Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

MỘT VÀI CHIA SẺ TRƯỚC HIỆN TƯỢNG TRA HỎI MA QỦY VỀ NHỮNG SỰ THẬT CỦA THIÊN CHÚA VÀ CON NGƯỜI HIỆN NAY

Ở Việt Nam hôm nay, hiện tượng bị qủy ám, và những màn trừ qủy, trong đó, “người trừ qủy” hỏi qủy điều này điều nọ, hoặc nhân danh Thiên Chúa bắt qủy trả lời những câu hỏi liên quan đến giáo lý đức tin, Giáo Hội và đời sống của những Đấng Bậc có trách nhiệm lớn trong Giáo Hội được phát tán rộng rãi trên mạng xã hội ngày càng nhiều, lôi kéo quần chúng hiếu kỳ, làm hoang mang, sợ hãi nhiều người, đem lại  hậu qủa nguy hại cho đức tin của người tín hữu.

Những điều được gọi là “sự thật” của qủy, do qủy nói ra qua miệng của người bị qủy nhập, mà một số người liều lĩnh qủa quyết  là “mạc khải mới” của Thiên Chúa, “Sách Sự Thật” hay “Sứ điệp từ trời” mà nội dung toàn là những luận điệu công kích giáo lý đức tin, phỉ báng  Đức Thánh Cha, hàng giáo phẩm, giáo sĩ, tu sĩ của những người say sưa khai thác “Sự Thật của ma qủy”, điển hình là youtube  mang tựa đề : Phần 18 : “TẤT CẢ NHỮNG NHÀ THỜ ĐANG HỢP NHẤT VỚI GIÁO HOÀNG PHANXICÔ, ĐỀU THUỘC VỀ GIÁO HỘI CỦA SATAN” với  dòng chú thích : “Tướng qủy Luxiphe buộc phải làm chứng sự thật”, và cảnh tra hỏi chị Phạm Thị Hằng, người bị qủy nhập từ nhiều năm ở Bùi Chu đang làm xôn xao dư luận, gây nhiều tranh cãi, và làm nhiều người tín hữu rơi vào tình trạng hoang mang, nghi ngờ tính khả tín của những sự thật đức tin được  Giáo Hội giảng dậy, giáo huấn.   

Theo những người “tin vào sự thật từ miệng ma qủy” này, thì đây mới là những “sự thật” mà ma qủy thừa lệnh Thiên Chúa nói với loài người, bởi đã đến thời cuối, thời mà các ngôn sứ giả mọc lên như nấm ngay giữa lòng, và ở tận chóp bu phẩm trật của Giáo Hội ; thời đại dầy đặc những “phản Kitô”, điển hình là Đức Giáo Hoàng đương vị Phanxicô, nên sự thật của Thiên Chúa không còn được gìn giữ nguyên vẹn, nhưng bị bóp méo, làm sai lạc bởi chính những người có trách nhiệm lớn trong Giáo Hội.

Với họ, đã đến thời của qủy vương, nên không còn sự thật trong Giáo Hội công giáo, vì những chứng nhân sự thật, những đấng bậc trong Giáo Hội được ký thác sự thật đã thoái hóa, hư hỏng đến mức nguy hiểm cho công cuộc cứu thế của Đức Giêsu. Vì thế, Thiên Chúa có chương trình quét sạch đám ngôn sứ giả, phản Kitô đang lũng đọan Giáo Hội, bằng truất phế họ, và dùng ma qủy để cảnh báo loài người, cho phép Luxiphe nói thay Giáo Hội những sự thật của Thiên Chúa, bởi trong Giáo Hội của Ngài không còn những ngôn sứ dám nói lên và dám chết cho sự thật.

Thực tế, đó là những “sự thật” chống lại sự thật của Giáo Hội, những “sự thật” đặt lại tính khả tín của những sự thật mà Đức Giêsu đã mạc khải cho Giáo Hội và Giáo Hội vẫn  bảo toàn nguyên vẹn dòng dã hai mươi mốt thế kỷ.

Họ dựa vào những lời của người bị qủy ám để lên án Giáo Hội đã xúc phạm bí tích Thánh Thể khi cho phép rước lễ bằng tay, xỉ nhục Đức Mẹ khi Giáo Hoàng từ chối công bố tín điều Đức Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc, đồng loã với Satan khi biến thánh lễ thành lễ hội. Tắt một lời, họ tìm đủ mọi cách thế, cơ hội để tấn công Giáo Hội, mà cách thế hữu hiệu nhất theo họ chính là loan báo những “sự thật mới” về Thiên Chúa, về Giáo Hội, về con người do chính ma qủy nói ra, và đó chính là mối ưu tư mà người viết xin được chia sẻ với qúy Bạn :

1.   Ma qủy có sự thật không?

Vì ma qủy đang được một số người, trong đó có cả Kitô hữu gán cho vinh dự nói nhiều sự thật, vinh dự mà chính chúng cũng chẳng bao giờ ngờ có ngày nhận được, nên chúng ta cần đặt câu hỏi : Ma qủy có sự thật không?

Kinh Thánh khẳng định bản chất của ma qủy là Gian Dối, và Rắn là hình ảnh của Xatan “là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng mà Đức Chúa là Thiên Chúa đã làm ra” (St 3,1). Vì bản chất là Gian Dối, nên sự thật không có ở chúng, cũng như “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8) nên ở Ngài không có hận thù ; là Sự Thật, ở Ngài không có lầm lạc, dối trá ; là Sự Sống nên sự chết không có mặt nơi Ngài (x. Ga 14,6).

Là Gian Dối vì bản chất Gian Dối, ma qủy có những hoạt động gian dối theo bản chất gian dối của chúng : gian dối nên là đứa tố cáo mọi người (x. Dcr 3,1), là  “kẻ tố cáo” ngày đêm tố cáo loài người trước tòa Thiên Chúa  (x. Kh 12,10), như đã tố cáo Gióp với Thiên Chúa rằng : “Ngài cứ thử giơ tay đánh vào xương vào thịt nó xem, chắc chắn là nó sẽ nguyền rủa Ngài thẳng mặt” (G 2,5), mặc dù ông là đầy tớ trung tín và kiên vững của Ngài, “một con người vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác” (G 2,3) ; là Gian Dối, Xatan chuyên phỉnh gạt con người, như đã  phỉnh gạt Evà : “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác” (St 3,4-5), điều mà thánh Phaolô đã cảnh báo tín hữu Côrinthô : đừng để “bị Xatan phỉnh gạt, vì chúng ta không lạ gì ý đồ của nó” (2 Cr 2,11), bởi “Lạ gì đâu! Vì chính Xatan cũng đội lốt thiên thần sáng láng! Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ nó đội lốt người phục vụ sự công chính” (2 Cr 11,14), cũng như kẻ gian dối đội lốt người trung thực nói sự thật, như ma qủy và những người  theo chúng vẫn làm.

Và một cách dứt khóat, không khoan nhượng, Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa đã khẳng định, như Ngài đã trả lời những người Do Thái năm xưa : Ma qủy, “ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói dối là nó nói theo bản tính của nó, bởi vì nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối. Còn tôi, chính vì tôi nói sư thật, nên các ông không tin tôi” (Ga 8,44-45).  

Như thế, ma qủy không có sự thật, vì bản tính của chúng là Gian dối, cha đẻ của gian dối, nên gán bất cứ sự thật nào cho ma qủy là chúng ta đang làm một việc rất ngớ ngẩn, lố bịch, và hoàn toàn vô lý.

2.   Thiên Chúa có cần đến ma qủy để nói với chúng ta những sự thật về Ngài và về con người không?

Có người tuy công nhận ma qủy là tên Gian Dối, Xảo Quyệt, Lừa Đảo, Phỉnh Gạt, nhưng lại nhận chúng được Thiên Chúa dùng để nói với con người sự thật Thiên Chúa muốn nói. Đó là hiện tượng chúng ta đang thấy hiện nay, khi người ta thi nhau hỏi qủy về Thiên Chúa, hỏi qủy về những sự thật người ta muốn biết về Giáo Hội của Đức Giêsu, hỏi qủy để biết ngày nào sẽ là ngày tận thế, hỏi qủy để biết người thân vừa qua đời được lên thiêng đàng hay xuống hoả ngục, hỏi qủy để biết trúng mánh làm ăn hay thua lỗ, khánh kiệt, hỏi qủy để biết những sự thật cá nhân của người này người nọ; lại có người hỏi qủy về tính khả tín, xác thực của các tín điều đức tin. Họ làm như ma qủy biết hết mọi sự và là kẻ giữ kho tàng chân lý của Thiên Chúa và loài người, ngôn sứ, phát ngôn viên được Thiên Chúa xử dụng, mà để biết những sự thật đó, họ chỉ cần làm vài động tác, dùng vài công thức tra hỏi là lập tức toại nguyện.

Qủa thực, khi cho rằng Thiên Chúa dùng ma qủy để nói với con người về những sự thật Ngài muốn là xúc phạm đến chính Đức Giêsu, vì Ngài là Ngôi Lời của Thiên Chúa, là Lời của Chúa Cha nói với nhân loại,  Đấng được Chúa Cha sai đến trong thế gian, ở giữa loài người để nói cho mọi người sự thật thuộc về Thiên Chúa, và sự thật của con người, và Ngài không chỉ nói với con người “những gì Chúa Cha truyền cho Ngài nói”, “nói đúng như Chúa Cha đã nói với Ngài” (x. Ga 12,49-50), nhưng hơn thế nữa, chính Ngài là “Đường, Sự Thật và Sự Sống”, Đường dẫn về Thiên Chúa, Sự Thật, Sự Sống của Thiên Chúa, và sứ vụ của Ngài là làm chứng Sự Thật của Thiên Chúa, như Ngài đã tuyên bố trước mặt quan Philatô : “Tôi đã sinh ra và đến thế gian nhằm mục đích làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phiá sự thật thì nghe tiếng tôi” (Ga 18,37).

Vì thế, ngoài Đức Giêsu, không có sự thật của Thiên Chúa, cũng không có sự thật của con người, vì Ngài là Thiên Chúa làm người, Ngôi Lời của Thiên Chúa cắm lều cư ngụ giữa nhân loại. Cũng chính vì là Sự Thật của Thiên Chúa ở giữa con người, nên chỉ một mình Ngài là sự thật, nắm giữ sự thật, nói sự thật, mạc khải sự thật, mà không cần đến ma qủy, như nhiều người lầm tưởng.

Bằng chứng là trong Tin Mừng, khi Đức Giêsu trừ qủy, đuổi qủy ra khỏi những người bị chúng ám nhập, thì chúng chỉ dám kêu lên “Hỡi con Thiên Chúa!” (Mt 8,29), “Lậy ông Giêsu, con Thiên Chúa Tối Cao” (Mc 5,7), hoặc “Đấng Thánh của Thiên Chúa!” (Mc 1,24), rồi than thở, nài xin Ngài  đại loại như: “Chuyện chúng tôi can dự gì đến ông ? Chưa đến lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao?” (Mt 8,29), “Tôi van ông đừng hành hạ tôi!” (Mc 5,7), “Nếu ông đuổi chúng tôi, thì xin sai chúng tôi nhập vào bầy heo kia” (Mt 8,31), mà qủy không nói bất cứ sự thật nào thuộc về Thiên Chúa, bởi một lý do rất đơn giản : chúng không có sự thật, vì bản chất là gian dối, xảo quyệt, điêu ngoa.

Cũng có lần Đức Giêsu hỏi tên qủy như Tin Mừng Máccô kể : Người hỏi tên nó : “Tên ngươi là gì?” Nó thưa : “Tên tôi là đạo binh, vì chúng tôi đông lắm” (Mc 5,9), nhưng tuyệt nhiên không bao giờ hỏi chúng về điều gì khác, trái lại, Ngài nghiêm khắc truyền cho chúng “Câm đi!”, khi bắt chúng lập tức ra khỏi người chúng đã nhập vào (Mc 1,25-26).

Như thế, Đức Giêsu đã cho chúng ta thấy rõ chọn lựa dứt khoát của Ngài là không liên đới, không tương quan với ma qủy, bằng ra lệnh cho chúng chứ không đối thoại với chúng, bằng bắt chúng quy phục khi trưng dẫn Lời Thiên Chúa, chứ không trao đổi, giao lưu, thương thảo  với chúng. Tin Mừng Luca  với tường thuật những ngày Đức Giêsu vào hoang địa và ở đó Ngài bị ma qủy cám dỗ đã làm nổi bật thái độ cứng rắn của Đức Giêsu đối với Xatan. Cứng rắn khi mỗi lần  qủy cám dỗ, thách thức Ngài, thì Ngài lập tức cắt đứt đối thoại, bằng “đốp chát”, khóa miệng nó lại bằng Lời của Thiên Chúa được trích từ Kinh Thánh (x. Lc 4,1-12), chứ không như Evà dã dại dột để Xatan dụ dỗ vào “câu chuyện đường mật”, để rồi hoàn toàn làm theo đề nghị của nó lúc nào không hay, bởi điều ma qủy tìm thực hiện cho bằng được là đẩy đưa con người vào đối thoại với chúng, vì chúng biết rất rõ bất cứ ai ngây thơ trò chuyện với chúng đều sẽ rơi vào tay chúng, sẽ sập bẫy chúng, sẽ bị chúng bủa vây, và biến thành cánh tay nối dài của chúng,  phản nghịch Thiên Chúa và phá họai công trnìh cứu chuộc của Ngài.           

Thực vậy, nếu Đức Giêsu trong Tin Mừng đã cứng rắn không trao đổi, hỏi han, trò chuyện với ma qủy, thì cớ sao chúng ta, những người Kitô hữu đã tuyên xưng từ bỏ ma qủy và những việc chúng làm khi chịu phép Rửa Tội lại giao du, quan hệ thân thiết với ma qủy khi tín nhiệm hỏi han, tham khảo, tham vấn, tìm kiếm, trông ngóng sự thật từ cửa miệng đường mật, gian dối, xảo quyệt, phỉnh gạt, lừa đảo, nhất là “quyết sinh quyết tử” chống lại Thiên Chúa là Sự Thật vĩnh cửu của chúng?

Chúng ta cũng đừng quên có lần Đức Giêsu đã nặng lời với tông đồ Phêrô : “Xatan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 17,23), khi Phêrô tỏ ra lo lắng cho Đức Giêsu về cuộc khổ nạn và “xin Thiên Chúa đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 17,22). Qủa thực, mới chỉ “can ngăn vì thương và lo cho Thầy” thôi, mà Phêrô đã bị Đức Giêsu đuổi xa khỏi mặt Ngài, huống hồ “đi lại, làm thân” với ma qủy khi nghe và tin lời chúng nói, thì hỏi Đức Giêsu sẽ nặng lời với chúng ta đến mức nào?   

Không chỉ xúc phạm  Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa, người tin là sự thật  những lời ma qủy nói còn phạm đến Chúa Thánh Thần, là “Thần Khí sự thật” (Ga 14,17), Đấng được Chúa Cha sai đến để hướng dẫn, bảo trợ Giáo Hội trong sứ vụ gìn giữ vẹn toàn kho tàng Sự Thật của Đức Giêsu, như chính Đức Giêsu đã nói với Nhóm Mười Hai  : “Lời của anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy. Các điều đó, Thầy đã nói với anh em, đang khi còn ở với anh em. Nhưng Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dậy cho anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói vói anh em” (Ga 14,24-26). Như thế, những sự thật của Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã mặc khải luôn được  bảo tồn, gìn giữ trong Giáo Hội, vì Giáo Hội có Chúa Thánh Thần hướng dẫn, phù trợ cho đến ngày Đức Giêsu trở lại trong vinh quang.     

Sau cùng, Tin Mừng cho chúng ta thấy ma qủy còn là kẻ phá họai sự thật, khi lấy đi Lời  sự thật của Thiên Chúa được gieo trong tâm hồn nhiều người (x. Mc 4,15), là kẻ thù chống lại sự thật khi “mọi người đang ngủ thì lén gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa” (x.Mt 13,24-30), bởi ma qủy chính là kẻ thù không đội trời chung của Sự Thật là Thiên Chúa, nên chúng quyết tiêu diệt cho bằng được sự thật và tìm mọi cách hãm hại các chứng nhân sự thật, vì chúng là cha đẻ của Gian Dối, kẻ bóp méo, tráo đổi, lấp liếm sự thật, nhưng cũng là đứa sợ hãi, xa lánh, trốn tránh sự thật.   

Vì những lý do đã được cặn kẽ trình bầy trong Tin Mừng trên, chúng ta khẳng định mà không do dự : Thiên Chúa không cần đến ma qủy là cha đẻ của Gian Dối để nói với con người những sự thật thuộc về Thiên Chúa và của con người, đồng thời long trọng tuyên xưng : Đức Giêsu chính là Sự Thật đời đời của Thiên Chúa, và mọi chân lý thuộc về Thiên Chúa và con người đã được chính Ngài mạc khải cho nhân loại, và được Chúa Thánh Thần tiếp tục nhắc lại cho Giáo Hội là tập thể  có phẩm trật gồm những người tin vào Đức Giêsu.  

3.   Tại sao ma qủy tìm mọi cách tiêu diệt sự thật bằng tấn công Giáo Hội?

Như chúng ta biết, ma qủy là dối trá, nên bất cứ sự gì phát xuất từ chúng đều là dối trá. Vì là dối trá, ma qủy tự thân là đối thủ của sự thật, và hoạt động của chúng là gieo rắc gian dối, hồ đồ, làm ly tan, chia rẽ mọi người, đưa đến bạo lực, chết chóc, và đối tượng lợi hại nhất mà chúng cần triệt hạ bằng những độc chiêu gian dối, chính là Giáo Hội  đã được Đức Giêsu thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ.

Độc chiêu ma qủy triệt để khai thác là tấn công sự thật bằng chia rẽ Đức Giêsu khỏi Giáo Hội của Ngài, triệt phá kho tàng chân lý đức tin bằng chặt đứt Đức Giêsu là Đầu rời khỏi Giáo Hội của Ngài là thân, bởi Đức Giêsu đã yêu thương, tín nhiệm Giáo Hội là Hiền Thê của Ngài, khi trao cho Giáo Hội sứ mạng gìn giữ trọn vẹn kho tàng chân lý đức tin, bảo toàn tất cả sự thật đã được Ngài mạc khải cho nhân loại, với quyền cai quản, giáo huấn, thánh hoá.

Đứng trước Giáo Hội là  thành trì chân lý đức tin được Đức Giêsu bảo vệ, ma qủy thừa hiểu rằng bao lâu Giáo Hội và Đức Giêsu còn hiệp nhất, bao lâu Giáo Hội và Đức Giêsu còn như thân gắn liền với đầu, bao lâu người tín hữu còn gắn bó, hiệp thông với Đức Giêsu trong Giáo Hội của Ngài như cành nho hiệp thông, hiệp nhất với cây nho (x. Ga 15,1-8), thì bấy lâu chúng hoàn toàn bó tay không thể phá vỡ được kho báu chân lý đức tin, không thể đập phá kho tàng sự thật được Thiên Chúa mạc khải, và không “có cửa” lẻn vào gieo cỏ lùng gian dối giữa ruộng lúa sự thật của Thiên Chúa.

Cũng vì biết rõ Giáo Hội và Đức Giêsu là một, và bất khả phân ly, mà Xatan lồng lộn, điên cuồng vận dụng mọi lực lượng để triệt hạ, chống phá. Chúng chống phá Giáo Hội là Thân Thể mầu nhiệm của Đức Kitô, Đấng là Sự Thật bằng chia rẽ các tín hữu khi gieo hoang mang, nghi nan, ngờ vực về giáo lý đức tin ; xúi giục giáo dân phê bình, hạch hỏi, bắt bẻ với ác ý giáo huấn của Giáo Hội ; phô bầy, xuyên tạc những thiếu sót, khuyết điểm của các đấng bậc có trách nhiệm trong Giáo Hội để hạ uy tín, làm mất danh dự, và từ đó đi đến những kết luận hồ đồ về tính khả tín của chân lý đức tin được các vị rao giảng, và làm cho nhiều người coi thường, chối bỏ quyền giáo huấn của các vị đã được Đức Giêsu tín nhiệm trao phó.

Vì thế, ma qủy vận dụng mọi khả năng và tận dụng mọi “mưu thâm chước độc” tấn công Giáo Hội, để không ai còn tin vào sứ mệnh gìn giữ vẹn toàn kho tàng chân lý đức tin của Giáo Hội ; làm mọi cách để không ai tin Giáo Hội nắm giữ sự thật của Thiên Chúa ; làm đủ kiểu để mọi người đi tìm sự thật của Thiên Chúa và con người ở nơi khác, mà không tìm ở Giáo Hội ; dùng mọi chiêu trò để người ta đi từ nghi ngờ tính trung thực đến lên án những thủ đoạn lừa đảo của những người có trách nhiệm trong Giáo Hội, bởi ma qủy biết chỉ khi nào thực hiện được những công việc đen tối, mờ ám này, chúng  mới hy vọng đánh gục  tập thể những người tin vào Đức Giêsu.

Tắt một lời, vì Đức Giêsu chỉ giao cho Giáo Hội được xây trên tảng đá tông đồ Phêrô quyền gìn giữ vẹn toàn sự thật Ngài mạc khải, nên ma qủy phải đánh phá Giáo Hội, hầu tiêu diệt sự thật, hạ gục nhân chứng sư thật, để thực hiện ý đồ biến thế giới  loài người thành vương quốc của Gian Dối, thành hoả ngục, biến lòng người thành “lòng lang dạ thú” chất đầy dối trá, xảo quyệt, ganh ghét, bạo lực. 

Vâng, là người Kitô hữu, là chi thể của Thân Thể mầu nhiệm là Giáo Hội, nơi Đức Kitô ký thác kho tàng chân lý mạc khải của Ngài, chúng ta không thể tự cho phép mình tìm kiếm và đón nhận “những cái gọi là sự thật từ ma qủy”, bởi ma qủy tự bản chất là Gian Dối, Điêu Ngoa, Xảo Trá, nên chúng không nói được sự thật, vì không là sự thật, không có sự thật. Đàng khác, sự thật là kẻ thù của chúng sẽ tiêu diệt chúng, xoá tên chúng, nếu sự thật đến nơi chúng ở, có mặt nơi chúng sống, như ánh sáng không sống chung ở cùng, nhưng đẩy lui bóng tối, vì  Sự Thật là Thiên Chúa.

Do đó, nếu từ miệng ma qủy, có những điều thoạt nghe tưởng như sự thật, “nghe như đúng rồi”, thì đó chỉ là những vỏ bọc sự thật có dáng vẻ tốt đẹp, chân thực, nhưng bên trong, bản chất chỉ là phỉnh lừa, dối trá, lừa đảo, ngụy tạo nhằm chia rẽ, đố kỵ, gây thù oán, hận thù, tang thương, chết chóc, nên việc đầu tiên người Kitô hữu chúng ta phải làm là không gian díu, giao du, đi lại, hỏi han, tin theo ma qủy, dù lời chúng nói, việc chúng làm nhiều lúc còn hay hơn sự thật, đẹp hơn công trình của Thiên Chúa, và đem lại “thiện ích” cho con người vượt xa lòng mong đợi, bởi ma qủy là loài thụ tạo thần thiêng, không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, nên làm được vô số “điềm thiêng, dấu lạ” hớp hồn, làm mê mệt những ai nhẹ dạ tin theo chúng. Tiếp đến là hoàn toàn tin tưởng ở Giáo Hội và vâng phục huấn quyền, vì Đức Giêsu đã không lập nhiều giáo hội trên nhiều tảng đá, nhưng chỉ lập duy nhất một Giáo Hội trên một tảng đá tông đồ Phêrô và hứa bảo vệ, gìn giữ Giáo Hội này : “Anh là Phêrô, nghiã là Tảng Đá, trên Tảng Đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực hoả ngục sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18). Và để đảm bảo thành công tuyệt đối, và có được tâm hồn bình an trong Chúa, chúng ta hãy : “chống lại ma qủy và đến gần Thiên Chúa” như lời khuyên qúy báu của thánh Giacôbê Tông Đồ : Hãy chống lại ma qủy, chúng sẽ chạy xa anh em. Hãy đến gần Thiên Chúa, Người sẽ đến gần anh em (Gc 4,7).

Cám ơn qúy Bạn đã kiên nhẫn đọc hoặc lắng nghe những chia sẻ phát xuất từ tấm lòng của người anh em cùng một Cha trên trời, thuộc về cùng một gia đình Giáo Hội, mà mục đích là đồng hành yêu thương, đồng hành nâng đỡ, đồng hành củng cố đức tin của nhau trên hành trình đi theo Đức Kitô, Đấng là “Đường, Sự Thật, Sự Sống”, Tình Yêu, Lẽ Sống, Phần Thưởng và Gia Nghiệp đời đời của tất cả chúng ta.

Jorathe Nắng Tím.          


Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021

ĐƯỢC CHÚA KÊU GỌI

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 2, Thường Niên, Năm B



Khởi đầu Mùa Thường Niên, các bài đọc phụng vụ xoay quanh chủ đề “Đức Giêsu kêu gọi những cộng sự viên đầu tiên”, là các Tông Đồ tương lai của Ngài.

Như những người đứng đầu các tổ chức, đoàn thể cần có bên mình những cộng sự viên thân tín, trung thành và đắc lực để khởi động chương trình, thực hiện đường hướng, khai triển chủ trương, tiến hành kế hoạch, Đức Giêsu cũng cần và đã tìm cho mình một nhóm cộng sự viên để cùng Ngài loan báo Nước Thiên Chúa, rao giảng Tin Mừng cứu độ, như sứ vụ được Chúa Cha trao phó.

Theo Tin Mừng Gioan của chúa nhật này thì Đức Giêsu đã không trực tiếp gọi  hai anh em ngư phủ có tên Anrê và Simon và hai anh em ruột khác là Giacôbê và Gioan cũng làm nghề đánh cá, khi “Người đang đi dọc theo biển hồ Galilê” (Mc 1,16), nhưng Gioan Tiền Hô đã giới thiệu Đức Giêsu cho hai anh em Anrê và Simon vốn là môn đệ của ông, khi ông đang đứng với họ, và “thấy Đức Giêsu đi ngang qua” (Ga 1,35-36).  

Điều rất ấn tượng ở đây là thọat nghe Gioan giới thiệu “Đây là Chiên Thiên Chúa”, hai ông Anrê và Simon đã không do dự, ngần ngại, nhưng “liền đi theo Đức Giêsu” (Ga 1,37). Và khi Đức Giêsu quay lại thấy hai ông lẽo đẽo đi theo mình, thì hỏi : “Các anh tìm gì thế?” Họ đáp : “Thưa Rápbi (nghiã là thưa Thầy), Thầy ở đâu? ”. Người bảo họ : “Đến mà xem!. Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười” (Ga 1,38-39).

Qủa thực, thánh sử Gioan vừa kể cho chúng ta nghe câu chuyện  gặp gỡ của một tình yêu thuộc dạng “sấm sét” giữa Đức Giêsu và hai anh em ông Anrê, Simon, và tình yêu sấm sét ấy đã  không khác những “tiếng sét ái tình” thi thoảng xẩy ra trong đời thường làm hai người nam nữ chỉ mới thoạt nhìn, thoáng gặp đã “say nắng, phải lòng”, yêu nhau đắm đuối cuồng nhiệt.  

Là tình yêu sấm sét, bởi chỉ thoáng thấy Đức Giêsu đi ngang qua, hai ông Anrê, Simon đã náo nức, nôn nao muốn đi theo Ngài ngay, như lời đề nghị của Gioan Tiền Hô, và không chờ thầy mình dứt lời giới thiệu về Đức Giêsu, hai ông đã khấp khởi nhanh chóng rời bỏ Gioan đi theo Đức Giêsu, dù Ngài chưa biểu lộ đồng tình, đồng ý. Bằng chứng là khi “quay lại, Đức Giêsu mới thấy các ông đi theo mình” (Ga 1,38), và hỏi : “Các anh tìm gì thế?”

Là tiếng sét ái tình, hai ông đã không trả lời câu hỏi của Đức Giêsu, nhưng đáp lại bằng đặt cho Ngài một câu hỏi  khác chỉ dành cho người đã yêu, đang yêu : “Thầy ở đâu? ”, bởi các ông đâu cần tìm gì hay tìm ai nữa, vì đã được gặp Đức Giêsu, đối tượng lý tưởng của tình yêu, Đấng chỉ trong một giây ngắn ngủi đã chiếm trọn trái tim và cuộc đời các ông.

Không trả lời thẳng câu hỏi của Đức Giêsu là cách tỏ tình trực tiếp, tế nhị, và sâu sắc của hai ông với Ngài, bởi chỉ những người yêu nhau da diết, nồng nàn mới hỏi thăm, tìm đến “nơi ăn chốn ở” của nhau, vì nhớ nhau, và để được ở với nhau, chung nhau một đời sống. Và tình yêu sấm sét ấy đã được Đức Giêsu ân tình, qủang đại và cởi mở đáp lại khi trìu mến bảo hai ông : “Đến mà xem!”.

Như hai anh em Anrê và Simon là những tông đồ đầu tiên được tình yêu Đức Giêsu chiếm hữu và thúc đẩy ngay phút đầu gặp gỡ, chúng ta cũng sẽ được Đức Giêsu quay lại nhìn và hỏi han, mời gọi, nếu chúng ta thành tâm và kiên nhẫn đi tìm Ngài, vì Ngài không bỏ quên, từ chối ai, cũng không dửng dưng lạnh lùng trước bất cứ người nào ngỏ lời yêu mến và muốn đi theo Ngài.

Như hai anh em Anrê, Simon đã gặp được Đức Giêsu, Lẽ Sống và Gia Nghiệp đời mình, vì nghe lời Gioan Tiền Hô, chúng ta cũng cần những người khôn ngoan hướng dẫn, dìu dắt, giới thiệu, bởi Thiên Chúa cần con người để cứu độ con người, và muốn mọi người biết đồng hành với nhau trên hành trình đi tìm Ngài.

Và như Gioan Tiền Hô đã không giữ cho mình hai môn đệ Anrê, Simon, nhưng vui vẻ giới thiệu Đức Giêsu cho các môn đệ của mình, và sẵn lòng để họ bỏ mình đi theo Ngài, đúng vai trò Tiền Hô, và sứ vụ “dọn đường, chuẩn bị cho Thiên Chúa đến”, với ý thức và tâm nguyện : “Người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi” (Ga 1,30), “tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Ga 1,27), và như thế, “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi” (Ga 3,30), chúng ta cũng cần biết từ bỏ mình, quên mình, xóa mình cho vinh danh Chúa.

Xin Chúa cho chúng ta tình yêu nồng nàn như tình yêu “sấm sét” của hai tông đồ Anrê, Simon, và lòng khiêm tốn sâu thẳm của Gioan Tẩy Giả, vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế, bởi chỉ với tình yêu cháy bỏng, quyết liệt và trái tim khiêm nhường, chúng ta mới được Chúa biến đổi để  trở thành những cộng sự viên trung tín, và đắc lực của Đức Giêsu trên cánh đồng truyền giáo.  

Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

HẠNH PHÚC VỚI AI ?

Làm người ai cũng mơ ước hạnh phúc, và cuộc đời mỗi người là hành trình đi tìm hạnh phúc, bởi con người được sinh ra để hạnh phúc, mặc dù cuộc đời không luôn đẹp như mơ, và đời người không mấy ai tránh khỏi ba chìm, bảy nổi, chín long đong.

Chính vì không ngừng khao khát hạnh phúc và miệt mài đi tìm hạnh phúc, nên ai cũng cảm nhận thế nào là hạnh phúc, mà không cần định nghiã dài dòng, không cần biện phân rành rọt, cũng chẳng cần chú giải thuyết minh nhiều giờ về hạnh phúc, cũng như bất cứ người nào : trẻ hay già, giầu hay nghèo, bình dân học vụ hay khoa bảng trí thức, da trắng hay da mầu, có đạo hay vô thần…, tất cả đều biết  hạnh phúc là giá trị lớn lao, kho tàng qúy báu, và lý tưởng tuyệt vời của đời làm người.

Tuy tất cả đều cảm nhận, và ý thức về hạnh phúc, nhưng không phải ai cũng tìm kiếm hạnh phúc giống ai, người nào cũng xây dưng hạnh phúc với cùng một cách thức, đi tìm hạnh phúc trên cùng một con đường, bởi có người chọn chuyện ăn uống là hạnh phúc ; có người cho quyền hành, vinh quang, danh vọng là hạnh phúc ; lại có người lấy tiền bạc, của cải là hạnh phúc lớn hơn mọi hạnh phúc khác. Cách chung, người ta ước mơ đối tượng vật chất là hạnh phúc phải đạt, và nghĩ rằng khi đạt được đối tượng vật chất ấy, người ta sẽ không còn thêm được gì vào hạnh phúc vốn đã mơ ước và thường tự mãn cho rằng đích thị đây là hạnh phúc viên mãn, tròn đầy và trường tồn mà bấy lâu đã dầy công, vất vả đi tìm.

Nhưng thực tế cho thấy các đối tượng vật chất khi đạt đuợc đã không luôn là hạnh phúc, vì nhiều người rất giầu nhưng bất hạnh, rất quyền lực nhưng vô phúc, có mọi sự nhưng tuyệt vọng, và bằng chứng là không ít người giầu kếch sù, danh vọng, quyền lực, ảnh hưởng phủ kín cuộc đời, thế mà vẫn chán đời, chán sống, tự đi tìm cái chết để chấm dứt đời làm người được coi như không hạnh phúc.

Sở dĩ có tình trạng bất hạnh dù đạt được đối tượng vật chất đó là vì hạnh phúc  đích thực không hệ tại ở tình trạng sở hữu những đối tượng vật chất, như nhiều người lầm tưởng ; hạnh phúc không nhất thiết được thành hình do nhiều quyền lắm của, hay do thế lực đầy mình, vinh quang tỏa sáng, nhưng hạnh phúc được thai nghén, lớn lên, sinh sôi nẩy nở và tồn tại vĩnh cửu do ý thức và ý muốn chia sẻ hạnh phúc với người chung quanh.

Nói cách khác, hạnh phúc không còn là có gì, chiếm hữu được gì, nhưng là hạnh phúc với ai, hạnh phúc với người nào, như hạnh phúc của một bữa ăn không do thịt ngon, canh ngọt cho bằng ta vui vì được cùng mâm, đồng bàn với người ta thương, thương ta ; hạnh phúc của một chuyến đi chơi xa không do khách sạn sang trọng, phong cảnh hữu tình cho bằng sự có mặt của người đồng hành làm ta vui vẻ, sảng khoái, bình an.

Vì thế, tuy không phủ nhận sự đóng góp của yếu tố vật chất vào hạnh phúc, nhưng điều quan trọng, yếu tố quyết định  để có hạnh phúc tròn đầy và bền lâu chính là người mà ta chia sẻ hạnh phúc với, cũng là người chia sẻ hạnh phúc với ta. Điển hình là khi được ở với người ta muốn chia sẻ niềm vui, sinh hoạt bên người ta muốn đem lại hoan lạc, thì cả ta và người ấy đều chung hưởng niềm hạnh phúc ; hay đi với người ta thương và thương ta, niềm vui sẽ nhân đôi, và hạnh phúc tăng lên gấp bội, vì căn tính của hạnh phúc không là sở hữu thật nhiều, nhưng là chia sẻ thương yêu. Bởi thế, khi yêu thương được chia sẻ, chính là lúc hạnh phúc nẩy mầm, lớn lên.

Qủa thế, tình yêu mới đem lại hạnh phúc thật, vì sống không tình yêu,  sinh hoạt không vì và với những người mình yêu, chúng ta không bao giờ tìm gặp hạnh phúc như lòng mong ước, như khát vọng  nóng bỏng tiềm tàng tận đáy sâu tâm hồn mỗi người.

Nhưng không luôn dễ được ở với người mình yêu và yêu mình, được sinh hoạt bên cạnh người mình hiểu và hiểu mình, được sống với người mình muốn chia sẻ hạnh phúc và họ cũng ước mong chia sẻ hạnh phúc với mình, bởi bất cứ ai cũng bị cản trở bởi hàng rào ích kỷ, chỉ muốn mình hạnh phúc, mà không muốn chia sẻ hạnh phúc với người, chỉ vun vén hạnh phúc cho mình, mà bỏ quên hạnh phúc của người ; mỗi người còn bị bao vây, giam hãm bởi bức tường cái tôi, nên hạnh phúc vẫn mãi là kho tàng qúy giá và hiếm hoi trong cuộc sống ; hạnh phúc vẫn còn là lý tưởng mà từng ngày trong cuộc đời phải cố gắng vượt qua vô số chướng ngại để vươn tới ; là thách đố không bao giờ được tự hào đã đủ, đã đạt đích, bởi hạnh phúc là đường dài của đời người, mà trên đó, từng giây phút bất cứ ai cũng bị đặt trước thử thách rất cam go, và gay cấn, đó là bỏ con người để chọn vật chất, từ chối chia sẻ hạnh phúc với con người, để một mình ích kỷ hưởng thụ, phủ nhận căn tính hạnh phúc là yêu thương, chia sẻ hạnh phúc với người khác, để tự phê chuẩn quyền chiếm hữu và ích kỷ một mình hưởng thụ hạnh phúc.

Ước gì ngay từ bây giờ, chúng ta tập sống hạnh phúc bằng ý thức rằng không ai có thể đơn độc hạnh phúc, nhưng hạnh phúc là hạnh phúc với ai, vì căn tính của hạnh phúc là tình yêu luôn đòi được chia sẻ.

Jorathe Nắng Tím


MẦU NHIỆM TỰ DO CHỌN LỰA GIỮA NHỮNG GIỚI HẠN

         


Được tự do chọn lựa là hạnh phúc lớn của con người, nên ai cũng mơ ước  được tự do chọn đời mình, lựa những người mình thương, những sự, những việc mình thích trong suốt cuộc đời làm người.  Nhưng dường như hạnh phúc ấy không luôn dễ đạt được …

     Không luôn dễ đạt, vì ngay khi vào đời làm người, có ai đã được tự do chọn cho mình cha mẹ, anh chị em, nơi « chôn nhau cắt rốn » ?  Có ai  đã được tự do lựa cho mình dòng dõi, gia tộc, đất nước, quê hương ? Có ai đã được tự chọn thời điểm chào đời, mầu da, tiếng nói, hoàn cảnh lịch sử khi lọt lòng mẹ ? Trái lại, tất cả đã được người khác chọn thay, lựa giùm, mà không  ai đã hỏi  ý kiến, hay quan tâm đến quyền chọn lựa, đồng ý của ta.

   Rồi cuộc sống nổi trôi với những biến cố thăng trầm  đôi lúc làm chúng ta chạnh lòng xót xa  số kiếp, thân phận, gia cảnh của mình, mà chẳng biết cùng ai trải lòng. Chẳng thế mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương  đã chí lý  viết nên vần  thơ nặng trĩu nỗi muộn phiền :

                « Lũ chúng tôi đầu thai lầm thế kỷ,

                   Cả một đời u uất nỗi truân chuyên »

để diễn tả tâm sự buồn , rất buồn của những con người không găp thời, không gặp vận may, không thành công trong cuộc sống, nhưng long đong, ngược xuôi, vất vả  để tồn tại.

    Không được tự do chọn lựa cha mẹ, anh chị em, gia thế, dân tộc, mầu da, tiếng nói đã đành, quyền tự do chọn lựa của chúng ta còn bị giới hạn rất nhiều trước những biến cố bất ngờ, đột nhiên, không thể tiên liệu, những sự kiện ngoài dự tính, vượt  khả năng, không thể phỏng đoán, tưởng tượng. Điển hình là thời cuộc bất ngờ đổi thay làm sụp đổ, vỡ vụn toàn bộ ước mơ, kế hoạch và cả những gì đang có trong tay, đang có quyền sở hữu. Và kinh khủng hơn cả là những tai ương  hầu như không bao giờ dám nghĩ tới đã như cơn lũ dữ dội quét sạch tất cả những gì  có mặt. Sau cùng là cái chết, như « dấu chấm hết »  vô cùng tàn nhẫn sẽ không nể nang, sợ hãi bất cứ người nào, nhưng lạnh lùng tước đọat tự do và  mọi thứ quyền lựa chọn của  mọi người.

    Thưc vậy, suy đi nghĩ lại mới thấy con người rất giới hạn, và tự do chọn lựa của con người không lớn và mạnh như  ước mơ, bởi ngay  khi được tự do chọn lựa, người ta vẫn  lấn cấn vì những giới hạn, vẫn mênh mang lo sợ những trở ngại bất ngờ.

   Thế nên nhà Phật nhìn đời là cõi vô thường, bởi vô số giới hạn của đời người và trong  đời sống đã không cho  phép con người nắm  chắc trong tay bất cứ sự gì, cũng không  dám tin tưởng tuyệt đối vào ai, ngay cả chính bản thân mình, bởi tất cả đều mang nhiều giới hạn, và vì giới hạn bao phủ, bủa vây, mà dòng đời   vô thường, bất định.

    Giữa căng thẳng của cơn lốc xóay khao khát tự do và vô vàn giới hạn, người ta có nhiều lựa chọn : hoặc bất lực buông xuôi theo dòng đời vô thường, hoặc bất mãn vùng vẫy chống cưỡng, và rất ít người đã nhận ra qua tự do chọn lựa và dòng đời nhiều giới hạn mầu nhiệm của con người, mầu nhiệm của đời sống, mầu nhiệm của giới hạn.  

   Thực vậy, không ai không khao khát và tìm kiếm quyền tự do chọn lựa và định đọat tất cả những gì liên quan đến hạnh phúc, nhưng đồng thời không người nào cảm thấy  hoàn toàn hạnh phúc vì  ngay khi có quyền tư do chọn lựa những gì mình muốn, và những người mình yêu thương, người ta cũng thoáng lo âu vì mơ hồ biết mình có giới hạn.  

   Để được giải thoát khỏi tình trạng lưng chừng, không bao giờ thỏa mãn trên,  chúng ta cần biết một điều quan trọng, đó là  tự do chọn lựa của con người bị đặt vào hai điều kiện không thể thiếu, đó là phải « thuận theo Thiên Mệnh, và hòa với Tha Nhân », bởi chỉ khi Thuận theo  Trời, và Hoà với người khác đang cùng sống, chúng ta mới khám phá ra  mình là một hữu thể mầu nhiệm, không chỉ có tự do, mà còn có  nhiều kho tàng bí ẩn, thiêng liêng, cao cả, qúy giá khác.

   Thuận theo Thiên Mệnh không được hiểu là thụ động chấp nhận một sắp đặt mang tính áp chế, hình phạt của Trời, nhưng là ý thức về sự quan phòng đầy ắp yêu thương của một Đấng Thiêng Liêng, Chủ Tể  của vũ trụ, muôn loài, và sự hiện diện của mỗi người  là  qùa tặng tốt đẹp cho chính con người ấy và cho cuộc đời,  xuất phát từ tình thương của Đấng Tạo Hoá rất tốt lành ấy.

    Vì nhịp sống thường qúa vội vã, hấp tấp nên trí khôn nhiều người không đủ thời gian suy nghĩ để  nhận ra những kỳ công  được tạo dựng trong  vũ trụ với duy nhất một mục đích là phục vụ hạnh phúc của con người, cũng như trái tim không còn đủ độ nhậy bén, vì nếp sống qúa vật chất, thực dụng để có thể cảm nhận những nét đẹp tuyệt vời, những vẻ đẹp lộng lẫy, những cảnh đẹp hoàn hảo trong thiên nhiên làm  hồn người ngây ngất, lâng lâng.

     Từ những cảm thức cần thiết và chính đáng ấy, con người sẽ nhận ra Đấng Tạo Hóa không chống lại hay ghen tương, thù oán, trừng phạt con người, nhưng đứng về phía con người bằng tình yêu  quan tâm, bằng  gìn giữ  quyền tự do chọn lựa  hạnh phúc đích thực của đời làm người, khi giúp con người vượt qua những giới hạn của kiếp người, điển hình là đau khổ và sự chết mà nguyên nhân cũng như ý nghiã tích cực của những thực tại không thể tránh khỏi này sẽ chỉ có  thể lý giải và hiểu được với tâm tình thuận theo Trời của mỗi người.

  Tâm tình và thái độ thuận theo Trời ấy được định hình và mô tả qua niềm tin : Trời là  Đấng rất tốt lành đã tạo nên mọi lòai vô hình và hữu hình, trong đó có con người một cách rất tốt đẹp, cho hạnh phúc viên mãn của con người, và các thụ tạo Ngài đã dựng nên.

    Bên cạnh điều kiện « Thuận theo Trời » bằng tin vào  tình thương và lòng tốt của Trời, là điều kiện « Hoà với Người » trong cuộc sống, mà ý nghiã căn bản là ý thức mình cần tình người của người khác, cần sống lòng nhân ái với người khác, vì người khác bổ xung những giới hạn của ta, cũng như ta kiện toàn những thiếu sót nơi người khác, và ta cùng người, người với ta  vượt qua khó khăn, trở ngại trong cuọc sống. Với  nghiã đó, đòi hỏi « Hoà với người » sẽ không là việc làm tiêu cực mang tính chủ bại, nhưng là thái độ của người hiểu rõ thế nào là tự do đích thực, khi  khẳng định chính xác : tự do là tự do với ai, tự do cho ai ; và chọn lựa là chọn những gì tốt, lựa những gì đẹp trong tương quan và cho  tương quan với người khác thêm phong phú, tốt đẹp. Vì thế, chọn lựa sẽ không đơn độc, nhưng chọn lựa đòi tương quan ; chọn lựa sẽ không độc đóan, độc tài, nhưng với ý thức và ý chí xây dựng hạnh phúc chung của bản thân và đồng loại. 

    Do đó, « Hoà với người » sẽ giúp chúng ta rút ngắn những giới hạn, thu nhỏ những chướng ngại, bế tắc trong cuộc sống, trên đường đời, và như thế những bước chân cùng người khác tiến về hạnh phúc sẽ phấn khởi, rộn ràng trong an hoà, thư thái. Và như « thuận theo Trời » hệ tại ở niềm tin vào lòng tốt của Trời, « hoà với người » cũng được xây trên nền tảng lòng nhân ái, tình người khi mọi người nhận ra mình không thể đơn độc tự do, đon thân chọn lựa vì  chung quanh là  những  lưc cản, giới hạn khjó có thể vượt qua một mình, nếu không có tình nhân loại, lòng nhân ái, « tương thân tương trợ »,  đỡ nâng, tiếp sức .

   Thực vậy,  kết qủa trước mắt mà ai cũng thấy khi ta thuận theo Trời và hoà với người, đó là ta sẽ không  sợ đời,  không chán đời, không tìm đường lẩn tránh đời người, người đời, nhưng  chấp nhận cuộc đời, đón nhận đời làm người  với niềm vui và hy vọng. Vui vì biết đời làm người không là  án phạt, hay  kiếp sống tiên thiên bất hạnh , nhưng là mầu nhiệm hạnh phúc, vì được  ở trong tương quan thiết thân và tốt đẹp với Trời là Đấng tạo dựng ; hy vọng vì làm người là đồng hành với mọi người, đi chung với cộng đồng nhân loại trên hành trình hạnh phúc, hạnh phúc đích danh đích thực được  góp nhặt,  đan  dệt, hình thành từ  tương quan nhân ái, nhờ lòng tốt, với tình người của mọi người chung quanh đang cùng sống, để từ nay không ai « làm người » như làm  lữ khách đơn độc, một mình sầu buồn lủi thủi lê từng bước nặng nề, như tử tội với xiềng xích trên đường ra pháp trường      

     

        Tóm lại, không có tự do chọn lựa, con người  xuống cấp làm con vật, nhưng tự do chọn lựa không được hiểu như  thao tác của một  cỗ máy tự động, vô hồn, vô cảm, nhưng tự do của con người mang tính huyền nhiệm vì là hình ảnh Thượng Đế, là dấu ấn của Trời  nơi con người, cũng là khả năng chọn lựa như dấu chỉ của con người là   thụ tạo  vượt trội hơn các thụ tạo khác, vì có xác và hồn. Cũng chính giữa những giới hạn của thụ tạo như tình trạng vô thường, thực tại khổ đau và sự chết, mà tự do chọn lựa của mỗi người cùng lúc có giá trị  của mầu nhiệm, vì chạm tới Trời, và giá trị thân phận, vì cần có nhau, như những con người có giới hạn đang cùng bước trên hành trình về Vô Hạn.

    Vì thế, những giới hạn của thân phận người mà chúng ta đối mặt trong đời người không được coi là những yếu tố phá hoại tự do chọn lựa. Trái lại, chính trên con đường tự do chọn lựa  giữa những giới hạn của thân phận người, mà hạnh phúc  được làm người nẩy mầm, giá trị tự do được trổ sinh hoa trái,  khả năng chọn lựa được phát triển, nhờ niềm vui được Trời thương, niềm vui  được đặt trọn niềm  tin vào lòng tốt của Thượng Đế. Cùng với niềm vui của đức tin là  niềm  hy vọng sẽ đến đích của đời  làm người, nhờ những bàn tay nhân ái  của người chung quanh, và  đôi vai nghiã tình của chính ta luôn  sẵn sàng gánh vác những giới hạn của nhau, mang lấy những, vô thường,  bất trắc tuy có làm tổn thương, sứt sát  đôi chút,  nhưng chắc chắn không bao giờ làm sút giảm giá trị  mầu nhiệm của tự do chọn lựa giữa những giới hạn của đời làm người.

    Ước gì  đời làm người của mỗi người chúng ta mãi đẹp  trong mầu nhiệm của tự do chọn lựa giữ     a những giới hạn, nhờ tin vào Trời yêu thương, và thương người đời trong tim.

Jorathe Nắng Tím 

ĐỨC GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA


Tin Mừng Máccô bắt đầu bằng bầu khí  rộn ràng, náo nức của 
mọi người từ khắp miền Giuđê và thành Giêrusalem kéo đến với ông Gioan. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Giođan (Mc 1,5). Bất ngờ xuất hiện một nhân vật, người mà Gioan đã nhiều lần nói với dân chúng : Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần (Mc 1,7-8).

Đức Giêsu xuất hiện trước dân chúng ở sông Giođan, nhưng không xuất hiện như vua, hay như lãnh tụ Ítraen mà toàn dân từ hàng ngàn năm đã trông ngóng, đợi chờ, nhưng xuất hiện như một người đã lắng nghe và  đáp lại lời kêu gọi dọn đường cho Đấng Cứu Thế  của Gioan, bằng xin chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội (Mc 1,4).

Đức Giêsu không tỏ mình cho đám đông như Đấng có quyền thế, mà Gioan đã giới thiệu, bằng long trọng đọc lời hiệu triệu, dõng dạc công bố hiến chương, lớn tiếng trình bầy đường lối, cương lĩnh, nhưng kín đáo, âm thầm, giản dị, nhẹ nhàng, đơn sơ như những người nhận mình có tội đang  khiêm tốn cúi đầu, dìm mình xuống nước để nhận phép rửa thống hối từ tay Gioan.

Đức Giêsu cũng không tỏ ra khác người, thánh hơn người, nhưng bình thường như hằng trăm người bình thường khác đến thú tội và xin Gioan ban phép rửa sám hối.   

Nhưng chính qua thái độ khiêm tốn và tâm tình sám hối của Ngài, mà Chúa Cha đã đích thân giới thiệu Ngài một cách kỳ diệu, vượt những gì loài người có thể tưởng tượng, như thánh sử Maccô đã ghi lại : Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng : Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con (Mc 1,10-11).

Đây là buổi giới thiệu vô cùng quan trọng và ấn tượng, ở đó, Đức Giêsu đã được cả Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cùng giới thiệu như Thiên Chúa làm người, Đấng Thiên Chúa sai đến trong nhân loại :

Khởi đầu là hiện tượng các tầng trời xé ra nói lên vinh quang và uy quyền Thiên Chúa của Đức Giêsu. Ngài là Thiên Chúa thật được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Ngai toà của Ngài ở trời cao, có vô số thiên binh tôn thờ, phụng sự.

Tiếp đến là sự kiện Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên Ngài biểu hiện Thần Khí của Thiên Chúa luôn ở với Ngài. Chính Thần Khí Thiên Chúa sẽ đẩy Ngài vào hoang địa để chịu Xatan cám dỗ (x. Mc 1,12-13), và cũng là  Thần Khí mà ngôn sứ Isaia đã nói tới khi viết về Ngài : Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa (Lc 4,18-19).

Sau cùng là tếng Chúa Cha phán từ trời : Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con (Mc 1,11) khẳng định tương quan Cha Con giữa Chúa Cha và Đức Giêsu, đồng thời bầy tỏ niềm hãnh diện và hài lòng của Chúa Cha về Con Một của Ngài là Ngôi Lời nhập thể.

Thực vậy, ở sông Giođan hôm ấy, khi Đức Giêsu vừa chịu phép rửa của Gioan, Chúa Cha đã công khai và long trọng giới thiệu Con của Ngài là Đức Giêsu cho nhân loại, đồng thời chính thức  khai mở công trình loan báo Tin Mừng cứu rỗi của Thiên Chúa cho loài người bằng chính sự hiện diện làm người sống động của Ngôi Lời Thiên Chúa giữa nhân loại.

Nếu ở Bêlem, Ngôi Lời đã tỏ mình ra cho các mục đồng và ba đạo sĩ dưới hình hài trẻ sơ sinh bé bỏng, yếu đuối, thì ở sông Giođan, chính Chúa Cha đã giới thiệu Con Một của Ngài cho nhân loại : Ngài đã giới thiệu Con mình là Ngôi Hai Thiên Chúa, Đấng Thiên Sai, và thật lạ lùng khi cả Ba Ngôi cùng có mặt trong buổi giới thiệu hôm ấy.        

Nhưng sự kiện bất ngờ hơn cả, chính là Đức Giêsu đã đựợc Chúa Cha tán dương, khen ngợi, vì Ngài đã tuyệt đối vâng phục Thánh Ý Chúa Cha khi xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại.

Cũng vậy, nếu thánh Phaolô sau này trong thư gửi giáo đoàn Philípphê đã viết : Thiên Chúa đã siêu tôn Người, tức Đức Giêsu, và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái qùy ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng Đức Giêsu Kitô là Chúa (Pl 2,9-11), vì Ngài đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cây thập tự (Pl 2,7-8), thì trước đó rất lâu, ở đây, bên bờ sông Giođan, Chúa Cha đã chính thức suy tôn Ngài, khi lên tiếng hài lòng về Con Một yêu dấu của mình cũng vì sự khiêm hạ, vâng phục của Ngài khi  ẩn mình trong đám đông đến với Gioan xin chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội (Mc 1,4) như một tội nhân.  

Vâng như Đức Giêsu, mỗi người Kitô hữu khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội cũng được tha tội, được thánh hoá trong Chúa Thánh Thần, được chung phần thiên tính, khi trở nên nghiã tử của Thiên Chúa. Và cũng như với Đức Giêsu, Chúa Cha sẽ nói với mỗi người : Con là con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về con, nếu chúng ta khiêm tốn, vâng lời và thực thi Thánh Ý.

Jorathe Nắng Tím


Thứ Ba, 5 tháng 1, 2021

NHỮNG VÌ SAO NHÂN LOẠI

 


Mỗi khi nhớ đến ông bà, cha mẹ và người thân đã qua đời, ta thường có thói quen nhìn lên bầu trời đầy sao, và tưởng như các vị là những vì sao lấp lánh từ trên cao đang nhìn xuống chở che và dõi từng bước ta đi.

Ý nghĩ và tâm tình ấy không sai, vì chính Giavê Thiên Chúa cũng lấy các vì sao để chỉ sự đông đúc của dân Ngài khi nói với  tổ phụ Ápraham, người được mệnh danh là Cha của những kẻ tin : Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nhiều như sao trên bầu trời… (St 22,17). Và trong tâm thức của nhiều người : ai sinh ra cũng có một vì sao hộ mệnh, và khi chết sẽ trở về với vì sao đó.

Ở đây, người viết không đi tìm lý giải vấn đề này, nhưng chỉ chia sẻ sứ mạng làm vì sao dẫn đuờng của con người.

Thực vậy, chúng ta không thể biết nhiều sự, nhiều người, nếu không có người hướng dẫn, chỉ bảo. Đó chính là lý do ai cũng phải học hỏi, phải khiêm tốn đón nhận kiến thức, kinh nghiệm của người khác, bất cứ người đó là ai, bởi một em bé cũng có thể là thầy của ta, một người ít học cũng có thể là người hướng đạo, dẫn lối chỉ đường cho ta trong nhiều hoàn cảnh, tình huống, nên tự mãn, tự phụ cho rằng mình biết tất cả, mình nắm trọn vẹn chân lý là điều lố bịch, thái độ hợm hĩnh kiêu căng của người ngu dốt, chẳng biết gì, và chưa hề khôn ngoan.

Ý thức tất cả mọi người đều có thể dậy ta những điều hay lẽ phải ; bất cứ ai cũng có thể cho ta những bài học chân thực qúy giá, và giúp ta thành nhân, thành đạt, ta sẽ nhận ra chung quanh có rất nhiều vì sao dẫn lối ta đi, và chính ta cũng mang sứ vụ làm sao sáng soi lối cho nhiều người trong cuộc sống.

Những vì sao tiền nhân đáng kính đã góp công xây dựng thế giới ta đang sống; những vì sao tổ tiên, ông bà đã chuẩn bị cho ta một chỗ đứng trong gia tộc, dòng dõi ; những vì sao cha mẹ yêu thương đã cho ta vào đời làm người ; những vì sao cô dì, chú bác, thân bằng quyến thuộc đã  đồng hành, bảo bọc ta ; những vì sao vợ chồng, tình nhân, bạn hữu không ngừng làm đời ta thêm đẹp bằng ân sâu nghiã nặng. Tất cả đang lấp lánh hoặc trên bầu trời cao, hoặc trong đáy mắt cảm thông, trìu mến giữa đời thường.

Vì thế, từng giây từng phút trong cuộc đời, ta luôn được các vì sao đồng hành. Đó là những vì sao của người đã chết mà hằng đêm ta ngước mắt thương nhớ, hướng lòng cầu nguyện. Bên cạnh là những vì sao đang cùng ta chung sống mà hằng ngày ta vừa đón nhận vừa trao ban ánh sáng. Tất cả đều mơ ước chiếu sáng đời ta, khao khát xua tan bóng đêm khỏi ta, bởi hạnh phúc duy nhất và  vĩ đại của các vì sao hoặc trên bầu trời hoặc giữa cuộc đời đều là soi lối, dẫn đường, dìu dắt những bước chân nhân loại đang lần mò tìm lối, đang dò dẫm kiếm đuờng, đang hoang mang, chơi vơi, lo sợ vì lạc đường, mất hướng.

Thực vậy, trên hành trình cuộc đời, chúng ta không thể bỏ quên những vì sao rất dễ thương đã qua đời và những vì sao rất dễ yêu đang còn sống, bởi nhờ những vì sao dễ thương, đáng yêu này mà chúng ta không lạc lối, lầm đường, không sa lưới, sập bẫy, lọt hầm chông của thần dữ, kẻ thù.

Nhưng vấn đề là chúng ta có đủ khiêm tốn để biết mình cần ánh sáng của những vì sao trên cao và chung quanh, đồng thời đủ tinh tế, và sẵn sàng để nhận ra và thực hiện thông điệp của những vì sao ấy hay không ?

Tin Mừng Mátthêu cho chúng ta một mẫu gương lý tưởng trước các vì sao. Đó là ba đạo sĩ đã theo vì sao lạ dẫn đuờng đến Bêlem. Tuy là những người thông thái, khôn ngoan, các vị vẫn khiêm tốn ngước mắt chiêm ngưỡng và mau mắn dõi theo ngôi sao lạ dẫn đến Bêlem để bái lậy Đấng Cứu Thế vừa mới sinh ra (x. Mt 2,1-12). Ngôi sao lạ ấy đã xuất hiện và dẫn các vị đến Giêrusalem, nhưng cũng tại đây, ngôi sao ấy biến mất cho đến khi các vị gặp vua Hêrôđê xong thì ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông mới lại xuất hiện và tiếp tục dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở (Mt 2,9).

Đi theo ánh sao, chúng ta cũng sẽ được vui mừng như ba đạo sĩ đã mừng rỡ vô cùng khi trông thấy ngôi sao (Mt 2,10), bởi sao sáng sẽ đưa chúng ta ra khỏi bóng tối gian dối, chia rẽ, hận thù, bạo lực, và dẫn chúng ta vào đuờng ngay nẻo chính, đến gặp Thiên Chúa là Đuờng, Sự thật và Sự Sống, hạnh phúc chúng ta hằng mong đợi trên hành trình cuộc đời  khó tránh khỏi bóng tối, mây mù

Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 4 tháng 1, 2021

MỘT VÀI CHIA SẺ TRƯỚC HIỆN TƯỢNG “NHÀ CHÚA CHA” Ở BẢO LỘC

 


Năm 2020 qủa thực là một năm nhiều giông bão cho toàn thế giới vì đại dich Covid 19, mà hậu qủa tai hại  còn tiếp tục kéo dài không biết đến bao giờ. Riêng giáo phận Đà Lạt, ngoài cơn bão Covid còn gánh thêm cơn giông khác cũng không kém mất mát nặng nề. Đó là hiện tượng
Nhà Chúa Cha ở Bảo Lộc.

Mất mát vì một linh mục bị treo chén, một giáo dân bị vạ cấm chế ; mất mát vì sự hiệp nhất trong giáo phận bị rạn nứt khi nhiều phe nhóm đối kháng, nhiều quan điểm đối nghịch, nhiều ý kiến trái chiều, nhiều phát biểu phủ nhận, kình chống, lên án nhau.

Một bầu khí u ám như mây mù những sáng sớm Đà Lạt khi các mạng xã hội thi nhau bàn tán xôn xao với đủ cung bậc ủng hộ, đả phá, công kích, bênh vực, mà cả Toà Giám Mục Đà lạt với Đức Cha Đaminh Nguyễn văn Mạnh và Nhà Chúa Cha Bảo Lộc với cha Nguyễn Chu Truyền, chị Thiên Thương đều là nạn nhân, đối tượng rất đáng mến, nhưng cũng rất đáng thương.

Thôi thì đủ luận cứ, chứng cớ, qủa quyết, kết luận : đúng sai. Cả phe chống cũng như phe ủng hộ Đức Cha hay cha Truyền, chị Thương  đều cương quyết khẳng định mình và  gay gắt lên án đối phương : người thì bảo Đức Cha sai, độc đoán, độc tài, kiêu căng, giáo sĩ trị, coi thường giáo dân, ngoan cố trước ý muốn của Chúa Cha ; người thì nói chị Thương, cha Truyền mất trí, lạc đạo, bất tuân phục, phản bội, phá họai Hội Thánh… Cũng có những bài viết dài phân tích cặn kẽ tùy theo quan điểm như đề cao sự vâng phục trong Giáo Hội, phân tích vai trò của Giám Mục, làm nổi bật  đoàn sủng, cường điệu sự xuất hiện của qủy vương trong thời đại mới và sự can thiệp trực tiếp của Chúa Cha.

Tóm lại, chúng ta đang đứng trước nguy cơ một cuộc ly giáo, và sự hình thành có hệ thống một giáo phái mới tách biệt khỏi Công Giáo. Chia sẻ nỗi buồn và lo âu của Đức Cha Đaminh, cũng như lo âu và nỗi buồn của cha Truyền, chị Thương, người viết xin được trải lòng với tư cách một người con, một người anh em, một chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô là Giáo Hội của Ngài về hai điểm mà người viết cho là then chốt hơn cả đã tạo nên nhiều lấn cấn, sai lạc. Đó là sự khác biệt giữa Thần Khí của Thiên Chúa và các thần khí khác, sự khác biệt giữa Đoàn Sủng và Mạc Khải trong giáo lý đức tin.

1.                       Thần Khí của Chúa và các thần khí khác:

a.                       Các thần khí không thuộc Thiên Chúa :     

Tin Mừng luôn nhắc nhở và nhấn mạnh sự khác biệt giữa Thần Khí của Thiên Chúa, Thần Khí của Đức Giêsu Kitô và các thần khí khác như thần khí của con người, thần khí của thế gian, thần khí của ma qủy.

   Sách Samuen kể :

·    Sau khi ông Samuen qua đời... Người Philitinh tập hợp lại và đến đóng trai ở Sunêm… Vua Saun thấy trại của người Philitinh thì sợ và tim ông đập mạnh. Ông thỉnh ý Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không trả lời, dù bằng giấc mộng, bằng thẻ urim, hay qua trung gian ngôn sứ. Vua Saun bảo triều thần : Hãy tìm cho ta một bà đồng bóng, để ta thỉnh ý bà ấy. Triều thần nói với vua : Thưa có một bà đồng bóng ở Ênđo (1 S 28,4-7).

Đây là trường hợp nghe theo thần khí của con người, mà không phải Thần Khí của Thiên Chúa.

     Tin Mừng Máccô ghi lại :

·  Đức Giêsu và các môn đệ sang tới bờ bên kia Biển Hồ, vùng đất của dân Ghêrasa. Người vừa ra khỏi thuyền, thì từ đám mồ mả, có một kẻ bị thần ô uế ám liền ra đón Người. Anh này thường sống trong đám mồ mả, và không ai có thể trói anh ta lại được, dầu phải dùng cả đến xiềng xích (Mc 5,1-3). Một hôm khác, một người trong đám đông thưa với Đức Giêsu : Thưa Thầy, tôi đã đem con trai lại cùng Thầy ; cháu bị qủy câm ám. Bất cứ ở đâu, hễ qủy nhập vào là vật cháu xuống. Cháu sùi bọt mép, nghiến răng, cùng đờ người ra (Mc 9,17-18).

Đây là trường hợp thần khí của ma qủy ám nhập làm khổ con người.

Thánh Gioan Tông Đồ khẳng định có những thần khí không chỉ khác Thần Khí của Thiên Chúa, mà còn chống lại Thần Khí của Đức Kitô : Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian (1 Ga 4,1).

b.                       Thần Khí của Thiên Chúa :

  Kinh Thánh xác định rất rõ Thần Khí của Thiên Chúa trên công trình của Ngài và  những người Ngài chọn :

·  Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước (St 1,1)

·   Pharaô, vua Ai Cập, sau khi nghe ông Giuse, con của tổ phụ Giacóp cắt nghiã giấc chiêm bao của mình đã nói với triều thần : Chúng ta tìm đâu được một người như người này, một người có Thần Khí Thiên Chúa ? Và Pharaô nói với ông Giuse : Sau khi Thiên Chúa đã cho ông biết tất cả những điều ấy, không ai thông minh và khôn ngoan như ông. Ông sẽ là tể tướng triều đình của ta... (St 41,38-40).

·  Sách Xuất Hành ghi lại : Đức Chúa phán với ông Môsê : Ngươi hãy coi : Ta đã gọi đích danh Bơxanên con của Uri, con của Khua, thuộc chi tộc Giuđa. Ta sẽ ban cho nó dồi dào Thần Khí của Thiên Chúa, để nó thành người khéo léo, giỏi giang và lành nghề mà làm mọi công việc… (Xh 31,1-3).

Trong Tân Ước, Thần Khí của Thiên Chúa ngự xuống  và quyền năng của Đấng Tối Cao  rợp bóng trên Đức Maria trong buổi Truyền Tin thụ thai Ngôi Lời nhập thể (x. Lc 1,35). Khi chịu phép rửa của Gioan bên bờ sông Giođan, Đức Giêsu được Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người (Mt 3,16) ; Ngài còn được Thần Khí dẫn vào hoang địa để chịu cám dỗ (Mt 4,1).

Và các Tông Đồ trong nhiều thư mục vụ đã không ngừng cho chúng ta thấy đâu là Thần Khí của Thiên Chúa, và cách nào để nhận ra Thần Khí đến từ Ngài:

Thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại dậy chúng ta : Những ai sống theo tính xác thịt thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt ; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an. Thật vậy, hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa, mà cũng không thể phục tùng được (Rm 8,5-7).

Qủa vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa, và một khi đã là con cái Thiên Chúa, chúng ta không còn là nô lệ và phải sợ hãi như xưa, nhưng Thần Khí làm cho anh em nên nghiã tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : Ápba ! Cha ơi! (Rm 8,14-15).      

Thánh Phêrô, tông đồ trưởng thì nhắc nhở : Người tín hữu là những người được Thiên Chúa Cha biết trước và kén chọn, những người được Thần Khí thánh hoá để vâng phục Đức Giêsu Kitô và được máu Người tưới rảy (1P 1,2). Điều này muốn nói lên sự vâng phục Đức Giêsu Kitô là dấu chỉ sự hiện diện của Thần Khí Thiên Chúa.  

Một cách chính xác hơn, thánh Phaolô qủa quyết : người có Thần Khí của Thiên Chúa thì kết hiệp mật thiết với Ngài (x.1 Cr 6,17), và mầu nhiệm Đức Kitô tức trong Đức Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do Thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa (Ep 3,6) sẽ chỉ được Thiên Chúa dùng Thần Khí của Ngài, mà mặc khải cho các Tông Đồ và ngôn sứ của Người (Ep 3,5). 

Như thế, để thấu hiểu các mãnh lực thần thiêng (Kn 7,20), tức các thần khí không thuộc về Thiên Chúa, chúng ta cần có ơn phân định thần khí (1Cr 12,10), vì có rất nhiều thần khí xuất phát từ xác thịt, từ thế gian, từ ma qủy, bởi thần khí nào không tuyên xưng Đức Giêsu, thì không bởi Thiên Chúa ; đó là thần khí của tên phản Kitô (1 Ga 4,3), cũng như thần khí nào không phục tùng lề luật của Thiên Chúa, không đón nhận mặc khải từ các Tông Đồ và Ngôn Sứ đều sẽ không được nhận là thần khí đến từ Thiên Chúa. 

2.                        Đoàn Sủng và Mặc Khải :

   a. Đoàn Sủng là ơn được ban để phục vụ cộng đoàn :

Giữa Đoàn Sủng và Mặc Khải có sự khác biệt rất quan trọng mà nhiều người hay lầm lẫn. Chính vì thế mà nhiều khúc mắc, lấn cấn cứ ngày càng chồng chất, đan chéo nhau.

    Sách Xuất Hành ghi lại lời Thiên Chúa Giavê nói với Môsê : Chính ngươi sẽ bảo những thợ giỏi, đã được Ta ban tràn đầy tài năng khôn khéo, may áo tế cho Aharon, để ông được thánh hiến, mà thi hành chức tư tế phục vụ Ta (Xh 28,3). Thiên Chúa ban đặc sủng cho những người thợ này để họ phục vụ cộng đoàn,khi may áo tế cho ông Aharon. Vì thế, đặc sủng được gọi là đoàn sủng, bởi mục đích là lợi ích chung của cộng đoàn, mà không vì lơi ích  riêng tư, cá nhân. 

Thánh Phaolô đã viết rất rõ  về ân huệ và sứ vụ tông đồ của mình : Tôi là Phaolô, tôi tớ của Đức Kitô Giêsu ; tôi được ơn gọi làm tông đồ, và dành riêng để loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa (Rm 1,1), và nhờ Người, chúng tôi đã nhận được đặc ân và chức vụ Tông Đồ, để làm cho hết thảy các dân ngoại vâng phục Tin Mừng, hầu danh Người được rạng rỡ (Rm 1,5).

Thánh nhân còn cắt nghiã cặn kẽ trong thư gửi giáo đoàn Côrinthô : Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người. Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dậy, người thì đuợc Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bầy. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin ; kẻ thì cũng được Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri ; kẻ thì được ơn phân định thần trí ; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tùy theo ý của Người (1 Cr 12, 4-11).  

Như thế, không có gì ngăn cách, chia rẽ chúng ta khi mỗi người nhận được đặc sủng từ Thần Khí Thiên Chúa để phục vụ cộng đoàn, vì chúng ta là thân thể Đức Kitô và mỗi người là một bộ phận. Trong Hội Thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông Đồ, thứ hai là các ngôn sứ, thứ ba là các thầy dậy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ (1 Cr 12,27-28).

Ở đây, chúng ta nhận thấy : ơn làm Tông Đồ được xếp vào hàng thứ nhất, bởi các Tông Đồ là những người được Đức Giêsu chọn và trên nền tảng Tông Đồ, Ngài đã xây dựng Giáo Hội của Ngài. Kế vị các Tông Đồ là các Giám Mục bản quyền.  Như các thánh Tông Đồ, các ngài là  rường cột của Giáo Hội, được trao phó sứ vụ chăn dắt đoàn chiên với quyền quản trị, thánh hoá, nên chính các ngài có trách nhiệm bảo đảm mục đích phục vụ lợi ích chung của các đoàn sủng  nhận được từ Thần Khí Thiên Chúa trong Giáo Hội. Nói cách khác, Giám Mục có nhiệm vụ duy trì và phát huy sự hiệp thông, hiệp nhất trong Giáo Hội, mà không để những đặc sủng nhận được biến thành cớ gây mâu thuẫn, xung đột, đối kháng, chia rẽ trong hàng ngũ dân Chúa, thay vì xây dựng thân thể mầu nhiệm Đức Giêsu là Giáo Hội, như thánh Phaolô đã nhấn mạnh : Anh em cũng vậy : vì khao khát những ơn của Thần Khí, anh em hãy tìm kiếm để được dồi dào các ân huệ đó, nhằm xây dựng Hội Thánh (1 Cr 14,12).    

Như thế, khi các đoàn sủng không nhằm mục đích xây dựng Hội Thánh, mà cụ thể là xây dựng tình hiệp thông, hiệp nhất thì các ơn đó không còn được coi là đặc sủng, đoàn sủng, vì không hội đủ điều kiện phục vụ cộng đoàn. Thực tế là khi người nhận đoàn sủng  làm theo ý riêng, dù là thiện ý,  mà từ chối đặt mình dưới sự quản trị, hướng dẫn của Giám Mục bản quyền để việc thực thi đoàn sủng của người ấy đem lại lợi ích chung cho Giáo Hội, như mục đích của đoàn sủng, thì hậu qủa không thể tránh khỏi là gây hoang mang, bất an, bất ổn trong Giáo Hội dắt đến tình trạng đố kỵ, chia rẽ, làm lợi cho ma qủy. Đó là lý do trong lịch sử Giáo Hội đã không thiếu những người được Chúa ban đoàn sủng, nhưng khi được Đấng Bản Quyền yêu cầu ngưng sử dụng đoàn sủng để làm phép lạ, chữa bệnh, trừ qủy hay nói tiên tri, vì lợi ích chung của Giáo Hội, thì hầu hết các vị đều vâng phục quyền tông đồ của Giám Mục bản quyền, bởi mục đích tự thân của đoàn sủng là phục vụ cộng đoàn dân Chúa, chứ không phục vụ ý muốn cá nhân hay lợi ích bản thân. Đàng khác, sự vâng phục để gìn giữ sự hiệp nhất của Giáo Hội được đánh giá là Của Lễ đẹp lòng Thiên Chúa hơn tất cả.   

Chúng ta cũng nên biết  ma qủy là tên Cám Dỗ, đứa Chia rẽ, tiếng latinh là Diabolus, trái ngược với Symbolus là hiệp nhất, nối kết, và công việc chính của chúng là tách rời ra, kéo xa ra, khi tách con người rời xa Thiên Chúa, kéo con người ra xa nhau, như đã tách Ađam, Evà rời xa Thiên Chúa, kéo Cain xa khỏi Aben, và tiếp tục cho đến tận thế bằng mọi thủ đoạn, mưu kế tách đoàn chiên ra khỏi chủ chăn, gây hỗn loạn, chia rẽ giữa đoàn chiên, và kéo Giáo Hội xa khỏi Đức Giêsu là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm. Do đó, thành qủa lớn mà ma qủy đạt được quanh biến cố trừ qủy ở nhà Chúa Cha là sự cắt đứt hiệp thông,chia rẽ trong Giáo Hội, một sự thật đáng buồn mà không ai trong chúng ta có thể phủ nhận.

b.                       Mạc Khải   

Khác với Đoàn Sủng, Mạc Khải là việc Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết thánh ý Ngài (x Ep 1,9). Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa (x. Ep 2,18 ; 2P 1,4). Trong việc mạc khải này, với tình thương chan chứa của Ngài, Thiên Chúa vô hình (x ; Cl 1,15 ; 1 Tm 1,17) ngỏ lời với loài người như bạn hữu. Ngài đối thoại với họ để mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài. Công cuộc mạc khải này được thực hiện bằng các hành động và lời nói liên kết mật thiết với nhau. Nên các việc Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử cứu rỗi bày tỏ, củng cố giáo lý và những điều được giải thích qua lời nói. Còn lời nói thì công bố các việc làm và khai sáng các mầu nhiệm chứa đựng trong đó. Nhờ mạc khải này, chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về phần rỗi con người được sáng tỏ nơi Chúa Kitô, Đấng trung gian, đồng thời là sự viên mãn của toàn thể mạc khải (Chương I, số 2, Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Thiên Chúa – Dei Verbum, bản dịch của Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, 2005).

Qua trích dẫn trên, chúng ta thấy : kho tàng mạc khải gồm Thánh Kinh (Cựu Ước, Tân Ước) và Thánh Truyền, ở đó chân lý về Thiên Chúa được sáng tỏ nơi Đức Kitô », Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và con người, Đấng Cứu Độ duy nhất, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Cũng chính ở Ngài, toàn thể mạc khải đã đạt đến độ viên mãn, và toàn bộ kho tàng mạc khải này được trao cho Giáo Hội gìn giữ, bảo toàn như thánh Phaolô đã viết cho môn đệ Timôthê : Giáo lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta (2 Tm 1,14), vì Giáo Hội là dấu chỉ của bí tích cứu rỗi, là thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô.

Vì đã đạt đến độ viên mãn ở Đức Kitô nên toàn thể Mạc Khải chỉ có thể tìm thấy nơi Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa, mà không ở Chúa Cha, vì Đức Kitô là Ngôi Lời của Chúa Cha, Đấng Chúa Cha sai đến để thực thi thánh ý của Ngài. Do đó, chúng ta không thể thay đổi, hay thêm bớt vào kho tàng Mạc Khải bằng những mạc khải mới trực tiếp từ Chúa Cha, vì Chúa Cha tín nhiệm Chúa Con, bởi Ba Ngôi Thiên Chúa là một, như Đức Giêsu đã qủa quyết : Ai tin vào tôi, thì không phải là tin vào tôi, nhưng là tin vào Đấng đã sai tôi ; ai thấy tôi là thấy Đấng đã sai tôi… Thật vậy, không phải tôi tự mình nói ra, nhưng là chính Chúa Cha, Đấng đã sai tôi, truyền lệnh cho tôi phải nói gì, tuyên bố gì. Và tôi biết : mệnh lệnh của Người là sự sống đời đời. Vậy, những gì tôi nói, thì tôi nói đúng như Chúa Cha đã nói với tôi (Ga 12,44-45 ; 49-50).

Qủa thực, nếu cho rằng bây giờ là thời đại của Chúa Cha, và chính Chúa Cha trực tiếp mạc khải, thì Tin Mừng của Đức Giêsu sẽ có nguy cơ bị thay đổi, vì người ta sẽ phải hiểu rằng thời kỳ cứu chuộc của Đức Giêsu, cũng như thời đại  của Chúa Thánh Thần trong Giáo Hội của Đức Giêsu không còn nữa, nhưng chấm dứt để nhường chỗ cho thời đại mới của Chúa Cha, với những mạc khải mới từ Chúa Cha.

Như thế, cả Ba Ngôi Thiên Chúa đã thứ tự thay phiên nhau cứu độ, mạc khải, và duy chỉ một việc Chúa Cha can thiệp vào mạc khải  đã được viên mãn trong Đức Giêsu đã đủ làm đảo lộn tất cả giáo lý của Đức Giêsu, và tín điều nhập thể cứu chuộc theo ý Chúa Cha của Đức Giêsu không còn nền tảng để đứng vững.    

Một vấn đề hệ trọng khác, đó là Mạc Khải và Giáo Hội không thể tách rời nhau, vì Giáo Hội có nhiệm vụ trung thành tuân giữ và gìn giữ nguyên vẹn chân lý đức tin, bởi Mạc Khải trong Kinh Thánh hay trong Thánh Truyền đều được truyền lại trọn vẹn nhờ sự kế vị hợp pháp các Giám Mục và nhất là nhờ sự quan tâm của chính Giám Mục Rôma. Nhờ Thánh Thần Chân Lý, Mạc Khải ấy được gìn giữ cách cẩn trọng và trình bầy cách trung thực. Để có thể khảo sát đứng đắn và trình bầy cách thích hợp Mạc Khải này, Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục làm việc cẩn thận bằng phương tiện thích hợp, tùy theo nhiệm vụ và tầm quan trọng của sự việc ; nhưng các ngài không nhận được một Mạc Khải công khai mới nào thêm vào kho tàng thần khải của đức tin (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội - Lumen Gentium, số 25, bản dịch việt ngữ của Giáo Hoàng Học Viện Piô X).

Theo Hiến Chế này, không một Mạc Khải công khai mới nào được thêm vào kho tàng thần khải của đức tin, nên hiện tượng Chúa Cha công khai mạc khải cho một cá nhân sẽ phải được coi là điều không thể chấp nhận theo giáo lý Mạc Khải của Hội Thánh.

Một nguy cơ khác nữa sẽ đến, đó là từ những mạc khải mang tính sinh hoạt đời sống như chữa bệnh, cách xử lý tình huống cũng như những khúc mắc trong tương quan, mà hiện nay Chúa Cha đang thực hiện với chị Thương ở Nhà Chúa Cha không lâu sẽ là những mạc khải đụng chạm đến giáo lý đức tin, vì Chúa Cha luôn sẵn sàng trả lời bất cứ câu hỏi nào của chị đặt ra. Điều đó cho phép chúng ta mường tượng một ngày nào đó chị Thương hỏi Chúa Cha về những tín điều buộc người công giáo phải tin trong Kinh Tin Kính, và nếu chẳng may Chúa Cha phủ nhận hay không dứt khoát khẳng định một hay nhiều tín điều nào đó, thì thử hỏi sự hoang mang, bấn loạn ở nhiều người công giáo mà giáo lý đức tin không đủ vững sẽ lớn lao như thế nào?

Chắc chắn sẽ rất lớn lao, vì viễn cảnh ly giáo đang lấp ló, giáo phái mới đang thai nghén, hình thành, bởi ngay bây giờ đã nhen nhúm nhiều chủ trương trái ngược với giáo lý công giáo, khởi đi từ cách mạc khải hoàn toàn không phù hợp với đức tin tông truyền, khi cho rằng Chúa Cha đã chọn một người và trực tiếp mạc khải bằng đẩy tay người ấy viết lên điều mình muốn, một điều chưa từng có trong lịch sử các tôn giáo, vì ngay cả đại tiên tri Môhamét của Hồi Giáo, dù tự hào được Đức Alla mạc khải, nhưng cũng chỉ được mạc khải qua trung gian tổng lãnh thiên thần Gabrien, chứ không ai đã được chính Chúa Cha trực tiếp trả lời từng câu hỏi, dù là những câu hỏi thuộc phạm vi sinh hoạt đời sống thường ngày.

Hy vọng hiệp nhất còn mong manh hơn, khi hiện tượng thai thánh, nghiã là phụ nữ không quan hệ với người nam mà vẫn có thai đã trở thành một vấn đề  khó có thể chấp nhận được, không  chỉ trong phạm vi giáo lý đức tin, mà còn ở quy luật tự nhiên, bởi trong Kinh Thánh, ngoài Đức Maria là người trinh nữ duy nhất đã có thai Đức Giêsu do quyền phép Chúa Thánh Thần, không một người thứ hai đã được sinh ra ngoài quan hệ nam nữ, vì đó là luật tự nhiên. Thực vậy, Thiên Chúa chỉ can thiệp cho vợ chồng son sẻ hay đã luống tuổi, như trường hợp vợ chồng Ápraham - Xara đã sinh Ixaác, dù mang tiếng son sẻ, hay vợ chồng Dacaria - Êlisabét đã sinh Gioan Tiền Hô ở tuổi già.

Đó là chưa nói đến mục đích của việc thai thánh, bởi Thiên Chúa không thể phá bỏ luật tự nhiên do chính Ngài thiết lập khi cho một số phụ nữ  không quan hệ với nam nhân do được đặt tay cầu nguyện đã có thai và sinh con mà không nhắm một mục đích cứu rỗi nào.

Qủa thực, chỉ nguyên một sự kiện thai thánh thôi đã chạm đến mầu nhiệm thụ thai do quyền phép Chúa Thánh Thần của Đức Maria trong nhiệm cuộc Nhập Thể, người mà Thiên Chúa đã gìn giữ cách đặc biệt và chọn làm Mẹ Thiên Chúa do quyền phép của mình khi  cho một trinh nữ thụ thai và sinh con trai.

Tóm lại, là người công giáo, là con cái trong gia đình Giáo Hội, là chi thể trong Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô, chúng ta không có lý do thờ ơ, bàng quan, hờ hững, vô cảm trước những gì đang xẩy ra trong giáo phận Đà Lạt, bởi không có chia rẽ trong thân thể, trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung (1 Cr 12,25-26).

Vì thế, chúng ta có bổn phận chia sẻ nỗi đau của toàn thể Giáo Hội, nỗi lo của Đức Cha Đaminh, Đấng Bản Quyền, nỗi khổ của qúy cha, qúy anh chị ở Nhà Chúa Cha Bảo Lộc bằng cầu xin cho mọi người tìm về và sống Đức Mến, bởi chỉ với Đức Mến, chúng ta mới nhận ra mình và nhận ra nhau, để khiêm tốn hoà giải, và qủa cảm tìm về hiệp nhất với nhau trong Chúa bởi Đức Mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm đều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức Mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả (1Cr 13,4-7), và trong Đức Mến, chúng ta yêu thương nhau, để Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, và tình yêu của Người nơi chúng ta được nên hoàn hảo (1 Ga 4,10).

Với niềm tin tưởng Đức Mến không bao giờ mất được (1Cr 13,8), chúng con xin ký thác tất cả cho Chúa và nhờ đức tin của Giáo Hội, chúng con xin Chúa đừng để chúng con mất nhau, cũng đừng để ai trong trong chúng con mất Chúa, xa khỏi  Giáo Hội là mái ấm hạnh phúc, quê hương đời đời, nhà của Thiên Chúa giữa nhân loại.

Jorathe Nắng Tím