Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2020

VII. TÌNH YÊU NGƯỜI NGHÈO

Tất cả những chia sẻ ở trên không thay thế được tấm lòng yêu thương người nghèo như điều kiện phải có ở người làm từ thiện. Kỹ thuật từ thiện, phương án từ thiện, kế hoạch từ thiện, phương tiện từ thiện, tổ chức từ thiện ... ngay cả  con người từ thiện dù tuyệt vời, tài giỏi đến đâu cũng không thể thiếu tấm lòng yêu thương như động cơ làm chạy bánh xe từ thiện.
Thiếu tình yêu dành cho người cơ nhỡ, công trình dù hay đến đâu rồi cũng sẽ chấm dứt. Thiếu một tấm lòng thương người nghèo thật, cố gắng mấy rồi cũng ngã gục, bỏ dở, buông tay. Thiếu tình thương cho người khốn khổ, khó khăn đủ loại, đủ phiá sẽ nhanh chóng đánh gục lý tưởng  từ thiện. Tình thương thật dành cho người nghèo là nền móng vững chắc cho lý tưởng từ thiện, là đôi cánh cho thiện chí từ thiện bay cao, là nguồn sức mạnh cho mọi hoạt động từ thiện, là hy vọng cho mọi ý hướng từ thiện, là  bảo đảm cho mọi ước mơ từ thiện và sau hết là thuẫn đỡ bảo vệ người làm từ thiện trước mọi cám dỗ đầu hàng, buông xuôi; vì những tấn công phi lý và vô trách nhiệm từ nhiều phiá, bởi nhiều nguyên do rất đa dạng và rất khó nhận diện.
Tình yêu thật dành cho người nghèo phải là tuyên ngôn hùng hồn của người làm từ thiện trước những vô ơn, phản trắc. Tình yêu thật dành cho người đau khổ phải là kinh tin kính trước những nghi nan, ngờ vực. Tình yêu thật dành cho người cơ nhỡ phải là  kinh cầu khiêm tốn, đầy xót thương trước những khiêu khích thách thức lòng tự ái, háo thắng, kiêu căng. Tình yêu thật dành cho người yếu đuối, bệnh tật phải là lời hứa cam kết trước những thách đố của nội tâm và áp lực bên ngoài. Tình yêu thật ấy cũng phải là niềm tin, lòng tự hào và niềm vui nơi người làm từ thiện. Và cũng chính tình yêu ấy sẽ  làm cuộc đời từ thiện rực rỡ hạnh phúc, một trời hạnh phúc bao la chỉ có thể nhận và  cảm nghiệm  khi đã hết tình, hết mình cho đi.
Một vài bí quyết ghi nhận được nơi những người lâu năm làm từ thiện:
1.   Bình tĩnh khi bị tấn công:
Câu chuyện có thật “tô bay, điã bay “sau đây ít nhiều nói lên cái khó của từ thiện và sức mạnh của tình yêu; bởi “làm từ thiện không lãnh lương, không lãnh thưởng, nhưng không vì thế mà thỉnh thoảng đã không lãnh tô bay, điã bay vào mặt”.
Chị Dung vừa cười vừa tiếp tục kể câu chuyện xẩy ra cho chính chị ở  khu Xạ Trị thuộc bệnh viện Ung Bướu, Gia Định vào trung tuần tháng 11 năm 2011.
“Một ngày như mọi ngày, 4 giờ sáng tôi đã có mặt để chuẩn bị bữa cháo từ thiện cho bà con bệnh nhân trong khu Xạ Trị. Để tránh tình trạng mất trật tự và khỏi mất thời giờ của mọi người, nhất là để kịp xong trước giờ giao ban của các bác sĩ và y tá, chúng tôi yêu cầu bà con nhận cháo theo thứ tự từng giường. Sáng nay, khi vừa đẩy xe cháo vào phòng 3, tôi đã bị chặn lại bởi một chị bệnh nhân, tay đeo đầy nữ trang, vừa xấn xổ đòi nhận cháo trước mọi người vừa huyênh hoang tự đắc: “Tôi quen nhiều cha,  nhiều sơ lắm... Ông cha L. mới gọi điện thoại thăm tôi đây nè”. Tôi bình tĩnh trả lời : “Em chỉ biết phục vụ bệnh nhân, chứ không biết ai quen cha, quen sơ, quen thầy” và ôn tồn mời chị  trở về giường.
Chưa đến phiên chị nhận cháo, bất ngờ chị nổi sùng ném nguyên cái tô  để đựng cháo vào mặt tôi và oang oang chửi rủa. Chờ cho chị bớt nóng, tôi  vắn tắt nói với chị : “Cháo này là cháo không mất tiền, chúng tôi vất vả tự nguyện đến đây chuẩn bị từ 4 giờ sáng và đem đến mời chị dùng . Không mất tiền  mà chị còn đối xử như vậy, huống hồ  đi ăn tiệm, phải trả tiền, chắc chị còn hống hách, dữ tợn hơn nhiều ”. Và tôi mời chị một lần nữa nhận cháo, nhưng chị tự ái hất phăng tay tôi ra”.
Hai ngày sau, chị xin gặp  và chị đã xin lỗi vì thái độ không đẹp của chị khi cho tôi lãnh “nguyên con” cái tô đựng cháo”.
Hai mươi năm làm từ thiện trong bệnh viện Ung Bướu, chị Dung đã có nhiều kinh nghiệm ứng xử trước những thái độ “không giống ai” của bệnh nhân. Hỏi chị có buồn và nản không ? Chị cười trả lời : “Đôi khi cũng buồn, nhưng tình yêu dành cho bệnh nhân lớn hơn tất cả, nên tôi vẫn vui và tiếp tục phục vụ”.  
2.   Để mình khỏi buồn”:
Đó là lời căn dặn của Đức mà tôi luôn nằm lòng suốt bao nhiêu năm làm việc từ thiện. Em bảo tôi : “Anh phải tập quên ngay người anh giúp và đừng bao giờ nghĩ mình sẽ có ngày nhờ họ hay họ sẽ trở lại thăm hay trả ơn mình. Hầu như tất cả sẽ quên anh, có thể sẽ ngang ngược, phụ lòng tốt của anh hay tệ hơn  nữa là phản bội anh... Khi đó, anh sẽ không qúa buồn và thất vọng vì mình đã không nuôi bất cứ một hy vọng nào”.
Lời khuyên đó tôi đã triệt để áp dụng và đã cho tôi nghị lực, thanh thản và an bình để mải mê làm từ thiện cho đến hôm nay và sẽ mãi cố gắng tiếp tục cho đến hết đời.
Đã có những cơn cám dỗ gìữ người mình giúp đỡ ở lại với mình, có thể vì quá thương họ, hơn là đợi chờ, tìm kiếm điều gì đó nơi họ ; nhưng  lời khuyên của em và hình ảnh chiếc cầu đã luôn giúp tôi tỉnh thức.
Này nhé, nếu khi làm từ thiện, giúp đỡ người khác, tôi tự nhận mình là nhịp cầu tre, cầu gỗ hay cầu sắt đưa khách qua sông, qua đèo hay qua thung lũng thì tôi không thể giữ mãi ngườì qua cầu ở lại trên cầu, cũng không nên cầm giữ bước chân những khách bộ hành đi qua; vì nhịp cầu là “tôi”  bé quá sẽ bị chiếm đóng, cắm lều và không còn chỗ trống đón những bước chân sắp đi tới, đang cần nhịp cầu để vượt qua khó khăn; vì nhịp cầu là “tôi” yếu đuối sẽ sụp đổ thảm thương nếu hàng trăm người chen chúc ở lại trên cầu; vì nhịp cầu là “tôi” chật hẹp quá sẽ không cho không gian, dưỡng khí và điều kiện sống cần thiết; vì nhịp cầu là “tôi” ngắn ngủi quá sẽ không mở ra cho ai đường đi tới, về một tương lai sáng lạn; vì nhịp cầu là “tôi” tầm thường qúa sẽ không thăng tiến được ai, không hướng cho ai đến một lý tưởng thích hợp; vì nhịp cầu là “tôi” mong manh qúa sẽ không bảo đảm được ngày mai của người đến với tôi; vì nhịp cầu là “tôi” nghèo nàn quá sẽ không làm giàu được đời sống của những người muốn ở mãi với tôi trên cầu.  Là nhịp cầu, tôi phải đón những bước chân người đi, nhưng đi qua thôi, không được dừng lại trên cầu và nhất là không được ở lì mãi trên đó. Là cây cầu, tôi đón khách, rồi tiễn chân khách ngay sau đó, không chần chừ, tiếc nuối, bịn rịn, đòi hỏi; vì nhịp cầu chỉ là nhịp cầu và có giá trị khi sống đúng bản chất là “phương tiện cho người đi qua, vượt qua” và sống đúng sứ mạng “nối hai bến bờ” của nó. Nối hai bến bờ chứ không bao giờ được tự biến chất hay thay đổi sứ mạng để trở thành “bến, bờ”. Bởi khi đòi làm bến, làm bờ, làm đích đến, cây cầu sẽ đánh mất ý nghiã đời mình là “nối kết, giao liên”.
Làm cây cầu cho đàn em, làm nhịp cầu cho đàn con, đàn cháu qua đó mà đi tiếp, qua đó mà đi lên, qua đó mà đạt đích tới là nét đẹp không gì so sánh được của người làm từ thiện. Họ đã  khiêm tốn, hy sinh, thinh lặng, âm thầm nằm xuống làm nhịp cầu cho mọi người buớc qua, đạp lên không vì  quyền lợi của họ, nhưng vì hạnh phúc của những vị khách qua cầu này hoặc nhẹ nhàng,  hoặc tế nhị,  hoặc hùng hổ, hoặc vô tình, hoặc lạnh lùng, hoặc vô cảm, hoặc ung dung, hoặc tỉnh bơ không thắc mắc  đang bước qua đời họ để đi lên, đi tới..
Hình ảnh nhịp cầu cũng là hình ảnh ông lái đò. Ông lái đò đã đưa bao nhiêu khách qua sông từ năm này sang năm nọ. Bao nhiêu khuôn mặt, bao nhiêu tâm tình, bao nhiêu kỷ niệm của khách qua sông đã ở trong ông và làm nên đời ông, nhưng tuyệt nhiên ông không giữ ai lại mãi trên đò. Ông chỉ mong chèo chống cho nhanh, cho khéo, cho an toàn để khách còn tiếp tục hành trình trước mặt, và ông còn kịp quay lại bờ bên kia đón khách. Công việc của ông là đưa khách qua sông, chứ không giữ khách mãi trên sông, vì sông là nơi phải vượt qua và con thuyền là phương tiện để vượt qua không gian khó khăn đó. Ông mãi vui với nghề đưa khách qua sông đã bao nhiêu năm, mà ông không  hề để ý đã có bao nhiêu khách đã nhờ đò ông mà thành công, thành đạt. Thực ra chính cái ông “không để ý” đã cho ông niềm vui và hạnh phúc được mãi là ông lái đò đưa khách qua sông.
Nhịp cầu và con đò là hai hình ảnh nâng đỡ, hai hình ảnh trợ lực, hai hình ảnh biểu tượng lý tưởng đã giúp ta không buồn, hay đúng hơn là không biết buồn như ông lái đò đã “không để ý “ trước những vô tình, vô ý, vô ơn của những người nhận từ ta sự giúp đỡ. Hai hình ảnh đã trở thành kim chỉ nam cho đời làm việc. Và ta sẽ thấy mình là người hạnh phúc khi dấn thân phục vụ  người khác. 
3.   “Cứ gieo hào phóng”:
Nhạc sĩ Giám Mục Thông Vi Vu nhắn nhủ tôi như vậy khi Ngài viết nhạc bài “Gieo và Gặt “. Thế ra “làm từ thiện “ không chỉ đóng khung trong quan niệm cổ điển là “cho  người nghèo tiền bạc, của ăn, áo mặc”, mà còn là gieo, gieo những hạt giống tốt trong cuộc đời, gieo những hạt giống nhân ái trong trái tim mọi người, gieo những hạt hạnh phúc trong đời sống từng người. Làm từ thiện là thực hiện công tác từ ái, thiện hảo, nên bất cứ công việc tốt lành, nhân bản, hành động tử tế, dễ thương, công tác xây dựng, thăng tiến nào cũng đều nằm trong vùng phủ sóng của “làm từ thiện”. Từ thiện là bác ái, từ bi; là đồng tâm, đồng hành; là chia sẻ, đùm bọc; là kết nối, yêu thương.
Từ thiện không chỉ còn là cho đi , nhưng còn là nhận lãnh; bởi đã có gieo, ắt sẽ được gặt; có những ngày gieo trong nước mắt thì cũng có ngày gặt giữa tiếng ca; có ngày vất vả chân lấm tay bùn thì cũng có ngày mùa mừng vui.
Cho đi và nhận lãnh là hai mặt của đồng bạc như gieo và gặt, như sẽ gặt những gì đã gieo. Tóm lại, từ thiện là công việc của con người làm cho con người mà mục đích là nâng đỡ, xây dựng nhau. Trong từ thiện, bản tính “người” của con người được biểu lộ và giá trị “người” của con người được biểu dương.
Từ thiện như thế không còn là việc của một vài người, một số đoàn thể, nhưng là việc chung, việc tự nhiên phải làm của mọi nguời. Mỗi cá nhân đều mang sứ mạng làm từ thiện, vì mỗi người đều được gọi vào đời để sống với người khác, và khi sống với,  nhu cầu chia sẻ, đùm bọc, yêu thương sẽ thúc bách mọi người nghĩ đến nhau. Như thế chương trình “làm từ thiện” sẽ là công việc không biên giới và người gieo sẽ vui tươi, hào phóng tung hạt như Thông Vi Vu diễn tả trong bài “Gieo và Gặt” :  
“Gieo Thành Thật, gặt  được Niềm Tin
Gieo Lòng Tốt, gặt được Thân Tình
Gieo Kiên Nhẫn sẽ gặt Quang Vinh
Gieo Tha Thứ sẽ gặt được An Bình”.

4.   Cùng tìm giải pháp:
Emmaus là tổ chức từ thiện do cha Pierre (5/8/1912- 22/1/2007), người Pháp thành lập lấy tên con đường ngày xưa trên đó hai môn đệ của chúa Giêsu đã đồng hành trong đau buồn, thất vọng sau khi Thầy bị đóng đinh. Cũng trên con đường chất ngất đau buồn, tuyệt vọng này, chúa Giêsu đã hiện ra với hai ông. Ý nghiã của con đường Emmaus là Chúa luôn có mặt, khi chúng ta đồng hành và chia sẻ với nhau từ cơm bánh, nhà ở đến niềm vui, nỗi buồn...
Năm 1949, một người tù vừa được trả tự do, sau khi tự tử hụt vì không có gì để sống đến gặp cha Pierre. Đối diện với anh, cha Pierre đã nói: “Tôi chẳng có gì cho anh và anh cũng chẳng có gì. Thôi, thay vì bó tay chịu chết, anh đến giúp tôi đi để tôi có thể giúp anh”. Và ông bạn tù tự tử hụt vì túng bấn ấy đã là thành viên thứ nhất của  tổ chức Emmaus.
Chủ trương của Emmaus là giúp những người nghèo đuợc sống xứng đáng bằng chính việc làm của mình và độc lập là nguyên tắc vàng của Emmaus. Những người nghèo, cơ nhỡ, không nhà cửa, bệnh tật, cô thân làm thành những nhóm nam - nữ riêng, nhưng sống chung như gia đình. Công việc hằng ngày là thu gom tất cả đồ cũ như sách vở, quần áo, chén diã, giường tủ, tivi, máy giặt, tủ lạnh, xe đạp, vi tính,... và bất cứ đồ gì còn có thể dùng được. Những đồ cũ này được đưa về để anh em cùng nhau sửa chữa, tu bổ, tân trang, rồi được bán lại với một giá rất rẻ cho mọi người mà phần lớn cũng là những người nghèo.
Mục đích là tạo cho người nghèo việc làm và cho những người nghèo khác cơ hội được dùng những phương tiện vật chất mà cứ sự thường họ không bao giờ có đuợc, vì không có tiền mua đồ mới  trong siêu thị, cửa hàng. Mua với giá rẻ những đồ đã dùng rồi, người nghèo sẽ sắm được những món đồ vừa cần thiết vừa  dần dà nâng cao đời sống của họ.
Trung bình mỗi huynh đoàn gồm 50 đến 60 người. Điều kiện để được nhận vào huynh đoàn rất đơn sơ, được tóm gọn trong câu nói bất hủ của người sáng lập : “Bất kể anh, chị là ai, nhưng nếu anh chi đau khổ, hãy đến đây ở, ăn, ngủ và tìm lại niềm Hy Vọng, vì ở đây anh, chị được yêu thương”.
Đau khổ là điều kiện duy nhất để được nhận vào huynh đòan, nên huynh đòan Emmaus hầu như không thiếu một bộ mặt nhân loại đau khổ nào: người nghèo, người thất nghiệp, người ngoại quốc không giấy tờ, người mới ở tù ra, người bị gia đình xua đuổi. Họ giống nhau vì cùng đau khổ và cùng muốn làm lại cuộc đời từ niềm Hy Vọng tìm thấy dưới mái ấm Emmaus.  Hiện trên nước Pháp có 117 huynh đoàn Emmaus với 6899 thành viên. Số thiện nguyện đến giúp Emmaus là 3262, chưa kể các huynh đoàn Emmaus đã có mặt trên 36 quốc gia  khác ở Phi Châu, Á Châu và Nam Mỹ.
Mỗi huynh đoàn có một giám đốc phụ trách điều hành sinh hoạt đời sống, tổ chức công việc, chuẩn bị tương lai cho từng thành viên. Mỗi thành viên đều làm việc và một phần lợi nhuận do công việc sẽ được giữ lại với mục đích chuẩn bị tương lai cho thành viên này, vì mục tiêu sau cùng của Emmaus vẫn là tạo cho mỗi người một đời sống riêng, độc lập, có công ăn việc làm, có gia đình và đời sống hạnh phúc như mọi người bình thường khác.
Chọn gia đình là khuôn mẫu, nên mỗi thành viên là thành phần của gia đình. Mỗi người có quyền lợi và bổn phận của một người anh, người em, người chị trong gia đình là yêu thương, tương trợ, nâng đỡ và thăng tiến nhau. Không có giới hạn thời gian cho thành viên được ở trong huynh đoàn, và thành viên chỉ rời tổ ấm khi đủ khả năng độc lập như con lớn khôn, trưởng thành rời mái nhà cha mẹ đi ở riêng, xây tổ ấm mới.
Cùng tìm giải pháp là cách giúp đỡ tốt nhất đối với người cần được giúp đỡ; vì hơn ai hết, họ biết họ có thể làm được gì và cần gì ở người khác. Giúp đỡ mà không lắng nghe cũng như yêu thương mà không đối thoại. Thiếu lắng nghe, đối thoại, tất cả sẽ bế tắc, bắt đầu từ bế tắc thông tin, đến bế tắc tình cảm, sau cùng là bế tắc chọn lựa, hành động.
Khi ai đến với ta, hay ta đến với người nào đó, việc cần làm trước hết là tìm xem đâu là nhu cầu của họ và đâu là khả năng của ta. Phải biết ta, biết người mới có thể thành công. Cũng có khi ta hoàn toàn bất lực trước những nhu cầu của người đối diện; khi đó, việc duy nhất phải làm chính là ngồi với họ và cùng  họ tìm một giải pháp đơn giản nhất, có thể thực hiện ngay, và rất cụ thể để ta với họ cùng giúp nhau ra khỏi bế tắc. Không cần nhiều lời, không nên toan tính xa xôi, phức tạp, nhưng nên nhắm những gì thực tế và ích lợi trước mắt dù rất nhỏ,  như cha Pierre đã làm với người bạn nghèo khi anh đến tìm cha, sau khi tự tử hụt. Cha không có sẵn giải pháp, nhưng ngồi với anh, cả hai đã  cùng khai sinh chương trình bác ái Emmaus. Nhờ ngồi với nhau và cùng tìm giải quyết bế tắc, cha Pierre đã thực hiện một phép lạ yêu thương vĩ đại mà chính Ngài đã không ngờ.
Thực vậy, chúng ta có thể nói mà không sợ đại ngôn: phép lạ tình yêu là do chính chúng ta làm cho nhau, vì Thượng Đế  tràn ngập Tình Yêu tuyệt vời của Ngài trong mỗi người, đến nỗi chỉ cần  một chút thiện chí “ngồi với nhau”, người ta có thể làm cho nhau nhiều điều kỳ lạ, nhờ sức mạnh nhiệm lạ của Tình Yêu mà Thượng Đế đã quảng đại ban cho con người.
Ý thức ơn huệ và khả năng yêu thương, ta sẽ trân qúy những gì là yêu thương, những gì thuộc về yêu thương, những gì dẫn đến yêu thương. Khi trân qúy những giá trị của tình yêu, ta sẽ không ngại tìm kiếm, xây dựng những giá trị này và nhờ thế, cuộc sống nhân loại ngày càng tươi đẹp, bình an khi tình yêu ngự trị; vì con người không thể hạnh phúc nếu không yêu thương nhau; bởi mọi người đều đã được sinh ra từ một cội nguồn Tình Yêu.
5.   Ở đây và ngay bây giờ  “Hic et nunc”:          
Với Tình Yêu và niềm Hy Vọng, chúng ta cứ bắt đầu bước chân thứ nhất ... còn đường dài  ngày mai đã có Trời và nhiều người thiện chí, nhiều tâm hồn quảng đại, nhiều bước chân dấn thân khác sẽ tiếp nối kiện toàn. Việc của chúng ta là “ở đây, và ngay bây giờ”.
Có những người nghèo chỉ chờ ở ta một bàn tay nắm chặt, một nụ cười cảm thông, một chiếc khăn, một miếng bánh, một ly nước, vài chục ngàn; nhưng ta không làm. Không làm không phải không làm được hay không được làm; nhưng không làm vì:
a.   Ta nấn ná, chần chừ để việc đó cho ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm tới. Khi không làm liền ngay điều có thể làm, chia sẻ ngay những gì đang có, ta đã đánh mất cơ hộiyêu thương người nghèo trong khi họ đang cần ta thương, rất cần ta giúp. Rất có thể họ chỉ cần ta lúc này và ở đây, còn ngày mai, họ không  cần ta nữa; nhưng  vì tình yêu dành cho  người nghèo không đủ lớn, nên ta đã không mau mắn ra tay giúp đỡ, nhưng trễ nải, triển hạn, kể cả nhẫn tâm “xù” luôn cuộc hẹn với họ những ngày sau đó; bởi họ nghèo và không mang lại lợi lộc, vinh dự gì cho ta.

 b.   Cũng có thể ta không làm ngay, giúp ngay vì ta ngại những gì mình giúp ít ỏi, nhỏ bé qúa. Ta nghĩ: đã làm thì phải làm cho ra trò, đã giúp thì phải giúp cho đáng; cũng có thể, người nghèo khó tính có thể cự lại ta, nếu tặng phẩm ta cho họ không đúng mức họ cần, không như họ đợi chờ, ước mơ. Chính những lý do này đã làm ta ngại và dễ dàng bỏ nhiều cơ hội làm từ thiện.  
Thế mới biết: làm từ thiện không dễ, không dễ vì người cho có nhiều khó khăn tâm lý, khó khăn vật chất; mà còn khó vì người nhận không dễ “chịu nhận” những gì người khác chia sẻ, trao tặng; cũng vì nhiều lý do tâm lý phức tạp.
Tuy thế, người làm từ thiện nên nhủ lòng: không để người nghèo trở về tay không, khi làm ngay những gì có thể làm, giúp liền những gì có thể giúp, dù rất ít, rất nhỏ. Đừng quên một đồng “ngay bây giờ và ở đây” nếu được cho với cả tấm lòng sẽ lớn hơn bạc triệu ở một nơi, một thời điểm khác…
 
6.   Yêu và ở lại:
Người ta có thể làm từ thiện  kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, nghiã là đi nhanh qua, thoáng qua, nhưng không bao giờ dừng lại, chưa nói đến ở lại; trong khi yêu thương luôn đòi ở lại.
Có nhiều cách làm từ thiện và mỗi cách mang lại hiệu qủa khác nhau; nhưng cách nào đi nữa, người làm từ thiện cũng được mời gọi “ở lại” với người nghèo được giúp đỡ. Ở lại bằng nhiều cách, dưới nhiều dạng để người nghèo không tủi thân vì nghĩ mình chẳng giá trị hơn một đàn heo đói meo chờ cám.
Hình ảnh “người Samaritanô nhân hậu, bác ái” trong Kinh Thánh là hình ảnh người làm từ thiện với tình yêu biết  “ở lại” với người được giúp đỡ. Tình yêu “ở lại” mới thực là tình yêu quan tâm hết tình, và phục vụ hết mình.

TÌNH YÊU CHIA SẺ

Khi nghe đến “chia”, ta hình dung ngay một mất mát, một bớt đi, một tình trạng không còn nguyên vẹn như trước. Chạm mặt với “sẻ” ta nhận ngay ra một thiệt thòi. Chính vì thế từ “chia sẻ” đã không làm ta vui, đã không lôi cuốn hấp dẫn, nhất là khi chia sẻ ấy lại là “chia thương, sẻ tình”.
Quả thực, tình yêu đòi chuyên nhất, không muốn bị chia sẻ bởi chia nhỏ ra sẽ ít đi, tình yêu e có ngày sẽ không còn gì hoặc chẳng còn lại bao nhiêu.
Nguy cơ giảm sút tình yêu, nguy cơ tình yêu bị cắt xén đã làm ta canh giữ tình yêu cẩn thận, rào giậu không cho tình yêu có thể xổ lồng đi chia sẻ lung tung. Nỗi lo và những biện pháp ngăn chặn, bảo vệ đó không phải không có lý. Nó có lý vì nếu có chút tình cho nhau mà lại chia sớt cho người khác, hỏi làm sao yên tâm được? Không chỉ hữu lý, nó còn được xem là cần thiết vì trong thực tế, tình yêu thường là đứa con khó nuôi, khó giữ.
Tôi hoàn toàn đồng ý với cái lý, cái cần thiết đó khi cái lý, cái cần thiết ấy đứng với chia sẻ được hiểu theo nghĩa chia là mất đi, sẻ là giảm bớt. Với vật chất, khi chia sẻ là mất đi một phần. Cho ai một ngàn là mất đi một ngàn trong túi, ở trương mục; chia ai phần đất là mất đi phần đất ấy; chia ai gia tài là không còn nguyên vẹn gia tài trước đó. Vật chất đơn thuần theo cân, đong, đo, đếm: nhận vào thì nặng hơn, dài them, cắt đi sẽ ngắn lại, nhẹ hơn. Và như thế, chia sẻ là mất bớt, giảm thiểu.
Nhưng tình yêu không phải vật chất. Nó có mặt trong ta, trong thế giới người, nhưng không lệ thuộc vào vất chất, dù có thể ít nhiều chịu ảnh hưởng vật chất. Phạm trù của tình yêu là thế giới siêu hình, thế giới bao trùm cái thế giới ta đang thấy, đang cư ngụ. Hành trình của tình yêu tuy gắn chặt với con người sống động, nhưng mục tiêu đến của nó luôn là đỉnh cao tuyệt đối. Tình yêu vì thế không được nhìn và đánh giá theo các đơn vị đo lường vật chất.
Kinh nghiệm yêu thương cho thấy khi tình yêu bị khoanh vùng, giới hạn thì ta cảm thấy ngột ngạt, mất tự do, mất hứng thú. Nhiều anh em thường nói cho nhau nỗi nghẹn ngào, tiếc nuối tháng ngày tự do khi chưa lấy vợ. Phần các chị cũng chẳng vui hơn khi ngày mai lấy chồng “như chim vào lồng, như cá cắn câu”; hình ảnh cá cắn câu, chim vào lồng là hình ảnh quá rõ để nói lên tương lai mờ mịt “chẳng có ngày ra”.
Nhưng tại sao khi yêu nhau lại phải nhốt nhau, ký lệnh chung thân, khóa chặt đời nhau? Phải chăng tình yêu chỉ đẹp và hạnh phúc một thời khi yêu nhưng chưa thuộc về nhau? Nếu như thế, thì tình yêu ở đâu khi đã thuộc về nhau và nếu thuộc về nhau để bị kềm kẹp, mất tự do thì tình yêu có thực sự còn ý nghĩa? Và hôn nhân, một hình thức cụ thể thuộc về nhau, đúng là mồ chôn hạnh phúc như nhiều người vẫn nói.
Cái khó luôn dằn vặt ta là tính chuyên nhất, độc quyền trong tình yêu và nỗi khổ mất tự do khi yêu luôn làm ta lo sợ. Làm thế nào để có một thế quân bình cho ta được hạnh phúc khi yêu?
Tôi tưởng thế quân bình này chỉ có thể tái lập khi quan niệm về chia sẻ được thay đổi và ý nghĩa đích thực của chia sẻ được quan tâm.
Như đã trình bày ở trên, tình yêu không phải vật chất, không theo quy luật, phương pháp đo lường của các đơn vị vật chất, nên chia sẻ cũng theo đó, không còn là chia sẻ theo nghĩa thường là mất bớt, giảm sút đi cái mình đang có.
Điêu kỳ lạ của tình yêu là càng chia càng có, càng sẻ càng thêm, càng phân phát càng gia tăng, càng trao ban càng nhận về nhiều. Nó như một loại vi trùng, có cơ hội là lan tràn, chiếm cứ; không giảm khi cho, không mất khi sẻ, không thiệt thòi khi chia. Tình yêu hoàn toàn đi ngược kiểu cách, mực thước đong đo thông thường.
Nhìn vào các vĩ nhân, sở dĩ họ được gọi là vĩ nhân, ân nhân của nhân loại, được hậu sinh hay người đương thời yêu mến, biết ơn vì tình của họ đã được chia sẻ cho nhiều người. Một Ghandi, một cha Pierre, một mẹ Têrêxa, một Jean Caissaigne, nhiều chiến sĩ của hoà bình vẫn sống mãi trong trái tim nhiều người vì dấu vết tình yêu của họ đã đến được nhiều nơi, trái tim họ mang cho nhiều người. Ta cứ nghĩ vì quả tim không lớn nên chỉ có chỗ cho vài người, cho một nhóm hay tệ hơn nữa là chẳng có chỗ nào cho ai. Nghĩ như thế, tim ta sẽ nhỏ dần, lần mòn chết héo, kéo theo cái trống trải cô đơn, cái vô vị của cuộc sống.
Trái tim được sinh ra để gõ nhịp tình yêu, nên khi chối từ vai trò gõ nhịp, tim sẽ hết đập. Sống mà không yêu, cuộc sống sẽ suy thoái và trở thành một cái chết triển hạn. Tình yêu gắn liền với đời người, bởi đời ấy được tạo nên do tình yêu, nên ở bất cứ hoàn cảnh nào, đời ấy không được quên cội nguồn tình yêu của mình.
Không quên mình đến từ tình yêu và chỉ sống trọn vẹn hạnh phúc của đời người khi yêu và được yêu; đời con người không ngơi nghỉ trên hành trình yêu thương. Nó muốn yêu nhiều, yêu mãi dù đường tình lắm truân chuyên, dù người tình lắm lúc khó thương, khó chịu, dù duyên tình không mấy khi trọn vẹn, và dù gì đi nữa, nó vẫn khát khao yêu và ao ước được yêu.
Vì thế, chia sẻ trong tình yêu không làm trái tim hết chỗ, nhưng cho trái tim lớn hơn, rộng hơn. Chia sẻ tình yêu không làm mất vốn yêu thương, nhưng làm cho tình yêu phong phú, bao la và sâu rộng hơn. Người yêu nhiều là người lớn: lớn vì tình yêu của họ có mặt trong tim nhiều người, lớn vì tình họ sống mãi trong tim óc, cuộc đời người khác. Trái lại, người hẹp hòi ích kỷ chỉ yêu mình là người nhỏ, nhỏ vì chỉ có một mình, chỉ là mình và ngoài mình ra không ai nhận ra dấu vết có mặt của đời họ. Người chia sẻ yêu thương không những chỉ lớn, họ còn cao nữa: cao vì đời họ luôn hướng tới Tuyệt Đối, vươn lên đến Trời, nguyên thủy của Tình Yêu.
Chia sẻ là định luật căn bản trong tình yêu. Người không yêu ai là người không bao giờ chia sẻ; bởi yêu là chia cho nhau cái mình là, sự mình có. Càng chia sẻ cho nhau nhiều, tình cho nhau càng lớn. Càng chia sẻ cho nhiều người, tình ấy càng cao cả, vĩ đại. Bản chất của tình yêu là mang đến cho nhau hạnh phúc, hạnh phúc chỉ có thể đến với người khác khi ta chia sẻ, trao dâng chính ta cho họ. Cái ta lúc này là nguồn hạnh phúc cho người ta thương.
Đức Kitô đã sống tình yêu chia sẻ này. Ngài muốn trở thành tấm bánh được bẻ ra cho mọi người. Tấm bánh càng bẻ ra càng lớn, càng phân phát càng thêm nhiều. Hình ảnh phép lạ bánh hóa nhiều, nuôi dân ngày xưa chính là hình ảnh của chia sẻ. Thấy dân đói mệt, Ngài hỏi các môn đệ có bao nhiêu bánh và cá. Câu hỏi của Ngài đã làm các ông buồn cười vì quả thực với mấy con cá và dăm chiếc bánh ít ỏi làm sao đủ cho đám đông năm bảy ngàn người. Ý nghĩ của các ông là tư tưởng và phản ứng thường ngày của con người. Phản ứng tức thời ấy thuận chiều với ích kỷ, tính toán, sợ hết, sợ thiếu của ta. Ý nghĩ ấy có cùng mẫu số chung với trái tim hẹp hòi, nhỏ mọn, cục bộ, thu vén. Nhưng cũng chính vì ý nghĩ và phản ứng “không chia sẻ” mà nhiều phép lạ đã không được thành hình, không có điều kiện để xảy ra trong đời sống. Giá như ta luôn quảng đại, sẳn sàng chia sẻ dù chẳng còn bao nhiêu thì có lẽ vô số phép lạ tình yêu đã được Thiên Chúa thực hiện qua ta, nhờ ta và cùng với ta, như Ngài đã mượn mấy con cá, dăm chiếc bánh mà làm phép lạ nuôi dân ngày nào. Đừng nghĩ những con cá lòng tong nhỏ bé của đời ta là vô giá trị, những mẫu bánh khô cứng trong đời sống ta là đồ bỏ. Không có đồ bỏ, hay vô giá trị trong chương trình chia sẻ của Thiên Chúa với con người; không có đồ dư, hay phụ thuộc trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa với ta; nhưng tất cả những mẩu bánh khô, những con cá nhỏ sẽ làm nên đại sự, sẽ tạo thành phép lạ tình yêu, nếu ta chấp nhận chia sẻ với người khác.
Thiên Chúa không đòi chúng ta phải có nhiều mà chỉ muốn chúng ta chia sẻ những gì chúng ta có; dù những cái có của ta xem ra rất cỏn con, ít ỏi; bởi với tình yêu lớn, những cỏn con, ít ỏi đó sẽ trở thành lớn lao, cao cả.
Chia sẻ tình yêu không còn là món đồ trang sức cho tình yêu đẹp hơn, nhưng trở thành yếu tính của tình yêu. Không có nó, tình yêu không thể sống.
Biết chia sẻ là một hy sinh, một chọn lựa gay go, Đức Kitô nâng đỡ khó khăn nơi ta bằng hứa ban lại cho ta gấp trăm những gì ta chia sẻ và Ngài tự nhận thay ngưòi khác bổn phận đáp trả, đền ơn ta. Thấm thía kinh nghiệm và hạnh phúc khi chia sẻ, Thánh Phanxicô đã thốt lên trong kinh Hòa Bình: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”.
Cùng đồng hành với Đức Kitô, Đấng luôn dậy ta chia sẻ trong yêu thương với mọi người, tôi với bạn cứ vui vẻ góp nhặt những mẩu bánh, những con cá đời mình để sẻ chia. Với Đức Tin và niềm vui trong Đức Ái, tôi với bạn chắc hẳn sẽ được thấy những phép lạ vô cùng vĩ đại trong đời sống chia vui sẻ buồn, chia cơm sẻ áo, chia mãi sẻ hoài tình yêu, hạnh phúc cho hết mọi người gặp được trong đời sống.

TÌNH YÊU KHÔNG SỢ HÃI


Thương ai, tin ai mà còn nơm nớp sợ họ là chưa thương, chưa tin họ thật. Tình yêu luôn sánh bước với niềm tin và cả hai không chấp nhận đi chung với sợ hãi.
Sợ người khác là vì người khác là một nguy hiểm cho tôi, một đe dọa cho an toàn của đời tôi. Không ai sợ một người không nguy hiểm hay hãi một người không còn khả năng đe dọa. Thế giới hôm nay có nhiều chuyện, nhiều người làm ta sợ: ta sợ những người cuồng tín đang muốn tiêu diệt những ai không tin điều họ tin, ta sợ những người chủ trương kỳ thị không còn thiện chí, kiên nhẫn sống chung với nhũng người không cùng màu da, tiếng nói với họ, ta sợ đám đông bạo động sẵn sàng điên cuồng bắn giết bừa bãi trên đường phố, ta sợ những khủng hoảng kinh tế, chính trị đang đưa ta đến ngõ cụt của đời sống. Sợ hãi đang ngự trị thế giới và làm đảo lộn trật tự sẵn có. Nỗi sợ ấy còn gặp trong tôn giáo khi tôn giáo đặt cho ta nhiều vấn đề chưa minh chứng: thiên đàng, hỏa ngục, thưởng phạt đời đời.
Những lo âu, nghi ngại, sợ sệt ấy là biểu hiện của thân phận người bất toàn và hạn hẹp trong những điều kiện của không gian, thời gian. Thời gian không cho ta an tâm khi nghĩ đến tương lai, không hài lòng với tháng ngày của quá khứ. Không gian giữ ta ở một nơi làm ta ngại những nghịch cảnh ở những nơi chưa tới, sắp tới. Thân phận người đáng sợ vì hữu hạn, bất toàn, khiếm khuyết và nỗi sợ ấy không mấy khi chịu buông tha con người.
Biết con người hay sợ, Đức Kitô mỗi lần gặp các môn đệ đều lên tiếng nhắc nhở “Các con đừng sợ, Thầy đây”. Khi nhắc các ông đừng sợ, Ngài xác nhận có nỗi sợ bủa vây con người. Là một cây sậy mỏng manh, con người sợ thiên nhiên, sợ quỷ thần, sợ nhau và sợ ngay cả chính mình. Là một sinh vật có ý thức, con người biết run rẩy, nổi da gà, lẩn trốn khi sợ hãi. Và nỗi khổ đau thường xuyên có mặt của con người chính là nỗi sợ này.
Ngay khi yêu nhau, ta vẫn sợ nhau. Vợ sợ chồng bỏ, chồng sợ vợ khinh, bạn bè sợ bị phản bội. Từ sợ nhau, ta dè dặt, đề phòng, thủ thân. Từ sợ nhau, ta đóng kịch, giả hình để rồi không lâu sau, tình yêu phai nhạt dần nhường chỗ cho nghi nan, lẩn tránh. Vấn đề của ta hôm nay là làm thế nào để không còn phải sợ nhau khi yêu nhau.
Để không còn sợ nhau, trước hết ta phải tránh làm cho nhau sợ. Có nhiều cách làm cho người khác sợ như la rầy, chửi bới, châm chọc, khinh mạn, phản phé, lừa đảo, giết hại; không kể đến những phương thức trấn áp có tính cách quy mô, khoa học của các nhà độc tài, những đường lối khai thác và gieo rắc kinh hoàng của các chế độ phi nhân mà ngày nào ta cũng thấy, cũng nghe qua các phương tiện truyền thông.
Những phương cách làm sợ trên, một cách nào đó, ta không thể xử dụng nên không cần bàn thêm; nhưng điều đó không có nghĩa ta đã chẳng làm ai sợ bao giờ; vì ngoài những phương thế khủng khiếp trên, trong tay ta vẫn luôn sẵn có những vũ khí tuy nhỏ nhưng đủ sắc bén để làm người khác sợ. Một trong những khí giới lợi hại ấy là sự “vắng mặt” của ta. Vắng mặt đây không chỉ là vắng mặt thân xác, nhưng còn là vắng bóng của tâm hồn. Ta có thể ngồi đó, ở đây nhưng không can dự gì vào đời của người quanh ta. Ta có thể nhìn họ, nghe họ nói, nhưng chẳng để tâm, ưu tư gì đến vấn đề của họ. Ta cũng có thể ở cùng nhà, ăn cùng mâm với một người nhưng trái tim ta không có chỗ cho họ. Sự vắng mặt tâm hồn mới thực sự là nỗi sợ lớn nhất cho người khác. Cứ hình dung một gia đình, chiều chiều mọi người đều về nhà, thấy nhau nhưng không ai nghĩ đến ai, không ai quan tâm đến ai, không ai chia sẻ với ai, mọi sinh hoạt ăn ngủ đều chu tất nhưng tâm hồn không có nhau, vắng bóng nhau; gia đình ấy ắt phải là một gia đình bất hạnh.
Tình yêu không chịu được giá lạnh của trái tim, không cam nổi dững dưng của tâm hồn. Nó sẽ chết vì sự vắng mặt đáng sợ của đối tượng, nên khi yêu nhau, người ta đòi có nhau trong đời, giữ nhau trong hồn, ấp ủ nhau trong tim, gặp gỡ nhau trong thao thức khắc khoải. Cái vắng bóng của tâm hồn này không chịu ảnh hưởng của không gian tù túng nên có thể xa nhau vạn dặm mà vẫn gần nhau, ở sát cạnh nhau mà lại nghìn trùng xa cách. Chính vì thế, ta không còn sợ khi được “có nhau”, dù biết giông bão cuộc đời có thể còn dữ dội, kinh khủng hơn ngàn lần khả năng hữu hạn của ta và người ta yêu. Kinh nghiệm vượt ngục, chạy loạn, chiến tranh cho thấy ta sẽ không còn sợ khi có nhau. Người lính sẽ can đảm khi có đồng đội cùng chia sẻ hiểm nguy chiến trường, người bạn gái sẽ không còn sợ sệt, nao núng giữa đêm khuya trên đường chạy loạn nếu bên nàng luôn có người yêu. Sự có mặt đã đẩy lui nỗi sợ; chỗ đứng trong tim người khác đã mang lại niềm tin lớn và hy vọng tràn đầy.
Khi thấy các môn đệ sợ hãi, khiếp đảm trước sóng gió” (Mc 435,41), Đức Kitô đã bảo các ông “đừng sợ”. Đừng sợ vì có Ngài ở với các ông, đừng sợ vì Ngài không bao giờ bỏ các ông, đừng sợ vì có tình Ngài che chở các ông. Hình ảnh Ngài nằm ngủ trên con thuyền chòng chành, chao đảo vì sóng gió là hình ảnh có mặt của tình yêu. Chính “tình yêu có mặt” này đã trở thành phép lạ đem lại an bình cho các ông. Sự có mặt của tình yêu có đủ sức làm ta không còn sợ, bất chấp hiểm nguy, đe dọa. Đây chính là then chốt của tình yêu mạnh hơn sự chết.
Sở dĩ khi yêu con, người mẹ đã không sợ chết, trái lại còn sẵn sàng chết thay con là vì bà biết: bà có chỗ đứng trong trái tim con bà. Chỉ cần có chỗ đứng trong tim con thôi, người mẹ đã có thể đánh đổi tất cả, kể cả sự sống của chính mình. Đây cũng chính là hạnh phúc của những người yêu nhau dâng hiến mạng sống cho nhau. Họ mãn nguyện, an bình, không run rẩy sợ hãi vì có nhau trong trái tim và cuộc đời nhau. Chuyện tình Roméo và Juliette đã diển tả sâu sắc nét đẹp bi hùng và hạnh phúc viên mãn của một mối tình không sợ hãi vì biết “mình có nhau”.
Lạy Đức Kitô, người con yêu! Xin cho con đừng sợ những ngày dài vô vị, những đêm dài chập chờn, những chiều mưa tầm tả, quạnh hiu trên đường tình. Xin cho con đừng run rẩy khi cô đơn chiếc bóng, đừng thất vọng khi không ai dành cho con một chỗ trong tim họ. Ở những khúc quanh đau khổ đó, xin cho con đừng nóng nảy, đe dọa, trừng phạt người khác; nhưng cho con biết noi gương các môn đệ chạy đi tìm và đánh thức Chúa dậy. Cũng ở khúc rẽ nguy hiểm của đường tình, khi con nao núng, hoảng sợ, xin Chúa đừng ngủ quên nhưng nhớ thức dậy có mặt bên con; vì tim Chúa chính là nơi con tựa nương, an nghỉ.

Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2020

TÌNH YÊU TÌM KIẾM


Vào tuổi trăng tròn, khi vừa biết yêu, ta náo nức đi tìm người yêu. Người ấy là ai, gầy béo, cao thấp thế nào? Và ta vẽ ra trong tâm tưởng nhiều người yêu mẫu, nhiều mẫu người yêu. Mẫu người yêu nào cũng đẹp, người yêu mẫu nào cũng toàn mỹ vì tất cả đều là mẫu, những mẫu người lý tưởng do ta vẽ, ta tìm kiếm, đợi chờ.
Có người mẫu rồi, ta cố tìm và mong gặp họ. Rồi tùy đường đời may mắn, tùy số phận đỏ đen, ta sẽ hạnh phúc hay bất hạnh, thành công hay thất bại bên cạnh người ta gặp. Người ấy có thể là người mẫu ta mơ, có thể “xịn” hơn cả mẫu, cũng có thể chẳng “mẫu” chút nào.
Cách chung thì có tìm, có gặp. Nhưng với thời gian, sau những cây số đồng hành, sau những tháng ngày chung sống, cảm xúc của gặp gỡ ban đầu ấy sẽ biến dạng, không còn cái nồng nàn, háo hức buổi đầu mới yêu. Đây chính là khúc quanh quan trọng trong đời sống tình yêu, nhất là đời sống hôn nhân gia đình.
Quả thế, khi mới gặp, ta tưởng đã có hết nhau, nắm bắt trọn vẹn nhau, gắn bó, đan quyện tận cùng và hoàn toàn trong nhau; như thể không còn gì phải tìm kiếm ở nhau nữa. Thực tế và kinh nghiệm cho thấy không phải như vậy. Có khi ăn ở với nhau hằng chục năm, có với nhau năm bảy mặt con mà chẳng biết gì về nhau, chẳng hiểu nhau tí nào, chưa nói đến đồng tâm, đồng chí, đồng cảm.
Lý do thứ nhất là vì ta quá giản lược đời nhau trong một lần gặp gỡ. Một lần gặp gỡ rồi thương nhau lúc mới biết yêu hay ngay cả tình yêu nở muộn khi tuổi đời xế bóng cũng chỉ là những tiếng sét ái tình bắn thẳng vào tim. Sét đánh ngay tim, đạn bắn vào tim làm sao tim không rung động, chảy máu yêu thương? Giản lược tình yêu trong những cú sét ngoạn mục, bất thường này là xem tình yêu quá nhẹ, là nhìn và đánh giá người yêu trong trạng thái tĩnh như một đối vật không có chiều kích siêu hình, mầu nhiệm. Vì con người có cả một lịch sử dài và một tương lai trước mặt. Lịch sử và tương lai ấy không hiện ra trong chớp nhoáng, giữa âm thanh và ánh sáng cực mạnh, thần tốc của những tiếng sét; mà lịch sử và tương lai ấy đòi hỏi một công trình tìm kiếm tận tụy, lâu dài.
Lý do thứ hai là ta chỉ nhìn ta qua đời họ chứ không nhìn họ trong đời ta; ta chỉ tìm ta trong họ chứ họ không có gì nơi ta. Ta tưởng ta yêu họ; nhưng thực sự ta đang yêu ta và chỉ yêu ta. Tính ích kỷ không mấy khi buông tha người ích kỷ. Nó đeo đẳng họ khắp nơi, điều khiển mọi sinh hoạt đời sống. Người ích kỷ thường ích kỷ trong mọi sự, mọi chuyện, với mọi người. Không có người ích kỷ trong vật chất nhưng quảng đại trong tình cảm hoặc ngược lại. Vì chỉ tìm mình, lo cho mình, muốn yêu mình, ta sẽ an vui dừng chân ở những cây số đầu của hành trình yêu thương mà không thao thức tìm kiếm gì nơi đối tượng.
Giản lược người yêu hay ích kỷ chỉ yêu mình, cả hai đều giết chết tình yêu.Tình yêu như một hành trình mà những người trong cuộc phải sánh bước, kề vai. Hành trình ấy rất dài, đường tình ấy có đủ núi đồi, sông biển, thác ghềnh, thung lũng, đồng bằng, sa mạc. Nó băng qua nhiều làng mạc, nhiều thành phố, nó vui vẻ thoăn thoắt tung tăng dưới nắng xuân; nhưng cũng có lúc mỏi mệt dưới nắng hạ, rét mướt dưới tuyết đông. Đời người là đường tình và đường tình dài như đời người. Chính vì dài như đời người nên người tình không thể bị giản lược, tóm tắt, gom lại trong một thời điểm duy nhất, ở một vài cây số ngắn ngủi. Người tình phải được đồng hành với ta trong thao thức kiếm tìm không ngơi nghỉ.
Miệt mài tìm kiếm người mình yêu, trước hết là một hành động yêu thương cao qúy; bởi qua đó ta nhìn nhận người ta yêu là một giá trị. Có qúy mới tìm, có cao mới gắng sức vươn tới. Nhận nhau như một giá trị, ta sẽ không ngừng tìm kiếm nhau, tìm những nét đẹp, những điều hay, những đức tính tốt ở nhau mà nếu không để tâm tìm kiếm ta không thể nhận ra. Rất nhiều người đã không nhận ra những giá trị tuyệt vời ở người mình yêu, người mình chung sống. Họ quên một điều là người họ đang yêu là một vũ trụ bao la, bí ẩn, sâu thẳm và là một tuyệt tác của Thượng Đế. Có những điều hay, những nét cao qúy chỉ tìm được sau nhiều năm chung sống, nhiều tháng ngày làm bạn. Tình yêu thực thường thăng trầm, kín đáo; chính vì thế để khám phá khối tinh ròng của tình yêu đích thực, ta phải khám phá miệt mài với thời gian và tận tụy với thao thức kiếm tìm.
Kiếm tìm giá trị chưa đủ, ta còn phải kiếm tìm cảm thông trước những yếu đuối, lỗi lầm của nhau. Nếu người tình có ánh mắt sáng như sao, có trí khôn sắc xảo như thiên thần; họ cũng có thể mang thân xác nặng nề đến thô kệch, tính lơ đãng đến ngây ngô. Một tâm hồn thanh thản, tôn trọng công bình sẽ chấp nhận không do dự tất cả những tích cực và tiêu cực của người khác. Đây chính là cao độ của tình yêu kiếm tìm, một tình yêu không tránh né sự thực, không lẩn trốn thực tại dù phũ phàng đến dâu vì tin vào giá trị bất khả nhượng của người mình yêu.
Đức Kitô đã có lý khi bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc (Lc 15,6). Ta có thể trách Ngài liều lĩnh và không biết tính toán hơn thiệt, nhưng lý của Ngài là lý của tình yêu. Tình mục tử ở Ngài không cho Ngài ở lại, nó thôi thúc Ngài lên đường tìm kiếm, nó làm nôn nóng bước chân dong duổi, vội vàng của chủ chăn. Ngài yêu chú chiên lạc cũng như 99 chú chiên ngoan. Tình yêu ấy luôn đầy ắp, trọn vẹn. Phải kiếm tìm vì tình yêu thúc bách, phải lên đường vì khổ đau của chiên con réo gọi thổn thức nghẹn ngào của tấm lòng mục tử. Ngài không thể làm gì khác hơn là lao mình đi tìm, liều mình đi kiếm trong tình yêu và hy vọng được ôm chiên lạc trong long và âu yếm bế trên tay. Cũng chính vì yêu 99 chiên ngoan mà Đức Kitô phải đi tìm chú chiên lạc để đàn chiên được trọn bầy, anh em không mất nhau và nhất là để tỏ cho đàn chiên thấy tình Ngài tuyệt đối, bao la, không đổi dời. Thương chú chiên lạc, Ngài yêu cả bầy 99 con khi cho chúng thấy: nếu chúng đi lạc, Ngài cũng sẽ đon đả, vội vã đi tìm như vậy. Với chọn lựa yêu thương kiếm tìm, Ngài đã nói lên tình Ngài yêu cả đàn chiên, không trừ con chiên nào.
Lý của ta, tuy có vẻ khoa học, thực tế nhưng nặng mùi thương mại, đổi chác. Quả thực, lấy 99 đổi 1 là bài toán cho đáp số kỳ cục; bỏ 99 để lấy 1 là sai lầm lớn của nhà kinh tế, nhất là khi 1 đó lại yếu đuối, ghẻ lở, đói ăn, lầm lỡ. Nhưng luật lệ, lý giải của thương mại, kinh tế không phải là luật lệ và lý giải của trái tim. Quy tắc toán học không là quy tắc của tình yêu. Chỉ tình yêu hiểu tình yêu, chỉ người tình hiểu người tình và chỉ việc làm của tình yêu mới giải thích được yêu thương là gì.
Đức Kitô là Tình Yêu, một tình yêu hớt hải đi tìm: tìm đối tượng ngay cả khi đối tượng bỏ đi, lạc lối, lỡ lầm, tội lụy. Đi tìm vì nhung nhớ trăn trở, đi tìm vì yêu thương rất đỗi, đi tìm vì hy vọng dạt dào. Đức Kitô đã yêu bằng tình của người sống với trái tim rất động. Tình ấy luôn đồng hành, luôn hiện diện và tình ấy rất “người” vì đi tìm tình người trong trái tim người.
Hình ảnh kiếm tìm của Đức Kitô nhắc nhở ta phải lưu tâm đến giá trị cần được tìm kiếm ở nhau. Có những kho tàng cho ta hạnh phúc thật nếu ta chịu khó, nhẫn nại tìm kiếm ở nhau trong yêu thương. Những kho tàng ấy, dù ở dưới dạng nào, luôn được mở chung bằng chìa khóa Yêu Thương, chìa khóa duy nhất cho ta gặp Tuyệt Đối, khám phá kho tàng giá trị của nhau mà không xâm phạm, làm tổn thương nhau.
Cầu xin với Đức Kitô, Đấng là Tình Yêu cho ta can đảm kiếm tìm và nhẫn nại tìm lại nhau trên suốt đường tình và hành trình đời sống.

TÌNH YÊU LÀM ƠN MẮC OÁN


Làm ơn cho người khác là một niềm vui với những người có lòng tốt, có trái tim quảng đại; nhưng lại là một gánh nặng, một mất mát với những người ích kỷ, bon chen, tính toán. Không bàn đến gánh nặng này, ở đây ta chỉ chia sẻ niềm vui của những tâm hồn quảng đại hay làm ơn cho người khác.
Người thích thi ân, giúp đỡ người khác là người có lòng thương người. Có thương người mới mau mắn giúp người, có yêu người mới san sẻ cơm bánh, hy sinh thời gian, sức khỏe cho người. Thiếu tình yêu từ trái tim, bàn tay khó có thể mở ra để ban phát.
Khi làm ơn, giúp đỡ, đương sự ít nghĩ đến đòi ơn; nhưng thi ân như một bổn phận, một niềm vui, một cố gắng phải có của con người dành cho con người. Họ cũng không tính toán, so đo, tìm kiếm gì cho bằng chỉ nghĩ đến ích lợi và hạnh phúc của người mình thi ân. Chính vì thế, chuyện trả ơn là chuyện của người chịu ơn chứ không là đợi chờ, điều kiện, mục đích nơi người thi ân. Người làm ơn cũng chẳng nghĩ gì, chẳng buồn gì khi người chịu ơn quên họ hay chẳng mảy may nhớ đến ơn họ đã làm. Trách móc người vô ơn, chê bai người vong ân thường là của những người ngoài cuộc, nhận xét với con mắt khách quan; còn chính người thi ân thường chẳng biết mô tê và chẳng nhớ đã làm gì cho ai.
Chấp nhận người khác quên ơn mình là giá trị của người thi ơn. Thi ơn lúc đó trở thành một nghĩa cử cao đẹp không gì so sánh được trong sinh hoạt của con người. Nó nói lên sự cao thượng của tâm hồn và nét đẹp tuyệt vời của tình người không biên giới, không đổi chác. Nếu thế giới loài người chỉ có những con tim đóng cửa, chỉ gồm toàn những nhà kinh doanh tình cảm, những lái buôn tình yêu, những đầu nậu ơn nghĩa thì thế giới sẽ không còn tình nhân loại và con người sẽ mất hết đất sống. Sở dĩ thế giới còn đẹp, tình người còn xanh, ơn người còn đỏ thắm, chính là nhờ sự có mặt của những con tim quảng đại, những bàn tay thi ân không mỏi mệt.
Tuy thế, người thi ân đôi lúc cũng có nỗi khổ: làm ơn mắc oán. Đã hẳn làm ơn thì chẳng cần chi đến ơn phải trả; nhưng oái oăm thay, đôi lúc không những ơn không được trả mà ngược lại oán lại theo sau. Người thụ ơn phút chốc có thể oán trách người thi ân và xem ân nhân như thù địch của mình.
Trước khi chia sẻ về một thái độ phải có, ta dừng lại ở đây để phân tích tâm lý của người thụ ơn.
Người thụ ơn, không kể một số ít biết ơn, luôn muốn và tìm mọi cách đền đáp ân sâu nghĩa nặng; còn đa số rơi vào một tình trạng tâm lý rất phức tạp là tạo nên hờn oán để xóa mặc cảm chịu ơn. Tiến trình có thứ tự theo từng giao đoạn.
Giai đoạn thứ nhất là buổi bế tắc, eo hẹp, khó khăn phải cần đến người khác. Vì cần đến người nên chiều người, biết điều với người, dễ thương với người và làm mọi chuyện để được người thương. Được người thương, được người giúp đỡ. Giai đoạn thứ nhất xem như hoàn thành tốt đẹp.
Giai đoạn thứ hai là thời thịnh vượng. Nhờ có sự giúp đỡ của người nên công việc được hạnh thông, suông sẻ. Ỷ thức về khả năng của mình có cơ hội tung hoành.
Giai đoạn thứ ba là giai đoạn quá độ của ý thức “cái tôi toàn năng”. Trong ý thức quá độ và lệch lạc này, người thụ ơn muốn xóa hoàn toàn và tận gốc rễ cái quá khứ “bế tắc, eo hẹp, chịu ơn ” của mình. Họ không thể để sót lại bất cứ dấu vết gì của việc chịu ơn, của thời được giúp đỡ vì nghĩ rằng mình sẽ không thể “trọn vẹn là mình “, sẽ không nói lên cho đời hết khả năng của mình nếu còn một hình ảnh “tháng ngày ơn nghĩa xưa”. Ý tưởng “toàn năng” thống trị trong họ bắt họ phải nghĩ rằng: tôi có thể làm được tất cả, còn chuyện ngày xưa có người giúp đỡ chỉ là chuyện nhỏ; vì quả thực, nếu không có họ, tôi cũng đã giải quyết được vấn đề, có khác là bằng cách khác của riêng tôi. Lý luận ấy nghe rất chỉnh trong vòng vây của mặc cảm tự tôn; luận lý ấy nghe cũng rất thuận trong mục đích làm nổi “cái tôi ”. Để làm nổi “tôi”, tôi phải làm dìm “người”, làm chìm người khác đi, nhất là những người đã tham dự vào đời mình là nguyên tắc không thay đổi của những người “nhận ơn, trả oán” này.
Làm chìm người khác, họ phải nhận chìm mạnh bạo hơn, dữ dội hơn, kinh khủng hơn chính người đã đóng góp công sức và tình yêu làm nên thành công và hạnh phúc đời họ. Bởi còn dính dáng đến ơn nghĩa, qua lại với ân nhân là chưa được thực sự “toàn năng”, chưa đủ tầm vóc “một mình làm nên tất cả”, chưa thoả mãn ngông cuồng “một mình làm nên tất cả”.
Nhiều ca sĩ nổi danh, doanh thương có tiếng hay chính trị gia thời đại cũng thường tránh xa quá khứ tăm tối của đời mình, ngại nhắc đến cha mẹ với xóm làng thanh bạch nghèo nàn thời cơ hàn. Họ chỉ nói đến hiện tại huy hoàng, thành công và tự phụ là do chính mình, tự mình làm nên công danh sự nghiệp. Những nhịp cầu đã tận tụy, âm thầm hy sinh làm cầu đưa họ lên đài vinh quang này đã bị họ cẩn thận đốn chặt, thiêu hủy. Họ tự viết ra một lý lịch mới trong đó họ là đứa bé hạnh phúc nhất đời, tuổi trẻ thành công nhất đời, sự nghiệp vững chắc nhất đời. Chỉ có họ là “nhất”, nhất từ đầu đến cuối, nhất trong mọi phương diện, nhất hơn hết mọi người.
Và chỉ một tham vọng đứng nhất thôi đã đủ thôi thúc họ đập nát những người ơn xưa; vì có mặt những người ơn này, họ khó có thể thay đổi lý lịch, man khai thành quả, vỗ ngực xưng tên mà không bị phát hiện; bởi không ai biết sự thực về đời họ hơn những người đã đóng góp hy sinh, xây dựng đời họ.
Sau cùng, thân phận phải có của những người làm ơn là chịu vùi dập bởi chính những người mình đã giúp đỡ, thi ơn. Bị vùi dập bằng thủ đoạn, có thể là những thủ đoạn thô bỉ nhất, với mục đích là phải xóa sổ, bôi tên. Chính trong cảnh phũ phàng này là lúc người thi ơn nhận về phần mình mọi bẽ bàng, đau đớn. Không đau đớn sao được khi tình yêu vẫn còn đó, trong tim người thi ân. Không bẽ bàng sao được khi người mình trao gửi hy sinh và hy vọng lại đang điên cuồng, cao ngạo tẩy xóa sự có mặt của mình trong đời họ. Và nước mắt nghẹn trong cổ, đắng đót ứ trong tim khi ân sâu nghĩa nặng được đền bằng oán hận ngút ngàn.
Đức Kitô đã sống nỗi khổ này, bởi tình yêu cho đi là thế, bởi qui luật của tình yêu là phải bỏ mình, đánh mất mình trọn vẹn. Trước mặt quan tổng trấn Philatô, người đại diện chính quyền đế quốc Rôma và quần chúng, Đức Kitô đã bị chính những người mà Ngài đã yêu thương, dậy dỗ, chăm sóc chữa lành lên án. Họ gào thét inh ỏi, phẫn nộ: “Đóng đinh nó, đóng đinh Giêsu vào thập giá ” (Lc 23,13-26). Họ chịu ơn Chúa cách này cách khác, họ được Chúa yêu thương, bênh vực; dù gì ân tình vẫn còn đó, có lý do gì mà trở mặt vô ơn trắng trợn đến như vậy khi gào thét yêu cầu đóng đinh người đã thi ơn cho mình vào thập giá. Sự vô ơn của đám đông đã làm Đức Kitô phải rùng mình. Ngài rùng mình vì cái bạc bẽo đáng sợ của lòng người, rùng mình vì sự trở mặt không thể lường trưóc của tình đời. Cái rùng mình, đau đớn, đắng cay của một Thiên Chúa đã nói lên cơn đau cực độ của những trái tim đã theo Ngài thi ân để rồi bị phản bội.
Trước phẫn nộ của dân chúng, Đức Kitô tuy đau khổ nhưng chẳng biện bác, kể lể gì. Công lênh Ngài bao la, tình yêu Ngài tràn đầy; nhưng trước đám đông đang lấy oán trả ơn, Ngài chỉ khóc vì vẫn thiết tha yêu họ.
Ở đây, Đức Kitô dậy ta thêm một nghệ thuật yêu nữa, đó là chấp nhận bị báo oán khi yêu thương, giúp đỡ người khác. Nếu ta sợ thi ân vì sẽ bị vô ơn và trả oán thì ta sẽ không bao giờ làm ơn cho ai và như thế, ta không hơn gì những người khác. Như họ, ta cũng sẽ khép chặt cánh cửa lòng, nắm chặt đôi bàn tay, nhắm nghiền đôi mắt để không thấy yêu thương đâu, không tìm chia sẻ bao giờ và lui về vỏ ốc ích kỷ, cao ngạo, tự mãn. Nếu ta sợ phải khóc vì ơn sẽ được đền bằng oán, ta cũng sẽ rơi vào tình trạng dửng dưng trước mọi nhu cầu của tha nhân và tim ta sẽ héo khô vì thiếu hẳn tình người.
Đức Kitô không muốn ta sợ. Ngài muốn ta thấy hết những chuyện có thể xảy ra khi ta yêu, Ngài muốn ta cứ can đảm yêu và kiên trì theo hành trình bác ái với Ngài. Như Ngài, ta chấp nhận gian khổ, chấp nhận bị vu oan vì yêu thương, bị xỉ nhục vì làm phước cho người khác, chấp nhận bị xóa mờ kể cả xóa hết tên tuổi, danh dự vì tương lai, hạnh phúc của tha nhân. Cùng với Đức Kitô, ta âm thầm khóc khi bị báo oán, hàm oan chỉ vì đã yêu thương. Nước mắt ấy sẽ trở thành máu, máu cứu độ của Đức Kitô, kéo ơn thứ tha cho chính những người ta đã yêu thương, giúp đỡ. Họ không thương ta, đó là chuyện của họ; họ không biết ơn ta, đó cũng là chuyện của họ. Hãy làm mọi việc vì Thiên Chúa vì chính Ngài sẽ “đong lại cho ta rất nhiều, nhiều hơn những đấu ta đã đong cho người khác” (Lc 6,38).
Trong kinh nguyện chiều nay, chúng ta nhớ cầu cho những tâm hồn quảng đại hay thi ân giúp đỡ. Xin cho họ ý thức sự có mặt và đồng hành của Đức Kitô trên mọi tuyến đường bác ái của họ. Cầu cho họ, tôi cũng cầu cho bạn, vì tôi biết tâm hồn bạn cũng quảng đại, đang rộng mở thi ơn.

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2020

TÌNH YÊU PHỤC VỤ CỦA ĐỨC KITÔ


Cuộc sống là chuỗi dài chọn lựa nên không chọn lựa là không sống. Cũng có những cuộc sống không chọn lựa; nhưng chính khi không chọn lựa gì, những cuộc sống ấy đã chọn sống cuộc đời không chọn lựa.
Tôi tin rằng, bạn muốn sống đời bạn, sống đời của bạn nên vấn đề chọn lựa trở thành chính cuộc sống, gắn bó, gần gũi, triền miên, cấp bách.
Có những chọn lựa rất quan trọng, nhưng chỉ chọn một lần trong đời như đi tu, lập gia đình. Có những chọn lựa ít quan trọng hơn và có thể chọn đi chọn lại nhiều lần như chọn ngành học, chọn nghề nghiệp, chọn nơi ở, nhà cửa, xe cộ... Bên cạnh đó có những chọn lựa liên lỉ hằng ngày, hằng giờ, hằng phút: chọn một thái độ.
Thái độ là bộ mặt của cuộc sống. Qua bộ mặt này, ta gặp gỡ tha nhân, ta đến với người khác. Bộ mặt biểu lộ tình trạng vui buồn, sung sướng, lo âu, xuề xòa, bẳn gắt, dễ thương của tâm hồn. Và thái độ rất ít khi phản bội sự thực của con tim, tổng hành dinh của sự sống.
Chọn một thái độ sống, tức là chọn cho đời sống một hình ảnh, một hướng đi, một mục đích. Thái độ không giản đơn ở bề mặt, ngoại diện, nhưng là kết quả của những cố gắng, những chọn lựa của trí óc và qủa tim. Trí óc ấy gắn bó với trái tim để hình thành một thái độ xứng hợp. Thái độ cao qúy làm cho đời trở thành cao qúy; thái độ làm xàm biến đời thành vô vị. Bởi qua thái độ, người ta cho điểm giá trị cuộc đời.
Như thế, tình yêu cũng đòi một thái độ. Khi yêu nhau, thái độ phải khác khi chưa yêu. Bằng chứng là ta đã dành không ít thời giờ để lo lắng, chăm sóc từng cử chỉ, điệu bộ khi ra mắt người yêu, khi gần gũi người yêu. Thái độ ấy không thể đi ngược tình yêu ta đang có. Nên nếu phải đóng kịch, thì thái độ ấy cũng chỉ qua được một vài màn, rồi sẽ tự lộ tẩy, bị khám phá, lật mặt.
Thái độ trong tình yêu là yêu. Nhưng đó chỉ là thái độ chung chung chưa chính xác, chưa được gọi đích danh. Phải tìm ra một thái độ nào đó có khả năng làm nền cho tình yêu đứng vững, có sức mạnh đẩy tình yêu đi lên, có nghị lực nâng đỡ tình yêu đang đổ vỡ, có độ mặn làm nồng nàn tình yêu đang nguội lạnh, có chất diệp lục làm xanh lại tình yêu đang héo úa. Thái độ ấy không thay thế những đòi hỏi của tình yêu nhưng làm nền móng cho ngôi nhà tình yêu, ngôi nhà lý tưởng mà ai cũng mơ ước.
Tôi không hơn bạn trong tình yêu, bằng chứng là tôi đã nhiều phen thất điên bát đảo vì tình, lận đận lao đao vì yêu. Chỉ có Đức Kitô, đấng là Tình Yêu mới là thầy dậy xứng đáng của tình yêu.
Trong suốt cuộc đời và giáo huấn, Đức Kitô không mệt mỏi loan báo Tin Mừng Tình Yêu. Ngài yêu tha thiết mọi người và kêu gọi mọi người thương nhau. Ngài biết điều này không dễ, nhưng không phải không thể thực hiện. Khi chết cho tình yêu, Ngài muốn minh chứng tình của Ngài là Tình tuyệt đối, không giới hạn, lớn hơn sự chết và thực hiện được. Mục đích của Ngài là mời gọi chúng ta cùng Ngài thực hiện Tin Mừng Tình Yêu.Để đạt được mục đích này, qua các môn đệ, Ngài đề nghị chúng ta một thái độ.
Tin Mừng theo Thánh Gioan (13,1-35) kể lại, thái độ yêu thương phải có mà chính Đức Kitô trước khi lìa trần đã ân cần căn dặn các môn đệ: thái độ phục vụ nhau trong khiêm tốn. Khi cúi xuống rửa chân cho từng môn đệ, Đức Kitô muốn các ông động lòng vì thái độ khiêm tốn, rung cảm vì việc làm phục vụ của Ngài. Nói về yêu thương đã nhiều, giảng về yêu thương khiông ít; nhưng đợi đến giây phút chót trước khi từ giã lên đường tử nạn, Đức Kitô mới đặt các ông trước một thái độ phải có để thực hiện Yêu thương: khiêm tốn phục vụ.
Quả thực, ta có thể nói về yêu thương hằng giờ, viết về yêu thương từng tập; nhưng yêu thương sẽ chẳng bao giờ nhập cuộc, cũng sẽ không nhập thể, nhập thế nếu thiếu một thái độ cụ thể như điểm khởi hành, như bãi đáp cho những cánh trực thăng tình yêu huyền thoại. Tình yêu có cánh nên thích bay bổng, mênh mông ngoài đời. Bay ngoài đời sẽ thoải mái, nhẹ nhàng, dễ thở, khoan khoái hơn bay vào đời, bay nhào vào khu dân sinh nghèo nàn, đáp thẳng giữa đám dân thiếu học, giữa những gia đình nhiều tranh chấp, đố kỵ. Tình yêu bay bổng vẫn luôn là ước mơ của nhiều người vì tình yêu ấy có mộng mơ của thơ, có du dương của nhạc, có vần điệu của văn chương. Chính vì thế, nhiều khi tình yêu chỉ được nói đến, viết đến nhưng lại không được thực hiện trong cuộc sống.
Cũng như người muốn trở thành thầy dòng chiêm niệm nhưng lại ngại cầu nguyện, người muốn lái xe nhưng sợ ngồi xe, người thích làm bác sỹ nhưng không chịu thực tập ở bệnh viện vì sợ bệnh nhân; người ca tụng tình yêu, người muốn yêu nhưng không bắt đầu bằng chọn một thái độ yêu cũng giống như thế. Khi không chọn thái độ khiêm tốn phục vụ, tình yêu sẽ mãi là tình của ánh trăng trên mặt nước, rất thi vị, mộng mơ nhưng sẽ mãi hão huyền, viển vông, dễ vỡ.
Để tình yêu bám được vào da thịt, ăn sâu trong lòng đời, lớn lên trong lòng người, sinh hoa kết trái cho đời, nó phải đi từ khiêm tốn, phục vụ. Đây là bằng chứng hùng hồn và duy nhất để nhận ra ở đâu có tình yêu; đây là mã số cần thiết để tìm ra địa chỉ của tình yêu. Không thể có chìa khóa nào khác ngoài chìa khóa “phục vụ, khiêm tốn" để mở cửa kho tàng tình yêu.
Đức Kitô hiểu rõ, thiếu khiêm tốn tình yêu sẽ biến thể thành hung hãn, thiếu phục vụ tình yêu sẽ đổi mặt thành độc tài, thống trị. Khiêm tốn, phục vụ không những là khởi điểm của hành trình tình yêu, là điều kiện cho hành trình tình yêu đặt chân lên đất người; nó còn là thước đo mức độ yêu thương, là dưỡng chất nuôi dưỡng tình yêu.
Thái độ ấy, chọn lựa phục vụ, khiêm tốn ấy không dễ. Nó là cả một hành trình sống, đòi hỏi hy sinh và quên mình. Không dễ khiêm tốn vì khiêm tốn dễ bị thua người, dễ bị người bắt nạt, “chơi cha”. Phục vụ lại càng khó vì ai cũng muốn mình được người khác phục vụ, nên phục vụ ai thường dễ bị xem là nô lệ của người đó. Thái độ ấy còn đòi hỏi một từ bỏ quả cảm: bỏ mình. Bỏ cha mẹ, gia đình, của cải đã quá khó, nay phải bỏ mình, xem ra ngao ngán, khó khăn bội phần. Thế nhưng Đức Kitô đã dậy ta như vậy, đã bảo ta phải có thái độ này khi yêu, dù là yêu ai đi nữa, thái độ khiêm tốn, phục vụ vẫn là thái độ căn bản, không thể thiếu.
Trong đời sống, với những kinh nghiệm yêu, ta thấy tình yêu hay lên xuống, trồi sụt. Vì thế, khi thiếu nền tảng vững chắc, tình yêu sẽ không tránh được có ngày phá rào rong chơi rồi mất dạng. Nền tảng lôi kéo tình yêu ở lại là phục vụ nhau trong khiêm tốn. Người yêu ta dù bê bối đến đâu đi nữa, cũng không thể chai đá mãi trước thái độ khiêm tốn phục vụ của ta. Chính thái độ này sẽ cảm hóa, đánh thức trái tim đang ngủ vùi của họ; vì yêu ai trong phục vụ là yêu chính họ. Nhận ra mình được yêu thực sự, họ sẽ khám phá ra hạnh phúc được yêu và tìm ra lý tưởng phải thực hiện là yêu lại hết mình.
Chiều nay, Đức Kitô ghé nhà bạn. Trước bữa ăn, bạn thấy Ngài dọn bàn, cẩn thận lau từng đôi đũa, xếp từng chiếc ly. Sau bữa ăn, Ngài đon đả dành phần rửa chén. Bạn không muốn Ngài làm những việc nhỏ mọn ấy vì biết Ngài là Thiên Chúa; nhưng Ngài chỉ cười và thì thầm với bạn: “Niềm vui của Thầy là phục vụ; con có muốn chia sẻ niềm vui yêu thương đó với Thầy không? “ Tôi nghĩ, bạn khó có thể trả lời không, vì tim bạn đã tràn đầy Tình yêu Ngài. Tôi cũng muốn được cùng bạn chia sẻ niềm vui ấy.

TINH THẦN CỦA GIỚI LUẬT MỚI

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 6 Thường Niên, Năm A
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã nhiều lần tỏ ra bất chấp lề luật, như khi chữa người bị bại tay trong ngày Sabát, điều mà Luật Môsê cấm không được làm trong ngày dành cho Thiên Chúa. Tin Mừng Matthêu đã kể lại chi tiết : Đức Giêsu đi vào hội đường của người Do Thái, tại đây, có người bị bại một tay. Người ta hỏi Đức Giêsu rằng : “Có được phép chữa bệnh ngày sabát không ?”. Họ hỏi thế là để tố cáo Người. Người đáp : “Ai trong các ông có một con chiên độc nhất bị sa hố ngày sabát, lại không nắm lấy nó và kéo lên sao ? Mà người thì qúy hơn chiên biết mấy ! Vì thế, ngày sabát được phép làm điều lành”. Rồi Đức Giêsu bảo người bại tay : “Anh giơ tay ra ! Người ấy giơ tay ra và tay liền trở lại bình thường lành mạnh như tay kia” (Mt 11,10-13). Tin Mừng Máccô còn ghi thêm qủa quyết vững chắc của Đức Giêsu : “Ngày sabát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sabát. Bởi đó, Con Người làm chủ luôn ngày sabát” (Mc 2,27).    
Nhưng cũng trong Tin Mừng Mátthêu, Đức Giêsu lại hết lời bênh vực Lề Luật : “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các Ngôn Sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5,17). Ngài còn đi xa hơn : “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng : Chớ giết người ; ai giết người thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hỏa ngục thiêu đốt” (Mt 5, 21-22).
Chúng ta cần ghi nhận những điều quan trọng  Đức Giêsu muốn nói với chúng ta :
1.   Đức Giêsu không mâu thuẫn trong giáo lý và Giới Luật mới Yêu Thương của Ngài :
Trong cả hai đọan Tin Mừng xem ra như đối nghịch, mâu thuẫn, Đức Giêsu đều nhấn mạnh giới luật Yêu Thương : đoạn Tin Mừng chữa người bại tay trong ngày Sabát là ngày Luật Môsê cấm làm việc, Đức Giêsu đã tuyên bố : ngày Sabát được làm ra cho con người, và ưu tiên ở đây là thực hiện đức ái đối với người bị bại tay đang cần được cứu chữa. Nói cách khác, bất cứ lề luật nào, bất kỳ khoản luật nào của bộ luật sẽ chỉ có giá trị khi quy chiếu về tình yêu phục vụ, bởi theo Đức Giêsu : lề luật được làm ra là để phục vụ hạnh phúc của con người, chứ con người không làm nô lệ cho lề luật.
Cũng trong ý hướng duy nhất đó, Đức Giêsu đi đến tận nguồn cội, cốt lõi của giới luật mới Tình Yêu, khi đòi buộc chúng ta phải quan tâm, lưu ý đến cả những chi tiết của tình yêu, những việc nhỏ trong giới luật Tình yêu, những chi tiết và việc nhỏ mà luật Môsê không để ý, cũng không đề cập đến, nhưng trong thực tế lại là nguyên nhân làm người khác bị tổn thương, đau khổ nhiều và thường xuyên như giận dỗi anh em, mắng nhiếc anh em là đồ ngu ngốc, chửi rủa anh em là đồ phản đạo (x. Mt 5,22).
2.   Tính cách luôn tích cực của Giới Luật mới Yêu Thương :
Lề Luật Môsê chỉ dừng lại ở Công Bình, với nguyên tắc : “Mắt đền mắt, răng đền răng” (x. Mt 5,38), cũng như “chớ giết người ; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà” (Mt 5,21), nghiã là nếu anh giết người thì anh sẽ bị ra toà, và quan toà sẽ nhân danh luật “máu đòi máu, mạng đền mạng” để bắt anh phải chết, nhưng Luật cũ Môsê không đi xa hơn, không vươn cao hơn, không chủ động tích cực, để có thể vượt ngưỡng Công Bình bước vào Bác Ái, mà thực hiện đòi hỏi của Đức Ái sâu thẳm và nền tảng như “khi sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5, 23-24). Cũng như “nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm” (Mt 5,39-41).
Qủa thực, chuyện “bỏ của lễ lại đó trước bàn thờ mà đi làm hoà với anh em”, đi xin lỗi người mình xúc phạm, làm buồn lòng, chuyện người ta tát má phải lại chừa thêm má trái, ai xin áo ngoài, cho cả áo trong, ai đòi dẫn đi một cây số, sẽ không ngại đi hết cây số thứ hai với họ, thì chỉ có Giới Luật mới Yêu Thương của Đức Giêsu mới đề cập và đòi buộc, chỉ có người đi theo Đức Giêsu mới dám dấn thân thực hiện, và chỉ với ơn của Thánh Thần Tình Yêu, người tín hữu của Đức Giêsu mới có thể sống trọn vẹn tinh thần của  giới luật yêu thương.
3.   Tinh Thần của Lề Luật :
Một điều rất quan trọng khác Đức Giêsu muốn nói trong đọan Tin Mừng này là : chân trời của Lề Luật phải được mở ra cho tương quan giữa con người với con người. Điều này có nghiã : tất cả khoản luật trong luật Môsê phải được hướng đến Giới Luật mới của Tân Ước, tức Luật Yêu Thương giữa con người với con người của Đức Giêsu, mà chân trời của Giới Luật này là hạnh phúc của con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ, và nhờ đó, tất cả mọi người hoà giải được với nhau và  sống với nhau trong tình yêu, khi tuân giữ giới luật của chính Thiên Chúa ban cho con người : “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương anh em” (Ga 13,34).
Lề Luật từ nay không còn là những khoản luật lạnh lùng mà con người phải chu toàn một cách máy móc, trong trạng thái đầy lo âu, sợ sệt như sẽ bị trừng phạt, nếu sai phạm, thiếu sót, nhưng là tinh thần phân định để sống Luật Yêu Thương  của Thiên Chúa là Tình Yêu dưới cái nhìn của Thiên Chúa và Lời  Ngài. Tinh thần phân định này là ơn sủng của Thần Khí, như thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côrinthô đã viết : “Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa” (1 Cr 2, 10). Chính tinh thần phân định đượcThần Khí ban đã giúp chúng ta sống Lề Luật một cách trọn hảo, và đẹp lòng Thiên Chúa.
Sau cùng, Lề Luật từ nay không chỉ là những tội danh được gọi tên như giết người, ngoại tình… nhưng là sống tinh thần hoà giải của lề luật, sống sự thật của tâm hồn, sống trung thành với Lời hằng sống, và như thế Lề Luật luôn mang tính giải phóng, thăng tiến, xây dựng con người dưới bầu trời yêu thương, quan phòng của Thiên Chúa.
Vâng, Đức Giêsu không phá hủy Lề Luật Môsê của Cựu Ước, vì Luật này đã được làm nên cho Dân riêng của Thiên Chúa, với mục đích chuẩn bị cho Giới Luật mới Yêu Thương của Đức Giêsu sẽ được công bố trong Tân Ước, cũng như Ngài không xóa bỏ lời các ngôn sứ, bởi các ngôn sứ đã được sai đến để loan báo công cuộc Nhập Thể và Cứu Độ của Con Thiên Chúa trong thời kỳ mới, ở đó Thiên Chúa lấy chính máu của Con duy nhất mình mà ký Giao Ước mới với nhân loại.
    Thực vậy, Đức Giêsu không hủy bỏ, nhưng kiện toàn, và làm cho nên hoàn hảo bằng ban cho Luật cũ một tinh thần mới của Thần Khí, Thần Khí của Thiên Chúa là Tình Yêu, để từ nay chỉ còn một Giới Luật mới là “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).
Jorathe Nắng Tím