Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2020

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (7)

CHẾT CHO NGƯỜI MÌNH YÊU
Như nhiều người, tôi đã nhiều lần tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa phải chết? Bởi nếu Đức Giêsu là Thiên Chúa thì Ngài dư quyền năng, đủ quyền phép để không phải chịu đóng đinh, mà vẫn cứu chuộc được nhân loại. Tôi đã thắc mắc như những  người Do Thái năm xưa đã thắc mắc, trong số đó có các môn đệ của Đức Giêsu.
Qủa thực, câu hỏi của bao người từ hơn hai ngàn năm nay, cũng là vấn nạn của người trẻ hôm nay: Cuộc thương khó và tử nạn của Đức Giêsu trên Thánh Giá có thực sự cần thiết không?
Vì cho là không cần thiết, nên tông đồ Phêrô mới vội vàng lên tiếng can ngăn:   
“Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 16,22), khi Đức Giêsu loan báo sẽ lên Giêrusalem, ở đó “phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21); vì cho là cực kỳ phi lý một Thiên Chúa phải chết bởi tay con người, nên nhiều môn đệ đã ngã lòng, trốn chạy, bỏ rơi Thầy; vì không thể tin nổi một Thiên Chúa mà chịu treo trần truồng trên thập giá, mà không thể tự cứu mình, mà đám đông mới bực mình hỏi đểu: “Nếu mi là Con Thiên Chúa, thì xuống khỏi thập giá xem nào!” (Mt 27,40); và cũng vì không thể lý giải sự kiện Thiên Chúa chết, mà nhiều người của thời đại thực dụng đã cho rằng Đức Giêsu đã tự nguyện chọn cái chết như một cách thức tự tử, khi biết mình hết thời, bị hoàn toàn bế tắc, rơi vào hoàn cảnh “tiến thoái lưỡng nan”, khi tứ phía đối phương bao vây, xiết chặt, như nhà lãnh tụ cách mạng bị dồn vào đường cùng, tướng quân thất thủ trên trận địa, nên thay vì đầu hàng đã chọn phương án tự sát.  
Những ý nghĩ về cuộc thương khó và cái chết của Đức Giêsu trên có thể không sai, nếu Đức Giêsu chỉ là con người, mà không phải Thiên Chúa. Nói cách khác, trên bình diện nhân loại, người ta có thể suy diễn như vậy, và Đức Giêsu cùng lắm sẽ được tôn vinh là một người khí phách, can trường đi đến cùng đường lối, chủ trương, lý thuyết của mình được chứng minh bằng cái chết tự nguyện. Nhưng với đức tin và giáo huấn của Giáo Hội, chúng ta nhìn nhận liền sau cái chết “nhân tính” của Đức Giêsu là sự phục sinh “thiên tính” của Ngài, vì Ngài là Thiên Chúa làm người. Ngài là Tất Cả: là Thiên Chúa đã đau khổ, bị bỏ rơi, chịu đóng đinh, rồi sống lại. Sự sống lại đã cho cuộc sống trần gian của Ngài một ý nghiã và chiếu sáng sự sống nhân loại ấy bằng ánh sáng của Tình Yêu Cứu Độ.
1.   Hiến mạng sống vì người mình yêu:
Nghiã cử này không lạ với con người, như người mẹ sẵn sàng chết thay con, vợ hy sinh chết cho chồng, người chiến sĩ chết vì đất nước, quê hương, đồng bào. Nhưng hành động can trường bỏ mình, tự nguyện mất mình, xoá mình ấy cần một lý do, một động lực, một mục đích, như sống thì phải có “lẽ sống”, chết cũng cần một “lẽ chết”, nếu không cuộc sống sẽ vô nghiã, và cái chết cũng vô lý, vô vị.
“Lẽ chết” của những cái chết tự nguyện chính là tình yêu dành cho người mình yêu, như mẹ chết thay con vì yêu con, vợ chết cho chồng vì yêu chồng, tình nhân chết cho nhau vì yêu nhau, người lính chết ngoài mặt trận vì yêu quê hương, đồng bào. Không tình yêu, không ai dại dột mất mạng, toi mạng, bởi không ai điên khùng, vô duyên đến độ chết cho người mình không quen biết, không thân thiết, không yêu thương.
Và Đức Giêsu đã hiến mạng sống mình vì tình yêu, như những người yêu nhau đã chết cho nhau, vì nhau, khi nói với các môn đệ trước khi lên Giêrusalem để chịu bắt bớ, hành hình: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13), bởi ngoài cái chết, không còn cách nào để bầy tỏ tình yêu vô cùng và đến cùng của Thiên Chúa dành cho con người, không lời nào, việc làm nào đủ sức thuyết phục con người tin ở tình yêu bao la, vô tận của Thiên Chúa  đối với mình.
Như thế “lẽ chết” của Đức Giêsu chính là yêu con người, vì tình yêu Thiên Chúa mới cứu chuộc, chứ không phải đau khổ đã cứu chuộc, bởi đau khổ mà thiếu tình yêu, đau khổ không vì yêu thương, thì đau khố ấy chỉ làm con người bất hạnh nhiều hơn, nặng hơn gánh sầu, và tăng thêm khốn nạn cho nhân loại, mà không mang một giá trị cứu rỗi nào. 
2.   Hiến mạng sống mình vì sự sống của người mình yêu:
Không ai chết cho người không cần sống, như người mẹ chỉ chết cho con, khi bà biết cái chết của bà sẽ cho con bà được sống, và cái chết tự nguyện ấy được gọi là  cái chết thế mạng. Cũng như người vợ trong tiểu thuyết “Anh phải sống”  của nhà văn Khái Hưng thuộc nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã nói lên tình yêu hy sinh vĩ đại của chị Lạc, vợ anh phó Thức khi lẳng lặng buông tay khỏi vai chồng, chấp nhận bị cuốn trôi theo giòng nước lũ, “chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ”, để chồng được sống, khi thấy chồng không còn đủ sức xốc nổi mình nữa.   
Đức Giêsu cũng chết vì sự sống của con người, bởi cứ theo lẽ thường, thì con người phải chết, nghiã là sau khi nguyên tổ phạm tội, con người mất quyền làm con Thiên Chúa. Không còn là con, nên mất quyền thừa kế, không được dự phần hạnh phúc trong nhà Cha. Đó là lý do con người không có sự sống siêu nhiên trong Thiên Chúa, không có sự sống vĩnh cửu trong nhà Cha trên trời, không có đời sau vĩnh hằng trong vinh quang của Thiên Chúa sau khi lìa cõi đời tạm bợ, ngắn ngủi trên trần gian.
Vì thế, nếu không có cái chết thế mạng của Con Thiên Chúa, con người không thể hoà giải với Thiên Chúa, Đấng con người đã xúc phạm, khước từ; không có cái chết chuộc mạng của Đức Giêsu, nhân loại không thể nối lại được ân tình với Thiên Chúa; không có tình yêu hiến mạng của Ngôi Lời nhập thể, con người không được sống sự sống đời đời của Thiên Chúa, như Tin Mừng Gioan đã ghi lại lời Đức Giêsu: “Tôi là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên”, “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10-11), bởi “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1 Ga 4,9).
Cũng qua cái chết của Đức Giêsu, chúng ta khám phá bản chất đích thực của tội. Tội không chỉ là những vi phạm, làm tổn thương ở mức độ bình thường, nhưng tội  giết chết Thiên Chúa trong tâm hồn người có tội. Do đó, tội trở thành vấn đề sống chết đối với con người, bởi khi tội lỗi thống trị, con người không có sự sống của Thiên Chúa, khi tội lỗi chiếm cứ tâm hồn, Thiên Chúa phải lánh mặt và con người bị giam cầm trong bóng tối tử thần. Đó chính là lý do, để cứu con người có tội khỏi chết, Đức Giêsu đã phải chết để thế mạng, hầu con người tìm lại ánh sáng sự sống.
3.   Hiến mạng sống mình vì hạnh phúc của người mình yêu:
Hạnh phúc lớn nhất của con người là biết mình được Thiên Chúa yêu thương, bởi “được Thiên Chúa yêu thương”, con người biết mình sẽ không lo sợ gì, không phải thiếu thốn chi, vì Thiên Chúa là người cha toàn năng, nhân hậu và quan phòng, không để con cái mình phải đói rách, cơ hàn (x. Mt 6,25-34).
Nhưng để nhận ra tình cha của Thiên Chúa luôn quan tâm lo lắng cho hạnh phúc của con cái, con người chỉ có thể cảm nghiệm tình yêu ấy khi chiêm ngắm cái chết của Đức Giêsu. Chính nhờ cái chết “bất hạnh” của Ngài, mà con người được trả lại hạnh phúc đã mất do tội lỗi; chính qua cái chết “tang thương, bẽ bàng” của Ngài, mà con người tìm lại được thiên đàng đã đóng cửa. 
Trong cái chết và phục sinh của Đức Giêsu, con người không còn lo sợ sẽ phải chết đời đời là bất hạnh lớn nhất, bởi chỉ hai chữ đời đời thôi cũng đủ làm con người sợ hãi, do khao khát bất tử tiềm tàng trong bản tính con người, bởi con người được sinh ra từ cung lòng Thiên Chúa là Đấng hằng sống, vô thủy vô chung.
Không những cái chết của Đức Giêsu đã chuộc lại sự sống đã mất, mà sự phục sinh của Ngài còn bảo đảm sự sống mới bất diệt của con người. Đó là hạnh phúc lớn mà con người nhận được từ cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu.
Ngoài hạnh phúc được sống sự sống đời đời của Thiên Chúa, vì được Đức Giêsu  xóa hết tội và trả lại quyền làm nghiã tử của Thiên Chúa, con người còn nhận ơn Bình An của Đức Giêsu, mà chỉ sau khi sống lại Đức Giêsu mới chính thức ban cho các môn đệ của Ngài, bởi đó là ơn Bình An của Thiên Chúa đã chết và sống lại, ơn Bình An mà thế gian không ban được. Đó là Bình An cho tâm hồn được hoàn toàn giải phóng khỏi ách nô lệ của tội lỗi, khi được Máu Thiên Chúa rửa sạch mọi tội khiên, lỗi lầm.   
Nhận ơn bình an từ Đức Giêsu chịu đóng đinh đã sống lại, chúng ta sẽ không xao xuyến trước những thử thách của cuộc đời, không sầu tủi vì nghèo hèn, chán nản vì bị khinh chê, nao núng, ngã lòng vì bị truy lùng, bách hại, nhưng bình an trong mọi hoàn cảnh, bình an trong mọi thử thách, và vui mừng hớn hở vì phần thưởng Thiên Chúa dành cho trên trời thật lớn lao (x. Mt 5,12).
Qủa thực, Yêu là mong ước và nỗ lực đem lại hạnh phúc cho người mình yêu, và đối nghịch với Yêu là Thù khi chỉ muốn và làm mọi cách để kẻ thù phải khổ sở, bất hạnh.
Thiên Chúa yêu thương nên tìm mọi cách cho con người hạnh phúc với Ngài, ngay cả khi con người tự ý khước từ hạnh phúc, tự mình cắt đứt, cách ly với nguồn hạnh phúc là Thiên Chúa, tự nguyện rời xa hạnh phúc địa đàng như ông bà nguyên tổ đã nghe Rắn Độc ăn qủa Thiên Chúa cấm. 
4.   Hiến mạng sống để làm theo ý Chúa Cha:
Đức Giêsu không tự ý mình chọn cái chết, như nhiều người quy tội tự tử, quyên sinh cho Ngài, nhưng “tự nguyện chịu khổ hình và chịu chết”, vì tự nguyện vâng lời Thiên Chúa Cha, Đấng sai Ngai xuống thế gian với một sứ vụ là thế mạng cho con người, chuộc mạng cho loài nguời, để mọi người được sống đời đời.
Hình ảnh đổ mồ hôi máu trong vườn Cây Dầu trước giờ bị bắt, khi tha thiết cầu nguyện: “Lậy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này” (Mt 26,39) đã làm chứng Đức Giêsu ý thức “lên Giêrusalem chịu khổ hình và chịu đóng đinh” là một chén rất đắng đót, nhưng vì yêu mến và vâng lời Chúa Cha, Ngài đã thân thưa liền sau đó: “Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39), bởi vì giây phút này, vì chén đắng này mà Ngài đến trong thế gian.
Như thế, cuộc khổ hình và đóng đinh mà Đức Giêsu, Con Thiên Chúa phải chịu đã nằm trong kế họach yêu thương con người của Thiên Chúa Cha, đã ở trong chương trình chuộc lại con người đã hư mất vì tội lỗi của Chúa Cha, nên Đức Giêsu đã không chọn cái chết, vì công cuộc truyền giáo của Ngài bị bế tắc, thất bại, cũng không bất đắc dĩ chọn cái chết như một giải pháp của bại tướng để bảo toàn uy tín, danh dự, nhưng là sứ vụ được trao phó: thực hiện thánh ý “chuộc lại con người” của Thiên Chúa Cha đã có từ lúc nguyên tổ loài người sa ngã, phản bội, khi tự đánh mất quyền làm con và sự sống đời đời Thiên Chúa dành cho họ.
Tóm lại, cái chết của Đức Giêsu là chọn lựa của Thiên Chúa như cách thức tốt nhất để chuộc tội con người, trả cho con người ơn làm con và sự sống đời đời. Sự chết ấy còn là biểu chứng hùng hồn nói cho con người biết Thiên Chúa yêu thương họ “vô cùng và đến cùng”, đến hy sinh chính mạng sống.
Đây là sự thật của mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa dành cho con người, mà chúng ta không thể chối cãi, nếu chúng ta khiêm tốn chiêm ngưỡng với đôi mắt đức tin và dưới ánh sáng của Tin Mừng, ở đó chúng ta sẽ được Chúa Thánh Thần dậy bảo để biết: Nếu không có mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Giêsu, không ai được cứu rỗi, tức không được hưởng hạnh phúc trong Thiên Chúa, với Thiên Chúa, vì ách thống trị của tội lỗi, tử thần; nếu Đức Giêsu không chịu khổ hình và đóng đinh chết trên Thánh Giá, không người nào được sống lại và lên trời, vì giữa loài người và Thiên Chúa không còn tình nghiã, bởi không có Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là Con Người làm trung gian giao hoà; nếu không có Đức Giêsu chịu đổ máu trên Thánh Giá, tội lỗi loài người và mỗi người mãi mãi ngăn cách Thiên Chúa với con người, và tình nghiã Cha Con giữa Thiên Chúa và con người không bao giờ được phục hồi, chuộc lại; nếu Đức Giêsu không chết như con người thì con người chẳng bao giờ bình an vì tương lai không lối thoát sau khi lìa bỏ cõi đời. Nhưng qua cái chết và sống lại từ cõi chết, Đức Giêsu đã đem đến cho con người, cho từng người ơn Bình An viên mãn, ơn Bình An trước mọi thách đố, kể cả sự chết, vì mọi người biết mình sẽ được sống lại với Đức Giêsu và như Đức Giêsu trong vinh quang của Ngài, với điều kiện đón nhận ơn cứu chuộc từ sự chết và phục sinh của Ngài.
Vâng, Đức Giêsu đã chấp nhận chết trên Thánh Giá, và người Kitô hữu “rao giảng một Đấng Kitô chịu đóng đinh, điều mà người Do Thái cho là ô nhục, không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 2,23-24).
Cũng vậy, không ít người đương thời với chúng ta cho là “tào lao, chạm mạch, mát giây, không cần thiết” sự chết của Đức Giêsu. Nhưng với chúng ta, đó là tình yêu vô cùng cao qúy, lớn lao của Thiên Chúa khi “chết cho con người để con người khỏi phải chết, nhưng được sống”; đó là tình thiên thu, bền vững của một Thiên Chúa nhân từ và trung tín đã không chịu bỏ rơi con mình, dù con ngược ngạo, bội phản, bất xứng, nhưng cứu cho kỳ được, và tìm mọi cách chuộc lại những gì đã hư mất.
Thiên Chúa cũng nói với chúng ta: Ngài là Hy Vọng của mỗi người, nguồn hy vọng không bao giờ vơi cạn, niềm hy vọng không bao giờ làm chúng ta thất vọng, và cũng nói với chúng ta từ mầu nhiệm Tử Nạn, từ trên cao Thánh Giá lòng thương xót vô biên, vô cùng của Ngài, đồng thời dậy chúng ta học xót thương anh em với Ngài, bởi chỉ lòng xót thương mới sinh ơn Cứu Rỗi, chỉ lòng xót thương mới đem lại ơn Bình An, chỉ lòng xót thương mới nẩy sinh niềm Hy Vọng được sống lại và sống đời đời. 
Với Đức Giêsu chịu chết trên Thánh Giá, chúng ta nhận ra sự cao cả của Thiên Chúa khi sai Con Một của mình xuống thế gian và chết để cứu chuộc muôn người, đồng thời nhận ra sự cao cả của con người khi hiến mạng sống để làm chứng Công Lý và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa giữa anh em.
Và với Đức Giêsu chịu đóng đinh, chúng ta học yêu đến hy sinh mạng sống cho người mình yêu. “Mạng sống” đây chính là những chịu đựng anh hùng trước những trái ý, thiệt thòi, bất công người khác gây ra; “mạng sống” được dâng hiến đây chính là những tha thứ qủang đại khi bị xúc phạm, làm tổn thương; “mạng sống” bị mất đi đây chính là những việc làm âm thầm, kín đáo, yên ắng, vô tư, vô vị lợi vì hạnh phúc của mọi người, bởi trên Thánh Giá, khi tự nguyện chết cho chúng ta được sống, Đức Giêsu đã khiêm nhường, hiền lành, vâng phục, chịu đựng, bao dung, thương xót và bình an để luôn hướng về Thiên Chúa như con cái và hướng đến đồng loại như anh em là “mẫu người” mà Thiên Chúa đã muốn khi tạo dựng nhân loại.
Qủa thực, không có Đức Giêsu, nếu không có Thánh Giá; không có ơn Cứu Độ, nếu Đức Giêsu đã không làm người và chịu đóng đinh; không có hạnh phúc được sống đời đời, nếu Đức Giêsu đã không sống lại từ cõi chết. Vì thế, đã là người Kitô hữu, chúng ta phải gắn bó với sự chết vì yêu thương của Đức Giêsu, bởi sự chết của Thiên Chúa làm người đã chuộc lại cho Thiên Chúa sự sống Thiên Chúa mà con người đã làm mất, để “nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài”, Thiên Chúa được tôn vinh và chúng ta được sống hạnh phúc trong vinh quang của Ngài.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2020

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (6)


     ĐỨC MARIA, GƯƠNG MẪU CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU ĐÍCH THỰC
Khuynh hướng “của người phúc ta” hay “khoán người khác làm thay mình” là khuynh hướng được phần đông ưa chuộng. Ngay cả trong đời sống thiêng liêng, trên đường “trở nên hoàn thiện”, người Kitô hữu cũng không tránh khỏi khuynh hướng rất quyến rũ và tiện ích này.
Khuynh hướng ấy tàng ẩn trong ý nghĩ: chuyện nên thánh là chuyện của nhà tu, chuyện sống thánh thiện là chuyện của những con người tận hiến cả đời cho Chúa như các cha, các sơ, các thầy, các đệ tử, các chủng sinh…, cũng như việc truyền giáo, công tác loan báo Tin Mừng là sứ mệnh của hàng giáo phẩm, hàng giáo sĩ, tu sĩ, nên chẳng việc gì đến chúng ta, những người giáo dân tép riu, vô danh tiểu tốt, thấp cổ bé miệng, chưa kể còn là tội đồ, tội lỗi, tội nhân, chiên hoang, chiên lạc, chiên “nhiều chuyện rối rắm” trong Giáo Hội.
Khuynh hướng ấy còn kín đáo ẩn nấp trong ý nghĩ “xin các cha, các sơ cầu thay nguyện giúp”, để mình khỏi “mất giờ, mất công” cầu nguyện.
Khuynh hướng ấy cũng bàng bạc, lơ lửng trong những cách hô to, hét lớn trước công trình mà những người “khiêm nhường im tiếng” khác đã vất vả làm nên để tôn vinh Chúa, theo đúng kiểu “của người phúc ta”.
Khuynh hướng ấy đôi khi xuất hiện rất nhanh trong những phản bác, phản biện “nẩy lửa, vang dội, ấn tượng” giữa cộng đồng, như những “xác quyết, tuyên xưng” đức tin của người khác, chứ không phải đức tin của mình.
Tắt một lời, chúng ta, tuy là người có đạo, mang danh Kitô hữu, nhưng sống như một nhà kinh doanh buôn bán, đầu tư “danh nghiã có đạo”, chứ không tích cực sống đạo như danh xưng Kitô hữu: người say mê Đức Kitô, người có Đức Kitô, người thuộc về Đức Kitô, người mang Đức Kitô cho người khác.    
Thực vậy, không hiểu từ bao giờ, tôi cũng đã nghĩ như vậy và sống lơ mơ kiểu “lưa thưa tơ liễu buông mành” như người khách “không lạ mà cũng không thân” ra ra vào vào, đi đi lại lại trong Giáo Hội với bảng tên “Kitô Hữu”, mà không biết rõ Kitô hữu là ai và phải làm gì để đích thực là Kitô hữu.
Như các bạn trẻ, tôi cũng khổ sở đi tìm một mẫu gương lý tưởng người Kitô hữu đích thực ít nhất để biết và chiêm ngắm; tôi cũng băn khoăn, ray rứt khi thấy mình sống không hết mình với danh hiệu Kitô hữu, nhưng nửa vời, nửa nạc nửa là nguyên nhân làm vơi dần nhiệt tình, nhiệt huyết “đi đạo” trong tôi.
Cho đến một ngày của tháng năm, cũng như hôm nay của tháng năm này, tôi khám phá dung nhan của Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu trong Tin Mừng, và thật rồi, đây chính là gương mẫu lý tưởng của người Kitô đích thực mà tôi và Bạn, chúng ta cần tìm đến chiêm ngắm và noi theo.  
1.   Đức Maria là người Kitô hữu đích thực khi để Thiên Chúa làm đầy đời mình:
Quyền sở hữu thân xác và tinh thần là quyền bất khả xâm phạm của mỗi người, nên khi xâm phạm  thân xác hoặc tinh thần người khác, chúng ta chịu trách nhiệm rất nặng nề trước pháp luật và lương tâm. Vì thế, khi dâng hiến cho ai thân xác, để ai đi vào tâm hồn, chúng ta thực hiện một chọn lựa rất quan trọng, vì là chọn lựa dấn thân quyết liệt, chọn lựa tận hiến, chọn lựa trao dâng tất cả và trọn vẹn.
Khi được chọn làm người Kitô hữu đầu tiên ở giây phút sứ thần Gabrien báo tin Mẹ thụ thai Đức Giêsu, do quyền phép Chúa Thánh Thần, Mẹ đã sẵn sàng làm trống trải, trống rỗng đời mình để một mình Đức Giêsu chiếm hữu, làm đầy đời Mẹ bằng từ bỏ tất cả những gì thuộc về mình, như ý riêng, chương trình riêng, kế hoạch riêng, mơ ước riêng, thời gian riêng, hoàn cảnh riêng, công việc riêng… Và kể từ giây phút làm người Kitô hữu  đầu tiên và tuyệt vời ấy, Mẹ đã không còn gì là riêng tư, không còn gì là riêng biệt, không còn gì là của riêng mình cả ngoài thân xác lẫn trong tâm hồn, ngoài một mình Đức Giêsu mà Mẹ âu yếm cưu mang.
Thực vậy, để trả lời Xin Vâng với Thiên Chúa, qua trung gian sứ thần Gabrien (x. Lc 1,26-38), Đức Maria đã để Thiên Chúa chiếm hữu đời mình và làm đầy đời mình bằng chính Thiên Chúa. Đó là đòi hỏi thứ nhất để trở thành người Kitô đích thực.
2.    Đức Maria là người Kitô hữu đích thực, khi đặt để  trọn vẹn đời mình vào công trình của Thiên Chúa, chứ không áp đặt Thiên Chúa vào công trình của mình:
Trước khi sứ thần Gabrien đến gặp và báo tin: Thiên Chúa muốn Mẹ làm mẹ của Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa sẽ nhập thế, nhập thể, Đức Maria đã có chương trình riêng cho đời mình, đó là giữ mình đồng trinh. Mẹ đã cùng thánh Giuse đồng ý sống một đời đôi bạn đồng trinh, dù bên ngoài là vợ chồng như đòi hỏi của xã hội, như lời trình bày của Mẹ cùng sứ thần: “Việc ấy xẩy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34). Điều này chính thánh Giuse cũng làm chứng qua việc ngài toan tính bỏ đi cách kín đáo, vì “trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,19), nhưng khi Thiên Chúa đề nghị Mẹ cộng tác trong chương trình mới của Ngài, mời gọi Mẹ hợp tác với Ngài thực hiện công trình Nhập Thể Cứu Chuộc của Con Thiên Chúa, Mẹ đã sẵn sàng đặt để trọn vẹn đời mình vào công trình của Thiên Chúa, đặt để tất cả đời mình dưới sự sắp xếp của Thiên Chúa, đặt để toàn thân mình theo kế hoạch và đường lối của Thiên Chúa, mà không ngần ngại, hay do dự, nhưng dứt khoát tự nguyện từ bỏ chương trình, kế hoạch riêng của mình. 
Khi đặt để đời mình hoàn toàn dưới sự sắp đặt của Thiên Chúa trong kế hoạch của Ngài, Đức Maria đã không như chúng ta áp đặt, lèo lái, đẩy đưa Thiên Chúa để Ngài làm theo ý chúng ta, đi theo đường hướng con người của chúng ta, chiều theo tính toán nhân loại của chúng ta.
Đó là thái độ kèo nài của chúng ta khi cầu nguyện, thái độ giận dỗi của chúng ta khi xin mà Chúa không nhận lời, thái độ “mặc cả” của chúng ta khi phụng sự Chúa, thái độ so đo, tính toán của chúng ta khi phục vụ anh em.
Thực vậy, người Kitô hữu đích thực như Đức Maria chính là người đặt Thánh Ý Thiên Chúa trên tất cả mọi sự, và say mê tìm kiếm thực hiện Thánh Ý mọi nơi, mọi lúc, trong bất cứ tình huống, hoàn cảnh nào. Bởi thế, không có Kitô hữu đích thực, nếu Thánh Ý bị xếp xuống hàng thứ yếu, phụ thuộc; không có Kitô hữu như lòng Chúa mong ước, nếu Thiên Ý chỉ được đón nhận khi phù hợp, đồng hành với ý riêng, cũng như không có Kitô hữu thánh thiện khi Ý Muốn của Thiên Chúa bị từ chối, khước từ, tránh né khi trái ý, nghịch chiều, so le với ý mình.
3.   Đức Maria là người Kitô Hữu đích thực, khi liên lỷ sống ân tình với Thiên Chúa:
Đức Maria là người Kitô hữu đầy Thiên Chúa, nên không sự gì thuộc về Thiên Chúa mà Mẹ không giữ trong lòng, như Tin Mừng đã ghi lại biến cố Đức Giêsu ở lại trong đền thờ Giêrusalem, không theo cha mẹ về sau những ngày hành hương mừng lễ Vượt Qua làm cha mẹ Ngài hoảng hốt đi tìm. “Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và Mẹ Người nói với Người: Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!” Người đáp: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao? Nhưng ông bà không hiểu lời Người nói. Sau đó Người đi xuống cùng  với cha mẹ, trở về Nadarét và hằng vâng phục các ngài. Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,48-51).
Hình ảnh người mẹ cực lòng cùng cha đi tìm con, nhưng khi tìm thấy rồi, thì con lại cho chuyện cực lòng đi tìm ấy không quan trọng, vì “Con còn có bổn phận ở nhà Thiên Chúa Cha”, một công việc chiếm vị thế  ưu tiên, hệ trọng hơn nhiều.
Chúng ta nhận thấy sự thánh thiện của Đức Mẹ qua thái độ khiêm tốn, đằm thắm trước thánh ý Thiên Chúa được diễn tả qua việc “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng”.
Ghi nhớ, lưu giữ lời nói, kỷ niệm, hình bóng ai trong tâm hồn là muốn người ấy sống mãi trong lòng mình, giữ mãi ân tình với người ấy trong trái tim; là liên lỷ gắn bó, có mặt với người ấy trong đời sống, sinh hoạt; là đắm đuối say mê và thiết tha yêu thương đối tượng tuyệt vời mình tôn thờ. Vì thế, ta sẽ chỉ giữ trong tim những gì thuộc về người mình thương, chỉ để sống và lớn lên trong tâm hồn những kỷ niệm với người mình yêu, chỉ làm cho trở nên bất diệt hình ảnh người mình thần tượng. Trái lại, không yêu thương, không say đắm, ta không chỉ gạt bỏ đối tượng, mà còn xóa hết dấu tích liên quan đến đối tượng, để khỏi bận tâm, nặng lòng .
Đức Maria đã sống từng giây phút đời mình ân tình với Thiên Chúa, để tất cả những gì liên quan đến Ngài, những người thuộc về Ngài, những công việc Ngài làm đều được Mẹ ghi nhớ đầy đủ và trọn vẹn, như ân tình đầy tròn, không một phút phôi pha, không một giây vơi cạn.
Chiêm ngắm Đức Maria hôm nay giữa tháng năm của Mẹ, chúng ta được cùng  Mẹ khám phá căn tính Kitô hữu của mình, một căn tính không như bất cứ căn tính nào, vì mang Đức Giêsu Thiên Chúa, có Đức Giêsu Đấng Cứu Độ, trở nên Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Căn tính “Giêsu” ấy cất bổng chúng ta lên cao để chạm đến Thiên Chúa, nâng chúng ta lên hàng Con Thiên Chúa, đưa chúng ta vào thẳng trái tim, cung lòng Thiên Chúa, cho chúng ta sống chính sự sống của Thiên Chúa, như thánh Phaolô đã khẳng định: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
“Có Đức Giêsu, mang Đức Giêsu” là căn tính, người Kitô hữu không “có Đức Giêsu, mang Đức Giêsu, sống Đức Giêsu” như mang một lớp áo, một khăn quàng, hay có một phù hiệu, một bảng tên ở ngoài con người, ở ngoài đời sống, ở ngoài thao thức, ước mơ, nhưng là tất cả con người, trọn vẹn cuộc sống thuộc về Đức Giêsu, dành cho Đức Giêsu thể hiện qua một tình yêu “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” (Mt 22,37).
Một khi đã xác định “Đức Giêsu Kitô” là căn tính của Kitô hữu, chúng ta sẽ không như người mù đi trên đường, nhưng dưới ánh sáng của Tin Mừng được Giáo Hội hướng dẫn, giải thích, chúng ta không sống đời Kitô hữu một cách “khơi khơi, tà tà” để đủ điểm vào Thiên Đàng, không thụ động, bàng quan như khách trong nhà Giáo Hội, không “xỏ tay túi quần” nghênh ngang, lạnh lùng nhìn đồng đạo trong xứ sinh hoạt tông đồ, không mê tín xem việc đi đạo như “lá bùa hộ mạng” cất giấu một góc, chờ khi chết sẽ dùng như chiếu khán vào Nước Trời, không giữ đạo kiểu “người sao ta vậy” tính toán công phúc cho vừa đủ để khỏi mang tiếng với thiên hạ là người vô đạo, càng không “lơ mơ, phất phơ, dật dờ” sống đời có đạo mà không có Chúa, Kitô hữu mà không có Đức Kitô.
Ước gì trong tháng hoa của Đức Mẹ năm nay, tôi được cùng các bạn chiêm ngắm Mẹ và học với Mẹ từng ngày đời sống của người Kitô hữu đích thực, để Thiên Chúa được vinh danh, và chúng ta cũng như mọi người được hạnh phúc trong Bình An của Đức Giêsu, căn tính của người Kitô hữu.
Jorathe Nắng Tím     

CHÚA VỀ TRỜI


Suy niệm Tin Mừng Lễ Chúa Thăng Thiên
Núi trong Kinh Thánh là nơi Thiên Chúa tỏ mình, như hôm nào Đức Giêsu đã  “đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17,1-2).
Khung cảnh “núi cao” trở lại trong Tin Mừng Matthêu, khi “Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến” (Mt 28,16), nhưng lần này, Ngài sai các ông “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thầy” và hứa ở cùng các ông “mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20). 
Nhiều nhà chú giải đồng ý: đây chính là bối cảnh ở đó Đức Giêsu từ giã các môn đệ về trời, sau khi sai các ông đi loan báo Tin Mừng với năng quyền được chính Ngài trao ban.
Riêng thánh sử Luca thì một mình ngài lại có đến hai khung cảnh lên trời khác nhau: trong Tin Mừng của ngài thì Đức Giêsu dẫn các môn đệ “tới gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được đem lên trời.” (Lc 24,50-51); còn Công Vụ các Tông Đồ thì Luca đặt biến cố lên trời của Đức Giêsu vào khung cảnh của bữa ăn (Cv 1,4), và khi Đức Giêsu lên trời  thì có “hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh” (Cv 1,10), như cố ý làm nổi bật biến cố phục sinh, ở đó cũng “có hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giêsu” (Ga 20,12), và đề cao “bữa tiệc bẻ bánh” ở đó cộng đoàn Kitô hữu quy tụ cầu nguyện, làm chứng, và chờ ngày Đức Giêsu trở lại.
Dù được kể lại trong khung cảnh nào đi nữa, biến cố Đức Giêsu về trời đã mở sang một trang mới, với sự có mặt và dấn thân loan báo Đức Giêsu đã chết và đã sống lại của Giáo Hội. Nói cách khác, đây mới chính là khởi đầu của Giáo Hội, một Giáo Hội được sai đi, một Giáo Hội lên đường, một Giáo Hội luôn trên hành trình dong duổi với mọi người để làm chứng Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.
Chúng ta có thể ghi nhận ba điểm quan trọng ở thời điểm Đức Giêsu về trời, cũng là khởi điểm hành trình loan báo, làm chứng Đức Giêsu của Giáo Hội:
1.   Giáo Hội lên đường truyền giáo không biên giới với sức mạnh của Chúa Thánh Thần:
Sách Công Vụ các Tông Đồ ghi lại một cách chân thực, và dễ thương câu hỏi của các môn đệ với Đức Giêsu: “Thưa Thầy, có phải là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ítraen không?” (Cv 1,6).
Các môn đệ hỏi như thế, vì các ông thấy Thầy đã thực sự sống lại, nên các ông tin rằng việc giải phóng Ítraen khỏi tay người Rôma không còn là chuyện khó với Thầy mình, và ước mơ thầm kín mang tính chính trị lại một lần nữa trở về với các ông, cho đến khi Đức Giêsu khẳng định minh bạch chương trình của Ngài: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,7-8).
Như thế, sứ mạng của các môn đệ bây giờ là lên đường truyền giáo, con đường  không biên giới trên đó Tin Mừng “Đức Giêsu chịu đóng đinh, đã chết và đã sống lại” được loan báo cho mọi người, mọi nơi, mọi thời, nhưng các ông không lên đường một mình, không tự mình truyền giáo, nhưng chỉ có thể lên đường truyền giáo với ơn của Chúa Thánh Thần, chỉ có thể rao giảng Đức Giêsu với sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Vì thế, Đức Giêsu đã minh bạch với các ông khi căn dặn: “Không được rời khỏi Giêrusalem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, đó là: ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” (Cv 1,4-5). 
2.   Giáo Hội là sự viên mãn của Đức Giêsu:
Trước khi về trời, Đức Giêsu đã chuẩn bị tất cả cho Giáo Hội. Ngài đã xin Chúa Cha ban cho Giáo Hội Chúa Thánh Thần; Ngài củng cố niềm tin của Giáo Hội qua lời hứa “ở lại với Giáo Hội mọi ngày cho đến tận thế” (x.Mt 28,19) để Giáo Hội tiếp tục thực hiện công trình cứu thế của Ngài, bởi “Hội Thánh là thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn” (Ep 1, 23). Nói cách khác, Giáo Hội được Đức Giêsu tuyển chọn làm thân thể của Ngài, và Ngài là Đầu của thân thể đó, để Giáo Hội hoàn thành công trình cứu nhân loại đến mức viên mãn, là thánh ý của Chúa Cha, bằng loan báo cho mọi người Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, để tất cả được đón nhận ơn Cứu Độ của Ngài hầu được hạnh phúc viên mãn trong Ngài.
3.   Đức Giêsu hoàn toàn tin tưởng Giáo Hội của Ngài:
Chúng ta có thể nói: lễ Thăng Thiên là lễ của Thiên Chúa đặt vào đôi tay con  người trọn vẹn trách nhiệm để tiếp tục thực hiện công trình của Ngài trên trần gian. Từ nay, mọi việc được trao cho con người, mọi việc đều được Thiên Chúa ký thác cho con người, vì Ngài tin tưởng con người và muốn con người cùng Ngài  thực hiện công trình cứu độ anh em mình. Một cách cụ thể, Ngài trao cho Giáo Hội, là tập thể những người đi theo Ngài sứ mạng này, và ở với họ, cùng với Thần Khí Tình Yêu, Sự Thật và Sức Mạnh của Ngài.
Vâng, đây chính là lúc bắt đầu thực hiện lời cầu nguyện của Đức Giêsu buổi tối thứ năm tuần thánh: “Tất cả những gì con có đều là của Cha, tất cả những gì Cha có đều là của con; và con được tôn vinh nơi họ. Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian; phần con, con đến cùng Cha. Lậy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con…” (Ga 17,10-11).
Cùng toàn thể Giáo Hội mừng lễ Chúa lên trời, chúng ta xin Chúa ban cho chúng ta, những người con của Giáo Hội niềm vui biết mình được Đức Giêsu yêu thương, tin tưởng, khi trao phó sứ mạng loan báo Tin Mừng cho anh em ở khắp mọi nơi, mọi thời, và hạnh phúc được cùng Chúa Thánh Thần lên đường làm chứng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, Đấng Cứu Độ, Gia Nghiệp và Phần Thưởng đời đời cho những ai đi theo Ngài.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2020

BÀI HỌC TỪ MÙA DỊCH COVID-19


Tất nhiên không ai cần dịch Covid để học, dù là bài học qúy giá cỡ nào đi nữa, vì Covid tự nó đã là một tai họa khủng khiếp đã lấy đi tính đến hôm nay 13 tháng 5 năm 2020 sinh mạng của 298.261 người, 4.082.591 người bị lây nhiễm, không kể 1.520.000 người đã được chữa lành trên toàn thế giới. Vì thế, bài học từ Covid được xem như bài học “bất đắc dĩ”, đắng lòng mà chúng ta đành lòng rút ra để học.
Có rất nhiều bài học từ kinh nghiệm cách ly, khi sinh hoạt đời sống bình thường hoàn toàn bị xáo trộn, ngưng trệ với hậu qủa của nó, như không đi làm, kinh tế gia đình giảm sút, kiệt quệ, bế tắc; không đi học, con cái quên bài vở, căng thẳng vì tù túng; không giao lưu, gặp gỡ, đối tác theo nhau bỏ đi, tự cắt liên lạc; không “của ăn của để”, gia đình lục đục, xào xáo; không trường vốn, công ty, xí nghiệp phá sản, khánh kiệt.
Bên cạnh những bài học đời sống là bài học con người: vì chung chiến tuyến và cùng phải chiến đấu chống Covid, mà người ta thấy nhau, biết nhau, hiểu nhau, đánh giá nhau khá chính xác, để khám phá ra một rừng người thuộc đủ mọi thể loại. Có người quên mình vì bệnh nhân, thậm chí chết vì qúa tận tụy đến kiệt sức, hoặc lây nhiễm, có người quên chuyện riêng suốt ngày lo cơm cháo cho người thiếu ăn vì Covid, nhưng cũng không thiếu những người làm giầu nhờ Covid, “vinh thân phì gia” nhờ ăn cắp khẩu trang của bệnh viện, trúng mánh khủng nhờ mua bán bất chính máy thở của khoa cấp cứu hồi sức…  
Ở đây, chúng ta chỉ chia sẻ với nhau bài học trách nhiệm, mà bất cứ ai cũng có thể tìm học, vì ít nhiều, nếu ý thức và lương thiện, sẽ đều thấy mình dính dáng, liên quan:
1.   Thiếu trách nhiệm với cộng đồng khi qúa cẩu thả, liều lĩnh:
Covid là dịch bệnh nguy hiểm do lây lan nhanh và gây tử vong trong một thời gian rất ngắn, vì tấn công trực tiếp phổi. Do đó, để tránh dịch, mọi người phải tuân thủ những biện pháp nghiêm ngặt như rửa tay, đứng xa nhau ít là một mét, đeo khẩu trang, không nhẩy mũi bừa bãi, không bắt tay, không ôm hôn…, nên khi bất tuân hành, qua lối sống cẩu thả, liều lĩnh, bất cần, chúng ta đã không chỉ vô trách nhiệm đối với sức khỏe của chính bản thân mình, mà còn thiếu trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội, khi coi thường an toàn tính mạng của người khác, trong đó có cả những người thân quen.
2.   Thiếu trách nhiệm với cộng đồng khi qúa nhát sợ, tránh né:
Nếu cẩu thả, liều lĩnh đem lại rủi ro cho mình và cộng đồng, và là hành vi thiếu trách nhiệm, thì tâm lý quá nhát sợ, và thái độ tránh né thái qúa cũng mang cùng mức độ thiếu trách nhiệm đó. Chẳng hạn, có những người, vì qúa sợ lây nhiễm, đã trở nên khép kín đến đáng sợ khi từ chối mọi liên lạc với cha mẹ, gia đình, bạn hữu ngay cả qua tin nhắn, điện thoại, vì sợ liên lạc, những người này sẽ kiếm cớ ghé thăm, làm phiền. Cũng vậy, không thiếu những nhân viên y tế trong thời dịch bệnh, vì sợ lây nhiễm, đã tìm đủ cách để tránh né người bệnh, tìm đủ mọi mánh khóe để khỏi đi làm, tìm đủ mọi lý do để không phải vào bệnh viện phục vụ người bệnh Covid.
Như thế, cả hai thái độ: liều lĩnh, cẩu thả và nhát sợ, tránh né đều được xếp vào thứ hạng “thiếu trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội”, mà rất có thể chúng ta đã ít nhiều lần rơi vào.
3.   Thiếu lương thiện và trách nhiệm khi vừa tự tâng bốc, vừa đả kích, bôi bác người khác:
Thế rồi khi cơn dịch được khống chế thành công, một số không ít trong chúng ta lại rơi vào tình trạng thiếu lương thiện và thiếu trách nhiệm khác, đó là vừa tự tâng bốc vừa kịch liệt đả kích, ra rả bôi bác người khác, cộng đồng khác, quốc gia khác…
Hiện tượng “tự tâng bốc, tự xông hương, tự tuyên dương mình” qúa lố, khi thành công chống dịch đã bộc lộ tính kiêu căng và thiếu trách nhiệm tương trợ đối với người khác, vì một tinh thần trách nhiệm đích thực phải biết hướng đến người khác và chia sẻ gánh nặng với người khác. Khi tự tâng bốc mình với những thành qủa được bơm căng, thổi phồng đôi khi qúa đáng, chúng ta đã vô tình “ngồi xổm” trên khổ đau, bất hạnh của người khác, khi hãnh tiến, vênh vang một cách  lố bịch. Đó là chưa kể: để có đà tự cao, tự đại, tự phong thần, tự xông hương, chúng ta lại đả kích, bôi bác, nhận chìm người khác, cộng đồng khác, đất nước khác.
Những ngày này, chúng ta mừng đất nước ra khỏi nạn dịch Covid-19. Xin tạ ơn Trời Phật, và cám ơn rất nhiều người, vì hồng ân và bao nhiêu hy sinh đã được đóng góp để cả nước được trở lại sống những ngày không còn bị dịch đe doạ. Trong niềm vui “hết dịch”, ước gì chúng ta không quên nhìn lại mình để rút ra từ những thiếu sót bài học trách nhiệm với mình và với người chung quanh.
Thiết nghĩ đó là tâm tình Tri Ân đáng yêu nhất chúng ta dâng Trời Phật và lời Cám Ơn dễ thương nhất chúng ta dành cho nhau thời “hậu dịch”.
Jorathe Nắng Tím 

MỤC LỤC ( Tác phẩm Hậu Ly Dị, tác giả Jorathe Nắng Tím)



MỤC LỤC
·           Chương I : Ly Dị: https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/chuong-1-Ly-di
·           Chương II: Ly dị : Chia, Sẻ, Xa: https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Chuong-2-HLD
·           Chương III: Những tâm trạng sau ly dị: https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Chuong-3-HLD
·           Chương IV: Những thái độ sau ly dị: https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/chuong-4-HLD
·           Chương V: Con cái hậu ly dị: https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/chuong-5-HLD
·           Chương VI: Gia đình hai bên: https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/chuong-6-HLD
·           Chương VII: Bạn bè hậu ly dị: https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Chuong-8-HLD
·           Chương VIII:Bạo lực hậu ly dị: https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Chuong-8-HLD
·           Chương IX: Những nếp sống mới hậu ly dị: https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/Chuong-9-HLD


Thay Lời Kết (Hậu Ly Dị, Jorathe Nắng Tím)


Tự thân ly dị là một tiêu cực, bởi ly dị là hôn nhân thất bại, hôn nhân đổ vỡ, hôn nhân đứt gánh, hôn nhân dang dở khi vợ chồng không còn khả năng, khả thể cùng nhau đi hết hành trình đời người. Ly dị cũng là ước mơ chưa tròn, lý tưởng chưa đạt, nên tự thân ly dị còn là một  khiếm khuyết.
Vì tiêu cực, khiếm khuyết nên ly dị không là điều đáng  mong ước, và khi chấp thuận ly dị chính là miễn cưỡng chọn một điều ít xấu nhất giữa những điều  khác xấu hơn, hoặc rất xấu. Như thế ly dị trong mọi trường hợp phải là giải pháp ít tai hại nhất, ít ảnh hưởng xấu nhất, ít gây tổn thương, mất mát nhất, và ít nguy hiểm nhất; mặc dù tự thân ly dị vẫn luôn là điều không đáng ước mơ.
Người ta, vì thế phải ly dị khi không còn cách tốt hơn để giải quyết những xung đột, mâu thuẫn là những điều xấu. Người ta đành lòng ly dị vì ngoài giải pháp này không còn phương án nào ít xấu hơn nữa. Đó là lý thuyết, nhưng trong thực tế, có bao  nhiêu người đã  chọn ly dị như một giải pháp “bất đắc dĩ”, tương đối ít xấu hơn cả ?   
Bị đặt trong hoàn cảnh thường xuyên  bị bạo hành bời người chồng vô trách nhiệm, hung dữ, sáng đêm say xỉn, người vợ nếu muốn bảo toàn mạng  sống  và tương lai của con cái sẽ phải cắn răng nộp đơn xin ly hôn. Người vợ đáng thương ấy đã bất đắc dĩ làm một việc mà tận thâm tâm bà không hề mong muốn. Nhưng vì tình thế bắt buộc và để tránh những tai họa thê thảm, khốc liệt cho mình và đàn con nên  đã phải tìm đến giải pháp ly dị. Trường hợp cụ thể  được đem ra như thí dụ trên nói lên tính “bất đắc dĩ.” của  chọn lựa ly dị.
Ly dị là một thực tế không thể chối cãi, và ngày càng nhiều. Ly dị rất đa diện vì là điểm kết thúc của những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng giữa vợ chồng. Mỗi nhà mỗi cảnh, mỗi người mỗi tính, nên mỗi ly dị là mỗi ẩn số của hôn nhân mà không  ẩn số nào giống ẩn số nào, như không tìm được hai cặp vợ chồng  giống hệt nhau.
Vì ly dị không là điều đáng ước mơ, tích cực nên hậu qủa của ly dị cũng không là điều tốt đẹp nên tìm kiếm, bởi không ai đã muốn có con để rồi phải chia con; không ai nghĩ có ngày “của chồng công vợ” phải cân, đo, đong, đếm trước Toà; không ai tưởng tượng hôn thú xé đôi, vợ chồng coi nhau như đối thủ, không còn muốn nghĩ đến nhau.
Nhưng dù ly dị  không tốt đẹp, không tích cực, không đáng mơ ước, chúng ta cũng bị đặt trước những con người ly dị đang khao khát hạnh phúc và nỗ lực đi tìm một cuộc sống khác hy vọng sẽ tươi sáng, may mắn và hạnh phúc hơn. Đối diện với những tâm hồn khát khao hạnh phúc vì vừa trải qua một phần đời bất hạnh với thất bại hôn nhân, thiết tưởng thái độ cần phải có chính là biết chân thành cảm thông, và tận tình chia sẻ.
Tận tình chia sẻ những khó khăn đã không thể vượt qua và nỗi đau   bất lực khi không tìm được giải pháp nào khác tốt hơn ly dị.
Chân thành cảm thông hoàn cảnh không lối thoát và nỗi buồn phải mượn ly dị như con đường thoát thân.
Tận tình chia sẻ những thất bại, vấp ngã khó có thể vực dậy và nỗi khổ phải chọn ly dị như giải pháp bất đắc dĩ để tự giải cứu.
Chân thành cảm thông để không đứng ngoài chép miệng, nhún vai, lắc đầu phê bình, khi cho rằng ly dị là quyết định nông nổi, bồng bột, vội vàng, hời hợt, trẻ con.
Tận tình chia sẻ để làm vơi mặc cảm thất bại, và giúp mở ra chân trời mới có ngày mai bình an, hạnh phúc.Và hậu ly dị sẽ trở thành thời gian ngơi nghỉ, tịnh tâm, ở đó trái tim  ray rứt trút bỏ được tâm sự buồn, và cõi lòng tan nát nhẹ bớt gánh sầu ly hôn.    
Viết xong tại Tân Phú 7/5/2014
 Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2020

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (5)

                                                   GIÁO HỘI
Một sự thật khó chối cãi, đó là Giáo Hội hầu như luôn bị phê bình, chỉ trích, lên án, buộc tội, chống phá cách này hay cách khác, mà rất ít được những ngày yên ổn, làm như Giáo Hội được Đức Giêsu lập ra để bị thiên hạ ghét bỏ hơn là được yêu thương, bị đe dọa, phá họai hơn là được nâng đỡ, xây dựng, và lịch sử hơn hai ngàn năm của Giáo Hội với những bách hại dưới mọi hình thức những chống phá bằng đủ phương tiện, những buộc tội ở mọi mức độ, những chỉ trích không thiếu một thành phần, những vạch trần không sót một kẽ hở đã làm chứng sự thật đau lòng này.
Có những lý do trần thế làm người ta “khó chịu” với Giáo Hội:
1.   Giáo Hội bị coi là một tổ chức độc trị, độc quyền:
Khác nhiều tôn giáo, Giáo Hội Công Giáo có hệ thống tổ chức chặt chẽ, trên dưới phẩm trật, ngang dọc khít khao, điều phối nhịp nhàng, kỷ luật bao trùm, phủ kín nên dễ cho nhiều người cảm tưởng Giáo Hội là một cơ cấu độc trị, độc quyền hơn là một đoàn thể “tự do” quy tụ những người tự nguyện đi theo Đức Giêsu.
Từ cái nhìn không mấy thiện cảm, nhiều người đã củng cố “thành kiến” về một Giáo Hội thống trị hơn phục vụ, pháo đài khép kín hơn cởi mở, “ra sâu, ra xa”, kiểm soát, thanh trừng hơn tôn trọng, khai phóng.
Cũng vì thành kiến không mấy tốt đẹp, người ta đi đến hành động soi mói, rình rập những sơ sót, vi phạm của người có trách nhiệm lãnh đạo trong Giáo Hội, và khai thác những điểm yếu “con người” nơi các vị tạo thành những “sóng thần” miệt thị, cao trào lên án kinh khủng dữ dội, ảnh hưởng nặng nề trên đời sống người tín hữu và uy tín của Giáo Hội.
2.   Giáo Hội bị coi là một tổ chức lạm dụng thần quyền:
Khi được hỏi: Tại sao bạn bất mãn với Giáo Hội? Vì Giáo Hội qúa lạm dụng thần quyền cho mục đích không chính đáng.
Đó là câu trả lời chiếm đa số, và người ta say mê kể ra hàng loạt những lạm dụng trong Giáo Hội ở mọi cấp độ, mà chúng ta khó có thể che chống, bênh vực.
Về vấn đề này, Bạn chỉ cần theo dõi những phương tiện truyền thông đại chúng sẽ thấy những nổi cộm căng thẳng bị coi là “xì căng đan” trong Giáo Hội, mà nhiều thế lực đang triệt để khai thác.
Cách chung, Giáo Hội bị tố cáo đã dung dưỡng những thành phần “lạm dụng thần quyền”, tức quyền thiêng liêng được trao ban để phục vụ, với mục đích tìm kiếm tư lợi, bằng những hành động vi phạm quyền làm người, làm con Chúa của người khác. Đó là chưa kể Giáo Hội bị rất nhiều người bực bội, vì những thái độ trịch thượng, cửa quyền, xơ cứng, vô cảm trước nhu cầu của người bé mọn, thấp cổ bé miệng đang “nài xin” lòng tốt của những con người tử tế.    
3.   Giáo Hội bị coi là một tổ chức lạc hậu, chậm tiến:
Một số không nhỏ những người trẻ không “tâm phục khẩu phục” Giáo Hội, vì cho rằng Giáo Hội với những luật lệ trói buộc, những phép tắc lỗi thời, những quy định lạc hậu, những giáo huấn không còn thích hợp và hầu như bất khả thi đối với người đương thời, những cấm cản bị coi là thiếu văn minh đã không còn khả năng  đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người thời đại.
Người ta đòi Giáo Hội phải thay da đổi thịt, phải đổi mới, phải can đảm “làm cách mạng” để không ù lì ở mãi trong vỏ ốc cổ hủ, cũ kỹ, han rỉ, và không co mình hưởng thụ trong tháp ngà của “tình trạng lãng quên” thế giới đang chuyển mình đến chóng mặt chung quanh mình.
Nói chung, những người bực bội với Giáo Hội cho rằng Giáo Hội đã trở thành lực cản của văn minh, tiến bộ khi đi ngược trào lưu, bơi ngược dòng đời và những gì Giáo Hội chủ trương không còn hợp với con người thời đại.
4.   Giáo Hội bị coi là tập thể những người ở trên và ở ngoài cộng đồng nhân loại:
Tuy có những đóng góp cho xã hội, nhưng não trạng khó tẩy gột ở một số phần tử trong Giáo Hội, khi coi mình là thành phần ưu tú đã dẫn đến những chọn lựa bị xem là “ở trên và ở ngoài” cộng đồng nhân loại, nghiã là “đi riêng, đánh lẻ”, chứ không gần gũi thân thiện, chia sẻ tận tình, đồng hành sát cánh với mọi người. Vì thế, Giáo Hội bị coi là giai cấp “cao, xa, sang, chảnh”, thích đi với giai cấp có quyền, thích giao du với thành phần có tiền, thích làm việc với những người sang trọng, và chảnh choẹ, coi thường kẻ nghèo hèn, nên đến với Giáo Hội rất khó, gặp gỡ Giáo Hội không luôn dễ dàng vì nhiều cổng sắt, hàng rào, cửa nẻo khóa kỹ, và được chia sẻ chân thành với Giáo Hội tất nhiên là điều hầu như “không có thể”, vì Giáo Hội thường bận bịu với những việc “ở trên và ở ngoài”.
5.   Giáo Hội bị coi là nơi không có tự do:
Cảm tưởng chung của nhiều người khi so sánh Công Giáo với các tôn giáo khác là bầu khí thiếu tự do ở Công Giáo. Chẳng hạn như các tín đồ Phật Giáo, họ không bị gò bó bởi cơ cấu tổ chức nặng nề, phức tạp của giáo hội, như tín hữu Công Giáo, vì cơ cấu tổ chức của Phật Giáo thường thông thoáng, nhẹ nhàng.
Cảm tưởng này dẫn đến định kiến không có tự do trong Giáo Hội Công Giáo, khi cho rằng “nhất cử nhất động” của người tín hữu đều bị xem xét, canh chừng, kiểm soát, trừng phạt, nếu vi phạm, và Giáo Hội cuối cùng chỉ còn là thể chế bảo đảm một trật tự được lập trình sẵn cho những “niềm tin yếu đuối, dựa dẫm, tầm gửi” không bao giờ trưởng thành, vì thiếu dưỡng khí tự do.
Sau khi vắn tắt lược qua những mũi dùi nhắm vào Giáo Hội, chúng ta thấy mặt trận chỉ trích, tấn công Giáo Hội có mức độ toàn diện kiểu “vết dầu loang”, nghiã là bất cứ “vấn đề” của một cá nhân nào trong Giáo Hội đều bị coi là vấn đề của toàn thể Giáo Hội, bất cứ sai phạm của một người nào trong Giáo Hội đều được coi là sai phạm của cả Giáo Hội, bất cứ hậu qủa tai hại nào do một người của Giáo Hội gây ra đều bị xem như việc làm tắc trách, đáng lên án của tất cả Giáo Hội, đúng như kinh nghiệm dân gian thường chia sẻ: “Con sâu làm rầu nồi canh”, nhưng chính xác hơn là lời căn dặn của thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côrintô khi Ngài dậy về Giáo Hội là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Giêsu: “Không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung” (1 Cr 13,25-26).
Riêng với người viết, trong tư cách con cái trong gia đình Giáo Hội, khi đứng trước những phê phán, chỉ trích, miệt thị, lên án, bách hại mà Mẹ Giáo Hội phải gánh chịu, tôi luôn suy nghĩ và tìm hy vọng, nghị lực ở duy nhất một điều, đó là “Ý muốn của Đức Giêsu”, Đấng sáng lập và là Đầu của Giáo Hội.  
1.   Do ý muốn của Đức Giêsu mà Giáo Hội được thành lập với sự có mặt và cộng tác của con  người để phục vụ con người:
Đức Giêsu đã không lập một Giáo Hội “không có con người”, mặc dù con người nào cũng bất toàn, nếu không muốn nói là tội lỗi, bởi Giáo Hội không là tập thể những thánh nhân, những con người hoàn hảo, những siêu sao tài đức vẹn toàn, những thiên thần giữa trần thế, nhưng là đoàn thể những người đi theo Đức Giêsu.
Chỉ một điều kiện “đi theo Đức Giêsu” thôi đã đủ để trở thành người thuộc Giáo Hội, chỉ một điều kiện “muốn trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu” thôi đã đủ trở nên chi thể của Thân Thể mầu nhiệm có Đức Giêsu là Đầu, để một khi đã thuộc về Giáo Hội, đã là chi thể của Thân Thể Đức Giêsu, người tín hữu sẽ được chính Đức Giêsu nuôi dưỡng bằng sự sống của Ngài, được  thánh hoá bằng máu Ngài, được đổi mới bằng ơn Ngài, như thánh Phaolô đã viết: “Ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy. Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, chung ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1 Cr 12,12-13).
Do đó, trong Giáo Hội có đủ mọi chủng tộc, mọi thành phần, mọi giai cấp, mọi trình độ với một mẫu số chung: tất cả đều là những con người yếu đuối, mỏng dòn, tội lụy muốn đi theo Đức Giêsu để được trở nên giống Ngài hơn mỗi ngày.
Đó chính là lý do chúng ta thấy trong Giáo Hội những con người đã làm gương mù gương xấu, những con người đầy thói hư tật xấu, những con người rất tầm thường, tồi tệ, những chi thể ốm yếu, bệnh hoạn, nhưng đó cũng là nền tảng sự bền vững của Giáo Hội, vì Giáo Hội được Đức Giêsu thiết lập như Nhà của Thiên Chúa cho con người yếu đuối, bệnh hoạn được nương náu, chữa lành, Mái Ấm yêu thương của Thiên Chúa giữa trần gian cho tội nhân đang cần lòng thương xót, nên bao lâu Giáo Hội còn là nơi chở che, an ủi, cứu giúp người có tội, kẻ bất hạnh phần hồn phần xác, bấy lâu Giáo Hội còn lý do có mặt giữa loài người, vì loài người cần được cứu rỗi.
Vì thế, khi bức xúc thái qúa và lên án gắt gao những tín hữu bị coi là “bất xứng” trong Giáo Hội, cũng như thất vọng, ngã lòng trước tội lỗi ngay trong lòng Giáo Hội, chúng ta đã vô tình không hiểu ý muốn của Đức Giêsu là lập một Giáo Hội gồm những con người tội lỗi để cứu những con người tội lỗi.  
2.   Do ý muốn của Đức Giêsu mà Giáo Hội được dại diện bởi một  con người có tội:
Có bênh vực đến đâu, dưới  mắt người đời, tông đồ trưởng Phêrô cũng vẫn không xóa được lý lịch chối Thầy, và vết chàm phản bội. Ấy thế mà Đức Giêsu, Đấng sáng lập Giáo Hội vẫn không thay thế vai trò “anh trưởng của Nhóm Mười Hai” bằng một vị khác có lý lịch sạch, có nhân thân bảo đảm, có qúa trình “trung tín”. Trái lại, Ngài vẫn chọn và trao cho Phêrô chià khoá Nước Trời, và thay mặt Ngài quản trị Giáo Hội ở trần thế (x. Mt 16,18-19).
Làm như thế, Đức Giêsu muốn chúng ta thấy rõ ý muốn của Ngài là “đến để cứu những tâm hồn thống hối, đến để chuộc lại những gì đã hư mất, đến để đem lại hy vọng cho những trái tim thất vọng, đến để tha thứ những bước chân trở về, đến để thương xót những giọt lệ ăn năn”, như Ngài đã âu yếm “quay lại nhìn” Phêrô bên trong dinh thượng tế, giúp ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông: “Hôm nay, gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần”. Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết (Lc 22,61-62), cũng như ba lần hỏi ông “Con có yêu mến Thầy không?” bên bờ hồ Galilê, để xác quyết tình Ngài dành cho ông trước sau như một, trung tín đến cùng, và đời đời bền vững (x. Ga 21,15-17).
Ý muốn chọn Phêrô với lý lịch không trong sạch làm người đại diện mình quản trị  Nhà Giáo Hội, Đức Giêsu bộc lộ ý muốn có một Giáo Hội được nuôi dưỡng bằng tình yêu thương xót, được trưởng thành với lòng thương xót khi tất cả thành phần trong Giáo Hội bất kể ai, bất kể ở đấng bậc, vị thế, trách nhiệm nào  đều phải thực hành lòng thương xót, thực sự sống lòng thương xót, thực tình phục vụ anh em với lòng thương xót, bởi Giáo Hội sẽ chỉ là Giáo Hội của Đức Giêsu khi biết chạnh lòng thương xót và khiêm tốn biết mình cần được xót thương, và bao lâu trong Giáo Hội, con người “còn xót thương và còn được thương xót”, bấy lâu Giáo Hội còn là dấu chỉ sự hiện diện và hoạt động của Đức Giêsu, Thiên Chúa của lòng thương xót giữa nhân loại.        
Nhận ra ý muốn của Đức Giêsu khi giao cho Phêrô, người môn đệ có tội nhưng  thống  hối trở về, chià khóa Nước Trời, chúng ta không còn những ý nghĩ tiêu cực về một Giáo Hội dành riêng cho người thánh thiện, ưu tú, không tỳ ố, hoặc Nước Trời  chỉ là nơi đón “các chư thánh, Đấng Bậc toàn thiện, toàn mỹ”. Trái lại, Giáo Hội là nhà thương của Thiên Chúa, và Nước Trời là  bến bờ hy vọng của tội nhân tín thác vào lòng Chúa xót thương. 
3.   Do ý muốn của Đức Giêsu mà Giáo Hội là đoàn thể lữ hành:
Báo trước cho các tông đồ tương lai của Giáo Hội, một hành trình nhiều sóng gió, nhiều chông gai, nhiều cạm bẫy, nhiều thử thách, bách hại, Đức Giêsu ân cần cảnh báo: “Này Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10,16), nên “nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước… Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,18.20).
Chia sẻ với các tông đồ ưu tư này,  Ngài cũng muốn nhấn mạnh với các ông: Giáo Hội của Ngài không là một pháo đài, một tình trạng chiến thắng sau khi đã đạt đích, nhưng là một hành trình, một con đường phải đi, mà tất cả những ai muốn theo Ngài đều phải lên đường, phải đi như một lữ hành, lữ khách có lúc hăng hái, chân bước rộn ràng trong gió xuân, cũng có khi mệt nhoài, mồ hôi nhễ nhãi, chân chồn gối mỏi dưới nắng hè thiêu đốt, lại có lúc run rẩy lần mò từng bước trong sương tuyết, giá lạnh mùa đông.
Vì là lữ hành trên đường dài nhiều rủi ro, thách đố, người tín hữu trong Giáo Hội biết mình không thể đơn độc trên đường dài vạn dặm, nhưng cần Chúa và cần anh em. Biết mình cần, vì không toàn năng; biết mình cần, vì có lúc yếu đuối, bất lực, không thể tự xoay sở, nên người lữ hành sẽ cần khiêm tốn để đón nhận ơn Chúa, ơn người; sẽ cần hiền lành, cởi mở để kề vai sát cánh với anh em; sẽ cần qủang đại, chân thành để chia sẻ, cộng tác với mọi người. Nhờ thế, con cái Giáo Hội sẽ không kiêu căng, vênh váo nghĩ mình là kẻ đã đạt đỉnh vinh quang thánh thiện, không tự mãn, tự phụ cho mình là kẻ chiến thắng, không cục bộ, khinh miệt, kỳ thị những người còn vất vả trên đường chiến đấu, và nhiều phen qụy ngã. Trái lại, Giáo Hội lữ hành khiêm tốn, nhẫn nại bước đi với Đức Giêsu trên con đường Từ Bỏ “những gì không thuộc về Đức Giêsu”, từ bỏ những hành trang lỉnh kỉnh, cồng kềnh ngược với Tin Mừng, từ bỏ “cái tôi” vĩ đại, hoành tráng, đỉnh cao tuyệt vời. Chính “cái tôi” ích kỷ, kiêu căng, hưởng thụ là những gì không thuộc về Đức Giêsu và không phù hợp Tin Mừng đã đục khóet Thân Thể mầu nhiệm, làm méo mó khuôn mặt Giáo Hội, lấy đi dung nhan xinh xắn, dễ thương của Hiền Thê  Đức Giêsu.
Vâng, ý muốn của Đức Giêsu mới là điều chúng ta cần bám chặt để vượt qua những cám dỗ “coi thường, khinh chê, lên án, phủ nhận” Giáo Hội, bởi một khi ý thức và xác tín: Ý muốn của Đức Giêsu, Thánh Ý của Thiên Chúa mới là mục tiêu chúng ta tìm, chúng ta sẽ không “làm khổ” Giáo Hội, “phân thây” Giáo Hội, “mổ xẻ” Giáo Hội như chúng ta muốn, như thế gian đề nghị, như ma qủy hiến kế, vì một lý do duy nhất: Đức Giêsu đã lập Giáo Hội theo ý muốn của Ngài, và ý muốn ấy bảo đảm sự sống, hoạt động và bền vững của Giáo Hội, mà “quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18).
Thực vậy, ý muốn của Thiên Chúa không luôn phù hợp với ý muốn của con người, và thường làm chúng ta bị sốc. Tin Mừng làm chứng điều này, khi giáo huấn của  Đức Giêsu đã làm đám đông bực bội, nổi nóng phản đối Ngài, như khi Ngài tuyên bố: “Tôi là bánh  hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống… Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống” (Ga 6,51. 54-56). Ngay cả các môn đệ cũng cho rằng: “Lời này chướng tai qúa!... Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Ga 6,60.66).
Là ý muốn của Thiên Chúa, nên Giáo Hội cũng như con đường Từ Bỏ phải đi của Giáo Hội đã không hấp dẫn nhiều người. Trái lại, nhiều người đã ngao ngán bỏ đi, không theo Đức Giêsu nữa, vì không thể chấp nhận ý muốn “lạ đời, khác người” của Ngài.
Với ơn Chúa, Bạn và tôi đã là con cái trong Giáo Hội, hay sắp gia nhập gia đình Giáo Hội, chúng ta chung nhau một niềm xác tín: sự toàn hảo của Giáo Hội được tỏa sáng trong chính những bất toàn, bất hảo của chúng ta, và Giáo Hội hôm qua cũng như hôm nay và cho đến tận thế vẫn là một Giáo Hội yếu đuối “trong những gì của con người”, nhưng vô cùng mạnh mẽ trong Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho Giáo Hội sống và không ngừng hoạt động trong Giáo Hội.
Vì thế, nếu Giáo Hội đã không chu toàn sứ mệnh được Đức Giêsu trao phó, là vì Giáo Hội đã quy tụ những con người yếu đuối là chúng ta. Nhưng dù thế nào đi nữa, Giáo Hội luôn là đảm bảo chắc chắn của sự trung thành với Lời Thiên Chúa, và gìn giữ kỹ lưỡng kho tàng đức tin.
Trong tâm tình con cái của gia đình Giáo Hội, chúng ta xin Chúa ơn biết sống sứ mệnh của Giáo Hội mỗi ngày, đó là Hiệp Thông trong Tình Yêu Mến, Cầu Nguyện và Loan Báo Tin Mừng.
Jorathe Nắng Tím