Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 5 tháng 9, 2019

“BỎ MỌI SỰ, VÁC THẬP GIÁ MÀ ĐI THEO TÔI” (Lc 14,27)

                        Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 23 Thường Niên, Năm C
Chắc trên thế gian này không có ai như Đức Giêsu : vừa mới bắt đầu sứ vụ truyền giáo, giới thiệu đạo, và khởi sự muà thu nạp môn đệ thay vì mị dân, dùng lời ngon ngọt, “có cánh” để thu hút “fan” hâm mộ, đã không ngại nói với đám đông đang đi theo mình : “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi”  (Lc 14,26-27). 
Đòi hỏi thật khó và điều kiện được nhận làm môn đệ qúa gắt gao đã làm nản những cõi lòng phấn khởi, làm chùn những bàn chân thoăn thoắt, nhún nhẩy hân hoan buổi đầu gặp gỡ. Đức Giêsu qủa thực đã làm nhiều người thất vọng, vì không ngờ theo Ngài vất vả, và phải trả giá mắc đến thế, với danh sách dài những giá trị phải từ bỏ mà Ngài huỵch toẹt, không úp mở kê ra trước “bàn dân thiên hạ”.
Và để thực hiện cuộc từ bỏ rướm máu này, Đức Giêsu đề nghị người muốn theo Ngài phải làm những việc sau đây :
1.   Sử dụng tự do khi chọn lựa :
Trong cuộc lựa chọn này, Đức Giêsu hoàn toàn tôn trọng tự do của mỗi nguời, vì thiếu tự do sẽ không có chọn lựa, mà không chọn lựa thì hành vi của chúng ta không mang một giá trị nào. Hành động “đi theo, đến với”  Thiên Chúa là việc làm của ý chí tự do, và ý chí đó được lý trí mời gọi suy xét, phân định kỹ càng trước khi quyết định, để không như người xây tháp, hay như vị vua kia, vì thiếu suy nghĩ, tính toán hơn thiệt  đã ê chề thất bại, và nhục nhã cầu hoà (x. Lc 14,28-32). Vì thế, Đức Giêsu mời những ai muốn đi theo Ngài phải đi với tinh thần tự nguyện, đi trong tự do.
2.   Phân định để thấy thang giá trị đích thực khi chọn lựa :
Người ta chỉ chọn khi do dự giữa hai hay nhiều giá trị, chỉ lựa khi phải bỏ giá trị này, lấy giá trị kia, bởi nếu không có những giá trị cùng lúc hiện diện, chúng ta không cần đến khả năng chọn lựa.
Khi nói chúng ta phải chọn hoặc cha mẹ, vợ con, anh chị em, mạng sống mình, hoặc cuộc đời làm môn đệ đi theo Ngài, Đức Giêsu đã không phủ nhận giá trị của những người thân yêu, và bản thân, mạng sống chúng ta, vì những giá trị này đều do chính Thiên Chúa ban tặng khi cho chúng ta vào đời làm người. Vì là quà tặng, hồng ân từ tay Thiên Chúa, nên không có lý do gì Thiên Chúa lại hủy bỏ những giá trị ấy, nếu không có một lý do khác rất mạnh.
Lý do rất mạnh đó, chính là Thiên Chúa mới là giá trị tuyệt đối, là nguyên lý của tất cả những giá trị tương đối mà chúng ta “đang có” như cha mẹ, vợ con, anh chị em, và “đang là” như mạng sống của chúng ta. Khi mời gọi chúng ta chọn lựa, Thiên Chúa muốn chúng ta nhận ra thang giá trị, mà trên đó, Thiên Chúa là giá trị tuyệt đối, nguồn phát sinh của mọi giá trị khác.
Khi nói đến tương đối, chúng ta hiểu rằng những giá trị tương đối không thể đáp ứng những khao khát tuyệt đối, cũng không thoả mãn ước vọng đi đến Tuyệt Đối luôn tiềm tàng trong mỗi người, và chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối với hiện hữu tuyêt đối, tình yêu tuyệt đối, hạnh phúc tuyệt đối mới cho chúng ta được thoả lòng.     
Vì thế, khi đi theo Đức Giêsu để làm môn đệ Ngài, chúng ta được nhắc nhở để nhận biết Thiên Chúa là Giá Trị tuyệt đối, vượt xa tất cả những giá trị tương đối khác, nên Ngài phải chiếm ưu tiên thứ nhất trong chọn lựa của ta, và tất cả các giá trị khác phải được tan biến trong Ngài, tùy thuộc vào Ngài, vì tất cả đều quy chiếu vào Ngài, bởi từ Ngài mà có.
Điều này cho phép chúng ta hiểu rằng : Thiên Chúa không bắt chúng ta từ bỏ theo nghiã bỏ rơi, bỏ liều, bỏ bê cha mẹ già, vợ dại con thơ, anh chị em thân thương trong gia đình, nhưng muốn chúng ta phải đặt Thiên Chúa lên trên tất cả các giá trị ấy trong chọn lựa của mình.
3.   Thánh Ý Thiên Chúa là điều chúng ta phải chọn :
Khi mời gọi người môn đệ bỏ mọi sự, bỏ cả mạng sống, và vác thập giá mình, Đức Giêsu đặt người môn đệ trước đòi hỏi vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Đây mới thực là cốt lõi của vấn đề và mới thực là điều Thiên Chúa mong đợi ở người môn đệ, bởi bỏ mọi sự mà không vì muốn theo thánh ý Chúa, quên cả cha mẹ, anh chị em mà không vì vâng phục ý muốn của Thiên Chúa, xoá cả mạng sống mình mà không vì muốn làm như Thiên Chúa muốn, chấp nhận mọi hy sinh mà không vì yêu mến Thiên Chúa, thì tất cả các từ bỏ đó, kể cả từ bỏ mình, khi vất vả vác thập giá mình cũng đều vô ích, vô nghiã.
Sở dĩ người môn đệ phải sẵn sàng từ bỏ tất cả, kể cả những người thân yêu nhất, và chính bản thân mình, vì không phải lúc nào ý riêng của bản thân và ý của những người thân yêu cũng luôn phù hợp và thuận theo thánh ý Thiên Chúa. Trong những trường hợp ý riêng đi ngược ý Thiên Chúa, ý cha mẹ, vợ con, anh chị em nghịch chiều ý muốn của Thiên Chúa, thì người môn đệ trung tín phải từ bỏ ý mình và ý người phàm, dù người ấy có thân thương, yêu qúy đến đâu để tuân theo và thực hiện thánh ý của một mình Thiên Chúa.
Ý nghiã của từ bỏ là thế : từ bỏ ý riêng mình là thập giá rất nặng nề phải vác, ý của những người thân là ràng buộc không dễ gỡ, và thường phải quay quắt, đớn đau lắm mới gỡ được, và những ý này luôn có khuynh hướng ngăn cản bước tiến của người môn đệ trên đường theo Đức Giêsu. Chính vì thế, Đức Giêsu không ngừng nhắc nhở người môn đệ tinh thần từ bỏ với điểm nhấn đôi khi rất gắt gao, quyết liệt : “Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết. Còn anh, hãy đi theo tôi loan báo Nước Thiên Chúa” (Lc 9,60), vì “Ai đã tra tay cầm cầy mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa” (Lc 9,62).  
Như thế, thánh ý Thiên Chúa là giá trị cao nhất mà người môn đệ phải chọn và thực hiện, khi có giằng co với các giá trị khác. Đọc lịch sử Giáo Hội Việt Nam, đã có những nhà truyền giáo tây phương bỏ cha mẹ, anh chị em, quê hương, tương lai sáng lạn xuống tầu vượt đại dương đến một nơi không hề biết, sống với những người không cùng màu da, tiếng nói, văn hoá, phong tục, chỉ vì vâng theo thánh ý Thiên Chúa lên đường thi hành sứ vụ  của người được sai đi.
Vâng, thánh ý Thiên Chúa mới là đối tượng chọn lựa của người môn đệ, và trong mọi tình huống, người môn đệ không thể đặt bất cứ giá trị nào khác lên trên thánh ý Thiên Chúa, là giá trị tuyệt đối, và lẽ sống của người được gọi đi theo Đức Giêsu. Nói cách khác, người môn đệ là người hoàn toàn thuộc về Chúa và thực hiện thánh ý Chúa chính là hạnh phúc tuyệt vời của đời họ. Thiếu lòng yêu mến Thánh Ý, người môn đệ đánh mất căn tính “thuộc về Đức Giêsu”, và không xứng đáng là môn đệ của Ngài.
       
4.   Chọn thánh ý Thiên Chúa là chọn phần tốt nhất :
Khi nói : “Ai muốn đi theo tôi, hãy bỏ mọi sự, vác thập giá mình mà theo tôi”, Đức Giêsu đã chỉ cho các môn đệ và tất cả những ai muốn đi với Ngài phần tốt nhất, giá trị cao nhất, hạnh phúc lớn nhất, và phần thưởng đời đời phải chọn. Bằng chứng là khi tông đồ Phêrô lên tiếng than thở : “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ hết mọi sự mà đi theo Thầy” (Lc 18,28), với ý muốn biết các ông sẽ được gì, khi đã bỏ mọi sự mà đi theo Chúa ? Đức Giêsu đã khẳng định : “Thầy bảo thật anh em : chẳng hề có ai bỏ nhà, bỏ vợ, anh em, cha mẹ hay con cái vì Nước Thiên Chúa, mà lại không được gấp bội ở đời này và sự sống vĩnh cửu ở đời sau” (Lc 18,29-30). Ngài còn nhấn mạnh : “Thầy bảo thật anh em : anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mưới hai chi họ Ítraen” (Mt 19,28).
Như thế, chọn Thiên Chúa và thánh ý của Ngài không phải là lựa chọn của kẻ ngu muội, khi chọn cho mình phần ít oi, xấu xí, tồi tàn, kém cỏi, thua thiệt, nhưng là chọn lựa của người khôn ngoan, biết chọn phần tốt nhất, chọn giá trị cao cả nhất, chọn hạnh phúc lớn nhất, vì Thiên Chúa là Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối và Ngài hằng yêu thương, quan phòng, chăm sóc những ai yêu mến, chọn thánh ý Ngài làm lẽ sống và đi theo Ngài.
Xin Chúa ban cho chúng ta tình yêu nồng nàn, để có thể từ bỏ tất cả, để thánh ý Chúa được thể hiện trên chúng ta trong suốt cuộc sống trần gian này.  
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 3 tháng 9, 2019

ĐỨC MARIA, NGƯỜI KITÔ HỮU TUYỆT VỜI

                             ĐỨC MARIA,  NGƯỜI KITÔ HỮU TUYỆT VỜI
                                    (Mừng kính Sinh Nhật Đức Mẹ - 8 tháng 9)
Người Kitô hữu, tức người có Chúa Kitô, người thuộc về Chúa Kitô,người đi theo và phụng sự Chúa Kitô, nói tắt là người môn đệ của Đức Kitô. Trên hành trình đi theo Đức Kitô, người môn đệ đã gặp gỡ nhiều anh em môn đệ khác. Họ cũng là những người được Đức Kitô yêu thương, kêu gọi, huấn luyện và sai đi. Trong số những người tín hữu này, khuôn mặt của người tín hữu có tên Maria, mẹ Đức Kitô là tuyệt vời, và nổi bật hơn cả.
1.   Đức Maria là người Kitô hữu tuyệt vời vì  tin Thiên Chúa là  Đấng Cứu Độ :
Nhiều người chọn niềm tin ở Đấng mình sợ, ở vị thần làm mình rụng rời kinh hãi, ở thiên chúa lăm le trừng phạt. Cũng có người gắn bó niềm tin vào thần thánh mình không biết tên, vào thiên chúa chưa hề mặc khải, nói về mình bao giờ. Vì thế, không phải tôn giáo nào cũng cùng một niềm tin, vì có nhiều niềm tin khác nhau, có khi đối nghịch nhau làm nên nhiều tôn giáo khác nhau.    
Đức Maria đã chọn tôn giáo và sống niềm tin ở một Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ. Thiên Chúa của Đức Maria không là thiên chúa xa lạ, nghiêm khắc, vô cảm, nhưng Thiên Chúa giầu lòng thương xót, gần gũi, hay chạnh lòng. Chính vì hay thương xót, Thiên Chúa của Đức Maria mới có thể là Thiên Chúa Cứu Độ, Thiên Chúa cứu giúp, Thiên Chúa che chở, độ trì con người yếu đuối, thiếu thốn, khốn khổ. Chính vì gần gũi, Thiên Chúa của Đức Maria mới nghe được tiếng dân Ngài, hiểu được nỗi thống khổ của dân Ngài đang rên xiết dưới ách thống trị của Pharaô Ai cập (x. Xh 3,7) ; chính vì hay chạnh lòng thương cảm, Thiên Chúa của Đức Maria mới xuống thế làm người để gánh tội của con người để ban lại cho con người quyền và vinh dự làm con Thiên Chúa cũng như hạnh phúc đời đời con người đã đánh mất vì phạm tội.
Trước một Thiên Chúa là Đấng nhân hậu, bao dung, người tín hữu Maria đã chọn đúng chỗ của thụ tạo trước Đấng Chủ Tạo, chọn đúng vị thế con người cần được  xót thương, tha thứ, xoá tội trước Đấng Cứu Độ ; và chọn đúng tâm tình “hớn hở, vui mừng” của người con vô cùng diễm phúc được Thiên Chúa, Cha của mình thương yêu, chiều chuộng . Và Mẹ đã cất lên tiếng lòng tràn đầy niềm vui, hạnh phúc được cứu độ :
“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1,46-48).
Qủa thực, không có tôn giáo nào có được gặp gỡ tuyệt vời giữa Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót và con người cần được xót thương, cứu độ, như Đức Maria đã chọn cho mình, khi  Mẹ “hớn hở mừng vui mừng” hát lên Kinh Ngợi Khen, vì biết mình  là người diễm phúc, vì được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ.
Người Kitô hữu tuyệt vời có tên Maria ấy đã cho chúng ta biết đức tin của Kitô giáo là gì và phải đặt nền móng ở đâu ? Thưa, đức tin ấy có đối tượng là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ, và nền móng của đức tin ấy chính là Thiên Chúa giầu lòng xót thương đã chỉ biết yêu thương và muốn cứu độ hết mọi người đang cần được Ngài xót thương, cứu chuộc.
Như Đức Maria, niềm tin của người Kitô hữu hôm nay cũng không thể ra ngoài cuộc gặp gỡ thần diệu giữa Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ vô cùng bao dung, nhân hậu và con người khiêm tốn biết mình tội lụy, luôn cần lòng thương xót. Chính vì được gặp gỡ Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ giầu lòng xót thương, mà con người được hạnh phúc. Do đó, sẽ không là người Kitô hữu, nếu không tin Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ, bởi Thiên Chúa Đấng Cứu Độ mới là Thiên Chúa chúng ta tìm đến, mới là Thiên Chúa của Đức Giêsu đã giới thiệu và làm chứng, mới là Thiên Chúa của Đức Giêsu, chứ không chỉ là Thiên Chúa toàn năng, Thiên Chúa hằng hữu, Thiên Chúa thông biết mọi sự, Thiên Chúa chính trực, công bình…  như  một số tôn giáo khác cũng tôn thờ Thiên Chúa chủ trương.   
Tin Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ đã đành, ngườI Kitô hữu còn phải sống đường lối của Thiên Chúa. Nhưng  đâu là đường, là lối của Thiên Chúa  Cứu Độ ?
Vì niềm tin Kitô hệ tại ở việc nhận biết Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ toàn năng nhưng rất nhân hậu, và con người tuy bất xứng nhưng được Thiên Chúa xót thương, cứu chữa, nên con đường Thiên Chúa muốn con người đi, lối ngõ Thiên Chúa muốn con người từng ngày tiến bước, chính là lòng khiêm tốn của thụ tạo trước Thiên Chúa Chủ Tạo, tình con thơ, bé bỏng, và thái độ phó thác, trông cậy đối với cha toàn năng và nhân lành. Và tất nhiên, con đường Thiên Chúa muốn người tín hữu phải đi không là con đường kiêu căng “muốn bằng Thiên Chúa” mà các thiên thần phản nghịch đã chọn, lối ngõ “muốn biết mọi sự Thiên Chúa biết” mà nguyên tổ Ađam, Evà đã đi, vì cả hai đều đã dẫn đến bất tuân phục, chống lại Thiên Chúa, và hậu qủa là tai ương, bất hạnh và sự chết đổ trên các thiên thần kiêu hãnh và loài người kiêu căng. Cũng  vì chọn con đường kiêu căng, và từ chối con đường khiêm cung tín thác của Thiên Chúa, mà nguyên tổ chúng ta đã làm toàn thể nhân loại mất đi ơn huệ làm con Thiên Chúa, và đó là lý do Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người để chuộc lại những gì con người đã vì kiêu căng, phản nghịch làm mất.         
Trong kinh Tán Tụng Magnificat, Đức Maria, người Kitô hữu tuyệt vời đã tuyên xưng đường lối của Thiên Chúa bằng tất cả tâm tình của nữ tỳ khiêm tốn, vâng phục :
“Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn ! Đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người. Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giầu có lại đuổi về tay trắng” (Lc 1, 49-53).    
Và đường lối “chống lại kẻ kiêu căng, và thi ân cho người khiêm nhường” chính là đường lối đời đời của Thiên Chúa, như lịch sử đã làm chứng và Đức Maria đã tuyên xưng : “Đời nọ đến đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người” (Lc 1, 50).
Kính sợ ai  không chỉ là khiêm tốn chân nhận người ấy vượt trội hơn mình, mà còn biết ơn người ấy đã thương mình và lo cho mình nữa, nên sợ ở đây không có nghiã “sợ hãi, sợ sệt”, nhưng là kính mến, kính yêu, kính trọng, tôn kính. Kính sợ của Đức Maria trong Kinh Tán Tụng là tôn trọng trong yêu mến, tín thác, biết ơn, như con kính sợ cha vì tình yêu của cha hơn vì cha nghiêm khắc, sợ làm cha buồn lòng, hơn sợ cha nổi nóng.
Vâng, để trở thành người Kitô hữu đích thực, đích danh, chúng ta cũng phải noi gương Đức Maria, người tín hữu đầu tiên và tuyệt vời, vì trước mọi người, Mẹ đã có Đức Giêsu ngay trong cung lòng Mẹ, để như Mẹ sống Khiêm Nhường là con đường Thiên Chúa chọn để đến với con người, như thánh Phaolô đã khẳng định với tín hữu cộng đoàn Philípphê : “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2, 6-8), và cũng là con đường Thiên Chúa muốn mọi người Kitô hữu đi trên đó, nếu muốn gặp Ngài : “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thập giá mình mà theo » (Mt 14,24). Và để có thể vác thánh giá, chúng ta không thể không học bài học căn bản mà chính Đức Giêsu đã dậy các tông đồ và tất cả những ai muốn đi theo Ngài : “Anh em hãy học với Thầy, vì Thầy hiền lành và khiêm nhường tận đáy lòng” (Mt 11,29).
Thực vậy, phải khiêm tốn, người tín hữu mới đủ nhẫn nhục và qủa cảm để yêu thương, tha thứ và cầu nguyện cho kẻ thù  như  Đức Giêsu dậy (x. Mt 5,43-45) ; phải hiền lành, người môn đệ Đức Giêsu mới có thể để người ta vả cả má bên trái, sau khi đã tát má bên phải (x. Mt 5,38-39) như Giới Luật mới đòi hỏi, phải hiền lành và khiêm tốn, người Kitô hữu mới có thể bình an khi người ta vu oan, giáng họa, đối xử bất công, như Hiến Chương Nước Trời mời gọi (x. Mt 5, 11), phải hiền lành và khiêm nhường, người tự nhậ mình “có đạo Thiên Chúa” mới có thể cầu nguyện nơi kín đáo, mà không khoe khoang công trạng (x. Mt 5,6) cho mọi người, bất luận tốt xấu, vì Thiên Chúa là “Cha trên trời cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45).       
3.   Đức Maria là người Kitô hữu tuyệt vời, vì gắn bó với truyền thống đức tin của cha ông và đồng hành với Dân Chúa, quê hương, dân tộc mình :
Đức Maria không tin một mình đơn độc, không độc quyền sống đường hướng Thiên Chúa chỉ bảo, nhưng tin với niềm tin của cha ông, bước đi trên hành trình đức tin với truyền thống đức tin của cha ông, đồng thời sống niềm tin với tâm tình, thao thức, khắc khoải, ước mơ và nỗ lực phấn đấu của cả dân tộc, nòi giống, và cùng mọi người được Thiên Chúa kêu gọi bước chung trên hành trình của Lời Hứa.
Dân tộc Israel là dân được Thiên Chúa chọn làm dân riêng của Ngài để Ngài thực hiện công cuộc cứu độ nhân loại. Dân riêng ấy được khai sinh từ Lời Hứa, lớn lên và trưởng thành nhờ tin vào Lời Hứa của Thiên Chúa Giavê, và Lời Hứa ấy đã là điểm tựa, ngọn hải đăng cho từng bước chân lịch sử của cả dân tộc. Đức Maria cũng bước đi trên dòng lịch sử của cả dân tộc và lịch sử của đời mình với niềm tin sắt đá vào Lời Hứa của Thiên Chúa ấy, như bà Êlisabét, người chị họ đã thốt lên ca ngợi khi Đức Maria đến thăm bà: “Em thật có phúc, vì em đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45).  
Trong Kinh Magnificat, Đức Maria cũng đã minh định niềm tin cộng đồng, đức tin của cả Dân Chúa, và truyền thống tín thác vào Lời Hứa của cha ông khi Mẹ vừa hân hoan chúc tụng Chúa, vừa kể hồng ân Chúa đã ban cho Dân Ngài : “Chúa độ trì Ítraen, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Ápraham và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1, 54-55).
Như Đức Maria, người tín hữu công giáo Việt Nam  hôm nay không thể đi ngoài qũy đạo mà Đức Maria, người Kitô hữu tuyệt vời và gương mẫu lý tưởng đã đi : gắn bó với Giáo Hội để cùng Giáo Hội đồng hành với đất nước, dân tộc, cho dù đất nước ấy có tan hoang đến đâu, dân tộc ấy có băng hoại cỡ nào, thì đòi hỏi của đức tin vẫn thúc đẩy chúng ta ôm lấy mà thương yêu, băng bó, chữa lành, xây dựng ; cho dù hoàn cảnh đất nước có bi thương đến đâu,  dân tình, dân trí, dân sinh có  đáng chán chường, ngao ngán, não nề, tồi tệ đến cỡ nào, niềm tin Kitô như men, như muối, như ánh sáng muôn dân vẫn thôi thúc chúng ta  quên mình dấn thân, xóa mình phục vụ, vì chúng ta được gọi và sai đến từng thôn xóm, khu phố, tỉnh thành của mọi miền đất nước, và cho mọi người Việt Nam. Chính ở đây và lúc này, niềm tin Kitô của chúng ta cần được bén rễ, nẩy mầm và lớn lên, như niềm tin của Đức Maria, người Kitô hữu đầu tiên đã góp phần quan trọng làm trổ sinh Ơn Cứu Độ trên chính quê hương và dân tộc Ítraen của Mẹ.
Tóm lại, khi đi tìm một mẫu gương Kitô hữu lý tưởng, tức người Kitô hữu đẹp lòng Thiên Chúa và mưu ích cho mình và mọi người, chúng ta khó có thể bỏ quên khuôn mặt của Đức Maria, mẹ Đức Giêsu, người Kitô hữu đầu tiên và xứng đáng. Và những gì người tín hữu tuyệt vời Maria muốn hậu thế, giòng dõi, miêu duệ của mình noi theo, Mẹ đã diễn tả đầy đủ trong Kinh Tán Tụng – Magnificat. Đó là ba điểm nòng cốt  không thể thiếu :
·      Tin Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa Cứu Độ
·      Hiền lành, khiêm Tốn để đáng được Thiên Chúa xót thương
·      Gắn bó với Giáo Hội và truyền thống đức tin của Giáo Hội, để đồng hành và phục vụ quê hương, dân tộc, là vườn nho Chúa sai môn đệ vào làm, và đồng lúa Chúa sai  đến gặt.
Với tất cả tình yêu và niềm vui của đàn con đang quây quần bên Mẹ hiền, chúng con xin chúc mừng sinh nhật Mẹ Maria, Mẹ chúa Giêsu, Mẹ Giáo Hội, và Mẹ của mỗi người chúng con.
 Jorathe Nắng Tím  


Thứ Năm, 29 tháng 8, 2019

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 22, Thường Niên, Năm C. (Luca 14, 1.7-14)


    Hôm nay Đức Giêsu dạy chúng ta bài học ăn tiệc, bài học khôn ngoan để sống ở đời : “Khi anh được mời dự tiệc, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, và trồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng : ‘Xin ông nhường chỗ cho vị này’. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối.” (Lc 14,7 -9).
  Nếu tình huống “quê xệ” này xẩy đến cho ai đó trong chúng ta thì qủa thực chỉ còn nước độn thổ, chui xuống đất cho bớt quê. Đức Giêsu là một nhà sư phạm tuyệt vời đã dùng câu chuyện ăn tiệc mà ai cũng biết, chọn khung cảnh đám cưới mà ai cũng đã một lần dự để trình bày đòi hỏi của Tin Mừng Ngài loan báo, đó là khiêm tốn, xóa mình trong mọi hoàn cảnh để phục vụ hữu hiệu.
    Ngài dậy chúng ta khiêm tốn xoá mình trong mọi hoàn cảnh, khi nhắc nhở chúng ta không những đừng dại dột chọn chỗ cao nhất trong bàn tiệc khi được mời, kẻo chẳng may bị mời đứng dậy nhường chỗ cho người quyền qúy, quan trọng, thân thiết hơn đối với gia chủ, mà còn dậy chúng ta khiêm tốn xóa mình cả khi chúng ta thiết tiệc, chiêu đãi người khác nữa : “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, hay bà con, hoặc láng giềng giầu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc : vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại” (Lc 14,12-14).
     Thật không còn gì rõ hơn, minh bạch hơn ý Thiên Chúa muốn chúng ta khiêm tốn xóa mình hơn kiêu kỳ, khoe mình khi được mời ăn tiệc, cũng như khi thiết tiệc người khác. Và tinh thần khiêm tốn, xóa mình đó nhắm đến mục đích phục vụ những người anh em bé nhỏ, đau yếu, bị bỏ rơi là khách qúy của yến tiệc Nước Trời, là những người anh em đáng yêu của Thiên Chúa, và là chính Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã qủa quyết trong Tin Mừng Mátthêu, chương 25, khi nói về ngày chung thẩm : “Ta bảo thật, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Đó cũng  là lý do Đức Giêsu đề nghị chúng ta nghĩ đến những người thiếu may mắn, bị bỏ rơi, bất hạnh khi chúng ta mở tiệc.     
    Vâng, chỉ với tinh thần khiêm tốn xóa mình, chúng ta mới có thể phục vụ  người anh em bé nhỏ, hèn mọn như Chúa muốn, bởi kẻ kiêu căng chỉ nghĩ đến mình, nên muốn được mọi người phục vụ ; bởi kẻ kiêu căng chỉ tìm kiếm vinh quang mình, nên muốn mọi người lớn tiếng tuyên dương, nhiệt liệt ca ngợi. Nhưng Chúa không muốn chúng ta kiêu căng, tìm mình và bắt người khác phục vụ, nhưng Chúa chống lại kẻ kiêu căng, đạp đổ phường kiêu hãnh, và thi ân cho những ai hiền lành, khiêm nhường, biết xóa mình, quên mình để phụng sự Chúa trong những anh em hèn yếu, bé mọn.
   Xin Chúa nhắc nhớ chúng con nguyên tắc vàng của Tin Mừng : “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.” (Lc 14,11).
Jorathe Nắng Tím

PHONG TRÀO “GIẢI THÍCH” LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT


Sau những tháng ngày xôn xao, huyên náo, ồn ào với phong trào lòng Chúa thương xót, cộng đồng mạng lại khởi động ồn ào, huyên náo, xôn xao với một phong trào rất mới lạ, đó là phong trào “giải thích” lòng Chúa thương xót. Quan sát phong trào này, người ta nhận thấy hiện tượng giải thích lòng Chúa thương xót đã không theo một quy tắc, tiêu chuẩn nào có giá trị, mà hầu như đều theo cảm tính cá nhân và quan điểm, chọn lựa của phe nhóm. Nhiều người đưa ra nhiều nội dung giải thích lạ đến đáng ngại, và hậu qủa là nhiều người “bé nhỏ, hèn mọn” chập chững đi tìm Thiên Chúa của lòng thương xót lại một phen hoang mang, mất hướng. 
Người viết chỉ dám mạo muội chia sẻ chút suy tư.
Khi đề nghị cùng bạn đi tìm nội dung đích thực của giải thích đúng nhất, người viết không thể dựa vào bất cứ giải thích nào về lòng thương xót, ngoài giải thích của Tin Mừng, cũng như không thể quy chiếu vào bất cứ  nội dung lòng thương xót nào, ngoài nội dung của Lời Đức Giêsu nói với nhân loại về lòng thương xót của Thiên Chúa, Cha Ngài, vì chỉ một mình Ngài, Thiên Chúa làm người, là dung mạo đích thực của Chúa Cha, Thiên Chúa của Lòng Thương Xót, mới định nghiã và cắt nghiã chính xác thế nào là lòng thương xót, như mặc khải về chính mình.     
Trước hết, để tránh mất thời giờ và công sức đi loanh quanh tra cứu, tìm tòi, tham chiếu đó đây, chúng ta được Giáo Hội mời gọi tìm về Tin Mừng Luca, ở đó, thánh sử đã dành hẳn chương 15 mang tựa đề : “Ba dụ ngôn về lòng thương xót của Thiên Chúa”.
Chương 15 của Tin Mừng Luca với ba dụ ngôn về lòng thương xót do chính Đức Giêsu nói với nhiều người, trong đó có “các người thu thuế và các người tội lỗi đến nghe Người giảng” (Lc 15,1), “những người Pharisêu, và các kinh sư đang xầm xì với nhau” về chuyện Ngài “đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lc 15,2-3). Như thế, thính giả nghe Đức Giêsu nói về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa hôm đó gồm hai thành phần đối nghịch : một bên là những người tội lỗi tìm đến lòng thương xót vì biết mình cần được Thiên Chúa xót thương ; bên kia là những chức sắc cho mình là đạo đức, thánh thiện, hoàn hảo, không cần đến lòng thương xót đang xầm xì công kích lòng thương xót và thái độ tôn trọng, gần gũi, chân tình của Đức Giêsu dành cho những người bị họ coi là phường gian ác, tội lỗi.    
Dụ ngôn thứ nhất, Đức Giêsu cực tả lòng xót thương của Thiên Chúa khi Ngài là chủ chăn đích thân hối hả “đi tìm cho kỳ được” con chiên đi lạc, mà bỏ chín mươi chín con “ngoan ngoãn” ở lại, và khi tìm được con chiên lạc, Ngài vui mừng âu yếm  vác lên vai, lại hứng khởi mời mọi người : “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó” (Lc 15,6).
Dụ ngôn thứ hai cũng tương tự : người đàn bà có mười đồng quan, chẳng may đánh mất một đồng “đã thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được” (Lc 15,8), và khi tìm được, bà cũng xin mọi người chung vui với bà.
Trong cả hai dụ ngôn, con chiên và đồng quan đều bị lạc, bị mất, nhưng chiên lạc không tìm đường về, và đồng quan thì tất nhiên rớt đâu phải nằm yên đó, bởi không có chân, có cánh. Duy chỉ người chăn chiên mất chiên, người phụ nữ mất tiền đã hối hả  lên đường, vội vàng moi móc mọi ngõ ngách trong nhà để “tìm cho kỳ được” chiên đi lạc, đồng quan rơi mất.
Đối tượng của lòng thương xót ở đây xem ra có vẻ thụ động, chỉ chủ thể của lòng thương xót là Thiên Chúa mới hoạt động, chủ động đi tìm. Tuy thế, khi tìm được con chiên đi lạc “thụ động” không biết đường về, đồng quan bị rớt mất nằm yên một chỗ, Đức Giêsu vẫn công bố một tin mừng vô cùng lớn lao : “trên trời, ai nấy đều vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,7.10).
Như thế, ngay cả khi đối tượng của lòng thương xót chưa ý thức đủ sự cần thiết phải được Thiên Chúa thương xót cứu vớt, thì Thiên Chúa vẫn chủ động lên đường đi tìm họ, vì một lý do duy nhất, như chính Đức Giêsu đã khẳng định : “vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó” (Lc 15,6).
“Con chiên của tôi” nghe dễ thương, trìu mến, thiết tha ân tình, thổn thức, chạnh lòng làm sao ! “Con chiên của tôi” là hạnh phúc của Thiên Chúa khi nói đến con người, là niềm vui của Đấng Chủ Tạo khi nhớ về thụ tạo yêu dấu nhất do chính tình yêu mình tạo dựng. “Con chiên của tôi” cũng là niềm an ủi vô giá của con người, đảm bảo chắc chắn ơn cứu độ cho người tội lỗi, vì biết mình là con yêu của Thiên Chúa, được Thiên Chúa nhận và gọi là “con chiên của tôi”.
Vì là của tôi, nên tôi yêu thương, dấu ái ; vì là của tôi, nên tôi không chịu để mất, đi lạc ; vì là của tôi, nên tôi không muốn rời xa ; vì là của tôi, nên tôi chỉ muốn thông ban hạnh phúc ngập tràn. Và đó chính là đặc tính vô biên, vô điều kiện của lòng thương xót Chúa dành cho con người : đích thân đi tìm và đến với người tội lỗi trước, như Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” đã đích thân đi tìm và đến với nhân lọai trước khi nhân loại nhận biết Ngài là Đấng Cứu Độ, như Tin Mừng Gioan đã xác tín : “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,9-11). Và cho dù chưa nhận biết, Thiên Chúa vẫn yêu thương, và mở lối cho ơn cứu độ, vì với Thiên Chúa, mỗi con người đều là “con chiên của tôi, con chiên bị mất đó” (Lc 15,6).    
Nhưng với dụ ngôn thứ ba, dụ ngôn “người cha nhân hậu”, chúng ta thấy có nhiều điểm khác với hai dụ ngôn trên, và nhờ những điểm khác này, chúng ta hiểu sâu sa hơn thế nào là lòng thương xót của Thiên Chúa :
1.   Khởi điểm hành trình trở về của người con thứ hoang đàng là cảnh túng thiếu vật chất, và cơn đói của thân xác (Lc 15, 14-20)
Chúng ta đều biết, người cha có hai con trai. Cả hai đang sống hạnh phúc trong yêu thương và sung túc của Cha, thì bỗng dưng người con thứ xin cha chia gia tài và bỏ nhà đi hoang. “Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch tiền, thì xẩy ra trong vùng ấy một ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng ; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đồ ăn của heo mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ : ‘Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta “ở đây lại chết đói” (Lc 15, 14-17).
Như thế, anh chàng “phá gia chi tử” kia đã vì đói mà có ý định trở về nhà cha, vì sợ chết đói mà phải đứng lên trở về tổ ấm an toàn. Anh hoảng sợ vì đói de dọa sự sống của anh ; anh bàng hoàng vì đói dữ dội tấn công, ào ào xông tới như muốn lập tức nghiền nát, ăn tươi nuốt sống anh. Trước đây, anh không biết đói là gì, vì có bao giờ lâm cảnh túng thiếu để biết những cơn đau của ruột gan khi đói, để cảm nhận những quặn thắt của bao tử trống rỗng, để trải nghiệm cảnh chân tay run lẩy bẩy, đứng ngồi không vững, mắt cay sè, đầu óc chóang váng. Hôm nay biết đói, nên anh hiểu : đói là thiếu thốn vật chất, là khốn khổ của thân xác, là cơn đau khủng khiếp và nhục nhằn không thể tả của con người. Hôm nay đói, anh nhận ra :  đói là hình ảnh của nhu cầu thân xác không được đáp ứng ; đói sinh bệnh tật ; đói làm thân xác yếu nhược, tiều tụy ; đói làm suy sụp tinh thần, làm tiêu tan ý chí tiến thủ ; đói làm lu mờ lương tâm, làm người ta dễ mất nhân cách ; đói đẩy con người đến trộm cắp, lừa đảo, ăn gian nói dối. Nói chung, đói là tai hoạ của thân xác, là tình trạng khốn nạn của một con người không có điều kiện vật chất để sống như con người phải sống. Và anh rụng rời sợ hãi cái khốn nạn tột cùng của con người phải chết vì đói.  
Cũng chính vì rụng rời sợ hãi cái đói của thân xác đang đe doạ sự sống, mà anh đã quyết định lên đường trở về với cha mình. Hình ảnh hồi tâm và quyết định trở về từ khi lâm cảnh túng thiếu, phải đi ở đợ của người con thứ hoang đàng đã nói lên một sự thật rất thật, đó là không thiếu những người tội lỗi đã trở về với Thiên Chúa của lòng thương xót “do bởi” và “khởi đi từ” một tình cảnh đáng thương của thân xác như bệnh tật, nghèo túng, bị mất việc, vợ con nheo nhóc bữa đói bữa no, bị chủ nợ săn lùng đêm ngày, bị bồ đá, vợ bỏ, bị xã hội dồn vào đường cùng, ngõ bí…, và từ đó, họ đã gặp được Thiên Chúa của lòng xót thương ra đón họ ở đầu ngõ, trên đường họ trở về, để không chỉ cho họ được ăn no, được mặc áo mới, được đeo nhẫn đẹp, được thơm tho, duyên dáng, mà còn cho họ khám phá ra  tình cha nhân hậu của Thiên Chúa và hạnh phúc được làm con Thiên Chúa của họ, như người con hoang đàng đã nhận ra địa vị làm con vô cùng cao qúy của mình khi anh thưa với cha : “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, con chẳng còn đáng gọi là con cha nữa.” (Lc 15,21). Nhưng anh đã lầm, vì chưa bao giờ cha có ý lấy đi địa vị làm con của anh, dù anh đã làm đủ chuyện tồi tệ, xấu xa. Và hơn những gì anh mường tượng trước khi trở về, khi “anh còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để” (Lc 15,20)  
Cũng như người con thứ, rất nhiều người đã trở về từ hoàn cảnh thê lương, bết bát, ở đó không còn ai thông cảm, sẻ chia, không còn người thân, bạn bè nâng đỡ, an ủi đã chợt nhớ ra mình còn một nơi nương tựa, một chỗ náu thân, một tình yêu trung tín đến cùng, một Thiên Chúa là Cha nhân hậu và quyền năng vô cùng luôn thương nhớ và chờ đón bước chân con trở về với tình cha bao dung, thương xót.       
Vì thế, chúng ta hãy biết từ tâm để đặt mình vào cơn đau bàng hoàng, khủng khiếp của  người cha trẻ, của người mẹ  mới sinh con đầu lòng, của chàng sinh viên vừa tốt nghiệp trước tin sét đánh “ung thư giai đọan cuối” ; hãy nhân hậu để hiểu hơn những đau đớn kinh hoàng của thân xác sau những cơn ho cháy phổi, những sáng sớm “xất bất xang bang” chạy tiền “tạm ứng” cho bệnh viện để cứu đứa con tám tuổi bị tai nạn giao thông trên đường đi học, những té ngã, ngất xỉu vì bất lực trước cái chết gần kề của đứa con duy nhất trong cơn bạo bệnh ; hãy tập biết chạnh lòng thương cảm nỗi nhục bẽ bàng khi người mẹ góa bụa nghèo khó bị chủ nợ cầm cây rượt đánh giữa chợ, để đừng bắt ai phải đến với Thiên Chúa của lòng thương xót với một “lý trí tượng đồng”, trong một thân xác vô cảm để chỉ xin Chúa một điều duy nhất là “vác thánh giá cho nên”, mà không được khóc lóc van xin Ngài chữa lành bệnh tật, không được sấp mình năn nỉ xin Ngài cứu sống, không được thút thít khẩn khoản Ngài ban cho một bàn tay ân nhân giúp đỡ, bởi ngoài Thiên Chúa, trong cơn khốn quẫn đe doạ sự sống của thân xác, họ biết chạy đến ai có thể cứu họ, biết tìm ai thắp sáng ngọn nến hy vọng được cứu sống ?  
Nếu người con hoang đàng đã vì sắp chết đói mà trở về, và đã nhận ra tình xót thương vô bờ bến của cha mình, khi thấy cha chạy ra “ôm cổ anh mà hôn lấy hôn để”, thì rất nhiều người trong chúng ta cũng chỉ nhận ra tình thương và lòng bao dung, nhân hậu của Thiên Chúa, sau khi đã chạy đến nài xin Ngài chữa bệnh thân xác, và khẩn khoản Ngài cứu khỏi những hoàn cảnh bế tắc, éo le, nghiệt ngã của đời thường.  Nếu vì  khốn cùng, khốn quẫn, khốn nạn phần xác mà ta  chạy đến với lòng  thương xót, thì cũng từ bước đầu với lời cầu xin các ơn phần xác này, Thiên Chúa sẽ cho ta nhận ra ơn làm con cái Ngài, là hạnh phúc thiêng liêng, đích thực của đời chúng ta, như bao nhiêu người trong Tin Mừng đã nhận ra ơn làm con Thiên Chúa sau khi đã được Đức Giêsu chữa các bệnh tật trên thân xác. Đàng khác, chúng ta làm người có hồn có xác, như Đức Giêsu xuống thế  làm người có xác có hồn, nên ngượng ngùng, ngần ngại xin Chúa ban ơn phần xác, hay khó chịu khi thấy người khác chạy đến lòng thương xót để xin ơn chữa lành bệnh tật phần xác thiết tưởng là điều không hợp lý chút nào ; chưa kể Thiên Chúa muốn chúng ta đến với Ngài với tất cả thiếu thốn của con người toàn diện, toàn phần ; như con thơ đến với mẹ hiền, như tội nhân với linh hồn loang lổ và thân xác te tua đến với Đấng Cứu Độ, nên chẳng có gì được coi là cấm kỵ, chẳng có yếu đuối, tật nguyền  hồn xác nào bị coi là không được phép thân thưa, hoặc cấm không được nài xin Ngài thi ân giáng phúc, băng bó, chữa lành.
Thực vậy, có ở vào hoàn cảnh khốn khó, khốn khổ, bị mọi người khinh bỉ, xa lánh của người bị phong hủi, chúng ta mới thông cảm sự liều lĩnh khi anh bất chấp đám đông chạy lại sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà nài xin : “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch” (Lc 5,12) ; có thương cảm cảnh tù túng, và mặc cảm lệ thuộc, làm phiền mọi người của người bị bại liệt lâu năm nằm trên giường, chúng ta mới hiểu tại sao người nhà của anh vì thương anh đã dám liều dỡ ngói trên mái nhà để “thả người ấy cùng với cái giường xuống ngay chính giữa, trước mặt Đức Giêsu” (Lc 5,21) để được Ngài cứu chữa, vì qúa đông người, không tìm được lối đem người ấy vào ; có bị ung thư, viêm gan, sưng phổi, đái tháo đường, huyết áp cao, tay chân run rẩy, nhồi máu cơ tim, nhiễm HIV, chúng ta mới hiểu niềm hy vọng của những người  đau yếu, mắc đủ thứ bệnh, mặc dù mặt trời đã lặn, mà vẫn nườm nượp tìm đến Đức Giêsu để xin Ngài đặt tay chữa lành (x. Lc 4,40), và mới lý giải được hiện tượng “đám đông lũ lượt tuôn đến để nghe Người và để được Người chữa bệnh” (Lc 515) ; có mắc bệnh nan y lâu năm, đi đủ thầy, chạy đủ thuốc mà vẫn không thuyên giảm như người đàn bà bị băng huyết suốt mười hai năm và không ai có thể chữa được, chúng ta mới hiểu được lòng tin đơn sơ nhưng sắt đá của bà, khi “bà tiến về phiá sau Đức Giêsu và sờ vào tua áo của Ngài”. Bà tưởng không ai biết, nhưng chính Đức Giêsu phát hiện có người đã sờ vào áo Ngài với niềm tin rất mạnh, khi Ngài nói : “Có người đã đụng vào Thầy, vì Thầy biết có một năng lực tự nơi Thầy phát ra” (Lc 8,46), và bà đã được chữa lành với lời khen của Đấng đã thương xót chữa bà khỏi bệnh: “Lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy đi bình an” (Lc 8,48) ; có ở vào hoàn cảnh của người cha chỉ có một đứa con duy nhất, thế mà cháu lại bị kinh phong, bị ma qủy nhập vào hành hạ, vật lên vật xuống, đến nhừ tử, sùi cả bọt mép (x. Lc 9, 38-39), chúng ta mới cảm được nỗi lòng của người cha bất chấp đám đông len lỏi đến trước mặt Đức Giêsu và  thảng thốt kêu lên : “Lạy Thầy, tôi xin Thầy đoái nhìn đứa con trai tôi, vì tôi chỉ có một mình cháu” (Lc 9,38).
Vì thế, chúng ta không nên lên án những người đến xin Chúa ơn chữa lành bệnh thân xác là những người mê tín, không có đức tin, không hiểu lòng thương xót, hoặc làm sai lạc lòng thương xót Chúa. Chúng ta cũng đừng quên, ngày phán xét, Thiên Chúa sẽ kể ra một danh sách những khốn nạn, khốn khổ trên thân xác của con người như “đói khát, trần truồng, đau yếu, ngồi tù …” và hỏi mỗi người chúng ta về những gì chúng ta đã làm cho những người anh em  mang những vết thương đau đớn trên thân xác này (x. Mt 25,31-46). Và một điều rất quan trọng là tất cả những người nhận được ơn chữa lành phần xác đều đã nhận ra Đức Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, và qua ơn chữa lành bệnh tật phần xác, “mọi người đều kinh ngạc  trước quyền năng cao cả của Thiên Chúa” (Lc 9,43), và “tôn vinh Thiên Chúa” (Lc 13,13).
2.   Đích tới của hành trình trở về là nhận ra Cha mình giầu có, nhân hậu, bao la  lòng thương xót (Lc 15, 20-24) :  
Hành trình sống lòng thương xót của Thiên Chúa phải hướng chúng ta đến mục tiêu : nhận ra Thiên Chúa là Cha nhân hậu, giầu lòng thương xót. Đây là điều chúng ta không được sao nhãng, bỏ quên.  
Trong dụ ngôn “người cha nhân hậu”, người con thứ đã không nhận ra mình có một người cha nhân hậu, nên đã cảm thấy mái ấm là nhà tù, nhà cha là địa ngục, tình cha là xiềng xích trói buộc. Vì thế, anh đã đòi chia gia tài và bỏ cha, bỏ nhà đi hoang. Bởi không nhận ra cha mình là người cha tuyệt vời và tháng ngày ở bên cha, trong nhà cha, dưới bóng cha là hạnh phúc vô cùng lớn, nên anh đã lạnh lùng yêu cầu cha chia của, và ngang nhiên bỏ nhà đi (Lc 15,11-13). Rồi suốt năm tháng đi hoang, anh đã không một lần nghĩ đến cha, cho đến khi túng quẫn, thiếu thốn cùng cực, phải ở đợ nhục nhã, và đói rã họng, đến cám heo mà không được ăn no, anh mới nảy sinh ý định trở về để khỏi chết đói. Anh trở về  hoàn toàn không vì nhớ thương cha già ở quê nhà vò võ ra đầu làng mỗi chiều ngóng tin anh, nhưng trở về để được ăn no như “những  người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa” (Lc 15,17), và chỉ khi thấy cha già tiều tụy, mắt ngấn lệ vui mừng vì “con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,24), đã “chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh và hôn lấy hôn để” khi anh  còn ở đằng xa (Lc 15,20), thì người con thứ hoang đàng mới chợt tỉnh cơn mê “hoang đàng, bất hiếu”, mà nhận ra mình là con của một người cha rất bao dung, nhân hậu, và khám phá ra hạnh phúc được làm con của người cha “trên cả tuyệt vời” này.
Anh con trai thứ đã đứng lên từ khởi điểm của thiếu thốn vật chất, đã lên đường trở về từ  khốn nạn của một thân xác đói rách, tiều tụy, bệ rạc, và đã đạt được mục tiêu của đường về là nhận ra mình là người con được thương xót, thứ tha, được phục hồi quyền làm con, được chung phần gia nghiệp và hạnh phúc của cha khi được cha ôm chặt và “hôn lấy hôn để”. Như thế, anh đã thành công vì đã nhận ra tình cha bao la, ơn cha hải hà, và hạnh phúc tuyệt vời được làm con cha, và từ nay mãi mãi ở trong nhà cha.
Người con trai lớn, tuy không hoang đàng, nghiã là được tiếng rất ngoan và hiếu thảo, vì luôn ở bên cha, trong nhà cha, phụng dưỡng cha, nhưng có một điều rất lạ, mà không ai ngờ, đó là anh cũng như em trai, không nhận ra cha mình là người cha nhân hậu, cũng không cảm thấy hạnh phúc được làm con của cha. Bằng chứng là không rời cha một bước, không vắng cha một ngày, nhưng anh không biết tất cả những gì cha anh có là anh có, vì “tất cả những gì của cha đều là của con” (Lc 15, 31), như cha anh nói với anh, khi anh giận dỗi, tị nạnh : “Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con  hầu hạ cha,và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. Còn thằng con trai của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng !” (Lc 15,29-30).
Thế ra ở với cha bấy lâu, mà anh con trai cả vẫn không nhận ra cha mình nhân hậu ; sống sung túc trong cơ nghiệp có người ăn kẻ làm của cha, mà anh vẫn chưa nhận ra  sự giầu có, và lòng quảng đại của cha ; toàn quyền trên của cải trong nhà cha, mà anh vẫn tưởng mình bị o ép, xử tệ, hà hiếp bất công. Tóm lại, anh không thiếu ăn thiếu mặc như người em trai khi lâm cảnh túng thiếu, nhưng anh thiếu  điều rất quan trọng, thiếu đòi hỏi quan trọng nhất để được hạnh phúc, đó là nhận ra cha mình nhân hậu và hạnh phúc được làm con của cha. Sở dĩ anh tị nạnh, bực tức, giận dỗi bỏ ra ngoài, không thèm dự tiệc mừng “em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,32), như cha nói với anh bằng niềm vui vỡ toang trong trái tim đang mở hội của ông, là vì anh không nhận ra địa vị và vinh dự làm con của cha mình, một người cha tuyệt vời nhân hậu, giầu lòng thương xót con cái mình và càng không nhận ra người em tưởng đã chết nay sống lại, tưởng đã mất nay lại tìm thấy đích thực là em mình. Tính ích kỷ, lòng ganh ghét, ghen tuông đã đào hầm hồ, đặt chướng ngại trên đường về để đường về gặp gỡ cha và em của anh con cả mỗi ngày một xa hơn, và diệu vợi, trắc trở.   
Cuối cùng, cả hai anh em đều giống nhau vì không ai đã nhận ra cha mình tuyệt vời nhân hậu và hạnh phúc được làm con cha. Nếu người em đã bỏ phí thời gian ở bên cha, và bỏ nhà đi hoang vì không nhận ra cha mình nhân hậu, thì người anh cũng bỏ phí những năm tháng ở bên cha, ngay trong nhà  cha, được tình cha bao phủ đêm ngày, được ơn cha gìn giữ an toàn, không mảy may nguy hiểm, không một ngày đói rách, mà không hề  biết cha mình bao dung, nhân hậu, quảng đại, giầu có. Bi kịch của cả hai anh em là không biết gì về cha mình, không nhận ra cha mình, không nhận ra mình là con cha, nên cả hai đều chung nỗi bất hạnh, vì không đạt tới mục tiêu cuối cùng của hành trình đời người : nhận ra Thiên Chúa là Đấng từ bi, nhân hậu và chúng ta là con cái  được thương xót của Ngài. Cũng may là cả hai đã được lòng thương xót của Cha mở mắt ở cuối hành trình !
     Như thế, lòng thương xót chỉ được giải thích trong hướng nhìn của Đức Giêsu khi Ngài mặc khải cho người con thứ hoang đàng  dung mạo thương xót của Cha, và hạnh phúc được làm con Cha, khi anh trở về  xin được Cha chữa lành vết thương thân xác ; cũng như đánh thức  người con cả, tuy  được tiếng là con ngoan vì không đi hoang, phung phá, nhưng trái tim anh hoang vắng, vì đã không ấp ủ ơn cha hải hà ; trái tim anh lạnh lùng, vì không ăm ắp hình bóng cha yêu thương, nhân hậu ; trái tim anh ích kỷ chai đá, vì  thiếu nồng nàn, rạo rực tình cha bao dung, thương xót, và tình huynh đệ của con cái cùng một cha.
Để khép lại chia sẻ, chúng ta có thể nói : bất cứ giải thích nào về lòng thương xót Chúa không nhắm đến con người toàn diện, mà đòi “phân thây xẻ hồn” con người hầu biện minh cho quan điểm thuần lý trí nào đó sẽ vấp phải duy nhất tính của con người là hữu thể gồm hồn và xác, như Đức Giêsu Thiên Chúa làm người có xác và hồn. Lòng thương xót Chúa còn phải được hiểu là chính Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót, như thánh Gioan đã khẳng định (x. 1 Ga 4,8), nên không thể hiểu lòng thương xót như một phụ thể của Thiên Chúa, để có thể tách rời khỏi Thiên Chúa khi cần. Sau cùng, và cũng là điều rất quan trọng, đó là tất cả mọi người đều bơi lội suốt đời mình trong đại dương thương xót bao la của Thiên Chúa, Cha chúng ta, ngay cả khi chúng ta ngỗ nghịch, phản bội, tự ý bỏ Chúa như người con thứ. Tuy cuộc đời anh có nhiều giai đọan được đánh dấu bằng nhiều thái độ khác nhau đối với Cha, nhưng tình Cha vẫn không đổi dời, ơn Cha vẫn không giảm bớt ; trái lại, tình ấy vẫn tràn đầy thương xót, ơn ấy vẫn đời đời  bao phủ, vì Cha là Thiên Chúa trung tín và vô cùng khoan  dung, nhân hậu. Với người anh cả cũng vậy, tuy ở bên Cha, nhưng lòng xa lắc xa lơ. Anh tưởng mình có hiếu và yêu Cha lắm, nhưng rốt cuộc, cũng không hơn gì người em hoang đàng bất hiếu, bỏ nhà đi hoang. Nhưng dù thế nào thì Cha cũng vẫn yêu anh trọn vẹn, khi qủa quyết : “Tất cả những gì của cha đều là của con” (Lc 15,31).
Xin cho chúng con hiểu : đường đến với lòng thương xót chính là đường đến với Chúa, đường vào  trái tim Chúa, để “Chúa ở đâu, thì con xin được ở đó với Chúa” (x. Ga17,24), để “tất cả những gì của Cha đều là của con” (Lc 15,31), để “không sự gì có thể tách chúng con ra khỏi tình yêu Chúa” (x. Rm 8,39), và để “con sống nhưng không phải con sống, mà chính Chúa sống trong con” (Gl 2,20), bởi chỉ khi đứng dậy, lên đường về với lòng thương xót, trở về với Thiên Chúa là Cha giầu lòng xót thương như người con thứ, và cũng như người anh cả chợt nhận ra mình còn xa Cha lắm để  cũng hồi tâm và lên đường trở về với Cha dù ở ngay bên Cha,  chúng ta mới hiểu được bao la của tình Chúa thương xót, và hạnh phúc được Thiên Chúa  mời gọi làm con yêu dấu của Ngài.
Vâng, chỉ duy nhất một con đường dẫn chúng ta đến gặp Chúa, “Đấng từ bi, nhân hậu, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung” là con đường trở về : trở về với lòng mình để nhận ra mình còn xa Chúa, trở về với anh em để thấy mình cũng cần được xót thương như anh em đang cần được thương xót. Chính trên con đường Trở Về này, Thiên Chúa từ đằng xa sẽ thấy chúng ta như người cha nhân hậu đã thấy con trai mình khi “anh ta còn ở đằng xa. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta mà hôn lấy hôn để”. Và như người con trên đường trở về đã mạnh dạn thú tội : “Thưa Cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng còn đáng gọi là con cha nữa”, chúng ta sẽ nhận được hạnh phúc bất ngờ  khi Thiên Chúa trả lại cho chúng ta tất cả những gì chúng ta đã tự đánh mất, khi Ngài cho gia nhân đem áo đẹp nhất, nhẫn qúy nhất, dép sang nhất trang điểm cho ta, và mở tiệc ăn mừng vì chúng ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy, nhờ lòng thương xót bao la vô cùng của Thiên Chúa, Cha chúng ta, Đấng không chịu mất một người con nào, nhưng “đi tìm cho kỳ được” (Lc 15, 4.8).
Jorathe Nắng Tím