Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2020

NGÀY QUỐC TẾ BỆNH NHÂN


  Đau ốm, bệnh tật là câu chuyện quen thuộc của đời Nngười, bởi có ai sống mà không đôi lần đau bệnh, có ai làm người mà không ít nhiều đã là bệnh nhân, và mấy người thoát khỏi cảnh lâm bệnh, nhiễm bệnh, ngã bệnh, bạo bệnh, bị bệnh trước khi giã từ cuộc sống ?
Đức Phật xếp Bệnh vào tứ khổ của đời người : Sinh, Lão, Bệnh, Tử ;  Đức Giêsu thì chọn bệnh nhân là một trong những đối tượng của sứ vụ Cứu Thế. 
Qủa thực, bệnh buồn lắm, vì bệnh hạn chế tự do : người bệnh không thể sinh hoạt bình thường như lúc khoẻ mạnh, nhưng mọi hoạt động bình thường phải chậm lại hoặc ngừng hẳn, bởi cơ thể không còn cho phép người bệnh ăn uống, suy nghĩ, phán đoán, nói năng, cư xử, phản ứng, hành động một cách bình thường, với hiệu năng và mức độ chính xác như trước.
Bệnh đau lắm, khi vi trùng tàn phá cơ thể làm nhức nhối toàn thân, vết thương đục khoét từng phân ly da thịt làm xót buốt tận xương, chưa kể kim chích, dao mổ, và nhiều dụng cụ y khoa khác làm bệnh nhân rợn rùng, khiếp sợ.
Bệnh khổ lắm, vì mất hết khả năng độc lập, tự lập, khi “vai năm thước rộng, thân mười thước cao” như tráng sĩ thửơ nào bây giờ bất động, nằm yên một chỗ, không tự mình làm được bất cứ việc gì, dù đơn giản, dễ dàng nhất, nhưng “nhất cử nhất động” đều phải cậy nhờ người khác. Người bệnh đau đớn thân xác đã đành, mà còn quay quắt tâm can, khổ sở tinh thần, vì không còn khả năng lo cho chính mình.
Vì không lo được cho chính mình, dù chỉ là những việc rất nhỏ, rất bé như vệ sinh cá nhân, đứng, ngồi, ăn, uống, nên người bệnh rất dễ tủi thân, với một rừng mặc cảm : mặc cảm vô dụng, mặc cảm gánh nặng của người thân, mặc cảm thất bại, mặc cảm bị loại bỏ, mặc cảm bị coi thường, mặc cảm bị trừng phạt vì tội xưa, lỗi cũ…
Bệnh buồn chán lắm, vì hiện tại cơ cùng, tương lai bế tắc, lại không mấy người thông cảm, có thời giờ ở bên cạnh để tâm sự, ủi an, nên buồn chán mau dẫn đến thất vọng, và người bệnh như ngọn đèn leo lét không biết vụt tắt lúc nào, khi con sóng tuyệt vọng ập vào cuốn đi.
Bệnh làm hoang mang, ray rứt lắm, khi cả người bệnh lẫn thân nhân, gia đình đều không biết thời gian kéo dài của bệnh, không nắm được “đường đi nước bước » của bệnh, không suy đoán, lường trước được bước chân dồn dập hay thong thả, nhịp nhẩy khoan thai hay điên lọan, độ lên xuống bất ngờ trầm hay bổng của căn bệnh, trong khi tiền bạc ngày càng hao hụt, khả năng vật chất theo thời gian giảm sút. Và nếu bệnh làm hoang mang, ray rứt người bệnh có tiền của, và gia đình người bệnh có tài chánh, thì hoang mang sẽ không dậm chân tại chỗ, nhưng biến thành ác mộng kinh hoàng cho người bệnh nghèo, và ray rứt sẽ trở thành đe dọa khủng khiếp đối với người bệnh cơ hàn, cô thế, cô thân.     
Bệnh làm lo sợ lắm, khi cái chết rình rập, sẵn sàng chụp lấy người bệnh bất cứ lúc nào, nên đã bệnh là lo sợ : lo bệnh lấy đi sự sống, sợ bệnh đưa vào sự chết, đẩy vào cõi hư vô.
Vì thế, vào bệnh viện, hay đến tư gia thăm người bệnh, có ai vui được khi nhìn người thân nằm đó xanh xao, yếu nhược, thều thào, nhăn nhó, run rẩy, co quắp vì đau ; có ai không khỏi “se dạ thắt lòng” thấy người bệnh cong người, quằn quại vì cơn ho hằng giờ ; có ai cầm lòng được nghe người nhà rên rỉ, vật vã, lăn lộn, mồ hôi, nước mắt thẫm ướt khuôn mặt gầy guộc, thiểu não sau những cơn đau kinh khủng, dữ dội. Trái lại, ai cũng buồn, vì cảm thương nỗi đau của người bệnh ; ai cũng xúc động, vì cảm thông nỗi khổ của bệnh nhân ; ai cũng chạnh lòng trước thử thách không dễ vượt qua của phận người nhiều giới hạn, và ai cũng bâng khuâng, ngậm ngùi nghĩ về số phận của chính mình.
Bâng khuâng nghĩ về đời người có khởi điểm là sinh ra, rồi lớn lên, và ngậm ngùi nghĩ đến tuổi già khó khăn, nghĩ về  bệnh hoạn khó tránh và cái chết như kết thúc chắc chắn sẽ xẩy ra cho mọi người, không trừ ai, chúng ta không khỏi thấy cuộc đời  mong manh, cuộc sống vô thường, và định mệnh khắc nghiệt. Nhưng chính trong cảm thức tính mong manh, lẽ vô thường và khắc nghiệt ấy, chúng ta nhận ra giá trị của con người, giá trị của cuộc đời làm người, gía trị của những thách đố cam go, những thử thách ruớm máu, những đau khổ tưởng chừng đã đánh gục con người.
Chính những giá trị được nhận ra đó cho chúng ta thấy mình là một hữu thể  được tạo dựng, nhưng cùng lúc được chung phần với Hữu Thể Tuyệt Đối, bởi chỉ con người  biết mình có tự do, và chỉ con người mới biết mình đau khổ và phải chết. Cũng nhờ  được thông phần lý trí và ý chí tự do với Hữu Thể Tuyệt Đối, mà sau cuộc sống tương đối với những mong manh, vô thường, khắc nghiệt này, con người sẽ đi vào một cuộc sống tuyệt đối, vĩnh cửu, hạnh phúc, ở đó không còn nước mắt khổ đau, không còn già nua, bệnh tật, và chỉ còn sự sống bất diệt.
Cảm thức tuyệt đối và khả năng thao thức, tìm về Tuyệt Đối này không do tôn giáo cung cấp, nhưng do lý trí soi dẫn, khi con người có khả năng tư duy vượt xa  những gì thuộc tương đối ; cảm thức ấy cũng không do cơ chế xã hội nhồi sọ, nhưng đã là người thì tự nhiên mang lấy khát vọng vươn cao đến tuyệt đối, bởi trong mỗi người, mầm Tuyệt Đối đã có mặt, vì  Đấng Tuyệt Đối đã gieo mầm Tuyệt Đối và cho con người được thông dự vào Tuyệt Đối của Ngài, ngay khi con người được sinh ra.
Vì thế, khi chia sẻ với nhau  hành trình làm người phải đi qua “Sinh, Lão, Bệnh, Tử”, chúng ta cũng chia sẻ niềm hy vọng sẽ đi vào Tuyệt Đối, Vô Hạn của kiếp người hiện nay có giới hạn, và tương đối.
Chia sẻ niềm Hy Vọng bằng nâng đỡ người anh em, chị em đau bệnh đang cố gắng chiến đấu từng giờ với những căn bệnh ác tính, đe dọa sự sống ; chia sẻ niềm Hy Vọng bằng cảm thông vất vả, khó nhọc của gia đình ngày đêm chăm sóc người thân đau bệnh nằm liệt nhiều năm dài đằng đẵng ; chia sẻ niềm Hy Vọng bằng tôn trọng, biết ơn bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng, y công là những người cống hiến cả cuộc đời phục vụ bệnh nhân, và cùng bệnh nhân chống trả sức tấn công vũ bão của thần chết ; chia sẻ niềm Hy Vọng bằng tri ân những nhà khoa học tận tụy giam mình trong các phòng thí nghiệm, vì sức khỏe và hạnh phúc của đồng loại ; chia sẻ niềm Hy Vọng bằng thái độ thân thiện, thân ái, thân thương, thân tình đối với  bệnh nhân, và nâng đỡ thiết thực ; chia sẻ niềm Hy Vọng bằng tình yêu quan tâm đến nhu cầu của người đau bệnh, để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi khu phố, mỗi xã, mỗi huyện trở thành một “nhà thương”, ở đó người bệnh được “cứu thương”, chữa lành.
Ước gì không người bệnh nào mất đi niềm Hy Vọng được Cứu vì được Thương, được Thương nên được Cứu trong một xã hội, giữa một thế giới mà mọi người đều tình nguyện dấn thân CỨU THƯƠNG nhau, vì mấy “đời người” thoát được bệnh tật, mấy “người đời” không cần đến người khác, để được CỨU và THƯƠNG.       
Jorathe Nắng Tím

LỬA


Chia sẻ  nỗi đau “cháy rừng” của nước Úc
Năm lên tám tuổi, tôi chứng kiến tận mắt nhà ông Vuông ở xứ Ninh Phát, Gia Kiệm bị cháy. Đám cháy kinh khủng dữ dội làm hoảng sợ cả xứ đạo, vì nhà ông là cửa tiệm bán xăng dầu, lốp xe, đồ nhựa. Giữa đêm đen, ngọn lửa cuồn cuộn bốc cao theo gió chớp nhoáng thiêu rụi ngôi nhà nhiều tầng và lấy đi mạng sống của bà mẹ và hai con trai nhỏ của ông. Đến nay, đã gần sáu mươi năm trôi qua, mà hình ảnh ngọn lửa đêm hôm ấy vẫn rừng rực như thiêu đốt ký ức tôi.
Từ tháng chín đến hôm nay, ngày 7 tháng 1/2020, nước Úc hoảng loạn trong đám cháy kinh dị tàn phá hơn tám triệu mẫu rừng, và tiêu diệt, làm bị thương nửa tỷ thú vật đủ loại, chưa kể hàng chục người thiệt mạng, và nhiều nhà cửa, xe cộ bị ngọn lửa cuốn đi.
Trước thảm họa và đe dọa còn tiếp tục của lửa, người dân Úc không chỉ sợ hãi trước sức tàn phá ghê gớm của ngọn lửa giữa mùa hè nóng bức, mà còn lo âu về một tương lai mang nhiều hậu qủa khôn lường của đám cháy : không khí ô nhiễm, môi trường bị hủy hoại, cây rừng bị tàn phá, nhiều giống thú qúy, và rất nhiều động vật bị tiêu diệt.
Chắc chắn cuộc hoả hoạn rất hãi hùng này phải xuất phát từ một hay nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân nào đi nữa, thì mọi người cũng đều nhận ra giới hạn của con người trong việc quản trị sinh hoạt của con người : con người không thể đề phòng hết những rủi ro, con người không đủ sức khống chế tai họa, con người không hoàn toàn làm chủ được thiên nhiên, như ngăn chặn gió lớn khi lửa bốc cháy, hay thay trời làm mưa giập tắt hàng triệu mẫu rừng đang là mồi ngon cho ngọn lửa đói, háu ăn. Và người ta nhìn thấy giới hạn, đồng thời cảm thấy mình thật nhỏ bé, bất lực trước hiểm nguy, tai họa do chính mình gây ra.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều  góp công sức hay vật lực để cùng người Úc chống chọi đám cháy, và không ai không biểu lộ tình cảm tương trợ, cảm thông, đau xót với người dân của quốc gia “nạn nhân hoả hoạn” này.
Trước thảm họa đau thương của người dân Úc và đồng bào Việt Nam sinh sống tại quốc gia văn minh, trù phú, và thân thiện này, người viết xin đuợc gửi bạn đọc chút tản mạn về Lửa, như tâm tình cảm thông và chia sẻ sâu sa, lắng đọng.   
Lửa biểu trưng cho sức mạnh “bách chiến bách thắng” của cả Tình Yêu lẫn Thù Hận. Những người yêu nhau luôn chọn Lửa làm biểu hiệu của tình yêu nồng nàn, tình yêu cháy bỏng, tình yêu cuồng nhiệt, bởi khi tha thiết yêu nhau, khi đạt ngưỡng si mê, điên cuồng, ngây dại vì nhau, người ta không thể dùng bất cứ hình ảnh nào khác ngoài Lửa để diễn tả tình yêu vĩ đại, tình yêu không biên cương, ranh giới, tình yêu cao vời, tuyệt vời mà hai người yêu nhau dâng hiến, trao tặng cho nhau. Người ta cũng không thể dùng hình ảnh nào khác ngoài Lửa để biểu lộ khao khát được tan biến trong nhau, hoà lẫn trong nhau, nên một và chết trong nhau, bởi chỉ có Lửa mới giúp tình nhân, nhân tình thực hiện khát vọng yêu thương vô cùng, đến cùng này.
Nhưng Lửa cũng là biểu tượng của Thù Hận, của Ganh Ghét, của Hoả Ngục, mà ở đó, dù là một chút xíu tình yêu cũng không có, không còn. Trong nhiều tác phẩm, cũng như ở đời thường, người ta hay viết, hay nói : lửa oán hờn, lửa thù hận, lửa ganh ghét, lửa chiến tranh, bởi một khi trở thành thù địch, người ta bị thôi thúc tìm mọi cách để tiêu diệt, xóa tan dấu vết sự sống của nhau trong cuộc đời, nên sẽ chỉ có Lửa mới đủ sức làm công việc triệt tiêu, xóa sổ, tẩy sạch dấu tích sự sống của đối thủ, quân thù, bởi Lửa có sức mạnh tàn phá cao, có khả năng bạo lực phi thường, có mức độ dã man không gì có thể so sánh.
Như thế, Lửa vừa tốt vừa xấu, đúng hơn, Lửa không xấu không tốt, bởi Lửa sưởi ấm muà đông, Lửa cho gạo thành cơm, cho thịt sống thành thịt chín nuôi con người, nhưng Lửa cũng đốt nhà ông Vuông, thiêu sống mẹ và hai con nhỏ của ông, thiêu rụi hàng triệu mẫu rừng tươi xanh, giết chết, làm bị thương hằng nửa tỷ thú vật ở Úc… Vấn đề quan trọng là người ta đã sử dụng Lửa làm sao, sử dụng Lửa cho mục đích nào ?
Nếu nguyên nhân cháy rừng sẽ được cơ quan hữu trách của Úc làm sáng tỏ một ngày, thì chúng ta sẽ một lần nữa có thêm lý do để khẳng định : Lửa có thể được bùng lên cho Tình Yêu lên ngôi, và Lửa có thể bốc cháy dữ dội cho Hận Thù thống trị ; Lửa có thể sưởi ấm, và Lửa có thể thiêu hủy ; Lửa có thể xây dựng, và Lửa có thể tàn phá ; Lửa có thể ban sự sống, và Lửa có thể cướp đi sự sống ; Lửa có thể phục vụ, và Lửa có thể chống phá, vì Lửa vừa có khả năng yêu thương mãnh liệt, vừa có khả năng thù hận kinh hoàng, khủng khiếp.
Qủa thực, Lửa rất lợi và rất hại, rất tốt và cũng rất xấu, như Tự Do của mỗi người. Với Tự Do, người ta có thể trở thành người tuyệt vời, hữu ích, nhưng cũng có thể biến thành tội đồ làm hại chính mình và xã hội. Sử dụng tự do để yêu thương, xây dựng, phục vụ sẽ đem lại thành công, hạnh phúc cho mình và mọi người ; sử dụng tự do để ganh ghét, đố kị, hiềm khích, hận thù, bạo hành sẽ mang lại tang thương, khổ đau, chết chóc, bất hạnh cho mình trước nhất và nặng nề nhất, sau đó là mọi người chung quanh, bởi tự do đã phục vụ hận thù, bạo lực thay vì vun xới, ươm trồng yêu Thương.  
Thực vậy, như Lửa, con người có quyền và khả thể điều khiển, sử dụng Tự Do tùy mục tiêu được chọn, và tùy động lực thúc đẩy. Nếu chẳng may tự do được dùng như Lửa hận thù thiêu hủy, tàn phá, thì tiếc thay một đời người đã bị phí phạm khi trở thành bất hạnh cho cả thế giới, nhưng nếu tự do được sử dụng như Lửa tình yêu, thì thật phúc đức cho người có tự do, vì đích thực là niềm Vinh Dự của toàn thể nhân loại.
Cầu xin Thiên Chúa thương đổ mưa trên nước Úc, để làm dịu cơn nóng cháy khô tâm hồn người dân Úc, đánh tan cuồng phong tai họa đè nặng tâm can đồng bào con đang sinh sống trên đất nước Úc dễ thương, và giải thoát những chú Kangourou chết khát liều mình phóng ra đường tìm nước uống, nhất là cứu chữa những bé Koala bị phỏng nặng đang đau đớn quằn quại, vất vưởng bên bờ rừng rực lửa.     
Jorathe Nắng Tím       

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2020

CON ĐƯỜNG HÒA BÌNH – HÀNH TRÌNH BÌNH AN

    
Càng sống, càng trải nghiệm, người ta càng thấm thiá giá trị của Bình An, càng trân qúy hai chữ Hoà Bình, và Bình an không còn là mỹ từ che đậy những con sóng ngầm chiến tranh, Hoà Bình cũng không còn là vỏ bọc ngụy trang tham vọng chiếm đóng, thống trị, bởi kinh nghiệm xương máu mưu tìm Hoà Bình, kinh nghiệm gian khổ, lao nhọc để có Bình An đã dậy chúng ta trưởng thành, khôn ngoan hơn, để nhận ra con đường tìm kiếm Bình An, công trình xây dựng Hoà Bình không đơn giản, dễ dàng như thiên hạ từ lâu đã từng thêu dệt, lừa đảo, bịp bợm. 
Họ lừa bịp chúng ta, khi vẽ ra bức tranh Hoà Bình bằng những cây cọ gian tham, những mầu sắc ganh ghét, thủ đọan; họ đánh lừa chúng ta, khi vạch ra con đường Bình An thênh thang, hoành tráng, choáng ngợp đèn hoa, nhưng rốt cuộc : chiến tranh vẫn tràn lan, khi thế giới vắng bóng hoà bình ; bất an, tuyệt vọng vẫn chiếm đóng, khi bình an không có mặt trong rất nhiều tâm hồn. Lời hứa hoà bình, kế sách đem lại bình an xem ra đều là những lời “có cánh”, những “bánh vẽ” khổng lồ lừa phỉnh, gạt gẫm quần chúng ngây thơ, nhẹ dạ, dễ tin.     
Giữa thế giới loài người loạn lạc vì ganh ghét, tranh giành, đố kỵ, hiềm khích, Thiên Chúa đã xuống thế làm người ; giữa cuộc sống thiếu bình an, vì con người mải mê chạy theo danh, lợi, thú, và kiêu căng, tham vọng, Ngôi Lời của Thiên Chúa đã nhập thể và ở với chúng ta.
Đến với con người không bình an, đi vào thế giới không hoà bình, Thiên Chúa đã loan báo Tin Mừng “Bình An cho người thiện tâm” (Lc 2,14), và mặc khải chính Ngôi Lời là “Thủ Lãnh Hòa Bình”, như ngôn sứ Isaia đã tuyên sấm : “Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh Hoà Bình” (Is 9,5).
 Và từ đó, Ngôi Lời đã dẫn chúng ta đi trên Con Đường Hoà Bình, và đồng hành với chúng ta trên Hành Trình Bình An :
1.   Bình An của Thiên Chúa:
Đức Giêsu đã khẳng định với các tông đồ : Bình an Ngài ban không là bình an của con người, và thế gian không ban được bình an này : “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian” (Ga 14,27).
Nhưng thế nào là theo kiểu Thiên Chúa, và bình an nào là Bình An của Thiên Chúa ?
Thánh Phaolô cắt nghiã : “Một khi được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa” (Rm 5,1-2).
Như thế, để nhận được Bình An là ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta phải trở nên công chính, nghiã là được hoà giải với Thiên Chúa, được trở lại tương quan cha - con với Thiên Chúa. Và để được hoà giải và nhận lại vinh dự, cũng như quyền làm con Thiên Chúa, chúng ta cần đến máu của Đức Giêsu, cần sự chết của Ngài như thánh tông đồ dân ngoại đã khẳng định : “Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người” (Rm 5,10), bởi ngoài Ngài ra, không ai có thể hoà giải chúng ta là những người tội lỗi với Thiên Chúa , và “đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8).    
Tóm lại, điều kiện quan trọng nhất để nhận được bình an của Thiên Chúa, và được sống hoà bình dưới quyền của Ngôi Lời là Thủ Lãnh Hoà Bình, chính là tin Thiên Chúa yêu thương chúng ta, và nhờ tin, chúng ta được hoà giải với Thiên Chúa trong Đức Giêsu và nhờ Đức Giêsu, Con Một yêu dấu của Ngài.
Bình An còn là hoa trái và “hướng đi của Thánh Thần”, bởi “những ai sống theo tính xác thịt thì hướng về những gì thuộc xác thịt ; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an” (Rm 8,5-6). Nhờ thế, chúng ta được bình an trong tâm hồn, “được vui luôn trong niềm vui của Chúa” (Pl 4,4), “và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết” sẽ giữ cho lòng trí chúng ta được kết hợp với Đức Giêsu Kitô (x. Pl 4,7). Đồng thời, tất cả chúng ta được liên kết, hoà bình với nhau, bởi “chính Người là bình an của chúng ta” (Ep 2,14), “Người đã đến loan Tin Mừng Bình An : bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần” (Ep 2,17). 
2.   Khởi điểm của con đường Hoà Bình là Thiện Tâm:
Là Thủ Lãnh Hoà Bình, là Bình An cho nhân loại, Đức Giêsu là con đường dẫn chúng ta đi trong bình an, đưa chúng ta đến bến bình an, và khởi điểm của hành trình bình an, hoà bình ấy, chính là trái tim trong sáng, tâm hồn lương thiện. Nói cách khác, để nhận được ơn Hoà Giải với Thiên Chúa, điều kiện để có bình an, con người phải có thiện tâm, mỗi người phải có tâm thiện, mọi người phải có tâm hiền, lòng ngay.
Người có tâm gian dối, qủy quyệt, xảo trá, lưu manh không thể đi trên đường Bình An của Thiên Chúa ; kẻ có tâm độc ác, ganh ghét, hận thù, tham lam, bon chen, ích kỷ không bao giờ có thể cất bước trên hành trình Bình An của Đức Giêsu, bởi Thiên Chúa chỉ ban “Bình An cho người thiện tâm” (Lc 2,14), ban hoà bình cho người có lòng ngay thẳng, ban ơn hoà giải cho những ai có trái tim yêu thương, và nhận làm con cái những ai khao khát và nỗ lực xây dựng hoà bình (x. Mt 5,9).
Vì thế, không phải tất cả mọi người đều được bình an trong tâm hồn, cũng như không phải tất cả dân Do Thái đã đến được Bêlem để chiêm ngắm “Hài Nhi bọc tã, nằm trong máng cỏ”, nhưng chỉ một số ít người có lòng ngay, có tâm thiện, có trái tim không là sào huyệt của gian tham, dối trá, bạo lực mới được gặp Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Thủ Lãnh Hòa Bình, “Thiên Chúa ở với chúng tôi”.
3.   Con đường Hoà Bình của Thiên Chúa dẫn đến “những người bé nhỏ nhất trong anh em” (Mt 25,40).
Nếu khởi điểm của con đường Thiên Chúa muốn chúng ta đi là thiện tâm, nghiã là một trái tim đơn sơ, rộng mở, “một tâm hồn biết lắng nghe” (1V 3,9), “một trái tim bằng thịt” ngợp tràn “Thần Khí mới” (Ed 11,19), thì đích tới của hành trình Bình An, điểm đến của con đường Hoà Bình mà “Thiên Chúa làm người” muốn chúng ta đi với Ngài lại là “những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây” (Mt 25,40), như chính Đức Giêsu đã qủa quyết trong Tin Mừng Matthêu. 
Như thế, con đường Hoà Bình có đích tới là những người đói khát, trần truồng, bệnh tật, tù đầy, tị nạn, ít học, bần hàn, cơ nhỡ, thất bại, bị ruồng rẫy, bạc đãi, khai trừ, bỏ rơi (x. Mt 25,35-37) ; hành trình Bình An có điểm hẹn cuối cùng là giây phút Thiên Chúa bất ngờ công bố phần thưởng : “Hỡi những người được Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa…” (Mt 25,34),  vì mỗi lần các ngươi làm phúc “cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).
Qủa thực, sứ mệnh Cứu Thế của Đức Giêsu là cho nhân loại một Con Đường, vì chính Ngài là Đường (x. Ga 14,6), con đường có tên “Hoà Bình”, con đường mang tên “Bình An”, bởi Bình An là ơn cao trọng nhất, hạnh phúc lớn nhất, và Hoà Bình là niềm vui vĩ đại mà ai cũng mong ước, bởi Bình An là chính Thiên Chúa, và Hoà Bình là hoa trái của Thánh Thần.
Trên con đường này, Đức Giêsu muốn chúng ta đi theo Ngài ; trên hành trình này, Ngài kêu gọi mỗi người chúng ta nên thánh “như Cha chúng con trên trời là Đấng Thánh”.
Năm mới mở ra Con Đường mới với những bước chân mới, năm mới bắt đầu Hành Trình mới, với hành trang mới : những bước chân thiện tâm, và hành trang Yêu Thương, Phục Vụ.  
Với những bước chân có khởi điểm Thiện Tâm, cùng hành trang Bác Ái đi về chung một điểm hẹn là những người bé nhỏ, yếu đuối, bất hạnh hơn mình, chúng ta sẽ nhận được ơn Bình An của Đức Giêsu, vua Bình An trong tâm hồn, trong cuộc sống, và thế giới sẽ có Hoà Bình đích thực, bền lâu trong ân sủng của Ngôi Lời nhập thể, vị Thủ Lãnh Hoà Bình. Và như thế hành trình Bình An của mỗi tâm hồn sẽ dẫn đến Con Đường Hoà Bình cho toàn thế giới.     
Xin Chúa chúc lành cho những trái tim đang mong mỏi lên đường đi theo vị “Thủ lãnh Hoà Bình” để xây dựng Hoà Bình, và mọi người thiện tâm đang mơ ước và nỗ lực để được biến đổi thành Khí Cụ Bình An, hầu suốt đời được “phụng sự Chúa trong mọi người”.
Jorathe Nắng Tím       

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2020

La pazienza dell’amore – Kiên nhẫn của Tình yêu

Autore: Jonathe Nắng Tím
Traduttore: Iosephus H.V

“L’amore ci fa pazienti, tante volte perdiamo la pazienza. Anch’io, e chiedo scusa per il cattivo esempio di ieri”, Il riferimento di Papa Francesco e le sue parole di scusa riguardano l'episodio di ieri sera, durante la visita al presepe in Piazza San Pietro, al termine dei Vespri. Al momento del saluto ai fedeli, una donna lo ha strattonato provocandogli un forte dolore al braccio al quale il Papa ha reagito con un gesto di impazienza per liberarsi dalla stretta. 
La fotografia ed il videoclip di questo l’incidente sono stati distribuiti sui sociale media e hanno ricevuto così tanti commenti ed opinioni.
Per quanto mi riguarda, ho alcuni punti per la riflessione su questo evento, basandomi sulle quatro parole di Papa.

1.   “L’amore ci fa pazienti”:

Se l'amore è un dono disponibile, allora non vale nulla. Al contrario, le persone crescono innamorate, il che significa imparare ad amare completamente quotidiano per conoscere l’amore di pìu, capitare l’amore di pìu. L'amore aiuta ad allenarci, convertirci, rinnovarci e purificarci. L'amore ci allena poco a poco per aiutarci a comportarci con gli altri in modo più gentile, più tollerante, più comprensivo e sempre più disposto a perdonare gli altri, perché l'amore è come un germoglio verde che deve essere coltivato, lavorato con attenzione, tagliato teneramente per crescere e dare grandi frutti.
A partire dalle sue scuse, Papa Francesco non solo ha affermato il ruolo e la capacità per addestrare dell'amore, ma si è anche apertamente confermato come uno studente nella scuola dell'amore e la lezione che stava imparando attentamente, facendo del suo proprio meglio per esercitarsi è “la pazienza dell’amore". Lui sa umilmente che la sua vecchiaia, la sua salute non bene e il suo fardello del Buon Pastore, hanno chiesto di amare “le pecore” fino alla fine e di dare la vita per “le pecore” a volte diventano troppo pesanti da trasportare e oltre i Suoi limiti. È anche fortemente consapevole della Sua limitazione come essere umano e sa di non essere stato abbastanza paziente nella missione di amore e sacrificio come un Buon Pastore.
Questo è il motivo per cui ha iniziato la Messa di Capodanno con l'atto penitenziale: confesso all'Iddio onnipotente e a voi, fratelli e sorelle, che ieri sera ho battuto rabbiosamente la mano della donna a causa della mia insofferenza nell'amore.

2.   “tante volte perdiamo la pazienza”:

"Essere impazienti" è solo perché non siamo "completamente santi", così anche quelli che amiamo. Siamo ancora "esseri umani" con molte colpe e deboli. Quando due persone imperfette si amano, due persone che sono indegne di amore a vicenda o due persone deboli si amano con il desiderio di raggiungere l'eccellenza ideale o l’eccellenza assoluta, allora perdono facilmente la pazienza a causa delle loro carenze o errori, anche degli insulti che si fanno del male.

Pertanto, nel nostro viaggio dell'amore, dobbiamo ancora imparare la pazienza perché la pazienza è sempre la grande sfida dell'amore, la sfida molto difficile per superarla. La causa principale nelle così tante relazioni rotte è che le due persone non sono abbastanza pazienti per amarsi.
Per questo, Gesù afferma ai Suoi discepoli con il suo amore estremamente paziente che li ama fino alla fine. Siamo sicuri che Papa Francesco sia sempre attento agli insegnamenti di Gesù e cerchi di vivere il suo "amore fino alla fine", ma all'ultima notte del vecchio anno del 2019, Papa Francesco potrebbe perdere la pazienza a causa del fatto di essere così esausto per camminare sul lungo strada per salutare un sacco di persone con la mano tremante.

3.   “Anch’io”:

Penso che sia davvero una bella e gentile immagine del leader della Chiesa cattolica con le scuse umili e sincere dal profondo del suo cuore. Non è stata colpa di aver deliberatamente fatto del male a nessuno, non è stata colpa grave di aver fatto del male a qualcuno, né la colpa grave che ha effetti negativi sulla reputazione dell'individuo o del collettivo, ma la colpa era che un uomo di ottantaquattro anni era così mortalmente sfinito con la sua mano che fu fortemente scossa oltre la sua resistenza per mantenere con calma il suo sorriso gentile e la sua faccia felice.
In effetti, ciò che è accaduto a papa Francesco è "la colpa del limitazione dell'uomo" nell'amore sacrificale fino alla fine per il gregge o "la colpa della fragilità dell'uomo" che si assume molte responsabilità da svolgere la missione dell'amore.

4.   “chiedo scusa per il cattivo esempio di ieri”:

La Messa del primo giorno del nuovo anno 2020 si svolge in modo così sacro con il vivace, umile, sincero con “Confiteor” di Papa Francesco, successore di San Pietro Apostolo, capo del Cattolico. Davvero, questa è la migliore confessione di sempre di un Papa nella storia della Chiesa cattolica; la confessione che ottiene molto rispetto dagli altri, la confessione che diventa indimenticabile, la confessione che diventa una buona lezione perché il valore, il carisma e la sua impressione.
Il Santo Padre considerava umilmente se stesso come un cattivo esempio, ma Lui è diventato un brillante esempio dello spirito che si dimentica di se stesso dell '"Agnello di Dio, che togli i peccati del mondo".Quante persone hanno una posizione così nobili nella società, che si è scusata con coraggio per aver fatto un cattivo esempio per il gregge?
Papa Francesco riconosce di aver dato il cattivo esempio e di aver dato delle scuse, poiché ha un semplice spirito d'amore e un modo umile nella missione di servizio. Grazie alla semplicità e all'umiltà e al suo cuore in pace, si riconosce facilmente come una persona con molte carenze; imperfezione e limiti. Lui ha sempre bisogno di sostegno e misericordia da parte degli altri, e specialmente quando, in pace, si scusano dal profondo del cuore del Buon Pastore, era pronto a "scendere fino alla fine" e perfino a dare la Sua vita per il gregge.

Mio amorevole Dio,
Io, insieme a tutti i fedeli nella Chiesa cattolica, ti ringrazio per averci concesso papa Francesco, il Pastore dell'amore altruistico e dell'umile servizio. A causa del suo meglio per servire il gregge, coglie l'occasione per "un errore occorso a lui" per cancellare se stesso per l'amore del gregge fino alla fine attraverso il suo umilmente inchinandosi la testa e colpendo il seno per le scuse.
Come milioni di altri fedeli cattolici con il profondo amore per il nostro Santo Padre nei primi giorni dell'anno, continuo a pregare per lui e mi piace dirgli che "Ti amiamo sempre, Papa Francesco!".

NGƯỜI THIỆN TÂM TRÊN HÀNH TRÌNH ĐI TÌM THIÊN CHÚA

        LỄ CHÚA HIỂN LINH                                 
Mầu nhiệm Thiên Chúa yêu thương con người được mặc khải qua công trình Thiên Chúa nhập thể làm người, nhập thế vào đời và ở với chúng ta. Tên Ngài là EMMANUEL. Và hành trình gặp gỡ cách sống động và thiết thực giữa Thiên Chúa và loài người, giữa Đấng Chủ Tạo toàn năng và con người thụ tạo hữu hạn đã được hiện thực và thực hiện nơi “Con Người -Thiên Chúa” của Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa.
Nhiều người lầm tưởng : Thiên Chúa đã tự nguyện “làm người” đến với nhân loại, nên sẽ đến với mỗi tâm hồn một cách tự động, xâm nhập vào nhà mỗi người một cách tự nhiên, mà không cần ý kiến, hay sự đồng ý của con người. Nói cách khác, Thiên Chúa tình nguyện đến ở giữa con người, nên cũng áp đặt con người phải đón tiếp Ngài vào nhà họ ; Thiên Chúa tự mình xuống thế vì con người, nên cũng tự cho mình quyền cứu chuộc con người mà không cần con người biểu hiện ý muốn được cứu rỗi, nghiã là ơn cứu rỗi sẽ đơn phương đến từ Thiên Chúa, mà hoàn toàn không cần con người đồng lòng, đồng thuận, đồng ý cộng tác.
Khác với ý nghĩ sai lầm trên, hành trình gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người đòi con người phải lên đường đi tìm Thiên Chúa, lên đường đến với Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa cần con người hành động như một thụ tạo được dưng nên giống Thiên Chúa, theo hình ảnh Ngài, khi con người được Thiên Chúa ban cho “tự do chọn lựa”. Thiên Chúa thực sự cần con người tự do chọn Ngài, tự do chọn con đường đi đến với Ngài, tự do đi trên tuyến đường dẫn đến gặp Ngài. Ngài không ép buộc, khống chế ai, và trên tất cả, hành vi tự do là dấu ấn căn bản của con người thiện tâm, con người mà Thiên Chúa sẽ cho được gặp Ngài.
Qủa thực, Thiên Chúa đòi con người phải  thiện tâm, nghiã là phải có tâm lành, tâm tốt, tâm nhân ái, tâm ngay thẳng, tâm trong sạch mới thấy được Ngài, mới cảm được Ngài, mới được “Ngài cắm lều và ở lại”, mà dấu hiệu là ơn Bình An, như lời loan báo của các thiên thần đêm Giáng Sinh : “Bình an dưới thế cho người thiện tâm” (Lc 2,14).
Người thiện tâm là người không dối trá, điêu ngoa, không ganh ghét, thù hận, không kiêu căng, hãnh tiến, không độc ác, thủ đọan, không làm hại người vì lợi danh. Họ là người không thành kiến, vô cảm, không tự mãn, tự phụ khép kín cửa lòng, không khinh thường, bất cần, bất chấp người khác. Trái lại, người thiện tâm luôn mở trí khôn, rộng cõi lòng trước Chân Thiện Mỹ, và qủa cảm dấn thân đi theo tiếng gọi của Chân Thiện Mỹ trong yêu thương, phục vụ đồng loại.
Thiện tâm như các mục đồng đã nghe tiếng mời gọi đi tìm Hài Nhi vừa sinh ra là Thiên Chúa Cứu Độ của các thiên thần. Các mục đồng là những người đơn sơ, chất phác, hiền lành, nên dễ đón nhận chân lý, yêu mến chân lý, mau mắn lên đường tìm gặp Chân Lý, và Chân Lý tuyệt đối, vĩnh cửu, cứu độ, chính là “Hài Nhi sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12).
Thiện tâm như ba đạo sĩ từ phương đông đến Bêlem tìm gặp Vua dân Do Thái vừa hạ sinh. Nhờ tâm thiện, tâm hiền, tâm chính, tâm không độc ác, tâm không mưu mô, xảo quyệt, các đạo sĩ đã tìm đến bái lậy Thiên Chúa làm người, Vua các vua, Chúa các chúa (x. Mt 21-2).
Ở người thiện tâm trên đường đi tìm Thiên Chúa, chúng ta nhận thấy :
1.    Họ xác định : Thiên Chúa là Giá Trị tuyệt đối, vượt xa tất cả các giá trị khác, và họ phải tìm cho kỳ được :
Như các mục đồng bỏ công việc chăn cừu, canh chiên để về Bêlem tìm gặp Hài Nhi theo lời loan báo của các thiên thần, cũng như ba đạo sĩ từ phương đông bỏ tất cả để mạo hiểm trên hành trình rất xa, chông gai, vất vả đến Giêrusalem, rồi Bêlem, người thiện tâm nhờ có lương tâm trong sáng, tâm hồn lương thiện luôn nhận ra rất nhanh đâu là Chân Thiện Mỹ, điều gì là “tốt, đẹp và thật”, bởi tâm họ không vẩn đục, nhưng rất sáng để thấy rõ ; tim họ không đặc quánh những tính toán đê hèn, những thủ đọan đen tối, nên nhìn thấy ngay và đọc chính xác những gì là Chân Thiện Mỹ để rồi xác định đó chính là giá trị vượt xa các giá trị khác mà họ phải tìm cho kỳ được.
Vì thế, khi nghe các thiên thần (x. Lc 2,9), cũng như khi nhìn thấy vì sao lạ (x. Mt 2,2), cả mục đồng và đạo sĩ đều phấn khởi vui mừng vì nhận ra Thiên Chúa là giá trị tuyệt đối, giá trị vô cùng và họ lên đường ngay, bởi chính Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối đang lôi cuốn, réo gọi, kêu mời họ là những người thiện tâm đang tìm đến với Ngài.
Do đó, sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người khởi đầu từ sự kiện con người có thiện tâm, có ý hướng ngay lành được lôi cuốn bởi Chân Thiện Mỹ tuyệt đối. Và chúng ta có thể qủa quyết : thiện tâm là điều kiện nền tảng để nhận ra Thiên Chúa đang có mặt trong thế giới loài người, và trong chính chúng ta, như lời loan báo của các thiên thần đêm Giáng Sinh : “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.    
2.   Họ không  ngại vất vả lên đường đi tìm Thiên Chúa :
Lên đường rất cần thiết, vì không lên đường, người thiện tâm sẽ không bao giờ đến được Bêlem để gặp “Hài Nhi sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12), và vui mừng “ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca ngợi Thiên Chúá, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như thiên thần đã nói với họ” (Lc 2,20) như các mục đồng năm xưa ở Bêlem đã vinh dự là những người đầu tiên đến gặp Thiên Chúa làm người ngay khi Ngài vừa hạ sinh.
Lên đường là đòi hỏi của hành trình đi tìm Thiên Chúa, tức hành trình đức tin, bởi sẽ không bao giờ có hành trình, nếu không có người lên đường, mà cuộc gặp gỡ  giữa Thiên Chúa với con người luôn luôn và mẫi mãi là hành trình mà mỗi người phải tự mình lên đường, tự mình cất bước, không ai thay thế ai, không ai đi thay ai, như không ai có thể sống, chết thay người khác, dù có khăng khít yêu thuơng đến cỡ nào.
Nhìn lại lịch sử ơn Cứu Độ, tất cả những người được kêu gọi, những người muốn gặp gỡ Thiên Chúa đều phải từ bỏ nơi đang ở, chỗ đang sống, vị thế đang chiếm giữ như Ápraham, Môsê, Simon Phêrô, Gioan, Mátthêu, đám đông những người bệnh tật và dân chúng trong Tân Ước để lên đường, và không ai đã gặp được Đức Giêsu, được nghe Ngài dậy dỗ, an ủi, chữa lành, nếu đã không vất vả lên đường đi tìm Ngài.  
Ba đạo sĩ là trường hợp điển hình đã vất vả trên hành trình đi tìm gặp Thiên Chúa : vất vả vì đường xa, vất vả vì đường chưa bao giờ đi qua, vất vả vì đường nhiều nguy hiểm, và nguy hiểm lớn nhất chính là đang đi thì ánh sao dẫn đường vụt tắt giữa đêm trường, đang đi thì sao lạ chỉ đường biến mất giữa đêm đen.
3.   Họ không thất vọng trên hành trình vất vả đi tìm Thiên Chúa :
Hành trình đi tìm Thiên Chúa luôn là hành trình khó, là cửa hẹp, là con đường nhiều chông gai, thử thách, như Đức Giêsu đã khẳng định : “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Lc 9,23). 
Vì thế, trên hành trình này, người khao khát đi tìm Thiên Chúa cũng sẽ phải khát, phải đói, phải chịu đủ thứ trái ý, phật lòng, phải mang đủ gánh nặng của đố kị, thị phi, hiểu lầm, ruồng rẫy, lên án, bỏ rơi, khai trừ từ mọi phiá, và nhiều nhất, “đau nhất” là từ những người anh em mình tin tưởng, yêu mến, phục vụ, đồng hành…  
Do đó, sẽ không tránh được những đường hầm chật chội, đen tối, nguy hiểm mà người lữ hành phải đi qua ; không thoát khỏi những đêm đen mịt mùng, không một ánh sao hy vọng, như trải nghiệm của ba đạo sĩ trên đường đi tìm gặp Vua dân Do Thái khi sao lạ bỗng dưng biến mất, khi các vị vừa đến Giêrusalem (x. Mt 2, 1-2).
Qủa thực, sẽ phải diễn tả thế nào để lột hết nỗi lo sợ của lữ khách giữa đêm đen, khi không một tia sáng soi đường ; phải mô tả làm sao để hiểu được nỗi hoang mang trước rất nhiều đe dọa của người đang đi bỗng mất hướng, lạc đường, vì không còn bất cứ cột mốc, hay tín hiệu nào hướng dẫn ; phải trình bầy cách nào để hiểu nỗi khổ và lo âu làm nghẹn ngào ba đạo sĩ khi ánh sao không còn xuất hiện để dẫn đường chỉ lối các vị đến “tận nơi Hài Nhi ở” (Mt 2,9).
Đêm đen đe dọa, và bóng tối làm người ta run sợ, nên chỉ những ai trải nghiệm nỗi cô đơn bị bỏ rơi, quên lãng, chỉ những người đã từng khóc một mình trong bóng tối hãi hùng, đe dọa của oan sai, hiểu lầm, bạc đãi, triệt hạ mới thấm thiá cái kinh khủng của “thời gian khi ánh sao vụt tắt giữa đêm đen”, mới hiểu được cái kinh hoàng của cám dỗ thất vọng, và đo được cái kinh dị của sức người có hạn, và yếu đuối, mỏng dòn muốn gục ngã, buông xuôi.
Nhưng người thiện tâm luôn được Thiên Chúa che chở để đứng vững mà không thất vọng, luôn hy vọng mà không tuyệt vọng. Như ba đạo sĩ, khi ngôi sao lạ dẫn đường vụt tắt, các vị đã không thất vọng bỏ cuộc, không nản chí buông xuôi quay về, không giận dữ, bực bội đổ tội cho Trời, hay “than thân trách phận”, nhưng bình tâm, bình tĩnh hỏi han, thăm dò, tìm hiểu “Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu ?” (Mt 2,2).
Các vị đã dừng lại ngay khi ánh sao dẫn đường biến mất. Dừng lại để suy nghĩ, dừng lại để nghỉ ngơi, dừng lại để tìm hiểu, dừng lại để “tìm kiếm một hướng đi, mà không lạc đường, vì tin rằng ánh sao sẽ xuất hiện trở lại trên bầu trời vào đúng lúc Chúa muốn” (trích Chia Sẻ của cha Tôma Vũ Quang Trung SJ). Và qủa thực, như ba đạo sĩ ít nhiều đã bối rối suốt thời gian ngôi sao lạ lịm tắt, đã lại vui mừng, khấp khởi  tiếp tục lên đường khi “ngôi sao họ đã thấy ở phương Đông lại xuất hiện dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại” (Mt 2,9).
4.   Họ đi trên “con đường” khác, sau khi được gặp Thiên Chúa :
Một điều không thể chối cãi là tất cả những người sau khi được gặp Thiên Chúa đều đã đi một con đường khác con đường cũ đã đi ; đã sống một cuộc sống mới, khác với  lối sống cũ trước đó ; đã làm cuộc cách mạng tận căn gốc khi từ bỏ “con người cũ”, nếp sống cũ với những ý nghĩ, lời nói, việc làm không xứng hợp. Nói tóm lại, người thiện tâm sau khi gặp Thiên Chúa đã được Thiên Chúa bao phủ bằng ánh sáng “thánh thiện” của Ngài, như ba môn đệ  Phêrô, Gioan, Giacôbê được theo Đức Giêsu lên núi Tabo, ở đó Ngài hiển dung, khi “dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người bỗng trở nên trắng tinh, chói loà” (Lc 9,29).
Một lần nữa,Tin Mừng Mátthêu ghi rõ : sau khi đã gặp “Hài Nhi với thân mẫu” và sấp mình thờ lậy, đồng thời dâng tiến vàng, nhũ hương và mộc dược (x. Mt 2,11), ba đạo sĩ đã được báo mộng là đừng trở lại con đường cũ để gặp vua Hêrôđê nữa, “nên đã đi lối khác mà về xứ mình” (Mt 2,12).  
Đi lối khác, vì từ nay cuộc đời họ được đổi mới, vì đã gặp Thiên Chúa là Niềm Vui cứu độ ; từ nay tâm tư họ đổi mới, vì họ đầy tràn Thiên Chúa là nguồn Hy Vọng ; từ nay tâm hồn họ đổi mới, vì Thiên Chúa là Tình Yêu làm no thoả con tim luôn khát khao của họ. Chính Thiên Chúa đổi mới con đường họ đi, thay đổi cuộc đời họ sống, làm cho họ trở thành tạo vật mới, đẹp lòng Ngài và mang lại cho họ hạnh phúc viên mãn.
Mừng lễ Hiển Linh, lễ của Thiên Chúa tỏ mình ra cho muôn dân, chúng ta hân hoan đón mừng Thiên Chúa đến với nhân loại và ở với chúng ta, nhưng không quên đòi hỏi “Lên Đường đi tìm Ngài”, mà Thiên Chúa muốn chúng ta thực hiện, như các mục đồng và đạo sĩ đã vất vả lên đường đến Bêlem để được gặp và bái lậy Ngôi Lời làm người.
Và khởi điểm của đường đi tìm Thiên Chúa  chính là “Thiện Tâm”. Với tâm thiện, tâm hiền, tâm ngay thẳng, chúng ta sẽ nhìn thấy ánh sao của Thiên Chúa hướng dẫn, sẽ nghe được tiếng các thiên thần chỉ đường.
Với tâm nhân ái, khiêm nhường, tín thác, xót thương, chúng ta sẽ không mất hướng, lạc đường, hoảng hốt, thất vọng, cho dù có lúc ngôi sao bất chợt vụt tắt trên đường, giữa trời đêm.
Sau cùng với tâm được gặp Thiên Chúa, tâm được Thiên Chúa dậy dỗ, đổi mới, tha thứ, chúc phúc, chúng ta sẽ đến đích, khi nhận ra “Thiên Chúa làm người” qua hình hài con người bé nhỏ, yếu đuối, nghèo nàn, bệnh họan, dốt nát bị người đời quên lãng, bỏ rơi, bị cuộc đời khinh chê, ruỗng rẫy, mà hình ảnh “trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” vừa lặng lẽ chào đời giữa đêm khuya thanh tịch, trong chuồng chiên cừu nặng mùi hôi tanh đã cực tả “yếu đuối của Thiên Chúa” để làm cho con người được mạnh mẽ, “nghèo hèn của Thiên Chúa” để con người được no đủ, giầu sang. 
Vâng, Thiên Chúa đã không tỏ mình cho nhân loại khi Giáng Sinh cách nào khác, ngoài trở nên “trẻ sơ sinh bé nhỏ bọc tã, nằm trong máng cỏ”, và cha mẹ Ngài là những người nghèo “đã không tìm được chỗ trong nhà trọ” (Lc 2,7). Cũng với cách này, Ngài sẽ tỏ mình cho muôn dân muôn nước trong ngày Phán Xét chung, khi phân xử tội phúc của từng người qua việc làm đối với những anh em bé nhỏ, nghèo hèn, yếu đuối nhất (x. Mt 25,31-46).  
Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2020

THE PATIENCE OF LOVE

Author : Jorathe Nắng Tím
Translator : A. Prisca
January 02, 2020
"Love makes us patient. So many times we lose patience, even me, and I apologize for yesterday's bad example," Pope Francis has apologized for slapping a woman's hand to free himself from her grip while greeting children and pilgrims in St. Peter's Square on New Year's Eve. The picture and the video clip of this incident has been spread out over social media networks and got so many different comments and opinions.
Personally, I have a few points for the reflection on this event, basing on Pope’s apology.
1. “Love makes us patient.”
If love is an available gift, it is worth nothing. On the contrary, people grow up in love, which means learning how to love fully day by day. Love helps train, convert, renew and purify us. Love actually trains us step by step to help us behave towards the others more kindly , more tolerantly, more sympathetically and always willingly forgive the others , because love is like a green bud that needs to be nurtured, carefully cultivated, tenderly cut to grow up and bear fruit greatly.
Starting his apology, Pope Francis not only affirmed the role and the way of training of love but also openly identified himself as a student in the school of love, and the lesson he was attentively learning, practicing, trying his best to practice is “patience in love”. He humbly knows that his old age, his poor health, and his burden of a shepherd for the flock sometimes become too heavy to carry and beyond his limits. He is also strongly aware of his limitation as a human being and knows that he has not been patient enough in the mission of love and sacrifice for the entrusted flock.
That is the reason why he started the New Year's Mass with the Penitential Act : I confess to almighty God and to you, my brothers and sisters, that I have angrily beaten the woman’s hand last night because of my impatience in love.
2. “So many times we lose patience” :
“Being impatient" is just because we are not "completely holy", so do the ones we love. We are still "human beings" with many faults and bad habits. When two imperfect people love each other, two people who are unworthy love each other or two weak people love each other with the desire to reach the ideal or absolute excellence, they easily lose their temper because of their shortcomings or mistakes, even the insults that hurt each other.
Therefore, onour journey of love as human beings, we still have to learn patience because patience always is the great challenge of love to overcome. Evedentially, the main cause in broken affairs or relationships is that the two people are not patient enough to love each other.
In this way, we find out Jesus affirms to His disciples with His extremely patient love that He loves them to the end. We are sure that Pope Francis is always mindful about Jesus’ teachings and tries to live his "love to the end", but on the night of December 31 2019, Pope Francis might lose his patience because of becoming so exhausted about walking on the long street to greet a lot of people with the hand strickly shaken by that woman.
3. “I do, too…”
I think it is really a nice and kind image of the leader of the Catholic Church with the humble and sincere apology from the bottom of his heart . It was not the fault of deliberately harming anyone, not the serious fault of hurting someone, neither the serious fault that adversely affects the reputation of the individual or the collective, but the fault was that an eighty-four-year-old man was so deadly exhausted with his hand that was tightly shaken beyond his endurance to calmly keep his gentle smile and happy face.
Indeed, what happened to Pope Francis is “the fault of a human being with a lot of limitations” in the sacrifice sacrificed to the end for the flock or “the fault of a fragile man” who takes up an abundance of responsibilities to carry out the mission of love to the others.
4. “I apologize for yesterday's bad example”
The Mass of The First Day of New Year 2020 takes place so sacredly with the lively, humble, sincere Penitential Act of Pope Francis, the successor of St.Peter the Apostle, the head of the Catholic. Truly, this is the best confession ever of a pope in the history of the Catholic Church ; the confession that gets much respect from the others, the confession that becomes unforgettable ever, the confession that becomes a good lessons for its value, its charisma and its impression.
The Holy Father humbly thought of himself as being an bad example, but it has becomes a shining example of the self-forgetting spirit of “the Lamb of God, who takes away of the sins of the world” as a person in such a high position in the society, who courageously apologized for making a bad example for the flock.
Pope Francis acknowledges that he has set a bad example and given an apology, for he has a simple spirit of love, and a humble manner in the mission of service. Thanks to the simplicity and humbleness and his heart at peace, he easily recognizes himself as a person of many shortcomings; imperfectness and limitations, who always needs support and mercy from the others, and especially when peacefully giving the apology from the depths of the good Shepherd's heart , he was ready to “go down to the very end” and to give himself for the flock.
My Loving God,
I, together with all the faithful in the Catholic Church, thank You for granting us Pope Francis, the shepherd of selfless love and humble service. Because of trying his best to serve the flock, he takes a chance of “an error occurred to him” to erase himself for the love of the flock to the end through his humbly bowing his head and striking his breast for the apology.
Like millions of other Catholic faithful with the deep love for Our Holy Father in the early days of the year, I continue to pray for him and like to say to him that "We always love you, Pope Francis!".


Gli occhi alla vigilia di Natale.

Autore: Jonathe Nắng Tím
Traduttore: Iosephus H.V

La mia felicità alla vigilia di Natale è nascosta dietro una grotta per contemplare gli occhi di così tante persone che pregano davanti al Bambino, e i cui occhi sono belli quella notte, anche luccicanti di santità, con una gioia si chiama “Pace”.

Infatti, circa duemila anni fa, alla vigilia di Natale a Betlemme, c'erano persone che venivano a vedere il Bambino con gli stessi occhi puri, santi e pacifici.

Il Vangelo racconta: “C'erano in quella regione alcuni pastori che, pernottando all'aperto, vegliavano tutta la notte facendo la guardia al loro gregge. Un angelo del Signore si presentò a loro e la gloria del Signore li avvolse di luce. Essi furono presi da grande timore, ma l'angelo disse loro: «Non temete: ecco, vi annuncio una grande gioia, che sarà di tutto il popolo: Oggi, nella città di Davide, è nato per voi un Salvatore, che è Cristo Signore. Questo per voi il segno: troverete un bambino avvolto in fasce, adagiato in una mangiatoia” (Lc 2, 8-12).

A quel tempo, i pastori dormivano profondamente, se non fossero nel turno di guardia o nel crisi di assonnata, avrebbero semplicemente chiuso gli occhi e farebbero un pisolino nel centro dei loro greggi.

I semplici occhi delle anime povere, buono e gentili di quella notte si erano molto spaventati e inorriditi, poiché non avevano mai visto una luce così "brillante", non avevano mai visto scene così splendide. Erano terrorizzati, ma non erano confusi e fuggirono. Al contrario, con la semplicità dell'anima, la rettitudine della coscienza, i pastori si videro nella splendida luce la via del Vangelo. E immediatamente andarono, senza indugio.

Nella grotta di Betlemme, quegli stessi semplici e gentili occhi videro un "un bambino avvolto in fasce, adagiato in una mangiatoia”. Ma soprattutto, quegli occhi videro Dio, Il Salvatore sotto forma di neonati, che non è visibile a tutti gli occhi.

I pastori lo videro, perché avevano la vita pura dei poveri. I poveri sono puliti, perché la mente dei poveri non è intrigante, inganno; la lingua dei poveri non è esagerata, né mentendo; il cuore dei poveri è spesso misericordioso, perché capire a fondo il dolore e l'umiliazione dei poveri; le mani dei poveri sono sempre più generose dei ricchi perché non c'è nulla di egoistico, che spilorcio; I poveri piedi, abituati alle crepe e ai calli della vita, sono pronti a partire e non hanno paura di andare da nessuna parte. E, naturalmente, i puri occhi di un cuore puro in quei poveri pastori li fecero vedere a Dio (Mt 5, 8).

Sono i primi a vedere Dio come un essere umano, pastori appositamente scelti e amati da Dio (Mt 11:25). I pastori hanno gli occhi di Dio proprio a causa della loro povertà di una vita semplice e di un cuore puro, in modo che Dio possa essere nascosto dal “bambino avvolto in fasce, adagiato in una mangiatoia” così povero e debole. Con gli occhi santi del buon cuore, i pastori hanno visto Dio nell'immagine di un essere umano, riconoscendo il suo Dio onnipotente e glorioso nei deboli, nei piccoli, negli abbandonati, dimenticato. Gli occhi di quei pastori, a causa della santità di Dio, sono amichevoli con tutti, specialmente con coloro che non sono amati e quelli che sono considerati peccato. Gli occhi dei pastori sanno come ammirare non solo Dio e le sue meraviglie, ma anche apprezzare e contemplare l'uomo, che è un'impresa meravigliosa, perché porta l'immagine di Dio.

Oltre agli occhi e alle anime semplici e gentili dei pastori, c'erano gli occhi degli astrologi dall'est. Il Vangelo racconta: “Nato Gesù a Betlemme di Giudea, al tempo del re Erode, ecco, alcuni Magi vennero da oriente a Gerusalemme e dicevano: «Dov'è colui che è nato, il re dei Giudei? Abbiamo visto spuntare la sua stella e siamo venuti ad adorarlo». All'udire questo, il re Erode restò turbato e con lui tutta Gerusalemme (Mt 2,1-3).

Gli astrologi videro la stella di Gesù apparire in Oriente, dove si trovavano, perché i loro occhi erano umilmente meravigliosi. Erano meravigliosamente umili quando non si consideravano stelle, quindi videro la stella di Gesù; non si considera arrogantemente una stella, così da poter vedere la stella del Salvatore; non concepito come il Superstar, in modo che possa vedere milioni di stelle nel cielo; non sostenendo con orgoglio di essere la stella, fecero il viaggio per trovare la stella di Dio, La Luce di tutti i popoli.

A differenza degli occhi orgogliosi, ma ciechi di Erode, non vide nulla, anche se il Salvatore nacque a Betlemme, sul suo territorio, molto vicino a lui. Perfino a tutti i capi dei sacerdoti e gli scribi del re non lo hanno saputo, sebbene fosse scritto per mezzo del profeta: “E tu, Betlemme, terra di Giuda, non sei davvero l'ultima delle città principali di Giuda: da te infatti uscirà un capo che sarà il pastore del mio popolo, Israele” (Mt 2,6).

A differenza dei gentili occhi degli astrologi, il re Erode aveva occhi malvagi. Nel tentativo di ingannare gli astrologi e indurli a tornare a riferire al re Erode dopo aver trovato il bambino, in modo che sapesse esattamente dove era nato il bambino per ordinare l'uccisione morte del bambino per evitare le conseguenze della perdita del trono (Mt 2: 8-8). Ma il piano oscuro di Erode non fu realizzato, perché nel sogno fu detto agli astrologi di non tornare a Gerusalemme per incontrare Erode (Mt 2:12).

Con occhi umili e il desiderio di cercare la verità, gli astrologi hanno visto la stella di Dio e hanno visto Dio come un essere umano, appena nato a Betlemme.

In effetti, il Vangelo racconta che a quel tempo solo due gruppi di persone venivano a Betlemme per incontrare il Bambino Gesù appena nato: i poveri pastori, che stavano custodendo le pecore nella zona, e i saggi astrologi, avevano la ricchezza e il condizione sociale da lontano. Entrambi i gruppi non hanno lo stesso grado sociale, ma hanno lo stesso cuore, il cuore puro e gli occhi chiari delle persone di buon cuore. Quindi entrambi videro il segno di Dio e videro Dio stesso in Gesù a Betlemme.

Per me, il Natale è anche l'occasione per rivedere i miei occhi, per vedere che i miei occhi sono ancora offuscati dell'egoismo, la gelosia, l'odio, l'arroganza, e di tutte le ambizioni, in particolare l'ambizione per il potere. Poiché l'ego è così grande, l'ego di una Superstar, l'ego è tutto, nessuno e niente ha più valore dell'ego, incluso Dio. Pertanto, i miei occhi non vedono nienti tranne l'ego povero, colpevole, arrogante, oscurando persino Dio e i suoi fratelli.

Non vedo nessuno tranne me stesso, non avrò occhi amichevoli da incontrare, amare, simpatizzare, condividere; occhi sorpresi, ammirazione, amare il lavoro, il valore di chiunque. Non solo nego la verità di me stesso e degli altri, ma peggio ancora è l'illusione di essere una superstar in modo che non vedrò mai la stella di Dio per tutta la mia vita. Perché solo le anime pure e umili possono vedere Dio; solo gli occhi puri dei poveri sono amati da Dio, gli occhi umili di coloro che bramano la Verità, gli occhi pacifici delle persone di buon cuore possono vedere Dio e la Sua gloria.

Possano gli splendidi occhi di fronte a Betlemme che ho avuto la fortuna di contemplare alla vigilia di Natale saranno sempre chiari come gli occhi dei pastori e umili come gli occhi degli astrologi, per essere visti "Dio si è fatto uomo".