồm, khóa miệng” này hầu che đậy những chuyện lăng nhăng gian dối  của mình.
Và cứ như thế, vì yêu anh, em luôn cam chịu bị lừa dối, bị lép vế, bị xử ép, bị tổn thương…
Để đến hôm nay, cái khối u ác tính do anh quá “lạm dụng vào tình yêu, vào lòng tin” đã vỡ toang đưa căn bệnh ung thư của tình mình đến giai đoạn “di căn tòan bộ”: niềm tin bị hủy hoại, lòng tự trọng bị xoáy mòn, tình yêu bị tổn thương.
Đã thật sự “hết thuốc chữa” rồi phải không anh? Hay vẫn còn đâu đó một “phép mầu”  có thể cứu chữa được tình ta ?
Hôm nay em đã phải thú nhận với gia đình là hai đứa đang trong tình trạng “ly thân” để nhìn lại mọi vấn đề. Lẽ ra em không nói sự thật đau lòng này nhưng em cũng không thể tránh né mãi trước những thắc mắc của gia đình về tình trạng lặng lẽ hiện tại của chúng mình.
Trước những câu hỏi của mọi người về một tình trạng “không bình thường” của anh, em phải trả lời như thế nào đây? Chẳng lẽ em lại nói anh không về thăm Má được vì đang bận đóng vai “con rể” với gia đình của “em yêu”? Hay em phải giải thích anh không đến chơi nhà các anh chị được vì còn phải bận bịu chăm lo cho đứa con riêng còn nhỏ dại của cô “em gái” khác cha khác mẹ ? Nghịch lý quá phải không anh? Bổn phận thật thì anh không nhớ nhưng lại xuất sắc chu toàn những bổn phận không phải của mình.
Nhớ ngày xưa khi con còn nhỏ, mỗi lần em bận việc nhờ anh chơi với con thì anh viện cớ không có khiếu, không đủ kiên nhẫn chơi với trẻ con; nhưng bây giờ anh lại sẳn sàng tình nguyện ngồi giờ này qua giờ khác để trả lời những thắc mắc, chịu đựng sự nghịch ngợm của con riêng cô bồ nhí. Má em đau, anh lấy lý do ở xa, bận việc không về thăm được; nhưng Ba cô ấy nằm bệnh viện thì anh cuống quít chạy gửi gắm khắp nơi, vào ra thăm viếng…
Bạn bè biết chuyện ai cũng hỏi em sao cứ mãi im lặng chịu đựng những nghịch lý như thế. Nhưng thử hỏi ở cái tuổi của không còn trẻ của chúng mình chẳng lẽ lại ghen tuông ầm ĩ té tát cả lên hay hất tung đạp đổ mọi thứ? Để làm gì và có ích gì khi mà “yêu nhau” và “giữ được nhau” là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt, độc lập với nhau ? Bây giờ em mới “ngộ” ra tình yêu là thứ vô thường nhất trong các vô thường của cuộc sống. Có yêu nhau nhiều đến đâu, có nuôi dưỡng tình yêu thế nào cũng không thể nắm giữ được một khi tình đã muốn ra đi Giải pháp tốt nhất chỉ là im lặng đi bên đời nhau như mình đã từng lặng lẽ bên nhau từ rất lâu…
Dịp về quê lần này, mình lại có dịp “sống bên nhau” như những ngày tình mình chưa rơi vào lặng lẽ. Cũng chỉ là “đóng kịch” trước gia đình hai bên, bạn bè hai đứa như mọi khi nhưng trong những màn kịch đó, thỉnh thoảng lại có những lúc em thấy chúng mình diễn thật, thật như ngày xưa mình rất thật bên nhau. Nhưng rồi em lại xót xa nhận ra trong cái khoảnh khắc rất thật đó vẫn tồn tại một chút ngượng ngùng, nghi ngại.  Lẽ nào cái bóng đêm dối trá bao phủ tình mình bấy lâu, đã chặn đứng mọi nẻo không cho sự thật được trở lại, tình mình được quay về?  Có yếm thế lắm không khi em không còn dám tin “sau cơn mưa trời lại sáng” bởi lẽ tình mình đã phải sống quá lâu trong đêm đen của gian dối, phản bội ? Có bi quan lắm không khi em không còn dám mơ đến sự hồi sinh của một tình yêu đã chết? Và liệu có phép mầu nào có thể khơi dậy được ngọn lữa yêu thương trong đống tro tàn của tình yêu lặng lẽ không anh? 
Tình cờ đọc được trang blog của con trên mạng, em mới giật mình nhận ra tình trạng lặng lẽ bấy lâu của chúng mình đã kéo theo quá nhiều thứ lặng lẽ khác mà nguy hiểm hơn cả là tình trạng im lìm, khép kín của con. Bây giờ em mới hiểu tại sao con đã phải tìm đến thuốc lá để xả stress. Người ta hút thuốc cho đỡ lạnh thân xác, còn con đã phải nhờ đến khói thuốc để quên đi không khí lạnh giá của gia đình. Hóa ra cái lặng lẽ từ lâu mình vẫn xem là bình thường, không đáng chú ý lại ảnh hưởng sâu xa vào tâm lý tuổi mới lớn của con đến thế. Em cứ tưởng chỉ cần yên lặng bên nhau, không gây gổ lớn tiếng, không xô xát ồn ào là đủ che dấu tình trạng “xuống cấp” của tình mình, đủ giữ bình an hạnh phúc cho con. Em quên rằng con đã lớn không còn ngây thơ nhỏ dại để dễ dàng chấp nhận những giải thích lấp liếm của em về sự vắng mặt thường xuyên, dài ngày của anh: “ Ba bận đi công tác xa”. Mình đã từng thành công trong những “màn kịch” với bạn bè, đồng nghiệp nhưng đã không che dấu được tình trạng “tình yêu bên bờ vực thẳm” trước mặt con. Và nỗi lo sợ chia tay, đổ vỡ của ba mẹ đã dẫn con đến tình trạng trầm cảm, ít nói như hiện nay.
Ngồi hằng giờ trước trang blog của con, em tự hỏi liệu giải pháp “lặng lẽ yêu thương” của mình có phải là cách giải quyết tốt nhất cho hạnh phúc của con? Có nên chăng kéo dài tình trạng lặng lẽ như hiện nay hay mình cần một lần can đảm ngồi trước mặt con, cùng nhau “mổ xẻ” cái khối u đang hoành hành và đe dọa sự sống của tình yêu hai đứa?

 Nắng Tím - Mây Đen