Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 22 tháng 7, 2020

THIÊN CHÚA KHIÊM HẠ ĐẾN VỚI NHỮNG NGƯỜI KHIÊM HẠ


Tin Mừng mặc khải một sự thật không thể chối cãi, nhưng lại là sự thật ít được con người đón nhận, đó là Thiên Chúa, mặc dù yêu thương và muốn cứu độ tất cả mọi người, nhưng Ngài chỉ đến với những con người khiêm hạ, cho dù người ấy tội lỗi, bất xứng, yếu đuối đến đâu. Và ngoài con đường khiêm hạ con người phải đi để gặp được Chúa, chúng ta không còn con đường nào khác.
Không còn con đường nào khác, vì Thiên Chúa chỉ thương yêu, chúc phúc và phù trợ những ai khiêm hạ. Còn những kẻ quyền thế lòng trí kiêu căng, Ngài dẹp tan, loại bỏ (x. Lc 1,51-52). Không còn tuyến đường nào khác, vì Đức Giêsu đã thẳng thừng lên án các kinh sư và Pharisêu kiêu căng và gọi họ là “đồ mãng xà, nòi rắn độc” (Mt 23,33), “quân giả hình, gian ác” (Mt 23,28), và qủa quyết số phận bị kết án, hoả ngục của họ (x. Mt 23,13.14.15). Không còn lộ trình nào khác, vì để gặp được Thiên Chúa, bất cứ ai cũng phải trở nên như con trẻ “hiền lành, khiêm nhường, phó thác”, “vì Nước Trời là của những ai giống như chúng” (Mt 19,14), khác với người kiêu căng  thủ đọan, ma  mãnh, ngang ngược, hung bạo, ích kỷ, thần tượng chính mình, và phủ nhận tha nhân. Không còn lối ngõ nào khác để đến với Chúa, vì Chúa không ở trong dinh thự, biệt phủ của kẻ kiêu căng, nhưng đồng bàn với những người tội lỗi khiêm hạ biết mình có tội (x. Mt 9,10-12), vào nhà những  người như Dakêu bị đời lên án bất chính nhưng có lòng khiêm hạ (x. Lc 19,1-10), vì “người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mt 9,12), và “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10). Không còn ngóc ngách nào khác để được đứng vào  hàng ngũ “những người được Chúa Cha chúc phúc” ở ngày chung thẩm trước Nhan Thiên Chúa, ngoài những con hẻm lầy lội trong xóm lao động có những người nghèo khổ, đau ốm, thất học khiêm hạ, những ngõ cụt tối tăm không đèn là nơi náu ẩn của cụ già neo đơn, người mẹ  cơ nhỡ, đám trẻ bụi đời không ngày mai, bởi Thiên Chúa đã “tự đồng hoá” mình “với những anh em bé nhỏ nhất” (x. Mt 25,31-46). Không còn phương tiện nào liên lạc được với Thiên Chúa ngoài Khiêm Hạ, vì Thiên Chúa không để tai lắng nghe tiếng nói của người kiêu ngạo, nhưng chỉ quan tâm lắng nghe và đoái nhận lời cầu xin của người thu thuế tội lỗi  khiêm hạ bên cạnh người Pharisêu “được tiếng là gương mẫu đạo hạnh” nhưng kiêu căng, tự phụ (x.Lc 18,9-14).
Thế nên con đường duy nhất, địa điểm duy nhất, phương tiện duy nhất, điều kiện duy nhất  tiên vàn  phải có để gặp được Đức Giêsu chính là biết mình tội lỗi, bất xứng, nhiều giới hạn để khiêm nhường và tự hạ trước Thiên Chúa và anh em. Chính Đức Giêsu không ngớt nhắc nhở các môn đệ và rao giảng cho đám đông tinh thần khiêm hạ, như đòi hỏi tiên quyết mà những ai muốn đi theo Ngài, muốn gặp Ngài, muốn ở lại với Ngài phải đáp ứng.
Khi kêu gọi “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14), Đức Giêsu muốn nói đến lòng Khiêm Hạ từ đó mở ra con đường đến với Ngài là “Sự Thật và là Sự Sống”. Cũng như khi đưa ra điều kiện: “Ai không vác thập giá mình mà theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27), Đức Giêsu tiếp tục nhấn mạnh đòi hỏi phải Khiêm Hạ, bởi người kiêu căng thích được mọi người răm rắp phục tùng, suy tôn, ca tụng, hầu hạ mình làm sao có thể từ bỏ tất cả, nhất là “cái tôi vĩ đại, cao ngất ngưởng” để theo Đức Giêsu trên đường Thánh Giá với cây thập tự sần sùi, nặng nề, ô nhục trên vai?    
Nhưng có một phần thưởng vô cùng lớn lao cho những tâm hồn khiêm hạ là chính Thiên Chúa tìm đến và đứng vào hàng ngũ Khiêm Hạ với họ.
Tin Mừng Mátthêu kể lại: Đức Giêsu đã tự ý “đến sông Giođan gặp ông Gioan để xin ông làm phép rửa cho mình” (Mt 3,13). Vì Gioan biết Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, Đấng mà ông đang loan báo cho mọi người để ai nấy chuẩn bị đón rước bằng ăn năn sám hối, biểu hiện qua việc chịu phép rửa, nên ông đã một mực can Người và nói: “chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!” (Mt 3,14). Nhưng Đức Giêsu vẫn xin Gioan làm phép rửa cho Ngài, như ông đang làm cho bao nhiêu người khiêm hạ ăn năn sám hối khác.
Thái độ khiêm hạ của Đức Giêsu khi tự ý đến và xin Gioan làm phép rửa, dù Ngài là Thiên Chúa thánh thiện, Chiên trong trắng, vô tội của Thiên Chúa đến để gánh tội và xóa tội trần gian đã làm ngạc nhiên Gioan, vì ông không thể ngờ Đấng Thánh của Thiên Chúa lại khiêm hạ đến độ tự nguyện đứng chung hàng ngũ với những người tội lỗi cần lòng xót thương đang khiêm hạ xin ông làm phép rửa sám hối. Hơn ai hết, ông biết Đức Giêsu là Thiên Chúa, như ông đã giới thiệu với đám đông khi qủa quyết: “Đấng đến sau tôi, và tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1,27). “Tôi rửa anh em trong nước, nhưng Đấng ấy sẽ rửa anh em trong Thánh Thần” (Ga 1,33). Gioan còn sửng sốt, kinh ngạc khi thấy Đức Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra, và Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,16-17). Và Gioan đã vui mừng thốt lên: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thực rằng Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1,34).
Qủa thực, điều làm Chúa Cha vui lòng chính là thái độ khiêm hạ thẳm sâu của Đức Giêsu khi tự ý đến với Gioan Tẩy Giả như người tội lỗi để nhận phép rửa sám hối từ tay Gioan là người dọn đường cho mình; là tâm tình khiêm hạ của người tôi tớ Thiên Chúa khi kín đáo, lặng thinh theo đoàn người lũ lượt khiêm hạ thống hối ăn năn để đón Nước Trời sắp đến; là chọn lựa khiêm hạ thân phận của tội nhân khi đứng chung hàng ngũ những người cần được thương xót, tha thứ. Và Đức Giêsu đã làm đẹp lòng Chúa Cha không vì những biểu dương vương quyền, uy lực, những nghi lễ ra mắt hoành tráng, uy nghi, những phẩm phục, vương trượng oai phong, huy hoàng, những tuyên ngôn hùng hồn, nẩy lửa như thiên hạ vẫn thi nhau thể hiện khi đến thời, gặp thời. Trái lại, Ngài đã đến im ắng, đã bắt đầu sứ vụ Cứu Thế cách nhẹ nhàng, đơn sơ, đã  khởi sự công cuộc loan báo Tin Mừng bằng tâm tình và cung cách  bình dị, tế nhị, kín đáo, bé nhỏ của một người tội lỗi khiêm hạ đi tìm lòng xót thương, ơn tha tội.
Vâng, nếu Đức Giêsu đã làm đẹp lòng Chúa Cha vì Ngài khiêm hạ, đã làm sững sờ, kinh ngạc Gioan Tẩy Giả vì khiêm hạ, Ngài cũng đang làm chúng ta xúc động, hạnh phúc vì sự khiêm hạ tận cùng của Ngài. Chúng ta không xúc động sao được trước một Thiên Chúa khiêm hạ đích thân đến với chúng ta khi chúng ta khiêm hạ đi tìm Ngài? Chúng ta dửng dưng sao được với một Thiên Chúa không bao giờ bỏ chúng ta đơn độc trên đường Khiêm Hạ đi tìm Ngài? Chúng ta rời xa sao được một Thiên Chúa tự ý đứng chung hàng với tội nhân, tự nguyện mang chung thân phận yếu đuối, tự mình đưa vai gánh hình phạt nặng nề của phạm nhân trọng tội là chúng ta? Chúng ta nhắm mắt làm ngơ sao được trước tình yêu khiêm hạ của một Thiên Chúa đã xuống sâu đến tận cùng của thân phận tro bụi, đã xuống thấp đến tận bàn chân dơ bẩn, đầy cáu ghét của con người tội lỗi để cứu cho kỳ được người con mà Ngài đã dựng nên và luôn thương xót?
Chúng ta chỉ còn biết đón nhận Hạnh Phúc của người được Thiên Chúa thương xót, thứ tha, bằng khiêm hạ cúi mình trước Thiên Chúa rất khiêm hạ, giầu lòng trắc ẩn, cảm thương như người đầy tớ mắc nợ ông chủ món nợ kếch xù mà không có gì để trả đã được ông chủ tha hết nợ (x. Mt 18,23-27), để thờ lậy và cảm tạ  Chúa, vị Mục Tử nhân lành ngày đêm  hớt hải, tất bật đi tìm cho kỳ được đám chiên lạc là chúng ta đang khiêm hạ nài xin Ngài thương cứu độ.  
Jorathe Nắng Tím        

Thứ Ba, 21 tháng 7, 2020

ƠN BÌNH AN CHO NGƯỜI KHIÊM HẠ

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!”. Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em. Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20,19-22).
Tin Mừng trình bầy cảnh gặp gỡ rất thân tình và cảm động giữa Đức Giêsu và các môn đệ: Đức Giêsu thì mới chịu khổ hình và đóng đinh cách đây ba ngày, vừa  sống lại và hiện ra với các môn đệ  với đầy đủ thương tích Thánh Giá trên mình; các môn đệ thì vửa trải qua những ngày tang thương khi Thầy bị đóng đinh, cơ đồ Cứu Thế hoàn toàn sụp đổ, ước mơ làm lớn trong Vương Quốc của Thầy tan thành mây khói, chưa kể những mất mát, thua lỗ, thiệt thòi sau ba năm “bỏ cha mẹ, vợ con, sự nghiệp, của cải” để đi theo Đức Giêsu, và dấu vết của những ngày khủng hoảng  kinh hoàng vẫn còn đọng trên những đôi mắt ngơ ngác vì lo lắng, sợ sệt. Bằng chứng là “các cửa nơi các ông ở đều đóng kín”.
Như thế, Đức Giêsu đã hiện ra giữa các môn đệ với hình hài một người Thầy khiêm hạ vừa chịu khổ hình và đóng đinh, mà các dấu đinh trên tay chân và vết thương do lưỡi đòng đâm sâu ở cạnh sườn còn mở toang rỉ máu. Ngài đã đến với các môn đệ với thân xác của một con người khiêm hạ, không mang vinh quang, chiến thắng của ngày phục sinh khải hoàn. Ngôn từ và thái độ của Ngài cũng nhẹ nhàng, dịu dàng, thân tình, đằm thắm, chứ không sặc mùi huyênh hoang, ồn ào,  thách đố, máu lửa của người kiêu căng, hãnh tiến. Ngài đã đến sau khi sống lại với con người Thiên Chúa rất khiêm hạ.  
Về phiá các môn đệ, các ông cũng đang ở trong tình trạng và mang tâm trạng của những người khiêm hạ, khi nhận ra mình rất bé nhỏ, bất lực, nhiều giới hạn đang run rẩy trước nhiều nỗi lo sợ. Các ông không chỉ sợ người Do Thái truy lùng bắt bớ để nhổ tận rễ, bứng tận gốc “nọc độc Giêsu” với thứ tin mừng phạm thượng Thiên Chúa Giavê, chống báng Luật Môsê, đả kích hàng Tư Tế, Kỳ Mục, và làm xáo trộn mọi sinh hoạt xã hội, tôn giáo, mà còn sợ tương lai đen tối, mù mịt, sợ ngày mai không điểm tựa, lối thoát, sợ  đường dài trước mặt  hoang vắng, bẽ bàng,  đơn độc.
Trong căn phòng đóng chặt cửa vì sợ hãi ấy, Đức Giêsu khiêm hạ đã đến giữa các môn đệ khiêm hạ của Ngài, và ban Bình An phục sinh của Ngài cho các ông.
Ngài đã ban Bình An của Ngài là “tôi trung Thiên Chúa” sau khi đã khiêm hạ vâng lời Chúa Cha “hoàn toàn trút bỏ vinh quang” của Thiên Chúa, và nhất quyết từ giã “địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” của mình, để xuống thế làm người, sống kiếp phàm nhân như mọi nguời; Ngài đã ban Bình An của Ngài là “Chiên Thiên Chúa” sau khi đã khiêm hạ thực thi ý muốn của Chúa Cha là “bằng lòng chịu chết trên cây thập tự” như kẻ có tội để chuộc tội người khác.
Qủa thực, Đức Giêsu đã chờ cho đến khi thực hiện xong sứ vụ rất khiêm hạ của người Tôi Tớ trung tín và của Con Chiên chịu hiến tế mới chính thức ban Bình An của Ngài cho các môn đệ và mọi người, bởi Bình An của Ngài là hoa trái của Khiêm Hạ, Bình An của Ngài là Bình An mà thế gian không ban được do được cưu mang, nuôi dưỡng bằng máu, nước mắt của một Thiên Chúa khiêm hạ vô cùng, Bình An đến từ đinh sắt, lưỡi đòng, mão gai đã hằn sâu trên thân xác đẫm máu, rũ liệt trên Thánh Giá của một Thiên Chúa khiêm hạ đã xuống tận đáy sâu của thân phận phàm nhân tội lỗi vì yêu thương.
Đức Giêsu đã ban Bình An với thân xác phục sinh khiêm hạ còn thương tích, vì Bình An đích thực, Bình An viên mãn, Bình An đời đời, Bình An mà không ai ban được, cũng không người nào có quyền lấy đi ấy đến từ trái tim của một Thiên Chúa vô cùng khiêm hạ đã hạ mình làm người và chịu chết. Đó là lý do Chúa Cha “đã siêu tôn Người và ban tặng danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vạt phải bái qùy; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,9-11).
Nhưng nếu Bình An đã được ban bởi một Thiên Chúa khiêm hạ là Đức Giêsu, thì người nhận ơn Bình An tuyệt vời ấy cũng phải là những con người có tấm lòng khiêm hạ, bởi Bình An của Thiên Chúa khiêm hạ không thể đến và ở lại trong tâm hồn của kẻ tự cao, kiêu ngạo, vì Thiên Chúa chống lại và “dẹp tan phường lòng trí kiêu căng, hạ bệ những ai quyền thế” (Lc 1,51-52).
Khi được Đức Giêsu ban Bình An, các môn đệ ở trong tình trạng sẵn sàng để đón nhận Bình An của Thầy mình, bởi các ông là những người khiêm hạ, và càng khiêm hạ hơn sau những ngày dồn dập nhiều biến cố đau thương, vô vàn đổ vỡ ê chề, chồng chất những thất bại đắng lòng, xót xa.
Một điều chúng ta cần ghi nhận ở đây, đó là Đức Giêsu đã không ban Bình An của Ngài cho các môn đệ để các ông tiếp tục ở lỳ trong phòng đóng chặt cửa, lấy cớ “còn sợ người Do Thái”, nhưng Ngài thổi hơi để các ông nhận ơn Chúa Thánh Thần hằng ban cho những con người khiêm hạ và sai các ông đi, như Chúa Cha đã sai Ngài xuống thế gian làm con người khiêm hạ, chết khiêm hạ trên thập giá để cứu những người khiêm hạ nhận mình có tội và cần đến lòng Chúa xót thương.
Như thế, để nhận ơn Bình An của Đức Giêsu, Thiên Chúa khiêm hạ, chúng ta cũng phải như các môn đệ đã khiêm hạ nhận mình yếu đuối khi “sợ hãi đóng kín các cửa”, biết mình nhiều khiếm khuyết, bất toàn và luôn cần được xót thương, bởi chính tinh thần khiêm hạ là điều kiện để ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh ở lại với chúng ta; chính tâm hồn khiêm hạ là “căn phòng” Đức Giêsu muốn đến và ban Bình An của Ngài; chính trái tim  khiêm hạ là Đền Thờ Đức Giêsu muốn ngự, và là Mái Ấm Bêtania Ngài muốn ở lại dùng bữa, và nghỉ ngơi.
Là người được sai đi với sứ vụ loan báo Tin Mừng, chúng ta cũng như các môn đệ năm xưa cần ơn Bình An của Đức Giêsu phục sinh, bởi không có ơn Bình An từ đường Thương Khó và Thánh Giá khiêm hạ của Đức Giêsu, không có sức mạnh của Chúa Thánh Thần trên người môn đệ biết khiêm hạ, chúng ta sẽ không đủ tình yêu để “bỏ mọi sư” khi được Đức Giêsu kêu gọi, càng không đủ niềm vui để lên đường khi được Ngài sai đi, bởi chỉ người có tâm hồn khiêm hạ mới có được tình yêu và niềm vui của người môn đệ, nhờ được đón nhận trong khiêm hạ ơn Bình An phục sinh của Ngôi Lời vô cùng khiêm hạ.
Xin Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người khiêm hạ ban cho các tôi tớ của Chúa ơn  khiêm hạ để làm chứng Nước Trời đang ở giữa mọi người bằng sống Niềm Vui của Tin Mừng, Hy Vọng của Lời Hứa và Lòng Thương Xót của Thiên Chúa nhân hậu.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

CON CỦA CHA, MẸ NGHIỆN RƯỢU


 “Rượu làm phấn khởi tâm hồn” là châm ngôn của mọi dân tộc, vì thực sự phải có chút men thì tình nghiã mới nồng nàn, chuyện trò mới rôm rả, và người ta mới tự nhiên, hồn nhiên trút bầu tâm sự. Bữa tiệc không rượu thường lạt miệng và kéo theo nhạt lòng.
Không ai chối cãi được sức bốc, độ say của rượu. Nó không chỉ bốc người uống lên đến trời mà còn kéo luôn cả trời xuống với người uống. Nó không chỉ làm say người uống mà làm cả trời đất quay cuồng say theo. Rượu có sức mở được miệng người ít nói, mở được lòng người “nhát gan, hay mắc cở”, vì có rượu vào là lời ra, có chút men là oang oang làng xóm.
Vấn đề ở đây không phải  uống ít hay uống nhiều, nhưng là uống đến nghiện để rượu không còn công dụng làm phấn khởi mà phản tác dụng cầy bới “lục phủ ngũ tạng”. Từ uống ít đến uông nhiều, từ uống nhiều đến nghiện  bước chân rất ngắn; ngắn đến ít ai ngờ, nên mới ra nông nỗi biến thành “ma men” lúc nào không hay biết.
Nghiện rượu là căn bệnh của thời đại. Có nhiều nguyên nhân đưa đến nghiện. Có thể do buồn chán vợ con, thất bại trong công ăn việc làm, thất thế, thất tình nên mượn rượu quên đời, quên người. Nhưng  cũng có thể nghiện vì ham vui, thích tụ tập, gầy xòng: “uống có chiến hữu, nhậu có bạn hiền”. Cứ nhìn các quán nhậu Sàigòn  vào những buổi chiều, bất kể chiều nay hay chiều cuối tuần, ta sẽ được dịp gặp các chiến hữu nam nữ mặt đỏ gay, tay nâng ly, miệng hét khẩu hiệu “Dô” inh ỏi. Các bạn ấy đang say xỉn và không lâu sẽ trở thành những tay nghiện thời đại. Nhìn họ say mèm, hét hò thoải mái, ai bảo họ thất bại, thất tình?
Như thế, nguyên nhân đưa đến nghiện thì phong phú vì trong thực tế, người ta muốn nghiện là nghiện, đâu cần phải buồn hay vui, thành công hay thất bại, giầu hay nghèo, nam hay nữ, già hay trẻ…
Người nghiện rượu cũng như người nghiện những thứ khác chỉ thích thứ mình nghiện và làm mọi cách để có được thứ mình đam mê. Nghiện rượu  là đam mê, nhưng là đam mê xấu, đam mê nguy hại cho sức khoẻ, gia đình, xã hội. Trước hết là nguy hại cho chính bản thân người nghiện rượu:

a.   Người nghiện rượu mất khả năng nhận ra những tương quan một cách bình thường. Thí dụ: say xỉn rồi thì chẳng còn biết ai vào ai. Gặp ai cũng xớn xác, bi bô, huyên thuyên đủ chuyện  chẳng đầu chẳng đuôi. Thấy ai cũng lăng xăng niềm nở nhưng chẳng biết họ là ai, tên gì, rồi cứ thao thao “tỏ tình, thề hứa, thanh minh thanh nga” mà chẳng để ai nói, cũng không cho ai hiểu mình đang muốn nói gì
b.   Người nghiện rượu không làm được công việc đến nơi đến chốn. Họ chỉ bắt đầu rồi bỏ dở dang
c.    Họ cho mình quyền đánh giá mọi người, mọi việc và rất lệch lạc trong phán đoán, định giá.
d.   Họ mất khả năng tâm giao.
e.     Người nghiện rượu rơi vào hai thái cực, hoặc cực kỳ trách nhiệm, hoặc hoàn toàn buông thả.
Để giúp họ, cần khơi dậy tuổi thơ và những biến cố trong quá khứ, vì có thể đây là nguyên nhân sâu xa đã đưa họ đến nghiện rượu. Giúp họ thoải mái bộc lột tình cảm, nhu cầu, ý kiến và tạo cho họ không gian giải trí, chơi đuà. Âm nhạc, thể thao, gặp gỡ người thân là những phương cách hữu hiệu giúp họ lấy lại thăng bằng tâm lý. Cùng với họ thiết lập chương trình sinh hoạt cụ thể từng ngày. Giúp họ tìm lại lòng tự tin và học biết nhận lãnh chứ không chỉ cho đi. Đồng hành bằng cách tôn trọng những sáng kiến tốt và lành mạnh của họ cốt để họ thấy: họ còn nhân cách và  nhiều giá trị; bởi không có gì là tận số và không thể cứu vãn.
Đó là câu chuyện của người nghiện, ở đây ta không đi sâu hơn vào vấn đề này, bởi mục tiêu của bài viết là những khó khăn của em bé khi gia đình có người nghiện rượu, nhất là khi người ấy lại là chính cha hay mẹ của em.
Như đã nói ở trên, người nghiện rượu mất thăng bằng tâm lý và không nhận ra một cách bình thường những tương quan. Vì thế, khi cha hoặc mẹ nghiện rượu, em bé sẽ chịu hậu qủa đầu tiên là không được mẹ hay cha nhận ra đúng như em là; vì khi trong đầu có  men rượu,  chưa chắc cha, mẹ  đã  nhận ra em là con… Chỉ nguyên một chuyện không nhận ra con mình một cách bình thường thôi, em bé đã chịu bao nhiêu thiệt thòi rồi,  chưa kể em phải sống trong  bầu khí lúc nào cũng căng thẳng, sợ hãi, xấu hổ, bất ổn, cô đơn với mặc cảm đồng loã.
Em sẽ luôn sợ hãi  tính khí bất thường, vui buồn bất chợt của cha, mẹ; nhất là khi không có rượu và cơn nghiền hành hạ. Nhiều gia đình đã là bãi chiến trường “non stop” vì những mâu thuẫn không thể giải quyết do “ma men” gây ra. Em sẽ mang tình cảm xấu hổ vì có cha, mẹ say xỉn trước người khác và luôn phải tìm cách ém nhẹm, che dấu bằng yên lặng. Sự bó buộc yên lặng trở nên nguyên nhân của ức chế sẽ đè nặng tâm tư em và tạo nên mất quân bình tâm sinh lý. Tình trạng không an toàn khi ở bên người cha, người mẹ nghiện rượu cũng tạo thêm áp lực trong cuộc sống. Tất cả dồn em vào một góc riêng nhỏ bé còn lại của nội tâm và em sẽ khép kín, ẩn mình trong cô đơn, mặc cảm
Người ta dễ nhận ra tình trạng xuống tinh thần và mất thăng bằng của em khi thấy em thường xuyên mất ngủ, đầu óc khó tập trung, chậm lớn, lo lắng nôn nao, sợ sệt, dễ nổi nóng, hay tức giận, học hành trễ nải. Những cơn đau bụng, nhức đầu cũng thường xuyên xẩy ra như phản ứng tất nhiên của sinh lý khi tâm lý bị giao động mạnh.
Để giúp em bé ra khỏi  khủng hoảng khi có cha, mẹ nghiện ruợu, ta có thể:
a.   Nói chuyện nhiều với em và khẳng định: em không có lỗi gì trong việc nghiện rượu của  cha, mẹ và hoàn toàn không đồng loã tạo nên tình trạng căng thẳng, mâu thuẫn trong gia đình. Ở vào hoàn cảnh này, em bé dễ mang mặc cảm tội lỗi là đã góp phần làm cho tình trạng thêm xấu. Sở dĩ em có mặc cảm này, là vì vô thức đã khẳng định thay em trách nhiệm của con đối với cha mẹ. Vì thế, việc làm đầu tiên là lấy em ra khỏi mặc cảm đ ồng loã  của “vô thức”  để có một lương tâm bình an.

b.   Tạo dịp cho em được nói hết những ý nghĩ còn tồn đọng trong đầu và tình cảm còn ứ nghẹn trong tim. Nói hết là cách tốt nhất để được nhẹ lòng, nguôi ngoai.
c.    An ủi bằng cách trấn an: em không phải là trường hợp duy nhất, nhiều em bé khác cũng rơi vào hoàn cảnh như em.
d.   Củng cố  nơi em lòng tự tin.
e.    Giúp em tạo nhiều liên đới thân thiện, tin tưởng trong gia tộc, làng xóm, trường học.
f.     Bảo đảm an toàn cho em bằng tạo một nhóm người có uy tín và được em tin tưởng  để thường xuyên chia sẻ, thăm nom em.
Làm con của cha hay mẹ nghiện rượu, em bé phải gánh chịu cả một “gia sản” tai ương. Em không được một tuổi thơ đẹp, có cha mẹ âu yếm, yêu thương, chăm nom, săn sóc đã đành mà còn phải lấm lét, sợ hãi, trốn tránh những cơn giận điên khùng của cha, mẹ khi các vị say xỉn, hay cơn nghiền nổi lên. Em mất hẳn tuổi thơ bình an khi không khí gia đình hoà thuận, yêu thương đã bị rượu lấy đi, vì sở trường của người nghiện  rượu là không để ai yên, nhưng phải quậy phá, gây sự, kiếm chuyện với mọi người; chưa nói đến  nhiều trường hợp người nghiện  xử dụng bạo lực để xâm phạm, làm tổn thương người khác.
Ước mong các gia đình trẻ ý thức tai hại của nghiện rượu và nỗi bất hạnh của những đứa con có cha mẹ thường xuyên say xỉn vì nghiện rượu. Số người Việt Nam bị đau gan vì uống ruợu ngày càng cao như hồi chuông cảnh báo nguy cơ đang kề cận. Đành rằng  nhiều khi phải  uống vì giao tế, nghề nghiệp, nhưng uống như một đam mê, một nhu cầu, một thói quen không thể bỏ thì qủa thực người ta đã nhắm mắt liều mạng uống để  sớm được “tiêu diêu miền cực lạc”. Uống như thế còn gì là uống để sống và rượu đâu còn làm “phấn khởi tâm hồn”, như điều vốn ước mong.

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2020

TỐT - XẤU LẪN LỘN

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 16 Thường Niên – Năm A
Ở bất cứ đâu, trong bất cứ tổ chức, cơ chế, hay môi trường nào, chúng ta đều thấy “chung sống, chung đụng” những điều xấu và điều tốt, người dữ và người lành, bậc hiền nhân quân tử và hạng tiểu nhân “đá cá lăn dưa”. Ngoài đời thì thượng vàng hạ cám, vàng thau lẫn lộn, nên chẳng dám tin ai, nhưng tự mình “buộc chỉ cổ tay” không dám “thề non hẹn biển” sống chết với người nào. Trong đạo cũng không khá hơn, vì người nhân hậu, kẻ gian ác cũng lẫn lộn, trà trộn, và kẻ lưu mạnh, thời cơ, thủ lợi, buôn thần bán thánh cũng nhan nhản đồng hành bên thánh nhân đắc đạo khiêm tốn, hiền lành.
Toàn bộ các bài đọc và Tin Mừng của chúa nhật này làm chứng điều trên, và cho chúng ta thấy thánh ý của Thiên Chúa khi để người lành và người dữ chung sống, như lúa và cỏ thi nhau mọc trên cánh đồng.
1.   Thiên Chúa là Đấng toàn năng, toàn quyền nhưng vô cùng kiên nhẫn vì Ngài từ bi, nhân hậu:
Sách Khôn Ngoan khẳng định: “Thiên Chúa không phải sợ hãi gì ai, mà Chúa không trừng phạt lỗi lầm của chúng” (Kn 12,11). “Chúng” đây là những kẻ dữ, phường gian ác, vì nào ai dám hỏi: “Chúa làm chi vậy? và ai dám chống lại phán quyết của Ngài?” (Kn 12,12). Nhưng “vì Chúa làm bá chủ vạn vật, nên Chúa nương tay với muôn loài”, và “lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản”, mặc dù “có thể sử dụng quyền năng bất cứ khi nào Ngài muốn” (Kn 12,16.18).   
Có người đặt vấn đề: nếu đã biết người nào xấu và gian ác thì tốt hơn hết là bứng người ấy ra khỏi Giáo Hội, xã hội để khỏi ảnh hưởng đến người tốt.
Qủa thực, giải pháp bứng đi cho xong nợ là cách giải quyết nhanh gọn của con người không có lòng thương xót, là phương án nhằm đạt kết qủa ngay lập tức của trái tim xơ cứng, vô cảm, là đường lối cấp tốc thanh lọc hàng ngũ, khẩn trương làm sạch Giáo Hội để có một xã hội, Giáo Hội gồm toàn những công dân ưu tú, những đại thánh nhân. Nhưng rất tiếc, tất cả đều không xứng hợp với ý muốn của Thiên Chúa, không xứng đáng với trái tim luôn chạnh lòng trắc ẩn của người Cha Thiên Chúa không bao giờ muốn con mình đã sinh ra phải hư đi.
Khi dùng dụ ngôn cỏ lùng mọc chung với lúa, Đức Giêsu muốn nói đến tình trạng thiện - ác, xấu - tốt, lành - dữ cùng lúc có mặt và chung sống trong tâm hồn mỗi người.
Nhưng cái khác biệt giữa cỏ - luá và con người  ở đây là không như cỏ sẽ mãi là cỏ, và lúa sẽ mãi là lúa, con người vượt xa trên thực vật, nên có khả năng thay đổi cái xấu thành tốt, cái ác thành thiện, kiêu căng thành khiêm tốn, gian tham thành xởi lởi, qủang đại, bất nhân, tàn nhẫn thành hiền lành, nhân hậu… bởi được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người có trí thông minh để nhận định tình hình, có tự do lựa chọn xấu tốt và khả năng thực hiện  sự dữ hay việc lành, thay đổi đời phóng đãng, lăng loàn thành đời đằm thắm, tín trung.
Hình ảnh người con hoang đàng trong dụ ngôn “Người cha nhân hậu” của Tin Mừng Luca chương 15 cho chúng ta thấy rõ hơn tự do và khả năng làm điều xấu khi bỏ nhà cha đi hoang, cũng như tự do và khả năng làm điều tốt khi đứng lên trở về mái ấm gia đình với cha già của người con thứ. Hình ảnh người con hoang đàng ấy là hình ảnh của đời sống mỗi người chúng ta, một đời sống luôn có những xấu, tốt, thiện ác bao quanh, đâm rễ, mà chỉ lòng thương xót và kiên nhẫn của Thiên Chúa mới cho cơ hội để “đổi mới, cải thiện, trở về”.
2.   Thiên Chúa trân qúy và tin tưởng người tốt lành:
Không chỉ thương xót người dữ, kẻ có tội, Thiên Chúa còn công khai bầy tỏ lòng trân qúy người ngay chính, tốt lành khi trả lời đề nghị nhổ hết cỏ lùng của gia nhân: “Đừng, sợ rằng khi nhổ cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt” (Mt 13,29-30).
Không cho nhổ cỏ vì sợ làm bật rễ lúa, Đức Giêsu trân qúy những điều tốt lành ở mỗi người, nhưng đồng thời cũng mong đợi những điều xấu ở chúng ta được giảm bớt, khử trừ, khi gia hạn để cả lúa và cỏ “cùng lớn lên cho tới mùa gặt”.
Bên cạnh lòng trân qúy, Đức Giêsu còn tỏ ra tin tưởng ở người tử tế, đạo đức, cũng như những ưu điểm nơi mỗi người. Dụ ngôn “Hạt Cải” và “Men trong bột” (Mt 13,31-33) tiếp liền theo đã làm chứng điều này: “Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời đến làm tổ trên cành được” (Mt 13,32). Cũng như nắm men bé nhỏ mà “người đàn bà vùi vào ba thúng bột” đã làm tất cả bột dậy men (Mt 13, 33).
Vâng, Đức Giêsu khuyến khích chúng ta đừng nản lòng khi thấy cái xấu vượt trội bên những cái tốt, cũng đừng thối chí bỏ cuộc “dấn thân phục vụ” xã hội và Giáo Hội khi thấy người xấu qúa đông, gương xấu qúa nhiều trong Giáo Hội, xã hội, bởi như hạt cải bé tí teo đã “trở thành cây đến nỗi chim trời có thể làm tổ trên cành”, và nắm men bé nhỏ đã làm “tất cả bột dậy men”, thiểu số người đạo đức, tử tế, cũng như những việc làm tốt lành dù ít oi cũng sẽ có sức “biến đổi” lòng người, thay đổi thế giới, làm mới Giáo Hội, xã hội, với ơn phù trợ của Thiên Chúa.
Với tâm tình của người con yếu đuối dễ sai phạm, hay vấp ngã, chúng ta tín thác vào lòng thương xót, kiên nhẫn của Thiên Chúa, và cùng nhau xin Chúa Thánh Thần dậy chúng ta cầu nguyện, vì “chúng ta là những kẻ yếu hèn, không biết cầu nguyện thế nào cho phải”, và chỉ biết xin “Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta” để chúng ta được sống như Thiên Chúa muốn, hầu xứng đáng được “thu vào kho lẫm” ở mùa gặt là Nước Trời (x. Rm 8,26-27).
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2020

ĐỨC TIN CỦA HỘI THÁNH

Rất nhiều khi chúng ta quên khuấy đi mình đã nhận đức tin từ Hội Thánh khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Ngày đó, chính chúng ta hoặc cha mẹ, người đỡ đầu trước câu hỏi “Con xin gì cùng Hội Thánh?” của linh mục, phó tế cử hành bí tích đã  hân hoan trả lời: “Con xin Đức Tin cùng Hội Thánh”. Và nếu đã xin Hội Thánh đức tin, thì đức tin ấy mãi mãi có nguồn gốc từ Hội Thánh, và được Hội Thánh nâng đỡ, gìn giữ đến cùng. Thế mà trong thực tế, ta lại coi đức tin là sở hữu của riêng mình, và ngây ngô nghĩ mình bỏ vốn đầu tư mà có được.
Thực vậy, đức tin của ta không chỉ là quà tặng từ Thiên Chúa thông qua Hội Thánh của Ngài, mà đức tin ấy còn thuộc về và ở trong đức tin của toàn thể Hội Thánh gồm các thánh trên trời, các tín hữu đang sống và linh hồnc tín hữu còn trong giai đọan thanh luyện trước khi về hưởng Thiên Nhan. Vì thế, đức tin của Hội Thánh chính là thành trì cho đức tin ta nương náu, là núi đá che chở đức tin  rất yếu đuối của ta, như lời cầu nguyện trong thánh lễ: “Lậy Chúa, xin đừng chấp tội chúng con, nhưng xin nhìn đến đức tin của Hội Thánh Chúa”, bởi chúng ta ý thức: chỉ với đức tin nhỏ bé, dòn mỏng của riêng mình, mà không có đức tin của toàn thể Hội Thánh, chúng ta không đáng được Chúa xót thương tha thứ và nhậm lời cầu xin.
Chính vì cần nương náu nơi đức tin của Hội Thánh để được Thiên Chúa xót thương, mà chúng ta không thể đặt đức tin của riêng mình ra ngoài đức tin của Hội Thánh; không thể ảo tưởng mình hoàn hảo và vững mạnh trong đức tin của riêng mình, mà tự tách ra khỏi đức tin của các thánh Tông Đồ được gọi là đức tin tông truyền; không thể tự cho mình quyền và khả năng nắm trọn chân lý đức tin, mà không tháp nhập đức tin của mình vào đức tin của toàn thể Hội Thánh; và không thể tự xây đức tin của mình trên một Tảng Đá nào khác, không phải tảng đá Phêrô, trên đó Đức Giêsu đã thiết lập Hội Thánh của Ngài.
Vì được lãnh nhận đức tin từ Hội Thánh, nên sẽ rất vô lý nếu chúng ta tự nhận đức tin ấy của mình, và có quyền thay đổi, cắt xén hay thêm thắt vào đức tin những gì không thuộc đức tin của Hội Thánh, nơi Đức Giêsu ký thác kho tàng Chân Lý cứu độ của Ngài cho nhân loại. Cũng vì được Hội Thánh cưu mang, sinh ra, nuôi dưỡng, đào tạo trong đức tin, nên khi chối bỏ, khước từ đức tin của Hội Thánh mà từ đó đức tin của chúng ta được ươm trồng, đâm chồi, nẩy lộc tưởng sẽ là một phi lý khó quan niệm.
Thực vậy, trong đời sống hằng ngày, không thiếu những gương xấu nơi những người con của Hội Thánh làm đức tin của chúng ta chao đảo, lung lay; không thiếu những hoàn cảnh gây bất mãn, nghi ngờ sự tinh ròng của đức tin nơi Hội Thánh khiến chúng ta muốn “xem lại, xét lại, sửa lại” đức tin đã lãnh nhận từ Hội Thánh của mình; không thiếu những cơn sóng cám dỗ của các học thuyết chống lại Hội Thánh với những luận chứng nghe rất bùi tai lôi cuốn chúng ta vào con đường bỏ đức tin theo lạc giáo; không thiếu những đêm tối đức tin ở đó cuồng phong thế gian và ma qủy cố đẩy chúng ta đến vực thẳm “tháo bỏ đức tin của Hội Thánh” ra khỏi cuộc đời mình; không thiếu những lúc tâm hồn khô khan, nguội lạnh không còn chút lửa đức tin; và cũng không thiếu những lúc lửa hoả ngục bùng cháy dữ dội trong tâm hồn khiến chúng ta lầm tưởng là lửa của Chúa Thánh Thần thúc chúng ta xuống đường lên tiếng đòi cải cách, cải tổ đức tin, đòi hiện đại hóa, cập nhật hoá đức tin, đòi “thiết kế, lắp ráp” một đức tin hợp gu, hợp nhãn, phù hợp với nhu cầu, đòi hỏi của thế gian hơn.
Chính những lúc sóng gió nhiều rủi ro, nguy hiểm, chúng ta cần quy chiếu đức tin của mình vào đức tin của toàn thể Hội Thánh. Chính trong tâm bão của thử thách cam go, chúng ta cần chạy đến nương náu nơi đức tin của Hội Thánh, vì Đức Giêsu đã chính thức công bố: Ngài ở với Hội Thánh cho đến tận thế, và trên Tảng Đá Phêrô, Ngài xây dựng Hội Thánh của Ngài, mà đến qủy hoả ngục cũng không thể làm gì nổi (x. Mt 16,18 ; 28,20).
Hình ảnh các tông đồ thất kinh bát đảo trên biển đêm nào là hình ảnh của chúng ta khi thuyền các ông “thì đã ra xa bờ cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió”. Và các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy! và sợ hãi la lên”, khi Đức Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các ông. Ông Phêrô liền thưa với Người: “Thưa Ngài, nếu qủa là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài”. Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước mà đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm thì ông la lên: “Thưa Ngài, xin cứu con với!. Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông…” (Mt 14,24-30).
Như các tông đồ, chúng ta đáng bị Đức Giêsu quở trách: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?” (Mt 14,31), khi chúng ta ngờ vực đức tin của mình là đức tin đã lãnh nhận từ Hội Thánh và mãi mãi được Hội Thánh chăm nom, săn sóc, giữ gìn, bảo vệ và làm cho trưởng thành, vững mạnh. Cũng như thánh Phêrô, chúng ta đừng sợ đến với Chúa qua Hội Thánh và trong Hội Thánh khi đức tin bị thử thách, vì Hội thánh là nhà của Thiên Chúa ở trần gian, nơi Đức Giêsu luôn hiện diện và yêu thương cứu chữa như đã giơ tay nắm lấy Phêrô khi ông chỉ nhìn xuống chân mình mà quên không nhìn vào chính Chúa, chẳng khác gì chúng ta đôi lần trong khủng hoảng đã chỉ nhìn nhìn vào đức tin của mình mà quên cậy dựa vào đức tin của Hội Thánh Chúa. 
Jorathe Nắng Tím

VÔ DUYÊN

Vô duyên rất thường được sử dụng để đánh giá lời nói, thái độ, cung cách của người khác. Vì rất thường được sử dụng, nên dễ rơi vào tình trạng dễ dàng gán cho bất cứ ai hai chữ vô duyên, mà không thẩm định đúng mức giá trị của sự việc, như cô gái được chàng trai lạ tấm tắc ca ngợi nhan sắc và hết lòng ngưỡng mộ “người đẹp” lại bị người đẹp quở trách “vô duyên”.
Người ta có thể bị coi là vô duyên khi “làm thiên hạ cười” không đúng người, đúng lúc, như tấu hài trước người vừa nhận hung tin cha mất, mẹ nhập viện, con thi rớt; như pha trò đang lúc hội nghị bàn về những vấn đề nghiêm trọng, đòi chú ý cao độ; như khen chê cách kệch cỡm, không đúng sự thật và không phù hợp hoàn cảnh, tình huống, cũng như tình trạng tâm lý của người được khen, hay bị chê. Cũng có thể bị cho là vô duyên khi ngôn từ dùng không chỉnh, chữ nghiã thô sơ đến lố bịch, lạc lõng, nên muốn mọi người cười nhưng tất cả đều chửi, mong cử tọa vỗ tay hoan nghênh mà ai nấy đều tím mặt ngượng giùm.
Qủa thực, không dễ để biết bản chất của “vô duyên”, cũng như nhận diện chân tướng của “có duyên”. Ở đây, người viết dám mạo muội chia sẻ với Bạn chút ít kinh nghiệm với hy vọng đóng góp  nét duyên cho đời nhau, và niềm vui cho cuộc sống hôm nay trên cõi đời này.
1.   Duyên phát xuất từ tâm hồn:
Duyên không là sở hữu “bất khả nhượng” của người có nhan sắc, không là hành trang “độc quyền” của người đẹp, nhưng bất kể ai cũng có quyền “duyên”, cũng được “có duyên”, vì “duyên” không hệ tại thân xác, mặc dù diện mạo bên ngoài cũng góp phần làm duyên thêm đậm đà, tô thêm cho duyên nét mặn mà, tươi thắm, nhưng duyên đến từ tâm hồn, duyên phát sinh từ trái tim, duyên rạng rỡ, sáng ngời nhờ ánh sáng của nhân ái, từ tâm.
Các nhà tâm lý đều đồng ý: 70 % người vô duyên là những người thiếu một tâm hồn, nghiã là thiếu lòng nhân ái, bởi lẽ hầu hết những lời nói vô duyên đều mang tính coi thường, xúc phạm  người khác hơn là “bông đùa không ý tứ, vô tội vạ”. Vấn đề là ngay chính đương sự đã không ý thức mình đã vô duyên do tâm hồn  vẩn đục, khi buông những lời vô duyên bộc lộ tâm hồn trống vắng tình người, nghèo nàn nhân nghiã
Thực vậy, nếu phân tích thấu đáo những lời nói vô duyên nghe được trong đời, ta sẽ thấy hầu hết đều xuất phát từ tâm hồn không trong sáng và quảng đại đối với tha nhân.
Không trong sáng, tâm hồn mới biến lời nói thành vô duyên khi thăm hỏi mà như khiêu khích, “quan tâm” mà như đe dọa, “nhắn nhủ” mà như “dao cắt, kim đâm”. Người viết xin  kể hầu Bạn một số trường hợp mắt thấy tai nghe :  
Rất lâu năm không gặp nhau, tình cờ gặp lại người bạn vong niên đã hơn tám mươi tuổi trong một đám cưới, một quan chức đương thời “hô hố” trước ông cụ và  đám đông có mặt: “Ơ, tôi tưởng ông chết lâu rồi chứ. Thế ra vẫn còn sống đấy à?”. Ông quan to đã làm mọi người “đứng hình” vì qúa vô duyên, kệch cỡm.
Gặp nhau trong sân trường, cô gái nhe chiếc răng khểnh vừa chỉ mặt bạn vừa khôi hài: “Xanh mét thế này thì hỏi ai chẳng biết bồ mới đi ngủ với trai đêm qua!”. Trời đất! Con gái chưa chồng mà khôi hài kiểu “vô duyên” này thì còn gì nhẫn tâm hơn?
Giữa bữa tiệc đông người, ông bạn vừa gọi đích danh người bạn nghèo, vừa hề hề phán: “Khẩn trương tập trung ăn nhiều đi, tớ biết nhà cậu cả tháng cũng chẳng có được miếng thịt”. Hài hước vô duyên kiểu “đá giò lái” này thì độc hơn cả thịt chó, khiến thực khách có mặt lặng người buông đũa.
Thực vậy, nếu tâm hồn quan chức đương nhiệm trong sáng, thì lời nói của ông không “đen tối” mầu tang chế, khi “ngạc nhiên” vì cụ già, bạn vong niên của mình còn sống; nếu tâm hồn cô nữ sinh tình nghiã với bạn, thì cô đã chẳng xâm xoi đời tư của bạn mình, với thành kiến xấu, với ý nghĩ ác độc ảnh hưởng thanh danh, uy tín; nếu tâm hồn ông bạn đồng bàn không chật hẹp, nhỏ mọn thì miếng thịt đâu có cơ may trở thành lời châm biếm tàn nhẫn. Như thế, những câu bông đùa  gây tiếng cười để tạo duyên, những phát ngôn tưởng mua vui cho mọi người để được tiếng “ăn nói duyên dáng”, những phát biểu tưởng làm rộn ràng bầu khí, phấn khởi lòng người hoá ra chỉ là những vô duyên làm đau lòng người, những kệch cỡm làm nặng lòng bạn hữu, những lố bịch làm tan nát trái tim nhiều người, mà nguyên nhân sâu sa chính là thiếu một tấm lòng.
Vì thiếu tấm lòng mà người ta trở nên vô duyên khi không đủ bác ái để nghĩ và nói những lời xây dựng hạnh phúc của người khác; vì thiếu tấm lòng mà người ta dễ vô duyên khi  soi mói, cầy bới  đời tư của nhau; vì thiếu tấm lòng, mà người ta trở nên vô duyên khi khép chặt con tim, để tự biến mình thành tù nhân của ganh ghét, đố kỵ.
Do đó, cái duyên sâu đậm, cái duyên qúy giá, cái duyên vĩnh cửu không bao giờ tàn phai, héo úa với tuổi tác, thời gian chính là cái duyên được cưu mang, nuôi lớn và sống dồi dào nhờ tâm hồn biết thông càm, trái tim biết chạnh lòng, và tấm lòng bác ái, vị tha, bởi chỉ những gì phát xuất từ tâm hồn trong sáng, nhân ái,  quảng đại mới bất tử trường sinh và đem lại “duyên dáng, duyên lành, duyên thắm” cho mình và niềm vui, hạnh phúc cho người chung quanh.
2.   Duyên còn là thái độ:
Người ta thường chú ý đến “ăn nói có duyên”, mà ít quan tâm đến “thái độ có duyên”, trong khi cung cách, thái độ mới đem lại nhiều nét duyên ấn tượng không ngờ, khi tâm hồn trong sáng, nhân ái, qủang đại.
Khi gặp một người, ta có thể bị hớp hồn qua thái độ có duyên của họ, mặc dù họ không nói gì, cũng chẳng “ba hoa, lắm lời”, nhưng đôi mắt ân cần quan tâm, nụ cười hiền hoà, khiêm tốn, nhất là thái độ  tế nhị, đằm thắm của họ làm họ nổi bật “có duyên” hơn nhiều người, và để lại trong ta hình ảnh đẹp về một con người rất “có duyên” với tâm hồn trong sáng, thánh thiện.
Thực vậy, chỉ một thái độ nhã nhặn sẽ nối kết những gì còn xa lạ, và chỉ một chút ân cần quan tâm sẽ biến những xa xôi, cách trở thành thân tình, gần gũi. Nhưng để có được thái độ nhã nhặn, ân cần, chúng ta phải có một tâm hồn đầy ắp yêu thương, một trái tim vị tha, qủang đại, bởi thiếu tâm hồn, hành vi nào cũng nhạt nhẽo, vô tình, thái độ nào cũng vô hồn, vô duyên.
Hiểu thế nào theo nhà Chúa, hay nhà Chùa thì Duyên cũng được hiểu là duyên phúc, ơn phúc, hồng phúc, nên người được gọi là “có duyên” chính là người đem lại cho người khác niềm vui và bình an. Nhưng để trao tặng duyên lành, duyên phúc, gọi tắt là hạnh phúc, người có duyên phải là người có phúc, người đầy ơn phúc trong tâm hồn, bởi không ai có thể cho cái mình không có.
Ước gì, chúng ta đều là những người “có duyên” để mọi nơi, mọi lúc, trong mọi tình huống, hoàn cảnh của cuộc đời, chúng ta luôn trở thành niềm vui, bình an, và hy vọng cho nhau, qua lời nói, thái độ, cung cách “có duyên”, nhờ luôn giữ  tâm hồn đầy phúc của lòng nhân ái.
Jorathe Nắng Tím     

TRẺ EM VÀ INTERNET


Thế giới văn minh với thời đại “a còng @” đã thay đổi khủng khiếp sinh hoạt của con người. Ngày xưa, để nhận một lá thư từ Âu châu về Việt Nam, người ta phải mất ít là một tháng; ngày nay chì 2 giây… Ngày xưa gọi điện thoại là một ước mơ, ngày nay điện thoại miễn phí từ Paris vể Việt Nam, nếu gọi vào điện thoại bàn… Miễn phí nên gọi hoài cũng chán vì chẳng còn gì để “tám”, không lẽ cứ hỏi đi hỏi lại: “có khoẻ không?”. Tin tức thì khỏi nói: muốn tin gì có tin đó, từ tin “vịt cồ” đến tin đứng đắn, từ thông tin bừa bãi, nhăng nhít của những tay chuyên nghiệp lừa đảo đến những thông tin quan trọng có tầm cỡ quốc tế. Trò chơi giải trí thì vô cùng phong phú: từ trò chơi cho em bé hai tuổi đến ô chữ cho ông già, bà lão gạch gạch, xoá xoá cho qua ngày. Kiến thức cũng miên man, vô tận: từ chuyện trồng cây, nuôi cá cảnh đến cách chữa bệnh nan y, kỹ thuật lên sao Hoả. Gần đây với kỹ thuật “Face Book”: chỉ cần chọn nickname, vào danh sách kết bạn là có hàng trăm, hàng ngàn bạn mới cũ, xa gần… Qua internet, người ta gặp nhau dễ dàng, thông tin nhanh chóng, tha hồ trau dồi kiến thức. Với internet, thế giới nhỏ lại và con người gần nhau hơn.
Như thế internet là phương tiện rất văn minh để học hỏi, thông tin, nối kết, khám phá, cải tiến, sáng tạo, giải trí. Người ta dùng internet để làm việc, để thư giãn, để kết bạn, làm quen. Internet đi vào đời sống và hầu như ai cũng có internet như người bạn trong sinh hoạt. Cứ nhìn em bé chưa đầy 2 tuổi lướt nhanh ngón tay tìm trò chơi  trên màn hình Ipad để đủ biết sức mạnh xâm lăng của Internet lớn và rộng như thế nào trong đời sống con người thời đại “a còng”.

Nhưng bên cạnh những ích lợi đem lại, Internet cũng là “người khách không mời cũng đến, đến rồi không đi” khi len lỏi tận thâm cung của mọi gia đình, bằng chứng là nằm trên giường rồi mà vẫn ôm Internet, “chat”, “Skype” suốt đêm với bạn bè, người yêu. Biết bao em bé mê man chơi “game” trên mạng đến quên ăn, bỏ học! Bao nhiêu em bé lừ đừ như người “nghiện” vì hàng giờ dán mắt vào màn hình mà quên ngủ. Đời sống xem như bị điều kiện hoá bởi Internet và một ngày không có internet được coi là một ngày rất xấu, rất buồn với rất nhiều người.
Theo thống kê của hội Bảo Vệ Trẻ Em tại Pháp, có đến 28% trẻ em từ 9 đến 10 tuổi và 59% từ 11 đến 12 tuổi mê internet. Những em bé này  trung bình 3 giờ một ngày ngồi trước Internet.
Các em tìm gì và gặp gì trên internet ?
Các em đã gặp những gì các em tìm, nhưng cũng gặp những điều các em không tìm.

Những điều các em không tìm, nhưng phải gặp, đó là:
1.   Cả một chợ trời buôn bán “tình dục” mà người ta khoe hàng, chào hàng thoải mái. Không thiếu một ngón ăn chơi, một kỹ thuật nào ở chợ tình internet. Và người ta tha hồ bấm vào đó mà “ngâm cứu” và “tự sướng”. Sở dĩ các em không tìm mà thấy, không kiếm mà gặp vì những trang web về Sex này nhan nhản, bay tứ tung và tự do lao vào những trang mạng đứng đắn. Có vị linh mục già hết hồn hết viá khi một trang web đầy những vú mông đang điên cuồng lúc lắc nhẩy bổ vào bài giảng của Đức Giáo Hoàng mà ngài đang chăm chú đọc trên mạng. Những người đầu tư, khai thác tình dục có đủ kỹ thuật tinh xảo để lôi kéo mọi người rơi vào mạng lưới trụy lạc, suy đồi. Và một khi đã bị mắc vào một mắt lưới tình dục, người ta sẽ rất khó rút chân ra khỏi mạng lưới.
Nhiều em bé đã hư vì xem hình ảnh dâm ô trên mạng. Các em đã bị đầu độc qúa sớm bởi những phim ảnh đồi trụy, những chuyện khích dục tồi bại để rồi  ngay khi còn bé tâm hồn đã bị vẩn đục, tình cảm bị đui chột, ý chí bị chết yểu, lương tâm đạo đức bị  lu mờ.

2.   Cả một rừng trò chơi “đen đỏ” kích thích lòng tham . Đây cũng là điều các con em chúng ta không tìm nhưng lại thấy trên Internet: những trò chơi cá độ, ăn tiền. Có những em bé 12 tuổi đã biết chơi và say mê những trò đen đỏ trên mạng. Thử tưởng tượng tương lai của em sẽ ra sao khi tiền bạc đã sớm đốt cháy tuổi thơ!

3.   Cả một thế giới bạo lực rực cháy: Hầu hết những phim ảnh trên Internet đều khai thác bạo lực. Ngay cả những trò chơi cho các em bé 3 tuổi cũng không loại trừ bạo lực. Bạo lực trong tất cả. Tất cả cần bạo lực. Đi lạc vào thế gìới này, con em chúng ta sẽ sống trong thế giới bị bạo lực khép kín. Chúng sẽ chịu ảnh hưởng rất nặng của bạo lực và sẽ hành xử theo logic bạo lực trong đời thường. Những vụ cầm súng bắn bừa bãi của những em bé chưa quá 12 tuổi xẩy ra đó đây trên thế giới mà báo chí, truyền hình không ngừng đưa tin, bình luận đã cho thấy hậu qủa tai hại của phim ảnh, trò chơi bạo lực thường xuyên gặp được trên internet.


4.   Cả một vùng cạm bẫy, cám dỗ: Internet là nơi ai cũng có thể trút bỏ tâm sự và đó là nơi dễ gặp những người cùng hoàn cảnh, cùng tâm trạng. Chỉ cần lên Face Book, ta có thể nhâm nhi cả ngày những “tình cảm” của bạn hữu bốn phương, những người ta chưa từng biết mặt, gặp gỡ. Đây là cơ hội cho những “cáo già” săn lùng chiên non. Chẳng ai biết ai vì đã có chữ nghiã lấp lửng lấp liếm, đã có “văn chương ước lệ” che chở, hoá trang, tàng hình, nên người ta tha hồ “mây mưa cám dỗ”, mặc sức quyến rũ, ngon ngọt để bắt những con mồi ngây thơ, khờ dại. Những bẫy được giăng có thể là bẫy tình, bẫy tiền, cũng có thể là bẫy tín ngưỡng, lý tưởng. Nhưng đã là bẫy tất muốn đánh sụp đổ: đánh sụp tinh thần, đánh đổ thân xác những người vô phúc rơi vào bẫy. Nhiều em bé đã rơi vào bẫy của những tay buôn người. Nhiều cuộc đời trong trắng, thơ ngây đã bị phá hoại. Và nhiều gia đình đã tan nát vì mất con. Tất cả đã là sự thật đau lòng từ internet!

Nêu ra vấn đề là để tìm giải pháp. Giải pháp tốt nhất  là ngăn ngừa. Đừng để “mất gà rồi mới rào dậu”. Ngăn ngừa những lạm dụng, ngăn ngừa những nguy hiểm, ngăn ngưà những sơ hở, thiếu sót.
Vế mặt kỹ thuật, cha mẹ nên tư vấn những chuyên viên internet để đóng những cửa vào tự do các trang Web tình dục, bạo lực, cờ bạc. Bên cạnh đó là giới hạn thời gian truy cập internet. Không nên để con cái  nhỏ tuổi tự do vào internet và nên đặt internet ở nơi chung để ai cũng có thể “ghé mắt nhìn qua”. Nhờ được “thường xuyên ghé mắt ” mà em bé không dám tự mình liều lĩnh mạo hiểm vào những vùng “cấm điạ” nguy hiểm.
Tuy thế, giải pháp nào cũng đòi tình yêu thương hướng dẫn, đồng hành. Có yêu thương của cha mẹ, em bé sẽ bước đi an toàn, vì tất cả nguy hiểm có thể xẩy ra cho con đều đã được tình cha, tình mẹ tháo gỡ, đẩy lùi.

Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

KHÁCH HÀNG LÀ THƯỢNG ĐẾ?

Câu nói này có thể nghe được ở một vài nơi, nhưng thể hiện giấc mơ làm thượng đế khi là khách hàng thì chỉ  có ở Việt Nam.
Viết vậy mà không sợ làm sốc bạn đọc, vì qủa thực chỉ ở Việt Nam, tôi mới nghe “khẩu hiệu thương mại kỳ cục” này và thấy con người thực sự “dám” làm thượng đế.
Không biết có phải vì thiên hạ không ngớt thần tượng và suy tôn “Khách hàng là thượng đế”, mà đám đông ngạo mạn cho mình cái quyền “muốn làm gì thì làm” khi bỏ tiền mua dịch vụ. Cứ nhìn thái độ kiêu kỳ đến dị hợm của những thực khách trong qúan ăn khi dương oai cách lố bịch, ta sẽ thấy mức độ trầm trọng của những  khách hàng thượng đế bệnh hoạn rất đáng thương này: nào là “sang chảnh” làm hú hồn các em sinh viên nghèo chạy bàn mỗi tối để có tiền đi học; nào là phách lối to miệng chửi bới khi thực đơn chưa kịp dọn; nào là sấn sổ hùng hổ như muốn “ăn tươi nuốt sống” kẻ ăn người làm, nếu chẳng may dọn sai món được đặt, hoặc vô ý làm rớt khăn, đổ nước; nào là sừng cồ đe dọa, nạt nộ, phun ra đủ thứ cặn bã  gớm ghiếc của người được coi là giầu nhưng rất nghèo đạo đức làm người, khi cho mình cái quyền vô hạn trên người khác; nào là sàm sỡ vô duyên như những người vô học, vô văn hóa; nào là ngang ngược lý sự cùn, hãnh tiến khoe khoang từ nhà đất, địa vị đến con cái, công danh, và vô liêm sỉ “nổ long trời, banh xác nhân dân” chung quanh mình.
Nhưng biết hay không biết, chủ động hay dựa dẫm, a dua khi tự khóac cho mình “mũ mão, cân đai, y phục thượng đế”, người ta đã vô tình tự hạ thấp giá trị nhân văn của mình:
1.   Tự hạ thấp giá trị bản thân, vì ảo tưởng:
Có nhiều thứ lọai và mức độ ảo tưởng, nhưng ảo tưởng trở thành thượng đế vì có tiền thì thực là ảo tưởng kinh dị ngoài sức tưởng tượng, và hết thuốc chữa. Ngoài sức tưởng tượng, vì thụ tạo muốn làm chủ tạo, con người muốn làm thượng đế. Hai phạm trù không thể gặp gỡ, vượt qua, khác gì con cóc sần sùi, xấu xí ở đáy giếng muốn làm con người vĩ đại, bởi mức độ lố bịch đã vượt qúa xa “sức chịu đựng” của trí tưởng tượng đáng lẽ phải dừng lại ở mức báo động khẩn cấp cuối cùng, khi cóc muốn làm voi hay cọp, vì ít ra vẫn còn biết mình là động vật, đứng  chung trong một phạm trù.
Cũng như “Khách hàng là thượng đế”, dù là một cách nói để diễn tả tầm quan trọng của công tác phục vụ khách hàng đã kệch cỡm vượt ngưỡng, và đánh mất nhân cách của người mang ảo tưởng trở thành thượng đế khi là khách hàng. Ý nghĩ và lối cư xử kiểu “thượng đế” vì nghĩ mình có tiền còn là một căn bệnh “hết thuốc chữa”, vì một lý do đơn giản: đã là thượng đế rồi, thì phàm nhân nào chia sẻ, giúp đỡ được ? đã là ông trời rồi, thì chỉ mình tự xử mình thôi, ai nào dám “cải thiện, cải hoá, cải tạo” ông khách hàng thượng đế?
2.   Tự đánh mất nhân cách vì bộc lộ một tâm hồn nghèo nàn, rỗng tuếch:
Người chỉ nhận mình giầu vì có của cải vật chất, và đặt tất cả giá trị đời mình trên tiền bạc sẽ không bao giờ được coi là người sung túc, sung sướng, sang trọng, bởi hạnh phúc không chỉ đặt trên vật chất dư thừa, mà còn hệ tại ở nhiều yếu tố khác, mà tâm hồn giầu tình người, giầu đức hạnh, giầu lý tưởng, giầu nhiệt huyết phục vụ, giầu qủang đại chia sẻ với người khác là yếu tố nền tảng đem lại niềm vui sống và ý nghiã phong phú của đời làm người.
Tự coi mình là thượng đế chỉ vì có tiền hơn người, hay tưởng mình là thượng đế khi thiên hạ cung nghinh, tôn sùng mình vì thủ đọan thương mại, kinh doanh đều là sai lầm đáng tiếc, bởi người mất mát, thiệt thòi sẽ không là ai khác, nhưng là người đã dại dột giũ bỏ thân phận người để phùng mang trợn mắt ráng sức phình to làm ông trời, một tham vọng không bao giờ có thể đạt được, vì phi lý và phi nhân bản, để rồi rơi vào tình trạng vong thân, khi đánh mất chính nhân cách của mình.
3.   Tự cô lập mình vì kiêu căng:
Vì kiêu căng, ỷ tiền, ỷ quyền đòi làm thượng đế của tha nhân, đồng loại, cũng như đòi chiếm vị thế độc nhất vô nhị của thượng đế, mà người “khách hàng thượng đế” sẽ cô độc, vì mất chỗ đứng giữa hàng ngũ anh em “con người” của mình, đồng thời, chẳng bao giờ mon men tới gần được thượng đế, nói chi thay thế ngài. Chỉ riêng thái độ thiếu nhã nhặn, trân trọng người khác, thiếu thiện cảm, tình người với người chung quanh, thiếu tư cách, công bình với người phục vụ mình cũng đã đủ đẩy xa những con người “ỷ tiền coi trời bằng vung, coi người khác như nô lệ” này vào bế tắc trong tương quan lành mạnh và hạnh phúc với mọi người.
Thực vậy, kiêu căng làm con người ảo tưởng mình là thượng đế khi được thiên hạ tâng bốc, xông hương; kiêu căng lấy đi óc thông minh để phân định và sự khôn ngoan để chọn lựa một thái độ sống xứng hợp nhân cách, nhân phẩm; kiêu căng kéo sập cơ đồ “nhân bản”, kho báu nhân văn, và biến “khách hàng thượng đế” thành người “không giống ai”, nhưng lạc lõng “dưới đất cũng như trên trời”, vì từ chối “làm người” như phận người đang là dưới đất, và ảo tưởng trở thành thượng đế ở trên trời, một ảo tưởng bệnh hoạn dẫn đến vong thân trầm trọng.
Ước gì mỗi người đều hiểu rằng khách hàng không bao giờ là thượng đế, vì thượng đế không bao giờ là khách hàng. Dẹp bỏ được não trạng “có tiền là có quyền”, cũng như “em có quyền vì em đẹp”, cuộc sống chung sẽ nhẹ nhàng, ấm áp tình người, bình an, và hạnh phúc hơn gấp bội, vì ai nấy sẽ nhận ra mình đến trong cuộc đời để yêu thương, và nơi nào có yêu thương, ở đó mọi người sẽ gặp được ở nhau niềm vui phục vụ.
Jorathe Nắng Tím            

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

BẠO HÀNH TRẺ THƠ


Tôi biết chắc một điều: những bạn đọc yêu qúy của tôi sẽ không bao giờ là người cha, người mẹ bạo hành con cái, và tôi tin rằng: các bạn hiểu hơn ai hết tội ác nặng nề nhất mà loài người gây ra chính là tội bạo hành trẻ thơ.
Báo chí thế giới không ngừng đưa những tin động trời làm nghẹt thở và quặn thắt ruột gan: những em bé bị người thân đánh đập đến thương tật, những em bé bị cha mẹ bỏ đói, nhốt trong tủ, dưới hầm tối; những em bé bị bắt lao động khi “ăn chưa no, lo chưa tới”; những em bé bị bán cho các động đĩ, bị hãm hiếp tình dục; các em bé bị tập trung trong các trại huấn luyện quân cảm tử; những em bé bị lấy đi nội tạng và bóc lột dã man.
Thế giới loài người ngày càng nhiều người điên đang làm tổn thương, băng hoại tuổi thơ qua những tội ác không thể tha thứ. Những em bé vô tội, trong trắng miệng còn hơi sữa đã vô phúc trở thành nạn nhân của thú tính, của tàn bạo, dã man. Bao nhiêu bút mực, bao nhiêu phiên toà đã sôi sục, nóng bỏng quanh những tội ác bạo hạnh tuổi thơ. Đang khi viết bài này thì đài truyền hình FR3  loan tin: Không xa Angoulême, một người đàn ông 32 tuổi vào tiệm ăn tối với cô bạn gái có đứa con 29 tháng tuổi cùng đi. Em bé khóc trong khi mẹ đi vệ sinh. Bực mình vì phải nghe tiếng con nít khóc, người đàn ông  đã thô bạo nhấc bổng em bé và đập đầu em vào tường, rồi thả tay cho em rớt xuống nền gạch. Em bé vỡ đầu chết tại chỗ…
Bạo hành tuổi thơ là dùng sức mạnh để hiếp đáp, lạm dụng, bóc lột, hãm hại trẻ thơ. Có nhiều hình thức bạo hành:
1.   Bạo hành thân thể: 
Chẳng hạn em bé bị cha mẹ đánh đập, bị bỏ đói, bị trói chân tay bỏ trong phòng tối…. và tất cả những hành động khác làm tổn thương thân xác em như bắt em làm việc cực nhọc, khai thác triệt đề sức “chưa được phép” lao động của em.
2.   Bạo hành tinh thần :
Như áp đảo tinh thần em bé, làm cho em hoảng sợ, kinh hãi, không cho trí não em được tự do và bình thường phát triển bằng “nhồi sọ, tẩy não”. Bên Phi Châu có những em bé chưa đầy 10 tuổi đã bị đưa vào những trại huấn luyện  cảm tử quân. Bị bắt vào đây, các em bị “nhồi nặn, uốn ép” thành những quân khủng bố tinh nhuệ và liều lĩnh sẵn sàng ôm bom, thí mạng .
3.   Bạo hành tình dục:
Đây là bạo hành đang làm thế giới điên đảo, mất ăn mất ngủ. Thế giới mất thăng bằng vì nhiều con người mất thăng bằng đã dùng bạo lực phá hoại và triệt tiêu nhân vị của người khác, nhất là của các em bé bằng biến nạn nhân thành những đồ vật, phương tiện thoả mãn thú tính. Rất nhiều em bé đã là nạn nhân của bạo hành tình dục bởi chính những người thân quen. Không thiếu những chú bác, anh em họ, bạn bè của cha mẹ hay bạn của anh chị đã hiếp dâm những em bé đáng tuổi con cháu mình. Không thiếu những em bé đã bị bạo hành tình dục bởi chính những người có trách nhiệm tinh thần và bổn phận bảo vệ các em. Nhiều cơ quan, đoàn thể đã vào cuộc để dập tắt ngọn lửa dâm dục tàn phá tuổi thơ và vấn đề ấu dâm đã trở thành mối lo nhức nhối của nhân loại.
Tại sao có hiện tượng quái đản này?
Trước hết do truyền thông xấu đã ảnh hưởng trên nhiều người. Hãy đọc thống kê của ONU năm 2009: hơn 600.000 trang web về ấu dâm, 4 triệu trang web đăng đàn hình ảnh các em bé cho thiên hạ  ngắm nghiá, tìm tòi, hơn 40% trẻ em từ 10 đến 16 tuổi đã ít là một lần xem phim sex trên Internet; chưa kể những phim ảnh, sách báo “khai thác, quảng bá, ủng hộ, dung dưỡng” bạo lực.
Tiếp đến là khuynh hướng thả lỏng tình dục mà không có một hướng giáo dục tình dục đúng đắn. Sau cùng là chủ trương “cá nhân chủ nghiã, tôn sùng “cái tôỉ ” đã nhắm mắt trước những lạm dụng thân xác trẻ  bắt đầu từ những mức độ vi phạm thấp  đến những vi phạm trầm trọng, không thể cứu chữa. Bên cạnh đó, đạo đức gia đình lỏng lẻo sản sinh những lương tâm bệnh hoạn khi chủ trương “tất cả đều được phép”; thêm vào đó là tình trạng  thoái hoá luân lý và mất thăng bằng tâm lý nơi người lớn. Tất cả cùng lúc đã tạo nên những cơn chấn động “bạo hành tình dục” làm tan nát cuộc đời các em bé và xô đẩy tương lai các em xuống vực sâu của tủi hận.    
Người ta không khỏi rùng mình khi đọc những tài liệu điều tra về tội ác bạo hành tré thơ. Người ta cũng chưa hết kinh tởm khi nghe những tâm sự não nề, đắng đót của các nạn nân trẻ tuổi. Nhiều người đã không đủ can đảm để đối diện với những tang thương kinh khủng này và không dằn được phẫn nộ khi đứng trưóc những tác nhân đã gây tội ác.
Hậu qủa không thể tránh được ở nạn nhân là khủng hoảng tâm lý trầm trọng, nhiều cơ năng tâm sinh lý bị xáo trộn, mất trật tự, khả năng tinh thần giảm sút và nhất là sinh hoạt tình dục bị tê liệt, mất quân bình. Đau khổ nhất là những hình ảnh hung bạo, dã man ăn sâu vào tâm trí trẻ thơ tạo nên những vết nứt  tình cảm: giận dữ, hận thù, dửng dưng, lãnh đạm; đồng thời nạn nhân mất hết khả năng thích nghi với cuộc sống và hứng thú dấn thân, nhập cuộc.

Để tránh cho con cái thảm họa khôn lường “bị bạo hành”, cha mẹ phải:
a.   Luôn gần gũi con cái và tinh tế nhận ra những nguy hiểm có thể xẩy đến cho con. Thí dụ: không để con ở một mình với những người bạn sơ giao hay những người lạ chưa thân thiết. Tránh để con thân mật với những người “không bình thường tâm lý”, đời sống luân lý đáng nghi ngờ và những người đã một lần sai phạm trong phạm vi tình dục.
b.   Thường xuyên quan sát thân thể con để kịp thời phát hiện những dấu vết đáng nghi ngờ.
c.    Năng nói chuyện với con, nhất là khi con có những cử chỉ không bình thường.
d.   Tạo lòng tin nơi con để con không ngần ngại nói hết với cha mẹ những vấn đề riêng tư, kín đáo.
e.    Biết rõ những bạn bè của con và những người lớn mà con thường lui tới.
f.     Phá tan luật yên lặng vì yên lặng là luật của thần dữ. Các phe đảng Mafia chủ trương luật yên lặng để giữ những bí mật tội ác, bịt đầu mối và thủ tiêu nạn nhân cũng như thủ phạm gây tội ác. Cha mẹ phải đặc biệt giúp con cái phá tan luật yên lặng man rợ, phi nhân và chết chóc này bằng cách  siêng năng đối thoại với con.

Ngoài những biện pháp mang tính ngăn ngừa, đề phòng, cha mẹ còn phải thực hiện những việc tích cực như làm gương cho con  bằng kiến tạo một đời sống an bình, hoà nhã trong gia đình. Những cãi vả, chửi rủa, đánh đập giữa vợ chồng là điều tối kỵ gây nên ấn tượng bạo lực trong đầu óc còn non nớt, thơ ngây của con. Những hành động hung bạo  đi ngược tinh thần yêu thương, đùm bọc trong gia đình sẽ ảnh hưởng rất xấu trên nhân cách của con. Một tuổi thơ “bạo lực” sẽ không thể cho một tuổi lớn bình an. Một em bé quen sống bạo lực sẽ không thể là người lớn biết yêu thương.
Ước mong tất cả các cha mẹ trên thế giới ý thức:  gia đình hạnh phúc là gia đình không có chỗ cho bạo lực, dù đó là bạo lực trong tư tưởng hay ngôn từ.