Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2020

COVID 19 - DẤU CHỈ THỜI ĐẠI (4)

                                                       RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ ƠN BÌNH AN
Giữa tâm dịch Covid-19, chúng ta chung nhau một mẫu số, đó là hoảng loạn, và sợ hãi. Hoảng loạn khi “biết” virút Corona lây lan nhanh và có sức làm chết người; sợ hãi vì “không biết” mình và người thân có vô phúc rơi vào đôi tay gieo chết chóc oan nghiệt với lưỡi hái tử thần của virút không…   
Một cái “biết” làm hoảng loạn, bên cạnh một cái “không biết” làm hoang mang, nên khắp nơi con người chỉ muốn “biết và không biết” những gì làm mình an tâm; và thời nào nhân loại cũng chỉ tìm “không biết và biết” những gì đem lại cho tâm hồn và cuộc sống bốn chữ “Bình An vô sự”. Chẳng thế mà có những lúc chúng ta phải tự dối mình và làm như “không biết”, dù đã biết tai ương, thất bại, khốn khó đang tiến gần và chắc chắn sẽ xẩy ra, để níu kéo đôi phút bình an, vớt vát đôi chút bình tĩnh, để mình không gục ngã, hoặc để tạm thời trấn an người thân trong gia đình…
Thực vậy, bình an qúy giá, nên khó tìm; bình an hiếm hoi, nên vất vả mới có được. Đó là lý do Đức Giêsu đã không nói gì về Bình An trước khi chịu khổ hình và tử nạn, cũng không đề cập đến ơn Bình An khi chưa chết và sống lại. Bằng chứng là chỉ sau khi sống lại, và khi hiện ra với các tông đồ, môn đệ, Ngài mới ban cho các vị Ơn Bình An: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa” (Ga 20,19-20). 
Chỉ ban Bình An sau khi đã chịu đau khổ, Đức Giêsu muốn nói cho các môn đệ: Bình An chỉ có thể trao tặng người khác, khi người trao ban Bình An đã nhọc nhằn hy sinh vì yêu thương, vì Bình An là hoa trái của Tình Yêu, nên Bình An không thể trổ hoa, kết trái ở ngoài tình yêu hy sinh, quên mình; chỉ ban Bình An của Ngài cho các tông đồ, Đức Giêsu muốn nhấn mạnh: Bình An không dễ có để trao ban, bởi Bình An là chính cuộc đời được dâng hiến vì yêu thương của mình, Bình An là tình yêu bản thân, tình yêu “cái tôi” được biến thành lễ tế chuộc lỗi, xóa tội người mình yêu, và là quà tặng hạnh phúc đích thực; chỉ chúc phúc Bình An cho các môn đệ sau khi sống lại từ cõi chết với các thương tích còn nguyên trên mình, Đức Giêsu khẳng định: lời chúc Bình An chỉ có giá trị cứu rỗi, chỉ mang lại niềm vui sống lại, chỉ ban nguồn sống phục sinh, khi Bình An được cưu mang trong mồ hôi máu của buổi tối cầu nguyện ở Ghếtsêmani, lớn lên trong nước mắt của tra tấn, đòn vọt tại dinh Caipha, Hêrôđê và Philatô, nẩy mầm trên đường vác thập tự, và trổ hoa, kết trái trong nức nở vì bị bỏ rơi, trong vật vã vì khát nước, trong đau đớn vì đinh nhọn, lưỡi đòng giờ hấp hối cực kỳ tang thương trên Thánh Giá giữa hai can phạm cùng chung án tử hình đóng đinh.
Đức Giêsu còn đi xa hơn khi hiện ra với Tôma tám ngày sau, và bảo ông: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20,27), để qủa quyết một điều mà các môn đệ Ngài phải ghi lòng tạc dạ, đó là Bình An chỉ có thể được trao ban, hiến tặng cho người khác như Bình An thật và đến từ Đức Giêsu phục sinh, khi Bình An ấy được ươm trồng bằng máu yêu thương của chính trái tim, được nuôi lớn nhờ hy sinh của tình yêu chăm sóc, và sinh sôi nẩy nở trong chính cuộc đời dầy dạn kinh nghiệm khổ đau vì yêu thương của người môn đệ.
Do đó, sẽ không có Bình An, nếu không có Tình yêu được trao ban cùng lúc; không có Bình An đích thực nếu Tình Yêu từ trái tim người trao ban Bình An là tình yêu giả dối, lừa gạt; không có Bình An đem lại hạnh phúc, nếu tay người trao ban Bình An mang nanh vuốt của ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ; không có Bình An của Đức Giêsu được trao ban cho nhân loại từ người môn đệ vô cảm, thiếu lòng thương xót, không biết chạnh lòng; không có Bình An của Thiên Chúa, nếu nhà truyền giáo chỉ hau háu trục lợi, nhẫn tâm hy sinh người khác vì mình, và tránh né những cơ hội, hoàn cảnh phải qủang đại dấn thân, chịu thiệt thòi vì người khác.
Thực vậy, trong bất cứ thời  thuận tiện hay không thuận tiện nào, việc rao giảng Tin Mừng là bổn phận chính yếu của người Kitô hữu. Nhưng rao giảng thế nào, để Tin Mừng là Tin Mừng phục sinh, Tin Mừng Chúa đã sống lại, Tin Mừng Đức Giêsu là niềm vui ơn cứu độ của mọi người, mà không phải là Tin Mừng không vui, Tin Mừng bất an, bất ổn, Tin Mừng hoảng lọan, hoang mang, Tin Mừng đe dọa, lo sợ? 
Đã đành phải rao giảng mọi nơi, mọi lúc, bằng nhiều cách thức, phương tiện, miễn sao phù hợp; rao giảng cho người trong gia đình, láng diềng quen biết, đồng nghiệp cùng sở làm; rao giảng qua lời nói, chữ viết, nhờ các phương tiện truyền thông thời đại…, nhưng quan trọng hơn cả là rao giảng Tin Mừng bằng làm chứng đời sống người tín hữu đầy tình bác ái, trái tim người Kitô hữu có Đức Giêsu giầu lòng thương xót, nhân hậu, bao dung, và con đường Thánh Giá yêu thương gập ghềnh gian khổ, trên đó người vác ngã lên ngã xuống vì bị dập vùi; ù tai, mờ mắt vì những lên án, thị phi; te tua, tơi tả vì roi đòn, xỉ nhục với duy nhất một ước mong được yêu thương đến cùng như Đức Giêsu, để đem lại Bình An Phục Sinh của Ngài cho mọi người.
Bởi nếu Tin Mừng được rao giảng, mà thiếu yêu thương, Tin Mừng sẽ không là Tin Mừng Sống Lại với ơn Bình An của Đức Giêsu; bởi nếu Tin Mừng được loan báo mà tim người loan báo cạn khô đức ái, thì Tin Mừng sẽ không mang đến ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh; bởi nếu Tin Mừng được giới thiệu đến mọi người mà thiếu mão gai, đinh sắt, lưỡi đòng của Thập Giá tình yêu, thì Bình An được trao ban sẽ không là Bình An đích thực, Bình An của Đức Giêsu đã chết và sống lại, Đấng Cứu Độ, vì một lý do duy nhất: Bình An là hoa trái của Tình Yêu, và Tin Mừng chỉ đáng mừng, làm cho vui mừng, khi Thiên Chúa ban bình an cho con người đang hoảng loạn, lo sợ; khi con người  nghe được tin Thiên Chúa là Tình Yêu cứu giúp họ, và biết chắc họ được Thiên Chúa yêu thương, ban Bình An.
Vì thế, tận thâm tâm người môn đệ khi loan báo Tin Mừng, cũng như nhà truyền giáo khi rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh phải sáng lên tình yêu hy sinh, quên mình, được  biểu hiện qua ý muốn và nỗ lực mưu tìm Bình An đích thực cho người được rao giảng, vì mục đích của việc loan báo Tin Mừng là trao ban Bình An của Đức Giêsu phục sinh cho người khác, bởi không bình an, Tin Mừng làm sao còn là tin mừng, tin vui, vì trong hoảng loạn, lo sợ, sầu buồn, đau khổ, con người khao khát  Bình An, đi tìm bến đỗ An Bình, chạy đến Đấng là Nguồn Bình An.   
Không quan tâm đến nỗ lực kiến tạo và đem lại Bình An cho người được loan báo, rao giảng, nhà truyền giáo sẽ làm người khác thất vọng nhiều hơn hy vọng, khi Bình An không hiện diện trong Tin Mừng, không có mặt trong “đời sống chứng nhân” của nhà truyền giáo. Nói cách khác, khi nhà truyền giáo không là dấu chỉ Bình An của Đức Giêsu phục sinh, các vị sẽ  không mang  Bình An của Đức Giêsu hiền lành và khiêm nhường vào  tâm hồn, gia đình người khác, bởi chính tâm hồn nhà truyền giáo không khao khát ơn Bình An cho chính mình và cho người mình rao giảng, cũng như không tìm kiếm Bình An như hoa trái trổ sinh từ tình yêu hy sinh.  Và chuyện buồn phải xẩy ra, tin buồn phải tới, khi  bình an vắng mặt  để nhường chỗ cho bất an, khi hoà bình vắng bóng để bàn giao cho chiến tranh, khi trái tim khô cạn tình yêu để  hận thù xâm chiếm, khi đường truyền giáo mất hướng Bình An để thay bằng  mê lộ bất an, tuyệt vọng.
Như các môn đệ đã đóng kín cửa, vì sợ người Do Thái, thế giới cũng đang đóng chặt cửa nhà mình, khóa kỹ cửa lòng mình vì sợ đại dịch Covid-19; như các môn đệ lo sợ bị người Do Thái truy lùng, bắt bớ, hàng tỷ người trên địa cầu cũng đang hoảng sợ vì tính mạng bị virút đe dọa; như các môn đệ đã khao khát bình an, con người hôm nay đang  ước mơ được sống những ngày êm ấm, an ổn, thoát nguy hiểm đại dịch, để rồi chính trong trong hoàn cảnh bất an, ở vào tình trạng bị đe dọa, và tâm trạng hốt hoảng, lo sợ, Đức Giêsu phục sinh đã đến giữa các môn đệ và ban cho các ông ơn Bình An của Ngài.
Với Đức Thánh Cha Phanxicô, tối nay (19/3/2020), lễ thánh Giuse, Đức Thánh Cha cũng nhắc đến sáng kiến 24 giờ dành cho Chúa. Ngài nói: “Thứ Sáu và thứ Bảy 20-21/03 tới đây là ngày cử hành sáng kiến 24 giờ dành cho Chúa. Đây là một sự kiện quan trọng của Mùa Chay để cầu nguyện và đến với bí tích Hòa giải (Vui lòng xem chi tiết: https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-03/dtc-phanxico-cau-nguyen-thanh-giuse-virus-corona.html). Chúng ta cùng lần chuỗi cầu nguyện để nài xin Thiên Chúa cứu thế giới khỏi giông tố nguy hiểm, đưa nhân loại ra khỏi cơn lốc xoáy khủng hoảng và qua những chứng nhân Tin Mừng được Chúa sai đến, xin cho hết mọi người Ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh giữa tâm đại dịch.     
Jorathe Nắng Tím  

MÙA CHAY TRUYỀN GIÁO (11)


                               Suy Niệm 11: TRUYỀN GIÁO PHÒNG THỦ
Lịch sử Giáo Hội cũng như lịch sử Israel đều chung một đặc điểm là có nhiều vết xám loang lổ, những vết xám của yếu đuối, bất trung, sai lạc và lầm lỗi.
Tuy cùng là dân đựợc Thiên Chúa chọn để sống theo giáo huấn của Ngài, nhưng vì là lịch sử của con người, lịch sử được làm nên bởi con người, nên Israel cũng như Giáo Hội đã không thiếu những thăng trầm của đoàn lữ hành trên đường dài vạn dặm, những giai đọan tha thiết trung thành bên những năm tháng thờ ơ phản bội, những bình minh hạnh phúc khi Giao Ước với Thiên Chúa được tôn trọng, và những đêm đen bất hạnh khi thay thế Thiên Chúa bằng ngẫu thần.
Riêng Giáo Hội, một Giáo Hội mà sự bền vững được công khai bảo đảm bởi chính Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghiã là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18) cũng nhiều lần, nhiều cách, ở nhiều thời điểm của lịch sử đã không tránh khỏi những vấp ngã nặng nề, gương xấu tai hại, sai lầm chống lại Tin Mừng, và ngược với ý muốn của Đấng Sáng Lập.
Sống lại những chặng đường đen tối của Giáo Hội, chúng ta nhận ra một điểm khá quan trọng : một trong những nguyên nhân đã đem lại tình trạng không tốt đẹp cho Giáo Hội, đó là chủ trương một Giáo Hội phòng thủ, khi Giáo Hội dồn mọi nỗ lực củng cố hệ thống cơ cấu tự vệ, mà quên “đi ra, đi xa, đi  khắp nơi” như lệnh lên đường truyền giáo của Đức Giêsu: “Chúng ta hãy sang bờ bên kia” (Mc 4,35), “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15).
Khi chỉ say mê củng cố Giáo Hội như pháo đài, với những cơ cấu tuyệt vời, hệ thống tổ chức hoàn hảo, quy chế hành chánh chặt chẽ, luật lệ nội bộ kín kẽ, thì Giáo Hội sẽ dễ bỏ quên sứ mệnh truyền giáo, và biến dần thành một Giáo Hội với khuynh hướng phòng thủ, tự vệ.  
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội “đóng kín cửa, vì sợ”: sợ người Do Thái như các môn đệ ngày xưa, sau khi Thầy bị tử hình đóng đinh, nay Giáo Hội sợ người lạ, sợ tư tưởng lạ, sợ những đổi mới của thời đại, sợ những phản biện của đám đông, sợ cả ý kiến của chính những người trong hàng ngũ của mình.  
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội khép kín trái tim vì sợ phải thương xót, vì thương xót là một việc không luôn đem lại thoải mái, lợi nhuận, nhưng luôn làm nặng lòng, đau lòng.
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội nhắm mắt vì sợ đối diện nhiều người không thích mình, bất đồng ý kiến, chống phá mình, làm mình phải nhức đầu, bực bội.
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội khoanh tay, vì sợ phải mở cửa nhà mình cho những con người bất toàn, bất hảo, bất chính thường đem đến cho mình nhiều phiền phức, rắc rối, bất lợi.
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội tự buộc chân mình, để không phải đi đâu, đến với người nào, vì ở ngoài Giáo Hội phần đông là những con người “không biết điều, không ra làm sao”, khó thương, khó bảo, khó trị.
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội bịt tai không muốn lắng nghe, vì “bảo thủ” với những gì mình có, và “cố chấp” không muốn lắng nghe “người ngoài” để khỏi bị phân tâm, rối trí, mất phương hướng, mất lập trường.   
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội “ao tù” vì không giao lưu với các con suối, giòng sông, đại dương, và ngột ngạt vì thiếu dưỡng khí trong lành, do bịt kín, đóng chặt, vì sợ lây nhiễm vi-rút do gặp gỡ, trao đổi, chung đụng.
Giáo Hội phòng thủ còn là Giáo Hội “ốc đảo”, muốn một mình sung túc, thịnh vượng, giữa đại dương bao la của thiếu thốn, nghèo nàn hay gây nhiều phiền toái.         
Vì não trạng phòng thủ, vì lối sống tự vệ, Giáo Hội sẽ biến thành một pháo đài chiến đấu, bởi người ta phải chiến đấu nên mới phòng thủ, nhắm tới cuộc chiến mới phải cẩn mật đề phòng, nên có phòng thủ tất phải có chiến đấu, có tự vệ tất phải có tấn công. 
Cũng thế, vì phải chiến đấu, người ta bắt buộc phải ở trong tình trạng phòng thủ, tự vệ liên tục ngày đêm. Và khi phải liên tục phòng thủ như thế, chuyện rời bỏ pháo đài, ra khỏi lô cốt để “qua bờ bên kia”, tức liều lĩnh, mạo hiểm ra xa, ra sâu, rời căn cứ an toàn được kiên cố xây dựng và cẩn mật bảo vệ sẽ là một chuyện rất khó thực hiện, vì ai nấy đều sợ rủi ro, nguy hiểm.
Tin Mừng Máccô làm chứng: sứ mệnh “qua bờ bên kia”, bài sai “ra xa, ra sâu” là một thách đố rất lớn: Khi thuyền các môn đệ vừa rời bến để đi qua bờ bên kia, thì “một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi đầy nước” (Mc 4,37). Và các môn đệ phải một phen thất kinh, hoảng sợ phải đánh thức Đức Giêsu dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi...” (Mc 4,38).            
Chính vì nguy hiểm, nhiều đe dọa và thường xuyên ở vào “thời không thuận lợi”, mà truyền giáo trở thành một công tác khó khăn, dễ làm “nản lòng chiến sĩ”, dù đó là bổn phận chính yếu của người chiến sĩ đức tin. Và khi truyền giáo mang về tâm trạng lo lắng vì khó khăn, sợ sệt vì nguy hiểm, hoang mang vì phải xa pháo đài an toàn, người Kitô hữu sẽ đi vào khuynh hướng thích xây dựng cơ cấu bảo vệ đức tin hơn làm chứng đức tin, mong muốn ở gần “nhà thờ” với đồng đạo hơn đến với với người chưa quen, giữa chốn xa lạ .
Vì thế, “ra đi” càng xa xôi, “ra xa” càng phức tạp, “ra sâu” càng nhiều sóng gió, người tín hữu càng muốn ở lại bờ, bám trụ cơ sở, canh gác đồn bót, bảo vệ tổng hành dinh, phòng vệ phủ toàn quyền; cũng như “lên đường” càng nhiều đe dọa, người có đạo càng ngại ngùng, do dự, vì ở nhà bảo vệ “ấp chiến lược” giáo xứ, giáo họ, giáo phận vẫn an toàn hơn, bám chặt cơ chế, tổ chức vẫn vững tâm hơn phải lên thuyền ra khơi, phải mạo hiểm lên đường.  
Cũng vì “ở bên ngoài” nhiều nguy hiểm, nhiều chống đối, nhiều lạnh lùng và “bờ bên kia” nhiều sóng gió, nhiều đe dọa, nhiều bất ngờ bất lợi, mà người tín hữu dễ bị đẩy vào tâm trạng lo ngại cho chính sự bền vững của pháo đài cơ cấu, và từ đó, tinh thần giữ đạo kiểu phòng thủ, truyền giáo kiểu tự vệ theo thời gian sẽ ăn sâu, đậm nét, sói mòn tinh thần truyền giáo đích thực, vì một ý nghĩ tiêu cực, rất sai lầm và nguy hiểm: nếu mình không cẩn thận phòng thủ, thì có ngày pháo đài đức tin kiên cố sẽ bị lung lay, sụp đổ.
Rơi vào tình trạng đức tin phòng thủ, cũng là giữ đạo kiểu tự vệ, người tín hữu sẽ không chỉ rơi vào tình trạng co cụm giữa “mình với mình, người mình với người mình, đạo mình với đạo mình”, mà còn rơi vào lối sống đức tin kiêu căng: cho mình là chính quy, chính thống, chính danh, chính thực, để độc quyền chân lý, độc đoán phán xét, độc tài cai trị. Vì thế mới có những bước chân sai lầm của “thánh chiến”, “toà án dị giáo”, “dàn hoả thiêu” làm méo mó dung mạo Đức Giêsu nhân hậu, làm sai lệch Tin Mừng cứu độ, làm thất vọng nhiều tâm hồn khắc khoải đi tìm Thiên Chúa của lòng thương xót.
Đức tin phòng thủ, tự vệ còn làm nghèo nàn, cằn cỗi, suy yếu Giáo Hội, vì thiếu sức sống của Chúa Thánh Thần, bởi Thánh Thần chỉ ban sức sống của Ngài khi cửa nhà Giáo Hội được mở ra để người tín hữu ra đi, nhà truyền giáo lên đường “làm cho muôn dân trở thành môn đệ”, vì chỉ khi đó việc “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” mới có hiệu qủa (Mt 28,19).
Thực vậy, người tín hữu chủ trương lối sống đức tin phòng thủ, tự vệ không thể là người Kitô hữu như ý Chúa muốn, vì họ không sống tinh thần truyền giáo đích thực, bởi đã truyền giáo thì phải bỏ nhà ra đi, như các môn đệ bỏ mọi sự của mình, thuộc về mình mà đi theo Đức Giêsu lên đường  truyền giáo ; bởi đã truyền giáo thì không thể ở lì trong nhà, cố thủ pháo đài đức tin, nhưng phải đi ra ngoài, lao mình vào thế giới  đông người, xô bồ, hỗn tạp để gặp gỡ, làm quen và làm chứng; bởi truyền giáo là đến với người khác, không để áp đặt một đức tin kiểu càn quét, xâm lăng, chiếm hữu, độc quyền, nhưng để giới thiệu bằng làm chứng với một tinh thần yêu mến, tôn trọng tự do và thái độ thân thiện, huynh đệ, bình đẳng.
Như thế, nhà truyền giáo phải tránh não trạng phòng thủ khi loan báo Tin Mừng, tránh thái độ loại trừ, tự vệ khi rao giảng Đức Giêsu, vì phòng thủ sẽ không thể hồn nhiên, thân thiện và cởi mở khi gặp gỡ; loại trừ, tự vệ sẽ dè dặt, đề phòng, ngờ vực hết mọi người, mà Tin Mừng thì phổ quát, và Đức Giêsu chịu đóng đinh là Đấng Cứu Độ duy nhất của toàn thể nhân loại.
Với não trạng phòng thủ, nhà truyền giáo sẽ mang cùng một lúc hai thái độ: một là kiêu căng, ích kỷ, vì không muốn mở ra cho ai, chia sẻ, thông ban cho người nào; hai là loại trừ, hiếu chiến, khi nhìn người khác với đôi mắt nghi ngại, thiếu tin tưởng, thân thiện, do ý nghĩ phải cẩn trọng phòng thủ để bảo vệ bằng mọi giá pháo đài đức tin, mà không tin vào đường bay không biên giới của Chúa Thánh Thần.
Thánh sử Máccô rất tinh tế khi liên tiếp thuật lại việc Đức Giêsu bảo các môn đệ “ra khơi”. Lần thứ nhất, ở chương 4, thánh sử kể: “Hôm ấy khi chiều đến, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Chúng ta sang bờ bên kia đi!” (Mc 4,35). Thế rồi sóng gió nổi lên, mà Ngài vẫn ngủ, cho đến khi các môn đệ hoảng hốt đánh thức dậy, Ngài đã truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!” (Mc 4,39). 
Lần thứ hai lý thú hơn dưới ngòi bút của thánh sử:“Lập tức, Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia về phía thành Bếtxaiđa trước, trong lúc Người giải tán đám đông. Sau khi từ biệt các ông, Người lên núi cầu nguyện. Chiều đến, chiếc thuyền đang ở giữa biển hồ, chỉ còn một mình Người trên đất. Người thấy các ông phải vất vả chèo chống, vì gió ngược, nên vào khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông…” (Mc 6,45-48).
Lần trước thì Ngài cùng ở trên thuyền với các ông, nhưng lần này thì Ngài để các ông “qua bờ bên kia” mà không có Ngài. Cả hai lần biển đều không êm ả: lần trước thì sóng gió nổi lên dữ dội, lần sau thì “vất vả chèo chống vì gió ngược”. Như thế, mỗi lần “qua bờ bên kia” là phải gặp khó khăn; mỗi lần ra xa, ra sâu là phải  vất vả đối phó với nhiều rủi ro, nguy hiểm; mỗi lần ra khỏi bờ là nơi quen thuộc, an toàn, người môn đệ phải đi vào gian truân, thử thách.
Biết thế, nhưng Đức Giêsu vẫn muốn và “bắt” các môn đệ Ngài phải ra đi, phải ra xa, ra sâu, “qua bờ bên kia”, sang chỗ mới, đến nơi xa lạ, mà không cho các ông ở lì một chỗ, cắm dùi lâu, mọc rễ sâu ở một nơi quen biết, một chỗ an toàn, thuận lợi. Bằng chứng là Tin Mừng đã ghi rõ: “Lập tức, Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia” (Mc 6,45).
Điều này nói lên đòi hỏi của truyền giáo là phải đi ra khỏi nơi an toàn như pháo đài mình đã xây dựng, củng cố để được an thân, an toàn tính mạng, an hưởng cuộc sống. Trái lại, không “qua bờ bên kia”, không lập tức xuống thuyền ra khơi, cả khi trời đã về chiều, và gió ngược phải vất vả chèo chống, người theo Đức Giêsu không thể trở thành môn đệ đích thực của Ngài, vì đã là môn đệ  thì phải can đảm “qua bờ bên kia”, dù sóng gió đang đợi chờ, bão táp đang rình rập đe dọa.
Mức độ quyết liệt của Đức Giêsu khi “bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia” cũng nói lên đòi hỏi phải “mở ra, đến với, lao mình vào”, nhất là tinh thần từ bỏ tất cả, kể cả những bó buộc đôi khi được coi là cần thiết như cơ chế, bởi khi bị trói buộc qúa chặt vào cơ chế, cơ cấu, người môn đệ sẽ không đủ liều lĩnh của “hồn tông đồ” để có thể xả thân ra khơi tung lưới, mà không ngậm ngùi tiếc nuối, so đo, phân bì, ngần ngại, bởi trong mọi tình huống, phục vụ cơ cấu, xây dựng pháo đài vẫn là chỗ đứng an toàn, chỗ ở an thân, chỗ dựa an ổn mà phần đông vẫn mong đợi, tìm kiếm.  
Tuy thế, Đức Giêsu đã không “vắng mặt” trên hành trình “qua bờ bên kia” của các môn đệ được Ngài sai đi. Lần đầu Ngài có mặt và ngủ. Lần sau đích thân Ngài “đi trên mặt biển đến với các ông”. Các ông vì tưởng Ngài là ma nên hoảng hốt. Sau khi trấn an các ông : “Chính Thầy đây, đừng sợ! Người lên thuyền với các ông và gió liền lặng” (Mc 6,50-51).
Vâng, hành trình “qua bờ bên kia” dù là đường sông, đường biển, đường bộ hay đường hàng không cũng đều là đường vất vả, chông gai, nhiều cam go, thử thách mà nhà truyền giáo luôn biết trước, vì được Đức Giêsu cảnh báo. Nhiều thử thách vì đến một nơi xa lạ; nhiều cam go, vì gặp những con người mới mà không hề biết phản ứng của họ ra sao; nhiều chông gai vì sứ mệnh không dễ dàng; nhiều vất vả vì những giới hạn của chính bản thân.
Nhưng với Đức Giêsu, Đấng sai đi, nhà truyền giáo sẽ không run sợ, dù có lúc hốt hoảng, hoang mang; sẽ không thoái lui, bỏ cuộc, dù đôi khi chán nản, thất vọng; sẽ không nao núng, gục ngã, vì biết “Thầy sẽ thức dậy và ngăm đe gió và truyền cho biển: Im đi! Câm đi!” (Mc 4,39), cũng như Thầy sẽ đi trên biển đến gặp, lên thuyền và gió im hơi lặng tiếng (x. Mc 6,48.51).  
Tóm lại, nhà truyền giáo không thể nuôi chủ trương xây dựng một Giáo Hội phòng thủ, vì Tin Mừng không là sở hữu để “thủ riêng”, kho tàng cất giấu, nhưng là hạt giống phải được hào sảng gieo vãi khắp nơi, Nước Trời không là sản nghiệp của một nhóm, một đoàn thể, nhưng là Hạnh Phúc Thiên Chúa ban cho hết mọi người, và Đức Giêsu không là “của riêng” ai, nhưng là Đấng Cứu Độ của toàn thể nhân loại.
Và chỉ một tinh thần “mở tung mọi cánh cửa ra bên ngoài cho thế giới”, thái độ “không sợ hãi đến với mọi người”, nếp sống đạo “không phòng thủ đức tin như củng cố một pháo đài chiến đấu”, nhà truyền giáo mới thực sự truyền giáo, vì chỉ như thế, nhà truyền giáo mới dám “xuống thuyền qua bờ bên kia”, để Tin Mừng đến được với muôn dân, và Đức Giêsu trở nên “Tấm Bánh được bẻ ra” cho mọi người “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 19 tháng 3, 2020

COVID-19 và KỲ THỊ CHỦNG TỘC

Những ngày cuối tháng 12 năm 2019, người ta tưởng Corona chỉ đăng ký hộ khẩu ở Vũ Hán, vì virút được coi như có nguồn gốc từ Trung Quốc, và người ở ngoài lãnh thổ của đất nước gần một tỷ rưỡi người này rất “an tâm”, vì nghĩ virút không bao giờ có thể “bén mảng” đến gần nhà mình, nên có rất nhiều thời giờ “thương tâm” cho những nạn nhân ở Vũ Hán. 
Nhưng bất chợt Hàn Quốc, rồi Iran, Ý, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Đức, Mỹ… chịu chung số phận nghiệt ngã, sau khi virút Corona đổi tên, đổi họ thành Covid-19 đã đến tận nhà xin tạm trú và đẩy thế giới vào một thảm cảnh mới, ở đó, nhiều người rơi vào tâm trạng rất xa lạ, kỳ quặc.
Thảm cảnh đó là cuộc chiến chống đại dịch đang bành trướng nhanh chóng và tàn sát dã man: con số lây nhiễm, tử vong tăng vùn vụt, bệnh viện hết chỗ, dụng cụ y tế thiếu trầm trọng, đội ngũ bác sĩ, y tá không đủ để đáp ứng nhu cầu phục vụ bệnh nhân, chưa kể tình trạng đổ dốc kinh tế chóng mặt đặt người dân trước nhiều đe dọa, và viễn cảnh tương lai rất đen tối.
Chính trong thảm cảnh này, tâm trạng của nhiều người bắt đầu thay đổi: từ mầu xanh hy vọng đổi thành mầu xám thất vọng, từ “thương tâm” thay bằng “nhẫn tâm”, khi ý nghĩ truy tìm thủ phạm, hành động truy sát “vật tế thần” ngày càng dồn dập, sắt máu, bùng nổ thành cao trào “dân tộc cực đoan, qúa khích”, và kỳ thị chủng tộc qua thái độ loại bỏ, hành vi khai trừ và gọi tên, điểm mặt thủ phạm, nghi phạm, kẻ thù.
Thưc vậy, trong bất cứ thất bại, biến cố, sự kiện nào không đem lại thành qủa, người ta luôn cần, và tìm cho bằng được ít nhất một “con vật tế thần”, thủ phạm, tội đồ để được tẩy rửa trong sạch, được hoàn hảo tinh khiết, được trút bỏ mọi mặc cảm có tội, đồng loã, can dự, chung phần. Một thí dụ điển hình:
Trước thế chiến thứ hai kéo dài từ 01.09.1939 đến 02.09.1945, nước Đức đã rơi vào tình trạng kinh tế kiệt quệ, vì phải bồi thường hậu qủa của thế chiến thứ nhất kéo dài từ 28.07.1914 đến 11.11.1918, mà Đức là một trong những tác nhân chính. Hiệp ước Versailles đè nặng trên nước Đức với món nợ không biết đến bao giờ mới có thể thanh toán xong, và dân Đức ngao ngán, chán chường chịu lép vế với nỗi nhục khó gột rửa của kẻ gây chiến nhưng bại trận đang bị thế giới trừng phạt.
Vào những năm trước 1933, khi Adolf Hitler (sinh 20.4.1889, tự vẫn 30.4.1945) nắm chính quyền, thiết lập đảng và chế độ Quốc Gia Xã Hội Đức, gọi tắt là Đức Quốc Xã, người dân Đức đã bị những nhóm Dân Tộc cực đoan nhồi sọ tư tưởng “nước Đức của người Đức thuần chủng” và đẩy nhiều người vào đường lối bài ngoại, cũng như chính sách loại trừ, kỳ thị chủng tộc.
Những người này quy tội người Do Thái đã gây cho nước Đức nhiều tai họa. Họ lên án người Do Thái đã lộng hành, đầu cơ phá hoại, làm tan hoang nền kinh tế, khiến dân Đức phải chịu nhiều thiệt thòi, gánh nhiều thiệt hại. Thế là tội đồ được gọi tên, thủ phạm bị điểm mặt: người Đức nghèo khổ, bất hạnh chính là vì sự có mặt của người Do Thái trên đất nước họ.
Các sử gia cũng như các nhà xã hội, tâm lý đều chung một quan điểm: nếu dân chúng Đức đã không bị đầu độc, dụ dỗ từ nhiều năm trước bởi phong trào bài ngoại, kỳ thị chủng tộc, thì nhà độc tài Adolf  Hitler, và đảng Đức Quốc Xã của ông không thể cướp chính quyền, cũng như không thể thi hành chính sách tiêu diệt người Do Thái, và liều lĩnh thực hiện tham vọng bá chủ thế giới cùng với Ý và Nhật.
Sở dĩ Adolf Hitler đã thành công khi đưa sáu triệu người Do Thái, bất kể đàn bà, trẻ em vào những trại tập trung và lò sát sinh bằng hơi ngạt như Auschwitz, Dachau, Buchenwald, Ravensbrück, Mauthausen, Sachsenhausen, Lichtenburg, Neuengamme… là do sự ghen tức, thù hằn, phẫn nộ đối với người Do Thái trong lòng người dân Đức từ lâu đã bị khơi ngòi và bùng cháy dữ dội biến thành phong trào bài ngoại “long trời lở đất” dẫn đến những hành động kỳ thị, diệt chủng không còn có thể be bờ, ngăn chặn.
Đó là lý do phần đông dân Đức đã yên lặng đồng loã, không muốn ngăn cản đường lối kỳ thị và diệt chủng của Hitler, mà để ông và đảng Đức Quốc Xã của ông thảnh thơi thao túng quyền hành trong cơn say tiêu diệt nhanh, gọn bao nhiêu có thể người Do Thái cho đến khi không còn người Do Thái nào hiện diện trên địa cầu, như lời thề ngạo mạn và phi nhân của Adolf  Hitler.  
Đọc lại lịch sử dân Do Thái, chúng ta thấy đây là một dân tộc đặc biệt thông minh, đoàn kết và cầu tiến. Ngoài ra Do Thái còn là dân riêng được Thiên Chúa Giavê chọn để tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất  giữa các dân tộc thờ ngẫu thần.
Vì tính “riêng biệt, khác biệt, đặc biệt”, mà họ luôn bị các nước lân bang dòm ngó, tìm cách đàn áp, thống trị, xóa tên. Sách Macabê đã ghi lại cuộc bách hại mà anh em nhà Macabê và dân Do Thái phải chịu đựng trước những tấn công tàn bạo của thế lực ngoại bang, ngoại giáo như câu chuyện hai tướng Nicanô và Goócghiát: Cả hai ông được vua sai “đem không dưới hai mươi ngàn quân thuộc mọi sắc dân đi tiêu diệt toàn thể giống nòi Do Thái… Ông Nicanô trù tính bán tù binh Do Thái lấy sáu mươi ngàn ký bạc để nhà vua trả nợ triều cống cho người Rôma. Lập tức ông cho người tới các thành phố miền duyên hải, mời người ta đến mua các nô lệ Do Thái và dạm bán với giá chín mươi tên là ba mươi ký bạc” (2 Mcb 8,9-11).
Thực vậy, chủ trương tiêu diệt người Do Thái đã có từ lâu đời, và thời nào người ta cũng hành xử giống nhau dưới chung một chiêu bài, cùng một khẩu hiệu sặc mùi xương  máu: “Bao lâu người Do Thái còn sống, bấy lâu đất nước chúng ta vẫn chưa được thái bình” (x. 2 Mcb 14,10).
Sở dĩ người viết chia sẻ với Bạn một thoáng suy tư về nạn kỳ thị chủng tộc có thể nẩy mầm, lớn lên, và lan tràn, bành trướng cũng như đại dịch Covid-19, vì trong những ngày này, báo chí cũng như nhiều trang mạng không ngại đề cập đến những dấu hiệu của kỳ thị chủng tộc, của thù hận nòi giống, của quy trách, kết tội rất nông nổi, hồ đồ và nguy hiểm.
Ở Đức, nhiều người Trung Quốc bị dân bản xứ qúa khích công khai bầy tỏ thái độ khinh khi, nguyền rủa, và không ngượng ngùng xỉ vả: “Du bist Virus Corona. Du sollst von hier verschwinden! Mày là virút Corona, cút khỏi đây!”; ở Mỹ và nhiều quốc gia khác cũng không tránh khỏi cảnh kỳ thị đáng buồn, khi nhiều người Việt bị oan uổng, vì “thiên hạ” tưởng lầm, nhìn lầm là người Trung Quốc đã sỗ sàng hoặc lạnh nhạt “tát nước vào mặt”: “Virus Chinese, get out of here! – Virus Tầu, cút khỏi đây”, hoặc “Virus Chinese, stay away from me - Virus Tầu, đừng lại gần tao !”. Tất cả những xúc phạm trên đều là sự thật đáng buồn và đáng lo ngại đang xẩy ra nhan nhản quanh chúng ta…
Đúng vậy, vì cần một tội đồ, một vật tế thần, một thủ phạm, người ta đã lên án Trung Quốc, miệt thị người Trung Quốc, khinh bỉ dân Trung Quốc, xa lánh cộng đồng Trung Quốc.
Người ta cho Trung Quốc đã chế tạo virus Corona với ý đồ làm suy yếu các quốc gia, hầu thực hiện nhanh chóng mộng bá chủ toàn cầu; người ta chỉ thẳng mặt người Trung Quốc là thứ dân tồi tệ, dơ dáy, gian tham, thâm độc, luôn tìm cách lấn chiếm, xâm lăng láng giềng; người ta mạt sát dân Trung Quốc là dân tộc “không chơi được với ai”, tiểu nhân, hèn hạ, bỉ ổi, phản bội.
Ôi thôi, khi “cơm đã không ngon, canh không còn ngọt” thì chẳng còn lời lẽ thô tục nào mà không được dùng để phỉ báng, nguyền rủa, và cứ thế, nồng độ khinh bỉ, lên án càng dữ dội, thì mức độ kỳ thị chủng tộc càng sôi sục dâng cao.
Đứng trước cơn sốt truy tìm thủ phạm đại dịch Covid-19, mà nghi phạm lý tưởng số một được số đông bình bầu, tuyển chọn là Trung Quốc, vì nhiều lý do mang  nhiều mầu sắc từ chính trị đến kinh tế, xã hội, văn hoá, ý thức hệ…, người viết mạo muội chia sẻ với Bạn chọn lựa của riêng mình, trong cương vị con người và con Chúa:
1.   Trên cương vị con người, và với lương tâm ngay thẳng, tôi phải tách  người dân Trung Quốc ra khỏi cơ chế chính trị, hay chính sách của Trung Quốc:
Là con người, như bao con người khác, tôi có bổn phận nhân ái đối với đồng loại. Và bổn phận nhân ái bắt tôi phải tôn trọng nhân phẩm, nhân vị, và quyền sống của người Trung Quốc. Không một “lý do, lý lẽ, lý luận, lý chứng, lý sự” nào cho phép tôi khinh khi, miệt thị, nhất là kỳ thị người Trung Quốc, truy diệt, xóa tên dân Trung Quốc khỏi danh sách “nhân loại” bao lâu tôi còn muốn là người tử tế, người có “lòng nhân”, chứ không là người với “lòng lang dạ thú”.
Tách người Trung Quốc khỏi chính trị Trung Quốc được chủ trương và điều hành bởi những người cầm quyền, tôi giữ được tinh thần của người có lương tâm quân bình và trong sáng, khi không để chính sách của người lãnh đạo chính trị, đường lối của một đảng hay một thiểu số ảnh hưởng trên chọn lựa nhân bản và đạo đức làm người của tôi, khi đồng hoá toàn thể người Trung Quốc với chính sách có thể không phù hợp, hay trái ngược với đòi hỏi chính đáng của con người, để rơi vào thái độ thù nghịch, không thân thiện với tất cả người Trung Quốc.
Đối với chính sách, chế độ chính trị Trung Quốc, tôi có thể không đồng ý, ngay cả chống lại, nếu chính sách ấy xâm phạm quyền tự quyết, và nền độc lập của nước tôi; nếu đường lối ấy không tôn trọng con người, bởi là con dân một nước, tôi phải yêu quê hương, thương nòi giống, và gìn giữ giang sơn; là con người, tôi có quyền bầy tỏ quan điểm, chính kiến bất đồng, kể cả có hành động chống lại những thể chế phủ nhận con người, và quyền làm người của đồng loại tôi.
Vì thế, tôi sẽ bất công với người Trung Quốc, nếu tôi đồng hoá họ với chính sách Trung Quốc mà tôi không ủng hộ, bởi rất có thể, chính họ cũng đang bất mãn với chính sách đang làm khổ họ ngay trong nhà họ. Tôi cũng không được phép đồng hoá họ với những người nắm giữ quyền hành ở Trung Quốc mà tôi không ưa, không thích, bởi rất có thể chính họ là nạn nhân đang bị những người này đàn áp, bóc lột, ức hiếp ngay trên đất nước họ. Trong mọi trường hợp, tôi phải thận trọng để không hàm oan và đối xử bất công với những người dân Trung Quốc vô tội, là nạn nhân đáng thương và đau khổ, cơ cực hơn tất cả.
2.   Là người Kitô hữu, cùng với Giáo Hội và trong Giáo Hội, chúng tôi không được phép ủng hộ và thực thi chủ trương bài ngoại, kỳ thị chủng tộc, diệt chủng phi nhân:
Trước hết, vì Thiên Chúa chúng tôi tôn thờ là Thiên Chúa Tình Yêu, đạo chúng tôi theo là đạo Bác Ái, giới luật chúng tôi phải tuân giữ là giới luật Yêu Thương, hành trang chúng tôi phải có trên đường là hành trang Nhân Ái, công nghiệp chúng tôi phải đệ trình trước Nhan Thánh Thiên Chúa ngày phán xét là lòng tốt chúng tôi đã sống, việc tốt chúng tôi đã làm cho người khác, nhất là những người anh em, chị em bé nhỏ nhất đang lâm cảnh đói khát, rách rưới, đau yếu, tù đầy, thất học, bị bạc đãi, bỏ rơi, bị vu khống, đàn áp, bóc lột, cả những người bị coi là khách lạ, không nhà, vất vưởng lang thang (x. Mt 25,31-45).
Là người môn đệ Đức Giêsu, chúng tôi được kêu gọi để “trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện”, bằng sống lòng thương xót, bao dung, tha thứ, và cầu nguyện cho cả kẻ thù, làm ơn cho cả kẻ ngược đãi, bách hại mình (x. Mt 5,43-48), bởi có sống như thế, có cư xử như thế, chúng tôi mới được gọi là con Thiên Chúa, vì Cha chúng tôi, “Đấng ngự trên trời hằng cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45).
Vì thế, chủ trương kỳ thị không bao giờ đồng thuận với con đường Bác Ái, và hành trình Yêu Thương của người Kitô hữu; chính sách diệt chủng mãi mãi đối nghịch với giới luật của Đức Giêsu, và tinh thần bài ngoại, gây chia rẽ các dân tộc, tạo hố sâu hận thù giữa các quốc gia là điều Giáo Hội nghiêm cấm và lên án nặng nề, vì trái với giáo lý đức tin.
Đàng khác, ơn gọi và sứ mệnh của người Kitô hữu là đến với các dân tộc để loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ nhân hậu, và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Ngài (x. Mt 28,19), nên kỳ thị chủng tộc, hay bài ngoại, diệt chủng là điều không thể quan niệm trong Kitô giáo.
Chưa kể chúng tôi luôn mong đợi một ngày trên quê hương đời đời, ở đó, Đức Giêsu được muôn dân, muôn nước ngợi khen, vì “Ngài đã bị giết và đã lấy máu đào chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước, mọi dân” (Kh 5,9).  
Vâng, là người Kitô hữu, chúng tôi phải yêu mến mọi người, và nhất định không để rơi vào cạm bẫy của chủ nghiã kỳ thị chủng tộc sẽ đưa đến bạo lực phủ nhận con người, làm tổn thương nhân vị, nhân phẩm, tước đoạt nhân quyền và hủy diệt sự sống của người khác, dưới những chiêu bài, khẩu hiệu “có cánh”, nghe rất kêu, nhưng nguy hiểm vì chứa đầy nọc độc.
Thực vậy, lịch sử nhân loại đã dậy chúng ta nhiều bài học đắt giá, và một trong những bài học phải mua bằng máu và cái chết tức tưởi của nhiều triệu trẻ em vô tội, phụ nữ yếu đuối, tuổi trẻ đầy nhựa sống, cả tuổi già khôn ngoan, kinh nghiệm, đạo đức trong các lò sát sinh của chủ nghiã kỳ thị chủng tộc, diệt chủng tàn ác, phi nhân dưới thời Đức Quốc Xã của nhà độc tài Adolf  Hitler.
Bài học ấy phải được ôn lại trong những ngày đại dịch, khi mầm kỳ thị chợt lớn nhanh, bùng phát, lây lan như nhất quyết so tài, đọ sức tàn phá với virút Corona; bài học ấy phải được dậy cho thế hệ đàn em, ngay trong tâm dịch, khi tinh thần dân tộc cực đoan, qúa khích đùng đùng nổi lên như bão lửa, đang cố vượt xa tốc độ hủy diệt của Covid-19; bài học ấy còn phải được nhắc đi nhắc lại cho mọi người, khi cám dỗ loại trừ một sắc dân, tiêu diệt một chủng tộc bất thình lình nhen nhúm từ ích kỷ, ganh ghét, thù hận, do lo sợ trước virút đại dịch.  
Và bài học đạo đức nhân bản ấy, cũng là bài học luân lý căn bản sẽ nâng đỡ niềm hy vọng của chúng ta vào một tương lai xa, sau cuộc sống này, trong hạnh phúc vĩnh cửu, ở đó, chúng ta được đứng trong hàng ngũ của “một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ…” (Kh 7,9). Đám đông ấy “sẽ không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khi nóng hành hạ nữa” (Kh 7,16), cũng không còn đại dịch Covid-19 đe dọa, làm sợ hãi, vì “Con Chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh. Và Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ” (Kh 7,17).
Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2020

COVID-19 và QUÊ HƯƠNG TÔI

Trưa hôm nay 17.03.2020, lệnh phong toả toàn quốc, như biện pháp chiến tranh toàn diện chống dịch Covid-19, mà tổng thống Emmanuel Macron đã công bố vào 20 giờ hôm qua 16.03.2020 chính thức có hiệu lực. Hơn một trăm ngàn cảnh sát được huy động để kiểm soát, và ngăn chặn việc đi lại, tụ tập không lý do cần thiết của tòan dân trên toàn nước.
Chấp hành lệnh phong toả, tôi bật khóc nhớ về quê hương tôi, nơi đó dân tôi cũng đang hoảng loạn, lo lắng không kém gì Âu Châu, nơi tôi định cư.
Tôi bật khóc không chỉ vì lo lắng cho dân tôi đang bấn loạn trong đại dịch, mà còn thương nhớ và biết ơn những người thân, bạn hữu đã quên lo cho mình, mà liên tục nhắn gửi tâm tình với những dặn dò đầy ắp tình yêu chăm sóc, như mẹ hiền lo cho đứa con tha hương những ngày loạn lạc. Tôi không khóc sao được khi người thân không lo cho mình, mà lo cho tôi, một người ở nước ngoài có an sinh xã hội trăm phần trăm bảo đảm, trong khi ở quê nhà, hệ thống bảo hiểm còn nhiều khó khăn, vì dù sao đất nước tôi cũng còn nhiều hạn chế. 
Tôi cũng đã khóc vì cảm kích trước những tấm lòng hy sinh, qủang đại, nặng tình nghiã của đồng bào tôi trước đại hoạ Covid-19 và đồng ruộng miền Tây bị xâm  mặn, khô hạn, khi rất nhiều người thuộc đủ thành phần đã thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách” giúp đỡ dân lành gặp nạn, chia sẻ miếng cơm manh áo với người nghèo khốn khổ.
Và nước mắt của tôi khô dần trước những tin vui: đất nước tôi khống chế thành công đại dịch, ngăn chặn hoàn toàn sức bành trướng vũ bão của virút Covid-19, bằng chứng là con số tử vong, cũng như người bị lây nhiễm ở nước tôi rất thấp so với các nước, nhất là Trung Quốc, Hàn Quốc, Ý, Iran, Pháp, Tây Ban Nha, Đức, Mỹ, Anh…  
Ở vào thời điểm ngồi viết những dòng này, Việt Nam, quê hương tôi vẫn được nhìn nhận là quốc gia đang thành công trong công cuộc chống dịch, và tôi hãnh diện với bạn bè nước ngoài…
Nhưng, bỗng một nỗi lo chưa thể gọi tên trào dâng trong tôi, làm tôi ứ nghẹn, một nỗi sợ chưa thể xếp loại làm tim tôi se thắt, và chân tay rụng rời.
Sở dĩ nỗi lo chưa gọi được thành tên, nỗi sợ chưa xếp được thành loại, vì lo sợ ấy còn hỗn mang, mông lung, mặc dù đã làm cổ tôi rát khô, mắt tôi mờ, tim tôi lạc nhịp.
Tôi lo sợ cho những người bán vé số nghèo, mà bữa cơm dưa mắm cho đàn con dại chỉ trông vào những tấm vé số được bán trong ngày. Vì nghèo, và vì là lao động duy nhất của cả nhà, người cha bán vé số rất có thể đã nhiễm virút Corona, nhưng không dám khai báo, vì biết khai báo sẽ bị đem đi cách ly, và những ngày cách ly sẽ là những ngày đàn con thơ phải nhịn đói.
Tôi lo sợ cho những người nghèo “buôn thúng bán bưng”, mà virút dù có đuợc nhận ra trên thân thể cũng vẫn “tự nguyện” câm nín, thinh lặng, cẩn mật che giấu, vì một lý do duy nhất: không đi bán, tiền đâu nuôi sống chồng đau, con dại?
Tôi lo sợ cho những bác phu hồ nghèo luống tuổi, mà từ sáng sớm đã phải lam lũ, quần quật dưới nắng mưa, nên sức đề kháng rất yếu ớt, dễ trở thành mồi ngon cho virút đang gây ra đại dịch. Các bác phu hồ nghèo này, cũng như những cô chú, và các em bé ăn xin có biết mình bị lây nhiễm cũng chẳng dám khai báo để được chữa trị, chỉ vì sợ cách ly, không có tiền để trang trải từ tiền nhà cuối tháng, đến tiền ăn hằng ngày, chưa kể tiền hụi chết, hụi sống của đời nghèo rất phức tạp, nhiêu khê, mà chỉ những ai đã nghèo, đang nghèo mới hiểu nổi.
Tôi lo sợ cho người dân nghèo vùng sâu vùng xa, và anh chị em người dân tộc trên cao nguyên hoang vu, hẻo lánh mà đời sống qúa giản dị đến đáng thương, qúa đơn sơ đến chẳng có gì, qúa nghèo nàn đến không nhìn rõ hiện tại, nói gì tiên liệu tương lai, nên virút Côrôna, Cô Vi hay Cô gì đi nữa, họ cũng chẳng quan tâm, vì chẳng có gì được coi là quan trọng, và không còn gì để phải bận tâm, trong khi ngô khoai cho bữa ăn chiều còn chưa lo được.
Tôi lo sợ cho rất nhiều người già cám cảnh neo đơn vì nghèo, vì không tài sản, nhà đất, nên con cháu bỏ rơi, quên lãng đã từ chối vào bệnh viện vì không có tiền, và cũng không muốn trở thành gánh nặng cho ai, vì mặc cảm và tự ái tuổi già.
Tôi còn lo sợ cho những em bé đánh giầy, “bị chăn giắt” ăn xin, cả những em bé bị người lớn lạm dụng tình dục đổi lại bằng chút “tiền còm” ít ỏi chỉ đủ ngày hai bữa cơm canh. Các em biết gì mà đề phòng lây nhiễm, có gì để mất mà gìn giữ, thận trọng, nên Covid-19 hay Covid bao nhiêu đi nữa cũng không làm các em nao núng, sợ sệt, vì đối với các em, cái đói rã họng, cái đói lả người, cái đói tái tê đã là cái đáng sợ nhất trên đời rồi.
Tôi cũng lo sợ cho những công nhân ở quê lên tỉnh bỗng rơi vào tình trạng thất nghiệp, bế tắc kinh tế, đường cùng sinh hoạt vì nhà máy đóng cửa, xí nghiệp thiếu nguyên liệu do hậu qủa không thể tránh của đại dịch. Họ sẽ làm gì khi lây nhiễm? Thưa sẽ chịu trận, vì niềm tin cạn kiệt, do gánh đời qúa nặng trên đôi vai gầy không thể cam, nên đành gục đầu, qụy ngã trong câm lặng.
Vâng, tôi lo sợ một ngày khi những con người nghèo khổ, vô danh tiểu tốt, bần cùng của xã hội ở đất nước tôi thình lình đồng loạt bị phát hiện dương tính, bị cơ quan chức năng khám phá đã lây nhiễm virút Covid-19; tôi lo sợ đám đông nghèo lúc này còn có thể ẩn mình, tránh né, lẩn trốn, nhưng đến một ngày, ổ virút nổ tung, Covid-19 vỡ oà như ong vỡ tổ; tôi càng lo sợ đám trẻ ăn không đủ no, mặc không đủ ấm đã không thể hiểu nguy hiểm của virút đại dịch, để tự bảo vệ, và  không làm lây lan sang người khác.      
Vâng, tôi lo sợ lắm, mặc dù bạn bè vẫn trấn an, chính phủ Việt Nam vẫn khuyến cáo đừng hoang mang, hoảng loạn, vì đại dịch có thể bành trướng, “tác yêu tác quái” ở đâu, nhưng Việt Nam thì không có cửa cho virút hoành hành, nhờ tự giác cao độ của toàn dân, nhờ khả năng của các nhà khoa học, nhờ tinh thần phục vụ tận tụy, quên mình của các bác sĩ, y tá, nhân viên các bệnh viện, trung tâm cách ly, trạm xá. Đó là chưa kể biện pháp luôn kịp thời và hữu hiệu của chính phủ, cũng như khả năng tiên liệu, dự phòng rất khoa học của các cơ quan hữu trách trong công cuộc phòng chống đại dịch.  
Không  giấu được nỗi lo sợ nếu chẳng may dịch bùng nổ dữ dội từ những người nghèo, vì nghèo nên không khai báo “đã bị lây nhiễm” vì sợ cách ly; lo sợ dịch vỡ oà kinh hoàng từ những người nằm sát đáy xã hội bị lây nhiễm bất ngờ cùng lúc ồ ạt bị phát hiện;  lo sợ dịch Covid-19 bể tung tàn khốc từ những người già, người thất học, người dân tộc không biết, cũng không quan tâm virút đại dịch, nên lây nhiễm mà không hay, dương tính mà không hề biết để được chữa trị.
Không giấu được nỗi sợ nếu chẳng may ngày tai ương, buổi khốn khó đại dịch xẩy đến cho quê hương đã gánh lắm thương đau, đã chịu nhiều gian truân, thử thách, nên lúc này đây, tôi thực sự lo, khi Âu Châu nơi tôi đang sống rơi vào tình trạng chiến tranh, mà toàn dân phải hy sinh rất nhiều để có thể chiến thắng virút Covid-19 đang đe doạ nặng nề tính mạng và đời sống an bình của rất nhiều quốc gia trên thế giới.
Ngước mắt nhìn trời đêm nay, trăng sao lác đác, như niềm hy vọng ló dần. Cùng với toàn dân Việt Nam ở quê hương, cũng như hải ngoại, tôi nguyện cầu Ơn Trên ban bình an cho dân tộc, đất nước tôi, một dân tộc mà lịch sử tuy đậm nét hào hùng, nhưng vô vàn thương đau, một giang sơn gấm vóc, nhưng đất nước vẫn còn nhiều gập ghềnh gian khổ.
Ước mơ của tôi đêm nay khi nhắn gửi các vì sao rải rác trên bầu trời, chính là quê hương tôi thoát đại dịch, đất nước tôi không bị phong toả toàn diện như Pháp, Ý, đồng bào tôi không phải mếu máo, “dở khóc dở cười” vì mất việc không lương, hay tức tưởi “nửa sống nửa chết” vì mất người thân, xa gia đình, thân quyến. 
Và với niềm tin, xin Thiên Chúa ban bình an cho đất nước con, gìn giữ quê hưng con, để không người dân Việt nào phải khóc nỗi đau chết chóc, nỗi buồn cách ly, nỗi lo đại dịch.
Jorathe Nắng Tím  

COVID-19 và TRUYỀN GIÁO

Khi đại dịch toàn cầu Covid-19 làm ngưng trệ một cách đáng kể sinh hoạt bình thường của đại đa số các quốc gia, tạo ảnh hưởng tiêu cực trên an sinh của phần lớn nhân loại, chúng ta thấy con người thật bé nhỏ, dòn mỏng, và lúc nào cũng có thể trở thành nạn nhân đáng thương của bất kỳ sức mạnh tàn phá nào.
Cùng chung số phận và cùng chia sẻ những vấn đề của con người, Giáo Hội không bao giờ cho phép mình đứng ngoài những khó khăn, vất vả, những băn khoăn, thao thức, những lo âu, khắc khoải, cũng như những cố gắng, phấn đấu của cộng đồng nhân loại. Trái lại, trong mọi hoàn cảnh, đoàn thể “môn đệ của Đức Giêsu” luôn là những  người tích cực dấn thân, sẵn sàng tiên phong đi hàng đầu trong nỗ lực phục vụ và đem lại cho con người sự sống, bình an, và hạnh phúc, vì sứ vụ của Giáo Hội là đồng hành cùng nhân loại và “làm cho muôn dân trở thành môn đệ Đức Giêsu” (Mt 28,19).
Trong tâm bão của đại dịch Covid-19, hình ảnh của Đức Thánh Cha Phanxicô lặng lẽ bước đi như người lữ hành khiêm tốn trên đường phố vắng vẻ của Rôma bị phong toả toàn diện, đến qùy trước bàn thờ, ngước nhìn Thánh Giá và Đức Trinh Nữ Maria nài xin ơn cứu thoát cho toàn thể nhân loại. Ngắm nhìn gương mặt sốt sắng cầu nguyện của ngài, ai cũng thấy Đức Thánh Cha muốn được mang hết nhân loại đang khổ đau, lo lắng, hoảng lọan vì đại dịch trong trái tim mục tử yêu thương, cảm thông, chăm sóc của ngài.
Cùng với Đức Thánh Cha, các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân toàn cầu, ngoài kinh nguyện xin ơn cứu thoát và bình an, đều tìm cách đóng góp công sức vào việc cứu nguy, cứu trợ các nạn nhân bị lây nhiễm, và tiếp sức ngăn chặn dịch bệnh lây lan với chính quyền và tất cả những người thiện chí, thiện nguyện. Sự kiện mới nhất trong tuần này, với 6 linh mục Ý, một linh mục Mỹ qua đời vì đại dịch, hai mươi bốn nữ tu Ý cùng một giám mục Pháp, đức cha Emmanuel Delmas, giám mục giáo phận Angers phải nằm viện điều trị, và nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ bị cách ly vì “dương tính” trong khi thi hành sứ vụ và do làm việc trong các trung tâm y tế, bệnh viện, trạm xá săn sóc bệnh nhân Covid-19 đã làm chứng sự có mặt chia sẻ và hoạt động bác ái cụ thể, sống động của toàn thể dân Chúa bên cạnh mọi người để phục vụ mọi người.
Trong bối cảnh này, người viết xin chia sẻ một vài suy tư về sứ mệnh truyền giáo, như căn tính của Giáo Hội, mà ở bất cứ hoàn cảnh nào, “lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”, Giáo Hội vẫn trung thành và hăng hái “rao giảng Lời Chúa” (x. 2 Tm 4,2). Nếu không, Giáo Hội không còn là Giáo Hội của Đức Giêsu vì không thực hiện lệnh lên đường truyền giáo là bài sai duy nhất của Đức Giêsu đã trao tận tay các thánh Tông Đồ là những môn đệ trực tiếp của Ngài: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dậy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20).
1.   Truyền Giáo là căn tính của người Kitô hữu:
“Căn tính” là cái cho phép một thực thể hiện hữu. Thí dụ: căn tính của con người là linh hồn và thân xác, bởi nếu chỉ có hồn mà không có xác, con người không hiện hữu, nhưng thiên thần có mặt, vì thiên thần là thụ tạo chỉ có linh hồn thiêng liêng, mà không có xác thể vật chất. Trái lại, nếu chỉ có thể xác do các hợp chất làm nên, con người cũng không hiện hữu, nhưng con vật có mặt, vì con vật không có linh hồn, mà chỉ là vật chất.
Vì thế, để là người, để con người hiện hữu, để một “con người  chính danh, đúng nghiã” có mặt, thực thể ấy phải cùng lúc được tạo nên bởi hồn và xác, được gọi là căn tính của con người, vì thiếu một trong hai, con người không hiện hữu.
Truyền giáo sở dĩ là căn tính của người Kitô hữu, vì khi mang Đức Kitô, người tín hữu không mang “Thiên Chúa làm người” cho riêng mình, nhưng được Đức Giêsu đích thân chọn làm môn đệ để trao phó sứ mệnh mang Thiên Chúa cho mọi người, nên được rửa tội chỉ vì phần rỗi của riêng mình, làm người có đạo chỉ để nắm chắc chiếu khán vào thiên đàng, đi đạo để không bị mất linh hồn, sa hoả ngục thì người Kitô hữu đã không hiểu gì về ơn gọi làm Kitô hữu, sứ vụ của người Kitô hữu, trách nhiệm của người Kitô hữu mà mình đang là, đang mang, đang được Thiên Chúa kỳ vọng, và loài người đặt niềm tin tưởng.
Đàng khác, để cứu toàn thể nhân loại khỏi chết đời đời, Đức Giêsu cần đến các môn đệ, tức người Kitô hữu là những người dấn thân đi theo Ngài, để được Ngài biến đổi  trở nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài, thuộc trọn về Ngài để được Ngài sai đi làm cho muôn dân biết Ngài, thuộc về Ngài và trở nên “đồng hình đồng dạng với Ngài” như chính người môn đệ được thánh hiến và sai đi. 
Như thế, “con đường Kitô” cũng là ơn gọi, sứ mạng của người Kitô hữu là mang Đức Giêsu và làm cho mọi người thuộc về Đức Giêsu, trở thành môn đệ của Ngài, chi thể của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội.
Đó là lý do Giáo Hội không bao giờ bỏ quên việc truyền giáo, coi thường sứ mạng truyền giáo, xếp chương trình truyền giáo xuống hàng thứ yếu bên cạnh những công việc quản trị hành chánh, tổ chức nội bộ. Nhìn vào các thư chung, và công việc của các giáo phận, chúng ta thấy ngay truyền giáo luôn được đặt hàng đầu, ưu tiên số một, bởi đây là sức sống của Giáo Hội, niềm vui của người môn đệ và là vinh danh Thiên Chúa, khi “muôn dân trở thành môn đệ” của Ngài (Mt 28,19).
2.   Giáo Hội không ngừng truyền giáo, không sao lãng sứ mạng Tông Đồ trong bất cứ hoàn cảnh, tình thế nào:
Vì Truyền Giáo là căn tính của Giáo Hội, nên không một khoảnh khắc, thời điểm nào, dù là một giây, tâm hồn tông đồ, trái tim môn đệ, cuộc đời người Kitô hữu có thể ngừng nghỉ truyền giáo, có thể đình chỉ việc truyền giáo, có thể xếp lại việc truyền giáo, có thể thay thế truyền giáo bằng một công việc khác. Trái lại, trong bất cứ hoàn cảnh, tình huống, tâm trạng nào, dưới bất cứ áp lực, ảnh hưởng nào, Giáo Hội vẫn luôn luôn và mãi mãi là Giáo Hội truyền giáo do Lời Hứa bảo đảm của Đức Giêsu, Đấng sáng lập và gìn giữ Giáo Hội: “Thầy ở với anh em mọi ngày đến tận thế” (Mt 8,20).
“Ở với anh em mọi ngày đến tận thế” để không ngày nào của Giáo Hội thoái hoá thành ngày “không thao thức truyền giáo, không nỗ lực truyền giáo”; “ở với anh em mọi ngày đến tận thế” để không ngày nào của Giáo Hội được phép là ngày “rong chơi, thư giãn” mà quên hiệp tâm, hiệp lực truyền giáo; “ở với anh em mọi ngày đến tận thế” để  không ngày nào đoàn dân Chúa trên đường lữ hành có thể ươn lười, buông xuôi, hay hèn nhát gạt bỏ bổn phận truyền giáo ra khỏi hành trình đời sống mình.
Vì thế, cho dù giữa tâm đại dịch Covid-19, hay rơi vào bất cứ phong ba, bão táp nào kinh khủng hơn nữa, Giáo Hội vẫn kiên tâm thi hành sứ vụ truyền giáo, vẫn một lòng trung thành với Ơn Gọi được sai đi, và sứ mạng “làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Đức Giêsu”.
3.   Giáo Hội truyền giáo dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần:
Giáo Hội không ra đi một mình, người tín hữu không lên đường đơn độc, nhưng đi với nhau, đi với toàn thể Dân Thiên Chúa, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Đấng mà Đức Giêsu đã hứa ban trước khi Ngài rời bỏ thế gian về với Chúa Cha: “Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật…” (Ga 14,16-17), “Đấng đó sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26). 
Vì thế, trong mọi thay đổi của tình thế, hoàn cảnh, trước mọi thử thách, khó khăn, giữa mọi nguy hiểm, thách đố, Giáo Hội luôn có Chúa Thánh Thần. Chính Thánh Thần sẽ dậy Giáo Hội phải làm gì, nói gì, hành động cách nào. Và việc quan trọng nhất là đồng hành với Giáo Hội trong công cuộc truyền giáo, ở đó, Chúa Thánh Thần luôn có mặt để hướng dẫn, chỉ bảo, “sửa chữa  mọi sự trong ngoài” cho xứng đáng và đẹp lòng Thiên Chúa.
Vâng, ở vào hoàn cảnh hiện nay, giữa nạn dịch Covid-19, khi việc truyền giáo tưởng như bị ngưng trệ, đình chỉ, nhiều người tín hữu tỏ vẻ lo âu, nghi ngại về công cuộc truyền giáo của Giáo Hội. Có người thất vọng và vẽ ra bức tranh “ngày mai tiêu điều của một Giáo Hội không còn có thể truyền giáo”.
Rơi vào ý nghĩ tiêu cực và thái độ đầu hàng, buông xuôi trên, vì thấy những hoạt động truyền giáo xem ra đang bị đe dọa, gián đọan, thay đổi, chúng ta nên cẩn trọng, vì cạm bẫy của ma qủy được cài đặt không xa chúng ta bao nhiêu.
Thận trọng để tín nhiệm ở Hội Thánh là Hiền Thê yếu dấu của Đức Giêsu; thận trọng để phân định chính xác: sứ mệnh truyền giáo không thay đổi, nhưng phương thức truyền giáo luôn được thích nghi với hoàn cảnh, thích ứng với đòi hỏi không ngừng biến chuyển, đổi mới của thời đại, tình thế, và con người.
Đồng thời thận trọng để nắm vững điều căn bản : không thể truyền giáo mà không liên tục sáng kiến.
Bởi truyền giáo không là hoạt động riêng lẻ, tách rời, nhưng là hoạt động của toàn Thân Thể mầu nhiệm Đức Giêsu, nên truyền giáo là hoạt động của tình yêu, truyền giáo thể hiện tình yêu, truyền giáo làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu, giới thiệu Đức Giêsu là “Dung Mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót”, mà tình yêu luôn đòi sáng kiến, như hai người càng yêu nhau, họ càng có nhiều sáng kiến để tỏ tình và làm vui lòng nhau. Vì thế, sáng kiến trong truyền giáo, sáng kiến để truyền giáo hữu hiệu, sáng kiến để mang lại thành qủa tốt đẹp là điều mà bất cứ nhà truyền giáo, hay bất cứ Kitô hữu nào cũng mong đợi, nỗ lực tìm kiếm, và quyết tâm thực hiện.
Thực vậy, hơn lúc nào hết, ngay trong tâm bão của đại dịch, Giáo Hội muốn nhắc nhở tất cả con cái mình đừng quên ơn gọi truyền giáo là căn tính của người Kitô hữu; đừng hiểu lầm: Giáo Hội không còn trung thành, hay giảm thiểu nhiệt tâm, sa sút nhiệt huyết với sứ vụ truyền giáo, nhất là phải tin tưởng tuyệt đối ở Chúa Thánh Thần, Đấng luôn hiện diện cùng Giáo Hội trên hành trình truyền giáo.
Và để tuyệt đối tin tưởng ở Giáo Hội và cùng Giáo Hội lên đường truyền giáo ngay lúc này và ở đây, giữa tâm dịch Covid-19, chúng ta cần xác tín, như thánh tông đồ dân ngoại đã củng cố niềm tin, tinh thần truyền giáo, đốt nóng lòng nhiệt thành truyền giáo của Timôthê, môn đệ ngài và giáo đoàn Corinthô bằng những lời dậy dỗ và kinh nghiệm truyền giáo đầy thuyết phục:
a.   Thần Khí ở với chúng ta trên đường truyền giáo, và chúng ta phải dựa vào Ngài:
“Vì Thiên Chúa chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương và biết tự chủ. Vậy anh đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta, cũng đừng hổ thẹn vì tôi, người tù của Thiên Chúa; nhưng dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi, để loan báo Tin Mừng” (2 Tm 1,7-8).
b.   Chúng ta là những con người bất xứng, nhưng được Thiên Chúa chọn để loan báo Tin Mừng:
“Khi anh em được Chúa kêu gọi, thì trong anh em đâu có mấy kẻ khôn ngoan trước mặt người đời, đâu có mấy người quyền thế, mấy người qúy phái. Song những gì thế gian cho là điên dại, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ khôn ngoan, và những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh; những gì thế gian cho là hèn mạt, không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có, hầu không một phàm nhân nào dám tự phụ trước mặt Người” (1 Cr 1, 26-29).
c.    Gian truân và hy vọng là lương thực của nhà truyền giáo:
Trên đường truyền giáo, “chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang  nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2 Cr 4,8-10).
d.   Truyền giáo là rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh:
“Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục, không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ” (1 Cr 1,22-23).
Vâng, trong hoàn cảnh khó khăn, bất lợi, không thuận tiện cho việc truyền giáo, như hiện tình đầy đe dọa của Covid-19, mỗi người Kitô hữu cần hồi tâm để xác tín sứ mệnh truyền giáo được Giáo Hội trao phó, và ý thức: chính trong hoàn cảnh và ở thời buổi các sinh hoạt truyền giáo như bị khựng lại ở cấp giáo phận, giáo xứ, lại là lúc mỗi người Kitô hữu được Giáo Hội trao trách nhiệm quan trọng và nặng nề hơn, được Giáo Hội tín nhiệm, tin tưởng và sai “ra xa, ra sâu hơn”, đến những nơi mà vì hoàn cảnh, cộng đòan không  cùng đến được, tập thể không thể cùng có mặt, đoàn thể không thể cùng đặt chân,  mà chỉ từng người, riêng lẻ từng cá nhân “Kitô hữu” mới có thể len lỏi hiện diện rao giảng, và làm chứng.
Người Kitô hữu cũng cần phát huy tinh thần Hiệp Thông và Vâng Phục các Đấng Bản Quyền, vì Hiệp Thông và Vâng Phục trong hoàn cảnh khó khăn, thời buổi không thuận tiện cho việc truyền giáo của Giáo Hội chính là thực hiện truyền giáo cách tuyệt vời, hữu hiệu và đẹp lòng Chúa hơn cả. Bên cạnh là đời sống cầu nguyện và thực thi Đức Ái giữa gia đình, thân hữu, làng xóm, xí nghiệp, công ty, cộng đoàn giáo xứ…   
Trong thinh lặng của bầu khí căng thẳng vì đại dịch Covid-19, tôi nghe tiếng Mẹ Giáo Hội nhắc bảo: “Phần con, hãy thận trọng trong mọi sự, hãy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của con” (2 Tm 4,5). Và tận đáy sâu tâm hồn nghe xôn xao, rộn ràng niềm vui truyền giáo, hạnh phúc tông đồ, khi mỗi ngày được “trở nên tất cả cho mọi người” (1 Cr 9,22), để bằng mọi cách cùng Giáo Hội cứu được mọi người.
Jorathe Nắng Tím