Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 15 tháng 3, 2020

COVID-19 - DẤU CHỈ CỦA THỜI ĐẠI (2)

CHIẾN TRANH KHÔNG VŨ KHÍ                                              
Trừ một số quốc gia khống chế được sự bành trướng vũ bão của Covid-19, còn lại hầu hết đã rơi vào tình trạng khẩn cấp, báo động đỏ, và phải áp dụng những biện pháp nghiêm ngặt để bảo vệ sức khỏe của người dân: các nước Ý, Tây Ban Nha, Pháp mang nặng nỗi lo âu, và bầu khí chiến tranh bao trùm đất nước.
Covid-19 tuy không tiếng súng, nhưng ngộp thở như chiến tranh toàn cầu, và mọi người có cảm tưởng đang sống những ngày đen tối của thế chiến, một cuộc chiến tranh thế giới không cần đến vũ khí mà bấy lâu các nước thi nhau chế tạo, dự trữ.  
Thực vậy, chưa bao giờ cuộc chạy đua vũ khí giữa các nước trên thế giới lại rơi vào mùa thu u ám và mùa đông ảm đạm như những ngày này, ở tâm dịch Covid-19, khi mà người chết không còn chết vì bom đạn, và người ta lo lắng không vì sợ chiến tranh, hốt hoảng tích trữ lương thực không vì sợ chết đói dưới hầm trú ẩn khi chiến đấu cơ nhả bom, oanh tạc, cũng không đóng cửa trường, đóng cửa tiệm, qúan xá, phong toả thành phố, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”, vì sợ quân thù, đối phương tấn công, xâm chiếm, hãm hiếp, càn quét, tiêu diệt.
Những ngày này, toàn thế giới hoang mang, hoảng loạn vì nạn dịch Covid-19, một vi khuẩn bé tí, nhưng đủ mạnh để thế giới phải run rẩy, đang làm điêu đứng toàn cầu, và đình trệ, xáo trộn mọi sinh hoạt bình thường của tất cả mọi người, từ em bé ở nhà trẻ đến cụ già trong viện dưỡng lão, từ người dân vùng thôn quê hẻo lánh, đến giáo chủ, lãnh tụ các quốc gia. Không ai dám nghĩ mình sẽ “bình an vô sự” trong đại dịch; không người nào dám “vô tư” nhởn nhơ trước bước chân nhanh như chớp và dữ dội như cuồng phong của Covid-19 rất kinh dị, sợ hãi.
Trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, người ta nhận ra một điều rất mới, đó là loài người có thể bị tiêu diệt rất nhanh, rất gọn không còn bằng vũ khí hạt nhân, nguyên tử như quan niệm cũ về chiến tranh, cũng không còn cần đến chiến lược, chiến thuật được thực hiện nhờ khả năng của vũ khí hiện đại, siêu tối tân, nhưng thế giới có thể bị tiêu diệt một cách lặng lẽ, im lìm, không tiếng súng; loài người có thể bị bức tử hàng loạt cách kín đáo, không rên la đứt ruột, cũng không thê thảm máu me vì lưỡi lê, gươm đao, mảnh đạn.
Cũng trong cuộc chiến giành giật mạng sống với Covid-19, mọi người thấy nguy cơ hủy diệt cao hơn ngàn lần hơn chiến tranh súng đạn, khi virút tấn công rất bạo và nhanh hệ thống hô hấp của con người, nếu không kịp phát hiện và khống chế. Bên cạnh là dáng vẻ bình thường và không có nhiều dấu hiệu đặc biệt để dễ nhận, dễ ngăn chặn ở người bị lây nhiễm.
Cuộc chiến do Covid-19 còn là cuộc tàn sát dã man, khi nạn nhân nằm bệnh, rồi ra đi cô đơn, cô độc, không đồng đội bên cạnh để nghe lời trăn trối, không người thân ở gần để vuốt mắt tiễn đưa, vì ai nấy đều phải tuân thủ lệnh cách ly.
Có những em bé lây nhiễm Covid-19 đã phải xa cha mẹ, anh chị em hàng tháng trong những trung tâm cách ly, cả những người đã gặp gỡ, giao lưu với người bị dương tính cũng rơi vào tình trạng bị cô lập này. Ngay cả sau khi đã được chữa lành, các nạn nhân thoát chết cũng khó trở lại tương quan bình thường với mọi người, không vì bị khinh chê, kỳ thị, nhưng do vết bầm sợ hãi chưa nhạt phai trong tâm trí mọi người.       
Qủa thực, vũ khí của các cuộc chiến tranh đã qúa kinh khủng vì sức tàn phá, tiêu diệt của nó, nay bước vào thử thách mới do đại dịch toàn cầu, con người một lần nữa rùng mình trước đe dọa diệt vong, khi dịch bệnh không kiêng nể các đấng bậc, chức sắc, quan tướng, cũng không miễn trừ cho bất cứ giai cấp, thành phần, sắc tộc, chính kiến, tôn giáo nào. Thế mới biết, mỗi thời mỗi đe dọa, mỗi thời mỗi thử thách khác nhau… Nhưng xem ra càng ngày thử thách càng cam go, đe dọa càng dữ dội, nặng nề.
Trước kiểu chiến tranh mới và rất kỳ lạ: chiến tranh không vũ khí, người viết tuy không bi quan, nhưng không khỏi nặng lòng, khi nghĩ đến tương lai của nhân loại, ở đó, chúng ta ngày càng bị đe dọa bởi quá nhiều vũ khí “không âm thanh” của thời đại đã được chính lòng mình, lòng người chế tạo, những vũ khí “hãm thanh” ấy đã không cần đến những cơ sở sáng chế vũ khí của các nước luôn ở trong tình trạng “chiến tranh hoặc chuẩn bị chiến tranh”, nhưng được chế tạo bí mật trong đáy sâu tâm hồn, tận thăm thẳm của trái tim. Đó là những vũ khí ganh ghét, hận thù, gian tham, bạo lực, những vũ khí của kiêu căng và phủ nhận, của vô cảm và nhẫn tâm.
Chúng ta cũng rơi vào sa mạc của nhiều cạm bẫy thử thách ngày càng cam go, do tính tinh vi của những khối óc không còn hướng về Chân Lý, tính ngông cuồng, ngược ngạo của những qủa tim cạn kiệt tình người, tính hiếu chiến, háo thắng của những ý chí không còn khả năng chịu đựng, bao dung, tha thứ cho bất cứ ai, kể cả chính mình.
Vâng, cuộc chiến tranh với vũ khí tối tân đủ loại không còn giữ vị trí hàng đầu, và đang nhường quyền ưu tiên cho những cuộc chiến khác “im lìm, thầm lặng”, nhưng kinh khủng, ghê gớm hơn gấp bội.
Covid-19, tuy nhanh chóng xâm lấn bao trùm, nhưng vẫn chưa là cuộc chiến hãi hùng nhất, chưa là cuộc chiến tiêu diệt kinh khủng nhất, và tất nhiên chưa là cuộc chiến cuối cùng của nhân loại. Nhưng cuộc chiến không tiếng súng đáng ngại hơn, mà chúng ta cần đề phòng, ngăn chặn, chính là cuộc chiến ở ngay trong tâm hồn. Nó chính là nguồn gốc của tất cả mọi cuộc chiến, nguyên nhân phát sinh các cuộc chiến “có vũ khí và không vũ khí”, mà chỉ riêng mỗi người mới có thể kiểm soát, ngăn chặn ngay trong tâm hồn mình.
Chứng kiến đại dịch đang làm hoảng loạn thế giới bằng nỗi sợ của chiến tranh toàn cầu “không tiếng súng”, chúng ta có lý do để nhìn lại chính con người, để hỏi xem “có phải con người đang có chương trình tiêu diệt nhân loại, tức tiêu diệt chính mình khi mình giết mình, ta hại ta?”, bởi ai dám qủa quyết Corona là virút tự nhiên, Covid-19 không là vũ khí sinh học, và đại dịch mà thế giới đáng gánh chịu chỉ thuần là tai họa tự nhiên?
Jorathe Nắng Tím  
         

COVID-19 - DẤU CHỈ THỜI ĐẠI (1)


                                               CON NGƯỜI KHÔNG TOÀN NĂNG
Giữa tâm đại dịch Covid-19, các tôn giáo đều kêu gọi tín hữu, tín đồ cầu nguyện, vì tin rằng con người không toàn năng, và quyết định sự tồn tại của nhân loại, cũng như bình an cho thế giới và cho mỗi người nằm trong tay Thượng Đế, thuộc về Đấng Thiêng Liêng.
Các nhà lãnh đạo quốc gia, lãnh tụ đảng phái chính trị thì dè dặt, kín đáo, đúng hơn là tránh né bầy tỏ niềm tin tôn giáo của mình, phần vì sức ép của chủ nghiã vô thần, phần vì áp lực của trào lưu tục hoá ngày càng bành trướng, lan rộng, chưa kể ảnh hưởng của chủ trương tách rời tôn giáo và nhà nước ở phần đông các quốc gia trên thế giới. Vì thế, trước nguy cơ toàn cầu do đại dịch Covid-19 gây ra, rất ít nguyên thủ quốc gia đã lên tiếng kêu gọi dân chúng cầu nguyện như tổng thống Hoa Kỳ Donald TRUMP vừa kêu gọi sáng nay:
“Tôi rất vinh dự được công bố ngày Chúa Nhật 15/3/2020 là ngày Cầu Nguyện Quốc Gia. Trong suốt chiều dài lịch sử, chúng ta là Đất Nước luôn hướng về Thiên Chúa để được bảo vệ, và để được ban sức mạnh trong những thời khắc như lúc này. Bất kể Bạn ở đâu, tôi cũng khuyến khích Bạn hãy thành kính cầu nguyện. Cùng với nhau, chúng ta sẽ chiến thắng dễ dàng [virus Corona]”.
Lời kêu gọi trên của nguyên thủ một quốc gia có sức mạnh bậc nhất thế giới trước đại dịch đã nói lên sức người có hạn: có hạn khi không tiên liệu hết những tai ương, thiệt hại có thể xẩy ra; có hạn khi không ngăn chặn hữu hiệu như ý muốn sức bành trướng vũ bão của virút; có hạn khi không kịp thời đưa ra những biện pháp thích ứng cần thiết để vô hiệu hoá sức công phá của đại dịch; có hạn khi không biết Corona sẽ còn kéo dài bao lâu, và hậu qủa của đại nạn sẽ nặng nề, trầm trọng đến mức độ nào.
Thực vậy, cho dù con người có văn minh đến đâu, khả năng làm chủ vũ trụ có bao trùm, vĩ đại thế nào, nhân loại cũng không thể ra khỏi giới hạn sẵn có của phận người, vì con người không tự tạo nên mình, cũng không tạo nên vũ trụ, và các thụ tạo khác. Những khám phá “thần thánh” tưởng có thể “thay trời làm mưa, biến sỏi đá thành cơm gạo”, và chủ trương “con người tạo nên thượng đế” cũng chỉ hạn hẹp ở phạm trù khám phá những gì đã có sẵn, tìm kiếm những gì đã hiện hữu, tìm hiểu những gì vẫn đều đặn vận hành từ hàng ngàn tỷ năm, và nếu có phát minh mới, thì những phát minh ấy cũng đi từ những gì đã có mà con người quan sát, học hỏi được từ chính mình, và thiên nhiên, vạn vật.
Nói như thế, không có nghiã giảm thiểu cố gắng và đánh giá thấp thành công của con người với khối óc thông minh và ý chí tuyệt vời, nhưng là làm nổi bật vai trò của con người đối với vạn vật và trong thế giới.
Kinh thánh của Thiên Chúa giáo khẳng định: con người được trao trách nhiệm làm chủ mọi loài và thống trị mặt đất (Sáng Thế 1,28), nghiã là con người có quyền trên mọi loài, và tất cả đều hướng đến việc phục vụ nhu cầu hạnh phúc của con người. Điều này đã nói lên: ý muốn của Đấng Tạo Dựng là trao cho con người trách nhiệm làm chủ vạn vật và cho con người quyền sử dụng, hưởng thụ tất cả để cuộc sống con người ngày càng tốt đẹp, hạnh phúc hơn.
Chấp nhận chân lý trên, chúng ta sẽ nhìn nhận hai hệ luận sau:
1.    Đấng Chủ Tạo đã dựng nên tất cả, trong đó có con người, và con người là thụ tạo hàng đầu được yêu thương:
Dấu ấn con người là thụ tạo, chính là con người không toàn năng, không làm chủ trọn vẹn vân mệnh, không biết tất cả, và không bất tử, nhưng bị giới hạn bởi thời gian và không gian, khi không thể hiện diện nhiều nơi cùng lúc, không biết trước chuyện gì sẽ xẩy ra ở tương lai, không nhớ hết những chuyện đã xảy ra ở qúa khứ,  cũng không hoàn toàn làm chủ những gì đang diễn biến ở hiện tại.
Dấu ấn con người được đặc biệt yêu thương và là thụ tạo đứng hàng đầu có toàn quyền trên vạn vật là trí thông minh, ý chí tự do để chọn lựa, thao thức vươn đến tuyệt đối, lương tâm để nhắc nhở, trách móc, phân biệt tốt - xấu, lành - dữ, tội - phúc, cũng như khát vọng yêu thương, hạnh phúc và khả năng nâng tâm hồn lên tới Đấng Tối Cao.
Ngoài ra, mỗi người đều có những cảm nghiệm thiêng liêng, những mơ ước vượt thời gian, không gian, bao la đến vô tận, vô cùng.
Tất cả cho con người lý do để xác tín chỗ đứng quan trọng, được Thượng Đế ưu ái chăm nom hơn các loài thụ tạo khác.
2.   Tương quan giữa con người và Thượng Đế là tương quan cần thiết:
Được tạo dựng, con người sẽ hạnh phúc khi ở đúng vị thế thụ tạo trước Đấng Chủ Tạo, với ý thức: tương quan giữa con người và Thượng Đế là tương quan của lòng tốt và biết ơn: Thượng Đế dựng nên con người vì lòng tốt, con người kính trọng, tin tưởng Thượng Đế vì biết ơn.
Như thế sẽ không có chuyện mưu đồ lật đổ, truất phế, xóa tên Thượng Đế khỏi nhân loại, vì có tính toán và làm thế nào đi nữa, con người vẫn là con người không toàn năng, vẫn mãi là thụ tạo có giới hạn, bất toàn, và Thượng Đế vẫn đời đời là Đấng Toàn Năng nắm giữ vận mệnh của nhân loại và toàn thể thụ tạo đã được dựng nên từ tay Ngài.
Sẽ không có gì thay đổi về phiá Thượng Đế, chỉ có thay đổi ở phía con người khi con người trở nên điên cuồng vì nổi loạn chống Thượng Đế; bất hạnh vì bất mãn Đấng tạo dựng nên mình; vô phúc vì vô ơn Đấng yêu thương và cho mình làm bá chủ vạn vật; khô héo, tàn lụi, và tuyệt vọng vì dồn sức “người” rất giới hạn để tấn công Thượng Đế toàn năng, vô hạn.
Thế nên tốt nhất là ý thức tương quan giữa con người và Thượng Đế, nếu chưa đạt đến mức thân tình Cha - Con, thì ít ra là cần thiết và công bằng do tương quan giữa Chủ Tạo và Thụ Tạo.
Cần thiết vì không có Chủ Tạo nâng đỡ, gìn giữ, Thụ Tạo không thể tồn tại. Công bằng vì bổn phận của Thụ Tạo là tôn trọng quyền tạo dựng của Chủ Tạo, và biết ơn lòng tốt của Đấng đã ban cho mình sự sống và hạnh phúc làm người.
Nhưng điều thiết yếu hơn cả chính là cảm nghiệm sự có mặt và hoạt động yêu thương không ngơi nghỉ của Đấng Chủ Tạo trên các thụ tạo của Ngài.
Cứ nhìn vào vũ trụ bao la, từ những gì lớn lao, vĩ đại nhất đến những gì nhỏ bé, tinh vi nhất, chúng ta thấy tất cả đều  sinh hoạt theo một nguyên tắc, định luật, hệ thống mà không một trí óc con người nào có thể mường tượng và hiểu thấu. Một số người cho đó là do ngẫu nhiên, hoặc do vật chất “tự tạo nên nhau”. Lý luận này không hợp lý và gặp bế tắc, vì không lý giải được nguyên tắc sơ đẳng của luận lý bình thường, đó là tác phẩm không thể thông minh, cao qúy, tài giỏi, tuyệt vời hơn tác giả.
Thực vậy, với ý thức vừa trình bầy trên, Covid-19 sẽ không được coi là hình phạt của Thượng Đế, cũng chưa là “năm cùng tháng tận” của nhân loại. Nó chỉ là một nhắc nhở, như dấu chỉ của thời đại, đặt con người trước ý thức về mình, và vị trí của mình trước Đấng Thiêng Liêng, mà một lương tri lành mạnh khó có thể từ chối, khước từ. 
Covid-19 cũng là dịp để con người ra khỏi cơn bão giận dỗi hay căm thù Thượng Đế nếu có từ bấy lâu, vì thực ra, Thượng Đế không ghét ai, bởi nếu ghét đã không cho làm người; Thượng Đế không thù ai, bởi Ngài không có đối thủ; Thượng Đế cũng không “chơi xấu” ai, bởi Thượng Đế nhân hậu, từ bi và luôn thương con người. Bằng chứng là không ai đã không một lần rơi vào tình trạng hoàn toàn bế tắc, hoàn toàn bất lực, hoàn toàn bức bách, ở đó, không ai đã có thể ra tay cứu vớt, không người nào đã có thể cứu nguy, nhưng rồi với niềm tin tưởng ở Thượng Đế, khi mà chỉ còn một mình Ngài có thể cứu giúp, chúng ta đã được “tai qua nạn khỏi” và tìm lại bình an.
Hưởng ứng lời kêu gọi của các bậc lãnh đạo tôn giáo, cũng như của tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, người viết hiệp ý cùng Bạn cầu nguyện cho toàn thể nhân loại đang cần bàn tay can thiệp đầy yêu thương của Thượng Đế. Xin Ngài ban ơn khôn ngoan cho các nhà lãnh đạo, ơn yêu thương cho tất cả những ai đang tận tụy phục vụ nạn nhân đại dịch, và ơn Bình An cho tất cả mọi người trên toàn thế giới đang lo lắng, hốt hoảng giữa cuồng phong đại dịch.
Ước gì Covid-19, như dấu chỉ của thời đại, nhắc nhớ chúng ta điều rất quan trọng để luôn sống trong niềm Hy Vọng và Bình An, đó là ý thức về con người, một thụ tạo nhiều giới hạn, nhưng là thụ tạo được Đấng Chủ Tạo yêu thương cách riêng, yêu chiều đặc biệt, và hạnh phúc của Đấng Chủ Tạo nhân hậu, tốt lành là được con người Tín Thác, Hy Vọng và Cầu Xin.
Jorathe Nắng Tím        

Thứ Năm, 12 tháng 3, 2020

CON NGƯỜI và COVID–19

Đến hôm nay thì Corona từ Vũ Hán ngày nào đã biến thành COVID -19 cho cả thế giới. Ở đâu, trên châu lục nào, người ta cũng xôn xao  báo động, hoang mang tìm hiểu và hốt hoảng đương đầu.
Chỉ cần nhìn vào thống kê số tử vong, bệnh nhân lây nhiễm trên các quốc gia, trong một thời gian ngắn kỷ lục, người lạc quan, bình tĩnh, gan lì đến đâu cũng phải giật mình thận trọng, và đặt vấn đề.
Vào lúc này : 8 giờ 35 sáng ngày 12 tháng Ba năm 2020, giờ Paris, người viết ghi nhận từ “Tổ Chức Y Tế Thế Giới” những con số ấn tượng ở một số quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch :  
Trung Quốc : 80.967 ca dương tính, 3157 tử vong.
Ý : 12.462 ca dương tính, 827 tử vong.
Iran : 9000 ca dương tính, 354 tử vong.
Hàn Quốc : 7755 ca dương tính, 54 tử vong.
Pháp : 2281 ca dương tính, 48 tử vong, 105 ca cấp cứu hồi sức.
Mỹ : 1039 ca dương tính, 29 tử vong.
Đức : 1622 ca dương tính, 3 tử vong.
Nếu tính chung toàn cầu, với 110 quốc gia, con số sẽ là 121.500 ca dương tính, và 4370 tử vong.
Đứng trước đe dọa của đại dịch, các quốc gia đều có những biện pháp ngăn chặn, đề phòng, giải quyết tùy theo tình hình riêng, nhưng tựu trung, tất cả đều phải nhận : đây là đại dịch đem lại nguy hiểm lớn cho tính mạng người dân và nguy cơ trầm trọng làm suy thoái nền kinh tế đất nước.
Bên cạnh những lo lắng chung trước một tương lai đang đổ dốc không thắng, nhiều người có nhiều suy tư không luôn đồng thuận, đồng chiều :
Về nguyên nhân của đại dịch, có người cho đó là vũ khí sinh học của Trung Quốc trong chương trình đương đầu với Mỹ, nhằm giành quyền bá chủ thế giới. Vũ khí được chế tao tại trung tâm nghiên cứu Vũ Hán, chẳng may bị rò rỉ, thất thoát và virút Corona “made in China” đã vô phúc thành “gậy ông đập lưng ông”. Cùng ý nghĩ quy tội chính quyền Trung Quốc, có người còn bạo gan suy đoán : Trung Quốc cố tình hy sinh nhân dân Vũ Hán, để đánh lạc hướng dư luận thế giới, và thế giới không có bằng chứng tố cáo tội ác sử dụng vũ khí sinh học của mình. Một số khác chê trách người trung quốc đã bừa bãi ăn thịt những động vật dơ dáy, nguy hiểm như loài dơi, nên đã đem loại virút mà khả năng ban đầu của nó chỉ có thể lây nhiễm giữa động vật với nhau, vào con người, để từ đó, virút biến thể và tự tạo ra khả năng lây nhiễm từ người sang người.
Luận bàn về ý nghiã của đại dịch, thì nhiều vô kể : có người nghiêng về tâm linh khi cho rằng Trời Phật phạt Trung Quốc vì nhiều trọng tội như đã xúc phạm thần thánh, đàn áp tôn giáo, xâm chiếm các quốc gia láng diềng, nhưng khi đại dịch lan tràn qua Hàn Quốc, Ý, Pháp, Mỹ, và các nước khác, thì một giả thuyết mới được thêm vào, đó là tận thế sắp đến và loài người sắp bị hủy diệt, vì tội lỗi đầy tràn, và đã đến lúc Thượng Đế thấy cần phải cho con người biết Ngài còn hiện diện với uy quyền trừng phạt. Chưa kể nhiều cắt nghiã thuộc dạng “thông thiên, địa lý, bói toán, bấm qủe…” khác đã đưa ra rất nhiều viễn cảnh tang thương, tăm tối cho nhân loại qua đại địch.
Thực tế là người người hoảng loạn, nhà nhà hoảng loạn, đua nhau mua sắm tích trữ lương thực trước đe dọa cả thành phố, cả tỉnh, cả nước có thể bị phong toả, cách ly, khi đó, không ai đến được với ai, không nhà nào dám giao lưu với nhà nào, vì đại dịch hoành hành.
Cho đến hôm nay thì nhiều biên giới đã cấm người nước ngoài nhập cảnh, nhiều công ty hàng không khủng hoảng tài chính vì không có khách, nhiều cơ sở sản xuất phá sản, chứng khoán rớt sâu, nhà đất đóng băng, công ăn việc làm đình trệ làm xáo trộn sinh hoạt các gia đình, trường học đóng cửa, cưới xin tạm ngừng, ma chay cúng giỗ giảm thiểu, miễn chấp, nhà thờ, đền chùa vắng tanh, chị em doanh thương các ngành ế ẩm ngơ ngác nhìn nhau lo lắng.
Cả thế giới như chìm vào đại dương dịch đang gắng gượng bơi ra ; cả loài người đang lo âu tìm kiếm thuốc chủng, phòng chống đại dịch, nhưng sức người có hạn, và thời gian vẫn là điều con người phải lệ thuộc.     
Không làm chính trị, không có kiến thức kinh tế, càng không thông thiên - kinh dịch, nên người viết chỉ dám chia sẻ với Bạn một vài suy nghĩ và cảm nghiệm cá nhân rất nhỏ bé, để cảm thông với lo lắng của mọi người, để trân qúy, biết ơn tất cả những tấm lòng đã hy sinh cho lợi ích chung và tính mạng của người khác giữa tâm dịch nhiều nguy hiểm, để nói nhỏ với bạn, người đang đọc những dòng này : “Tôi rất yêu mến Bạn và mong Bạn, cũng như tất cả những người thân quen của Bạn được may lành, bình an vượt qua cơn đại dịch Covid hiểm nghèo”.  
1.   Tôi thấy con người thật yếu đuối, mong manh, dễ vỡ :
Dễ vỡ lắm Bạn ạ, và mong manh, yếu đuối đến đáng thương, khi chỉ một con vi khuẩn bé tí teo đã đủ làm hoảng loạn và đánh gục cả loài người.
Nghe tin tức mỗi ngày hai lần về số tử vong, dương tính Covid-19 mà ớn sương sống. Nó bé tẹo teo mà mạnh kinh khủng : đánh từ cấp cao chính quyền đến cụ già nằm chờ chết ở nhà hưu dưỡng, đánh bất cứ ai, quốc gia mạnh yếu, cường quốc hay nhược quốc, cộng sản hay tư bản, công giáo hay phật giáo, da trắng hay da mầu, ôn đới hay nhiệt đới, trí thức hay bình dân học vụ… Nghiã là virút bé nhưng oai như “ông kẹ” đã thực sự đe dọa và làm sợ toàn thế giới.
Ở giữa tâm dịch, tôi mới thấy triết gia Pascal thật tuyệt vời khi suy tư về thân phận mỏng dòn, mong manh, yếu đuối của con người, và gọi con người là “cây sậy dễ gẫy”. Và qủa thực, trước gió thì không cây nào dễ gẫy bằng cây sậy. Nhưng cây sậy dễ gẫy “con người” của Pascal lại có một giá trị tuyệt vời, vì là cây sậy biết suy tư.
2.   Chính vì là “Cây Sậy biết suy tư”, mà con người lo lắng, sợ hãi :
Vì có suy tư, biết suy nghĩ nên con người biết mình yếu đuối, biết giới hạn của mình trước sức mạnh của thiên nhiên, và nhiều thụ tạo khác. Chẳng hạn khi đứng trước sư tử, hùm beo, chó sói, con người chỉ còn duy nhất một vũ khí tự vệ, đó là suy tính tìm đường thoát thân, ngoài ra thân xác có gì đủ mạnh để đương đầu ?
Vì suy tư, con người biết nhiều, không những biết những gì đã xẩy ra, những chuyện đang diễn tiến, mà biết trước cả những gì sẽ đến trong tương lai. Chẳng thế mà con người khổ hơn con vật, khi nhớ chuyện cũ, thấy chuyện hiện tại, và lo trước chuyện ngày mai chưa đến. Nỗi lo tự nhiên gấp ba lần, nỗi sợ bỗng lớn lên gấp bội, chỉ vì con người là cây sậy suy tư.
Trước nạn dịch, tuy chưa bị lây nhiễm, nhưng vì biết mình có thể bị dương tính từ bất cứ ai, trong bất cứ tình huống nào, tiếp đến là bị cách ly, cô lập ; biết mình có  thể bị virút “ăn tươi nuốt sống” trong vài giờ cả buồng phổi, nếu không kịp phát hiện ; biết mình có thể ra đi bất cứ lúc nào và phải bỏ lại vợ con, cha mẹ, sự nghiệp, công danh, nên con người rất lo sợ, như tôi đây đang lo âu, sợ hãi. Lo âu vì không biết những rủi ro, tai ương do trí khôn dự phóng có vô phúc trở thành sự thực không ?  Và nếu có thì khi nào ? Sợ hãi vì nếu những sự dữ đó xẩy ra thì làm cách nào để đối phó, thoát khỏi ?
Lắm lúc càng nghĩ càng thương cho phận mình, vì phải nghĩ, phải suy, mà càng suy càng khổ, càng nghĩ càng lo, nên thi thoảng đánh liều mong mình “thử làm con vật” vài phút để xem có sung sướng hơn con người chút nào không, vì loài vật không phải suy nghĩ để phải lo âu, sợ hãi nhiều và dằng dặc như con người đang lo, đang sợ đại dịch.     
3.   Vì qúa lo sợ, tôi trở thành người ích kỷ :
Những ngày đầu, khi dịch Corona còn ở xa tít tận Vũ Hán thì tôi thương những nạn nhân người Trung Quốc, nhưng dần dà, dịch tiến lại gần nơi tôi ở, tràn vào quốc gia tôi đang sống, xâm lấn không gian từ lâu vốn an toàn của gia đình tôi, thế là tôi thấy mình bớt thương người Vũ Hán, bớt lo cho những người ở xa đang bị dịch, mà dồn hết tình yêu lo cho mình, lo cho người thân của mình, vì sợ mình chết, sợ người thân bị lây nhiễm, mất mạng.
Tôi bắt đầu tập trung toàn bộ cho mình, quy chiếu về “cái tôi”, bởi “cái mình” của tôi đang thực sự bị đe dọa, “cái tôi” của mình đang bị virút rình rập tấn công. Tôi khám phá mình không còn thời gian và nghị lực để lo chuyện thiên hạ, không còn nhiệt tình, nhiệt huyết, nhiệt tâm lo sự “sống còn” của người khác, nhưng chú tâm lo cho mình, bằng dự phòng mọi biện pháp để bảo vệ an toàn tuyệt đối “cái tôi”, và những ai thuộc về tôi.
Chính trong nguy cơ của tâm dịch, ở giữa đe doạ nghiêm trọng khi dịch tràn tới, tôi biến thành con người ích kỷ. Tôi ích kỷ vì qúa lo sợ mất mạng sống ; tôi ích kỷ vì qúa sợ mất những gì thuộc về mình ; tôi ích kỷ vì qúa lo lắng trước giới hạn và bất lực của mình trước hiểm nguy ; tôi ích kỷ vì lo sẽ không còn được có mặt trong thế giới, được ở với người tôi cần, thôi thương. Thế là tôi phác họa một chương trình ích kỷ để tuyệt đối bảo vệ mình, để trăm phần trăm gìn giữ mình và những ai thuộc về mình không bị lây nhiễm, và chương trình ấy hạn chế đến mức tối đa sự có mặt của người khác, vì ích kỷ dậy tôi : không được đông, vì càng đông càng dễ chết, như người vượt biển chỉ muốn tầu thuyền ít người để tuyệt đối đảm bảo an ninh, an toàn.
Giữa cao trào của cơn đại dịch Covid-19, tôi muốn được dừng chân như đã dừng chân những ngày dịch vừa bắt đầu khai hoả ở Vũ Hán, nhưng lần này không để bình tâm thương người Vũ Hán, mà bình tâm để nhìn lại mình, và kiểm tra mức độ của tình thương ban đầu, xem mối tình ấy còn hay mất, tăng thì chắc không, nhưng giảm thì giảm đến mức nào, hay đã hoàn toàn khô héo, cạn kiệt.
Dừng chân hôm nay để nhìn vào chính thân phận mỏng dòn, yếu đuối của mình, để định giá lại nỗi lo lắng, sợ hãi, và tự hỏi : có nên tiếp tục lo lắng, sợ hãi, nếu lo lắng, sợ hãi đưa đến ích kỷ triệt để, ích kỷ toàn phần, ích kỷ thái quá, ích kỷ cực đoan.
Vẫn biết ai cũng phải có bổn phận lo cho mình, lo cho sinh mạng của mình, nhưng chỉ cho mình thôi, chỉ vì mình thôi, chỉ biết mình thôi, thì lo sợ ấy có còn giá trị nhân văn, có còn giá trị đạo đức, có còn giá trị của đời làm người ?
Tôi cũng cần dừng bước hôm nay, ở cao điểm của đại dịch, để nhìn ra chung quanh mình, ở đó, có những người đang hy sinh cho tôi và gia đình, thân quyến tôi được bình an vượt qua đại dịch. Họ là những thiên thần áo trắng ngày đêm trong các bệnh viện và trung tâm cách ly để chữa lành và ngăn chặn tai ương của virút, những nhà lãnh đạo quốc gia, các cơ quan quốc tế, các nhà khoa học chấp nhận “mất ăn mất ngủ” chạy đua với thời gian để có giải pháp vô hiệu hóa sức bành trướng và phá hoại của Covid-19. Bên cạnh những con người dễ nhận diện đang hy sinh vì người khác ấy, còn rất nhiều những con người ẩn danh, ẩn mặt là những nhân viên y tế, xã hội, những thiện nguyện viên không tên tuổi đang tận tụy tẩy rửa, sát trùng từng mét vuông diện tích những nơi công cộng, hầu bảo vệ mạng sống của đồng bào, đồng loại.
Vâng, mới chỉ một chốc lát dừng chân giữa tâm đại dịch mà tôi đã thấy mặt mình nóng ran, chân tay ngượng ngùng, đầu óc chóang váng… 
Tôi thực sự xấu hổ, vì đã để lo lắng, sợ hãi biến mình thành người ích kỷ, mà trước đó tôi tưởng sẽ chẳng bao giờ rơi vào, khi tư tưởng của triết gia Pascal : “Con người là cây sậy biết suy tư” đánh thức lương tâm hay li bì ngủ quên và trái tim kinh niên lười biếng của một người đáng lẽ phải biết buông bỏ, liều lĩnh, dấn thân  mạo hiểm hơn, vì biết thân phận yếu đuối, mỏng manh, dễ vỡ của mình chỉ được bù lại bằng giá trị bất diệt, vĩnh cửu của yêu thương, phục vụ, mà dấu ấn đẹp nhất, tuyệt vời nhất, cao cả nhất ở “cây sậy dễ gẫy nhưng biết suy tư”, chính là sống hy sinh, chết hy sinh vì đồng loại, mà không lo sợ, hèn nhát, ích kỷ.
Dừng chân rồi, tôi lại tiếp tục đi. Chúc Bạn và người thân của Bạn bình an vượt qua cuồng phong đại dịch ! 
Jorathe Nắng Tím   

Thứ Hai, 9 tháng 3, 2020

CHỤP MŨ

Người nông dân nghèo, bà mẹ quê, cụ già ăn xin, hay bác thợ hồ làm ngày nào ăn ngày đó, thì chuyện mũ nón là chuyện nhỏ, vì chiếc nón rách bươm đã nhiều năm, cái mũ cũ mèm mà tuổi thọ có đến một phần tư thế kỷ, hay tầu lá chuối, miếng vải nhựa được dùng làm mũ nón “che nửa nắng, nửa mưa” cũng đã được coi là “ngon lành”. Nhưng làm mệnh phụ phu nhân, hoa hậu, người mẫu, đức vua, hoàng hậu, giám mục, hồng y, giáo hoàng thì mũ nón không là chuyện nhỏ, nhưng là chuyện lớn của người làm lớn, vì thiếu mũ nón, không ngự giá cho thần dân chầu được ; quên mũ nón, không thể xuất hiện trước bàn dân thiên hạ, nên chỉ riêng chuyện mũ nón thôi, người làm lớn cũng phải có nhiều người nhỏ ôm giữ, bảo qủan.
Như thế, chức vị càng cao, mũ đội càng qúy ; càng làm lớn, càng đội mũ to, và càng làm chuyện lớn, mũ nón càng nhiều. Ở đây, không đề cập đến những mũ cao ngất ngưởng, những nón rộng vành như muốn che cả mặt trời của ông to, bà lớn, người viết chỉ dám mạn bàn chuyện “chụp mũ”, mà nhiều người đã là nạn nhân, khi bị đối phương tìm cách đốn ngã, hạ bệ.
Vì mũ được đặt ở vị trí cao nhất của thân thể, lại không bị che khuất bởi bất cứ phần thân thể nào, nên mũ là đối tượng dễ thấy, dễ nhận và ấn tượng nhất, chưa kể khi mũ vút cao, rộng vành, được thêu thùa, sơn vẽ sặc sỡ, lại được gắn thêm chuông kêu kính koong, hay lục lạc nghe lẻng kẻng thì còn lôi cuốn đến mức nào.                
Mũ thu hút nhanh chóng, vì dễ thấy ; mũ bảo tồn lâu dài hình ảnh vì tạo ấn tượng. Đó là hai đặc điểm phải khai thác trong chiến thuật tung hê, ủng hộ, hay giập vùi, chống phá. Đó là cách cho đội mũ có gắn vô số các ngôi sao nhân đức tuyệt vời, và khả năng tuyệt hảo khi phò người nào, và chụp chiếc mũ gắn đầy gai nhọn xấu xa của tội lỗi và thói hư tật xấu trên đầu kẻ phải hạ bệ, truy diệt, tấn công.
Kinh nghiệm thường ngày cho chúng ta biết về hành vi “chụp mũ” :
1.   Chụp mũ  là việc làm hèn nhát, tồi bại của kẻ yếu:
Người trưởng thành có bản lãnh, có tư cách, có tâm có tầm không bao giờ chơi trò “chụp mũ”, vì đây là trò chơi ấu trĩ, hèn nhát, tồi bại, không bao giờ được thực hiện bởi người mạnh, người đạo đức, người trí thức lương thiện có tự trọng và tôn trọng người khác.
Bởi không tôn trọng người khác mới giở trò đánh lén, đâm sau lưng bằng “chụp mũ” ; bởi nếu “quang minh chính đại” thì đã gặp gỡ, trao đổi, thảo luận để cùng tìm ra chân lý và phương án giải quyết vấn đề nếu có. Trái lại, “chụp” cho ai điều gì có nghiã là chuyện đó chưa chắc đã có, chưa hẳn đã thật, nếu không muốn nói là hoàn toàn bịa đặt, ngụy tạo, dàn dựng, cũng như chụp cho ai chiếc mũ nào đó, chính là hành động lén lút, bất chính, bất minh, khi không dám để người bị chụp mũ thấy mình, biết mình là ai, khi lén lút chụp mũ họ.
Việc làm này chẳng khác hành động “chụp giật” của bọn cướp đường, giựt bóp, lừa đảo tiền bạc, mà dân gian thường gom chung vào một danh xưng : bọn “chụp giật”. Nếu có khác thì chỉ khác ở một điểm : “chụp mũ” nhắm hạ giá trị tinh thần như danh dự, uy tín, gia thế, ảnh hưởng… của người khác, và thủ phạm luôn dấu mặt, trong khi “chụp giật” nhắm đến giá trị vật chất như giây chuyền, hột xoàn, điện thoại xịn, bóp đầm hàng hiệu, đôla, xe máy… và thủ phạm vì phải trực tiếp “xuống tay”, “chạy hàng”, nên không thể dấu mặt, mà chỉ “che mặt” và biến nhanh.
Như thế, người “chụp mũ” và kẻ “chụp giật” đồng hạng trên thang đạo đức, đồng hạng mức độ nhân văn, đồng hạng tiêu chuẩn văn hóa, đồng hạng thành phần tội phạm, vì đây chính là trọng tội, vì cả hai đều xâm phạm, làm tổn thương người khác ; cả hai đều gian ác, bạo lực, hung dữ ; cả hai đều vô tâm, vô cảm, nhất là cả hai đều hèn và rất yếu trước nạn nhân.
2.     Chụp mũ là hành vi trơ trẽn, lố bịch khi sự thật được sáng tỏ :
Vì tự thân “chụp mũ” là gán cho người nào đó một hoặc nhiều việc xấu, mà họ không làm ; gắn vào đời ai đó một hoăc nhiều nhãn hiệu tồi tệ do những tội ác mà họ không phạm, quy kết cho đối tượng nào đó những ý nghĩ đồi bại, hoặc đường hướng bất lương, bất chính mà họ không hề theo đuổi, nên nền tảng của công trình “chụp mũ” được xây trên cát của dối trá, để làm thành một lâu đài ngụy tạo có bài bản, vu khống hồ đồ, kết án oan sai, hầu thoả mãn lòng ganh ghét, thủ đọan cạnh tranh không lương thiện, và tính kiêu căng của kẻ vừa dốt nát vừa vênh váo, ngạo mạn.
Vì được xây trên cát của dối trá, nên lâu đài “chụp mũ” sớm muộn sẽ sụp đổ tan tành, và bị cuốn trôi cách bẽ bàng, tang thương. Tang thương khi thời gian trả lại sự thật cho người bị chụp mũ ; bẽ bàng khi sự thật trả lại danh dự, uy tín cho nạn nhân, nhưng cùng lúc, thời gian hất tung mặt nạ, kéo xuống khẩu trang che kín những nham hiểm, trơ trẽn, lố bịch của kẻ gian ác, nhưng hèn nhát và sự thật sẽ nghiêm khắc định giá hành vi và con người đã “chụp mũ” ấy.
3.   Hậu qủa của chụp mũ :
Tất nhiên hậu qủa trước mắt là nạn nhân bị chụp mũ phải một phen tơi tả, te tua, vì sức công phá kinh khủng của đòn “chụp mũ”. Họ có thể mất hết : từ danh dự cá nhân, thế giá dòng tộc, uy tín, việc làm đến bề trên, bề ngang, bề dưới. Nhiều người “thân bại danh liệt” phải lui vào bóng tối chờ chết. Và trước mắt nhiều người, họ là người thất bại, thua cuộc vì có tội, bởi chiếc mũ được chụp đúng qúa, vừa qúa, hợp quá. Đám đông nhẹ dạ, thiếu suy ngfhĩ, phân định, sàng lọc thông tin, nhất là a dua chạy theo người có quyền, xu nịnh phe nhóm thắng thế sẽ tấm tắc khen ngợi người “chụp mũ” thật giỏi, thật khéo đã chụp trúng đầu tên tội đồ, kẻ tội lỗi chiếc mũ dành cho hắn.
Tỷ lệ nghịch với hậu qủa nạn nhân phải chịu là kết qủa tác giả của chiêu trò “chụp mũ”. Tác giả phi vụ gian ác, hèn nhát này sẽ vui vì thành công như ý muốn, có khi ngoài sức y tưởng tượng, và vì say men chiến thắng, y sẽ không còn dấu mặt nữa, nhưng sẽ xuất đầu lộ diện để kể công, được khen, và nhận thưởng.
Nhưng đó chỉ là những gì thấy được ở bên ngoài, còn bên trong tâm hồn, ở sâu thẳm nội tâm, câu chuyện hậu qủa và kết qủa không như vậy.
Không như vậy, vì hậu qủa và kết qủa đổi chỗ, đổi chủ cho nhau : người bị chụp mũ, sau cơn chấn động với những mất mát sẽ nhìn rõ hơn, hiểu thấu hơn, cảm nghiệm sâu sa hơn con người và việc đời, sự thật của con người và sự thật của đời người để lớn hơn một chút nữa trong tầm cảm của trái tim, để xa hơn một chút nữa trong tầm nhìn của khối óc, để vững chãi hơn một chút nữa trên nhịp chân, để đôi tay qủa cảm, can trường và quảng đại hơn một chút nữa để trao ban và đón nhận.  
Nhờ đó, hậu qủa biến thành kết qủa, nạn nhân trở thành hiền nhân khi yên lặng của “an nhiên tự tại”, bình an của “hiền lành, khiêm tốn”, đơn sơ của “trung tín, thật thà” giúp họ vượt qua thử thách, chắp thêm cho họ đôi cánh để bay vào niềm vui sâu lắng dạt dào, vì trong nhà họ không có chỗ cho người khách lạ mang tên Sợ Hãi, và trong hồn họ không giăng mắc, tơ vương hận thù.
Họ thực sự hạnh phúc, vì biết mình vượt xa người, và khoảng cách xa đó như những cây số cần phải đi qua để còn phải tiến rất xa.
Khác với người bị chụp mũ, sau khi hoàn thành công tác, người chụp mũ ra khỏi thời gian thinh lặng xây mưu đồ, ra khỏi bí mật những ngày toan tính, thủ đọan, để bước vào thời kỳ “ăn to nói lớn” hầu phô trương thành qủa “chụp mũ”.
Nhưng chính trong giai đọan chiến thắng vinh quang này, lương tâm giành phần nói với họ, lương tâm đòi họ yên lặng để nghe lương tâm nói. Đó cũng là lý do sau khi làm hại người khác, người ta không thể thinh lặng và ở yên một chỗ. Không phải họ không muốn thinh lặng, ở yên, nhưng lương tâm không cho họ ở yên, tĩnh lặng. Họ phải ba hoa chích choè, huyênh hoang bốc phét để khỏi phải nghe tiếng nói của chính mình ; phải ra khỏi nhà, ra khỏi đời mình để trốn chạy, tránh né lương tâm, vì hơn lúc nào hết, lương tâm không để họ yên ổn, bình an ; lương tâm bắt họ phải đối diện, giải trình ; lương tâm lục lại hồ sơ, lật lại chuyện cũ, chiếu lại cuốn phim tưởng đã có thể xóa bỏ, giấu nhẹm, phi tang.
Vâng, câu chuyện chụp mũ và bị chụp mũ là câu chuyện cũ như trái đất. Nhưng có một con người mà ai cũng nghĩ không thể bị chụp mũ, con người hoàn hảo về nhân đức, nhân văn, nhân bản, lại thương người, giúp người, cứu người. Thế mà con người ấy lại  bị chụp mũ hơn nhiều người, chụp mũ xấu xa và dơ bẩn hơn nhiều người, chụp mũ nặng nề đến độ phải chịu án tử hình và đóng đinh vào thập giá.
Người viết chỉ nêu ra một vài trường hợp trong Tin Mừng để làm chứng : Con Người ấy đã bị chụp mũ dã man hơn chúng ta.
Con người có tên Giêsu ấy dễ thương, dễ gần, dễ chạnh lòng trắc ẩn, hay ra tay cứu giúp, nên được đám dân nghèo đầu đường xó chợ thương, đám bệnh nhân không tiền đi bác sĩ, bệnh viện mến, đám bụi đi, tệ nạn xã hội bị mọi người nguyền rủa, khai trừ ngưỡng mộ. Và người ta hay thấy Ngài gặp gỡ thân tình, trò chuyện rôm rả, uống càphê, ăn cơm với đám người mà giai cấp “có quyền, có tiền, có chức” thường khinh bỉ gọi là “phường tội lỗi”.
Thánh sử Mátthêu ghi lại lời than thở của chính Đức Giêsu sau nhiều phen bị những người tự nhận mình là công chính “chụp mũ” : “Thật vậy, ông Gioan đến, không ăn không uống, thì thiên hạ bảo : “Ông ta bị qủy ám”, Con Người đến cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo : Đây là tay bợm nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi (Mt 11,18-19). Thật ghê gớm miệng đời !
Khi chữa lành “một người bị qủy ám vừa mù lại vừa câm” (Mt 12,22), thì đám Pharisêu lại chụp mũ Ngài : Ông này trừ được qủy chỉ vì nhờ vào thế của qủy vương Bêendêbun (Mt 12,24). Thật kinh tởm lòng người !
Cho đến lúc này thì Đức Giêsu mới chỉ bị chụp mũ là “tay bợm nhậu, bạn bè của đám thu thuế và phường tội lỗi”, cũng như chỉ mới ở mức độ “cậy dựa quyền phép của qủy vương để trừ qủy con, qủy bé” thôi, phải chờ đến khi Ngài làm phép lạ chữa anh mù từ thuở mới sinh, thì thiên hạ mới tổng tất công “chụp mũ” Ngài.
Họ tổng tấn công khi chụp mũ Ngài không thể là người của Thiên Chúa, vì không giữ ngày sabát (Ga 9,16). Còn gay gắt và dữ dội hơn, họ dồn hết sức lực để đốn gục Ngài bằng cú chụp mũ kinh dị, khiếp khủng hơn tất cả, đó là chụp cho Ngài cái mũ người tội lỗi, khi to tiếng lớn miệng tri hô cho mọi người nghe : “Một ngưòi tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” (Ga 9,16), và Chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi (Ga 9,24). Và để bịt miệng những ai biện bác lại, họ sẵn sàng chụp luôn cho người ấy cái mũ “người tội lỗi”, như đã chụp mũ anh mù được chữa lành, khi anh không đồng ý với luận điệu chụp mũ Đức Giêsu của họ : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” (Ga 9,34).
Qủa thực, đòn ác nhất, chiêu độc nhất, ngón thâm nhất chính là chụp mũ người khác là người tội lỗi, bởi ai cũng có tội, ai cũng là tội nhân, ai cũng có khả năng phạm tội, khả thể lầm lỗi, nên chụp mũ “tội lỗi” sẽ dể thổi phồng, dễ thêm thắt, dễ làm cho tình trạng người khác bị nghi ngờ có tội thành người có tội thật, dễ cường điệu mức độ nghiêm trọng của tội lỗi, dễ biến tội nhân thành ghê tởm, đáng nguyền rủa, lên án, trừng phạt. Chụp mũ “tội lỗi” còn lợi thế có thể tiếp tục chất cao thêm đống tội, khoét sâu hơn vực thẳm tội, và nhận chìm sâu hơn danh dự, uy tín, cuộc đời người bị chụp mũ bất cứ lúc nào, mà không phải tốn nhiều công, theo kiểu khuyến mãi : trả một lần, được ăn mãi.
Đàng khác, khi chụp mũ “là kẻ tội lỗi”, người chụp mũ không mất công truy tìm căn cước của tội, nghiã là không cần nêu đích danh tội nào, nhưng có quyền gọi tên, và “chụp” mọi thứ tội nặng nhẹ, mà không vất vả, áy náy, hay bị người nghe hạch hỏi, phản biện, bởi cái lợi của chụp mũ “kẻ tội lỗi” là tính cách mông lung nhưng phổ quát, mờ nhạt nhưng để vào đâu cũng khít khao, lỏng lẻo nhưng xếp vào khâu nào cũng chặt chẽ, mạch lạc. Lợi hại ở chỗ đã chụp cho ai chiếc mũ tội lỗi rồi, thì kế họach hành hình, thủ đọan thanh toán người ấy mở ra như một vùng oanh kích tự do, miền đất chết toàn quyền truy diệt.
Tuy thế, trước toà án Philatô, khi những người tố cáo Đức Giêsu được Philatô hỏi : “Các ngươi tố cáo ông này về tội gì ?” (Ga 18,29) thì họ lại ú ớ, nhìn nhau trả lời “lạc đề”, mà chỉ trơ trẽn lấp liếm và cố tạo áp lực trên Philatô : “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18,30). Trấc lấc câu trả lời của môi miệng gian dối, chua ngoa !
Philatô đâu có chờ câu trả lời lãng xẹc và vô duyên, vô nghiã đó của họ, vì họ đã trả lời như không trả lời, bởi không thể tìm ra bất cứ tội danh nào để tố cáo Đức Giêsu, nên khan giọng hùa nhau la ó, cốt tạo áp lực trên Philatô, để ông giao Ngài cho họ đem đi đóng đinh.         
Vâng, nếu Đức Giêsu là Đấng chí tôn chí thánh mà còn bị chụp mũ “kẻ tội lỗi”, thì những chiếc mũ “côn đồ, hoang đàng, dâm đãng” được chụp trên đầu, trên đời chúng ta nào có thấm thía gì ; nếu Đức Giêsu là Ngôi Lời Thiên Chúa, là Con Thiên Chúa mà còn bị chụp mũ là “người không thuộc về Thiên Chúa”, thì mũ “rối đạo, chống cha chống Chúa, con dê nằm vùng giữa đoàn chiên” được gán cho chúng ta tưởng chẳng nặng ký bao nhiêu ; nếu Đức Giêsu đơn sơ, giản dị, nghèo khó đến độ “con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có cả chỗ tựa đầu”, mà còn bị chụp mũ là tên bợm nhậu, bạn bè với phường tội lỗi, thì mấy cái mũ “đàn đúm ăn chơi, giang hồ lang bạt” mà thiên hạ “làm đẹp” đời chúng ta chắc phải xếp vào chuyện nhỏ, chẳng đáng quan tâm.
Nhưng điều đáng quan tâm, việc lớn phải làm, câu chuyện cần trao đổi, quyết định cần thực hiện, lệnh truyền cần thi hành, đó là mùa chay đang dần mở ra Tuần Thánh và Phục Sinh, như mở ra cho tất cả chúng ta, gồm những người chụp mũ, ném đá anh em, và những người  bị anh em ném đá, chụp mũ những con đường mới.
Đây là những con đường dành cho những con người yếu đuối  mà hôm nay có thể là nạn nhân đáng thương đang bị chụp mũ, đóng đinh, nhưng tháng tới, có thể biến thành kẻ chụp mũ, lý hình ném đá, đóng đinh người khác.
Như Đức Giêsu chịu chụp mũ, ném đá, đóng đinh bởi chính những người mình yêu thương, cứu giúp, chữa lành, bênh vực, gìn giữ, chúng ta hãy cùng Ngài bắt đầu lại tất cả, cùng để tất cả lại được bắt đầu bằng lên đường vào sa mạc, ở đó trong thinh lặng của sa mạc tâm hồn, Thiên Chúa mở lòng, mở trái tim để chúng ta đủ qủang đại bắt đầu sống lại Giao Ước mới ; chúng ta cũng đi với Chúa trên đường Thánh Giá của Lòng Thương Xót, để với Chúa chúng ta biết chạnh lòng và lại bắt đầu Thứ Tha, và con đường sau cùng không biên giới, đang mở ra thênh thang, bao la, mênh mông, ngút ngàn là đường đến với Muôn Dân, trên đó Thiên Chúa đồng hành với chúng ta và dậy chúng ta một chân lý quan trọng : chiến thắng lớn nhất của người môn đệ là mở đường cho người khác bắt đầu lại, cũng như chính mình lại bắt đầu yêu thương, tha thứ  khi ngày mới bắt đầu, như Thiên Chúa đã tha thứ, yêu thương.
Jorathe Nắng Tím

NGƯỜI CÔNG CHÍNH CỦA THIÊN CHÚA

                     Lễ THÁNH GIUSE, BẠN TRĂM NĂM ĐỨC MARIA, 19/3
Thánh Giuse là khuôn mặt rất lu mờ, rất ít được nhắc tới trong Tin Mừng, ngoại trừ thánh Matthêu với trình thuật tương đối đặc biệt liên quan đến ngài, khi nói về gốc tích của Đức Giêsu : “Bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kià sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng : Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria, vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khjỏi tội lỗi của họ… Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như lời sứ thần Chúa dậy và đón vợ về nhà” (Mt 1,18-21.24).
Trong trình thuật trên, chúng ta thấy người công chính là thánh Giuse đã không hành động như nhiều người tự nhân là công chính hoặc được người đời phong cho danh hiệu “người công chính”.
Khác với nhiều người tự nhận là công chính, thánh Giuse đã rất im hơi lặng tiếng, và âm thầm sống đời công chính của mình, như tôi tớ của Thiên Chúa, khi không huyênh hoang đức công chính sáng ngời của mình, không vênh vang lên mặt là “người công chính, rất đẹp lòng Thiên Chúa” trước đám đông bất chính, tội lỗi. Thái độ kín đáo khi định tâm bỏ Đức Mẹ đã nói lên tinh thần khiêm tốn thẳm sâu và xóa mình triệt để của ngài.
Khác với nhiều người công chính tự nhận hay được người khác tuyên phong, thánh Giuse đã không tự mãn, tự phụ cho mình nắm chắc mọi sự, biết hết mọi điều, làm chủ được mọi tình huống, chỉ vì mình là người công chính được Thiên Chúa thương cách riêng, nhưng ngài biết mình bé nhỏ, thiếu thốn, nhiều giới hạn, nên lo lắng, băn khoăn khi thấy Đức Mẹ có thai. Chính thái độ phân vân, do dự, đi tìm giải pháp tốt nhất cho Đức Mẹ đã nói lên nét đẹp cao qúy của tâm hồn khiêm tốn, và trái tim đơn sơ của người nghèo khó trước mặt Thiên Chúa.
Khác với nhiều người tự cho mình là công chính, hay toại nguyện với đánh giá của người khác về sự công chính của mình, thánh Giuse đã không dựa vào sự công chính của mình, mà nghĩ mình là chân lý, và sự thật thuộc về riêng mình, nhưng biết mình không là gì, và chỉ biết dựa vào quyền năng, cũng như ơn phù trợ, soi sáng của Thiên Chúa. Vì thế, khi được thiên sứ hiện đến báo mộng, thánh Giuse đã tuyệt đối tin tưởng, phó thác và khi tỉnh giấc đã thực hiện ngay điều sứ thần dậy.
Khác với nhiều người tự phong mình là người công chính, và tìm kiếm lời chúc tụng của thiên hạ dành cho người công chính, thánh Giuse đã lặng lẽ chu toàn bổn phận nặng nề của người chủ gia đình, với một tinh thần xóa mình, quên mình, hiến mình, đến nỗi không thánh sử nào đã viết thêm gì về ngài, ngoài được nêu tên trong sự kiện giáng sinh ở Bêlem (x. Lc 2,1-17), tiến dâng Đức Giêsu cho Thiên Chúa (x. Lc 2,22-29), và những biến cố khó khăn của thánh gia như trốn sang Ai Cập (x. Mt 2,13-15), từ Ai Cập trở về đất Ítraen (x. 2,19-22), Đức Giêsu bị lạc mất ở Giêrusalem (x . Lc 2,41-50), và khi Đức Giêsu trở lại quê nhà Nadarét (x. Lc 4,16-24). Vì thế chúng ta biết rất ít về ngài.
Nhưng khác biệt quan trọng nhất mà chúng ta tìm được ở thánh Giuse, người công chính của Thiên Chúa, và những người công chính của thế gian khác, chính là thái độ đối với người khác.
Thực vậy, nếu trường hợp Đức Mẹ “có thai mà chưa ăn ở với chồng” rơi vào tay những “người công chính” kiểu thế gian khác, thì chưa chắc Đức Mẹ đã được yên, bởi những người công chính này sẽ nhân danh sự công chính “rất thánh thiện, không tỳ ố” của họ để lớn tiếng hạch sách, tra khảo, tố cáo, lên án người bị coi là ô uế, tội lỗi, bất chính, bất trung.
Những người công chính kiểu thế gian ấy sẽ không đủ khiêm tốn của người công chính đích thực như thánh Giuse, để biết mình cũng là con người, nên có thể sai, chưa thấy rõ, chưa nắm hết sự thật, chưa hiểu cặn kẽ đầu đuôi, ngọn ngành câu chuyện, để bình tĩnh đợi chờ ánh sáng của Thiên Chúa, và bình tâm đón nhận giải pháp bác ái, vị tha. Họ cũng sẽ không đủ tình yêu để cảm thông, thương xót người đang lâm cảnh dễ bị kết án, trừng phạt, để có thể như thánh Giuse, người công chính của Thiên Chúa thà chịu thiệt thân hơn để người khác khổ thân, kể cả khi người ấy xem ra có lỗi. 
Trước người vợ rành rành có thai mặc dù chưa một lần ân ái, người công chính của đời thường sẽ khó có thể bao dung, độ lượng, và tìm một giải pháp không làm tổn thương “người vợ phản bội, ngoại tình”, như người công chính Giuse đã định tâm bỏ đi cách kín đáo để giữ thanh danh cho Đức Mẹ, nhưng sẽ “làm ra nhẽ, truy tìm cho ra sự thật” và dậy cho người có lỗi, có tội một hoặc nhiều “bài học nhớ đời” cùng lúc.
Sở dĩ người công chính theo kiểu thế gian “mạnh tay, bạo miệng” trước người khác, nhất là trước người bị coi là bất chính, vì họ cho mình có quyền trên người khác, chỉ vì họ là người công chính. Nói cách khác, danh hiệu công chính cho họ quyền bất khả xâm phạm, đồng thời quyền xâm phạm bất cứ người nào.
Quyền của người công chính còn cho họ  nhân danh chân lý, nhân danh cơ chế, nhân danh lề luật, nhân danh bàn thờ, nhân danh thiên đàng, hoả ngục, và nhân danh cả Thiên Chúa để độc quyền luận tội, độc quyền kết án, độc quyền ra hình phạt cho những ai dưới mắt họ là bất chính, mà không cần tìm hiểu, lắng nghe một cách công tâm, khách quan, lương thiện, bởi người công chính với họ là người có quyền nắm giữ  toàn phần chân lý.
Người công chính kiểu thế gian còn là người kiêu căng, vô cảm, khi tự cho mình vị thế cao ngất ngưởng vượt trội mọi người, và vì cao xa, nên không nhịp cầu thông cảm nào nối được họ với những con người thấp kém, mọn hèn, yếu đuối khác. Vì thế, họ mang ảo tưởng là thần thánh, siêu nhân trước đám đông phàm tục, tầm thường. Từ đó trái tim họ khép kín, băng giá, chai lì, cằn cỗi, vô cảm. Và vì vô cảm, họ không biết cảm thương, chạnh lòng, nên ác ôn, tàn bạo, nhẫn tâm là điều khó tránh trong tư tưởng, lời nói, hành động của những người công chính kiểu thế gian này.
Họ cũng là người giả hình, xảo trá, vì một lý do : phải giữ đến cùng danh hiệu công chính đã dầy công tự tạo, lâu ngày “tô son trát phấn”, hoặc tốn kém mua chuộc, bởi mất đi danh hiệu công chính này, tất cả con người họ sẽ sụp đổ, vì họ đã lỡ xây dựng đời họ  trên ảo tưởng thánh thiện, ảo tưởng công chính, điều mà Thiên Chúa không bao giờ cho phép, như Đức Giêsu đã nặng lời trách mắng những kinh sư và Pharisêu giả hình trong Tin Mừng Mátthêu chương 23.
Vâng, là người công chính của Thiên Chúa, thánh Giuse không những phản ánh dung mạo hiền lành chịu đựng, khiêm nhường phục vụ, mà còn chiếu sáng lòng nhân hậu, thương xót, bao dung của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, mà Thánh Cả được chọn làm cha nuôi.
Như Đức Giêsu, người công chính ở thánh Giuse không chụp mũ ai là kẻ tội lỗi, ngay cả người ấy đáng tội ; không lên án ai là kẻ bất chính, vì Thiên Chúa làm mưa nắng trên cả kẻ dữ lẫn người lành (x.Mt 5,45) ; không ra tay điểm mặt ai là kẻ “đáng sa hoả ngục”, “vì ở đâu tội lỗi đầy tràn, ở đó ơn sủng chứa chan” (Rm 5,20) ; không thẳng tay “sát thủ” ném đá ai, vì biết chẳng ai là người không có tội trước mặt Thiên Chúa (x. Ga 8,1-11) ; không dồn ai vào đường cùng, thế bí, vì thánh nhân nào chẳng có một qúa khứ nhạt nhoà lầm lỗi, và một tương lai tràn đầy hy vọng ; không từ chối ai một bàn tay nâng đỡ, một lời nói ủi an, một tâm sự chia sẻ, một bước chân đồng hành, một việc làm cứu chữa, bởi công chính của Thiên Chúa chính là thương xót, cứu độ ; công chính của Thiên Chúa là hiến mình chuộc tội ; công chính của Thiên Chúa là “tha cho cả những kẻ làm khổ mình” với tình yêu chống chế, bênh vực : “Vì họ không biết việc họ làm” của Đức Giêsu, Đấng tuyệt đối công chính đã thương xót tha thứ cho hết mọi người trên Thánh Giá (Lc 23,34). 
Thực vậy, rất nhiều khi chúng ta nghĩ mình là người công chính và đã làm tổn thương anh em ; rất nhiều lần chúng ta ảo tưởng mình thánh thiện và đã khinh khi, dập vùi người khác ; rất nhiều người lầm tưởng chúng ta công chính và đã vô lý kính sợ, thần tượng chúng ta là người thuộc về Thiên Chúa ; rất nhiều trường hợp chúng ta đã lợi dụng, nhiều cơ hội chúng ta đã vay mượn, nhiều người bé mọn chúng ta đã đạp lên để đạt cho kỳ được danh hiệu người công chính, và không biết bao nhiêu lần, chúng ta đã mượn hai chữ “công chính” để làm những điều bất chính, mà cứ thảnh thơi, thư thới với lương tâm giả hiệu công chính của mình.
Lễ thánh Giuse, người công chính của Thiên Chúa, là dịp để chúng ta học với ngài gương sống của người công chính đích danh, đích thực : khiêm tốn thẳm sâu, xóa mình phục vụ, không bao giờ chụp mũ ai là người tội lỗi, miệt thị ai là kẻ bất chính, bất lương, vì người công chính của Thiên Chúa phải giống Thiên Chúa là “Chiên gánh tội trần gian” (Ga 1,29), và là “Đấng từ bi nhân hậu, chậm bất bình và chan chứa tình thương” (Tv 102,8).
 Jorathe Nắng Tím     
        

KHÁT NƯỚC

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 3 Mùa Chay, Năm A
Khát đáng sợ hơn đói, vì đói vài ngày vẫn là chuyện nhỏ, nhưng khát ba ngày giữa mùa hè nóng bức sẽ là chuyện lớn, phát sinh thành lớn chuyện.
Khi khát, người ta tìm nước ở ao hồ, sông rạch. Thôn quê Việt Nam không lạ lẫm gì với giếng nước ở giữa làng, ở đó bà con hằng ngày lũ lượt đến kín nước về uống, tắm giặt.
Ngày ấy, trên đường rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu phải băng qua Samari là vùng đất thù nghịch đối với người Do Thái, đến một thành có tên là Xykha, “ở đấy có giếng của ông Giacóp. Người đi đường mỏi mệt, nên ngồi ngay xuống bờ giếng. Lúc ấy khoảng mười hai giờ trưa” (Ga 4,6).
Thánh sử Gioan đã rất chi tiết khi ghi rõ : Đức Giêsu đến bờ giếng vào “mười hai giờ trưa”, cái giờ nắng gắt chói chan, mà ai đã có lần đi viếng Đất Thánh đều phải sợ.
Lúc bấy giờ, “có một người phụ nữ Samari đến lấy nước. Đức Giêsu nói với người ấy : Chị cho tôi xin chút nước uống !” (Ga 4,7). Và chị ấy đã cho Đức Giêsu nước uống, bằng chứng là chị đã ngạc nhiên hỏi  Đức Giêsu : “Ông là người Do Thái, mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông uống nước sao ?” (Ga 4,9).
Nhưng chỉ sau một cuộc đối thoại ngắn, ở đó, Đức Giêsu nói với chị về nước hằng sống, mà Ngài sẽ ban cho, khi qủa quyết : “Ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Ga 4,13-14), thì người cho trở thành người xin, khi chị nói với Đức Giêsu : “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát, và khỏi phải đến đây lấy nước nữa” (Ga 4,15).
Đến lúc này thì bên bờ giếng Giacóp hôm ấy, dưới cái nắng trưa làm khát cổ, cháy da, có hai người khát nước xin nhau nước uống :
1.   Đức Giêsu khát niềm tin của người phụ nữ Samari :
Gặp gỡ và ngỏ lời xin nước uống, Đức Giêsu đã đi vào đối thoại thân tình với người phụ nữ lận đận, vất vả trong đường tình duyên, gia đình, vì chị “đã năm đời chồng, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị” (Ga 4,18), để rồi khơi dậy trong chị ánh sáng sự thật, sự thật của đời chị, bởi niềm tin Thiên Chúa phải khởi đi từ sự thật của chính mình. Nói cách khác, người ta không thể tin Thiên Chúa, không thể đi vào tình yêu của Thiên Chúa, nếu không thật với chính mình, không dám nhìn nhận sự thật về mình, không can đảm đối diện với những gì “mình là, mình có”, bởi sự thật của “cái tôi” là nền tảng của niềm tin ở Thiên Chúa, nên sẽ không có niềm tin đích thực ở Thiên Chúa, bao lâu còn giấu diếm, che đậy sự thật của “cái tôi” ; sẽ không thể tin Chúa, nếu không dám tin mình, khi chấp nhận toàn bộ sự thật của mình, dù sư thật ấy có đen đúa, xơ xác, tiều tụy đến đâu.
Người phụ nữ đã thật với chính mình, để có thể nhận ra mình cần nước hằng sống, cần thứ nước của Đức Giêsu, mà “ai uống, sẽ không bao giờ khát nữa” (Ga 4,14). Nhờ nhận ra sự thật của mình, mà chị đã nhận ra : Đức Giêsu “thật là một ngôn sứ” (Ga 4,19), là “Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô” (x. Ga 4,25-26), và vấn nạn từ lâu làm trăn trở tâm hồn chị về Thiên Chúa đã được Đức Giêsu tháo gỡ : “Này chị, hãy tin tôi : đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem… Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật” (Ga 4,21.23).
Đức Giêsu khát niềm tin, và Ngài đã nhận được nước uống của niềm tin nơi người phụ nữ Samari bên bờ giếng, khi “có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng : ông ấy nói với tôi mọi việc tôi đã làm” (Ga 4,39).
2.   Người phụ nữ Samari khát tình yêu đích thực :
Câu chuyện giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp thật thân tình, dễ thương, và đầy tin tưởng  giữa hai người. Nhờ bầu khí thân thiện, ân tình và tương kính này, mà người phụ nữ với nhiều mặc cảm vì tình duyên và đời vợ chồng trắc trở mới có thể trút bỏ tâm sự thầm kín, và thao thức, khắc khoải với Đức Giêsu, người đàn ông Do Thái đã dám xin nước chị là người phụ nữ Samari bị coi là thù nghịch.
Khi chia sẻ, tâm sự với Đức Giêsu về nỗi trống vắng của tâm hồn, không chỉ là trống vắng tình yêu, hạnh phúc, mà còn là trống vắng của niềm tin, trống vắng lý tưởng sống, trống vắng lẽ sống, người phụ nữ Samari đã gặp được Đấng làm cho chị khỏi khát nữa, khi ban cho chị nước hằng sống là Ân Huệ của Thiên Chúa, khi nói với chị : “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chi : ‘Cho tôi chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống” (Ga 4,10). Và chị ấy đã xin và đã nhận được Tình Yêu, Hạnh Phúc, và Bình An của Đấng Cứu Thế, khi chị tin vào lời Đức Giêsu nói với chị : “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga 4,26), và khi chị “để vò nước lại, vào thành và nói với người ta : Đến mà xem : có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao ?” (Ga 4,29).
Vâng, người phụ nữ Samari đã khát tình yêu, và chị đã gặp được Tình Yêu đích thực, đời đời là chính Thiên Chúa ở Đức Giêsu Kitô, Đấng đã làm bước chân thứ nhất đến với chị, và mở lời đầu tiên “xin chị nước uống”, vì yêu chị và không muốn chị phải khát nữa, bởi chỉ Tình Yêu Thiên Chúa mới làm “đã khát” cơn khát tình yêu trong chị ; chỉ Tình Yêu Đức Giêsu mới cho chị Nước Hằng Sống để trái tim chị từ nay không bao giờ phải khát nữa.  
Qủa thực, như dân Do Thái xưa trong cơn khát giữa sa mạc nắng cháy đã nghi ngờ tình thương của Đức Chúa Giavê và bị qửơ trách : “Các ngươi chớ cứng lòng như tại Mơriva, như ngày ở Maxa trong sa mạc, nơi tổ phụ các ngươi đã từng thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm” (Tv 94,8-9), chúng ta trong cơn khát ơn sủng, cũng có thể rơi vào những cám đỗ đủ loại dẫn đến nguy cơ đánh mất sự sống đời đời.
Và Mùa Chay chính là cơ hội làm sống lại tinh thần và sức sống của Bí Tích Rửa Tội, ở đó chúng ta nhận được nguồn sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Chỉ một điều kiện Thiên Chúa đòi để được nhận Nước Hằng Sống, để không còn phải khát và “chết vì khát”, đó là sống thật với chính mình và với Thiên Chúa. Đây là chià khóa mở cửa tâm hồn, cởi trói trái tim để “Thiên Chúa đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5).  
Jorathe Nắng Tím