Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2020

Chương VII: BẠN BÈ HẬU LY DỊ


Ngày xưa khi hạnh phúc ngập tràn, niềm vui  phủ kín, dấu ái mặn nồng thì bạn anh cũng là bạn em và bạn bè là niềm an ủi, nguồn vui cho mái ấm gia đình. Nay ly hôn rồi thì bạn bè mỗi người mỗi chọn lựa: có người còn qua lại thăm hỏi, cảm thông và quan tâm giúp đỡ; có người giữ thái độ bàng quan, không can dự; số đông còn lại tìm cách tránh né vì ngại phải đứng về bên này hoặc bên kia, hay không muốn  ở vào một chiến tuyến khi hôn nhân của bạn mình đổ vỡ, vợ chồng ly tan.
Chọn lựa của bạn bè trước sự kiện ly dị rất khác biệt:
1.   Chọn lựa kín đáo đồng hành, và tận tình chia sẻ:
Những người  bạn này nói ít làm nhiều. Họ không nhiều lời phê phán, dài dòng  nhận định  nguyên nhân, tiến trình và hậu qủa của hôn nhân đổ vỡ. Họ chỉ biết lặng lẽ đi bên cạnh, tề nhị chia sẻ và tận tình giúp đỡ. Họ là những người ở lại khi mọi người đã ra về, dọn dẹp chén diã khi tiệc tàn, khuân vác đồ đạc khi bạn dời nhà, nhất là ngồi hằng giờ để nghe bạn nói mà không tỏ vẻ lơ là, nhàm chán.
Âm thầm và lặng lẽ, họ trao tặng bạn chính con người họ và yêu thương bạn hết tình.  Nếu được hỏi ý kiến, họ là những người có thể làm bạn không vui vì họ trung thực, chân thành nên  nghĩ sao nói vậy, không “hoa lá cành”. Với họ, bạn có thể phải đối diện với nhiều sự thực mà bạn không dám hay không muốn. Họ là  nhà phân tích trung thực, nên có thể bạn không mấy thích họ và khó khiêm tốn để lắng nghe họ chia sẻ. Những người bạn này không nhiều và rất đáng tiếc nếu  bạn không  nhận ra những giá trị rất qúy hiếm nơi họ.
Điểm nổi bật ở họ là lòng trung thành. Họ không đặt ly dị như  cản trở của tình bạn; nghiã là bạn hạnh phúc hay bất hạnh, thành công hay thất bại, lên voi hay xuống chó, họ vẫn ở bên và một lòng yêu thương bạn. Chính vì thế, họ không tỏ thái độ gì rõ rệt trong lựa chọn và quyết định ly dị của bạn, khác với nhiều người đã tỏ ra rất tích cực, đôi khi qúa khích để tạo áp lực, ảnh hưởng trên quyết định của bạn.
Một điểm son khác của những người bạn qúy hiếm này là tính vững chãi  trong tình cảm. Nếu đã là bạn của cả hai vợ chồng, họ sẽ tiếp tục là bạn và duy trì tình nghiã với cả hai. Và điều đáng nói là họ không bao giờ đi sâu vào vấn đề riêng của hai người đã ly dị  để không phải trở thành bạn của người này, thù đối với người kia. Nhờ tình bạn trong sáng, vô tư, hào sảng, họ luôn giữ được tư thế người bạn qúy, dễ thương, đáng tin cậy.
2.   Chọn lựa đứng ngoài cuộc với thái độ bàng quan:
Chủ trương không can dự để khỏi bị “văng miểng, lạc đạn” là chọn lựa dễ dãi, dễ dàng nên phần đông có khuynh hướng nghiêng theo chọn lựa này. Những người bạn quen  kiểu  “thời vụ, cơ hội” sẽ không ra khỏi chọn lựa hời hợt,vô trách nhiệm và gần như vô cảm: Họ đến rồi đi không tơ vương, nặng lòng; đến dễ nên đi cũng không bịn rịn, khó khăn. Số bạn bè kiểu này khá đông, nên dễ hiểu tại sao vợ chồng sau ly dị không còn thấy bóng dáng bạn bè ngày xưa.
Điều  đáng buồn ở những người bạn này là sự thờ ơ, lãnh đạm của họ trước nhu cầu của bạn bè trong cơn khó khăn, thử thách. Họ thong thả đến vô trách nhiệm, và ung dung gần như vô tâm, vì quen ích kỷ. Điều ấy chứng tỏ tình bạn của họ rất đáng nghi ngờ vì nặng thực dụng, và nhất thời.
3.   Chọn lựa xấn xổ tham dự, và lèo lái tình huống theo ý mình:
Bên cạnh  chọn lựa tiêu cực khi “bàng quan, đứng ngoài, tránh bị liên lụy” , ta gặp một chọn lựa khác  còn kinh dị và tiêu cực hơn, đó là “nhẩy bổ và ngồi xổm” vào chuyện riêng của người khác.
Những người bạn thiếu tế nhị này thích thò tay, để mũi vào chuyện riêng của vợ chồng người khác đang có vấn đề và không ngượng ngùng xấn xổ tham dự và rắp ranh lèo lái tình huống theo ý mình. Họ tự cho mình cái quyền sắp xếp chuyện gia đình người khác, quyền  áp đặt “ý kiến, ý muốn” của họ trên hai người đang trên đường  ly dị. Nếu họ muốn hai người “bỏ nhau”, họ sẽ cực lực thúc đẩy, và bằng mọi cách làm cho hai người phải sớm chia tay. Ngược lại, nếu họ không đồng ý, không ủng hộ, họ sẽ không để hai người ly dị bằng bất cứ giá nào. Xem ra hai người trong cuộc không còn quyền định đoạt vận mệnh đời mình, cũng như không có quyền giải quyết những vấn đề riêng tư; trái lại họ bị biến thành  con rối trong tay người khác và cuộc đời họ hoàn toàn bị  ý muốn của người khác lèo lái, sắp đặt.
Điểm mặt những người bạn có máu xâm lăng, người viết muốn nhắc nhở một tình trạng bị áp lực lấn lướt thường xẩy ra nơi những cặp vợ chồng trong cơn khủng hoảng trước giải pháp ly dị. Ở vào hoàn cảnh chán chường, mệt mỏi, thiếu sáng suốt do những đôi co căng thẳng, vợ chồng ở tình cảnh bất hoà rất dễ bị ru ngủ bởi những người bạn ở dạng này, để rồi vội vã, nông nổi quyết định ly hôn. Không thiếu  những vợ chồng sau khi ly dị đã nhận ra mình qúa ngây thơ và nhẹ dạ khi nghe lời bạn bè.       
Trong thực tế, khi trao đổi và tư vấn, người ta không nên tiên thiên quyết đoán và lèo lái quyết định của người trong cuộc; bởi  chỉ người trong cuộc mới có thể quyết định vì  thấu đáo và nắm chắc được toàn bộ vấn đề và các khiá cạnh phức tạp của nó. Thúc đẩy người khác ly dị hay ngăn cản không cho ly dị, thiết tưởng cả hai đều cực đoan, thái qúa. Chân thành mà nói, có những trường hợp không ly dị không được, vì nếu cứ mãi do dự, níu kéo, người ta chỉ đưa nhau đến tận diệt khi đời sống chung trở thành nơi phát sinh tội ác. Vì thế, ly dị nhiều khi là chọn lựa bắt buộc mà người ta không thể tránh như miễn cưỡng chọn một điều ít xấu nhất trong các điều xấu đang có mặt.   
Về phần vợ chồng ly dị, họ sẽ nhận ra ai là bạn tốt và ai là bạn “hữu danh vô thực”: mang tiếng là bạn, nhưng  tình  bạn chân thực thì không có. Hai người cũng sẽ mất đi một số bạn. Những người này hoặc tránh cho khỏi bị phiền lụy, hoặc né bên này để chọn đứng về  bên kia.
Các nhà tâm lý gia đình cùng chung nhận định: thời hậu ly dị là thời hai người  rất cần sự có mặt của bạn bè, nhưng lại là thời  bạn bè vắng bóng nhiều nhất. Có những trường hợp hai người ly dị không muốn gặp lại bạn bè, nhưng ngay trong ý muốn “không muốn gặp” đó cũng tiềm tàng một nhu cầu thông giao, liên đới mà vì những lý do bất khả kháng, hai người đành phải “muốn”cái điều họ không thực sự mong . Và sự vắng mặt của bè bạn vì thế có thể được vắn tắt  cắt nghiã như sau:
a.   Do hai người mới ly dị từ chối liên lạc:
Vợ chồng mới ly dị tự động cắt quan hệ với bạn bè có thể vì muốn giấu kín  nguyên nhân đưa đến ly dị; hoặc chung quanh biến cố ly dị đã có qúa nhiều những  bẽ bàng cần che đậy. Họ cũng tránh bạn bè vì muốn được yên thân, khỏi phải trả lời những câu hỏi đánh thức cơn đau. Đàng khác, cũng vì muốn giữ danh dự, uy tín cho nhau, nhiều đôi ly dị đã cùng quyết định không gặp lại bạn cũ. Sự cắt đứt bạn cũ trong thời  hậu ly dị ít ra cũng giúp không tạo điều kiện cho người khác thị phi, phê bình, luận tội bên này, ca tụng bên kia một cách bừa bãi, vô trách nhiễm.     
b.   Do tình hình mới không cho phép:
Tình hình mới đây có thể do người vợ mới, người chồng mới, hay người tình mới  của một hoặc của cả hai người đã ly dị  muốn cắt đứt mọi liên hệ hầu bảo vệ an toàn  mối tình mới, gia đình, hạnh phúc mới. Nhiều người, sau khi tái hôn đã xóa sạch mọi quan hệ cũ, xa tránh bạn bè cũ. Họ biết đây là chọn lựa bất đắc dĩ, ngoài ý muốn, nhưng vì đó là đòi hỏi của người yêu mới, vợ mới, chồng mới, họ phải chấp nhận quên đi tất cả người xưa để  không ai, không sự gì làm nhiễu cuộc sống hôm nay với chuyện tình hiện tại rất mới của họ.
c.    Do mặc cảm thất bại hay mặc cảm tội lỗi ở hai người:
Ly dị nào cũng có nguyên nhân, dù nguyên nhân đó đúng, sai, thật, giả. Nhưng bất kể là nguyên nhân nào, người ngoài cuộc vẫn có thể  phê bình, lên án tùy theo nhãn giới, quan điểm, vị thế của mình. Chính vì thế, người ly dị có thể được thông cảm bởi người này, nhưng bị kết án bởi người kia; được phe này ủng hộ, nhưng bị phiá kia đả kích; không ray rứt với người này, nhưng mang mặc cảm có tội với người kia; bình an với một số người, nhưng bất ổn, bối rối đối với nhiều người khác.
Vì tính phức tạp, đa dạng của vấn đề, nên người ly dị không dễ thảnh thơi tâm hồn và nhẹ nhõm lương tâm sau quyết định ly hôn. Những ràng buộc tôn giáo, gia đình, gia tộc, bạn hữu không thuần nhất, đồng bộ trong nhận định, phán quyết, nên cũng rất khác biệt trong hậu qủa. Từ đó, mặc cảm phát sinh và không chế tâm lý của hai người ly dị biến họ thành những con người hoặc nhát đảm, rụt rè vì mặc cảm tội lỗi, hoặc  buông thả, bất cần vì mặc cảm thất bại. Đừng quên ở vào tình trạng tâm lý căng thẳng vì những hiểu lầm, chống đối , người ta dễ mất thăng bằng và rơi vào tình trạng khủng hoảng căn tính, nghiã là hồ nghi về chính sự có mặt của mình.  
Để khép lại vai trò của bạn bè trong thời gian hậu ly dị, chúng ta có thể cùng đi thêm với nhau  một bước nữa khi suy tư về: sự cần thiết của những bàn tay thân hữu:
NHỮNG BÀN TAY THÂN HỮU
Rất ít trường hợp ly dị không có những bàn tay từ bên ngoài can thiệp: những bàn tay nhúng vào cố ý quậy nát, những bàn tay tìm giải pháp hoà giải, những bàn tay xây dựng, nối kết và những bàn tay phân rẽ, chia phôi. Mỗi bàn tay có  mục tiêu tốt - xấu  khác nhau. Mỗi đóng góp mang  ý hướng cao thượng hay ý đồ  xấu xa. Người ta có thể là bạn tốt mà cũng có thể là bạn xấu; có thể đưa tay cứu vớt, mà cũng có thể ra tay nhận chìm  những người đang chết đuối trong cơn sóng ly dị. 
Trước ly dị, hai người trong cuộc chắc chắn đã tham khảo nhiều ý kiến, hỏi han nhiều bạn bè, nghe ngóng nhiều phản ứng, nhận được nhiều đề nghị. Nhiều khuôn mặt, nhiều đề án, nhiều ủng hộ, nhưng cũng nhiều chống đối, bất đồng trùng trùng điệp điệp đến với họ. Họ tìm gặp người thân để phân trần, bàn hỏi mong giúp một lời khuyên, mở một lối thoát, khơi lên niềm hy vọng.   
Những người tốt luôn bắt đầu với hướng giải quyết ôn hoà, hàn gắn. Cực chẳng đã mới phải đề cập phương án ly dị như một giải pháp ít xấu nhất giữa những giải pháp khác xấu hơn, rất xấu. Một số người khư khư giữ lập trường cứng rắn, đanh thép: phải ly dị, “bỏ quách nó cho xong”, và thúc đẩy người trong cuộc đi đến giải pháp chia tay, gẫy gánh.
Không thiếu những “lời ra tiếng vào” rất tiêu cực, xúi bẩy phải ly dị; nhưng rất hiếm những bàn bạc khôn ngoan  mưu tìm phương án hoà giải, hàn gắn. Lý do là vì người ta luôn thích chọn giải pháp ngắn gọn, chóng vánh và dễ dàng; chưa kể tâm lý nghi ngại khi phải xuống nước làm hoà, phải khiêm tốn nhận lỗi, phải nhịn nhường, thua thiệt để có được đồng thuận, nhất trí.
Có những người phải tiếc nuối suốt đời, vì dại dột nghe lời xúi bẩy vội vã ra toà ly dị. Có những ân hận mãi không nguôi  vì thổi phồng qúa đáng, và bi thảm hoá một chuyện nhỏ. Có những quyết định lầm lẫn do thiếu trung thực chủ quan và khách quan. Có những sai phạm trong quyết đoán mà cả đời cũng sẽ không chỉnh sửa được.
Người sống trong thời chuẩn bị ly dị chịu nhiều áp lực từ nhiều phiá: gia đình ruột thịt, bạn bè, việc làm, uy tín. Tất cả đều nặng nề, khó gỡ và nhiều trường hợp, hai người đã ly dị vì áp lực khách quan hơn là do chính quyết định riêng có tự do của họ.     
Ý thức tính cách đặc biệt, duy nhất, nhiêu khê của từng trường hợp ly dị  hướng chúng ta đến thái độ tôn trọng người trong cuộc, khôn ngoan khi góp ý, dè dặt khi nhận định, và nhất là tế nhị trong  cư xử . Thái độ tế nhị giúp ta giữ một khoảng cách cần thiết để không trở thành kẻ soi mói lố bịch, kẻ hồ đồ lên án. Thái độ dè dặt, khôn ngoan tránh cho ta nhiều sai lầm trong phán đoán. Thái độ tôn trọng không cho phép ta coi thường những người đang gặp khó khăn; trái lại thúc đẩy ta chia sẻ, đồng hành và nâng đỡ họ.     
Như thế, điều muốn nói lên, và phải làm trước hết chính là thái độ của những người chung quanh đối với vợ chồng ly dị. Đừng quên, ở vào hoàn cảnh ly dị, người trong cuộc rất đơn côi, hoang mang, hụt hẫng, và rất cần những trái tim chia sẻ, những bàn tay nâng đỡ của cha mẹ, gia đình, bạn hữu. 
Nếu ngày thành hôn, cô dâu chú rể báo tin cho mọi người là vì vợ chồng mới muốn làm lớn niềm vui lớn đang lớn trong họ. Thiệp cưới là thiệp báo hỉ, báo một tin vui rất lớn, gửi một tin vui trọng đại: Hai người yêu nhau nay thành vợ chồng. Hai người muốn loan báo tình yêu và hạnh phúc hôn nhân của họ đến mọi người thân quen, để tình yêu của họ được chúc phúc, quyết định thành hôn của họ được gia đình, xã hội công nhận và ngày cưới  chính thức đánh dấu bước  đầu tiên của hai người  tay đan tay, lòng bên lòng trên con đường  hạnh phúc.
Nếu ngày cưới của họ, nhiều người nhận được thiệp hồng, nhiều người được mời đến dự tiệc là vì đó là ngày vui, biến cố vui, cuộc đời vui, con đường vui với những con người đang rất vui. Nhưng khi ly hôn, cũng vợ chồng này sẽ không vui,  không rộn ràng báo tin, không phấn khởi tổ chức tiệc tùng, vì ly hôn không là ngày vui, và ly dị là cây số sau cùng khép lại đường hôn nhân hạnh phúc. Chính vì không vui, nên tin ly hôn thường không được loan báo rộng rãi và người ta không mở tiệc ly dị, mời dự tiệc ly hôn như ngày vu quy, tân hôn, thành hôn đã là ngày vui nức lòng.  
Không báo tin cũng không lễ lạc, mời mọc khi hôn nhân không đạt mục đích, vợ chồng ly dị đã không muốn ai thấy họ, cũng như không muốn ai nói với họ khi họ có vấn đề. Nhưng đó có là lý do chính đáng cho phép chúng ta bỏ quên họ, tránh gặp họ, và tệ hơn nữa xúi bẩy, dổ thêm dầu vào lửa?
Ly dị nhiều khi không chỉ là chuyện riêng của vợ chồng. Người ta thường dễ dàng giản lược ly dị là chuyện riêng hai người trước đó đã yêu nhau, và cưới nhau. Thực tế, đã không ít miệng lưỡi góp ý, bàn tay đưa đẩy góp phần làm nên ly dị. Có nhiều ý kiến thuận và nghịch, nhiều bàn tay ngăn cản và đẩy tới. Có người ủng hộ và chống đối. Có người bị thiệt hại và người được lợi.Có người bực bội và người đắc chí. Có người thua và người thắng. Còn lại một số rất ít cùng chung tâm trạng buồn vui.  
Không là chuyện riêng của hai người, nên ly dị trở thành chuyện của nhiều người, nhưng rất ít người chia sẻ đúng nghiã và cảm thông chân thành với người ly dị.  
Chia sẻ và cảm thông là đặt mình vào hoàn cảnh của người ly dị để hiểu họ khổ đau biết bao khi phải chọn giải pháp “đứt gánh đường tình”; để thương họ khốn khổ thế nào khi bị giằng co, căng thẳng trước khi quyết định ký ly hôn.
Chia sẻ và cảm thông là tránh khích bác, khinh bỉ, nhất là lên án hồ đồ, vô trách nhiệm, vì ngoài vợ chồng ly dị, không ai có thể thấm thiá hết nỗi đau, niềm nhớ của cơn sốt đổ vỡ, ly tan.
Chia sẻ và cảm thông là trân qúy và dành cho vợ chồng ly dị lòng kính trọng. Họ cần được trân trọng vì ly dị không bao giờ là một tội ác, dù là điêu cấm đối với một số tôn giáo. 
Chia sẻ và cảm thông không được hiểu là a dua, đồng loã, nhưng là thái độ trưởng thành của người có lòng nhân và can đảm vì biết và dám có mặt với những ai đang gặp khó khăn, cần giúp đỡ.
Chia sẻ và cảm thông là khéo léo để trở thành nhịp cầu nối hai bến bờ ngăn cách, hai đối kháng căng thẳng, hai đối trọng nặng nề, hai đối thủ đều quyết tử quyết sinh.Tạo được “mẫu số chung” giữa hai người đã ly dị để cuộc sống hậu ly dị của họ thôi  là cuộc chiến trường kỳ cam go, bi thảm  phải là mục tiêu của người trung gian, hoà giải tốt và có khả năng.
Chia sẻ và cảm thông là phát huy tinh thần lạc quan để làm cho đời sống hậu ly dị của người ly dị phai dần ký ức buồn, xóa bớt vết nám bi quan, nhẹ đi gánh sầu tâm sự.
Chia sẻ và cảm thông đòi biết lắng nghe mà không tìm tòi, hạch hỏi. Biết lắng nghe để người nói trút hết tâm sự buồn, vì hoàn cảnh ly dị là hoàn cảnh không đơn giản, với nhiều tương quan phải sắp xếp, ổn định, nên thường rất nặng lòng và rối ren, bàng hoàng.
Lắng nghe là việc cần làm của người chung quanh mà người ly dị mong đợi. Họ cần có người lắng nghe hơn người nhận định, phê bình. Họ ao ước có được trái tim biết lắng nghe trong thinh lặng hơn ở bên nhà tư vấn nhiều lời. Họ khao khát được trải nỗi niềm bấy lâu ứ nghẹn hơn phải tiếp tục ngột ngạt vì luật lệ, giáo điều. Họ bình an với  yên lặng cảm thông hơn ngôn ngữ luân lý, đạo đức. Họ vui mừng được nói hơn vất vả trả lời. Họ đợi chờ được người khác nghe hơn nghe người khác lên lớp, khuyên bảo.
Như thế, nhu cầu tinh thần của người ly dị là được lắng nghe, vì được lắng nghe là được cảm thông, chia sẻ, và hạnh phúc bắt đầu từ giây phút một trái tim mở cửa đón nhận một trái tim khác.
Cảm thông là nhịp cầu ngắn nhất và chắc chắn để nối hai tâm hồn, hai cuộc đời, hai con người. Cảm thông đem lại nghị lực và hy vọng cho người đang chênh vênh trên dốc đá thất vọng. Cảm thông làm cô đơn nguôi ngoai, tình người nở rộ.   

TIN MỪNG KHÔNG BIÊN GIỚI


Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 6, Phục Sinh, Năm A
Bất chấp những khó khăn và bách hại ngày càng gia tăng, giáo đoàn Kitô hữu tiên khởi đã ra khỏi Giêrusalem để đến với muôn dân như bài sai của Đức Giêsu phục sinh: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thầy” (Mt 28,19). Và từ nay Tin Mừng Đức Giêsu chịu đóng đinh trên thập tự và đã sống lại từ cõi chết không còn là Tin Mừng cho dân tộc Do Thái hay một miền đất, một nền văn hoá nào, nhưng là Tin Mừng không biên giới cho tất cả mọi người ở mọi thời, mọi nơi.
Thực vậy, lúc bấy giờ giáo đoàn tín hữu ở Giêrusalem bị truy lùng, bắt bớ dữ dội, điển hình là cuộc tử đạo của một trong Nhóm Bẩy Người là ông Têphanô. Nhóm này, ngoài Têphanô, còn có “các ông Philípphê, Pơrôkhôrô, Nicano, Timôn, Pácmêna và ông Nicôla” là những người “được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan” được các Tông Đồ chọn và đặt tay (Cv 6,3.5).
Ông Têphanô bị tố cáo “lộng ngôn xúc phạm đến ông Môsê và Thiên Chúa” và “không ngừng nói những lời phạm đến Nơi Thánh và Lề Luật” (Cv 6,11-12), và họ đã ném đá ông cho đến chết. “Các nhân chứng để áo mình dưới chân một thanh niên tên là Saolô” (Cv 7,58). “Phần ông Saolô, ông tán thành việc giết ông Têphanô” (Cv 8,1). Và sách Công Vụ các Tông Đồ đã tóm tắt tình hình bách hại các tín hữu ở Giêrusalem buổi đầu của Giáo Hội như sau:
“Hồi ấy, Hội Thánh tại Giêrusalem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội. Ngoài các Tông Đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giuđê và Samari… Còn ông Saolô thì cứ phá hoại Hội Thánh: ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục” (Cv 8,1.3).
Chính trong thời buổi bị bách hại này mà Philípphê, một trong Nhóm Bẩy Người đã “xuống một thành miền Samari và rao giảng Đức Kitô cho dân cư ở đó” (Cv 8,5).
Samari là miền ngoại đạo và thù nghịch với người Do Thái, hai dân tộc ngăn cách bởi nhiều rào cản, và họ không chấp nhận nhau, đến nỗi chỉ đi ngang qua vùng Samari thôi, người Do Thái cũng không được phép. Nhưng bây giờ thì Tin Mừng vượt tuyến, vượt biên, vượt mọi chướng vật, rào cản, vượt mọi kỳ thị, thành kiến, vượt mọi phong tục, truyền thống, luật lệ để trở thành Tin Mừng không biên giới, hầu đến được với hết mọi người, không trừ ai. Sự việc hai tông đồ Phêrô và Gioan  đã đến tận Samari và đặt tay cầu nguyện cho dân cư ở đó, để họ nhận được Thánh Thần đã nói lên tinh thần hăng say với sứ vụ loan báo Tin Mừng không biên giới này, khi vượt qua mọi biên giới của chủng tộc, địa lý, lịch sử, xã hội, chính trị, văn hoá, lề luật mà Đức Giêsu đã ủy thác cho các vị, sau khi sống lại (x. Cv 8,14-17).
Thực vậy, giáo đoàn đầu tiên cũng như các tín hữu của dòng lịch sử Giáo Hội đã ý thức và xác tín: Đức Giêsu chịi đóng đinh và sống lại là Tin Mừng không biên giới của toàn thể nhân loại.
Để Tin Mừng trở thành Tin Mừng cho mọi người, Tin Mừng không biên giới, họ đã sống thuận hoà với nhau trước mặt Thiên Chúa và chia sẻ với người chung quanh niềm hy vọng trong Đức Giêsu phục sinh, như lời khuyên của thánh tông đồ trưởng Phêrô: “Tất cả anh chị em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương nhau như anh em, hãy ăn ở nhân hậu và khiêm tốn. Đừng lấy ác báo ác, đừng lấy lời nguyền rủa đáp lại lời nguyền rủa, nhưng trái lại, hãy chúc phúc, vì anh chị em được Thiên Chúa kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc” (1 Pr 3,8-9). Chính nhờ đời sống bác ái, yêu thương, nhân hậu, như “dấu chỉ duy nhất họ là môn đệ của Đức Giêsu”, mà Tin Mừng đến được với mọi người, Đức Giêsu được tin thờ, yêu mến, khi  chứng từ của họ trở nên thuyết phục.
Và “Tin Mừng không biên giới” ấy đã được chính Đức Giêsu tuyên bố bảo đảm trong buổi tối thứ năm tuần thánh trước mặt các tông đồ, sau khi Giuđa đã bỏ bàn tiệc ra đi, khi Ngài nói về sự hiệp nhất giữa Ngài với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đồng thời giới thiệu với các ông Chúa Thánh Thần như Đấng Bảo Trợ: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật” (Ga 14,16-17).
Chính Thần Khí sự thật sẽ dẫn đưa người Kitô hữu đến với Chúa Ba Ngôi, nhờ tình yêu và lòng trung thành với Lời Thiên Chúa mà họ đã nhận được từ Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Cũng chính nhờ Thần Khí sự thật, mà các môn đệ của Đức Giêsu đã, đang và sẽ làm cho thế giới nhận ra ý muốn và hạnh phúc của Thiên Chúa là: tất cả mọi người được cứu độ và được sống.
Vâng, mục đích của Tin Mừng không biên giới, chính là không để bất cứ ai, ở bất kỳ nơi nào, thời nào mất đi cơ hội được nghe Tin Mừng “Thiên Chúa yêu thương họ”. Và mục đích ấy sẽ chỉ có thể đạt được, khi niềm vui phục sinh của người môn đệ Đức Giêsu được hiện thực hoá bằng  nhiệt huyết tông đồ, qua nỗ lực truyền giáo để Lời hằng sống, Máu và Nước từ thân xác Thiên Chúa làm người bị đóng đinh, cũng như ơn Cứu Độ và Bình An của Đức Giêsu sống lại  tuôn chảy đến  mọi người, không trừ ai, như thánh ý đời đời của Chúa Cha.
Jorathe Nắng Tím        

Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2020

ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO KHÔNG BIÊN GIỚI (12)

                                          CÓ MẸ ĐỒNG HÀNH
Đã là con thì phải có mẹ, bởi không mẹ làm sao có con. Vì thế, từ trên Thánh Giá, khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Kể từ giờ phút ấy, gia đình thiêng liêng của Đức Giêsu chính thức thành hình và các môn đệ đi theo Ngài được vinh dự và hạnh phúc có Đức Maria làm Mẹ.
Lời trăn trối của Đức Giêsu ở giờ hấp hối mang một tầm quan trọng không thể chối cãi đã nói lên ý muốn của Đức Giêsu, đó là những ai muốn đi theo Ngài đều phải trở nên con của Đức Maria, Mẹ Ngài, vì họ là anh em của Ngài.
Ân huệ qúa lớn lao, và vinh dự qúa cao cả, nhưng rất tiếc không phải ai cũng nhận ra ân huệ và vinh dự đó!
Khi ký thác thánh Gioan, tông đồ trẻ tuổi nhất và được thương mến nhất làm con của Mẹ mình, Đức Giêsu đã muốn các môn đệ của Ngài được Mẹ mình yêu thương, dậy dỗ, bao bọc, chở che và đồng hành, như chính Ngài đã được tình yêu và cuộc đời Đức Mẹ cưu mang, nuôi lớn, dậy dỗ, nâng đỡ, ủi an.
1.   Người môn đệ của Đức Giêsu được Đức Mẹ đào tạo ở trường Nadarét:
Chúng ta đừng lầm tưởng: vì là Thiên Chúa, nên Đức Giêsu không cần được nuôi dưỡng, giáo dục như một người bình thường, nghiã là được nuôi nấng, giáo dục từ tấm bé đến tuổi thiếu niên, thanh niên rồi trưởng thành, lập thân như bao nhiêu người khác. Chúng ta cũng không được coi thánh gia ở Nadarét chỉ là bung xung, một bề ngoài được dàn dựng để Đức Giêsu Thiên Chúa có một gia đình như mọi người, và vai trò làm cha mẹ của thánh Giuse và Đức Maria chỉ là ngụy tạo.
Nghĩ như thế không những sai lạc, mà còn chối từ Nhân Tính của Đức Giêsu, bởi Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người, vừa mang Thiên Tính vừa mang Nhân Tính, nên ở Bêlem Ngài cũng được sinh ra, và ở Nadarét, Ngài cũng được nuôi nấng, chăm nom, giáo dục, khuyên răn, uốn nắn như bao con trẻ khác, để “ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghiã đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52).
Vì thế, trong suốt ba mươi năm ở Nadarét, Đức Giêsu đã được thánh Giuse và Đức Mẹ đào tạo nhân bản để trở thành người tử tế: tử tế khi thân thiện, hồn nhiên, cởi mở; tử tế khi sống công bằng, bác ái; tử tế khi dễ thương, dễ gần; tử tế khi ân cần giúp đỡ; tử tế khi chịu đựng, thứ tha; tử tế khi trân trọng người khác tôn giáo, khác chính kiến, khác mầu da tiếng nói, khác trình độ, hoàn cảnh; tử tế khi cảm thương người yếu thế, đau bệnh, nghèo khổ, tội lỗi; tử tế khi cảm thông  những cay đắng thất bại, những nghiệt ngã bế tắc, những quay quắt bi thương của những phận người hẩm hiu.   
Trong suốt ba mươi năm, Ngài đã học “hiền lành và khiêm nhường tận đáy lòng” với Mẹ; học âm thầm tận tụy làm việc, và hy sinh quên mình vì hạnh phúc của người khác với Cha; học đơn sơ, giản dị trong mái ấm có cha mẹ là những người có tâm hồn phó thác, tuyệt đối tin tưởng ở Thiên Chúa; học nhẫn nại, chịu khó với công việc vất vả để nuôi sống gia đình của Cha và tinh thần chu toàn bổn phận trong từng việc nhỏ của Mẹ.
Trong suốt ba mươi năm, Ngài đã học “yêu mến Thiên Chúa và vâng theo Thánh Ý” với cha mẹ Ngài là những người chỉ một lẽ sống duy nhất là: thực hiện thánh ý Thiên Chúa trong suốt đời mình.
Vâng, nếu Đức Giêsu đã trưởng thành nhân bản và lớn lên trong Đức Tin nhờ được cha mẹ đào tạo, huấn luyện ở Nadarét, thì người môn đệ cũng không thể ra ngoài quy trình đào tạo này, và việc đào tạo phải được đặt dưới sự hướng dẫn từ ái của chính Đức Maria, Mẹ của Đức Giêsu, cũng là mẹ của các môn đệ Ngài. 
2.   Người môn đệ của Đức Giêsu được Đức Mẹ củng cố niềm tin ở Cana:
Phép lạ ở tiệc cưới Cana hôm đó chắc chắn đã không xẩy ra, nếu không có sự hiện diện và can thiệp của Đức Maria, bởi chính Đức Giêsu đã khẳng định khi trả lời Đức Mẹ: “Giờ của con chưa đến” (Ga 2,4).
Nhưng đi với Đức Mẹ, đức tin của người môn đệ sẽ được củng cố bằng tin như Đức Mẹ khi ngài nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Bởi có tin mãnh liệt, có tin vững vàng, Đức Mẹ mới dám nói với các gia nhân như vậy, mặc dù Đức Giêsu chưa hứa gì với Mẹ, cũng không tỏ ra thái độ nào cho thấy Ngài sẽ làm phép lạ.  
Ở bên Đức Mẹ, người môn đệ sẽ hiểu thế nào là đức tin phó thác, khi hoàn toàn tín nhiệm và đặt để đời mình trong tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, để từ khởi điểm đường đời đã là “đi theo Thầy” thì suốt hành hình và đến tận cây số cuối cùng của đời người cũng sẽ chỉ là “Thầy ở đâu thì con xin được ở đó với Thầy”.
Vì thế, ở bên Mẹ, luôn có Mẹ trong đời sống, đức tin của người môn đệ sẽ từng ngày lớn lên, khởi sắc, mà không sợ thui chột, nhạt phai, úa tàn.
3.   Người môn đệ của Đức Giêsu được Đức Mẹ đồng hành trên đường Thánh Giá:
Theo Tin Mừng kể lại, thì trên đường Thánh Giá đã không có một bóng môn đệ thuộc Nhóm Mười Hai, trừ Gioan: Giuđa sau khi nhận tiền “chỉ điểm” đã đi thắt cổ tự tử, Phêrô kín đáo theo đến dinh thượng tế Caipha thì bỏ cuộc khi chối Thầy, các môn đệ khác thì tránh mặt, ẩn mình vì sợ người Do Thái truy lùng, bắt bớ.
Sở dĩ Gioan đã đi hết đường Thánh Giá với Đức Giêsu, vì ông đã không rời Đức Mẹ nửa bước. Là người môn đệ được Đức Giêsu thương mến đặc biệt, Gioan biết mình phải làm gì trong lúc Thầy chịu khổ nạn và đóng đinh, và ông đã thay Đức Giêsu ở sát bên Đức Mẹ để phụng dưỡng, nâng đỡ Đức Mẹ trong giờ phút vô cùng tang thương, bi đát.
Cũng nhờ ở với Đức Mẹ, không rời xa Đức Mẹ, Gioan đã không vấp ngã, không phản bội, không chối Thầy, cũng không bỏ trốn. Cũng nhờ bám chặt Đức Mẹ, đi với Đức Mẹ, Gioan đã đến được đỉnh đồi Canvê, và đứng ngay dưới chân Thánh Giá của Thầy mình để tận mắt chứng kiến và tận cùng chia sẻ đau đớn thân xác và đau khổ tinh thần của Thầy. Cũng nhờ yêu mến và tận tình phụng dưỡng Đức Mẹ, Gioan đã được vinh dự thay mặt các môn đệ Đức Giêsu, và đại diện Giáo Hội nhận ân huệ cao qúy “làm con  của Đức Maria”.
Thực vậy, đời người môn đệ là đời từ bỏ của Thánh Giá: từ bỏ chính mình, từ bỏ mọi sự. Đó là cuộc đời không giữ cho mình một sự gì, không tìm kiếm vinh quang, không tích trữ cho mình một kho tàng nào khác ngoài Đức Giêsu chịu đóng đinh; là cuộc sống không để  ăn rễ vào “của cải, vật chất, tiện nghi, hưởng thụ”, nhưng toàn thân, toàn tâm, toàn ý “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người” (Mt 6,33), và để ngày mai lo cho ngày mai, vì “ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34).
Cũng chính vì đời môn đệ là đường Thánh Giá, và không ngừng phải từ bỏ mọi sự và cả chính mình, nên người môn đệ hôm nay cũng có khả thể bỏ cuộc, trốn chạy, tránh né, kể cả phản bội như Giuđa, Phêrô và các môn đệ của Nhóm Mười Hai năm xưa, vì qủa thực con đường Từ Bỏ rất cam go, và đường Thánh Giá luôn đẫm nước mắt, nhuộm máu đào, nên thiếu Tình Mẹ bao bọc, người môn đệ sẽ dễ “lây nhiễm vi trùng thế tục”; thiếu Ơn Mẹ phù trợ, người môn đệ sẽ dễ lạc đường, vấp ngã; thiếu Nguồn Hy Vọng là Mẹ, người môn đệ sẽ dễ nản chí, thất vọng, bỏ cuộc.
4.   Người môn đệ của Đức Giêsu được Đức Mẹ đồng hành trên đường loan báo Tin Mừng Phục Sinh:   
Như đã có mặt với Con mình trên từng cây số trên đường truyền giáo năm xưa, Đức Maria cũng tiếp tục đồng hành với từng môn đệ Đức Giêsu trên đường truyền giáo hôm nay, cho con người thời đại, để giữa những đe dọa của thế lực trần gian, của ma qủy, người môn đệ vẫn đứng vững; trước những thử thách, gian truân, nhà truyền giáo vẫn bình an tiến bước trên đường đến với muôn dân; bên cạnh những con người luôn rình rập hãm hại, người được sai đi vẫn yêu thương, tha thứ.
Có Đức Mẹ, nhà truyền giáo sẽ thấy nắng hạn không qúa chói chan, khắc nghiệt, và mây đên, bão tố, sấm chớp không qúa dữ dội kinh hoàng, vì ở bên Mẹ, người môn đệ luôn được che chở, giữ gìn…
 Kết thúc loạt bài chia sẻ “Đường Truyền Giáo Không Biên Giới”, người viết xin được cùng Bạn dâng lên Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu, Mẹ các nhà truyền giáo, Mẹ Giáo Hội, Mẹ của tất cả những ai đang thao thức, khắc khoải và khao khát gặp gỡ Đức Giêsu để xin làm môn đệ Ngài những “đóa hoa lòng” thơm ngát tình con hiếu thảo để tôn vinh Mẹ và xin Mẹ đồng hành với mỗi người chúng con trên đường loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu chịu đóng đinh đã sống lại, là Con của Mẹ và là Chúa chúng con.
Jorathe Nắng Tím    

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (2)


        Đức Tin = Giao Ước Tình yêu  giữa Con Người với Thiên Chúa
Bất cứ tương quan nào cũng đưa đến khế ước, giao ước, dù là tương quan nhất thời : tương quan vợ - chồng có giao ước hôn nhân, người bán kẻ mua có khế ước thương mại, giám đốc - công nhân có hợp đồng lao động, xã hội đen và người được bảo kê cũng  có giao kèo làm ăn, mặc dù  phi pháp, ngay cả với kẻ thù đang giao chiến, một hoà ước ngưng chiến, một hiệp ước đình chiến vẫn có thể được thực hiện.
Tương quan giữa con người với Thiên Chúa cũng không ra ngoài quy luật này.
Khi tạo dựng con người, Thiên Chúa đã thiết lập một giao ước với nguyên tổ: Con người sống hạnh phúc trong địa đàng của Thiên Chúa, và toàn quyền trên mọi thụ tạo khác, với điều kiện tuân phục Ngài, và ngày nào con người không tuân phục Thiên Chúa nữa, ngày ấy chắc chắn con người phải chết (x. St 2,15-17). Giao ước ấy đã không được ông bà nguyên tổ tôn trọng, khi ông bà bất tuân lệnh Thiên Chúa rủ nhau ăn trái của cây Thiên Chúa cấm (x. St 3).
Khi lập lại trật tự mới của thế giới, Thiên Chúa chọn ông Noê “ban phúc lành cho ông và các con ông” (St 9,1), và lập Giao Ước với ông và dòng dõi ông: “Đây Ta lập giao ước của Ta với các ngươi, với dòng dõi các ngươi, và tất cả mọi sinh vật ở với các ngươi sau này: chim chóc, gia súc, dã thú ở với các ngươi, nghĩa là mọi vật ở trong tầu đi ra, kể cả dã thú. Ta lập giao ước của Ta với các ngươi: mọi xác phàm sẽ không còn bị nước hồng thủy huỷ diệt, và cũng sẽ không còn hng thuỷ để tàn phá mặt đất nữa.” (St 9,9-11). 
Để chuẩn bị cho Đức Giêsu xuống thế làm người và cứu chuộc nhân loại, Thiên Chúa đã tuyển chọn Israel làm dân riêng của Ngài, giữa một xã hội còn đang mải mê với ngẫu thần, đa thần, và Ápraham là người được Thiên Chúa chọn làm tổ phụ dân riêng ấy với lời chúc phúc: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,1-3). Nhưng quan trọng hơn chính là Giao Ước Thiên Chúa thiết lập với dân Ngài, khi Thiên Chúa phán với Ápraham: “Phần Ta, đây là giao ước của Ta với ngươi: ngươi sẽ làm cha của vô số dân tộc. Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Ápram ữa, nhưng là Ápraham, vì Ta đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc. Ta sẽ cho ngươi sinh ra nhiều, thật nhiều: Ta sẽ làm cho ngươi thành những dân tộc, và vua chúa sẽ phát xuất từ ngươi. Ta sẽ lập giao ước của Ta giữa Ta với ngươi và với dòng dõi ngươi sau này, từ thế hệ này qua thế hệ khác. Đây là giao ước vĩnh cửu, do đó Ta sẽ là Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi sau này. Ta sẽ ban cho ngươi và dòng dõi ngươi sau này miền đất ngươi đang trú ngụ, tức là tất cả đất Canaan, làm sở hữu vĩnh viễn; và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng… Đây là giao ước của Ta mà các ngươi phải giữ, giao ước giữa Ta với các ngươi, với dòng dõi ngươi sau này: mọi đàn ông con trai của các ngươi sẽ phải chịu cắt bì. Các ngươi phải chịu cắt bì nơi bao quy đầu: đó sẽ là dấu hiệu giao ước giữa Ta với các ngươi” (St 17,4-11).
Những năm tháng trong sa mạc sau khi rời bỏ xứ Ai cập nơi dân đã sống đời nô lệ, Thiên Chúa đã hứa với Môsê, lãnh tụ của dân: “Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,5-6). Và tại núi Xinai, Thiên Chúa đã ban Mười Điều Răn cho dân như giao ước của Ngài (x. Xh 20,1-17).
Nếu suốt dòng lịch sử ba ngàn năm trước khi Ngôi Lời nhập thể, Thiên Chúa đã mặc khải cho dân Ngài: Ngài là Thiên Chúa duy nhất, Thiên Chúa toàn năng, Thiên Chúa của sự sống và dân Ngài hãy “bước đi trước mặt Ngài và sống hoàn hảo” (St 17,1), với giao ước: Ngài là Thiên Chúa của họ và họ là dân cûa Ngài, thì đến thời Tân Ước, với Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, một Giao Ước Mới được ký bằng chính máu của Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa.
Nếu giao ước với Israel đặt trên tương quan Thiên Chúa với dân của Ngài, và Lề Luật được coi như bảo chứng của giao ước ấy, thì Giao Ước Mới được đặt trên tương quan Cha - Con giữa Thiên Chúa và con người. Giao Ước Mới ấy được thiết lập bởi chính Đức Giêsu và chính con người Đức Giêsu trở thành bảo chứng cho Giao Ước ấy, khi lấy chính Máu mình mà ký kết giao ước với nhân loại, như Đức Giêsu đã nói với các môn đệ Ngài trước khi lên đường chịu khổ hình và chịu chết: Trong bữa ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy”. Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,26-28).
Thánh Phaolô đã quảng diễn Giao Ước Mới của Đức Giêsu như sau: Bởi vậy, Đức Giêsu, “Người là trung gian của một Giao Ước mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Cha đã hứa” (Dt 9,15).
Giao Ước Mới này không được ký kết bằng việc “lấy máu các con bê, con dê hoà lẫn với nước, rồi dùng len đỏ thắm và cành hương thảo mà rảy trên chính cuốn sách Luật cũng như trên toàn dân và nói: “Đây là máu giao ước, Thiên Chúa đã truyền cho anh em tuân giữ”, như Môsê đã làm, khi công bố cho dân Mười Điều Răn (Dt 9,19-20), nhưng Đức Giêsu đã “xuất hiện chỉ một lần, để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình…” (Dt 9,26). “Đức Giêsu không như các vị thượng tế khác: mỗi ngày họ phải dâng lễ tế hy sinh, trước là để đền tội của mình, sau là để đền thay cho dân; phần Người, Người đã dâng chính mình và chỉ dâng một lần là đủ” (Dt 7,27).
Vì là Giao Ước được bảo đảm bởi máu của Thiên Chúa là Đức Giêsu, nên Giáo Ước Mới  tốt đẹp hơn, với những lời hứa tốt đẹp hơn giao ước cũ: “Thật vậy, giả như giao ước thứ nhất đã hoàn hảo rồi, thì chẳng cần tìm giao ước thứ hai để thay thế” (Dt 8,7), nên “khi Thiên Chúa nói đến Giao Ước Mới, Người làm cho giao ước thứ nhất hoá ra giao ước cũ; và cái gì cũ kỹ, lỗi thời, thì sắp tan biến đi” (Dt 8,13).
Nếu đức tin là tương quan giữa Thiên Chúa và con người, thì tương quan này được thể hiện qua Giao Ước Mới giữa Thiên Chúa và con người nơi Đức Giêsu, khi Ngài hiến thân, đổ máu để trở nên bảo chứng đời đời của Giao Ước Mới. Theo Giao Ước Mới này, chúng ta được Đức Giêsu chuộc hết mọi tội lỗi, để trở nên con cái Thiên Chúa, và được hưởng gia nghiệp đời đời của Thiên Chúa.
Như thế, đức tin của chúng ta được bảo đảm bởi Đức Giêsu, khi Ngài hiến mình chịu chết để thiết lập Giao Ước Mới giữa chúng ta và Thiên Chúa, để khi tin Thiên Chúa, chúng ta sẽ tuyên xưng:
a.   Tôi tin Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa duy nhất và toàn năng, Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình.
b.   Tôi tin Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa yêu thương tôi và mọi người. Ngài là Cha chúng tôi trên trời và chúng tôi là con cái Ngài.
c.    Tôi tin Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cứu độ tôi và muôn người. Ngài đã chết cho chúng tôi được sống.
d.   Tôi tin Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô là Đấng sẽ lại đến trong vinh quang để chúng tôi được ở trong nhà Ngài và hưởng gia nghiệp Ngài hứa ban.
Về phiá Thiên Chúa là Tình yêu, Ngài yêu thương con ngưòi vô cùng và đến cùng, nên toàn bộ Giao Ước giữa Thiên Chúa và con người đều là Tình Yêu: tình yêu phát sinh từ Thiên Chúa Ba Ngôi, tình yêu tạo dựng, tình yêu cứu chuộc, tình yêu cha con, tình yêu hạnh phúc. Ngoài tình yêu, không có điều khoản nào khác, vì Thiên Chúa giầu lòng thương xót “sẽ dung thứ những điều gian ác…, sẽ không còn nhớ đến lỗi lầm” (Dt 8, 12).      
Về phần con người, Giao Ước Mới của Tình Yêu cũng chỉ đòi hỏi con người phải yêu thương: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Mt 22,37-39). Chỗ khác, Đức Giêsu còn nhấn mnh: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).
Như thế, đức tin là tin vào Đức Giêsu, Đấng đã hiến mình để lập nên Giao Ước Mới là Tình Yêu giữa Thiên Chúa và con người, và Giao Ước Mới có nội dung là “yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân như chính mình”, nên Tin trở thành Yêu Mến, sống đức tin là sống đức mến, thực hành đức tin là thực hành đức ái. Tin và Yêu trở nên một, Tin là Yêu và Yêu là Tin, như thánh Gicôbê tông đồ đã qủa quyết: “Đức tin không có hành động thì qủa là đức tin chết” (Gc 2,17), và hành động của đức tin, chính là đức ái, như ngài giải thích: “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?” (Gc 2,14-16). Ngài còn nhấn mạnh : nếu chỉ tin thôi, thì ma qủy cũng làm được: “Bạn tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Bạn làm phải. Cả ma quỷ cũng tin như thế, và chúng run sợ” (Gc 2,19).
Như thế, đức ái cho chúng ta trở thành những người tin thực sự, tin vững vàng, tin chắc chắn, tin “hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” vào Đức Giêsu Thiên Chúa, khi chúng ta thực thi Giao Ước Mới giữa chúng ta và Thiên Chúa, mà nội dung chỉ là “Mến Chúa Yêu người”.
Vâng, người trẻ hôm nay thường đi loanh quanh bên lề những vấn đề của đức tin, nên chóng mỏi mệt, khi chưa nhận ra những mấu chốt quan trọng trong đức tin. Những mấu chốt đó là: Tương quan giữa con người với Thiên Chúa được hiện thực qua Giao Ước Tình Yêu giữa Thiên Chúa với con người nhờ Máu của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người. Giao Ước ấy là đức tin được thể hiện bằng hành động của đức ái: mến Chúa yêu người. Bởi chỉ có đức tin, khi tin vào Lời Hứa của Giao Ước Mới, Giao Ước tình yêu cứu độ của Đức Giêsu ký kết vời loài người bằng chính Máu và mạng sống của Ngài, chúng ta mới được trở lại địa vị làm con cái Thiên Chúa và được thừa hưởng gia nghiệp của Thiên Chúa, Cha mình.
Thực vậy, khi nhận ra những mấu chốt quan trọng khi sống đức tin, người trẻ sẽ không ngạc nhiên khi Thiên Chúa nhận mình là Tình Yêu, Tin Mừng là tin nhân loại được Thiên Chúa yêu thương cứu độ, Hiến Chương Nước Trời là hiến pháp của vương quốc Tình Yêu cho những người được chúc phúc vì yêu thương, Kinh Nguyện của người tín hữu là tâm tình yêu mến của con cái đối với Cha trên trời, Lẽ Sống, Luật Sống của người môn đệ là “yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con”, cả đến Tiêu Chuẩn đánh giá hành trình đức tin của mỗi người ở ngày chung thẩm cũng không ra ngoài Tình Yêu.
Và qủa thực, trong Đức Giêsu tất cả là Tình Yêu, tất cả được cưu mang, sinh ra, nuôi lớn, trưởng thành trong tình yêu, tất cả được tình yêu thúc bách, nâng đỡ, bảo vệ, tất cả lề luật, định chế, quy tắc đều quy chiếu vào tình yêu, nên bất cứ tư tưởng, lời nói, việc làm nào của người có đức tin vào Đức Giêsu, tức đã chấp nhận sống Giao Ước Mới với Thiên Chúa chống lại tình yêu, không phù hợp với tình yêu đều là hành động vi phạm Giao Ước Mới, hành động nghịch lại đức tin.
Có nhiều người trẻ bỡ ngỡ khi khám phá Thiên Chúa là Tình Yêu, con đường Đức Giêsu đi và những ai muốn đi theo Ngài là đường Tình Yêu, giáo lý, giáo luật của Giáo Hội Ngài cũng không ra ngoài qũy đạo Tình Yêu. Người trẻ bỡ ngỡ và sửng sốt là phải, bởi từ bấy lâu, người trẻ chỉ để tâm đến những gì phụ thuộc, những thành qủa  hoành tráng bên ngoài, mà quên không tìm gặp gỡ chính Đức Giêsu như Nathanaen đã được Philípphê nhắc bảo “Cứ đến mà xem!”. Vì  đã đến xem, Nathanaen đã thấy và đã thảng thốt tuyên xưng: “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là Vua Ítraen!” (Ga 1,46.49). Người trẻ cũng có thói quen vội vã quyết đoán, mà không dành  thời gian lắng nghe chính Đức Giêsu như cô Maria quê làng Bêtania đã luôn chọn phần tốt nhất khi “cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe Lời Người dậy” (Lc 10,39).
Thực vậy, đức tin là đáp trả hoàn toàn tự do của mỗi người trước mời gọi của Đức Giêsu, như Ngài đã kêu gọi nhiều người, nhưng không bắt buộc, khống chế ai phải đi theo; là lựa chọn của từng cá nhân, mà người khác, cũng như Giáo Hội không thể áp đặt, chọn thay; là Giao Ước mà mỗi người được mời gọi thực hiện với Đức Giêsu với ý thức trách nhiệm, bởi đức tin Kitô là tin vào một Con Người Thiên Chúa, một Nhân Vật sống động, một Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, sống như con người ở giữa loài người, và đức tin ấy không bao giờ là một ý niệm, một lý thuyết, một kiến thức vô cảm, lạnh lùng. Vì thế, đức tin đòi người tin dấn thân, thúc bách người tin nhập cuộc, réo gọi người tin lên đường, bởi không có đức tin chết, không có đức tin lười biếng, ù lì, không có đức tin buông xuôi, thất vọng, nhưng chỉ có đức tin sống động với hành động “lập tức bỏ thuyền, bỏ chài lưới, bỏ cha mẹ mà đi theo Người” (x. Mt 4,21-22), chỉ có đức tin “Thầy ở đâu thì xin cho con được ở đó với Thầy”, dù “con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8,20).
Xin Đức Giêsu cho người trẻ tâm hồn cao thượng và quảng đại để qủa cảm lội ngược “dòng đời” vật chất, thực dụng, hưởng thụ để “đến mà xem Thiên Chúa dịu ngọt dường bao!”.
Jorathe Nắng Tím