Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2020

COVID-19 VÀ THỬ THÁCH

Kinh hoàng lại ập xuống trên tôi, niềm hy vọng của tôi tiêu tan như gthoảng, ơn cứu thoát của tôi biến mất tựa mây bay. Và giờ đây mạng sống tôi tàn lụi, những ngày khốn khổ vây bọc lấy tôi. Ban đêm xương cốt tôi đau như bị chọc thủng, các vết thương nhức nhối khôn nguôi. Người nắm lấy áo tôi thật chặt, siết vào tôi như cổ áo dài. Người quăng tôi vào đống bùn nhơ, khiến tôi trở nên như tro như buị”(G 30,15-19).
Đó là tình trạng của ông Gióp trong tận cùng của đau đớn, khổ sở, sau khi Satan xin phép Thiên Chúa Giavê được thử thách ông, người có tiếng là “vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác” (G 2,3), với lý luận rất “con người ”: “Da đổi da! Tất cả những gì người ta có, người ta đều sẵn sàng cho đi để cứu mạng sống mình. Ngài cứ thử giơ tay đánh vào xương vào thịt nó xem, chắc chắn là nó sẽ  nguyền rủa Ngài thẳng mặt!” (G 2,5).
Hình ảnh của ông Gióp trong Cựu Ước là hình ảnh của rất nhiều người đang bị lây nhiễm. Họ đau đớn vì đại dịch, khốn khổ vì virút, mất tất cả vì Corona, bị xa lánh vì Covid, mặc dù họ chẳng làm điều gì gian ác. Bên cạnh họ là gia đình, thân quyến, tất cả đều chịu chung số phận hẩm hiu.
Nhưng không chỉ một số người đã tử vong, hay bị lây nhiễm chịu thử thách, mà cả thế giới, nhiều dân tộc đang cùng chia sẻ cơn thử thách rất nặng nề, mà hậu qủa của đại dịch mang lại thật khó lường: người bệnh thì nằm cô đơn, người chết thì cô độc ra mộ phần hoặc vào nhà hoả táng, không thân nhân quây quần, không bạn bè  đưa tiễn; người sống thì mất việc, lo sợ hiện tại đầy đe dọa, ngán ngẩm tương lai không hy vọng; đám trẻ không đến trường sắp nổi khùng vì không gian ngột ngạt trong các chung cư chật hẹp; thiếu niên, thiếu nữ bị cấm ra đường bắt đầu cuồng chân, nổi loạn, và nhiều anh chị đã rơi vào tình trạng trầm cảm, stress nặng; kinh tế gia đình tuột dốc vì chi nhiều cho kho lương thực phải tích trữ, mà thu vào thì không thấy; nhiều nhà tù phải thả tù nhân, vì sợ lây nhiễm, nhưng không thể lo cho đời sống của những người tù được tạm thời tự do này, nên nhiều người đã bất đắc dĩ rơi vào “trộm cắp, cướp của giết người” để tự giải quyết nhu cầu sống, vì không ai lo cho họ, và chính họ không muốn làm phiền thân nhân, gia đình; cơ quan và  nhân viên y tế thì bên bờ cạn kiệt nghị lực tinh thần, và sức khỏe thể lý phần vì tận lực phục vụ liên tục, không nghỉ ngơi, bồi dưỡng, phần vì sự thờ ơ, vô trách nhiệm của nhiều người không chấp hành nghiêm túc quy định y tế để cùng họ ngăn chặn nạn dịch lây lan, làm tăng số bệnh nhân, đưa đến tình trạng qúa tải trong các bệnh viện và thiếu thốn trầm trọng dụng cụ y tế để phục vụ bệnh nhân. Nói chung, không ai thấy mình ở ngoài cuộc chiến sinh tử với Covid-19, không người nào cảm thấy an tâm, an ổn khi chung quanh đầy những con người đang rên xiết, ngao ngán, chán chường trước nguy cơ của đại dịch.
Như Satan đã lý luận: “Tất cả những gì người ta có, người ta đều sẵn sàng cho đi để cứu mạng sống mình” (G 1,4), con người, bất kể ai, và cứ sự thường khi sự sống của bản thân bị đe dọa, sẽ dễ dàng đánh đổi tất cả những gì mình có để giữ lại sự sống: đánh đổi tự do để bảo toàn sự sống, đánh đổi danh dự để còn được sống, đánh đổi của cải để không mất sự sống, đánh đổi bạn hữu để bảo toàn sự sống, đánh đổi gia đình, quê hương để không ai chiếm mất sự sống, đánh đổi mọi người để sự sống riêng mình được bảo đảm, và sau cùng đánh đổi cả lương tâm, tình yêu, đức tin, Thiên Chúa để mạng sống mình không hề hấn, bị tổn thương.
Thực vậy, vì sự sống bản thân, mạng sống của riêng mình rất qúy giá, vì chỉ sống một lần, chỉ một mạng sống, một kiếp sống, nên mất là hết, bị chiếm đọat là không bao giờ tìm lại được, bị tiêu diệt thì chẳng hy vọng gì có lại lần hai, nên khi sự sống bị đe dọa, người ta sẵn sàng đánh đổi tất cả để giữ lại nó, thí bỏ tất cả để bảo toàn cho kỳ được, như Satan đã kết luận, khi xin phép Thiên Chúa Giavê thử thách ông Gióp, tôi tớ trung tín của Thiên Chúa: “Ngài cứ thử giơ giơ tay đánh vào xương vào thịt nó xem, chắc chắn là nó sẽ nguyền rủa Ngài thẳng mặt!” (G 1, 5).
“Nguyền rủa Thiên Chúa thẳng mặt” thì chẳng còn ân nghiã gì với Thiên Chúa, chẳng còn kính nể, thương yêu, biết ơn gì Thiên Chúa. Nói cách khác, “nguyền rủa Thiên Chúa thẳng mặt” là chính thức phản bội, công khai lên án, mặc nhiên chối bỏ, ngang nhiên phủ nhận Thiên Chúa là Đấng tạo dựng, yêu thương và gìn giữ, chăm sóc mình.
Trong Kinh Thánh không thiếu tình trạng “thay mặt đổi lòng” đối với Thiên Chúa khi bị thử thách. Chính dân riêng được tuyển chọn cũng nhiều lần làm như thế, khi rơi vào thử thách.
Vì thế, nếu có những tâm hồn như Gióp, hay Đavít đã xưng tụng: “Chúa là núi đá, là thành lũy, là Đấng giải thoát con... là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ” (Tv 17,3), và tuyệt đối tin tưởng: “Từ chốn cao vời, Chúa đưa tay nắm lấy, vớt tôi lên khỏi nước lũ mênh mông, cứu tôi thoát khỏi đối phương tàn bạo và kẻ thù mạnh thế hơn tôi” (Tv 17,17-18), thì cũng không thiếu những người nặng lời lên án Thiên Chúa là “phỗng đá vô cảm, thần hủy diệt ác ôn, kẻ truy diệt loài người để thoả cơn say “khát máu”.
Không như Gióp, dù biết rất rõ: “Con kêu lên Ngài, nhưng Ngài không đáp, con trình diện Ngài, nhưng Ngài chẳng lưu tâm. Ngài đối xử với con tàn nhẫn, giương cánh tay mạnh mẽ đánh phạt con. Ngài nâng con lên, cho cỡi mây đạp gió, làm con tan chảy trong giông tố bão bùng. Qủa thật, con biết Ngài bắt con quay về cõi chết, về nhà hội ngộ của tất cả nhân sinh” (G 30, 20-23), nhưng vẫn một niềm trung tín, tin tưởng và cầu xin: “Lậy Chúa, xin trở lại mà giải thoát con, cứu độ con, bởi vì Ngài nhân hậu” (Tv 6,5).    
Vâng, ai đã một lần rơi vào hoàn cảnh sự sống bản thân bị nghiêm trọng đe dọa, mạng sống riêng mình không còn có thể trông cậy vào ai, sẽ hiểu rõ sức lôi kéo mãnh liệt của cơn cám dỗ phản bội, đánh đổi. Chẳng thế mà nhiều người khi chưa rơi vào thử thách đã rất to tiếng, mạnh miệng tuyên bố trung thành, tuyên ngôn này nọ, như tông đồ trưởng Phêrô đã hùng hồn tuyên xưng đức tin : “Bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Ga 6,68-69), nhưng sự tình hoàn toàn đổi khác, khi chối Thầy, phản bội đồng đội, khai báo toàn bộ kế họach, chỉ điểm từng thành viên, báo cáo từng chi tiết vụ việc, hầu lập công chuộc tội, mong cứu mạng sống mình, mong một mình thoát chết, mong sinh mạng được bảo toàn.
Covid-19 tuy không tra hỏi ai, bắt giam người nào, nhưng không vì thế mà  tình yêu và lòng tin tưởng phó thác của chúng ta ở Thiên Chúa không bị đe dọa, thử thách, bởi khi rơi vào bế tắc, lọt vào đường cùng, lạc vào tử lộ, chúng ta dễ nghi ngờ tình yêu của Thiên Chúa, nghi vấn sự có mặt và hoạt động  nhân hậu, quan phòng của Ngài, nghi ngại đi theo Ngài, nghi nan sứ mệnh của người Kitô hữu, nghi hoặc vai trò dẫn dắt, giáo huấn của Giáo Hội, tệ nhất là nghi kị chính anh em mình, vì ích kỷ và bảo vệ bằng bất cứ giá nào mạng sống riêng mình.  
Là người thuộc về Đức Giêsu, chi thể của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội, chúng ta cần ý thức: thử thách của riêng mình, hay thử thách chung của toàn thế giới như trường hợp đại dịch Covid-19, không bao giờ được trở thành lý do đánh đổi những gì Thiên Chúa ban cho chúng ta chỉ vì muốn giữ mạng sống riêng mình, bởi mạng sống tuy rất qúy giá, nhưng mạng sống nằm trong tay Thiên Chúa, vì là quà tặng của Thiên Chúa, nên người nhận quà tặng là mạng sống ấy luôn có nghiã vụ biết ơn Đấng đã ban sự sống như quà tặng. Lòng biết ơn ấy đòi con người đặt sự sống trong tay Chúa, đặt mạng sống mình trong tình thương quan phòng của Chúa, vì xác tín : “không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (Rm 14,8), 
Với niềm xác tín “thuộc về Chuá, dù sống, dù chết”, “chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng, thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là người trung kiên, thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,3-5).
Cùng với Giáo Hội, và Hiệp Hội các Nữ Bề Trên Tổng Quyền trên thế giới đang kêu gọi mọi người dành Chúa Nhật 22.03.2020 để cử hành ngày “Liên Đới Cầu Nguyện cho những người bị thương tổn vì dịch Covid 19”, chúng ta nài xin xin Thiên Chúa là Cha nhân hậu, là núi đá cho chúng con trú ẩn, là Đấng Cứu Độ chúng con thương nhận “bấy nhiêu lời miệng lưỡi thân thưa và bao tiếng lòng thầm thĩ mong được thấu đến Ngài” (Tv 18,15) trước hiểm nguy, thử thách của đại dịch.
Jorathe Nắng Tím

COVID-19 và Ý THỨC CỘNG ĐỒNG


Câu chuyện Cộng Đồng thật dễ hiểu, không chỉ dễ hiểu cho trẻ em, mà còn dễ hiểu cho những người cố tình không muốn hiểu cộng đồng là gì, vì tính ích kỷ nặng ngàn cân và “Cái Tôi” qúa vĩ đại, rộng lớn, khi toàn thế giới cùng đứng chung chiến tuyến chống đại dịch Covid 19, vì ở hoàn cảnh này, không ai cũng không quốc gia nào có khả năng một mình chiến đấu, đương đầu.
Từ hai tuần nay, tình hình dịch trở nên cực kỳ nghiêm trọng, các chính phủ của cộng đồng chung Âu Châu quyết định nhiều biện pháp chung về biên giới, cũng như cách ly nội địa. Nước Pháp cấm ra khỏi nhà nếu không có lý do chính đáng và thực sự cần thiết. Ai bất tuân sẽ bị xử phạt tại chỗ. Các nước khác cũng đi theo đường lối này: “tất cả phải ở trong nhà”, và hạn chế tối đa đi lại, gặp gỡ, tụ tập.
Sáng nay 18/03/2020, đài truyền hình đưa tin: có những người thiếu ý thức cộng đồng đã không tuân theo lệnh cách ly của chính phủ bằng buông lời mạ lỵ cơ quan công lực khi bị xét giấy tờ và cảnh cáo “không được ra ngoài”, cũng như ở sân bay Nội Bài ngày 17/03/2020, “bà chị việt kiều Ba Lan nào đó” cùng gia đình về quê hương tránh dịch đã tỏ ra thiếu kiên nhẫn, nóng nẩy đến độ thô lỗ, thay vì tỏ lòng biết ơn và thông cảm đối với nhân viên phục vụ công tác hướng dẫn, điều phối di chuyển bà con việt kiều từ sân bay về trung tâm cách ly.
Cả hai trường hợp điển hình trong nhiều trường hợp khác đã nói lên tình trạng thiếu ý thức cộng đồng vẫn còn tồn tại ở nhiều người, nhiều nơi. 
Người thiếu ý thức cộng đồng trước hết là người ảo tưởng về khả năng độc lập, tự lập của mình trong xã hội, khi nghĩ mình không cần ai, không lệ thuộc người nào. Ảo tưởng này phát sinh từ tính kiêu căng, bất cần đời, coi thường nguời khác làm cho đời sống họ ngày càng ích kỷ, khép kín, thu hẹp, ki bo.
Ích kỷ khi chỉ nghĩ cho mình, mà quên: không cộng đồng làm sao họ có thể sống và tồn tại? Họ quên bao nhiêu đóng góp của vô số người trong mọi lãnh vực đã cho họ điều kiện và phương tiện để sống; họ quên xương máu của tiền nhân đã cho họ đất sống; quên giá trị mồ hôi, nước mắt của cha mẹ, gia đình, gia tộc đã cho họ lớn lên thành người; quên bao con người đã vì tương lai của họ mà tận tụy hi sinh.
Nhìn chung quanh những người đang trực chiến với đại dịch, như các bác sĩ, y tá, những nhân viên phụ trách diệt khuẩn, tẩy trùng nơi công cộng, những nhà khoa học chạy đua với thời gian để tìm ra thuốc chủng hầu ngăn chặn làn sóng xâm lăng của dịch bệnh, người có lòng tự trọng nhận ra bổn phận phải có đối với cộng đồng:
1.            Tinh thần kỷ luật:
Ý thức cộng đồng và bổn phận đối với cộng đồng tiên vàn phải được biểu lộ và thực hiện bằng tinh thần thượng tôn pháp luật và tuân giữ kỷ luật được cộng đồng đề ra.
Phải hiểu kỷ luật không bao giờ mang tính đàn áp, khống chế, mà chỉ là biện pháp cần thiết để bảo vệ ích lợi chung của tất cả cộng đồng, trong đó có lợi ích riêng và hạnh phúc riêng của mỗi người. Một quy tắc để phân biệt đâu là “kỷ luật xây dựng” và đâu là “gông cùm tiêu diệt, tàn phá” con người, đó là tính phục vụ lợi ich không chỉ của cộng đồng, mà cả lợi ích của từng cá nhân. Kỷ luật mang tính nhân bản không thể “phân thây sẻ thịt » cá nhân vì lợi ích của một thứ cộng đồng nào đó, bởi khi lấy máu của cá nhân mà “giải khát” cộng đồng, lấy thịt cá nhân làm “mồi nhậu” cho cộng đồng, thì cộng đồng ấy chỉ là một thứ cộng đồng phi nhân, tàn ác, bệnh hoạn, không xứng danh “cộng đồng nhân loại, cộng đồng nhân văn, cộng đồng có văn hoá”.
Tóm lại, khi xác định tính nhân bản, nhân văn, và mục đích của cộng đồng là  hạnh phúc của mỗi người và mọi người, chúng ta phải tôn trọng kỷ luật của cộng đồng đó, bởi trong đó có chúng ta, có quyền lợi của mỗi người, như tuân thủ với tinh thần hợp tác lệnh cách ly, quy định đứng xa nhau một mét, đề nghị đeo khẩu trang của cộng đồng quốc gia, cộng đồng thế giới.
Thế giới thường đánh giá một dân tộc trên tinh thần kỷ luật của dân tộc ấy. Chẳng hạn, dân tộc Nhật Bản được cộng đồng thế giới đánh giá cao, không vì khả năng phát minh khoa học, cho bằng tinh thần kỷ luật của họ. Người ta vẫn kể cho nhau nghe: trong rất nhiều thử thách nặng nề của  nước Nhật vì thiên tại như núi lửa, sóng thần, động đất, kể cả chiến tranh, người dân Nhật luôn tỏ ra kỷ luật. Nhờ thế họ đã tránh được nhiều khủng hoảng và xáo trộn vô ích, nguy hại cho cá nhân cũng như cộng đồng dân tộc.
Thực vậy, một gia đình có kỷ luật, một trường học có kỷ luật, một xí nghiệp có kỷ luật, một quốc gia mà người dân ý thức kỷ luật là sức mạnh của quốc gia thì lợi ích và hạnh phúc của mỗi người và mọi người chắc chắn được bảo đảm ở mức cao nhất.
2.            Tình  Liên Đới:
Chúng ta khó có thể cắt nghiã và thuyết phục một người ích kỷ về ý thức cộng đồng, vì cộng đồng là một ý niệm xa lạ, một quan niệm chưa hề nghe, một tư tưởng chưa từng được đặt thành vấn đề, và tất nhiên một ý nghĩ chưa bao giờ trở thành hành động.
Vì thế, không phải tự nhiên người ta có ý thức cộng đồng, không phải một sớm một chiều người ta nhận ra giá trị của những  đóng góp cá nhân cho cộng đồng, không phải đơn giản để xác tín cộng đồng không làm thiệt hại cá nhân, nhưng mục đích của cộng đồng là làm cho cá nhân đạt hạnh phúc bản thân khi sống trong cộng đồng, và cùng cộng đồng sinh hoạt. Trái lại, để ý thức cộng đồng trở thành động cơ thúc đẩy cá nhân tham dự vào cộng đồng, người ta cần được giáo dục để trưởng thành trong ý thức ấy, và một trong những điều kiện để trưởng thành là ý thức tình liên đới nhân loại.
Tình liên đới nhân loại là nền tảng của đời sống cộng đồng, bởi không biết mình là thành phần của nhân loại, không coi mình là thành viên của cộng đồng thế giới, không nhận mình có chỗ trong hàng ngũ những con người đang có mặt trên địa cầu, chúng ta không thể ý thức về trách nhiệm cũng như quyền lợi, hạnh phúc của mình trong cộng đồng.
Thực vậy, tình liên đới gắn bó con người với nhau bằng tình người; tình liên đới nối kết người này với người kia bằng ơn nghĩa, bởi không ai sống làm người mà đã không từng thi ân, kết nghiã, cũng như không ai đã bước đi trên đường đời, mà không từng “ân sâu nghiã nặng” với nhiều người.
Tình liên đới làm cho người người gần nhau, hợp tác được với nhau, chia sẻ cho nhau mà không cảm thấy mất mát, thiệt thòi, bị đe dọa, hay sợ hãi, vì tình liên đới có mục tiêu là hạnh phúc của mọi người được nối với nhau qua giây tình yêu tôn trọng, và chia sẻ.    
Vì thế, càng phát huy tình liên đới, chúng ta càng thấy tinh thần kỷ luật, thái độ tôn trọng luật lệ chung, việc thi hành quy định chung của cộng đồng là cần thiết, bởi đó không chỉ là nhu cầu thuộc phạm vi tâm lý, mà còn là đòi hỏi hợp lý, hợp tình của xã hội, khi cá nhân và tập thể như vợ chồng hoà thuận: “phu xướng phụ tùy”, “kẻ tung, người hứng” cho lợi ích của bản thân cũng như hạnh phúc của đoàn thể, cộng đồng.  
3.            Bổn phận nhân ái:
Sau cùng là bổn phận nhân ái, như nền tảng cho tinh thần kỷ luật và tình liên đới đối với cộng đồng.
Nhân ái được gọi là nền tảng, vì đã là người ắt phải có lòng nhân; đã làm người thì không thể hành xử như động vật không tình cảm yêu thương, bởi con người được sinh ra từ yêu thương và thương yêu là nhu cầu quan trọng nhất ở con người. Cứ nhìn những người sống mà thiếu yêu thương, sống mà không yêu thương, sống mà không được tình yêu cưu mang, nuôi dưỡng, ấp ủ. Họ bất hạnh vì thiếu hạnh phúc của yêu thương, bạc phước vì không được lòng nhân ái của người khác bênh đỡ, che chở.
Do đó, người được mọi người gọi là tử tế trước hết phải là người có lòng nhân, nghiã là biết sống theo đạo làm người là yêu thương người khác, tôn trọng người khác, giúp đỡ người khác; người được thế giới khen ngợi là ân nhân, hay người cao qúy, cao thượng bao giờ cũng phải là người nhân ái đã làm chứng  bằng những nghiã cử cho hạnh phúc của tha nhân, vì tương lai, lợi ích của cộng đồng xã hội.
Cũng vậy, người được truy tặng danh hiệu anh hùng, liệt sĩ sẽ không thể là người ích kỷ, lười biếng, hưởng thụ, “vô tích sự”, nhưng là những trái tim rực lửa yêu thương đồng loại, những tâm hồn qủang đại sẵn sàng hy sinh vì hạnh phúc của người chung quanh, và vì những mục tiêu vị tha, vì người khác đó, họ sẵn sàng hiến trao chính mạng sống mình.
Vâng, giữa đại dịch Covid-19, chúng ta nhìn lại tinh thần cộng đồng của mình, một tinh thần không chỉ có giá trị nhân văn, giá trị xã hội, mà còn mang nhiều giá trị tâm linh, siêu nhiên khác. Điều này nhắc nhớ chúng ta: bất cứ con đường nào, bất kỳ hướng đi nào, bất kể chủ trương nào của con người nhắm đến hạnh phúc đích thực của con người, đều phải xây trên nền tảng của lòng nhân ái, phải mang dấu ấn của tình liên đới nhân loại, và được củng cố bằng sức mạnh của tinh thần kỷ luật.
Ước mong ý thức cộng đồng được xây dựng vững chắc và ngày càng phát triển, như vũ khí giúp chúng ta chiến thắng đại dịch và kiến tạo một tương lai an vui, hạnh phúc cho bản thân và cộng đồng.
Jorathe Nắng Tím

MÙA CHAY TRUYỀN GIÁO (12)


                     Suy Niệm 12: “XIN TỎ CHO CHÚNG TÔI ĐỨC GIÊSU THIÊN CHÚA
Một điểm chung thường gặp ở các nhà truyền giáo là ý thức rất mạnh và rõ nét về sứ mạng tìm đến và loan báo Tin Mừng cho mọi người. Ý thức ấy đôi khi qúa mãnh liệt, và đậm nét đến nỗi có thể làm lu mờ và giảm thiểu một sự thực cũng rất quan trọng, đó là nhiều người đã tự nguyện tìm đến nhà truyền giáo để được lắng nghe Tin Mừng.
Tin Mừng nhiều lần kể về đám đông đi tìm Đức Giêsu, vì khao khát được nghe Ngài giảng, và Ngài chạnh lòng cảm thương khi thấy họ vất vả đến với Ngài: “Ra khỏi thuyền, Đức Giêsu trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ” (Mt 14,14). Cũng như lần khác, Đức Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy chạnh lòng thương đám đông, vì họ ở luôn với Thầy đã ba ngày rồi và họ không có gì ăn” (Mt 15,32).
Kéo nhau đi theo để được nghe Ngài giảng dậy, được Ngài chữa lành các bệnh tật, đám đông còn “ở luôn với Ngài” nhiều ngày đã nói lên nỗi ước mong, niềm trông ngóng Đức Giêsu và Tin Mừng cứu độ của Ngài trong tâm hồn rất nhiều người.
Đó cũng là thực tế các tông đồ đã chứng kiến, khi đám đông kéo đến và tụ tập quanh các vị để được nghe nói về “Đức Giêsu Nadarét, là người đã được Thiên Chúa phái đến với anh em. Và để chứng thực sứ mệnh của Người, Thiên Chúa đã cho Người làm những phép mầu, điềm thiêng và dấu lạ giữa anh em. Chính anh em biết điều đó... Đức Giêsu ấy đã bị nộp, và anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ đóng đinh Người vào thập giá mà giết đi. Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không đời nào khống chế được Người mãi” (Cv 2,22-24).                 
Nếu trước đây đã có đám đông khao khát được cứu rỗi kéo nhau đi tìm Đức Giêsu, và dân chúng tụ tập lắng nghe các tông đồ loan báo Đức Giêsu đã chết và sống lại, thì nay nhà truyền giáo ở mọi nơi, mọi thời cũng không lẻ loi, cô độc, nhưng luôn có rất nhiều tâm hồn khắc khoải mong ước được gặp các vị để được các vị “tỏ cho biết Đức Giêsu Thiên Chúa”.
Ý thức và xác tín rằng: luôn có những đám đông tâm hồn được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, và ở đâu cũng có những người được Thần Khí mở lòng, mở trí đi tìm những người được Thiên Chúa sai đến, nhà truyền giáo sẽ tránh được não trạng là ân nhân, là người thi ân của thế giới. Não trạng này dễ đưa đến thái độ kiêu căng, hống hách, trịch thượng, vô ơn, không tôn trọng người được rao giảng của nhà truyền giáo, vì nghĩ mình có quyền cho hay không cho, tự mãn, tự đủ và không chịu ơn người nào, cũng không nghĩ đến vai trò và tác động quan trọng của Chúa Thánh Thần. Đây đích thực là chướng ngại rất lớn cho công cuộc truyền giáo, mà nhà truyền giáo cần thận trọng né tránh.  
Nhà truyền giáo còn biết mình được sai đến với muôn dân, nhưng “muôn dân” ấy không là đám đông không có Chúa, đám đông vắng ơn Thánh Thần. Trái lại, đám đông cũng được thúc đẩy bởi cùng một Thần Khí đang thúc bách nhà truyền giáo lên đường. Cả hai, nhà truyền giáo và đám đông được rao giảng đều được Chúa Thánh Thần “soi lòng dậy dỗ”, được Thần Khí “mở cửa tâm hồn, thắp sáng niềm tin”, để người rao giảng “tỏ cho đám đông thấy Đức Giêsu”, như Đức Giêsu đã trả lời Philípphê: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha”, khi ông nói với Ngài: “Xin Thầy tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha” (Ga 14,8-9).
Ở đây, chúng ta thấy rõ sứ mệnh thiết yếu của nhà truyền giáo, căn tính của việc truyền giáo, mục tiêu của công cuộc truyền giáo là “tỏ cho người khác thấy Đức Giêsu”, bằng làm cho người khác nhận ra Đức Giêsu ở chính nhà truyền giáo, gặp gỡ Đức Giêsu trong “đời sống” của người được sai đi, yêu mến Đức Giêsu ngay trong trái tim người giới thiệu Tin Mừng, như các môn đệ nhận ra Chúa Cha qua Đức Giêsu, vì Ngài là dung mạo đích thực của Chúa Cha. Chẳng thế mà khi Philípphê thắc mắc, Đức Giêsu đã trả lời ông: “Thầy ở với anh em bấy lâu nay, thế mà anh Philípphê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha?” (Ga 14,9).
Trả lời Philípphê cũng là sứ điệp Đức Giêsu gửi mỗi nhà truyền giáo. Sứ điệp ấy khẳng định: Nếu anh em thấy Thầy là thấy Chúa Cha, thì  mọi người cũng phải thấy được Thầy khi họ thấy anh em. 
Bởi môn đệ phải giống Thầy, nên nhìn môn đệ sẽ biết Thầy, quan sát đời sống môn đệ sẽ vẽ được chân dung Thầy; bởi môn đệ không hơn Thầy, nên trò tốt thì Thầy tuyệt hảo, sư phụ nhân hậu “sản sinh” những môn đệ nhân lành, Thầy tài đức sẽ cho ra đời những môn sinh có đức có tài. Đó là quy luật của tương quan trong đời thường.
Với Đức Giêsu, người môn đệ còn phải đi xa hơn gấp nhiều lần, vượt khỏi quy luật đời thường vừa kể, để không chỉ trở nên giống Thầy, “đồng hình đồng dạng với Thầy”, mà còn phải “nên một” với Thầy, “ở lại trong Thầy” (Ga 15,4), như “Thầy ở trong Chúa Cha, và Chúa Cha ở trong Thầy” (Ga 14,11), vì ước mơ của Đức Giêsu chính là “Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (Ga 14,20).
Như thế, sứ mệnh truyền giáo được Đức Giêsu trao phó không chỉ là rao giảng, loan truyền, mà còn “tỏ ra cho mọi người thấy rõ, thấy chính xác Đức Giêsu là ai để yêu mến và nên một với Ngài”. Nghiã là, người được rao giảng cũng sẽ phải đạt đến tình trạng “đồng hình đồng dạng” với Đức Giêsu, nên một với Đức Giêsu, ở trong Đức Giêsu như người rao giảng.
Và để thực hiện công trình “tỏ cho người khác Đức Giêsu và làm cho họ nên một với Đức Giêsu”, chính nhà truyền giáo phải đạt đến mức độ thiết thân “nên một” này trước, thì mới có khả năng tỏ cho muôn dân Đức Giêsu đích thực, Đức Giêsu Thiên Chúa và Con Người. Nếu không, lời rao giảng của nhà truyền giáo dễ trở thành công tác chuyển giao một mớ kiến thức tôn giáo mà không giới thiệu một con người, không làm chứng một Thiên Chúa, công việc mà chỉ có tình yêu “nên một” trong nhau, tình yêu kết hiệp mật thiết với nhau mới có thể nói đúng về nhau, diễn tả chính xác về người mình biết, mình yêu cho người khác.
Nói tóm lại, chỉ với ngôn ngữ của tình yêu đích thực, người môn đệ  mới nói xác thực về Thầy mình cho người khác; chỉ bằng ngôn ngữ Tình Yêu sâu sa dành cho Thầy mình, người được Đức Giêsu sai đi truyền giáo mới có thể thuyết phục người khác yêu mến và tin nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa Tình Yêu, là Mục Tử nhân lành, là Người Cha giầu lòng thương xót.  
Thực vậy, Đức Giêsu muốn các môn đệ Ngài phải ở trong Ngài, nên một với Ngài, vì truyền giáo là sứ mệnh hệ trọng, cam go và khó khăn: khó khăn vì giới thiệu một Thiên Chúa cho con người, cam go vì Thiên Chúa ấy không chỉ là Thiên Chúa mà còn là Người, và hệ trọng, vì “Thiên Chúa làm người” ấy là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại, mà bất cứ ai muốn được cứu sống đều phải nghe tiếng Ngài và đi qua Ngài (x. Ga 10).
Ngài còn trao cho các ông trách nhiệm tỏ cho người khác về Ngài một cách đích thực, chính xác, không sai sót, không làm méo mó, lệch lạc dung mạo Con Người - Thiên Chúa của Ngài.
Và để làm được công việc khó khăn này, ngoài đòi hỏi trở nên giống Ngài, đồng hình đồng dạng với Ngài, mang cùng trái tim như Ngài, có cùng thao thức, khắc khoải, mơ ước như Ngài, nhà truyền giáo phải hiểu: không còn cách thế, phương tiện nào tốt hơn, hữu hiệu hơn để người khác nhận ra Đức Giêsu Thiên Chúa nơi mình, qua lời mình nói, qua việc mình làm, qua đời mình sống, bằng liên lỉ ở lại trong tình yêu kết hiệp với chính Đức Giêsu, nguồn mạch Tình yêu.  
Đến đây chúng ta hiểu rõ hơn: tại sao Đức Giêsu đã không đưa ra một phương án nào khác ngoài “Anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12) như dấu hiệu duy nhất của người môn đệ thuộc về Ngài và được Ngài sai đi truyền giáo? Tại sao Đức Giêsu đã chọn giải pháp truyền giáo bằng để người ta nhận ra Ngài qua các môn đệ, khi họ yêu thương nhau? (x. Ga 13,35)   
1.   Truyền Giáo hệ tại ở lòng yêu mến Đức Giêsu :
   Muốn giới thiệu Thiên Chúa, nhà truyền giáo phải yêu Thiên Chúa, phải có kinh nghiệm tình yêu với Thiên Chúa, nếu không sẽ không biết gì về Thiên Chúa để nói về Ngài, “vì Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8).
Bởi thế sẽ không có truyền giáo đích thực và hữu hiệu, nếu không có tình yêu sâu sa giữa Thiên Chúa và nhà truyền giáo, vì hoa trái của truyền giáo không hệ tại ở bất cứ khả năng, điều kiện, phương tiện, thế lực nào khác ngoài Tình Yêu trong Đức Giêsu :“Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5).
“Chẳng làm được gì” mang một ý nghiã thất bại hoàn toàn, vô ích, vô dụng toàn phần, toàn bộ. Không ở trong tình yêu của Đức Giêsu, công việc truyền giáo không mang một ý nghiã thiêng liêng nào, vì truyền giáo là tỏ cho người khác biết Thiên Chúa yêu thương họ trước khi họ yêu mến Ngài.
Để nói được Thiên Chúa yêu thương họ, nhà truyền giáo sẽ diễn tả thế nào tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, nếu chính nhà truyền giáo chưa một lần cảm nghiệm tình yêu thiêng liêng ấy? Để truyền vào trái tim người khác tình yêu Đức Giêsu, nhà truyền giáo sẽ truyền cách nào, nếu chưa một lần đi trên con đường tình của  Thiên Chúa và con người? Để thắp sáng, và đốt nóng trái tim người được rao giảng Tin Mừng, nhà truyền giáo đốt bằng lửa nào, thắp bằng ánh sáng nào, nếu tim nhà truyền giáo chưa một lần bừng cháy, rực lửa tình yêu Đức Giêsu?
Thế nên tiên vàn của truyền giáo là “yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy” (Ga 14,21).
Được Đức Giêsu tỏ mình, người môn đệ, nhà truyền giáo mới có thể tỏ cho mọi người Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng cứu độ muôn dân” là mục đích của ơn gọi tông đồ và sứ mệnh truyền giáo.       
2.   Truyền Giáo hệ tại ở tình yêu thương anh em:
Vì truyền giáo không là công việc dành riêng cho một người, công tác đặc cử cho riêng một nhóm, vinh dự dành riêng cho một giai cấp, quyền lợi của riêng một đoàn thể, nhưng là ơn gọi và sứ mạng của tất cả mọi người đã nhận Đức Giêsu là Đấng Thánh của Thiên Chúa và dấn thân đi theo Ngài, nên không ai, không tổ chức, không phe nhóm nào được phép độc quyền bao sân, toàn quyền thao túng. Chính vì thế, truyền giáo đòi hợp tác, đòi cộng tác, đòi nhiều người cùng làm, đòi tất cả cùng tham gia, đòi mọi thành phần cùng chung vai sát cánh. Và để thực hiện công tác chung, công việc chung là truyền giáo, mọi người phải hiệp nhất trong tình yêu của chính Đức Giêsu, như lệnh truyền của Ngài: “Anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).
Tại sao Đức Giêsu muốn môn đệ Ngài phải yêu thương bằng tình yêu của Ngài, và yêu thương như Ngài đã yêu thương họ?
Thưa vì tình yêu của Ngài không là tình yêu của thế gian, cách yêu của Ngài cũng không phải cách yêu của con người, khi tình yêu được Ngài thay đổi định nghiã và đổi mới cách yêu thương.
Thực vậy, không chỉ thế gian mà cả Luật Môsê cũng dậy rằng: “Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù”. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: “hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,43-44). Luật còn dậy: “Mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5,38-42).
Đức Giêsu còn dậy các môn đệ : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13), và làm gương  yêu thương khi “Người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1).
Với tình yêu và cách yêu của Giới Luật mới, Đức Giêsu đòi hỏi những ai muốn theo Ngài phải thương yêu nhau, vì chỉ khi thương yêu nhau, người môn đệ mới làm chứng về Ngài, và mới tỏ được Ngài cho người khác.
Như thế, nhà truyền giáo không thể lên đường mà bỏ quên hành trang “yêu thương nhau” như Đức Giêsu đã thương yêu các vị; không thể lơ là bổn phận “yêu thương nhau” như điều kiện để truyền giáo, vì truyền giáo hệ tại ở tình yêu dành cho Đức Giêsu, và cùng lúc tình yêu dành cho nhau.     
Nhưng “yêu thương nhau” đây không chỉ là tình yêu giữa anh chị em được sai đi truyền giáo, tình thương giữa anh em môn đệ, tông đồ với nhau, tình yêu thương của riêng giai cấp được chọn và sai đi, nhưng còn là tình yêu của nhà truyền giáo với người được truyền giáo, tình thương giữa người rao giảng và người được nghe  giảng, như Đức Giêsu đã chạnh lòng thương đám đông đi theo Ngài và lắng nghe Ngài dậy bảo.
Bởi có tình yêu, nhà truyền giáo mới tôn trọng quyền lắng nghe và quyền chọn đi theo Đức Giêsu của người được rao giảng. Nếu không, truyền giáo sẽ chỉ là khống chế tự do của người khác. Điều này trái  ngược với đức tin là ân huệ của Thiên Chúa mà mỗi người đón nhận với tất cả tự do.
Bởi có tình yêu, nhà truyền giáo mới nhìn nhận giá trị làm con Thiên Chúa, và là anh em của chính nhà truyền giáo nơi người được truyền giáo. Nếu không, mãi mãi người được truyền giáo sẽ bị coi là công dân hạng hai, hạng ba, hạng bốn của Nước Trời, so với nhà truyền giáo luôn là công dân hạng nhất, công dân ưu tú, ngoại hạng, đối chọi với tinh thần của Đức Giêsu được chính Ngài  mặc khải trong dụ ngôn “Thợ làm vườn nho”, với khả thể bất ngờ: “Những kẻ đứng chót sẽ được lên, hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót” (Mt 20,16).
Bởi có tình yêu, nhà truyền giáo mới không rơi vào tình trạng mị dân khi truyền giáo. Và vì không nhắm bất cứ mục đích “ích kỷ, vụ lợi” nào, nhà truyền giáo mới hoạt động một cách vô tư vì lợi ích và hạnh phúc thiêng liêng của người khác, mà không mua chuộc, móc nối và biến những người được rao giảng thành đám đông “fan cuồng” của mình.
Bởi có tình yêu, nhà truyền giáo mới không e dè, ngần ngại mời gọi người được truyền giáo tham dự tích cực và thực sự vào đời sống của Giáo Hội, mà không phân biệt kỳ thị hay sợ hãi, bởi “hiệp thông và chia sẻ trách nhiệm trong Giáo Hội” là mục tiêu phải đạt của tiến trình truyền giáo.
Bởi có tình yêu, nhà truyền giáo mới có thể nói với người được rao giảng ngôn ngữ  Tình Yêu của Đức Giêsu, một thứ ngôn ngữ mà ai cũng nói được, cũng hiểu được, vì không ngôn ngữ nào dễ hiểu, dễ nói hơn ngôn ngữ tình yêu, không ngôn ngữ nào lọt sâu trong lòng người, thấm sâu vào đời sống bằng ngôn ngữ của trái tim,  như  đường tình từ trái tim đến trái tim là con đường ngắn nhất, nhanh nhất, hiệu qủa nhất giữa con người.
Vì thế, nhà truyền giáo không yêu người mình rao giảng sẽ không thể thành công, vì không ai muốn nghe người không thương mình nói; không ai dại dột tin người “nói một đàng làm một nẻo”, rao giảng Tin Mừng Tình Yêu Cứu Độ, nhưng hành động như kẻ vô cảm, nhẫn tâm, và tất nhiên  không ai ngu dốt đặt hy vọng nơi người chuyên gieo ảo tưởng, chuyên dệt ảo ảnh, chuyên vẽ vời hão huyền “bánh vẽ tình yêu”, để trục lợi, mưu tìm vinh quang cá nhân.
Tóm lại, khi được gọi và sai đi, nhà truyền giáo nghiễm nhiên phải hiểu: mình được sai đi để loan báo Tin Mừng yêu thương, giới thiệu và làm chứng Thiên Chúa yêu thương, và sứ mệnh này chỉ có thể thực hiện khi chính nhà truyền giáo có khả năng tỏ cho người khác Thiên Chúa yêu thương đang hoạt động trong họ, đang hiện diện và đồng hành với họ trong công việc truyền giáo, để nhà truyền giáo không bị nhìn và bị người được rao giảng nhận ra: họ chỉ là những người nói thuê với ngôn từ hoa mỹ, chữ nghiã rỗng tuyếch, như những loa phóng thanh vô hồn, vô cảm, vì trái tim họ chẳng dành cho ai, tình yêu họ không hướng về Đức Giêsu mà cũng chẳng hướng đến người đang nghe họ rao giảng.
Đừng tưởng người khác nhìn không tỏ, nghe không rõ, nhưng ai cũng có tai, có mắt và khả năng nghe, nhìn không chênh lệch bao nhiêu. Thế nên khi không yêu thương mà giảng Đức Ái; không bác ái mà dậy dỗ yêu thương; không từ tâm, nhân hậu mà lên lớp Tin Mừng Thương Xót; không đơn sơ, giản dị mà huyên náo chuyện khó nghèo Phúc Âm; không qủang đại, hy sinh mà to tiếng thúc đẩy thiên hạ xả thân, đóng góp; không khiêm tốn phục vụ mà diễn qúa sâu kịch bản “rửa chân”; không nhớ đến ai một lần, mà luôn miệng kêu gào phải chia sẻ, cầu nguyện; không dám bỏ mình một gang tấc, quên “cái tôi” một phút giây mà cứ hô hoán “phải từ bỏ, vác thập giá mình”, thì nhà truyền giáo đang tự đánh mất mình, khi trơ trẽn biến mình thành người nói dối, kẻ giả hình rất lố bịch, hợm hĩnh.    
Do đó, được mời gọi lên đường truyền giáo, người được sai đi phải xác tín:
·       Thiên Chúa là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài không thể là một thiên chúa khác, nên yêu thương là lệnh truyền và điều kiện để theo Ngài và được sai đi.
·      Tin Mừng là Tin Vui của Tình Yêu. Tin Mừng ấy không thay mầu đổi sắc để biến thành tin buồn, tin sét đánh, tin thất vọng, tin vu khống, tin hận thù, tin phá hoại, tin vịt cồ, tin nhảm nhí, nên Yêu Thương là ngôn ngữ duy nhất để loan báo Tin Mừng mà người được sai đi loan báo phải được trang bị.
·      Giới luật mới của Đức Giêsu là Tình Yêu “được định nghiã lại”: Yêu thương cả kẻ thù, nên trái tim của nhà truyền giáo phải có chỗ cho kẻ thù, lời cầu nguyện của người được sai đi phải mang cả kẻ ngược đãi, bách hại mình. Nếu không, truyền giáo chỉ còn được coi như tuyên truyền một giáo thuyết, mà không “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19), không nhắm “trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” vì Ngài yêu thương (Mt 5,48).
·      Đối tượng của đức ái được Đức Giêsu xác định là “người nghèo đói, rách rưới, bệnh tật, tù đầy, khách lạ, tỵ nạn, vô gia cư, thấp cổ bé miệng, cô thân, thất thế, yếu đuối bé nhỏ, bị bỏ rơi bị đàn áp”, nên nhà truyền giáo sẽ hoàn toàn phản chứng nếu chỉ chạy theo người có quyền, có của; đồng loã với kẻ gian tham, o bế phường bóc lột, và lệ thuộc, hèn nhát, câm nín trước kẻ nắm bạo quyền sinh sát người lành, kẻ yếu.   
Vâng, Đức Giêsu, Đấng sai nhà truyền giáo đi, cũng là Đấng nhà truyền giáo hết lòng yêu mến, giới thiệu, làm chứng trước muôn dân, và làm cho mọi người trở thành môn đệ Ngài. Ngài là Thiên Chúa nhân hậu, giầu lòng thương xót, Đấng Cứu Độ duy nhất của loài người, Đấng đến trong thế giới, ở giữa nhân loại để yêu thương và cứu chuộc mọi người.
Đó là lý do truyền giáo không thể tách rời Tình Yêu, không thể ở ngoài Tình Yêu, không thể không “nên một trong tình yêu với Đức Giêsu” như cành không thể tách khỏi cây, nếu không sẽ khô héo liền (x. Ga 15,1-8).
Chính Tình Yêu Đức Giêsu làm cho nhà truyền giáo được hiệp nhất với Thiên Chúa, và chỉ trong Thiên Chúa, trong Tình Yêu Đức Giêsu và được Tình Yêu Đức Giêsu thúc bách, nhà truyền giáo mới có khả năng “tỏ cho người khác Đức Giêsu Thiên Chúa” bằng yêu thương họ với chính Tình Yêu được hiệp nhất trong Thiên Chúa, bởi ở ngoài Tình Yêu là Thiên Chúa, là Tin Mừng, là Giáo Lý, là Giới Luật, là Lẽ Sống, là Đối Tượng, là Động Lực, là Con Đường, là Phương Tiện, là Cách Thế, nhà truyền giáo sẽ không làm được bất cứ việc gì, không đem lại bất cứ hoa trái nào cho mình cũng như cho người khác trên đường truyền giáo, trong công cuộc truyền giáo.  
Jorathe Nắng Tím  

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2020

COVID 19 - DẤU CHỈ THỜI ĐẠI (4)

                                                       RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ ƠN BÌNH AN
Giữa tâm dịch Covid-19, chúng ta chung nhau một mẫu số, đó là hoảng loạn, và sợ hãi. Hoảng loạn khi “biết” virút Corona lây lan nhanh và có sức làm chết người; sợ hãi vì “không biết” mình và người thân có vô phúc rơi vào đôi tay gieo chết chóc oan nghiệt với lưỡi hái tử thần của virút không…   
Một cái “biết” làm hoảng loạn, bên cạnh một cái “không biết” làm hoang mang, nên khắp nơi con người chỉ muốn “biết và không biết” những gì làm mình an tâm; và thời nào nhân loại cũng chỉ tìm “không biết và biết” những gì đem lại cho tâm hồn và cuộc sống bốn chữ “Bình An vô sự”. Chẳng thế mà có những lúc chúng ta phải tự dối mình và làm như “không biết”, dù đã biết tai ương, thất bại, khốn khó đang tiến gần và chắc chắn sẽ xẩy ra, để níu kéo đôi phút bình an, vớt vát đôi chút bình tĩnh, để mình không gục ngã, hoặc để tạm thời trấn an người thân trong gia đình…
Thực vậy, bình an qúy giá, nên khó tìm; bình an hiếm hoi, nên vất vả mới có được. Đó là lý do Đức Giêsu đã không nói gì về Bình An trước khi chịu khổ hình và tử nạn, cũng không đề cập đến ơn Bình An khi chưa chết và sống lại. Bằng chứng là chỉ sau khi sống lại, và khi hiện ra với các tông đồ, môn đệ, Ngài mới ban cho các vị Ơn Bình An: “Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa (Ga 20,19-20). 
Chỉ ban Bình An sau khi đã chịu đau khổ, Đức Giêsu muốn nói cho các môn đệ: Bình An chỉ có thể trao tặng người khác, khi người trao ban Bình An đã nhọc nhằn hy sinh vì yêu thương, vì Bình An là hoa trái của Tình Yêu, nên Bình An không thể trổ hoa, kết trái ở ngoài tình yêu hy sinh, quên mình; chỉ ban Bình An của Ngài cho các tông đồ, Đức Giêsu muốn nhấn mạnh: Bình An không dễ có để trao ban, bởi Bình An là chính cuộc đời được dâng hiến vì yêu thương của mình, Bình An là tình yêu bản thân, tình yêu “cái tôi” được biến thành lễ tế chuộc lỗi, xóa tội người mình yêu, và là quà tặng hạnh phúc đích thực; chỉ chúc phúc Bình An cho các môn đệ sau khi sống lại từ cõi chết với các thương tích còn nguyên trên mình, Đức Giêsu khẳng định: lời chúc Bình An chỉ có giá trị cứu rỗi, chỉ mang lại niềm vui sống lại, chỉ ban nguồn sống phục sinh, khi Bình An được cưu mang trong mồ hôi máu của buổi tối cầu nguyện ở Ghếtsêmani, lớn lên trong nước mắt của tra tấn, đòn vọt tại dinh Caipha, Hêrôđê và Philatô, nẩy mầm trên đường vác thập tự, và trổ hoa, kết trái trong nức nở vì bị bỏ rơi, trong vật vã vì khát nước, trong đau đớn vì đinh nhọn, lưỡi đòng giờ hấp hối cực kỳ tang thương trên Thánh Giá giữa hai can phạm cùng chung án tử hình đóng đinh.
Đức Giêsu còn đi xa hơn khi hiện ra với Tôma tám ngày sau, và bảo ông: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy” (Ga 20,27), để qủa quyết một điều mà các môn đệ Ngài phải ghi lòng tạc dạ, đó là Bình An chỉ có thể được trao ban, hiến tặng cho người khác như Bình An thật và đến từ Đức Giêsu phục sinh, khi Bình An ấy được ươm trồng bằng máu yêu thương của chính trái tim, được nuôi lớn nhờ hy sinh của tình yêu chăm sóc, và sinh sôi nẩy nở trong chính cuộc đời dầy dạn kinh nghiệm khổ đau vì yêu thương của người môn đệ.
Do đó, sẽ không có Bình An, nếu không có Tình yêu được trao ban cùng lúc; không có Bình An đích thực nếu Tình Yêu từ trái tim người trao ban Bình An là tình yêu giả dối, lừa gạt; không có Bình An đem lại hạnh phúc, nếu tay người trao ban Bình An mang nanh vuốt của ích kỷ, ganh ghét, đố kỵ; không có Bình An của Đức Giêsu được trao ban cho nhân loại từ người môn đệ vô cảm, thiếu lòng thương xót, không biết chạnh lòng; không có Bình An của Thiên Chúa, nếu nhà truyền giáo chỉ hau háu trục lợi, nhẫn tâm hy sinh người khác vì mình, và tránh né những cơ hội, hoàn cảnh phải qủang đại dấn thân, chịu thiệt thòi vì người khác.
Thực vậy, trong bất cứ thời  thuận tiện hay không thuận tiện nào, việc rao giảng Tin Mừng là bổn phận chính yếu của người Kitô hữu. Nhưng rao giảng thế nào, để Tin Mừng là Tin Mừng phục sinh, Tin Mừng Chúa đã sống lại, Tin Mừng Đức Giêsu là niềm vui ơn cứu độ của mọi người, mà không phải là Tin Mừng không vui, Tin Mừng bất an, bất ổn, Tin Mừng hoảng lọan, hoang mang, Tin Mừng đe dọa, lo sợ? 
Đã đành phải rao giảng mọi nơi, mọi lúc, bằng nhiều cách thức, phương tiện, miễn sao phù hợp; rao giảng cho người trong gia đình, láng diềng quen biết, đồng nghiệp cùng sở làm; rao giảng qua lời nói, chữ viết, nhờ các phương tiện truyền thông thời đại…, nhưng quan trọng hơn cả là rao giảng Tin Mừng bằng làm chứng đời sống người tín hữu đầy tình bác ái, trái tim người Kitô hữu có Đức Giêsu giầu lòng thương xót, nhân hậu, bao dung, và con đường Thánh Giá yêu thương gập ghềnh gian khổ, trên đó người vác ngã lên ngã xuống vì bị dập vùi; ù tai, mờ mắt vì những lên án, thị phi; te tua, tơi tả vì roi đòn, xỉ nhục với duy nhất một ước mong được yêu thương đến cùng như Đức Giêsu, để đem lại Bình An Phục Sinh của Ngài cho mọi người.
Bởi nếu Tin Mừng được rao giảng, mà thiếu yêu thương, Tin Mừng sẽ không là Tin Mừng Sống Lại với ơn Bình An của Đức Giêsu; bởi nếu Tin Mừng được loan báo mà tim người loan báo cạn khô đức ái, thì Tin Mừng sẽ không mang đến ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh; bởi nếu Tin Mừng được giới thiệu đến mọi người mà thiếu mão gai, đinh sắt, lưỡi đòng của Thập Giá tình yêu, thì Bình An được trao ban sẽ không là Bình An đích thực, Bình An của Đức Giêsu đã chết và sống lại, Đấng Cứu Độ, vì một lý do duy nhất: Bình An là hoa trái của Tình Yêu, và Tin Mừng chỉ đáng mừng, làm cho vui mừng, khi Thiên Chúa ban bình an cho con người đang hoảng loạn, lo sợ; khi con người  nghe được tin Thiên Chúa là Tình Yêu cứu giúp họ, và biết chắc họ được Thiên Chúa yêu thương, ban Bình An.
Vì thế, tận thâm tâm người môn đệ khi loan báo Tin Mừng, cũng như nhà truyền giáo khi rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh phải sáng lên tình yêu hy sinh, quên mình, được  biểu hiện qua ý muốn và nỗ lực mưu tìm Bình An đích thực cho người được rao giảng, vì mục đích của việc loan báo Tin Mừng là trao ban Bình An của Đức Giêsu phục sinh cho người khác, bởi không bình an, Tin Mừng làm sao còn là tin mừng, tin vui, vì trong hoảng loạn, lo sợ, sầu buồn, đau khổ, con người khao khát  Bình An, đi tìm bến đỗ An Bình, chạy đến Đấng là Nguồn Bình An.   
Không quan tâm đến nỗ lực kiến tạo và đem lại Bình An cho người được loan báo, rao giảng, nhà truyền giáo sẽ làm người khác thất vọng nhiều hơn hy vọng, khi Bình An không hiện diện trong Tin Mừng, không có mặt trong “đời sống chứng nhân” của nhà truyền giáo. Nói cách khác, khi nhà truyền giáo không là dấu chỉ Bình An của Đức Giêsu phục sinh, các vị sẽ  không mang  Bình An của Đức Giêsu hiền lành và khiêm nhường vào  tâm hồn, gia đình người khác, bởi chính tâm hồn nhà truyền giáo không khao khát ơn Bình An cho chính mình và cho người mình rao giảng, cũng như không tìm kiếm Bình An như hoa trái trổ sinh từ tình yêu hy sinh.  Và chuyện buồn phải xẩy ra, tin buồn phải tới, khi  bình an vắng mặt  để nhường chỗ cho bất an, khi hoà bình vắng bóng để bàn giao cho chiến tranh, khi trái tim khô cạn tình yêu để  hận thù xâm chiếm, khi đường truyền giáo mất hướng Bình An để thay bằng  mê lộ bất an, tuyệt vọng.
Như các môn đệ đã đóng kín cửa, vì sợ người Do Thái, thế giới cũng đang đóng chặt cửa nhà mình, khóa kỹ cửa lòng mình vì sợ đại dịch Covid-19; như các môn đệ lo sợ bị người Do Thái truy lùng, bắt bớ, hàng tỷ người trên địa cầu cũng đang hoảng sợ vì tính mạng bị virút đe dọa; như các môn đệ đã khao khát bình an, con người hôm nay đang  ước mơ được sống những ngày êm ấm, an ổn, thoát nguy hiểm đại dịch, để rồi chính trong trong hoàn cảnh bất an, ở vào tình trạng bị đe dọa, và tâm trạng hốt hoảng, lo sợ, Đức Giêsu phục sinh đã đến giữa các môn đệ và ban cho các ông ơn Bình An của Ngài.
Với Đức Thánh Cha Phanxicô, tối nay (19/3/2020), lễ thánh Giuse, Đức Thánh Cha cũng nhắc đến sáng kiến 24 giờ dành cho Chúa. Ngài nói: “Thứ Sáu và thứ Bảy 20-21/03 tới đây là ngày cử hành sáng kiến 24 giờ dành cho Chúa. Đây là một sự kiện quan trọng của Mùa Chay để cầu nguyện và đến với bí tích Hòa giải (Vui lòng xem chi tiết: https://www.vaticannews.va/vi/pope/news/2020-03/dtc-phanxico-cau-nguyen-thanh-giuse-virus-corona.html). Chúng ta cùng lần chuỗi cầu nguyện để nài xin Thiên Chúa cứu thế giới khỏi giông tố nguy hiểm, đưa nhân loại ra khỏi cơn lốc xoáy khủng hoảng và qua những chứng nhân Tin Mừng được Chúa sai đến, xin cho hết mọi người Ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh giữa tâm đại dịch.     
Jorathe Nắng Tím  

MÙA CHAY TRUYỀN GIÁO (11)


                               Suy Niệm 11: TRUYỀN GIÁO PHÒNG THỦ
Lịch sử Giáo Hội cũng như lịch sử Israel đều chung một đặc điểm là có nhiều vết xám loang lổ, những vết xám của yếu đuối, bất trung, sai lạc và lầm lỗi.
Tuy cùng là dân đựợc Thiên Chúa chọn để sống theo giáo huấn của Ngài, nhưng vì là lịch sử của con người, lịch sử được làm nên bởi con người, nên Israel cũng như Giáo Hội đã không thiếu những thăng trầm của đoàn lữ hành trên đường dài vạn dặm, những giai đọan tha thiết trung thành bên những năm tháng thờ ơ phản bội, những bình minh hạnh phúc khi Giao Ước với Thiên Chúa được tôn trọng, và những đêm đen bất hạnh khi thay thế Thiên Chúa bằng ngẫu thần.
Riêng Giáo Hội, một Giáo Hội mà sự bền vững được công khai bảo đảm bởi chính Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghiã là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18) cũng nhiều lần, nhiều cách, ở nhiều thời điểm của lịch sử đã không tránh khỏi những vấp ngã nặng nề, gương xấu tai hại, sai lầm chống lại Tin Mừng, và ngược với ý muốn của Đấng Sáng Lập.
Sống lại những chặng đường đen tối của Giáo Hội, chúng ta nhận ra một điểm khá quan trọng : một trong những nguyên nhân đã đem lại tình trạng không tốt đẹp cho Giáo Hội, đó là chủ trương một Giáo Hội phòng thủ, khi Giáo Hội dồn mọi nỗ lực củng cố hệ thống cơ cấu tự vệ, mà quên “đi ra, đi xa, đi  khắp nơi” như lệnh lên đường truyền giáo của Đức Giêsu: “Chúng ta hãy sang bờ bên kia” (Mc 4,35), “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15).
Khi chỉ say mê củng cố Giáo Hội như pháo đài, với những cơ cấu tuyệt vời, hệ thống tổ chức hoàn hảo, quy chế hành chánh chặt chẽ, luật lệ nội bộ kín kẽ, thì Giáo Hội sẽ dễ bỏ quên sứ mệnh truyền giáo, và biến dần thành một Giáo Hội với khuynh hướng phòng thủ, tự vệ.  
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội “đóng kín cửa, vì sợ”: sợ người Do Thái như các môn đệ ngày xưa, sau khi Thầy bị tử hình đóng đinh, nay Giáo Hội sợ người lạ, sợ tư tưởng lạ, sợ những đổi mới của thời đại, sợ những phản biện của đám đông, sợ cả ý kiến của chính những người trong hàng ngũ của mình.  
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội khép kín trái tim vì sợ phải thương xót, vì thương xót là một việc không luôn đem lại thoải mái, lợi nhuận, nhưng luôn làm nặng lòng, đau lòng.
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội nhắm mắt vì sợ đối diện nhiều người không thích mình, bất đồng ý kiến, chống phá mình, làm mình phải nhức đầu, bực bội.
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội khoanh tay, vì sợ phải mở cửa nhà mình cho những con người bất toàn, bất hảo, bất chính thường đem đến cho mình nhiều phiền phức, rắc rối, bất lợi.
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội tự buộc chân mình, để không phải đi đâu, đến với người nào, vì ở ngoài Giáo Hội phần đông là những con người “không biết điều, không ra làm sao”, khó thương, khó bảo, khó trị.
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội bịt tai không muốn lắng nghe, vì “bảo thủ” với những gì mình có, và “cố chấp” không muốn lắng nghe “người ngoài” để khỏi bị phân tâm, rối trí, mất phương hướng, mất lập trường.   
Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội “ao tù” vì không giao lưu với các con suối, giòng sông, đại dương, và ngột ngạt vì thiếu dưỡng khí trong lành, do bịt kín, đóng chặt, vì sợ lây nhiễm vi-rút do gặp gỡ, trao đổi, chung đụng.
Giáo Hội phòng thủ còn là Giáo Hội “ốc đảo”, muốn một mình sung túc, thịnh vượng, giữa đại dương bao la của thiếu thốn, nghèo nàn hay gây nhiều phiền toái.         
Vì não trạng phòng thủ, vì lối sống tự vệ, Giáo Hội sẽ biến thành một pháo đài chiến đấu, bởi người ta phải chiến đấu nên mới phòng thủ, nhắm tới cuộc chiến mới phải cẩn mật đề phòng, nên có phòng thủ tất phải có chiến đấu, có tự vệ tất phải có tấn công. 
Cũng thế, vì phải chiến đấu, người ta bắt buộc phải ở trong tình trạng phòng thủ, tự vệ liên tục ngày đêm. Và khi phải liên tục phòng thủ như thế, chuyện rời bỏ pháo đài, ra khỏi lô cốt để “qua bờ bên kia”, tức liều lĩnh, mạo hiểm ra xa, ra sâu, rời căn cứ an toàn được kiên cố xây dựng và cẩn mật bảo vệ sẽ là một chuyện rất khó thực hiện, vì ai nấy đều sợ rủi ro, nguy hiểm.
Tin Mừng Máccô làm chứng: sứ mệnh “qua bờ bên kia”, bài sai “ra xa, ra sâu” là một thách đố rất lớn: Khi thuyền các môn đệ vừa rời bến để đi qua bờ bên kia, thì “một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi đầy nước” (Mc 4,37). Và các môn đệ phải một phen thất kinh, hoảng sợ phải đánh thức Đức Giêsu dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi...” (Mc 4,38).            
Chính vì nguy hiểm, nhiều đe dọa và thường xuyên ở vào “thời không thuận lợi”, mà truyền giáo trở thành một công tác khó khăn, dễ làm “nản lòng chiến sĩ”, dù đó là bổn phận chính yếu của người chiến sĩ đức tin. Và khi truyền giáo mang về tâm trạng lo lắng vì khó khăn, sợ sệt vì nguy hiểm, hoang mang vì phải xa pháo đài an toàn, người Kitô hữu sẽ đi vào khuynh hướng thích xây dựng cơ cấu bảo vệ đức tin hơn làm chứng đức tin, mong muốn ở gần “nhà thờ” với đồng đạo hơn đến với với người chưa quen, giữa chốn xa lạ .
Vì thế, “ra đi” càng xa xôi, “ra xa” càng phức tạp, “ra sâu” càng nhiều sóng gió, người tín hữu càng muốn ở lại bờ, bám trụ cơ sở, canh gác đồn bót, bảo vệ tổng hành dinh, phòng vệ phủ toàn quyền; cũng như “lên đường” càng nhiều đe dọa, người có đạo càng ngại ngùng, do dự, vì ở nhà bảo vệ “ấp chiến lược” giáo xứ, giáo họ, giáo phận vẫn an toàn hơn, bám chặt cơ chế, tổ chức vẫn vững tâm hơn phải lên thuyền ra khơi, phải mạo hiểm lên đường.  
Cũng vì “ở bên ngoài” nhiều nguy hiểm, nhiều chống đối, nhiều lạnh lùng và “bờ bên kia” nhiều sóng gió, nhiều đe dọa, nhiều bất ngờ bất lợi, mà người tín hữu dễ bị đẩy vào tâm trạng lo ngại cho chính sự bền vững của pháo đài cơ cấu, và từ đó, tinh thần giữ đạo kiểu phòng thủ, truyền giáo kiểu tự vệ theo thời gian sẽ ăn sâu, đậm nét, sói mòn tinh thần truyền giáo đích thực, vì một ý nghĩ tiêu cực, rất sai lầm và nguy hiểm: nếu mình không cẩn thận phòng thủ, thì có ngày pháo đài đức tin kiên cố sẽ bị lung lay, sụp đổ.
Rơi vào tình trạng đức tin phòng thủ, cũng là giữ đạo kiểu tự vệ, người tín hữu sẽ không chỉ rơi vào tình trạng co cụm giữa “mình với mình, người mình với người mình, đạo mình với đạo mình”, mà còn rơi vào lối sống đức tin kiêu căng: cho mình là chính quy, chính thống, chính danh, chính thực, để độc quyền chân lý, độc đoán phán xét, độc tài cai trị. Vì thế mới có những bước chân sai lầm của “thánh chiến”, “toà án dị giáo”, “dàn hoả thiêu” làm méo mó dung mạo Đức Giêsu nhân hậu, làm sai lệch Tin Mừng cứu độ, làm thất vọng nhiều tâm hồn khắc khoải đi tìm Thiên Chúa của lòng thương xót.
Đức tin phòng thủ, tự vệ còn làm nghèo nàn, cằn cỗi, suy yếu Giáo Hội, vì thiếu sức sống của Chúa Thánh Thần, bởi Thánh Thần chỉ ban sức sống của Ngài khi cửa nhà Giáo Hội được mở ra để người tín hữu ra đi, nhà truyền giáo lên đường “làm cho muôn dân trở thành môn đệ”, vì chỉ khi đó việc “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” mới có hiệu qủa (Mt 28,19).
Thực vậy, người tín hữu chủ trương lối sống đức tin phòng thủ, tự vệ không thể là người Kitô hữu như ý Chúa muốn, vì họ không sống tinh thần truyền giáo đích thực, bởi đã truyền giáo thì phải bỏ nhà ra đi, như các môn đệ bỏ mọi sự của mình, thuộc về mình mà đi theo Đức Giêsu lên đường  truyền giáo ; bởi đã truyền giáo thì không thể ở lì trong nhà, cố thủ pháo đài đức tin, nhưng phải đi ra ngoài, lao mình vào thế giới  đông người, xô bồ, hỗn tạp để gặp gỡ, làm quen và làm chng; bởi truyền giáo là đến với người khác, không để áp đặt một đức tin kiểu càn quét, xâm lăng, chiếm hữu, độc quyền, nhưng để giới thiệu bằng làm chứng với một tinh thần yêu mến, tôn trọng tự do và thái độ thân thiện, huynh đệ, bình đẳng.
Như thế, nhà truyền giáo phải tránh não trạng phòng thủ khi loan báo Tin Mừng, tránh thái độ loại trừ, tự vệ khi rao giảng Đức Giêsu, vì phòng thủ sẽ không thể hồn nhiên, thân thiện và cởi mở khi gặp gỡ; loại trừ, tự vệ sẽ dè dặt, đề phòng, ngờ vực hết mọi người, mà Tin Mừng thì phổ quát, và Đức Giêsu chịu đóng đinh là Đấng Cứu Độ duy nhất của toàn thể nhân loại.
Với não trạng phòng thủ, nhà truyền giáo sẽ mang cùng một lúc hai thái độ: một là kiêu căng, ích kỷ, vì không muốn mở ra cho ai, chia sẻ, thông ban cho người nào; hai là loại trừ, hiếu chiến, khi nhìn người khác với đôi mắt nghi ngại, thiếu tin tưởng, thân thiện, do ý nghĩ phải cẩn trọng phòng thủ để bảo vệ bằng mọi giá pháo đài đức tin, mà không tin vào đường bay không biên giới của Chúa Thánh Thần.
Thánh sử Máccô rất tinh tế khi liên tiếp thuật lại việc Đức Giêsu bảo các môn đệ “ra khơi”. Lần thứ nhất, ở chương 4, thánh sử kể: “Hôm ấy khi chiều đến, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Chúng ta sang bờ bên kia đi!” (Mc 4,35). Thế rồi sóng gió nổi lên, mà Ngài vẫn ngủ, cho đến khi các môn đệ hoảng hốt đánh thức dậy, Ngài đã truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!” (Mc 4,39). 
Lần thứ hai lý thú hơn dưới ngòi bút của thánh sử:“Lập tức, Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia về phía thành Bếtxaiđa trước, trong lúc Người giải tán đám đông. Sau khi từ biệt các ông, Người lên núi cầu nguyện. Chiều đến, chiếc thuyền đang ở giữa biển hồ, chỉ còn một mình Người trên đất. Người thấy các ông phải vất vả chèo chống, vì gió ngược, nên vào khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông…” (Mc 6,45-48).
Lần trước thì Ngài cùng ở trên thuyền với các ông, nhưng lần này thì Ngài để các ông “qua bờ bên kia” mà không có Ngài. Cả hai lần biển đều không êm ả: lần trước thì sóng gió nổi lên dữ dội, lần sau thì “vất vả chèo chống vì gió ngược”. Như thế, mỗi lần “qua bờ bên kia” là phải gặp khó khăn; mỗi lần ra xa, ra sâu là phải  vất vả đối phó với nhiều rủi ro, nguy hiểm; mỗi lần ra khỏi bờ là nơi quen thuộc, an toàn, người môn đệ phải đi vào gian truân, thử thách.
Biết thế, nhưng Đức Giêsu vẫn muốn và “bắt” các môn đệ Ngài phải ra đi, phải ra xa, ra sâu, “qua bờ bên kia”, sang chỗ mới, đến nơi xa lạ, mà không cho các ông ở lì một chỗ, cắm dùi lâu, mọc rễ sâu ở một nơi quen biết, một chỗ an toàn, thuận lợi. Bằng chứng là Tin Mừng đã ghi rõ: “Lập tức, Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia” (Mc 6,45).
Điều này nói lên đòi hỏi của truyền giáo là phải đi ra khỏi nơi an toàn như pháo đài mình đã xây dựng, củng cố để được an thân, an toàn tính mạng, an hưởng cuộc sống. Trái lại, không “qua bờ bên kia”, không lập tức xuống thuyền ra khơi, cả khi trời đã về chiều, và gió ngược phải vất vả chèo chống, người theo Đức Giêsu không thể trở thành môn đệ đích thực của Ngài, vì đã là môn đệ  thì phải can đảm “qua bờ bên kia”, dù sóng gió đang đợi chờ, bão táp đang rình rập đe dọa.
Mức độ quyết liệt của Đức Giêsu khi “bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia” cũng nói lên đòi hỏi phải “mở ra, đến với, lao mình vào”, nhất là tinh thần từ bỏ tất cả, kể cả những bó buộc đôi khi được coi là cần thiết như cơ chế, bởi khi bị trói buộc qúa chặt vào cơ chế, cơ cấu, người môn đệ sẽ không đủ liều lĩnh của “hồn tông đồ” để có thể xả thân ra khơi tung lưới, mà không ngậm ngùi tiếc nuối, so đo, phân bì, ngần ngại, bởi trong mọi tình huống, phục vụ cơ cấu, xây dựng pháo đài vẫn là chỗ đứng an toàn, chỗ ở an thân, chỗ dựa an ổn mà phần đông vẫn mong đợi, tìm kiếm.  
Tuy thế, Đức Giêsu đã không “vắng mặt” trên hành trình “qua bờ bên kia” của các môn đệ được Ngài sai đi. Lần đầu Ngài có mặt và ngủ. Lần sau đích thân Ngài “đi trên mặt biển đến với các ông”. Các ông vì tưởng Ngài là ma nên hoảng hốt. Sau khi trấn an các ông : “Chính Thầy đây, đừng sợ! Người lên thuyền với các ông và gió liền lặng” (Mc 6,50-51).
Vâng, hành trình “qua bờ bên kia” dù là đường sông, đường biển, đường bộ hay đường hàng không cũng đều là đường vất vả, chông gai, nhiều cam go, thử thách mà nhà truyền giáo luôn biết trước, vì được Đức Giêsu cảnh báo. Nhiều thử thách vì đến một nơi xa lạ; nhiều cam go, vì gặp những con người mới mà không hề biết phản ứng của họ ra sao; nhiều chông gai vì sứ mệnh không dễ dàng; nhiều vất vả vì những giới hạn của chính bản thân.
Nhưng với Đức Giêsu, Đấng sai đi, nhà truyền giáo sẽ không run sợ, dù có lúc hốt hoảng, hoang mang; sẽ không thoái lui, bỏ cuộc, dù đôi khi chán nản, thất vọng; sẽ không nao núng, gục ngã, vì biết “Thầy sẽ thức dậy và ngăm đe gió và truyền cho biển: Im đi! Câm đi!” (Mc 4,39), cũng như Thầy sẽ đi trên biển đến gặp, lên thuyền và gió im hơi lặng tiếng (x. Mc 6,48.51).  
Tóm lại, nhà truyền giáo không thể nuôi chủ trương xây dựng một Giáo Hội phòng thủ, vì Tin Mừng không là sở hữu để “thủ riêng”, kho tàng cất giấu, nhưng là hạt giống phải được hào sảng gieo vãi khắp nơi, Nước Trời không là sản nghiệp của một nhóm, một đoàn thể, nhưng là Hạnh Phúc Thiên Chúa ban cho hết mọi người, và Đức Giêsu không là “của riêng” ai, nhưng là Đấng Cứu Độ của toàn thể nhân loại.
Và chỉ một tinh thần “mở tung mọi cánh cửa ra bên ngoài cho thế giới”, thái độ “không sợ hãi đến với mọi người, nếp sống đạo “không phòng thủ đức tin như củng cố một pháo đài chiến đấu”, nhà truyền giáo mới thực sự truyền giáo, vì chỉ như thế, nhà truyền giáo mới dám “xuống thuyền qua bờ bên kia, để Tin Mừng đến được với muôn dân, và Đức Giêsu trở nên “Tấm Bánh được bẻ ra” cho mọi người “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Jorathe Nắng Tím