Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 23 tháng 6, 2020

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 13, Thường Niên, Năm A

Thiên Chúa là Đấng giầu có, và không bao giờ chịu thua lòng qủang đại của chúng ta, khi chúng ta rộng lòng với Ngài và với môn đệ của Ngài.
Cựu Ước đã nhiều lần mặc khải chân lý này, như trường hợp ngôn sứ Êlisa khi đi qua Sunâm đã được một phụ nữ giầu sang niềm nở tiếp đón, và “giữ lại dùng bữa… Bà còn nói với chồng làm cho ngôn sứ một phòng đầy đủ tiện nghi để khi ngôn sứ ghé đến sẽ có chỗ nghỉ ngơi” (x. 2 V 4,8-10). Nhưng tội nghiệp “Bà ấy không có con trai và chồng thì đã già”. Và ngôn sứ Êlisa đã thưởng công cho lòng tốt của bà bằng xin Chúa ban cho bà một con trai. “Qủa nhiên, bà ấy có thai, và năm sau, vào thời kỳ mà ông Êlisa đã nói thì bà sinh con trai” (2 V 4,17).
Thực vậy, đối với Thiên Chúa, bất cứ một ý nghĩ, ước muốn, thái độ, hành động yêu thương, qủang đại nào của chúng ta, dù nhỏ bé đến đâu cũng đều qúy giá, đáng được khen thưởng vì mang giá trị đời đời, bởi không có gì bị quên đi, bị bỏ qua bởi Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự tận sâu thẳm tâm hồn mỗi người, và đánh giá mọi chi tiết theo mức độ của tình yêu, như câu chuyện bà goá túng thiếu đã bỏ vào thùng dâng cúng của Đền thờ hai đồng xu bé nhỏ, và bà đã được Đức Giêsu tuyên dương: “Thầy bảo thật anh em: bà góa này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Qủa vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Lc 21,3-4).
Ở đây, chúng ta được Thiên Chúa mặc khải thêm một chân lý khác nữa, đó là sự gắn bó thiết thân giữa Thiên Chúa và môn đệ của Ngài, thiết thân đến độ: “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy; và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10,40). Như thế, giữa Chúa Cha, Đức Giêsu và môn đệ của Đức Giêsu có một sự hiệp nhất kỳ diệu.
Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma đã cắt nghiã sự hiệp nhất thiết thân kỳ diệu giữa người tín hữu và Thiên Chúa: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng đuợc mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cái chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,3-4).
Qua lời dậy trên, thánh nhân đã khẳng định sự đọan tuyệt với đời sống cũ của người tín hữu khi tin vào Đức Giêsu và chấp nhận “coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6,11).    
Và Tin Mừng Mátthêu cho chúng ta biết điều kiện phải có của người môn đệ, đòi hỏi phải được đáp ứng của người muốn đi theo và thuộc về Đức Giêsu: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10,38-39).
Xin Chuá cho chúng ta học tinh thần qủang đại của người đàn bà đã hiếu khách khi đón tiếp ngôn sứ Êlisa là người của Thiên Chúa, bằng tập chia sẻ, giúp đỡ đặc biệt các nhà truyền giáo là những người tận hiến cuộc đời để chuyên lo phụng sự Chúa và phục vụ Giáo Hội. Thực hiện việc chia sẻ quảng đại đó chính là sống từng ngày đòi hỏi của Tin Mừng, và đáp ứng điều kiện phải có của người muốn theo Đức Giêsu để “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10), khi bỏ mình, vác thập giá trên con đường mà thế gian coi là ngu xuẩn, dại khờ, nhưng lại là đường khôn ngoan, đường dẫn đến sự sống đời đời, sự sống của Thiên Chúa.   
Jorathe Nắng Tím  

Chương 2: Ma quỷ là ai?

Trong chương thứ nhất, chúng ta đã đề cập đến sự hiện diện của ma quỷ, để phản biện lại một số người đã không tin có ma quỷ. Có nhiều lý do dẫn đến chọn lựa không tin có ma quỷ này.
Trước những thực tại thiêng liêng, vô hình, con người không thể nắm bắt, thấu hiểu dễ dàng. Phải có Đấng Thiêng Liêng, Đấng Vô Hình Con Thiên Chúa làm người mới mặc khải đầy đủ và chính xác những thực tại thiêng liêng ấy. Đấng ấy chính là Đức Giêsu, Đấng quả quyết với chúng ta: Có ma quỷ, khi Ngài chấp nhận để ma quỷ cám dỗ, khi Ngài nghiêm nghị quát mắng, ra lệnh, và xua đuổi chúng ra khỏi những người bị chúng khống chế, ám nhập. Chỉ có Ngài-Đức Giêsu, với uy quyền của Thiên Chúa mới bảo đảm tính xác thực về danh tính, lý lịch, hành tung của Satan, thủ lãnh các ma quỷ.
Ở đây, dựa trên Mặc Khải của Đức Tin, chúng ta điểm mặt, gọi tên Satan, lật tẩy ý đồ gian ác, cũng như công việc tối tăm của chúng trong thế giới loài người.
Kinh thánh cho chúng ta biết đích xác ma quỷ và hoạt động của chúng. Dựa vào Kinh Thánh, một lần nữa chúng ta nhận diện “ông hoàng của thế gian”, “tên tố cáo, xảo quyệt”, “kẻ xúi giục, cám dỗ”
1. Đối với Thiên Chúa
Trước hết, ma quỷ là thụ tạo thiêng liêng được Thiên Chúa dựng nên. Thiên Chúa là Đấng Chủ Tạo đã tạo nên ba loài thụ tạo khác nhau: Loài thụ tạo thiêng liêng, không có thân xác là các thiên thần; loài thụ tạo thứ hai là thực vật, động vật và mọi thứ vật chất khác; loài tạo vật sau cùng có cả tinh thần lẫn vật chất, tức thân xác và linh hồn là con người.
Ma quỷ là thụ tạo thiêng liêng, chỉ có tinh thần được tạo dựng để phụng sự Thiên Chúa trên trời. Nơi ở của các vị là thiên đàng, trước ngai Thiên Chúa.
Ma quỷ là thiên thần, nhưng là thiên thần phản nghịch: nghĩa là đã kiêu căng muốn bằng Thiên Chúa, và nổi loạn chống Thiên Chúa. Thị kiến của Thánh Gioan đã mô tả cảnh nổi loạn của Luxiphe, Tổng lãnh Thiên thần đứng đầu phe phản loạn, cuộc giao chiến ác liệt giữa hai phe trung thành và phản nghịch. Tổng lãnh Thiên thần Micae lãnh đạo phe trung thành đã chỉ huy trận giao đấu này, còn Luxiphe cùng bè lũ phản nghịch đã bị đánh bại và bị trục xuất khỏi thiên đàng (Kh 12,7-12).
Từ nay, thiên thần phản nghịch trở thành ma quỷ, và Satan là tên của thủ lãnh ma quỷ. Hắn còn có những tên khác ít được nhắc tới như Beelzebub, Luxiphe, Asmodeus, Meridian, Zebulun…
Địa chỉ mới của các thiên thần phản nghịch tức ma quỷ từ nay là hỏa ngục, ở đó chỉ có lửa ghen ghét, hận thù, bất hạnh, không chút tình yêu thương, nhưng ngợp tiếng “khóc lóc, nghiến răng” (Mt 13,50). Nhưng ngoài địa chỉ thường trú là hỏa ngục, ma quỷ còn những địa chỉ tạm trú, vãng lai khác, đó là nơi ở của con người, tâm hồn của con người, xã hội, thế giới con người sống. Điều này có nghĩa ma quỷ còn được phép rong ruổi phá phách, cám dỗ con người trong một thời gian nữa cho đến ngày trở lại của Đức Giêsu, như sách Khải huyền đã viết về Satan và hoạt động của nó trong thế giới loài người: “Nó được ban cho quyền hành động trong vòng bốn mươi hai tháng”. Trong suốt thời gian được hoạt động này, Satan sẽ phạm thượng đến Thiên Chúa, xúc phạm đến các thánh, “giao chiến với dân thánh và thắng họ, và còn được ban quyền trên mọi chi tộc, mọi nước, mọi ngôn ngữ và mọi dân” (Kh 13,5-7).
Đây là một điều chúng ta cần quan tâm để luôn cảnh tỉnh trước sự hiện diện và công việc của ma quỷ, bởi chính Thiên Chúa đã cho phép ma quỷ còn được tồn tại và hoạt động trong thế giới loài người. Đức Giêsu đã khẳng định với các tông đồ: “Hãy tỉnh thức cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ” (Lc 22,39), vì ma quỷ sàng chúng con như sàng gạo”. Cám dỗ đây là cám dỗ của ma quỷ, vì chúng không mỏi mệt rảo quanh mọi nơi con người có mặt để mồi chài, lôi kéo, dụ dỗ con người làm điều gian ác, chống lại Thiên Chúa. Bản án đời đời của ma quỷ tuy đã được công bố, nhưng thời gian thi hành án chưa hoàn toàn kết thúc, nên quyền lực tối tăm của chúng trên trần gian vẫn còn hiệu lực, và chúng vẫn còn khả thể quấy nhiễu, phá hoại công trình của Thiên Chúa và làm hư hỏng con người.
Khi các thượng tế, lãnh binh Đền Thờ và kỳ mục đến bắt Ngài, Đức Giêsu đã nói với họ: “Ngày ngày tôi ở giữa các ông trong Đền Thờ, mà sao các ông không tra tay bắt. Nhưng đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22,53). Ngài có ý nói quyền lực của ma quỷ đang thống trị tâm hồn những người đi lùng bắt, truy diệt Ngài.
Trong giây phút bi hùng nhất trước khi bị bắt, Đức Giêsu đã cầu nguyện cho các môn đệ. Bằng giọng khẩn khoản, thiết tha, Ngài đã xin Chúa Cha “gìn giữ họ khỏi ác thần”, tức là gìn giữ họ khỏi rơi vào cạm bẫy, nanh vuốt của ma quỷ, vì họ là chứng nhân được sai đi làm chứng về Ngài, là đối tượng mà Satan và bè lũ cần phải mau chóng tiêu diệt. Trong bữa tiệc chia tay, Giuđa, người môn đệ phản bội cũng đã được nhắc đến như một người đã tự nguyện trao linh hồn cho ma quỷ: “Rồi Người chấm một miếng bánh, trao cho Giuđa, con ông Ítcariốt. Ông vừa ăn xong miếng bánh, thì Satan liền nhập vào ông” (Ga 13,26-27).
Sở dĩ ma quỷ vận dụng mọi khả năng để chống phá Thiên Chúa, lôi kéo mọi người xúc phạm, phản nghịch Thiên Chúa như chúng đã xúc phạm, phản nghịch, vì chúng căm thù Thiên Chúa. Chúng căm thù vì bị Thiên Chúa trừng phạt khi chúng phản nghịch. Là đối thủ của Thiên Chúa, Đấng là Chân, Thiện, Mỹ, Tuyệt Đối, nên ma quỷ là Gian Dối, Xấu Xa, Ác Độc. Và như thế, Thiên Chúa là Tình Yêu ban Bình An, Hạnh Phúc; ma quỷ là Hận Thù đem lại chiến tranh, bất hoà, và đau thương, bất hạnh. Thiên Chúa là lòng thương xót, thứ tha; ma quỷ là căm thù, báo oán. Thiên Chúa là Niềm Vui, Hy Vọng; ma quỷ là sầu buồn, tuyệt vọng. Thiên Chúa là Sự Sống và Sự Sống Lại; ma quỷ là tử vong, và chết đời đời. Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ; ma quỷ là kẻ phá hoại, tiêu diệt. Thiên Chúa là Đấng chở che, bênh đỡ; ma quỷ là kẻ tố cáo, bức hại. Thiên Chúa tín trung; ma quỷ phản bội. Thiên Chúa, Chủ Tạo toàn năng; ma quỷ chỉ là thụ tạo giới hạn.
Là thụ tạo thiêng liêng, ma quỷ được Thiên Chúa ban quyền năng của một thụ tạo thiêng liêng, nhưng quyền năng ấy bị giới hạn trong phạm vi thụ tạo, vì trước hay sau khi phản nghịch, lúc còn là thiên thần phụng sự Thiên Chúa hay bây giờ thành ma quỷ chống phá Thiên Chúa, chúng vẫn luônvị thế thụ tạo trước Thiên Chúa. Chính vì kiêu căng muốn ngang hàng với Thiên Chúa, mà chúng đã mất hết ơn nghĩa của một thụ tạo luôn vâng phục Đấng Chủ tạo của mình.
Nhưng vì bản chất là thiên thần, một thụ tạo thiêng liêng, từng là hữu thể hoàn hảo được bàn tay Thiên Chúa tạo dựng, nên ma quỷ được Thiên Chúa phú ban cho trí tuệ, ý chí, tự do, và sáng kiến. Nay chúng bất trung, phản nghịch thì bản tính thiêng liêng với các quyền năng từ bản tính thiên thần ấy vẫn tồn tại, vì Thiên Chúa không bao giờ hủy bỏ bất cứ một tạo vật nào do tay Ngài đã tạo nên. Đây là mầu nhiệm cao sâu của Tình Yêu sáng tạo nơi Thiên Chúa, Đấng nâng niu và gìn giữ mọi thụ tạo của Ngài, và không hủy diệt chúng, kể cả khi chúng bất tuân, phản nghịch Ngài.
Ma quỷ cũng là thụ tạo, loài người cũng là thụ tạo. Cả hai đều có trí tuệ, ý chí tự do, tuy có khác nhau về mức độ. Cả hai đều được thương yêu, nhưng cả hai đều bất trung, bất phục tùng Thiên Chúa. Nhưng cả hai đều không bị hủy bỏ, hay bị xóa khỏi sổ sự sống, trái lại, cả hai vẫn duy trì bản tính, giữ lại khả năng vốn được Thiên Chúa ban của mình. Điển hình là tự do, con người dù sa ngã vẫn còn nguyên vẹn tự do của mình để chọn lựa thiện ác. Ma quỷ cũng vẫn tồn tại trong tự do của chúng, chúng vẫn tiếp tục bị phán xét về những việc làm gian ác của chúng, bởi Chúa tạo nên thiên thần và loài người có tự do. Ngài không bao giờ loại bỏ các tạo vật của Ngài ngay cả khi chúng trở nên hư hỏng, nhưng Ngài thưởng công cho mỗi người theo công trạng của họ, vì mỗi người, cũng như mỗi thiên thần đều bị xét xử theo những hành động của mình.
Như thế, ma quỷ có thể làm được những “điềm thiêng dấu lạ” để mồi chài con người: có thể thực hiện những việc phi thường để lôi cuốn con người: có thể tạo nên những việc cả thể, chói lòa vinh quang, ngập tràn hạnh phúc để lừa phỉnh con người, vì chúng còn được giữ quyền năng của thụ tạo thiêng liêng. Nhưng vì bản chất ma quỷ từ nay là xảo quyệt, gian ác, hận thù, bạo lực, nên bất cứ việc gì chúng làm, bất cứ điều gì chúng hứa ban, bất cứ công trình nào có bàn tay chúng can thiệp, đều quy về một mục đích duy nhất là chống phá Thiên Chúa, và làm hại con người.
Vì thế, sẽ không có thương yêu, bình an, hạnh phúc thật nơi chúng, và hậu quả của việc chúng làm, lời chúng hứa sẽ chỉ là tai họa, bất hạnh, diệt vong.
Tóm lại, ma quỷ là thụ tạo kiêu căng, phản nghịch đối với Thiên Chúa. Chúng căm thù Ngài và lôi kéo con người đi theo chúng chống lại Thiên Chúa. Nhưng vì là thụ tạo, ma quỷ luôn khiếp sợ, run rẩy trước Thiên Chúa và phải vâng lời Ngài. Chúng không bao giờ có thể ngang hàng với Thiên Chúa, và không được làm thiệt hại sự sống của con người, cũng như làm tổn thương những người thuộc về Thiên Chúa nếu không được Thiên Chúa cho phép, như trường hợp ông Gióp trong Cựu ước.
Vì thế, điều chúng ta đừng bao giờ quên: ma quỷ không là đối thủ ngang hàng với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Đấng đã dựng nên ma quỷ, mà tiền thân của chúng là thiên thần phụng sự Ngài. Chúng căm thù Thiên Chúa bằng cách cám dỗ con cái của Thiên Chúa là loài người để mọi người theo chúng phản nghịch Thiên Chúa. Tuy vậy, sức mạnh của Thiên Chúa luôn chở che những ai trung tín với Ngài, và ma quỷ phải cúi mình, quỳ gối khi nghe tên Đức Giêsu, Thiên Chúa, Đấng đã đến để phá vỡ vương quốc của ma quỷ, cắt gỡ xích xiềng nô lệ cho những ai bị ma quỷ trói buộc, và giải phóng nhân loại khỏi ách thống trị của Satan. Qua sự chết và phục sinh, Đức Giêsu đã hoàn toàn chiến thắng ma quỷ, và đập tan mọi công trình tăm tối, tội lỗi của chúng trên địa cầu.

2. Ma quỷ và con người

Cách tốt nhất để nhận diện ma quỷ là đặt nó trong tương quan với Thiên Chúa, với con người, và với chính nó, bởi ma quỷ sẽ khó giấu được tông tích, lý lịch, thành tích của mình, điều mà ma quỷ luôn đặt lên hàng ưu tiên.
Với Thiên Chúa, ma quỷ là thụ tạo phản nghịch, nay trở thành thù địch vì căm tức, thì với con người, ma quỷ là tên nói láo, phỉnh gạt, gian ác. Chúng ghen ghét con người, vì con người được Thiên Chúa yêu thương. Chúng càng phẫn uất, điên cuồng ghen tuông với con người, vì con người đã sa ngã khi nghe chúng dụ dỗ nay lại được Thiên Chúa xót thương, cứu độ. Như thế, đối với loài người, ma quỷ là:

a. Đứa ghen tuông
Ma quỷ ghen tức với con người vì con người được Thiên Chúa cứu độ. Nó muốn mọi người cũng kiêu căng, phản nghịch và cùng chịu trừng phạt như chúng. Hỏa ngục, nơi giam cầm chúng cũng phải là nơi con người bị trừng phạt.
Ngay từ khi nguyên tổ loài người phạm tội, Thiên Chúa đã thương xót và hứa ơn cứu độ. Chính vì Lời Hứa này mà ma quỷ điên cuồng “nổi giận với Người Phụ Nữ và đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà, là những người tuân theo các giới răn của Thiên Chúa và giữ lời chứng của Đức Giêsu” (Kh 12,17). Người Nữ ấy, tức Đức Maria “mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1).

b. Tên xảo quyệt
Hình ảnh được sách Sáng thế dùng để chỉ Satan trong trình thuật sa ngã của nguyên tổ là con rắn: “Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng” (St 3,1). Được mệnh danh là tên xảo quyệt, ma quỷ khôn khéo lừa phỉnh con người, ngon ngọt với con người để đưa đẩy con người đi vào hủy diệt. Evà cũng vì thích ngon ngọt nên mới sập bẫy Satan khi trái lệnh Thiên Chúa, đưa tay hái trái Thiên Chúa cấm.
Vì gian xảo, nên ở ma quỷ không thể có sự thật, chân thành, tín trung.

c. Đứa lì lợm, chầy cối, trơ trẽn
Ma quỷ là khách không mời cũng đến, đến rồi không đi, có đi rồi cũng tìm cách trở lại và lì lợm ở mãi. Tâm hồn “trống vắng” Thiên Chúa, “trống trải” ơn Chúa, “trống rỗng” yêu thương là nơi ở lý tưởng của ma quỷ. Chúng rình rập và tìm cơ hội để đột nhập, chiếm đóng các linh hồn.

Tin mừng Mátthêu ghi lại: “Khi thần ô uế xuất khỏi một người, thì nó đi rảo qua những nơi khô cháy, tìm chốn nghỉ ngơi mà tìm không ra. Bấy giờ nó nói: “Ta sẽ trở về nhà ta, nơi ta đã bỏ đi”. Khi đến nơi, nó thấy nhà để trống, lại được quét tước, trang hoàng hẳn hoi. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng người đó còn tệ hơn trước” (Mt 22,43-45).

d. Tên độc ác
Ngoài xảo quyệt, nham hiểm, Satan còn độc ác, và chỉ tìm hành hạ con người, cốt để con người phải đau khổ, bất hạnh. Ở ma quỷ, người ta không thể tìm được yêu thương, bình an, nhân hậu, bao dung, trắc ẩn, vì bản chất của ma quỷ là ác độc, và việc làm của chúng luôn tàn nhẫn.
Những người bị quỷ ám đều chịu những đau khổ tinh thần và thể lý, và chẳng ai hạnh phúc, bình an bao giờ khi bị ma quỷ khống chế. Tin mừng Máccô vẽ lên hoàn cảnh khốn khổ, bị đọa đày của người bị quỷ ám: Đức Giêsu “vừa ra khỏi thuyền, thì từ đám mồ mả có một người bị thần ô uế ám liền ra đón Ngài. Anh này thường sống trong đám mồ mả, và không ai có thể trói anh ta lại được, dầu phải dùng đến cả xiềng xích. Thật vậy, nhiều lần anh bị gông cùm và xiềng xích, nhưng anh đã bẻ gẫy xiềng xích và đập tan gông cùm. Và không ai có thể kiềm chế anh được. Suốt đêm ngày, anh ta cứ ở trong đám mồ mả và trên núi đồi, tru tréo và lấy đá đập vào mình” (Mc 5,2-5).
Thánh Máccô kể tiếp: “Khi Đức Giêsu và ba môn đệ trở lại với các môn đệ khác, thì thấy một đám người rất đông đang vây quanh các ông, và các kinh sư tranh luận với các ông. Thấy Đức Giêsu, lập tức tất cả đám đông kinh ngạc. Họ chạy lại chào Người. Người hỏi các môn đệ: “Anh em tranh luận gì với họ thế?” Một người trong đám đông trả lời: “Thưa Thầy, tôi đã đem con trai tôi lại cùng Thầy; cháu bị quỷ câm ám. Bất cứ ở đâu, hễ quỷ nhập vào là vật cháu xuống đất. Cháu sùi bọt mép, nghiến răng, cứng đờ người ra…” (Mc 9,14-18). “Vừa thấy Người, quỷ liền lay nó thật mạnh, nó ngã xuống đất, lăn lộn, sùi cả bọt mép. Người hỏi cha nó: “Cháu bị như thế từ bao lâu rồi?”. Ông ấy đáp: “Thưa từ thưở bé. Nhiều khi quỷ xô nó vào lửa, hoặc đẩy xuống nước cho nó chết”… Khi thấy đám đông tuôn đến, Đức Giêsu quát mắng tên quỷ: “Quỷ câm điếc kia, Ta truyền cho ngươi: ra khỏi đứa bé và không được nhập vào nó nữa!”. Quỷ thét lên, lay nó thật mạnh, rồi ra khỏi” (Mc 9,20-26).

Thật tội nghiệp người bị ma quỷ khống chế. Satan đã biến người bình thường, hiền hậu ra người bệ rạc, hung dữ; người tươm tất, sạch sẽ ra dơ dáy, bẩn thỉu; người khôn ngoan ra điên khùng; người công chính thành gian manh; người quảng đại ra keo kiệt; người đạo đức thành sa đọa, vô luân. Bởi bản chất là gian ác, độc địa, nên ma quỷ không thể làm điều tốt, việc thiện, hành vi đạo đức cho ai. Chính vì thế, tin ở lòng tốt, việc tốt của ma quỷ là sai lầm lớn hơn tất cả mọi sai lầm cộng lại. Ấy thế mà nhiều người đã chạy đến cầu cứu ma quỷ sự trợ giúp, vì lầm tưởng ma quỷ, hay chưa biết ma quỷ là ai. Chỉ khi tai ương ập đổ mà ma quỷ lạnh lùng trở mặt, nhiều người mới bẽ bàng vỡ lẽ.

e. Kẻ tố cáo
Sách Khải huyền cảnh giác mọi người: Satan là tên tố cáo, ngày đêm nó tố cáo chúng ta trước tòa Thiên Chúa (x. Kh 12,10)
Vì ghen tuông với hạnh phúc được yêu thương và cứu độ của con người, nên ma quỷ rình mò những sơ hở, yếu đuối của con người để tố cáo, làm nhục con người trước đám đông. Đó là lý do khi trừ quỷ, các linh mục hay bị ma quỷ vanh vách kể trước mặt nhiều người những chuyện kín đáo, riêng tư của ngài, với mục đích bôi bác, hạ nhục, làm mất uy tín. Vì tâm địa xấu xa, muốn kéo người khác chìm nghỉm trong bùn đen, nên lời tố cáo của ma quỷ không mang sự thật, nhưng thường là những vu oán bất nhân, bất công, bất chính.
Ma quỷ tố cáo vì không có lòng thương xót để bao che, bênh vực như Thiên Chúa: ma quỷ tố cáo, vì không có lòng nhân từ để bỏ qua, tha thứ như Thiên Chúa; ma quỷ tố cáo vì không có lòng chung thủy để kiên nhẫn chịu đựng thiếu sót của người khác với niềm hy vọng đổi mới như Thiên Chúa.
Ở                 ma quỷ chỉ có ác tâm, ác ý, ác đức, ác nhân, ác khẩu, ác độc, ác ôn, ác quái, ác tà. Tất cả mọi ý nghĩ gian ác, mưu đồ gian ác, hành vi gian ác đều tập trung ở ma quỷ, vì bản chất của chúng là gian ác. Ở đây, gian ác không còn là tính nết hay tính cách, nhưng thuộc bản tính, là những gì không thay đổi được của một hữu thể.
Vì gian ác, nên ma quỷ làm hại con người, bằng đủ mọi phương tiện, cách thế, mà cách thế hữu hiệu hơn tất cả chính là cáo gian, tố bậy. Ở đây, ta hiểu tố bậy là tố không đúng, tố cáo người khác bằng quyền lực trong tay mình, tố cáo người khác mà không dựa trên công lý, nhưng lấy quyền lực để áp đảo, ép buộc, cưỡng chế phải nhận một tội không hề phạm. Cáo gian cũng được hiểu trong ý nghĩa này, khi công lý, sự thật hoàn toàn bị bóp chết, tống khứ, xóa bỏ, và chỉ còn lại sức mạnh phi nhân của kẻ tố cáo gian ác, độc địa.
Kinh thánh gọi ma quỷ là kẻ tố cáo, vì ma quỷ luôn lẻo mép tố cáo yếu đuối, sai phạm của con người với Thiên Chúa, và té tát đời tư tội lỗi với mọi người, vì chúng chỉ mong con người phải chết như chúng, phải bị truy diệt như chúng. Ma quỷ không có hạnh phúc quên hết lầm lỗi của người khác, như Thiên Chúa là người cha nhân từ đã chẳng nhớ gì tội lỗi, và những xúc phạm của đứa con hoang đàng trở về (Lc 15,11-30); ma quỷ cũng chẳng có niềm vui khi tội nhân được thanh tẩy, đổi mới, bởi mục tiêu duy nhất của ma quỷ là làm cho con người khổ sở, bất hạnh, diệt vong.
Tắt một lời, vì chỉ là hận thù, ma quỷ bất hạnh với chính mình, vì không biết “vui với ai mừng vui, khóc với ai đang khổ sầu”, nhưng đời đời chỉ sầu khổ, điên cuồng tuyệt vọng vì thấy con người được cứu độ, được đổi mới, được ở trong tình nghĩa với Thiên Chúa, và được sống hạnh phúc đời đời.
Như thế, với loài người, ma quỷ luôn ghen tuông, tức tối, rình rập và tìm mọi cách cám dỗ con người đi vào tội lỗi, vào con đường chết vì bất trung, bất nghĩa, bất tín, bất chính, bất công, bất hòa, bất kham đối với Thiên Chúa và đồng loại, để cùng bị trừng phạt trong hỏa ngục đời đời như chúng. Bởi vậy, ma quỷ không bao giờ có thể là bạn tốt của loài người, không bao giờ đem lại bất cứ một điều gì tích cực, tốt đẹp cho con người; không bao giờ xây dựng, vun xới, chở che, bênh đỡ con người; cũng không bao giờ cộng tác chân thành, thân thiện đồng hành với con người trên đường ngay nẻo chính, vì bản chất và lý do có mặt trong đời người của ma quỷ là gieo gian dối, ác độc, hận thù, bạo lực, sự dữ, và bất hạnh.

f. Tên cám dỗ dẻo miệng, ngon ngọt, quyến rũ
Ma quỷ nổi bật khả năng quyến rũ, cám dỗ, rủ rê loài người. Satan đã thành công với nguyên tổ. Nó cũng thành công với nhiều người. Chiến thuật cám dỗ của ma quỷ là luôn đánh vào ba điểm yếu của con người: muốn biết mọi sự, muốn được ngưỡng mộ, muốn có quyền trên người khác. Nói tóm lại, ma quỷ ve vãn “cái tôi tri thức”, ve vuốt “cái tôi vinh quang, hưởng thụ”, và vỗ về “cái tôi quyền lực”. Tất cả độc chiêu cám dỗ của ma quỷ đều nhắm “cái tôi kiêu căng, cái tôi quan trọng, cái tôi toàn năng, cái tôi thần thánh, vĩ đại”, và tập trung ở tham vọng độc tôn, độc quyền kín đáo có mặt trong mỗi người.



Đức Giêsu biết ma quỷ rất khéo cám dỗ và liên tục cám dỗ loài người, vì “Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31) nên Người nhắc chúng ta cầu xin “đừng để sa chước cám dỗ” (Mt 6,13), và liên lỉ tỉnh thức cầu nguyện để không sa chước cám dỗ của Satan và bè lũ, vì chúng biết: “Tinh thần thì hăng hái, nhưng thân xác thì yếu đuối” (Lc 14,38).

3. Ma quỷ với chính mình
Ma quỷ là kẻ phản nghịch Thiên Chúa, đối thủ của loài người, nhưng cũng là hình phạt của chính mình. Ma quỷ đã được dựng nên là thiên thần thánh thiện để phụng sự Thiên Chúa là tình yêu, hạnh phúc, bình an, hoan lạc. Vì có tự do, ma quỷ đã kiêu căng muốn bằng Thiên Chúa, khi chối từ vị thế thụ tạo của mình, mà nuôi tham vọng bất chính trở thành chủ tạo, thay chỗ Thiên Chúa.
Thánh Irênê đã viết về ma quỷ. Chúng ta có thể tóm tắt ý của thánh nhân: Ma quỷ là tên bội giáo tiêu biểu và cũng là tên lừa đảo của vũ trụ. Hắn muốn lừa tất cả mọi người, bằng cách làm trí khôn con người trở nên ngu muội, tăm tối để tôn thờ hắn hơn tôn thờ Thiên Chúa. Các quyền lực của hắn có giới hạn, bởi vì hắn chỉ là kẻ rắp ranh chiếm quyền, cướp quyền của Thiên Chúa. Chính vì thế, hắn không thể bắt buộc con người phạm tội. Hắn chỉ có thể cám dỗ, tìm cách thuyết phục con người chống lại Thiên Chúa và tôn thờ chúng. Hắn là thiên thần đã mất hết ơn sủng vì hắn ghen tức với Thiên Chúa khi muốn tự tôn thờ mình. Hắn cũng ghen tức với nhân loại, bởi loài người là hình ảnh của Thiên Chúa. Vì ghen ghét loài người, hắn đã lẻn vào vườn địa đàng với ác tâm cám dỗ nguyên tổ loài người bất tuân lệnh Thiên Chúa. Sự cám dỗ của Satan. Tuy thế, sẽ chẳng có tác dụng gì trên con người, nếu Thiên Chúa đã không ban cho con người ý chí tự do để chọn lựa thiện-ác, xấu-tốt. Satan là một tên cám dỗ tài tình và ngoan cố, vì lòng ghen tức của hắn luôn cao độ và đốt cháy tâm can hắn, chỉ vì hắn không thể chịu được khi thấy con người được Thiên Chúa yêu thương.
Như thế, ma quỷ phải sống tình trạng bị trừng phạt liên lỉ. Lòng ghen tuông, hận thù, tức giận, căm phẫn, bạo lực là hình phạt đời đời của chúng. Chúng phải sống, nhưng sống xảo quyệt, hận thù, bất hạnh: Sống những gì nghịch lại bản tính thiên thần là thánh thiện, yêu thương, bình an, hạnh phúc. Sự trừng phạt nặng nề mà Satan phải chịu, đó là sống chính những điều Thiên Chúa ghét bỏ. Bất hạnh của Satan và bè lũ là nỗi nhớ về những đặc ân ngày xưa khi còn trung thành với Thiên Chúa, vì dù gì, ma quỷ cũng không bị lấy đi bản tính thiêng liêng của mình. Đây là nỗi đau vô cùng kinh khủng, mà ma quỷ phải đời đời gánh chịu.
Như thế, ma quỷ là chính hình phạt, là chính tai ương, sự dữ, đau khổ chúng đang gieo trên đất người, và khi gieo gian dối, bạo lực, chia rẽ, hận thù, bất hạnh, chúng gieo chính mình, bởi sự dữ, hình phạt là chính chúng.
Cái đau khổ, khốn nạn của ma quỷ chính là chúng vẫn có khả năng để phải cảm nhận tất cả nỗi kinh hoàng, khủng khiếp của hình phạt ấy. Hỏa ngục không chỉ là nơi ma quỷ hành hạ những người đi theo chúng, nhưng là chính hình phạt dành cho chúng, khi chúng cũng đau đớn, khốn khổ như những người bị chúng cám dỗ đi vào.
Sở dĩ bọn quỷ nài xin Đức Giêsu: “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo” (Mt 8,31), khi Đức Giêsu xua đuổi chúng phải ra khỏi, hai người bị chúng ám, là vì ma quỷ sợ bị nhốt lại trong hỏa ngục. Với chúng, đi lang thang, quậy phá loài người trên trần gian vẫn đỡ khổ hơn bị nhốt kín trong hỏa ngục, dù trước sau gì, khi Đức Giêsu trở lại lần thứ hai, tất cả chúng sẽ bị xích chặt giam giữ đời đời trong hỏa ngục.
Nhận diện ma quỷ trong ba tương quan: Với Thiên Chúa, với loài người, và với chính chúng, là cách tốt nhất để thấy ma quỷ là kẻ phản nghịch, tên gian ác, và hình phạt đời đời của chính mình. Công việc nhận diện là công việc quan trọng đầu tiên phải thực hiện, mà nếu không làm, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng “nửa tin nửa ngờ” là cơ hội thuận lợi cho ma quỷ len lỏi, lọt vào thống trị tâm hồn và đời sống chúng ta.

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020

BÉ LÀ CON…

Được cha mẹ sinh ra, đương nhiên bé là con của cha mẹ, nhưng có thể bé là con độc nhất, con lớn nhất, con nhỏ nhất. Tuy con nào cũng là con, con nào cũng không thể thay thế, hoán chuyển, con nào cũng duy nhất đối với cha mẹ, nhưng mỗi đứa ở vào những vị trí làm con khác nhau nên có  những đặc điểm khác nhau. Cùng chia sẻ  những đặc điểm của con cái : đưá đầu lòng, đứa út ít, đứa độc nhất vô nhị, người viết mong được đóng góp vào hạnh phúc của cha mẹ và niềm vui được yêu thương của những người có tên là “Con”.
1.   Con một hay con độc nhất:
Không nói thì ai cũng biết con một là con được cưng chiều, vì ngoài bé ra, không còn con nào nữa. Thường bé đến trong nỗi đợi chờ, niềm mong đợi nóng bỏng của cha mẹ. Có thể vì cha mẹ lấy nhau muộn, hoặc cha mẹ gặp phải những khó khăn trong việc thụ thai. Ngày vào đời của em vì thế đã trở thành ngày trọng đại, ngày chứa chan hạnh phúc, niềm vui. Đúng vậy, khi nghe tin em chào đời, ai cũng vui. Niềm vui từ trái tim mẹ em, cha em chảy lai láng về cả hai họ nội ngoại.Và ai cũng cho mình là người vui nhất!
Ai cũng vui nhất vì bé đích thực là niềm vui. Ai cũng ngất ngây hạnh phúc, vì bé chính là hạnh phúc của gia đình và mọi người. Và từng ngày bé lớn theo niềm vui, hạnh phúc đó. 
Nhưng không mấy người biết bé có những vấn đề :
a.   Vì là lần đầu tiên có con, nên cha mẹ chưa có kinh nghiệm nuôi nấng, giáo dục. Chính vì thế, ít nhiều bé sẽ  chịu thiệt thòi. 
b.   Bé không có ai để chơi, không có ai để chia sẻ, cũng không có ai để đương đầu vì bé chỉ duy nhất một mình. Bé khám phá ra một điều: làm con độc nhất bé phải tự mình hoc hỏi đời sống làm con.
c.    Vì một mình, bé mang hết một mình trên đôi vai kỳ vọng, ước mơ của cha mẹ. Mẹ thì muốn bé sẽ là bác sĩ giải phẫu nổi tiếng, ba thì muốn bé sẽ là kiến trúc sư kỳ tài. Còn riêng bé? Bé chỉ thấy mình oằn lưng dưới gánh nặng của đủ thứ ước mơ, kỳ vọng trong đầu người lớn.
d.   Bé bắt đầu thấy ngột ngạt vì mẹ bao bọc bé  kỹ qúa. Không việc làm nào của bé mà mẹ bỏ qua, không đồ dùng nào của bé mà mẹ không kiểm tra kỹ lưỡng. Sự bao bọc qúa kỹ của mẹ cho bé cảm tưởng bé là một người tù, một “thiên tử” bị loài người cẩn mật canh giữ.
Những vấn đề vừa nêu sẽ đưa đẩy bé đến tình trạng tâm lý không mấy thuận lợi cho việc thành hình nhân cách của bé. Và vì không muốn rơi vào tình trạng bất lợ cho nhân cách, bé muốn cha mẹ cùng bé đề phòng :
a.   Vì được nuông chiều, “thần tượng”, “thần thánh hoá một cách lố bịch, bé dễ trờ nên ích kỷ, thiếu xã hội tính, không trưởng thành. Bé chấp nhận một cách lười biếng tình trạng được bao bọc, lệ thuộc mọi người, nhất là cha mẹ mà không muốn cố gắng đứng trên đôi chân và tự mình bước. Bé thả trôi đời mình trong tay cha mẹ và phó mặc hiện tại, tương lai cho người khác định liệu. Bé thực là một thân tầm gửi có hạng!
b.   Vì không quen đương đầu, xoay xở, chiến đấu, bé rơi vào tâm trạng sợ cuộc sống, sợ ra khỏi vòng ôm an toàn của mẹ, sợ đi xa mái ấm được xây tường, rào dậu. Bé chấp nhận ở mãi trong pháo đài an toàn hơn là xông pha dấn thân mạo hiểm vào cuộc đời trước mặt. Đôi chân của bé qủa yếu ớt trước nắng gió và đường dài ngày mai !

c.     Vì là cục cưng của cha  mẹ, bé dễ rơi vào một  liên đới tình cảm “bất thường”, con trai với mẹ, con gái với cha, một thứ tình cảm lẫn lộn tình cha con, mẹ con với tình đôi lứa. Đến một lúc nào đó, bé vô phúc trở thành  người tình của cha, nếu là con gái, hay người tình của mẹ, nếu là con trai. Hiện tượng tâm lý khá phức tạp này thường xẩy ra khi cha mẹ thuộc diện tâm lý “độc quyền và sở hữu”. Những cha mẹ thuộc diện này có khuynh hướng vật thể hoá con và biến chúng thành một vật sở  hữu trong sinh hoạt  mà không hay biết. Chính vì không biết mà  tình trạng tâm lý dễ trở nên suy đồi trầm trọng biến con cái thành nạn nhân của  mất quân bình tình cảm, đưa đến thái độ từ chối mọi liên đới tình cảm chính đáng khác trong cuộc sống. Không thiếu những thanh niên đã không thể sống đời hôn nhân, thiếu nữ từ chối đời làm vợ vì tuổi thơ đã là nạn nhân của một liên đời tình cảm không bình thường đối với cha mẹ.

d.   Một nguy cơ khác cũng thường thấy, đó là khi cha mẹ quá kỳ vọng trên đứa con độc nhất của mình đã phóng ảnh đời mình lên con và bắt con phải thực hiện đúng như những gì mình muốn. Hậu qủa là khi lớn lên, khi con không thực hiện được những “lý tưởng cao vời vợi” đó, cha mẹ sẽ biến thành thù địch của con chỉ vì con đã làm mình vỡ mộng. Trong trường hợp này, cha mẹ đã không hề tìm hạnh phúc cho con, nhưng từ đầu đã chỉ nghĩ thoả mãn tham vọng của riêng mình.

Con độc nhất có nhiều cái “nhất”, nhưng cũng dễ bị trúng “độc”. Khôn ngoan trong giáo dục chính là thận trọng trước từng vị trí của con cái để có những phương thức giáo dục thích hợp cho từng đứa. Hãy can đảm và khiêm tốn cùng con yêu “độc nhất” bước xuống cuộc đời để giúp con chạm mặt những gì không luôn đòi phải “nhất”, nhưng rất thực, rất gần, rất đáng yêu của cuộc đời mà con chưa bao giờ được gặp.

2.   Con đầu lòng:
Con đầu lòng cũng có nhiều điểm tương đồng với đứa con độc nhất, vì là con thứ nhất và duy nhất cho đến khi xuất hiện đứa thứ hai. Vì chưa có đứa thứ hai, cha mẹ sẽ dồn tất cả tình yêu và quan tâm cho bé. Tuy thế, không như đứa con độc nhất, con đầu lòng không trở thành con Trời, con vua, cũng không “tầm gửi, lười biếng, buông xuôi, phó mặc”, nhưng luôn ý thức về một  trách nhiệm lớn.

Con đầu lòng tự ý thức vai trò đứng đầu, “lãnh đạo” của mình. Em biết cha mẹ trông cậy vào em, tín nhiệm em và cần đến em để nuôi nấng, chăm nom các con khác. Em nhận ra một cách tự nhiên vai trò đại diện, thay thế cha mẹ khi cha mẹ vắng mặt, một vai trò cực nặng đối với em. Trên vai em dường như lúc nào cũng lên xuống, nhấp nhỏm một gánh nặng đối với các em và một ước vọng đỡ đần cha mẹ. Em không cho phép mình chơi thoải mái, quậy tới bến như  các em, nhưng nhiệm vụ cao cả làm anh cả, chị hai nhắc  em phải chăm sóc các em, thận trọng bảo vệ các em, đằm thắm yêu thương các em, nhẫn nhịn chịu đựng các em, kiên nhẫn bảo ban các em và nếu cần cứng rắn sửa sai các em.
Là con đầu lòng, em cũng mang nỗi lo cho tương lai của đàn em và tự khoác cho mình chiếc áo “bảo mẫu” nặng chình chịch.
Có nhiều chị hai đã không muốn đi lấy chồng vì thương các em, vì không muốn cha mẹ một mình gánh vác đàn con đông. Những chị hai chấp nhận “ở vậy” không lấy chồng vì các em đã tự nguyện hy sinh chính đời mình. Bên cạnh những chị hai từ chối hẳn đời hôn nhân, còn những chị hai đi lấy chồng nhưng ngay ngáy lo lắng cho các em thay cha mẹ. Các bà chị hai này dễ rơi vào tình trạng tâm lý bị xé đôi: một bên gia đình lớn với cha mẹ, các em, một bên gia đình nhỏ với chồng con và hậu qủa sẽ không tốt đẹp khi người chồng ích kỷ lên tiếng phản đối. Người chồng có thể phản đối sự quan tâm thái qúa của chị đối với cha mẹ riêng và các  em bên nhà  khi thấy chị ngược xuôi, vất vả, bơ phờ vì lo chuyện bên nhà, nhất là khi những “lo lắng” đó đụng chạm đến vật chất, tiền bạc của gia đình nhỏ. Nhiều gia đình đã đổ vỡ vì nguyên nhân tình cảm rất “tế nhị” này. Nhiều chị hai đã không đủ khôn ngoan phân định ranh giới của bổn phận. Nhiều xung đột đã xẩy ra chỉ vì chị hai quá “hot” với việc của gia đình riêng mà  đôi chút lơ là chuyện gia đình mình đã đưa đến bực dọc, bất mãn nơi người chồng không  cùng “tần số”.

Trong nghiên cứu về tâm lý tuổi cặp kê, các nhà tâm lý đã đề cập đến tình trạng không thể tiến tới đời sống lứa đôi của một số thiếu nữ đã không có khả năng tách mình ra khỏi gia đình riêng khi quan hệ với bạn trai. Nhiều cô gái đã không thể đi chơi riêng với bạn trai mà không kéo theo một hai đứa em; không thể kết thúc một buổi hẹn hò mà không nhắc đến các em, cha mẹ với nhân tình đang chỉ chú ý đến cô, và chỉ quan tâm một mình cô; không thể bỏ quên những chuyện “chẳng đâu vào đâu” và thường là những chuyện không vui, những nhu cầu vật chất của gia đình mình trong dòng tâm sự với người yêu; không thể không thở than, sụt sùi thương thằng em đau bệnh, thương con em bị ở lại lớp, thương cha vừa mất việc, thương mẹ bán buôn ế ẩm với người tình đang chỉ muốn nói chuyện “hai đứa”, chuyện “chúng mình”. Cô gái đang làm một công việc không nên làm vì chính cô đang đẩy xa người tình muốn đến với cô, đang làm tan tình cảm chàng dành cho cô, vì cô quên bẵng một điều tối quan trọng trong tình yêu và đời sống đôi lứa, đó là hai người là đối tượng duy nhất của nhau, hai người đến với nhau và chỉ vì nhau mà đến. Vì thế, tất cả những gì không phải là “nhau” đều không có ý nghiã và lý do tồn tại, nhất là ở buổi sơ giao, tìm hiểu. Cô đã làm một lỗi lầm đáng trách, đó là đã qúa vội đem cả gia đình, cha mẹ, các em mình  nhét vào trái tim của  người yêu, trong khi trái tim ấy đang chỉ muốn dành hết chỗ cho một mình cô lúc này. Và đã không thiếu những quan hệ lứa đôi đã hoàn toàn bết tắc vì thiếu sót này.

Giáo dục con đầu lòng sẽ không là ngăn chặn tính kiêu căng, lười biếng của đứa con độc nhất, nhưng là ngăn chặn tính bao sân, ôm đồm muốn lo hết cho đàn em của chị cả, anh hai.    

3.   Các con ở giữa:
Các con ở lừng chừng, không đầu, không cuối, không cả, không út này thường có chung một kinh nghiệm: ít được cha mẹ quan tâm và phải thường xuyên chiến đấu để sống còn. Không hưởng quy chế “con trời, con vua” như đứa con độc nhất, không có đôi vai rộng để cùng cha mẹ gánh vác việc nhà, chuyện đàn em như anh hai, chị cả, cũng không được miễn trừ mọi việc và được nâng niu như con út, đám con ở giữa này thường biết thân biết phận và bảo nhau phải biết sống. Biết lúc nào lên được và lúc nào phải xuống, nếu muốn được yên. Biết làm đúng việc, đúng thời để tránh  mâu thuẫn. Biết nhìn trước sau để không là tác giả gây “tai nạn” trong nhà. Tóm lại, đám con ở giữa sẽ rất biến báo, khéo léo để không bị thiệt thòi, vì chúng biết chúng không được quy chế đặc biệt nào chở che.
Thường thì mặc cảm ít được quan tâm xâm lấn tâm tư các đứa con ở giữa. Thí dụ : việc các bé phải mặc lại quần áo cũ của anh chị cũng đã là điều gây nên một thoáng mặc cảm không được coi là duy nhất. Các bé dễ có cảm tưởng bị cha mẹ xếp thành hàng và thay tên bằng những con số và mặc cảm mất cá tính, nhân vị dễ bộc phát nơi các bé.
Tâm lý của những đứa con “không đầu không cuối” này thường dễ chao đảo trước bất cứ hành động, thái độ nào của cha mẹ. Chỉ cần một cử chỉ không khéo của mẹ, em bé có thể mất hết thăng bằng tâm lý và rơi vào tình trạng bị khủng hoảng tinh thần.
Với các em bé này, cha mẹ cần biểu lộ quan tâm đồng đều và cá nhân để các bé nhận ra: mình không phải là những đứa con hạng hai so với chị hai, anh cả, em út.

4.   Con út:
Tất nhiên với con út cha mẹ luôn nghĩ: đó là đứa con bị thiệt thòi hơn các anh chị khác, vì cha mẹ đã già  không còn lo được cho con nhiều như các anh chị. Nếu gia đình làm ăn khấm khá, cô út, cậu út sẽ “thưà thắng xông lên” như diều gặp gió tha hồ được cưng chiều, hưởng thụ. Nếu chẳng may gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, xuống dốc thì cha mẹ  cũng sẽ cố hết sức tìm mọi cách  bù đắp cho cô út, cậu út. Như thế, đàng nào thì con út cũng sẽ được  cha mẹ cưng chiều và ưu tiên trong sinh hoạt gia đình.
Con út còn một thuận lợi khác là cha mẹ  thường liên tưởng đến những ngày đầu yêu nhau khi họ có đứa con sau cùng, vì định luật liên tưởng: bao giờ cái sau cùng cũng đánh thức cái đầu tiên, và  đích tới luôn gợi về khởi điểm.
Cô, cậu út sẽ được cha mẹ thương hơn, chiều hơn, nhưng cũng là lý do để bị anh chị ghen ghét, kiếm chuyện. Để trụ được trong chỗ đứng ưu tiên và để tự vệ, con út sẽ dùng mọi chiến thuật để không bị ăn hiếp. Em sẽ dựa vào cha mẹ như ô dù vạn năng. Với anh chị, em sẽ tùy cơ ứng biến, “mềm nắn rắn buông”, theo tình hình mà lên xuống, nặng, nhẹ. Nói tóm lại, em sẽ phải liên tục chiến đấu và cẩn mật đề phòng để không mất đi lợi thế “con út” của mình. Kết quả là em sẽ được cha mẹ bảo vệ tối đa, cực kỳ che chở, thường xuyên bênh đỡ. Em trở thành một “yếu nhân” được mọi người đặc biệt chú ý hoặc để ghen ghét, kiếm chuyện, hoặc để bảo vệ, chở che. Đời sống của em vì thế mà trở nên căng thẳng, ngột ngạt… vì vừa bị soi bói vừa được bảo vệ.  
       

Là cha mẹ, không ai tiên liệu chính xác những vấn đề của con cái, cũng như không ai nắm hết trong tay tương lai của con mình. Bằng chứng sống động là cách đầy không đầy hai mươi phút, người viết nhận được tin nhắn của một người cháu làm linh mục trong một họ đạo thuộc khu dân cư gồm đủ “đầu trâu mặt ngựa, đá cá lăn dưa” lúc nào cũng sôi sục “đâm chém”. Con số tội phạm tệ đoan trong vùng này cao nhất nước. Cha vừa báo tin buồn: con trai bà thơ ký của nhà xứ mới 16 tuổi vừa bị băng đảng đâm lủng phổi. Cấp cứu không kịp đã tắt thở sáng nay. Bà chỉ có một con trai duy nhất !
Nhưng làm cha mẹ cũng bị bổn phận bó buộc phải tiên liệu ngày mai của con cái trong khả năng của mình.
Tiên liệu là thực hiện ngay bây giờ và ở đây chủ trương yêu thương đồng đều giữa con cái, yêu thương cá nhân từng đứa, yêu thương qua đối thoại, yêu thương nhờ lắng nghe, yêu thương  bằng quan tâm, chăm sóc.
Tiên liệu là không rơi vào hai thái cực trong giáo dục : hoặc quá thả lỏng, hoặc quá bao bọc. Thả lỏng làm con mất hướng, lạc đường. Bao bọc làm con ngột ngạt, không tự lập và mất khả năng sáng tạo.
Tiên liệu là không đánh giá thấp cũng không quá kỳ vọng. Đánh giá thấp con là hạ nhục con, gieo trong con mặc cảm “vô tích sự”. Kỳ vọng quá sẽ sớm quật ngã con  vì chất trên con những gánh nặng không thể mang vác.      
Tiên liệu là mở cho con  cảnh cửa vào thế giới bên ngoài, cánh cửa đến với người khác.
Tiên liệu là làm cho con cảm thấy an toàn, bình an và hạnh phúc ngay hôm nay, trong gia đình này.
Tiên liệu là luôn giữ “đường giây nóng” của tình cha con, mẹ con, nhất là khi con gặp khó khăn, thử thách.
Tiên liệu là không bao giờ cảm thấy đủ tình yêu cho con, nhưng lại thấy dư thừa tham vọng trên con, vì tình yêu nâng con lên, và tham vọng dìm con xuống. 
Tiên liệu là đưa con vào trời rộng và không nhốt con trong tù ngục ích kỷ.
Tiên liệu là làm cho con đứng được một mình mà không cần tay mình vịn giữ.
Tiên liệu là nhìn con cười, ngắm con chơi, nghe con thủ thỉ mà không cho là mất thời giờ, vô ích.
Tiên liệu là nói với con mỗi ngày: “cám ơn, tạm biệt, xin lỗi, ngủ ngon nhé, thương con nhiều”.
Và tiên liệu là từng phút giây không quên mình là người đã ban sự sống cho những con người mang cùng tên “Con” và gọi mình là “Cha Mẹ”.

LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ


Đặc điểm chung của các thánh Tông Đồ là “chịu đựng đau khổ” khi “làm công việc của người loan báo Tin Mừng”, điều mà thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại đã khuyên nhủ Timôthê, môn đệ của mình (2 Tm 4,5).
Thánh Tông Đồ dân ngoại khuyên nhủ như vậy, vì ngài đã có nhiều kinh nghiệm  đau thương với những người đã gây nhiều khốn khổ cho ngài, những người ngoài mặt thì thơn thớt nói cười, nhưng lòng dạ thì mưu mô, hiểm độc, kể cả bạn hữu cũng chẳng có ai bênh vực, nâng đỡ, nhưng dửng dưng bỏ mặc ngài trong cơn khốn quẫn, cơ cực (x. 2 Tm 4,14.16).
Cùng với thánh Phaolô, Tông Đồ trưởng Phêrô cũng lấy những kinh nghiệm “chịu đau khổ vì danh Đức Giêsu” của riêng mình mà khuyên nhủ các tín hữu: “Anh em đang bị lửa thử thách: đừng ngạc nhiên mà coi đó như một cái gì khác thường xảy đến cho anh em. Được chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng đươc vui mừng hoan hỷ” (1P 4,12-13).       
Thực vậy, cuộc đời tông đồ của hai thánh Phêrô, Phaolô là cuộc thương khó nối dài của “Đức Giêsu chịu đóng đinh” mà các ngài yêu mến, tôn thờ, phụng sự. Chính Đức Giêsu chịu đóng đinh là lẽ sống, gương mẫu và cùng đích của đời tông đồ khởi đi từ ngày các ngài “lập tức bỏ thuyền, bỏ cha lại mà đi theo Người” (Mt 4,22), cho đến giây phút cuối đời, người thì bị chém đầu, người thì chịu đóng đinh ngược tại Rôma, nơi hai vị loan báo Tin Mừng, với tâm tình khiêm tốn của người tôi tớ trung tín đã đi đến cùng đường và chu toàn bổn phận được ông chủ trao phó, như chia sẻ của thánh tông đồ Phaolô với môn đệ Timôthê của ngài: “Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công  sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày đó, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (2 Tm 4,6-8).
Như thế, đời tông đồ cũng như đời những người đi theo Đức Giêsu là đời chịu đau khổ. Nói cách khác, lịch sử Giáo Hội là lịch sử được viết bằng máu và nước mắt của những người đi theo Đức Giêsu chịu đóng đinh, như Đức Giêsu đã báo trước:
1.   Giáo Hội là mục tiêu chống phá của thế gian, ma qủy:
Nếu trước mặt Đức Maria và thánh Giuse, dịp dâng Hài Nhi Giêsu cho Thiên Chúa cụ già Simêon đã tiên báo: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng…” (Lc 2,34), thì Đức Giêsu, khi lập Giáo Hội cũng đã  báo trước cho các tông đồ: “Phêrô, con là Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18).
Đức Giêsu đã không ngần ngại cho các Tông Đồ biết: Hội Thánh của Ngài sẽ là một Hội Thánh luôn bị quyền lực của Thần Dữ tức Satan và toàn thể bè lũ tìm cách chống phá, tiêu diệt, một Hội Thánh sẽ không bao giờ được yên, nhưng  không ngừng bị ma qủy gây hấn, tìm mọi cách làm suy yếu, sụp đổ.
Chúng chống phá bằng tạo “thù trong, giặc ngoài”, gây chia rẽ nội bộ, đồng thời làm bùng cháy, sôi sục  lòng ganh ghét, căm phẫn từ bên ngoài  để  phá hoại tình yêu hiệp nhất, hiệp thông trong Hội Thánh, để các chi thể của Thân Thể không còn yêu thương, nhưng ghen tương, đố kị, đấu đá, tranh giành, tiêu diệt lẫn nhau, và biến tập thể những người đi theo Đức Giêsu thoái hoá thành một đoàn lũ  những nguời dị hợm, đáng kinh tởm, và kẻ thù đáng ghét của mọi người.
2.   Người của Hội Thánh bị truy lùng, bách hại:
Sách  Công Vụ Các Tông Đồ đã kể lại những gian truân, thử thách, truy lùng, bắt bớ, tra tấn mà các thánh Tông Đồ, cũng như giáo hữu  buổi đầu của Giáo Hội  phải gánh chịu khi rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh, và lịch sử với chiều dài hơn hai ngàn năm của Giáo Hội đã là bằng chứng hùng hồn về “đường lối trước sau như một” của ma qủy và những người iđ theo chúng: “chống phá Giáo Hội và truy diệt người của Giáo Hội đến cùng”.
Điều này Đức Giêsu cũng đã báo trước, khi nói với Nhóm Mười Hai: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước… Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em… Họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” (Ga 15, 18.20-21), nên ở đâu và thời nào, người môn đệ của Đức Giêsu cũng bị “thế gian” bới móc, vu khống đủ điều, gây khó dễ trăm nỗi, và tìm mọi cách hãm hại, lên án, tiêu diệt, tuy mỗi thời mỗi cách, mỗi nơi mỗi kiểu. 
Vâng, hơn ai hết, hai thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ, tiên phong và rường cột của Giáo Hội đã suốt đời gắn bó với Đức Giêsu chịu đóng đinh, suốt đời thông phần đau khổ của thập giá Đức Giêsu, suốt đời “chịu thương chịu khó” để Đức Giêsu chịu đóng đinh được rao giảng, suốt đời yêu mến, phục vụ Giáo Hội là Hiền Thê yêu dấu của Đức Giêsu mà không quyền lực tử thần nào có thể thắng nổi, để  dù  hoàn cảnh truyền giáo không luôn thuận lợi, vì “sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình… Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường” (2 Tm 4,3-4), các ngài vẫn  “chịu đựng đau khổ”, kiên trì rao giảng, phục vụ Giáo Hội; dù bị mọi người đối xử tàn ác, bạc bẽo, kể cả bị người thân, bạn hữu phản bội, bỏ rơi, các ngài vẫn tin tưởng và thầm nhủ “có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng” (2 Tm 4,17); dù bị đe dọa, truy lùng, bắt bớ, giam cầm, hành hạ, các ngài vẫn tràn đầy niềm hy vọng  được “Chúa cứu thoát khỏi nanh vuốt sư tử… và mọi hành vi hiểm độc” của ác nhân (2 Tm 4,18), như thánh Tông Đồ trưởng Phêrô đã hạnh phúc thốt lên khi được thiên sứ dắt ra khỏi ngục trong đêm trước ngày bị vua Hêrôđê đem ra xử: “Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu thoát tôi khỏi vua Hêrôđê, và khỏi mọi điều dân Do Thái mong muốn tôi phải chịu” (Cv 12,11).   
Mừng kính hai thánh Tông Đồ Phêrô, Phaolô, chúng ta hiệp thông cầu nguyện cho Giáo Hội, cho Đức Thánh Cha, và các Đấng Bản Quyền địa phương. Xin Chúa, qua lời cầu bầu của hai thánh Tông Đồ, rường cột của Giáo Hội ban cho các Đấng Bậc trong Giáo Hội tinh thần “chịu đựng đau khổ” vì “Đức Giêsu chịu đóng đinh”, bởi chỉ Thánh Giá trên đó Đức Giêsu dâng mình làm Của Lễ mới chiếu toả ánh sáng Tình yêu, Sự Sống và ban ơn Cứu Độ của Thiên Chúa, vì chính Ngài, Ngôi Lời của Thiên Chúa, Đấng sáng lập Giáo Hội đã chọn Thánh Giá để cứu chuộc loài người, và môn đệ của Ngài, để được trở nên khí cụ của ơn Cứu Độ trong tay Thiên Chúa cũng phải “đồng hình đồng dạng” với Đức Giêsu chịu đóng đinh, bởi đó là Thánh Ý của Ngài: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27). 
Jorathe Nắng Tím   

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

“SAY NẮNG” ĐỨC GIÊSU

Say nắng Đức Giêsu là tâm tình của những trái tim đã “phải lòng” Thiên Chúa làm người, là ký ức không bao giờ phai nhạt về buổi đầu gặp gỡ Con Người Thiên Chúa dong duổi giữa nhân loại, là tình tự sâu lắng của tâm hồn “bị” tình yêu Đức Giêsu xâm lấn, chiếm đọat, là mối tình đầu thiêng liêng giữa  con người cụ thể và Thiên Chúa “bằng xương bằng thịt”, là câu chuyện không hồi kết trong thiên tình sử đời đời mà Thiên Chúa và con người cùng viết mỗi ngày…
1.   Đức Giêsu, người Cha nhân hậu  (Lc 15,11-32)
Là con gái út nên tôi được Ba cưng chiều đặc biệt. Ngày Ba mất, tôi đã khóc và ngất lên ngất xuống đến nỗi phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Những năm sau ngày Ba mất, tôi sống rất buồn và khép kín, cho đến một ngày, tôi tình cờ theo người bạn công giáo đi lễ, và “người Cha nhân hậu” trong Tin Mừng Luca đã hút hồn tôi.
Tôi thực sự bị người cha nhân hậu của Đức Giêsu hút hồn, vì hình ảnh người cha ấy không khác hình ảnh cha tôi đã mất. Cũng người cha nâng niu, chiều chuộng con: con muốn gì cũng có, con xin gì cũng được, con chưa nói hết câu, cha đã hiểu con mơ ước, tìm kiếm gì; cũng người cha tôn trọng từng bước chân vào đời làm người lớn của con, nên khi con đòi chia gia tài, bỏ nhà, đi xa lập nghiệp, Cha cũng không ngần ngại làm vui lòng con; cũng người cha yêu thương con vô cùng, nên khi con “ăn tiêu hết sạch tiền bạc, bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ, ngày ngày ra đồng chăn heo, và ao ước có được cám heo để nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho” (Lc 15,14-16), người cha ở nhà vẫn chiều chiều ra đầu ngõ ngóng trông bước chân con trở về; cũng người cha yêu thương đến cùng, nên ngày con “bất đắc dĩ” trở về vì sợ chết đói với “thân tàn ma dại” đã không bận tâm nghe con nói lời xin lỗi về tội xưa rất nặng, tạ tội vì lỗi xưa rất đáng trừng phạt, nhưng đã làm ngược những gì con mường tượng, trái những gì con dự đoán khi mặc cho con áo đẹp, đeo cho con nhẫn qúy và mở tiệc ăn mừng “con tôi đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,24).
Qủa thực, khởi điểm của con đường đến với Thiên Chúa chính là Ba tôi, người con Phật thuần thành, vì Ba đã dậy cho tôi hiểu thế nào là ơn cha, thế nào là hạnh phúc được bơi lội trong đại dương tình cha nhân hậu. Ba tôi đã là hình ảnh sống động và thực tế của Thiên Chúa, và qua hình ảnh Ba, tôi đã khám phá và tìm gặp Thiên Chúa, người Cha nhân hậu của Đức Giêsu. Và cho đến hôm nay, sau 30 năm làm người Kitô hữu, đức tin của tôi được nâng đỡ và lớn lên từng ngày trong tình Cha của Thiên Chuá luôn yêu thương và ân cần chăm sóc, bảo vệ con mình như gà mẹ ủ ấp đàn con.
2.   Đức Giêsu, Thiên Chúa của người nghèo (Lc 21,1-4)
Gia đình tôi rất nghèo, không chỉ ba đời nghèo “rớt mùng tơi”, nhưng “ba lần ba” những kiếp người dính chặt lấy nhau lê thê nối dài đời nghèo “cơm lo từng bữa”, quanh năm bốn mùa “khố rách áo ôm”. Nghèo nên bị mọi người khinh khi, coi thường, từ dòng họ hai bên nội ngoại đến hàng xóm, dân làng, và mặc cảm tự ty biến chúng tôi thành những con người khép kín, nhát sợ, tự cô lập, trốn tránh mọi người.
Cũng vì nghèo, nên tôi thù Thượng Đế và coi tôn giáo mà ông bà để lại chỉ là hủ tục mê tín, hoàn toàn vô nghiã, ở đó, giai cấp giầu tụ tập tung hô, nịnh hót, xông hương nhau.
Cho đến một ngày, tôi bị choáng vì say nắng Đức Giêsu, con người của người nghèo thực sự, Thiên Chúa yêu thương người nghèo thực sự, chứ không chỉ yêu người nghèo, bênh vực người nghèo trên chữ nghiã, sách vở, loa phóng thanh, đài truyền hình như bao nhiêu người tôi gặp đã chẳng một chút yêu thương người nghèo, chia sẻ với người túng thiếu, neo đơn.  
Ngài làm tôi say nắng tình Ngài, khi người nghèo mù loà ngồi ăn xin bên vệ đường ở Giêrikhô khi nghe biết Ngài đang đi qua đó đã lớn tiếng kêu lên: “Lậy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”.
Ôi tiếng kêu của người nghèo lại bị trời bắt tội phải mù loà nghe xót xa, thảm não, thống thiết làm sao! Thế mà nhiều người đã nặng lời chửi rủa, “quát nạt, bảo anh im đi” (Lc 18,39), chẳng khác những người hàng xóm có tiền có của đã xỉ vả, mắng nhiếc và bắt nạt cha mẹ và anh em chúng tôi suốt bao năm tháng dài nghèo khổ; lại có người tình nguyện làm hàng rào “cản trở” Đức Giêsu để Ngài không  nhìn thấy anh. Nhưng Đức Giêsu “đã dừng lại, bảo dẫn anh đến với Ngài » và âu yếm hỏi anh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?”. Anh thưa: “Lậy Ngài, xin cho tôi được nhìn thấy”. Đức Giêsu nói: “Anh nhìn thấy đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh. Lập tức, anh ta nhìn thấy được và theo Người” (Lc 18,40-43).
Tôi say nắng con nguời Giêsu thương người nghèo khổ, tật nguyền, lê lết bên vệ đường ăn xin kiếm sống; tôi yêu Đức Giêsu, Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ ở với và gần gũi dân Ngài; tôi kính mến Đức Giêsu vì trái tim Ngài luôn dành chỗ ưu tiên cho những người bé mọn bị đời khinh miệt chỉ vì nghèo nàn, dốt nát,  không danh gia vọng tộc, cơ ngơi bề thế, như thái độ quan tâm của Ngài đến đồng xu bé nhỏ của  bà goá túng thiếu đã bỏ vào thùng dâng cúng của Đền Thờ và tuyên dương bà: “Thầy bảo thật anh em: bà goá này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Qủa thật, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Lc 21,3-4).
Với tôi, Đức Giêsu đích thực là Thiên Chúa  của người nghèo khổ bất hạnh, vì Ngài quan tâm, yêu thương, bênh vực người nghèo “thấp cổ bé miệng », khác xa nhiều người giầu  hãnh tiến, kênh kiệu miệng thì liên hồi kinh kệ, nhưng lòng thì độc ác, gian tham, khinh khi, bóc lột, lợi dụng người nghèo đến tận xương tủy.   
3.   Đức Giêsu, người bênh vực, chở che, giải phóng phụ nữ (Ga 8,1-11)
Có lẽ không người con gái nào có thể “qua mặt” tôi về tuổi thơ và tuổi thiếu nữ bất hạnh, vì tôi là đứa con đã phải sống  suốt mười bảy năm trong hoả ngục của bạo hành gia đình: cha tôi là người đàn ông vũ phu, bất cứ chuyện gì, và bất cứ lúc nào cũng có thể đánh vợ, đánh con. Tôi đã chứng kiến những trận đòn chí tử mẹ phải chịu, và tôi cũng là nạn nhân trực tiếp của cha khi ông say xỉn, hay không vừa ý. Những lúc đó, ông chửi rủa um trời rồi bạ đâu đánh đó, ném vào mặt tôi và mẹ bất cứ vật gì ông nắm được làm hai mẹ con co rúm, ôm chặt lấy nhau mà la khóc, năn nỉ, chịu trận.
Bầu khí bạo hành gia đình làm tôi trở nên nhút nhát và căm ghét đàn ông. Năm mười bảy tuổi, tôi bỏ nhà đi bụi, vì không còn chịu được người cha ích kỷ, vô trách nhiệm, bạo lực, sau khi mẹ tôi mất vì ung thư.
Mười năm với đường phố và băng đảng, tôi vẫn giữ một mối căm thù và khinh ghét đám đàn ông. Tôi mất hết những tình cảm tốt đẹp với phái nam, vì hình ảnh hung bạo của cha tôi làm lu mờ những gì tốt đẹp ở người khác phái; tôi không còn cảm xúc của một người con gái trước bạn trai, vì những lời chửi bới thô tục của cha tôi không cho tôi nghị lực để có thể tin bất cứ lời nào đàn ông nói. Qủa thực, tôi không ngờ cha tôi đã hủy hoại toàn thể con người tôi, đã tàn phá tất cả nghị lực tinh thần của tôi bằng những thô bạo của ông, và để lại trong tôi nỗi chán chường tưởng như lúc nào cũng muốn nôn mửa tất cả những gì dính dáng đến đàn ông ra khỏi cuộc đời tôi.
Tôi thật là đứa con gái bất hạnh giữa bao người con gái bất hạnh khác, vì những người đàn ông bạo lực không những không là bờ vai cho phái yếu nương tựa, mà còn là tai ương, hoả ngục của những  phụ nữ vô phúc phải làm vợ làm con. Ý nghĩ ấy khóa chặt tôi trong pháo đài cố thủ và không mở lòng cho bất cứ người bạn khác phái nào cho đến một ngày, có người mời tôi vào đạo…
Vị linh mục niềm nở đón tiếp tôi buổi đầu theo người bạn đến gặp. Không để linh mục mở lời, tôi bắt đầu bằng câu hỏi: “Đạo công giáo có chủ trương trọng nam khinh nữ như đạo Khổng không cha?”. Vị linh mục trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên. Tôi dấn thêm: “Nếu giáo lý công giáo dậy nam nữ bình đẳng, có quyền lợi và bổn phận như nhau thì con đi tới, nếu không thì con xin cáo biệt cha ở đây”.
Từ hôm ấy với  Tin Mừng thánh Gioan về biến cố Đức Giêsu một mình bênh vực và cứu sống người đàn bà bị bắt qủa tang phạm tội ngoại tình khi mọi người đang lên án và lăm le ném đá chị cho đến chết theo luật Môsê là luật đạo Do Thái thời đó đã đổi mới tận gốc và toàn thể trái tim, cái nhìn và cuộc sống của tôi.
Thực vậy, Đức Giêsu đã lôi cuốn và đổi mới trái tim tôi, khi tôi nhận ra Ngài là người đã giải phóng phụ nữ khỏi ách “thống trị” của đàn ông, khi lên án chủ  trương “phân biệt, kỳ thị giới tính”. Thái độ qủa cảm khi công khai bênh vực người đàn bà bị bắt qủa tang đang phạm tội ngoại tình là một liều lĩnh vô cùng nguy hiểm, vì Ngài đang bị bao vây bởi những gã đàn ông hung hăng như đám diều hâu chờ xác chết: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người” (Ga 8,4-6).
Đức Giêsu đã hút hồn và thay đổi cái nhìn của tôi, làm tôi sửng sốt trước thái độ tế nhị, rất đáng yêu của Ngài đối với một người đàn bà bị mọi người coi là lăng loàn, mất nết, khi tế nhị “cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất” (Ga 8,6), và không ngước mắt nhìn, để chị khỏi phải thêm một lần nữa mắc cở, ngượng ngùng, nhục nhã vì đã bị thiên hạ lườm nguýt, xoi mói “qúa kỹ, qúa lâu”. Ngài còn rất đáng yêu khi chẳng hỏi han, tra vấn gì về nhân thân, sự việc để không khoét sâu hơn nỗi đau của người có tội “qủa tang, công khai, trống trải” trước bàn dân thiên hạ.   
Đức Giêsu đã làm tôi say mê và biến đổi hoàn toàn cuộc sống của tôi, khi làm tôi ngất ngây hạnh phúc qua câu hỏi của Ngài dành cho đám đàn ông nhỏ nhen, hung bạo, chung hàng ngũ với những ông chồng “gia trưởng, vũ phu, kiêu căng, hưởng thụ, khinh thường phụ nữ”: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7).
Và tôi tha thiết yêu Ngài và đi theo Ngài từ dạo ấy, Đức Giêsu, nhà giải phóng vĩ đại và Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót của cánh “đàn bà chúng tôi”.
4.   Đức Giêsu, người bạn tình nghiã (Ga 11,1-44)
Xã hội càng nhố nhăng, con người càng điên đảo thì tình nghiã càng thảm hại xuống cấp. Người ta không còn dễ gặp những tình bạn tri âm tri kỷ, huynh đệ sống chết có nhau, anh em thà khổ sở, thiệt thòi, chứ không chịu làm “cá heo bỏ bạn”.
“Trầy da tróc vẩy” giữa cuộc đời đầy lọc lừa, gian dối, chung quanh là những người lòng dạ đổi trắng thay đen tùy cơ hội, lợi nhuận, tiện ích, tôi như con vụ chóng mặt với tình đời, người đời, và cuộc sống ngày càng trở nên nặng nề, vô vị.
Tìm về nhiều tôn giáo, tôi cũng chỉ gặp những thiên chúa toàn năng nhưng rất  xa con người, những thượng đế thánh thiện nhưng con người không thể đến gần, chạm tới. Nhưng riêng ở Đức Giêsu, tôi gặp được Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Và con người tình nghiã của  Đức Giêsu đã đốn đổ tim tôi, và tôi muốn suốt đời  thuộc về Ngài.
Ngài đến với tôi cũng như những lần đã đến với gia đình hai cô Mácta, Maria và anh Ladarô ở làng Bêtania năm xưa ấy, và gia đình này đã trở nên gia đình thứ hai của Ngài suốt những năm tháng dong duổi truyền giáo.
Nhưng có lẽ lần cuối cùng trở về Bêtania khi nghe tin Ladarô đau nặng và qua đời là lần về đánh dấu tình nghiã sâu sắc nhất của Ngài dành cho gia đình, khi làm phép lạ cho Ladarô đã chết bốn ngày được sống lại.
Qủa thực, thái độ của Đức Giêsu đã biểu lộ một tình bạn vô cùng nghiã thiết. Nghiã thiết vì không bỏ bạn hữu trong thử thách, gian truân; không tỉnh bơ, phớt lờ, giả làm người xa lạ khi bạn sa cơ thất thế; không lạnh lùng làm như không quen thân, chưa từng gặp gỡ khi bạn bị nhiều người cô lập, tấn công; không tráo trở lật lọng hàm oan cho bạn để gỡ tội mình; càng không tàn nhẫn bán đứng bạn cho kẻ thù để kiếm lợi lộc riêng. Trái lại, tất cả những người Do Thái có mặt hôm ấy đều thấy Đức Giêsu khóc vì “thổn thức trong lòng và xao xuyến” (Ga 11,33), và họ nói với nhau: “Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!”.
Phải tình nghiã lắm mới có thể thương nhau đến cùng ở “đường cùng » cuộc sống, bởi ở cây số “cùng đường” bế tắc này, người ta không còn mối lợi nào để chờ đợi ở nhau, mà chỉ còn khó khăn, nhiêu khê, phiền lụy; phải tình nghiã sâu đậm lắm mới có thể khóc, bởi chẳng mấy ai muốn khóc vì bồi hồi trước khổ đau của người khác, nhất là khi “người khác” hết thời, và vì lo lắng cho hiện tại đổ vỡ, tương lai đen tối của họ, như Đức Giêsu, con người tình nghiã đã khóc vì “bồi hồi” thương tiếc Ladarô và “lo lắng” cho cuộc sống sẽ khó khăn hơn rất nhiều của hai chị em Mácta, Maria, khi nhà vắng bóng trụ cột “đàn ông”.
Chiêm ngưỡng Đức Giêsu, con người tình nghiã, tôi nghe tim mình rộn ràng niềm vui, vì có Ngài là núi đá bền vững ân tình cho tôi nương náu khi đời bạc bẽo, xử tệ; có Ngài là bến bờ hy vọng, nguồn ủi an cho tôi nghị lực theo Ngài đi hết hành trình yêu thương.
5.   Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ bao dung, thương xót (Lc 23,39-43)
Tôi sợ lắm khi nghe dậy về hình phạt ngày sau trong hoả ngục, và run rẩy tưởng tượng cảnh phải ở với ma qủy đời đời trong một tình trạng chỉ toàn là ghen ghét, hận thù, bạo lực, mà nguời có tội “đêm ngày và miên trường vĩnh cửu” phải “khóc lóc, nghiến răng”.
Cũng vì sợ hình phạt hoả ngục dành cho người có tội, mà tôi đã tránh xa Giáo Hội, bỏ đức tin công giáo một thời gian rất dài, vì không chịu nổi những bài giáo lý sặc mùi đe doạ.
Để giải toả tâm lý khỏi mầu đen hoả ngục và án phạt đời đời dành cho người tội lỗi, tôi tìm đến một tôn giáo khác tuy có hình phạt theo nhân qủa, nhưng nhất định không kinh hoàng, khủng khiếp như hình phạt hỏa ngục đời đời của Kitô giáo, để rồi sau đó bước vào và ở lại với chủ thuyết duy vật vô thần: con người chỉ là vật chất, nên chết là hết, sẽ không có gì là tôi, của tôi tồn tại sau khi tôi chết. Dấu chấm hết gọn nhẹ, dễ thở, dễ chịu, vì không hứa hẹn hay đe dọa, không thiên đàng hay hoả ngục, không khen thưởng hay trừng phạt, cũng không nhân hay qủa gì sau khi tấm thân này trở về cát bụi.
Thế là tâm lý tôi ổn, tâm trí tôi yên, không còn bối rối, lo âu chuyện chết rồi đi đâu, lên thiên đàng hay xuống hoả ngục…
Cho đến một ngày, tôi khám phá mình đang lừa mình, đang cố tự đánh lạc hướng, đang tự phỉnh gạt, khi lương tri ngày càng dồn dập mách bảo: con người không chỉ là vật chất, nhưng còn có linh hồn bất tử, nên chết không hết, chết không là dấu chấm hết vô lý, vô duyên, vô nghiã, vô vị, bởi con người không thể vào đời một cách ngẫu nhiên, vô tình, vô tích sự, cũng như tiếng lòng hằng đêm trăn trở: con người không thể bị hủy hoại thành hư vô, bởi tâm hồn vẫn khắc khoải  hướng về một Đấng Thiêng Liêng là Cội Nguồn, Cùng Đích và sau cuộc sống này chắc sẽ có một cuộc sống khác.
Mùa Thương Khó cách đây bốn năm, tôi tìm lại đức tin đã bỏ quên hàng chục năm, khi nhận ra Đức Giêsu đã chết và sống lại để bảo đảm cho đời sống mai hậu của loài người. Nhưng điều quan trọng an ủi hơn cả chính là Ngài đã chết để xóa tội cho mọi người như Đấng Cứu Độ nhân hậu, từ bi, luôn thương xót, và đã sống lại như Thiên Chúa toàn năng đời đời vinh hiển.
Qua sự chết của Ngài, tôi an tâm chết mà không sợ bị nghiêm khắc luận tội, và nghiêm minh trừng phạt, vì Ngài đã sống và chết cho tôi, sống và chết vì tôi, sống và chết với tôi, không lẽ nào Ngài chịu thua “những yếu đuối, sai sót” của thân phận tôi bèo bọt, miễn tôi khiêm tốn xin Ngài dủ lòng thương xót tha thứ lỗi lầm, tội lụy và xin được cùng Ngài vào thiên đàng, như người gian phi bị đóng đinh với Ngài đã khẩn khoản nài xin: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23,42). Và chính anh gian phi đã không ngờ Đức Giêsu đã nghe và trả lời anh: “Tôi bảo thật anh, ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43), cho dù trước đó không lâu, cũng từ Thập Giá loang máu, Ngài đã cầu xin Chúa Cha tha thứ cho tất cả mọi người: “Lậy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
Và từ ngày đó, Đức Giêsu ban cho tâm hồn tôi ơn Bình An phục sinh, như đã ban cho các Tông Đồ sau khi sống lại, và dậy tôi sống ơn Bình An của Ngài bằng thương xót anh em, nhất là những anh em bé mọn, nghèo hèn, và cả những người ganh ghét, vu khống, tìm cách hãm hại, làm khổ mình, vì điều làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn tất cả chính là thương xót anh em như đời tôi hôm qua, hôm nay, ngày mai, cũng như đời sau sắp tới luôn được Thiên Chúa và anh em chạnh lòng thương xót (x. Mt 18,23-35), bởi chính Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa đã hứa Hạnh Phúc được Thiên Chúa xót thương cho những ai có lòng thương xót anh em mình (x. Mt 5,7).  
6.   Trái Tim rộng mở yêu thương của Thiên Chúa (Mt 20,1-16)
Tôi rất dị ứng khi ai đó gọi tôi là “đạo mới, đạo theo” để phân biệt người mới được rửa tội, mới theo đạo, mới gia nhập Giáo Hội với người đạo gốc, đạo dòng, đạo “cha truyền con nối”.
Nhớ những ngày đi xin học giáo lý tân tòng, đến đâu, gặp ai, tôi cũng bị “tra tấn” bởi những câu hỏi chẳng dễ nghe và không khuyến khích, động viên chút nào, như “Học đạo để lấy chồng hả? Chắc đi đạo vì quen mấy cha, mấy sơ?”, mà tuyệt nhiên không ai, kể cả những người dậy giáo lý đã hiểu khác hơn, đúng hơn lý do tôi xin đi đạo.
Tôi đi đạo vì một lý do duy nhất: Tôi “say nắng” Đức Giêsu, con người rất nhân bản, thân thiện, thương yêu, và Mái Nhà Thiên Chúa của Ngài luôn mở cửa đón hết mọi người. 
Những ngày học đạo, tôi thích nhất dụ ngôn “thợ làm vườn nho” (Mt 20,1-11), một hình ảnh Nước Trời, Nhà Thiên Chúa luôn rộng mở đón tiếp hết mọi người, và Thiên Chúa, ông chủ dễ thương lúc nào cũng vui vẻ mời gọi, năng nổ đi tìm và trân qúy, niềm nở đón tiếp từng người vào làm việc trong vườn nho của ông.
Nhưng điều thú vị, độc đáo nhất không ai ngờ ở ông chủ chính là với tất cả mọi người, ông đều ký một hợp đồng trả lương trọn ngày, nghiã là mức lương cao nhất, cho dù có người đã làm suốt ngày từ sáng sớm đến giờ đóng cửa vườn, có người từ mười hai giờ trưa, có người từ hai giờ chiều, lại có người chỉ mới vào làm chưa được một giờ. 
Chẳng thế mà cuối ngày, đến giờ trả lương, những người vào làm trước nhất tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, khi thấy những người vào làm sau chót được trả đầy đủ lương của một ngày làm. Nhưng rất tiếc, khi đến phiên, họ cũng chỉ lãnh như những người vào làm ở giờ chót lương của một ngày làm như hợp đồng đã thoả thuận. Thế là những người vào làm trước nhất này đã bất mãn phân bì và cằn nhằn ông chủ: “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (Mt 20,12).
Và Thiên Chúa là ông chủ vườn nho đã trả lời: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền đó sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuy ý định đọat về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20,13-15).
Thiên Chúa của Đức Giêsu thật vô cùng quảng đại và Ngài đã không phân biệt, kỳ thị người đến trước, kẻ vào sau, đạo cũ, đạo mới, nhưng “tốt bụng” với tất cả mọi người và làm tràn đầy hạnh phúc tất cả những ai tin và đi theo Ngài.
        
Ước gì những tâm tình “say nắng” Đức Giêsu được ghi lại từ những chia sẻ chân thành trên biến thành tia nắng nhỏ luồn qua khe cửa những trái tim còn e ngại, rụt rè, những trái tim đã mệt mỏi vì thất vọng, những trái tim chưa sống đã vội già vì nhiều oan khiên để Tình Yêu Đức Giêsu có cơ hội sưởi ấm tim anh đã lạnh lùng, chữa lành tim em đầy thương tích, biến đổi chai đá tim tôi thành thịt, và cho tất cả chúng ta được chung nhịp đập của Trái Tim Đức Giêsu là Tình Yêu vô cùng và đến cùng, Trái Tim đã làm chúng ta say nắng Ngài là Tình Yêu. 
Jorathe Nắng Tím