Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2020

Chương IX: NHỮNG NẾP SÔNG HẬU LY DỊ


Đứng trước hay bị đặt vào bất cứ hoàn cảnh, tình huống mới nào, con người đều cần biểu hiện một cách ứng xử, chọn lựa một thái độ, thích nghi một vị thế.
Như từ ngoài trời sáng bước vào phòng tối, đôi mắt phải vận động để chọn lựa “sống với” và thích nghi với bóng tối. Thiếu khả năng chọn lựa và thích nghi, mắt sẽ không thấy gì khi thay đổi môi trường tối - sáng. Cũng như người con gái giã từ thời độc thân đi vào đời sống hôn nhân, nàng phải chọn lựa và cố gắng thích nghi với đời làm vợ, làm mẹ khi chấp nhận thay đổi từ nếp nghĩ, nếp sống, đến nếp nhà, và bỏ lại nếp nghĩ thời con gái, nếp sống độc thân, nếp nhà cha mẹ.  
Kết hôn là bắt đầu cuộc đời chung của vợ chồng. Ly hôn là bắt đầu cuộc đời riêng của vợ chồng quyết định chấm dứt tình trạng chung sống. Nghiã là từ ngày ly hôn, vợ chồng sẽ không còn gì chung:  không chung nhà, chung giường, chung mâm, chung hướng, chung sức, chung lòng, chung tình, “chung đụng”. Tắt một lời là không còn gì để “chung nhau”.
Vì bắt đầu một cuộc sống riêng khi bước ra khỏi đời  chung  sống, người trong cuộc bị đặt trước một tình thế mới, không giống như những gì có hôm qua, không bình thường như tuần trước, nên một lối sống, kiểu sống, lẽ sống, nếp sống mới phải được tức khắc cập nhật.
Có nhiều chọn lựa khác nhau, vì mỗi người đều có tự do làm điều mình cho là đúng và thích hợp nhất. Không ai có quyền bắt buộc người khác phải theo mô hình của mình, vì chẳng hoàn cảnh nào giống hoàn cảnh nào, chẳng cuộc tình nào giống cuộc tình nào, và tất nhiên chẳng có hai cuộc chia tay ly dị  rập chung một khuôn mẫu. Chính vì thế, điều cần ghi nhận trước tiên chính là tính đặc thù, “không giống ai” của từng cặp vợ chồng ly dị.
Tính cách đặc thù bắt nguồn từ những nguyên nhân đưa đến ly hôn. Có hằng ngàn vạn nguyên nhân to nhỏ, quan trọng, tầm thường khác nhau đã góp phần làm nên đổ vỡ hôn nhân. Cặp này ly dị vì áp lực gia đình, cha mẹ; cặp khác bỏ nhau vì không chịu nổi tính hư tật xấu của nhau; đôi này chia tay vì không hợp lối sống; đôi nọ đứt gánh vì làm ăn thất bát, nợ nần chồng chất đã đẩy đến tình trạng phải xa nhau. Trăm đôi thì ngàn lý do đưa đến ly dị. Ngàn đôi thì vạn nguyên nhân khác biệt dẫn đến ly hôn. Vấn đề là một khi đã chia tay rồi, người ta sẽ phải đối diện với chính mình để lại phải bắt đầu lên đường, vì đã làm người không ai được phép dừng lại trên đường đời, nhưng luôn phải bước, dù bước thế nào mặc lòng, bởi đường đời cứ cuốn người đi, đi mãi trên đường đời cho đến khi đôi bàn chân người xếp thẳng, dựng đứng, bất động, không còn chạm đất.  
1.   Tái hôn :
Phần đông nghĩ đến chuyện tái hôn, vì  có đến 52% các cặp vợ chồng trong thời chuẩn bị ly dị đã có người mới và không lạ gì khi 63,5% nguyên nhân đưa đến ly dị là do quan hệ ngoài luồng trong khi vợ chồng còn chung sống.
Tái hôn là giải pháp của đa số những người ly dị, vì nhiều nhu cầu:
a.   Nhu cầu tâm lý:
Người ta khó có thể sống cô đơn, ngay cả bậc tu hành cũng cần  đến cộng đoàn để có thể sống mà không rơi vào trầm cảm, u uất, thất vọng. Cuộc sống con người tự thân đã là cuộc sống với: với người khác, nên khi phải cô đơn, con người đánh mất tính chất cộng đoàn, một điều làm con người đau khổ không ít, cũng như vì muốn thoát ra khỏi cô đơn  mà phần đông đã cưới vợ, lấy chồng. Rất nhiều người lập gia đình vì cần được yêu thương, cảm thông, chia sẻ, tức ra khỏi cảnh cô đơn hơn là vì những nhu cầu khác.   
b.   Nhu cầu sinh lý:
Nhu cầu sinh lý cũng là nhu cầu không thể thiếu, vì  người nam và người nữ cần đến thân xác của nhau để bổ túc, hoàn chỉnh, kiện toàn nhân cách và đem lại hạnh phúc cho nhau. Sinh lý là sinh hoạt quan trọng, vì con ngưòi có thân xác, và thân xác ấy cũng như tinh thần có những nhu cầu cần được đáp ứng hợp lý. Ngoài nhu cầu ăn, uống còn nhu cầu tình dục. Nhờ có nhu cầu tình dục mà giống nòi được bảo tồn và đời sống tâm lý của con người được quân bình phát triển.
c.    Nhu cầu xã hội:
Phải tái hôn vì chưa có con, tái hôn vì cha mẹ muốn, tái hôn để nói cho mọi người biết: “tôi vẫn còn ngon cơm, chứ không bết bát, tầm thường như người ta tưởng”.
Biến cố ly hôn ít nhiều cũng hạ thấp người bị “bó buộc” ly hôn trước mắt người chủ động nộp đơn ly hôn và gia đình, phe cánh bên nguyên đơn. Tái hôn vì thế cũng là dịp để bầy tỏ quan điểm và biểu dương khí thế và giá trị của người bị miễn cưỡng ly hôn.
Ngoài ra, có thể vì chỗ đứng trong xã hội, và uy tín nghề nghiệp, có khi cũng vì phải xóa cái tiếng “bất lực, đồng tính”, nếu chẳng may người vợ cũ đã tàn nhẫn rêu rao bí mật phòng the trong thời gian đấu đá trước ly dị mà người đàn ông phải gấp rút tái hôn.
Trong các động lực thúc đẩy tái hôn, gần 47% là do tác động xã hội; nghiã là người ta phải tái hôn, nếu không sẽ khó cam nổi những áp lực từ bên ngoài, do người khác ảnh hưởng. 
d.   Nhu cầu nuôi dưỡng con cái:
Nhiều người sau khi ly dị đã không giải quyết được vấn đề nuôi và giáo dục con, vì bó buộc của nghề nghiệp hoặc vì không có khả năng giáo dục con cái đã phải gấp rút tìm một chỗ dựa mới để bảo đảm tương lai con cái. Có nhiều cuộc tái hôn không vì tình yêu, nhưng vì lợi ích của con cái, nhất là khi cả hai bên đều đã vly dị và có con riêng . Họ cần nhau để cùng lo cho hai đàn con riêng mà từ nay dù muốn dù không, chúng  phải chung sống hoà bình dưới một mái nhà.   
Nhưng không phải tất cả những người đã ly dị có thể tái hôn một cách dễ dàng và thành công. Nguyên nhân có thể là:
·      Tuy muốn tái hôn, nhưng tâm lý chưa ổn định sau biến cố ly hôn; do tâm trạng sợ sệt, lo lắng một hôn nhân mới cũng sẽ đổ vỡ sau này. Tâm trạng chung của hầu hết những người đã một lần ly dị là rất vui vì sẽ tái hôn, nhưng băn khoăn, nghi ngại vỉ bị ám ảnh bởi cuộc hôn nhân cũ.  
Kinh nghiệm  không hẳn lúc nào cũng làm người ta tự tin, vững tâm tiến bước, nhất là những kinh nghiệm  ấy hằn sâu  đổ vỡ, thất bại. Nó thường trở nên nỗi ám ảnh khó phai, mà người trong cuộc nếu không  đủ nghị lực để tẩy xóa sẽ khó có thể làm lại hôn nhân lần nữa mà không tiếp tục gẫy đổ.   
Nhiều người tự an ủi: nhờ có kinh nghiệm từ cuộc hôn nhân cũ đã đổ vỡ, ta sẽ tái hôn thành công. Nhưng đó cũng chỉ là một phần lợi thế có tính chủ quan.
·      Cả người đàn ông và người đàn bà đã ly dị đều rút ra những bài học nhớ đời từ thất bại ly hôn trước đó, nên khi tái hôn, cả hai đều mang nặng ý nghĩ phài thủ thân, phải nghiêm ngặt đề cao cảnh giác người bạn đời mới, đồng thời cũng là đối phương  bằng thủ sẵn những khí giới tự vệ tinh thần như  không quá vồ vập, không quá nuông chiều, không qúa tin tưởng, không qúa ký thác, không qúa buông lỏng, không qúa dễ dãi; nghiã là cái gì cũng  phải thắng, phải kềm, phải dè dặt và tên của vũ khí được xử dụng không giới hạn là “Không Qúa”.
Nhưng tình yêu không thể nhốt vào khuôn khổ một cách tàn nhẫn, bởi tình yêu là hào sảng, bao la, ngùt ngàn, sâu  thẳm, diệu vợi, mênh mông. Nhờ đam mê như chất xúc tác, tình yêu sẽ như trăng như sao, như mây như gió, như nhiệm mầu, phép lạ, nên không thể giam hãm tình yêu trong những cũi sắt “không qúa”; bởi tình yêu mà bị buộc trói, bị gông cùm sẽ phát sinh  trăm nỗi bất hạnh trái ngược kết qủa của tình yêu là hạnh phúc. Và rất nhiều nguy cơ từ đó sẽ dấy lên đe dọa sự bền vững và hạnh phúc của hôn nhân mới.     
·      Trước khi tái hôn, người ta thường ngây thơ nghĩ rằng: hôn nhân mới chắc chắn sẽ không có nhiều vấn đề phức tạp và đời sống sẽ dễ thở, thoải mái, thư thả hơn hôn nhân cũ. Điều này có thể đúng và có thể sai. Đúng vì sẽ bớt sai phạm những lỗi lầm của qúa khứ, cũng như sẽ khôn ngoan, sáng suốt, nhậy bén hơn trước những dấu hiệu tiêu cực để tránh hoặc chỉnh sửa kịp thời. Sai vì mỗi cuộc sống, mỗi giai đoạn, mỗi hoàn cảnh có những khó khăn riêng. Đàng khác, hôn nhân mới với người mới, chưa kể những đứa con riêng rất mới của vợ mới, chồng mới sẽ hứa hẹn nhiều bất ngờ mới, những bất ngờ vừa hứa hẹn vừa đe doạ,
Nhiều người ly dị  sau khi  bước vào hôn nhân mới đã thú nhận: không khó khăn nào giống khó khăn nào, cũng như không vợ nào giống vợ nào, nên gia đình cũ có vấn đề của gia đình cũ, hôn nhân mới có khó khăn của hôn nhân mới, chẳng ai có thể đoán trước, lường hết được những trắc trở, thử thách, nhiêu khê.        
·      Đàn bà đã ly dị thường khó tái hôn phần vì tâm lý ngao ngán đời hôn nhân, phần vì khó tìm gặp ý trung nhân mới. Nếu chưa có con, tái hôn  còn tương đối dễ, nhưng nếu đã có con,vấn đề trở nên phức tạp hơn vì chủ thể dè dặt, do dự và những  điều kiện khách quan sẽ không dễ dàng thoả mãn.
Như thế, tái hôn là một giải pháp được phần đông người đã ly dị chọn như con đường nhập cuộc mới. Con đường hôm nay cũng gập ghềnh, chông gai không kém con đường tình họ đã đi. Trên con đường này, hạnh phúc  cũng vẫn lơ lửng treo đầu ngành  đong đưa cám dỗ. Đạt được hay không là ở hai người mới tái hôn. Chính họ lại một lần nữa quyết định vận mệnh và hạnh phúc đời mình như  đã có một ngày rất vui, rất tình, rất đẹp năm xưa, chính họ đã tin tưởng ký hôn ước.
2.   Trở về đời độc thân:
Như ngườivừa thoát chết, nhiều người  đã mô tả cuộc sống hôn nhân của họ như một lần chết với nấm mồ chôn đời lứa đôi bất hạnh. Hôn nhân trở nên ghê tởm, đáng ghét, buồn nôn và người ta không mảy may nghĩ đến một lần khác nữa bước vào đời sống hôn nhân.
Với những người này, hôn nhân thất bại đã phá hủy đời họ; hôn nhân tan vỡ đã cướp khỏi đời  họ bao nhiêu  ước mơ, hy vọng; hôn nhân đổ vỡ đã làm hoen ố, dơ bẩn, tan nát đời họ và đẩy họ xuống vực sâu  nuối tiếc. Vì thế, trở về và ở lại trong đời độc thân là chọn lựa vô điều kiện, hiển nhiên. Họ không thể làm khác, vì tâm hồn đã chai đá trước mời gọi của tình yêu mới. Họ không thể thay đổi tư duy,vì hôn nhân đã làm họ sợ và không còn là ý niệm ấn tượng. Độc thân từ nay là hạnh phúc, dù hạnh phúc ấy thực chất chỉ là sự vắng mặt của lo sợ, đe doạ, khống chế. Độc thân từ nay là  bình an, dẫu cho bình an mới chỉ là  sự yên lặng của bom đạn. Nhưng ở vào tâm trạng ngao ngán đến tận cùng hôn nhân không hạnh phúc, người ta chỉ còn biết bám lấy đời độc thân như chiếc phao cứu hộ an toàn giữa con nước xóay đục ngầu. 
3.   Sống chung không hôn phối:
Đây là kiểu sống thời đại mới đang thịnh hạnh, ăn khách. Lối sống không ràng buộc, không cột trói, không ai có quyền trên ai. Hai người tự nguyện sống chung, chia sẻ đồng đều vật chất, nhưng tránh không can dự đời riêng của nhau. Tuy ở chung, ăn chung, nằm cùng, nhưng đời ai nấy sống, tiền ai nấy tiêu, việc ai nấy làm, tương lai ai nấy lo. Con cái là tai nạn phải tránh để không là sợi giây buộc trói nhau. Vì không khế ước, giao kèo, thề thốt nên vui thi ở, buồn thì chia tay, không ai phải  tơ vương, bận vướng  điều gì, cũng chẳng phải ngậm ngùi, lưu luyến khi tình thế xô đẩy phải xa nhau.
Lý thuyết thì thế, nhưng thực tế không hẳn như vậy; bởi ai làm chủ, be bờ  được những cơn sóng đam mê, tình cảm ở mình và nơi người khác? Ai ngăn  nổi những bước liều lĩnh của cảm xúc ? Ai biết trước đường bay của trái tim ?
Nhưng vì không làm chủ được mình và tình huống không ngừng biến động, nên  người ta sẽ rơi vào tình trạng ngàn lần phức tạp hơn quyết định chính thức tái hôn, vì không định vị, gọi tên, nhận diện, mô tả chính xác được nếp sống nửa vời, nửa chừng, nửa nạc nửa mỡ mà họ đang  “nửa sống nửa chết” thoi thóp cầm cự.      
4.   Tiếp tục sống đời tầm gửi:
Có những người quen sống bám víu, cậy nhờ, nương bóng người khác, mà suốt đời không bao giờ có thể tự mình đứng vững, tự chủ, tự lập. Không thiếu những  vợ chồng phải đi đến ly hôn vì một trong hai người đã qúa ỷ nại, lười biếng, yếu đuối và khoán trắng đời mình cho người bạn đời mà không chút liêm sỉ, hổ thẹn.
Những người quen sống tầm gửi, lệ thuộc sẽ khó có thể tự mình làm cuộc sống sau khi ly dị, nên vẫn tiếp tục mon men tìm lại người cũ đã ly dị để bám víu, cậy nhờ.
Thực ra không chỉ lệ thuộc vật chất mà còn lệ thuộc tinh thần và lệ thuộc thứ hai này mới quan trọng, vì nó điều khiển lệ thuộc thứ nhất. Tâm lý người sống tầm gửi là không tin ở mình. Chính vì không dám tin mình, không muốn tin mình nên mất khả năng suy nghĩ và quyết định. Con người hơn con vật ở lý trí và ý chí để suy tư và quyết định, thế mà cả hai cơ năng quan trọng đều mất hoặc yếu liệt thì hỏi làm sao làm người cho đúng, làm người cho xứng đáng được ?
Những người này coi việc xé hôn thú không quan trọng, vì có hay không hôn thú, họ vẫn tiếp tục sống đời lệ thuộc. Họ lệ thuộc bằng lì lợm không ra khỏi nhà, ngay cả toà án đã quyết định phải ra đi. Họ lệ thuộc bằng sự có mặt trơ trẽn, không xấu hổ, ngượng ngùng, miễn sao được nhìn thấy người mình cần bám víu, nương tựa. Không hẳn bám víu vật chất, vì có thể họ không cần tiền, nhưng động cơ thúc đẩy họ gắn chặt vào đời người kia là tâm lý yếu đuối, tầm gửi. Ở vào hoàn cảnh này, người bạn đời cũ của họ sẽ là nạn nhân vô cùng đáng thương, vì không thể tái tổ chức cuộc sống riêng mình.
5.   Quên đời đi tu:
  Trên đây là một vài nếp sống tiêu biểu thời hậu ly dị. Gọi là tiêu biểu, bởi nếp sống thì không thể giản lược khi mỗi người là một thế giới đặc thù, riêng biệt, mầu nhiệm. Những lối sống mới, đường sống mới trên đây thực ra chỉ là những chọn lựa bên ngoài có tính xã hội, còn một chọn lựa ngàn lần quan trọng hơn và có giá quyết định hạnh phúc mới của mỗi người, đó là chọn lựa nội tâm, chọn lựa của trái tim, tâm hồn. 
Người  ta có thể vẽ vời hàng trăm mô hình sống, hình dung hàng ngàn kiểu cách thức thời, nhưng tất cả sẽ vô ích vì không giải quyết được vấn đề lẽ sống, ý nghiã cuộc sống, giá trị đời sống, và nhất là không đem lại cho đời người niềm vui sống, nếu trái tim chưa mở cửa và tâm hồn chưa tìm được hướng đi. 
Trái tim chưa mở cửa là trái tim đầy đặc chuyện xưa, việc cũ, và  vương vấn những buồn tủi, hận thù. Trái tim  chưa mở cửa là cõi lòng còn trống trải, hoang vu vì thương cảm, thứ tha chưa vào được. Trái tim chưa mở cửa là trái tim cố tình khép kín trước tất cả mọi mời gọi đến với người khác. Trái tim chưa mở cửa là trái tim cô độc, khô héo giữa sa mạc tình người. Và phần lớn trái tim đã một lần tan vỡ sau li dị là những  trái tim đầy đặc,hoang vu, trống trải, chưa mở cửa đó.
 Để có hạnh phúc tái hôn hay niềm vui “ở độc thân” sau ly dị được bảo đảm, tâm hồn  phải thông thoáng để tìm thấy  hướng đi; bời cuộc đời tự thân đã là hành trình, nên một khi có mặt trên  hành trình, dù muốn dù không con người phải bước đi.
Chính vì phải bước đi mà tâm hồn phải định hướng. Không định hướng, hành trình cuộc đời không có đích tới để sẽ không bao giờ  “cập bờ về  bến”.
Nhưng đâu là chià khoá để mở cửa lòng khép kín; đâu là bí quyết để trái tim ra khỏi hoang vu, trống trải; đâu là bao la làm tan khối u đầy đặc sầu buồn, và đâu là hướng tâm hồn phải đi ?
Hơn bất cứ lúc nào, hậu ly dị  là thời cần quảng đại để cửa lòng thôi khép kín, để tâm hồn thôi tự chôn vùi. Quảng đại là chià khóa vạn năng mở ra chân trời mới, mở ra cuộc sống mới tràn đầy hy vọng, đồng thời trả lại cho người vừa ra khỏi đêm đen ly dị ánh sáng hân hoan và rạng đông ngày mới.
Quảng đại để quên đi những chuyện cần quên, nên quên cho tâm hồn thanh thản. Quảng đại để không chấp nhất chuyện buồn ngày cũ, cả những chuyện cỏn con bị người cũ thổi phồng. Quảng đại để hôm qua không làm hỏng hôm nay, và không phá hoại ngày mai cho bước chân hôm nay được vững chắc đi vào ngày mai rạng rỡ. Quảng đại để tất cả những gì đã qua được nhẹ nhàng qua đi trên  dòng sông qúa khứ cho hôm nay  bên suối mát, nguời với người lại rộn rã theo ngày mai đi vào hy vọng. Quảng đại để thôi sầu đời hận người và cho tương lai một cơ hội đẹp hơn. Quảng đại để thất bại hôm qua không là thảm họa  định mệnh của ngày mai, nhưng chỉ là một bước hụt hẫng đã kịp thời  quân bình.
Không quảng đại, người ta không thể làm lại cuộc đời, làm đẹp cuộc sống mới sau  hôn nhân đổ vỡ, vì nợ nần cũ còn nặng nề cần thanh toán, chuyện tình cũ còn nặng lòng cần trang trải, vợ chồng cũ còn nặng nề ân oán hai vai. Không quảng đại sẽ không  quên được tháng ngày của nước mắt đợi chờ, trách móc, ngược đãi, tệ bạc, lừa dối…Không quảng đại sẽ tiếc nuối khôn nguôi thời chung  sống bất hạnh và giận mãi suốt đời những ngang ngược, lầm lỗi đã làm khổ  nhau. Không quảng đại sẽ chẳng bao giờ quên oán nhớ ơn để kỷ niệm còn được là những dấu ấn của một thời thân ái. Không quảng đại người ta sẽ mãi là pho tượng buồn cô đơn chết giữa hiện tại vì bận thở than dĩ vãng. Và ngày mai của tượng đá buồn vẫn mãi là dĩ vãng buồn của tượng đá.   
Để thôi làm tượng đá buồn dĩ vãng, người ta phải mở lòng để lòng  người khác vào được lòng mình. Muốn ra khỏi đời buồn  vô vọng, phải hé mở trái tim mình để đón những tia nắng hy vọng đến từ trái tim tha nhân. Đừng gắn  chặt  đời còn lại vào  những mảnh vụn của qúa khứ đổ vỡ, bởi quá khứ không là hiện tại, dù qúa khứ có đóng góp ít nhiều kinh nghiệm cho tương lai.
Nhiều người coi kinh nghiệm qúa khứ là đáp số của tương lai. Quyết đoán này không có cơ sở, cũng không đúng trong thực tế, khi khả năng thay đổi của con người luôn phong phú vô tận và trí  thông minh, cũng như ý chí lựa chọn của con người  chỉ chấp nhận kinh nghiệm qúa khứ  như một nhà tư vấn có thể cho những lời khuyên hay góp ý phần nào. Nhìn nhận chính xác và công bằng vai trò của kinh nghiệm sẽ giúp chúng ta thoát khỏi mặc cảm, ám ảnh, thành kiến, nhờ đó, ngày mai sẽ luôn mở ra trời xanh hy vọng.    
Tóm lại, muốn xây dựng lại cuộc đời, làm lại cuộc đời hay đổi đời, thay lối sống, người ta đều cần Quảng Đại làm nền móng. Có quảng đại tha thứ lỗi lầm xưa của mình và của người cũ, quá khứ đau buồn mới không làm nứt tường, nẻ vách ngôi nhà mới xây. Có quảng đại buông tha ký ức buồn, kỷ niệm không vui; qúa khứ mới không làm reo, bắt nạt, khống chế  hạnh phúc vừa đơm bông của hiện tại. Có quảng đại nhìn nhận những tích cực của người xưa và trân qúy, biết ơn; qúa khứ mới không đeo đuổi làm  ác mộng hù doạ tình yêu mới vừa nẩy mầm. Có quảng đại bao dung cho những khuyết điểm, thiếu sót và ngay cả tội lỗi của mình và của người xưa; qúa khứ mới không gào thét đòi nợ xương  nợ máu. Và có quảng đại quên bớt “cái tôi” thường xuyên vĩ đại, người ta mới có thể nhẹ bước trên hành trình hạnh phúc mới.    

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2020

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (4)


                                            KINH THÁNH
Kinh Thánh còn được gọi là Lời Thiên Chúa, Lời cho ánh sáng, Lời ban sự sống, Lời đổi mới tâm hồn, Lời mang đến hy vọng và ơn Cứu Độ đời đời.
Nhưng Lời Chúa trong lịch sử nhân loại đã không luôn được mọi người đón nhận như nhau, mà trở thành cớ của rất nhiều đối kháng, chia rẽ, ly khai. Và ngay  hôm nay, trên đất nước này, hiện tượng nhiều “giáo phái kinh thánh” có khi chỉ quy tụ được trên dưới vài chục người đã tự do giải thích Kinh Thánh cách rất kỳ lạ, phiếm diện, đầy thiếu sót và khéo léo áp đặt “người nghe” một giáo thuyết mới lệch lạc, khập khiễng, mâu thuẫn, phi lý tận gốc rễ.
Vì thế, người trẻ cần có một kiến thức về Kinh Thánh, là nguồn mặc khải của Kitô giáo, nguồn mặc khải mà bất cứ tín hữu nào cũng phải tìm về để gặp gỡ Đức Giêsu, Con Người Thiên Chúa cách mật thiết, sống động.   
Kinh nghiệm bước vào kho tàng Kinh Thánh cho thấy: có thể Bạn sẽ “sốc” nặng khi gặp ở đó đủ chuyện trên đời, dưới đất: văn chương thì đủ thể loại, nội dung cũng muôn mầu muôn sắc, từ những đọan văn mang tính “huyền thoại”, nếu nhìn dưới lăng kính khoa học thời đại, như câu chuyện tạo dựng, vườn địa đàng và trình thuật “trái cấm” ở phần đầu sách Sáng Thế đến những áng thơ trữ tình, lãng mạn, rồi lịch sử, tuyên sấm của các tiên tri, thư từ, ký sự truyền giáo của các tông đồ, cả những “thị kiến” khó hiểu của vị tông đồ trẻ tuổi nhất trong Nhóm Mười Hai; Bạn cũng có thể bị “sốc khủng”, khi khám phá bên cạnh những giá trị cao siêu, những giáo huấn đạo đức, những lề luật luân lý chuẩn mực, những lời khuyên cần thiết để sống đạo hạnh là những chuyện khó nghe, khó chấp nhận trong Cựu Ước, như anh trai cưỡng hiếp em gái ngủ với mình (x. 2 S,13,1-14),  con gái chuốc rượu cha, rồi làm tình với cha để bảo tồn nòi giống  (x. St 19,30-38), vua cướp vợ của thuộc hạ (x. 2S 11,2-26) hoặc những ganh ghét, tị hiềm, đấu đá, phản bội tàn nhẫn, trả thù dã man, tiêu diệt đẫm máu, chưa kể những mưu mô, thủ đọan không thua kém phường bá đạo, lưu manh.
Vì thế chúng ta cần người hướng dẫn có khả năng để giúp chúng ta bước vào đường tìm hiểu Kinh Thánh, hầu tránh những cú sốc có thể gây xáo trộn tâm lý, kiểu “tẩu hoả nhập ma” ngay từ phút đầu.
Thực vậy, nếu đọc Kinh Thánh như đọc một tác phẩm bình thường, chắc chắn Bạn sẽ thất vọng, vì tự bản chất: Kinh Thánh là Mặc Khải từ Thiên Chúa được con người viết ra. Do đó, Kinh Thánh không thể đọc như đọc một tác phẩm  thuần túy của con người, nhưng là “kiệt tác của Thiên Chúa” được viết bởi  những con người được Thiên Chúa linh ứng để viết điều Ngài muốn, viết sứ điệp Ngài gửi, vì Kinh Thánh là Mặc Khải từ Thiên Chúa, của Thiên Chúa cho con người.
Có những chià khóa quan trọng Bạn cần nắm trong tay khi bước vào kho tàng mặc khải Kinh Thánh:
a.   Thiên Chúa luôn cần sự hợp tác của con người:   
Thiên Chúa không thực hiện bất cứ một công trình cứu chuộc con người nào của Ngài mà không có sự hợp tác của con người. Ngài cần đến sự hợp tác ấy, vì Ngài tôn trọng tự do của con người, tôn trọng quyền chọn lựa của con người, bởi Ngài là Tình Yêu, mà tình yêu luôn đòi tự do: tự do yêu và tự do đón nhận “được yêu”: Thiên Chúa yêu con người nên tôn trọng tự do “được Thiên Chúa yêu” và tự do “đáp lại tình yêu của Thiên Chúa” nơi con người, mà tuyệt đối không o ép, cưỡng bức, bó buộc người nào, nên ngay cả khi mặc khải chính mình cho con người, Thiên Chúa cũng không tự mình làm hết tất cả, kiểu cô giáo đọc chính tả, đánh vần từng chữ cho học sinh tiểu học, nhưng điều Ngài muốn là cùng con người “làm việc”, khi linh ứng cho những người Ngài tuyển chọn để họ viết ra Lời Ngài bằng chính ngôn ngữ, với trình độ văn hoá, văn phong, lối diễn tả, cách trình bầy, và cử toạ của cá nhân người viết. Vì thế, yếu tố con người được nổi bật ngay trong Lời Thiên Chúa, nhờ vinh dự được cộng tác, đóng góp tích cực vào công trình mặc khải của Thiên Chúa.
Cũng như các phép lạ trong Tin Mừng, Đức Giêsu luôn đòi sự cộng tác của con người, như khi hoá nước thành rượu ở tiệc cưới Cana, Ngài cần sự hợp tác của Đức Mẹ và các gia nhân (x. Ga 2,1-10); phép lạ chữa người bại liệt (x. Lc 5,17-20), hay những người phong hủi (x. Lc 17,11-19), Ngài luôn “thu xếp” để có phần đóng góp của con người khi nhận phép lạ hoặc được chữa lành, như bảo gia nhân ở Cana đổ nước đầy các chum, bảo những người phong hủi đi trình diện các tư tế, hoặc để người nhà người bại liệt dỡ  ngói trên mái nhà, thòng giây thả giường bệnh nhân xuống trước mặt Ngài, bởi Thiên Chúa muốn hoạt động với con người,  muốn con người cộng tác với Ngài, cụ thể với lòng tin, để thực hiện công trình cứu chuộc con người của Ngài, vì con người không là những vật thể vô tri, thụ động, nhưng là con cái tự do của Thiên Chúa.
b.  Kinh Thánh phải được đọc trong ý hướng nhận ra sứ điệp hơn là xét nét từng chữ, đào bới  từng câu riêng lẻ, đơn độc, ngoài ngữ cảnh:
Thí dụ, khi đọc trình thuật ông bà nguyên tổ Ađam, Evà ăn “trái cấm trong vườn địa đàng” (x. St 3), chúng ta không cố tìm cho kỳ được “trái cấm” là trái nào: táo hay ổi, cam hay quít, mang cụt hay sầu riêng, chuối hay xoài, chôm chôm hay mận, cũng không chia nhau đi tìm xem vườn địa đàng ở đâu, nhưng chỉ chú trọng đến sứ điệp Thiên Chúa muốn nói với chúng ta, đó là sự bất tuân phục của con người trước lệnh truyền của Thiên Chúa, vì con người đã nghe theo Rắn độc ma qủy khi nó nói: ông bà sẽ cao cả bằng Thiên Chúa, thông biết mọi sự như Thiên Chúa.
Trình thuật tạo dựng, cũng như vườn địa đàng và sa ngã mà chúng ta đọc trong sách Sáng Thế chỉ là “dụ ngôn”, nghiã là hình ảnh được người viết hư cấu thành một câu chuyện để chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa. Sứ điệp Thiên Chúa là “Đấng dựng nên trời đất muôn vật hữu hình và vô hình” mới là chính yếu, trọng tâm.
c.    Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người là trung tâm điểm của Kinh Thánh:
Nếu đọc Kinh Thánh như đọc một pho sách với nhiều quyển rời rạc, mà không quy hướng về một tâm điểm là Đức Giêsu của Tân Ước, thì chúng ta không hiểu gì vì mất hướng, lạc đường, bởi tất những gì được ghi chép trong Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân Ước đều quy chiếu về một mình Đức Giêsu. Điều đó có nghiã thời đại của Đức Giêsu mới là thời kỳ viên mãn, thời kỳ hoàn thành trọn vẹn công trình cứu độ loài người của Thiên Chúa, thời của Nước Thiên Chúa.
Vì thế không có sự đối kháng, tách biệt, xa lạ giữa Cựu Ước và Tân Ước, bởi vai trò của Cựu Ước cũng như của Israel, dân riêng Thiên Chúa là chuẩn bị cho Đức Giêsu đến trong Tân Ước.
Đó là lý do toàn bộ Cựu Ước với nhiều trước tác, nhất là sách các ngôn sứ Ước đều quy chiếu, báo trước về Đức Giêsu và tiệm tiến chuẩn bị cho Ngài suốt ba ngàn năm trước, cho đến khi Gioan Tẩy Giả xuất hiện như gạch nối giữa Cựu Ước và Tân Ước, để loan báo “Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2), và trân trọng giới thiệu Đức Giêsu với các môn đệ của ông và đám đông đến xin ông làm phép rửa bên sông Giođan: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến sau tôi, tôi không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Người. Tôi thì tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần” (Mc 1,7-8).   
Vì thế, Thiên Chúa của Cựu Ước và Tân Ước là một, mặc dù có sự khác biệt về cách yêu thương của Ngài, như Thiên Chúa được mặc khải trong Cựu Ước có cung cách của một Thiên Chúa nghiêm khắc, trừng phạt, nhưng trung tín khi không ngừng làm mới lại giao ước liên tục bị Israel vi phạm, xé bỏ vì bất trung, trong khi Thiên Chúa được chính Đức Giêsu mặc khải trong Tân Ước là một người Cha nhân hậu gần gũi con cái (x. Lc 15,11-30), một Mục Tử nhân lành “sẵn sàng hiến mạng sống vì đoàn chiên”, chấp nhận hy sinh cho “đoàn chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10), và là Đấng Cứu Độ bao dung, giầu lòng xót thương người có tội.
Về điểm này, chúng ta có thể mường tượng Thiên Chúa như người Cha trong gia đình: khi con cái còn nhỏ cần vào nề nếp thì người cha tỏ ra nghiêm khắc, nhưng khi con đã lớn khôn, trưởng thành thì thái độ của cha gần gũi, thông cảm, mềm mỏng hơn, mặc dù tình cha vẫn là một, tình yêu dành cho con không đổi thay, phôi pha, vơi cạn.
Tóm lại, chúng ta đọc Cựu Ước với tâm hồn hướng về Đức Giêsu như các ngôn sứ của Cựu Ước đã tuyên sấm về Đức Giêsu và thời đại Cứu Thế của Ngài, cũng như toàn bộ lịch sử dân riêng là bước chuẩn bị cần thiết cho mầu nhiệm Nhập thế, Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô.   
d.  Kinh Thánh không là chiếc hộp thần kỳ đựng những đáp số có sẵn:
Có người coi Kinh Thánh là một “máy đáp số” tự động cho mọi vấn đề, chỉ cần bấm vào hỏi là có ngay đáp số đúng, mà không cần phải làm gì.
Không, Kinh Thánh không cho chúng ta những đáp số kiểu tự động, tự nhiên như thế, vì Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa, ở đó Thiên Chúa nói với chúng ta và chúng ta có quyền đáp lời Ngài hay khước từ Ngài, có tự do lắng nghe và đem ra thực hành Lời Ngài, hay bỏ qua, không quan tâm đón nhận. Vì thế, Kinh Thánh có thánh ý Chúa để con người tùy ý vâng nghe hoặc không nghe, nên khi đọc Kinh Thánh, chúng ta đi tìm thánh ý Thiên Chúa và đợi chờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần. Ơn này được ban tùy theo thiện chí của mỗi người, tùy theo mức độ vâng phục và đón nhận của từng người, tùy theo lòng quảng đại trước thánh ý của mỗi cá nhân.
Như thế, Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa  nói với những ai tìm đến và muốn lắng nghe Lời Ngài, và chính Thiên Chúa qua Lời hằng sống sẽ soi sáng, hướng dẫn họ con đường phải đi, việc phải làm.
e.    Giáo Hội có nhiệm vụ gìn giữ và giải thích Kinh Thánh:
Đây là điểm quan trọng đối với người tín hữu, mà vô tình nhiều người đã không quan tâm, lưu ý, khi tự mình hoặc dễ dàng để mình bị lôi cuốn vào những lối giải thích của những “nhóm chú giải” ở ngoài Giáo Hội, khi Kinh Thánh không được giải thích phù hợp với nội dung chân lý đích thực. Chúng ta đừng quên một trong nhiệm vụ chính yếu của Giáo Hội được Đức Giêsu trao phó chính là gìn giữ kho tàng mặc khải đức tin, nên việc giải thích Kinh Thánh đúng theo ý Chúa thuộc quyền của Giáo Hội, mà tất cả chúng ta phải nghe theo.
Hiện nay, có rất nhiều giáo phái thiên về kinh thánh với những “chú giải” kỳ lạ vừa không chính xác vừa không hợp lý đang làm thành hiện tượng nổi cộm ở nhiều quốc gia, trong đó Việt Nam được coi là miền đất “trù phú, phì nhiêu” cho các loại hình giáo phái này.     
Khi đã nắm chắc những chià khóa trên, chúng ta sẽ được Thiên Chúa mở lòng để đón nhận từ Kinh Thánh những chân lý đức tin thánh thiện:  
1.   Lịch Sử Cứu Độ loài người của Thiên Chúa:
Đó là dòng lịch sử cứu độ của Thiên Chúa khởi đi từ sau biến cố sa ngã của ông bà nguyên tổ. Lịch sử ấy là lịch sử của con người được Thiên Chúa thương xót đồng hành và cứu độ.
Thiên Chúa đi với con người trên từng bước thăng trầm của con người, những bước thăng trầm của trung tín, phản bội, của sốt sắng, năng nổ và ươn lười, biếng nhác, của khiêm tốn ăn năn và kiêu căng, ngạo mạn, của phung phá bỏ đi và thống hối trở về. Lịch sử ấy là lịch sử Thiên Chúa yêu thương và quyết tâm cứu chuộc con người, để con người lập lại vị thế con cái Thiên Chúa mà tội lỗi đã làm mất; lịch sử của tình yêu vô cùng và đến cùng của Thiên Chúa trải dài theo lịch sử “dật dờ, bấp bênh, lên xuống” vì yếu đuối của con người; là lịch sử của Giao Ước “Ta là Thiên Chúa của các ngươi, và các ngươi là dân Ta” đã được làm đi làm lại nhiều lần, vì con người không trung tín giữ lời thề; là lịch sử con người được cứu rỗi nhờ máu của Thiên Chúa, Đức Giêsu Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa.
Chính vì thế, những yếu đuối, sa ngã, đốn hèn, bất xứng của con người gặp được trong Kinh Thánh trở nên dễ hiểu, vì đó là lịch sử cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện giữa con người, với con người và cho con người đày khiếm khuyết, tội lụy. 
2.   Dung mạo đích thực và ý muốn của Thiên Chúa:
Kinh Thánh cho chúng ta nhận biết Thiên Chúa là ai, Ngài yêu con người đến mức nào, và đâu là ý muốn của Ngài.
Khi xuống thế làm người, Ngôi Lời của Thiên Chúa là Đức Giêsu Kitô đã ở giữa con người, sống như con người, mang lấy trọn vẹn thân phận làm người phàm  như mọi người, trừ tội lỗi (x. Pl 2,6-8) để con người được nhìn thấy Thiên Chúa trong Đức Giêsu, được chạm vào Thiên Chúa qua Đức Giêsu, được trò chuyện, tâm sự với Thiên Chúa nơi con người Đức Giêsu, được đến với Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu. Và chúng ta được biết Thiên Chúa là Tình yêu, là Cha nhân hậu, là Mục Tử nhân lành, Đấng Cứu Độ đã tự nguyện chết cho muôn người được sống.
Trong Đức Giêsu, chúng ta còn được biết Thiên Chúa muốn gì nơi mỗi người, đợi chờ gì ở cộng đoàn, mong ước gì ở toàn thể nhân loại. Và vì là Tình Yêu, Thiên Chúa cũng chỉ muốn chúng ta yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta (x. Ga 13,34).
3.   Lý do, ý nghiã và giá trị của con người trước Thiên Chúa:
Kinh Thánh không chỉ mặc khải cho chúng ta Thiên Chúa và ý muốn của Ngài, mà còn mặc khải chính chúng ta cho chúng ta, bởi không có mặc khải của Đức Giêsu, chúng ta không biết sự sống của mình quan trọng như thế nào dưới mắt Thiên Chúa, không biết địa vị và vinh dự của mình cao đẹp đến đâu trong trái tim Thiên Chúa, không biết hạnh phúc của mình lớn lao cỡ nào trong nhà Thiên Chúa, không biết phần thưởng tương lai hằng phúc của mình qúy giá đến đâu trong vương quốc Thiên Chúa.
Không có mặc khải của Thiên Chúa trong Kinh Thánh, chúng ta cũng  không biết  ý nghiã và giá trị của cuộc đời trần thế chóng qua, tạm bợ với “ba chìm, bẩy nổi, chín long đong” của chúng ta trên hành trình đi tìm hạnh phúc đích thực, và không có Đức Giêsu mặc khải, chúng ta hoàn toàn mù mờ về sự chết, phán xét, thiên đàng hoả ngục.
Còn một mặc khải khác cũng không kém quan trọng, đó là chúng ta được biết chúng ta là ai với người khác, tức tương quan giữa con người với con người, bởi không có Thiên Chúa mặc khải Ngài là Cha trên trời, chúng ta không thể nhận mình là anh em của nhau, cùng là con của một Cha trên trời. Và vì là anh em, chúng ta được mời gọi đi vào tình yêu của Thiên Chúa là Cha, để yêu thương nhau như tình Cha đã yêu thương.  
Vâng, người trẻ chúng ta cần được Giáo Hội hướng dẫn để kín múc ở Lời Chúa tình yêu Đức Giêsu, và ơn cứu độ của Ngài, và để đạt  mục đích “biết lắng nghe và sống Lời Chúa”, không gì cần thiết và tốt hơn là khiêm tốn mở lòng cho Chúa Thánh Thần ngự đến và ở lại, vì Ngài là Thánh Thần Chân Lý, như chính Đức Giêsu đã qủa quyết với các tông đồ: “Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26).   
Jorathe Nắng Tím

Chương VIII: BẠO LỰC HẬU LY DỊ


Có con người là có bạo lực; nói cách khác, ở đâu có con người, ở đó có bạo lực. Kinh Thánh Thiên Chúa giáo kể chuyện bạo lực của hai con trai nguyên tổ loài người Ađam và Evà: Cain và Abel, hai anh em cùng dâng lễ vật lên Thiên Chúa, nhưng chỉ lễ vật của Abel được Thiên Chúa nhận, còn của Cain bị từ chối. Ghen tuông và căm phẫn, Cain đã giết chết em Abel.
Như thế, bạo lực gia đình đã xẩy ra ngay từ buổi đầu của loài người trong chính gia đình của hai ông bà  nguyên tổ. Thế nên không lạ gì, cũng chẳng phải bàng hoàng, ngạc nhiên khi bạo lực có mặt trước, trong khi, và sau ly dị. Phần lớn vợ chồng đã ly dị vì không chấp nhận bạo lực, nhưng như thứ vi trùng dai dẳng, bạo lực vẫn tiếp tục hăng say quấy nhiễu cả vào thời hậu ly dị.
Nếu bạo lực là nguyên nhân đã đưa đến nhiều cuộc ly hôn, thì bạo lực cũng là phương tiện được dùng để trấn áp, đe doạ, làm áp lực trên nhau trong thời kỳ làm thủ tục ly dị. Và cả khi mọi việc đã ngã ngũ sau khi đã ly dị, bạo lực xem ra cũng vẫn đeo đẳng, không chịu buông tha.
Có nhiều hình thức bạo lực: bạo lực tư tưởng, bạo lực  hành động, bạo lực ngôn ngữ. Tất cả đều quy về một mục tiêu là đốn hạ, truy diệt, làm tổn thương tinh thần và thể xác nạn nhân.
Sở dĩ ngay ở thời hậu ly dị, bạo lực vẫn hoành hành dữ dội là vì :
1.   Sở hữu mù quáng:
Sở hữu mù quáng khi không chấp nhận phán quyết của toà án về phân chia tài sản, và phương thức phân phối trách nhiệm đối với con cái.Vì thế, bạo lực được xử dụng để hiếp đáp đối phương, không cho thực hiện dễ dàng phán quyết của Toà. Những người có máu sỡ hữu mù quáng cố tình phủ nhận tính cách công bằng trong phán quyết, nhưng khăng khăng đòi về mình “toàn quyền, toàn phần, toàn thể”; nghiã là họ phải sở hữu tất cả, vì với họ, sở hữu chủ duy nhất chỉ là họ.
Họ muốn sở hữu tài sản, con cái và ngay cả người chồng, người vợ mới ly dị, mặc dù luật pháp đã chính thức và công khai tháo gỡ hôn nhân. Cũng vì tính sở hữu bệnh hoạn mà người vợ cũ, chồng cũ của họ sẽ khó có thể được sống yên lành và tự do làm lại cuộc đời.
2.   Ghen tuông, ganh tị:
Đã đành ghen tuông khi còn là vợ chồng, nhưng với người có máu ghen tuông mãn tính,  tính ganh tỵ truyền kiếp thì ngay cả khi đã ly dị rồi, họ vẫn dữ dội ghen tuông và điên cuồng ganh tị.
Ganh tị nên không cho người khác bén mảng quen biết vợ cũ, chồng cũ đã ly dị. Ghen tuông nên “quyết tử” với những ai mon men  gặp gỡ, rồi cùng người chồng cũ, vợ cũ của họ đi thêm một bước nữa. Tính ghen tuông kinh niên, tính ganh tị “không đội trời chung” với bất cứ ai biến họ thành hung bạo, tàn ác, nếu người cũ chạm đến cơn điên ganh tị, ghen tuông kinh dị của họ.
Nhiều người vì sợ chồng cũ, vợ cũ bạo hành, làm hại, trả thù đã không dám quen biết ai sau khi ly dị, và tất nhiên không bao giờ dám nghĩ đến chuyện làm lại cuộc đời, lập một gia đình mới, dù không thiếu cơ hội.
Tính sở hữu mù quáng, cũng như tính ghen tuông, ganh tị bệnh hoạn, cả hai đều xuất phát từ lòng ích kỷ: không muốn ai hơn mình, không muốn người đã cùng mình chung sống và ly dị được may mắn, sung túc, hạnh phúc hơn mình. Trong đầu, họ chỉ có một ý nghĩ bạo lực: bằng mọi cách dù thô bạo, dã man đến đâu cũng phải vùi dập, đánh gục kẻ đã phụ bạc và ly dị.
3.   Tính tham lam, lợi dụng:
Cũng không ít người khai thác bạo lực vì mục đích thủ lợi, tham lam và lợi dụng vật chất của người bạn đời cũ đã ly dị. Họ dùng những bí mật biết được về người bạn đời cũ trong thời còn chung sống để làm áp lực, tạo xì- căng- đan hầu triệt hạ uy tín, danh dự và phá hoại sự nghiệp, tương lai của người này. Những trò đe doạ qua điện thoại, chửi rủa, bôi bác trên mạng để gây hoang mang, tạo căng thẳng tinh thần với ý đồ bắt ép nạn nhân phải nhượng bộ cung ứng tiền bạc không giới hạn.
Những người này không thấy ngượng khi ngang nhiên làm tiền, trấn lột chính người đã một thời chung chăn chung gối. Họ vô liêm xỉ đến độ không ngại dùng bạo lực để cưỡi trên đầu trên cổ và sống đê tiện bằng mồ hôi, nước mắt lao động của người vợ cũ, chồng cũ.
Những hoàn cảnh đáng thương bị bạo hành xẩy ra nhan nhản, nhưng không được mấy người quan tâm che chở, bảo vệ, với lý do rất đơn giản, vô trách nhiệm: chuyện gia đình người khác, can dự làm chi cho mệt.
Chính vì thiếu tinh thần tương trợ và vì vô tâm, vô cảm mà xã hội xem ra đã không muốn can thiệp và bạo lực gia đình, kể cả ở thời hậu ly dị vẫn còn là vết thương sâu hoắm khó lành.      
4.   Tâm lý không quân bình:
Đây là tâm lý không lành mạnh thường thấy nơi những người ích kỷ, tâm địa hẹp hòi, gian ác. Vì hẹp hòi nên không nghĩ đến ai; vì gian ác, nên không làm cho ai điều tốt lành; trái lại, ai vui thì họ buồn; ai khóc thì họ vui; ai thành công thì họ tìm phá đổ; ai hạnh phúc thì họ quậy phá tanh bành.
Họ là người phá hoại hạnh phúc chuyên nghiệp. Nhiều khi phá để mà phá, phá cho thoả chí ngông nghênh, chứ chưa hẳn đã biết phá để làm gì và tại sao phá. Những cú đấm  vô cớ, những cú đá thình lình, những cơn phẫn nộ bất chợt không nguyên do, những lời thô tục chửi rủa  không cơ sở biểu hiện một tâm lý không quân bình và bất ổn. Chính tâm lý chao động bất thường được bạo lực không ngừng làm sôi sục đã gây ra không ít thảm cảnh gia đình rất đáng thương.      
Như thế, ly dị rồi cũng chưa được kể là xong, nếu phải ly dị với những người “sở hữu, ghen tuông, tham lam, không quân bình tâm lý”; bởi những người này không ngại dùng bạo lực như phương tiện để tiếp tục đòi quyền làm chủ, ganh tị, tham lam, lợi dụng, phá hoại, quấy nhiễu.
 Như thế mới biết, một khi đã bước chân vào hôn nhân, người ta mang vào mình nhiều hệ lụy nếu chẳng may hôn nhân đổ vỡ. May mắn là được ly dị bình an và hậu ly dị là chuỗi ngày yên lành, thong thả. Hạnh phúc hơn là xây dựng một mái ấm mới với người mới dễ thương, tử tế. Nhưng bất hạnh xem ra vẫn không buông tha hạnh phúc khi bạo lực vẫn lảng vảng, quanh quẩn đe dọa đâu đó…

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2020

NGƯỜI TRẺ VÀ ĐỨC TIN (3)


                                             TÔN GIÁO
Không có một định nghiã hoàn chỉnh của từ “Tôn Giáo” cho tất cả các tôn giáo, bởi mỗi tôn giáo đều có những đặc điểm khác nhau. Thí dụ: có những tôn giáo  tuy được gọi là tôn giáo, nhưng không đề cập đến Thượng Đế hay thần thánh, trong khi từ Tôn Giáo, theo nguyên ngữ latinh RELIGIO có nghiã: tương quan, liên đới giữa Thiên Chúa và con người. Vì thế, trong bài chia sẻ này, chúng ta sẽ tương đối hoá từ Tôn Giáo, và không nhất thiết áp dụng chặt chẽ định nghĩa Tôn Giáo theo nguyên ngữ latinh cho tất cả các tôn giáo được trình bầy.
A.  Một số tôn giáo lớn:
1.   Tôn giáo không có Thượng Đế:
Đó là những tôn giáo mang tên “tôn giáo”, nhưng hoàn toàn không bàn đến chuyện thần thánh, thượng đế, không bận tâm đến những chuyện siêu nhiên ngoài cuộc đời, không quan tâm đến những gì ở ngoài quỹ đạo cuộc sống, cùng lắm chỉ điểm phớt qua, mà không đi sâu vào lãnh vực siêu nhiên, cũng không đưa ra những giải đáp, phương án giải quyết những vấn nạn thuộc thế giới bên kia của con người bằng dựa vào một quyền lực thiêng liêng.
Ở đây chỉ xin nêu ra hai tôn giáo điển hình không thần thánh, thượng đế là Khổng Giáo và Phật Giáo.
a.   Khổng Giáo:
Khổng giáo xuất hiện vào thế kỷ thứ V trước công nguyên ở Trung Quốc, sáng lập bởi Khổng Tử (551- 479 trước CN), chủ trương thiết lập một trật tự xã hội hoàn hảo, ở đó, mỗi người đều có chỗ của mình, và nghiã vụ phải chu toàn đối với người khác, bổn phận phải làm tròn đối với xã hội. Tất cả đều được lập trình và hầu như bất di bất dịch, chẳng hạn người phụ nữ trong xã hội Khổng Mạnh, họ sẽ phải đi theo quy trình: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, nghiã là còn bé ở nhà thì tùng phục cha mẹ, lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì lệ thuộc con, mà không khoảnh khắc nào của cuộc sống được độc lập, riêng tư.
Mục tiêu của Khổng Giáo là thiết lập và duy trì một xã hội trật tự, nề nếp, gồm những người sống theo lý tưởng làm người có Nhân, Lễ, Nghiã, Trí, Tín. Khi sống theo khuôn khổ được thiết kế, luật lệ được quy định, người ta sẽ trở thành người tử tế và xã hội sẽ bình yên.
Như thế, Khổng Giáo chỉ nhằm giúp con người sống luân lý làm người, hành động theo lương tâm, nhân ái, nhân đạo trong tương quan giữa người với người, mà không bàn về Thiên Chúa, Thượng Đế, mặc dù có nhắc đến Trời, nhưng chỉ như một ý niệm không mấy rõ rệt.
b.   Phật Giáo:
Bên cạnh là Phật Giáo xuất hiện tại Ấn Độ cũng vào thế kỷ thứ V trước công nguyên. Phật Giáo không chủ trương giải quyết những vấn đề “ngoài con người, nghiã là không lấn sang phạm vi siêu nhiên như đi tìm Thiên Chúa, hay Thượng Đế nào đó, cũng không đặt vấn đề của thế giới vô hình, thiêng liêng, ngoại trừ vấn đề luân hồi, đầu thai, nhưng ngay cả vấn đề có tính “siêu nhiên” này cũng vẫn không ra khỏi lãnh giới của con người, và luôn thuộc về con người, mà không cần sự can thiệp của thần thánh, hay thượng đế nào.
Vị sáng lập Phật Giáo là Đức Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một người, một hoàng tử, và luôn luôn nhận mình là con người, chỉ khác ở chỗ đã giác ngộ. Thấy cuộc đời là bể dâu, biển khổ và đời người dệt nên bởi Tứ Khổ: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Đức Phật tự đi tìm phương án để giải thoát chúng sinh, và ngài đã tìm thấy giải đáp, đó là dục vọng, lòng ham muốn đã làm con người khổ. Chính dục vọng, lòng ham muốn làm quay quắt tâm can, úa tàn hạnh phúc, nên để hết khổ, con người chỉ còn cách diệt dục, bỏ đi lòng ham muốn.
Bàn về cuộc sống sau cái chết, Đức Phật cho rằng nguyên tắc Nhân Qủa sẽ là đáp số đúng cho vấn đề: nếu ăn ngay ở lành, nếu sống nhân ái, hoà thuận, yêu thương, nếu rộng lòng giúp đỡ người cô thế, nghèo hèn, con người sẽ nhận về phần phúc và chính phúc đó sẽ biến đổi nghiệp của mỗi người theo hướng tích cực, nghiã là nghiệp sẽ cao hơn, tốt hơn, lành hơn trong kiếp tới. Trái lại, kiếp này sống gian tham, độc ác thì kiếp sau sẽ phải trả bằng mang vào một nghiệp xấu, hèn hạ, khổ sở, bất hạnh hơn kiếp này… Điều đặc biệt ở Phật Giáo là không ai có thể can dự vào nghiệp của người khác, nhưng mỗi người tự quyết định phúc họa của mình, cũng như tự định đoạt cho mình nghiệp của kiếp sau.
Vì thế, giáo lý nguyên thủy của Phật Giáo không có chuyện xin Đức Phật cầu thay nguyện giúp, cũng không có chuyện khấn vái, cầu xin “thần thánh”, bởi giáo lý chủ trương chính con người làm nên phận số của mình, quyết định nghiệp của mình theo Nhân Quả mà không cậy dựa vào thần thánh nào ở cõi cao siêu phù trợ, bênh đỡ.      
2.   Tôn giáo đa thần:
Ấn Độ giáo tin vào nhiều “vị thần” được xem như những khuôn mặt khác nhau của cùng một thực thể thiêng liêng là Brahman. Có rất nhiều vị thần được thờ trong Ấn Độ giáo, trong số đó có ba vị thần chính: Brahma - Thần tạo dựng, Vishnu - Thần bảo trì, và Shiva - Thần hủy hoại.
Ấn Độ giáo tin đầu thai, luân hồi, và hạnh phúc lớn nhất của con người là thoát khỏi vòng luân hồi, đầu thai để đạt đến tình trạng hoàn toàn được giải thoát gọi là Nirvana.
Xuất hiện 1500 năm trước công nguyên với khoảng 900 triệu tín hữu, chiếm 80% dân số Ấn Độ. 
3.   Tôn Giáo độc thần:
Chúng ta tạm dùng từ “Thiên Chúa” để chỉ Đấng Thiêng Liêng có những thuộc tính như vô cùng quyền năng, vô cùng thánh thiện, vô cùng dũng mạnh, vô cùng chính trực, vô cùng khôn ngoan, thông biết mọi sự, tạo dựng mọi loài, thưởng phạt công bình, thương xót loài người, vinh quang tuyệt đối, Cội Nguồn và Cùng Đích…
Những tôn giáo độc thần tôn thờ Thiên Chúa duy nhất như Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Kitô Giáo, nhưng riêng Kitô Giáo có những khác biệt đối với cả Do Thái Giáo và  Hồi Giáo. Vì thế, riêng trong phần “tôn giáo có Thiên Chúa duy nhất”, chúng ta chỉ đề cập đến Do Thái Giáo và Hồi Giáo.
a.    Do Thái Giáo:
Do Thái Giáo được khai sinh từ khi Giavê Thiên Chúa tuyển chọn Ápraham làm tổ phụ của dân riêng Ngài muốn thành lập. Dân này có tên Israel, và Cựu Ước vừa là kinh thánh vừa là lịch sử của tôn giáo, dân tộc Do Thái. Sở dĩ vừa là kinh thánh vừa là lịch sử, vì dân tộc Do Thái cũng là tôn giáo Do Thái, nghiã là tất cả người Do Thái đều là tín hữu Do Thái Giáo. Điều này không còn đúng trăm phần trăm, kể từ khi Đức Giêsu, người Do Thái, quê Nadarét rao giảng một tôn giáo mới bắt nguồn từ Do Thái giáo, cách nay 2020 năm.
Kinh Thánh của Do Thái giáo ghi lại những biến cố, giai đoạn lịch sử, tiến trình hình thành từ bộ lạc đến vương quốc hùng mạnh, rồi bị lưu đầy cơ cực, cùng những bài giáo lý, giáo huấn của các ngôn sứ gồm đủ thể loại.  
Người tín hữu Do Thái tin thờ Thiên Chúa Giavê, Đấng đã chọn họ làm dân riêng và đã lập với họ một giao ước: Ngài là Thiên Chúa của họ, và họ là dân của Ngài. Trung tín với giao ước và Lời Hứa, Thiên Chúa Giavê đã cứu họ thoát khỏi ách nô lệ của Ai Cập, khi sai Môsê đi giải phóng và đưa họ về đất mà Thiên Chúa Giavê đã hứa ban, và trong mọi tình huống, hoàn cảnh dù thê lương, bi thảm đến đâu, Thiên Chúa Giavê vẫn luôn trung tín với giao ước và phù trợ họ như dân riêng của Ngài.
Mười Điều Răn được Thiên Chúa Giavê ban cho dân qua ông Môsê trên núi Xinai là hiến pháp của dân Do Thái, và nghi thức “cắt bì” các con trai là dấu chỉ của giao ước thánh thiện đó.
b.  Hồi Giáo:
Từ thế kỷ thứ VII, Hồi Giáo xuất hiện ở Arabi, với ngôn sứ Mahômét được coi là ngôn sứ cuối cùng của Thiên Chúa Allah. Đức Allah ban giáo lý của ngài cho ngôn sứ Mahômét và  được cẩn thận ghi chép, gìn giữ  trong kinh Coran. Hồi Giáo tin thờ một Thiên Chúa duy nhất, có nguồn gốc từ Ápraham, người được Thiên Chúa kêu gọi và trở thành cha của những kẻ tin.
Hồi Giáo là tôn giáo lớn thứ hai với khoảng 24% dân số thế giới, sau Thiên Chúa giáo và trước Ấn Độ giáo.
4.   Kitô Giáo:
Gọi là Kitô giáo, vì các tôn giáo này tin thờ Đức Giêsu Kitô, người Do Thái, có mặt vào thế kỷ thứ nhất ở Palestina. Ngài xuất thân từ một gia đình ở Nadarét, miền Giuđê. Cha mẹ Ngài là ông Giuse và bà Maria. Tín hữu Kitô giáo tin thờ Ngài là Thiên Chúa nhập thể làm người.
Đức Giêsu Kitô là người Do Thái, gia đình Ngài cũng như Ngài là những tín hữu Do Thái đạo đức. Vì thế, Kitô giáo do Ngài thiết lập bắt nguồn  từ Do Thái giáo được xem như một chuẩn bị cho Kitô giáo của Ngài.
Ngoài Công Giáo còn Chính Thống Giáo tách ra khỏi Công Giáo từ năm 1054, và Tin Lành ly khai khỏi Công Giáo vào thế kỷ XVI với Martin Luther (1483-1546).
B.  Trước Vấn Đề Chọn Lựa Tôn Giáo: 
Trước tôn giáo, có nhiều chọn lựa và thái độ khác nhau, vì tín ngưỡng, tôn giáo thuộc quyền tự do cá nhân, mà không ai, không tổ chức, chế độ nào có quyền ép buộc hay tước đọat quền căn bản thiêng liêng này.
Chính vì tự do chọn lựa, nên mỗi người có suy nghĩ, thái độ và chọn lựa khác nhau trước vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo.
Có người từ tấm bé đến tuổi già không bao giờ đặt vấn đề tôn giáo, và vui vẻ đi theo tôn giáo của ông bà, cha mẹ, vì coi đó là bổn phận trung thành của con cháu với truyền thống gia đình, gia tộc, nên việc cải đạo, tức thay đổi tôn giáo đối với họ là việc làm bị xem như hành vi “phản bội tổ tiên” không thể chấp nhận được. Với những người này, tôn giáo không là mối bận tâm lớn, nên hầu như không mấy khi được đặt thành vấn đề và tìm hiểu sâu rộng.
Có người sinh ra trong gia đình không tôn giáo, nên đến tuổi lớn, đã tìm cho mình một tôn giáo, khi cảm thấy nhu cầu tâm linh hối thúc. Họ có thể xin theo vì tình cờ biết một tôn giáo nào đó qua bạn bè, hoặc ấn tượng trước  giáo lý, hay tín hữu của tôn giáo đó.
Có người theo một tôn giáo vì đòi hỏi của xã hội, gia đình như theo đạo của vợ, hoặc chồng, theo đạo của ông chủ để có vị thế tốt hơn trong nghề nghiệp, theo đạo của đa số dân chúng trong vùng để tạo ảnh hưởng và dễ tiến thân trên đường chính trị.
Có người tin theo một tôn giáo, vì Thiên Chúa, hay vị thần, đấng thánh của tôn giáo đó đã “làm phép lạ” cứu chữa, giải cứu họ trong một trường hợp cực kỳ khó khăn, nguy hiểm nào đó. Và để tỏ lòng biết ơn, họ chọn tôn giáo đã đem lại cho họ và người thân may mắn, phúc lộc.
Có người tìm tôn giáo không vì tin cho bằng vì sợ: sợ khi gặp gian truân, thử thách không biết kêu cầu ai, nài xin Đấng nào phù hộ; sợ chết sẽ không được lên thiên đàng vì không Đấng thiêng liêng nào cứu  giúp; sợ ở thế giới bên kia cô thân cô thế, cô độc, cô đơn, không đồng đạo chở che, không cộng đoàn bênh đỡ. Tóm lại, vì sợ cuộc sống bấp bênh, sợ không biết đi đâu, về đâu  giờ chết, nên phải tìm cho mình một tôn giáo như bảo hiểm an toàn.
Có người tìm tôn giáo vì cần. Cần có tôn giáo để bớt lo âu, bớt thấy tâm hồn trống trải trước khát vọng tuyệt đối, bớt quay quắt trước ước mơ bao la, vô tận đêm ngày cuồn cuộn dâng lên trong tim óc. Họ đã đi tìm trong thế giới vật chất, hữu hình những đáp số, nhưng không đáp số nào được coi là thoả đáng đối với nhu cầu tâm linh, để tâm hồn họ được toại nguyện, an bình.
Cũng có người chọn tôn giáo làm khí cụ, phương tiện cho mục đích phi nhân, như nhiều tổ chức khủng bố thuần túy đã nhận mình là tôn giáo này, tôn giáo nọ để thực hiện những cuộc khủng bố đẫm máu cho chủ trương và mục đích hoàn toàn chính trị. Tôn giáo trong trường hợp này chỉ là bung xung, chiêu bài, mặt nạ, vỏ bọc bên ngoài, mà không mang một giá trị tâm linh nào.
Như thế, vì tự do chọn lựa, nên cửa ngõ các tôn giáo đều mở rộng, để mỗi người hoàn toàn tự do bước vào tìm hiểu và quyết định, theo tiêu chí riêng: có người đi đạo vì đạo mang lại nhiều lợi ích, có người theo đạo vì có thể xử dụng uy tín, ảnh hưởng của đạo cho đường tiến thân, có người đi đạo vì thời thế, hoàn cảnh, nhưng cũng có rất nhiều người đi đạo vì TIN, theo đạo vì muốn TÌM GẶP Đấng mà họ đi tìm, để một khi đã Tin và đã Tìm Gặp, họ nhận được ơn Bình An là Hạnh Phúc viên mãn cho cả đời này và đời sau, đúng như ý nghĩa đích thực của tôn giáo: liên đới, gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người.    
Thực vậy, trước mặt chúng ta, các tôn giáo như những con thuyền đưa con người vượt “biển đời” nhiều sóng gió để đến bờ bên kia là cuộc sống hạnh phúc, bình an, sau khi đi hết hành trình dương thế này. Chúng ta được phép quan sát, tìm hiểu từng con thuyền, để biết thuyền nào có đủ khả năng vượt sóng, đủ bảo đảm an toàn đưa ta vượt biển an toàn, đến bến bình an. Bởi có những tôn giáo mà giáo lý thiếu nhất thống, không chặt chẽ, tất nhiên không thể giải đáp toàn phần, toàn diện những vấn đề của con người, mà chỉ một phần; có tôn giáo chỉ giải quyết những vấn đề nhân sinh, mà không giải mã được những ẩn số của đời sau; có tôn giáo chỉ chủ trương luân lý làm người, mà không nói gì đến những khắc khoải siêu nhiên của tâm hồn con người. Đó là chưa kể vô số những “giáo phái” sáng lập bởi những nhân vật có tâm lý bất bình thường, với “giáo lý” cục bộ, kỳ thị, không chỉ phản nhân văn, mà còn nguy hại cho sự sống và nhân quyền, như những giáo phái chủ trương “trụy lạc tình dục, lọan luân và tự sát tập thể”.  
Tóm lại, không ai sống “vô thần” mà hạnh phúc, vì một lý do đơn giản: con người là con vật có tín ngưỡng, có niềm tin, có tôn giáo, vì không con người nào dễ dàng lọai bỏ được linh hồn, và không ai bịt miệng được linh hồn, khi linh hồn lên tiếng đòi hỏi nhu cầu tâm linh. Vì thế, tránh đối diện vấn đề tâm linh, lọại bỏ nhu cầu thiêng liêng của linh hồn, con người sẽ bất hạnh trăm bề, và không thể là người hạnh phúc, trong khi hạnh phúc là mục tiêu con người hằng mơ ước, đi tìm.  
Để kết luận, người viết xin được vắn tắt chia sẻ hành trình đón nhận đức tin Công Giáo của mình, với ước mong qúy bạn trẻ tìm được chút ít kinh nghiệm của một người anh lớn tuổi đã đi gần hết đường đời.
Tôi sinh trưởng từ gia đình công giáo gốc, nghiã là từ rất nhiều đời, gia đình tôi đã theo đạo Công Giáo. Lớn lên trong xứ đạo, tôi đi đạo như tất cả mọi giáo dân trong xứ, và suốt những năm tháng ấu thơ rồi niên thiếu, đi đạo với tôi chỉ là sống ngay lành, lương thiện, đi lễ hằng ngày, đọc kinh mỗi tối để “khi chết khỏi phải sa hoả ngục”, vì thiên đàng, hoả ngục là giáo lý được “ông quản, bà trương” nhồi nhét nhiều hơn cả. Và thuở ấy, tôi đi đạo trong tâm trạng lấm lét, sợ hãi Thiên Chúa, và Đức Giêsu với tôi vẫn còn rất xa lạ.
Sau này càng lớn, tôi càng khám phá dung mạo Đức Giêsu và Ngài hấp dẫn, lỗi cuốn tôi.
Ngài lôi cuốn tôi, vì Ngài là Thiên Chúa làm người: Thiên Chúa xuống trần gian mặc lấy xác phàm và sống như con người, chia sẻ đến tận cùng thân phận con người, kể cả đau khổ và cái chết, trong khi các vị sáng lập tôn giáo khác chỉ là con người như Đức Phật, hoặc con người được chọn làm ngôn sứ như ngài Mahômét.
Riêng một mình Đức Giêsu thì vừa là Thiên Chúa vừa là con người, nên những gì Ngài mặc khải về Thiên Chúa chắc chắn sẽ đúng, vì chỉ Thiên Chúa mới biết Thiên Chúa là ai, biết Thiên Chúa muốn gì, biết Thiên Chúa hoạt động thế nào… Cũng vì là Thiên Chúa, nên những gì thuộc thế giới siêu nhiên, những gì vượt xa tầm hiểu biết, suy đoán của con người thì Ngài đều biết, và cho con người biết như ý nghiã và giá trị của đau khổ, sự chết, sự sống lại của con người, và thiên đàng, hỏa ngục.
Ngài còn hấp dẫn tôi vì Ngài là con người. Là con người nên tôi thấy Ngài rất gần gũi và thương yêu con người. Tin Mừng mặc khải cho tôi Ngài không từ bỏ, xa lánh, kỳ thị bất cứ ai, dù là người tội lỗi công khai bị xã hội lên án, tẩy chay, khinh miệt, nhưng thân thiện, cảm thông, thương xót và cứu chữa tận tình hết mọi người đến với Ngài.
Tôi say mê cung cách khiêm tốn, chịu đựng của Ngài trước những xúc phạm của người khác, và lòng bao dung, cao thượng của Ngài.     
Tôi cũng thấy và cảm nghiệm hạnh phúc khi sống theo giáo huấn Yêu Thương của Ngài, vì Ngài là Tình Yêu. Chính vì là Tình Yêu nên Ngài chỉ có thể yêu thương, dung thứ và quên hết lỗi lầm, tội lụy của con người, miễn con người nhận mình là tội nhân chạy đến xin Ngài thương xót.
Ngày xưa, tôi rất sợ Thiên Chúa, nhưng từ khi được “sống gần” Ngài, tôi không sợ như tên nô lệ sợ ông chủ, như tội nhân sợ quan toà, cai ngục, hay như thần dân sợ vua chúa nữa, nhưng yêu mến và tín thác ở Ngài như người con tin yêu Cha mình, dù đời tôi thăng trầm muôn nỗi, vì yếu đuối, tội lỗi đầy mình. Tôi cũng hết lo âu, tính toán lợi lộc, ki bo, kiếm chác, cả đến chuyện thiên đàng, hoả ngục tôi cũng chẳng mất thời giờ quan tâm, bởi chỉ có một điều tôi dốc toàn lực để thực hiện, đó là thực hiện Giới Răn Yêu Thương là di chúc của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng tôi tin và tôn thờ, bởi tôi chỉ thấy Yêu Thương là điều Thiên Chúa đợi chờ ở tôi, chỉ Yêu Thương mới làm cho tôi được đổi mới nên giống Ngài, chỉ Yêu Thương tôi mới nắm chắc phần thưởng được cứu độ.
Tôi cũng say mê Đức Giêsu vì Ngài là Thiên Chúa tuyệt đối tôn trọng tự do của mỗi người. Ngài để con người tự nguyện tin Ngài mà không bắt buộc ai tin, để mỗi người tự chọn đi theo Ngài mà không mồi chài, dụ dỗ. Bên cạnh đó, Ngài tín nhiệm con người khi mời gọi cộng tác với Ngài trong mọi việc liên quan đến hạnh phúc của con người. Cũng chính vì thế mà nhiều công trình của Ngài làm cho con người đã bị chính con người phá hoại, làm đổ vỡ vì bất trung và bất hợp tác.
Vâng, tôi đã đi được phần lớn hành trình cuộc đời. Cũng như Bạn, tôi đã trải qua tuổi trẻ phân vân, do dự giữa ngã ba, ngã tư, ngã năm, ngã sáu trước niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo. Tôi mong Bạn hãy bình tĩnh, bình tâm và tiếp tục tìm kiếm. Thiên Chúa không bao giờ phụ lòng những tâm hồn thiện chí đi tìm Ngài, Thiên Chúa không bao giờ dửng dưng, hờ hững trước những trái tim khao khát tìm gặp Ngài. Sớm hay muộn, Ngài sẽ tự mặc khải cho Bạn khi đến bên Bạn và mời Bạn đến thăm chỗ ở của Ngài, như đã mời nhiều người trẻ ngày xưa đến gặp và xin theo Ngài: “Hãy đến mà xem”, và họ đã đến xem và ở lại làm môn đệ Ngài.
Phần tôi, cám ơn Bạn đã kiên nhẫn chia sẻ với tôi đến dòng này. Tâm tình cuối cùng tôi muốn trao gửi Bạn, đó là sẽ đến một lúc, khi ở với Đức Giêsu và yêu mến Ngài rồi, Bạn sẽ chẳng còn nghĩ đến chuyện đi đạo có lợi hay không có lợi, theo Đức Giêsu  sướng hay khổ, mà chỉ còn lại duy nhất một thao thức, một ước mơ, một nỗ lực, đó là: Tâm hồn càng trống trải, vì từ bỏ những ích kỷ, ganh ghét, hận thù, cuộc sống càng đầy tràn Thiên Chúa, và một khi được Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người ở cùng và đồng hành, chúng ta được sống bình an, dù gian truân ngập lối và thử thách bủa vây.
Mến chúc Bạn gặp Đấng đang trên đường đi tìm Bạn, để Ngài ở đâu, Bạn cũng được ở đó với Ngài.
Jorathe Nắng Tím