Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2020

BÉ LÀ CON…

Được cha mẹ sinh ra, đương nhiên bé là con của cha mẹ, nhưng có thể bé là con độc nhất, con lớn nhất, con nhỏ nhất. Tuy con nào cũng là con, con nào cũng không thể thay thế, hoán chuyển, con nào cũng duy nhất đối với cha mẹ, nhưng mỗi đứa ở vào những vị trí làm con khác nhau nên có  những đặc điểm khác nhau. Cùng chia sẻ  những đặc điểm của con cái : đưá đầu lòng, đứa út ít, đứa độc nhất vô nhị, người viết mong được đóng góp vào hạnh phúc của cha mẹ và niềm vui được yêu thương của những người có tên là “Con”.
1.   Con một hay con độc nhất:
Không nói thì ai cũng biết con một là con được cưng chiều, vì ngoài bé ra, không còn con nào nữa. Thường bé đến trong nỗi đợi chờ, niềm mong đợi nóng bỏng của cha mẹ. Có thể vì cha mẹ lấy nhau muộn, hoặc cha mẹ gặp phải những khó khăn trong việc thụ thai. Ngày vào đời của em vì thế đã trở thành ngày trọng đại, ngày chứa chan hạnh phúc, niềm vui. Đúng vậy, khi nghe tin em chào đời, ai cũng vui. Niềm vui từ trái tim mẹ em, cha em chảy lai láng về cả hai họ nội ngoại.Và ai cũng cho mình là người vui nhất!
Ai cũng vui nhất vì bé đích thực là niềm vui. Ai cũng ngất ngây hạnh phúc, vì bé chính là hạnh phúc của gia đình và mọi người. Và từng ngày bé lớn theo niềm vui, hạnh phúc đó. 
Nhưng không mấy người biết bé có những vấn đề :
a.   Vì là lần đầu tiên có con, nên cha mẹ chưa có kinh nghiệm nuôi nấng, giáo dục. Chính vì thế, ít nhiều bé sẽ  chịu thiệt thòi. 
b.   Bé không có ai để chơi, không có ai để chia sẻ, cũng không có ai để đương đầu vì bé chỉ duy nhất một mình. Bé khám phá ra một điều: làm con độc nhất bé phải tự mình hoc hỏi đời sống làm con.
c.    Vì một mình, bé mang hết một mình trên đôi vai kỳ vọng, ước mơ của cha mẹ. Mẹ thì muốn bé sẽ là bác sĩ giải phẫu nổi tiếng, ba thì muốn bé sẽ là kiến trúc sư kỳ tài. Còn riêng bé? Bé chỉ thấy mình oằn lưng dưới gánh nặng của đủ thứ ước mơ, kỳ vọng trong đầu người lớn.
d.   Bé bắt đầu thấy ngột ngạt vì mẹ bao bọc bé  kỹ qúa. Không việc làm nào của bé mà mẹ bỏ qua, không đồ dùng nào của bé mà mẹ không kiểm tra kỹ lưỡng. Sự bao bọc qúa kỹ của mẹ cho bé cảm tưởng bé là một người tù, một “thiên tử” bị loài người cẩn mật canh giữ.
Những vấn đề vừa nêu sẽ đưa đẩy bé đến tình trạng tâm lý không mấy thuận lợi cho việc thành hình nhân cách của bé. Và vì không muốn rơi vào tình trạng bất lợ cho nhân cách, bé muốn cha mẹ cùng bé đề phòng :
a.   Vì được nuông chiều, “thần tượng”, “thần thánh hoá một cách lố bịch, bé dễ trờ nên ích kỷ, thiếu xã hội tính, không trưởng thành. Bé chấp nhận một cách lười biếng tình trạng được bao bọc, lệ thuộc mọi người, nhất là cha mẹ mà không muốn cố gắng đứng trên đôi chân và tự mình bước. Bé thả trôi đời mình trong tay cha mẹ và phó mặc hiện tại, tương lai cho người khác định liệu. Bé thực là một thân tầm gửi có hạng!
b.   Vì không quen đương đầu, xoay xở, chiến đấu, bé rơi vào tâm trạng sợ cuộc sống, sợ ra khỏi vòng ôm an toàn của mẹ, sợ đi xa mái ấm được xây tường, rào dậu. Bé chấp nhận ở mãi trong pháo đài an toàn hơn là xông pha dấn thân mạo hiểm vào cuộc đời trước mặt. Đôi chân của bé qủa yếu ớt trước nắng gió và đường dài ngày mai !

c.     Vì là cục cưng của cha  mẹ, bé dễ rơi vào một  liên đới tình cảm “bất thường”, con trai với mẹ, con gái với cha, một thứ tình cảm lẫn lộn tình cha con, mẹ con với tình đôi lứa. Đến một lúc nào đó, bé vô phúc trở thành  người tình của cha, nếu là con gái, hay người tình của mẹ, nếu là con trai. Hiện tượng tâm lý khá phức tạp này thường xẩy ra khi cha mẹ thuộc diện tâm lý “độc quyền và sở hữu”. Những cha mẹ thuộc diện này có khuynh hướng vật thể hoá con và biến chúng thành một vật sở  hữu trong sinh hoạt  mà không hay biết. Chính vì không biết mà  tình trạng tâm lý dễ trở nên suy đồi trầm trọng biến con cái thành nạn nhân của  mất quân bình tình cảm, đưa đến thái độ từ chối mọi liên đới tình cảm chính đáng khác trong cuộc sống. Không thiếu những thanh niên đã không thể sống đời hôn nhân, thiếu nữ từ chối đời làm vợ vì tuổi thơ đã là nạn nhân của một liên đời tình cảm không bình thường đối với cha mẹ.

d.   Một nguy cơ khác cũng thường thấy, đó là khi cha mẹ quá kỳ vọng trên đứa con độc nhất của mình đã phóng ảnh đời mình lên con và bắt con phải thực hiện đúng như những gì mình muốn. Hậu qủa là khi lớn lên, khi con không thực hiện được những “lý tưởng cao vời vợi” đó, cha mẹ sẽ biến thành thù địch của con chỉ vì con đã làm mình vỡ mộng. Trong trường hợp này, cha mẹ đã không hề tìm hạnh phúc cho con, nhưng từ đầu đã chỉ nghĩ thoả mãn tham vọng của riêng mình.

Con độc nhất có nhiều cái “nhất”, nhưng cũng dễ bị trúng “độc”. Khôn ngoan trong giáo dục chính là thận trọng trước từng vị trí của con cái để có những phương thức giáo dục thích hợp cho từng đứa. Hãy can đảm và khiêm tốn cùng con yêu “độc nhất” bước xuống cuộc đời để giúp con chạm mặt những gì không luôn đòi phải “nhất”, nhưng rất thực, rất gần, rất đáng yêu của cuộc đời mà con chưa bao giờ được gặp.

2.   Con đầu lòng:
Con đầu lòng cũng có nhiều điểm tương đồng với đứa con độc nhất, vì là con thứ nhất và duy nhất cho đến khi xuất hiện đứa thứ hai. Vì chưa có đứa thứ hai, cha mẹ sẽ dồn tất cả tình yêu và quan tâm cho bé. Tuy thế, không như đứa con độc nhất, con đầu lòng không trở thành con Trời, con vua, cũng không “tầm gửi, lười biếng, buông xuôi, phó mặc”, nhưng luôn ý thức về một  trách nhiệm lớn.

Con đầu lòng tự ý thức vai trò đứng đầu, “lãnh đạo” của mình. Em biết cha mẹ trông cậy vào em, tín nhiệm em và cần đến em để nuôi nấng, chăm nom các con khác. Em nhận ra một cách tự nhiên vai trò đại diện, thay thế cha mẹ khi cha mẹ vắng mặt, một vai trò cực nặng đối với em. Trên vai em dường như lúc nào cũng lên xuống, nhấp nhỏm một gánh nặng đối với các em và một ước vọng đỡ đần cha mẹ. Em không cho phép mình chơi thoải mái, quậy tới bến như  các em, nhưng nhiệm vụ cao cả làm anh cả, chị hai nhắc  em phải chăm sóc các em, thận trọng bảo vệ các em, đằm thắm yêu thương các em, nhẫn nhịn chịu đựng các em, kiên nhẫn bảo ban các em và nếu cần cứng rắn sửa sai các em.
Là con đầu lòng, em cũng mang nỗi lo cho tương lai của đàn em và tự khoác cho mình chiếc áo “bảo mẫu” nặng chình chịch.
Có nhiều chị hai đã không muốn đi lấy chồng vì thương các em, vì không muốn cha mẹ một mình gánh vác đàn con đông. Những chị hai chấp nhận “ở vậy” không lấy chồng vì các em đã tự nguyện hy sinh chính đời mình. Bên cạnh những chị hai từ chối hẳn đời hôn nhân, còn những chị hai đi lấy chồng nhưng ngay ngáy lo lắng cho các em thay cha mẹ. Các bà chị hai này dễ rơi vào tình trạng tâm lý bị xé đôi: một bên gia đình lớn với cha mẹ, các em, một bên gia đình nhỏ với chồng con và hậu qủa sẽ không tốt đẹp khi người chồng ích kỷ lên tiếng phản đối. Người chồng có thể phản đối sự quan tâm thái qúa của chị đối với cha mẹ riêng và các  em bên nhà  khi thấy chị ngược xuôi, vất vả, bơ phờ vì lo chuyện bên nhà, nhất là khi những “lo lắng” đó đụng chạm đến vật chất, tiền bạc của gia đình nhỏ. Nhiều gia đình đã đổ vỡ vì nguyên nhân tình cảm rất “tế nhị” này. Nhiều chị hai đã không đủ khôn ngoan phân định ranh giới của bổn phận. Nhiều xung đột đã xẩy ra chỉ vì chị hai quá “hot” với việc của gia đình riêng mà  đôi chút lơ là chuyện gia đình mình đã đưa đến bực dọc, bất mãn nơi người chồng không  cùng “tần số”.

Trong nghiên cứu về tâm lý tuổi cặp kê, các nhà tâm lý đã đề cập đến tình trạng không thể tiến tới đời sống lứa đôi của một số thiếu nữ đã không có khả năng tách mình ra khỏi gia đình riêng khi quan hệ với bạn trai. Nhiều cô gái đã không thể đi chơi riêng với bạn trai mà không kéo theo một hai đứa em; không thể kết thúc một buổi hẹn hò mà không nhắc đến các em, cha mẹ với nhân tình đang chỉ chú ý đến cô, và chỉ quan tâm một mình cô; không thể bỏ quên những chuyện “chẳng đâu vào đâu” và thường là những chuyện không vui, những nhu cầu vật chất của gia đình mình trong dòng tâm sự với người yêu; không thể không thở than, sụt sùi thương thằng em đau bệnh, thương con em bị ở lại lớp, thương cha vừa mất việc, thương mẹ bán buôn ế ẩm với người tình đang chỉ muốn nói chuyện “hai đứa”, chuyện “chúng mình”. Cô gái đang làm một công việc không nên làm vì chính cô đang đẩy xa người tình muốn đến với cô, đang làm tan tình cảm chàng dành cho cô, vì cô quên bẵng một điều tối quan trọng trong tình yêu và đời sống đôi lứa, đó là hai người là đối tượng duy nhất của nhau, hai người đến với nhau và chỉ vì nhau mà đến. Vì thế, tất cả những gì không phải là “nhau” đều không có ý nghiã và lý do tồn tại, nhất là ở buổi sơ giao, tìm hiểu. Cô đã làm một lỗi lầm đáng trách, đó là đã qúa vội đem cả gia đình, cha mẹ, các em mình  nhét vào trái tim của  người yêu, trong khi trái tim ấy đang chỉ muốn dành hết chỗ cho một mình cô lúc này. Và đã không thiếu những quan hệ lứa đôi đã hoàn toàn bết tắc vì thiếu sót này.

Giáo dục con đầu lòng sẽ không là ngăn chặn tính kiêu căng, lười biếng của đứa con độc nhất, nhưng là ngăn chặn tính bao sân, ôm đồm muốn lo hết cho đàn em của chị cả, anh hai.    

3.   Các con ở giữa:
Các con ở lừng chừng, không đầu, không cuối, không cả, không út này thường có chung một kinh nghiệm: ít được cha mẹ quan tâm và phải thường xuyên chiến đấu để sống còn. Không hưởng quy chế “con trời, con vua” như đứa con độc nhất, không có đôi vai rộng để cùng cha mẹ gánh vác việc nhà, chuyện đàn em như anh hai, chị cả, cũng không được miễn trừ mọi việc và được nâng niu như con út, đám con ở giữa này thường biết thân biết phận và bảo nhau phải biết sống. Biết lúc nào lên được và lúc nào phải xuống, nếu muốn được yên. Biết làm đúng việc, đúng thời để tránh  mâu thuẫn. Biết nhìn trước sau để không là tác giả gây “tai nạn” trong nhà. Tóm lại, đám con ở giữa sẽ rất biến báo, khéo léo để không bị thiệt thòi, vì chúng biết chúng không được quy chế đặc biệt nào chở che.
Thường thì mặc cảm ít được quan tâm xâm lấn tâm tư các đứa con ở giữa. Thí dụ : việc các bé phải mặc lại quần áo cũ của anh chị cũng đã là điều gây nên một thoáng mặc cảm không được coi là duy nhất. Các bé dễ có cảm tưởng bị cha mẹ xếp thành hàng và thay tên bằng những con số và mặc cảm mất cá tính, nhân vị dễ bộc phát nơi các bé.
Tâm lý của những đứa con “không đầu không cuối” này thường dễ chao đảo trước bất cứ hành động, thái độ nào của cha mẹ. Chỉ cần một cử chỉ không khéo của mẹ, em bé có thể mất hết thăng bằng tâm lý và rơi vào tình trạng bị khủng hoảng tinh thần.
Với các em bé này, cha mẹ cần biểu lộ quan tâm đồng đều và cá nhân để các bé nhận ra: mình không phải là những đứa con hạng hai so với chị hai, anh cả, em út.

4.   Con út:
Tất nhiên với con út cha mẹ luôn nghĩ: đó là đứa con bị thiệt thòi hơn các anh chị khác, vì cha mẹ đã già  không còn lo được cho con nhiều như các anh chị. Nếu gia đình làm ăn khấm khá, cô út, cậu út sẽ “thưà thắng xông lên” như diều gặp gió tha hồ được cưng chiều, hưởng thụ. Nếu chẳng may gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, xuống dốc thì cha mẹ  cũng sẽ cố hết sức tìm mọi cách  bù đắp cho cô út, cậu út. Như thế, đàng nào thì con út cũng sẽ được  cha mẹ cưng chiều và ưu tiên trong sinh hoạt gia đình.
Con út còn một thuận lợi khác là cha mẹ  thường liên tưởng đến những ngày đầu yêu nhau khi họ có đứa con sau cùng, vì định luật liên tưởng: bao giờ cái sau cùng cũng đánh thức cái đầu tiên, và  đích tới luôn gợi về khởi điểm.
Cô, cậu út sẽ được cha mẹ thương hơn, chiều hơn, nhưng cũng là lý do để bị anh chị ghen ghét, kiếm chuyện. Để trụ được trong chỗ đứng ưu tiên và để tự vệ, con út sẽ dùng mọi chiến thuật để không bị ăn hiếp. Em sẽ dựa vào cha mẹ như ô dù vạn năng. Với anh chị, em sẽ tùy cơ ứng biến, “mềm nắn rắn buông”, theo tình hình mà lên xuống, nặng, nhẹ. Nói tóm lại, em sẽ phải liên tục chiến đấu và cẩn mật đề phòng để không mất đi lợi thế “con út” của mình. Kết quả là em sẽ được cha mẹ bảo vệ tối đa, cực kỳ che chở, thường xuyên bênh đỡ. Em trở thành một “yếu nhân” được mọi người đặc biệt chú ý hoặc để ghen ghét, kiếm chuyện, hoặc để bảo vệ, chở che. Đời sống của em vì thế mà trở nên căng thẳng, ngột ngạt… vì vừa bị soi bói vừa được bảo vệ.  
       

Là cha mẹ, không ai tiên liệu chính xác những vấn đề của con cái, cũng như không ai nắm hết trong tay tương lai của con mình. Bằng chứng sống động là cách đầy không đầy hai mươi phút, người viết nhận được tin nhắn của một người cháu làm linh mục trong một họ đạo thuộc khu dân cư gồm đủ “đầu trâu mặt ngựa, đá cá lăn dưa” lúc nào cũng sôi sục “đâm chém”. Con số tội phạm tệ đoan trong vùng này cao nhất nước. Cha vừa báo tin buồn: con trai bà thơ ký của nhà xứ mới 16 tuổi vừa bị băng đảng đâm lủng phổi. Cấp cứu không kịp đã tắt thở sáng nay. Bà chỉ có một con trai duy nhất !
Nhưng làm cha mẹ cũng bị bổn phận bó buộc phải tiên liệu ngày mai của con cái trong khả năng của mình.
Tiên liệu là thực hiện ngay bây giờ và ở đây chủ trương yêu thương đồng đều giữa con cái, yêu thương cá nhân từng đứa, yêu thương qua đối thoại, yêu thương nhờ lắng nghe, yêu thương  bằng quan tâm, chăm sóc.
Tiên liệu là không rơi vào hai thái cực trong giáo dục : hoặc quá thả lỏng, hoặc quá bao bọc. Thả lỏng làm con mất hướng, lạc đường. Bao bọc làm con ngột ngạt, không tự lập và mất khả năng sáng tạo.
Tiên liệu là không đánh giá thấp cũng không quá kỳ vọng. Đánh giá thấp con là hạ nhục con, gieo trong con mặc cảm “vô tích sự”. Kỳ vọng quá sẽ sớm quật ngã con  vì chất trên con những gánh nặng không thể mang vác.      
Tiên liệu là mở cho con  cảnh cửa vào thế giới bên ngoài, cánh cửa đến với người khác.
Tiên liệu là làm cho con cảm thấy an toàn, bình an và hạnh phúc ngay hôm nay, trong gia đình này.
Tiên liệu là luôn giữ “đường giây nóng” của tình cha con, mẹ con, nhất là khi con gặp khó khăn, thử thách.
Tiên liệu là không bao giờ cảm thấy đủ tình yêu cho con, nhưng lại thấy dư thừa tham vọng trên con, vì tình yêu nâng con lên, và tham vọng dìm con xuống. 
Tiên liệu là đưa con vào trời rộng và không nhốt con trong tù ngục ích kỷ.
Tiên liệu là làm cho con đứng được một mình mà không cần tay mình vịn giữ.
Tiên liệu là nhìn con cười, ngắm con chơi, nghe con thủ thỉ mà không cho là mất thời giờ, vô ích.
Tiên liệu là nói với con mỗi ngày: “cám ơn, tạm biệt, xin lỗi, ngủ ngon nhé, thương con nhiều”.
Và tiên liệu là từng phút giây không quên mình là người đã ban sự sống cho những con người mang cùng tên “Con” và gọi mình là “Cha Mẹ”.

LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ


Đặc điểm chung của các thánh Tông Đồ là “chịu đựng đau khổ” khi “làm công việc của người loan báo Tin Mừng”, điều mà thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại đã khuyên nhủ Timôthê, môn đệ của mình (2 Tm 4,5).
Thánh Tông Đồ dân ngoại khuyên nhủ như vậy, vì ngài đã có nhiều kinh nghiệm  đau thương với những người đã gây nhiều khốn khổ cho ngài, những người ngoài mặt thì thơn thớt nói cười, nhưng lòng dạ thì mưu mô, hiểm độc, kể cả bạn hữu cũng chẳng có ai bênh vực, nâng đỡ, nhưng dửng dưng bỏ mặc ngài trong cơn khốn quẫn, cơ cực (x. 2 Tm 4,14.16).
Cùng với thánh Phaolô, Tông Đồ trưởng Phêrô cũng lấy những kinh nghiệm “chịu đau khổ vì danh Đức Giêsu” của riêng mình mà khuyên nhủ các tín hữu: “Anh em đang bị lửa thử thách: đừng ngạc nhiên mà coi đó như một cái gì khác thường xảy đến cho anh em. Được chia sẻ những đau khổ của Đức Kitô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em cùng đươc vui mừng hoan hỷ” (1P 4,12-13).       
Thực vậy, cuộc đời tông đồ của hai thánh Phêrô, Phaolô là cuộc thương khó nối dài của “Đức Giêsu chịu đóng đinh” mà các ngài yêu mến, tôn thờ, phụng sự. Chính Đức Giêsu chịu đóng đinh là lẽ sống, gương mẫu và cùng đích của đời tông đồ khởi đi từ ngày các ngài “lập tức bỏ thuyền, bỏ cha lại mà đi theo Người” (Mt 4,22), cho đến giây phút cuối đời, người thì bị chém đầu, người thì chịu đóng đinh ngược tại Rôma, nơi hai vị loan báo Tin Mừng, với tâm tình khiêm tốn của người tôi tớ trung tín đã đi đến cùng đường và chu toàn bổn phận được ông chủ trao phó, như chia sẻ của thánh tông đồ Phaolô với môn đệ Timôthê của ngài: “Còn tôi, tôi sắp phải đổ máu ra làm lễ tế, đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính; Chúa là vị Thẩm Phán chí công  sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong Ngày đó, và không phải chỉ cho tôi, nhưng còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện” (2 Tm 4,6-8).
Như thế, đời tông đồ cũng như đời những người đi theo Đức Giêsu là đời chịu đau khổ. Nói cách khác, lịch sử Giáo Hội là lịch sử được viết bằng máu và nước mắt của những người đi theo Đức Giêsu chịu đóng đinh, như Đức Giêsu đã báo trước:
1.   Giáo Hội là mục tiêu chống phá của thế gian, ma qủy:
Nếu trước mặt Đức Maria và thánh Giuse, dịp dâng Hài Nhi Giêsu cho Thiên Chúa cụ già Simêon đã tiên báo: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng…” (Lc 2,34), thì Đức Giêsu, khi lập Giáo Hội cũng đã  báo trước cho các tông đồ: “Phêrô, con là Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18).
Đức Giêsu đã không ngần ngại cho các Tông Đồ biết: Hội Thánh của Ngài sẽ là một Hội Thánh luôn bị quyền lực của Thần Dữ tức Satan và toàn thể bè lũ tìm cách chống phá, tiêu diệt, một Hội Thánh sẽ không bao giờ được yên, nhưng  không ngừng bị ma qủy gây hấn, tìm mọi cách làm suy yếu, sụp đổ.
Chúng chống phá bằng tạo “thù trong, giặc ngoài”, gây chia rẽ nội bộ, đồng thời làm bùng cháy, sôi sục  lòng ganh ghét, căm phẫn từ bên ngoài  để  phá hoại tình yêu hiệp nhất, hiệp thông trong Hội Thánh, để các chi thể của Thân Thể không còn yêu thương, nhưng ghen tương, đố kị, đấu đá, tranh giành, tiêu diệt lẫn nhau, và biến tập thể những người đi theo Đức Giêsu thoái hoá thành một đoàn lũ  những nguời dị hợm, đáng kinh tởm, và kẻ thù đáng ghét của mọi người.
2.   Người của Hội Thánh bị truy lùng, bách hại:
Sách  Công Vụ Các Tông Đồ đã kể lại những gian truân, thử thách, truy lùng, bắt bớ, tra tấn mà các thánh Tông Đồ, cũng như giáo hữu  buổi đầu của Giáo Hội  phải gánh chịu khi rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh, và lịch sử với chiều dài hơn hai ngàn năm của Giáo Hội đã là bằng chứng hùng hồn về “đường lối trước sau như một” của ma qủy và những người iđ theo chúng: “chống phá Giáo Hội và truy diệt người của Giáo Hội đến cùng”.
Điều này Đức Giêsu cũng đã báo trước, khi nói với Nhóm Mười Hai: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước… Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em… Họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” (Ga 15, 18.20-21), nên ở đâu và thời nào, người môn đệ của Đức Giêsu cũng bị “thế gian” bới móc, vu khống đủ điều, gây khó dễ trăm nỗi, và tìm mọi cách hãm hại, lên án, tiêu diệt, tuy mỗi thời mỗi cách, mỗi nơi mỗi kiểu. 
Vâng, hơn ai hết, hai thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ, tiên phong và rường cột của Giáo Hội đã suốt đời gắn bó với Đức Giêsu chịu đóng đinh, suốt đời thông phần đau khổ của thập giá Đức Giêsu, suốt đời “chịu thương chịu khó” để Đức Giêsu chịu đóng đinh được rao giảng, suốt đời yêu mến, phục vụ Giáo Hội là Hiền Thê yêu dấu của Đức Giêsu mà không quyền lực tử thần nào có thể thắng nổi, để   hoàn cảnh truyền giáo không luôn thuận lợi, vì “sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình… Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường” (2 Tm 4,3-4), các ngài vẫn  “chịu đựng đau khổ”, kiên trì rao giảng, phục vụ Giáo Hội; dù bị mọi người đối xử tàn ác, bạc bẽo, kể cả bị người thân, bạn hữu phản bội, bỏ rơi, các ngài vẫn tin tưởng và thầm nhủ “có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng” (2 Tm 4,17); dù bị đe dọa, truy lùng, bắt bớ, giam cầm, hành hạ, các ngài vẫn tràn đầy niềm hy vọng  được “Chúa cứu thoát khỏi nanh vuốt sư tử… và mọi hành vi hiểm độc” của ác nhân (2 Tm 4,18), như thánh Tông Đồ trưởng Phêrô đã hạnh phúc thốt lên khi được thiên sứ dắt ra khỏi ngục trong đêm trước ngày bị vua Hêrôđê đem ra xử: “Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu thoát tôi khỏi vua Hêrôđê, và khỏi mọi điều dân Do Thái mong muốn tôi phải chịu” (Cv 12,11).   
Mừng kính hai thánh Tông Đồ Phêrô, Phaolô, chúng ta hiệp thông cầu nguyện cho Giáo Hội, cho Đức Thánh Cha, và các Đấng Bản Quyền địa phương. Xin Chúa, qua lời cầu bầu của hai thánh Tông Đồ, rường cột của Giáo Hội ban cho các Đấng Bậc trong Giáo Hội tinh thần “chịu đựng đau khổ” vì “Đức Giêsu chịu đóng đinh”, bởi chỉ Thánh Giá trên đó Đức Giêsu dâng mình làm Của Lễ mới chiếu toả ánh sáng Tình yêu, Sự Sống và ban ơn Cứu Độ của Thiên Chúa, vì chính Ngài, Ngôi Lời của Thiên Chúa, Đấng sáng lập Giáo Hội đã chọn Thánh Giá để cứu chuộc loài người, và môn đệ của Ngài, để được trở nên khí cụ của ơn Cứu Độ trong tay Thiên Chúa cũng phải “đồng hình đồng dạng” với Đức Giêsu chịu đóng đinh, bởi đó là Thánh Ý của Ngài: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27). 
Jorathe Nắng Tím   

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

“SAY NẮNG” ĐỨC GIÊSU

Say nắng Đức Giêsu là tâm tình của những trái tim đã phải lòng Thiên Chúa làm người, là ký ức không bao giờ phai nhạt về buổi đầu gặp gỡ Con Người Thiên Chúa dong duổi giữa nhân loại, là tình tự sâu lắng của tâm hồn bị tình yêu Đức Giêsu xâm lấn, chiếm đọat, là mối tình đầu thiêng liêng giữa  con người cụ thể và Thiên Chúa bằng xương bằng thịt, là câu chuyện không hồi kết trong thiên tình sử đời đời mà Thiên Chúa và con người cùng viết mỗi ngày…
1.   Đức Giêsu, người Cha nhân hậu  (Lc 15,11-32)
Là con gái út nên tôi được Ba cưng chiều đặc biệt. Ngày Ba mất, tôi đã khóc và ngất lên ngất xuống đến nỗi phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Những năm sau ngày Ba mất, tôi sống rất buồn và khép kín, cho đến một ngày, tôi tình cờ theo người bạn công giáo đi lễ, và người Cha nhân hậu trong Tin Mừng Luca đã hút hồn tôi.
Tôi thực sự bị người cha nhân hậu của Đức Giêsu hút hồn, vì hình ảnh người cha ấy không khác hình ảnh cha tôi đã mất. Cũng người cha nâng niu, chiều chuộng con: con muốn gì cũng có, con xin gì cũng được, con chưa nói hết câu, cha đã hiểu con mơ ước, tìm kiếm gì; cũng người cha tôn trọng từng bước chân vào đời làm người lớn của con, nên khi con đòi chia gia tài, bỏ nhà, đi xa lập nghiệp, Cha cũng không ngần ngại làm vui lòng con; cũng người cha yêu thương con vô cùng, nên khi con ăn tiêu hết sạch tiền bạc, bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ, ngày ngày ra đồng chăn heo, và ao ước có được cám heo để nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho (Lc 15,14-16), người cha ở nhà vẫn chiều chiều ra đầu ngõ ngóng trông bước chân con trở về; cũng người cha yêu thương đến cùng, nên ngày con bất đắc dĩ trở về vì sợ chết đói với thân tàn ma dại đã không bận tâm nghe con nói lời xin lỗi về tội xưa rất nặng, tạ tội vì lỗi xưa rất đáng trừng phạt, nhưng đã làm ngược những gì con mường tượng, trái những gì con dự đoán khi mặc cho con áo đẹp, đeo cho con nhẫn qúy và mở tiệc ăn mừng con tôi đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy (Lc 15,24).
Qủa thực, khởi điểm của con đường đến với Thiên Chúa chính là Ba tôi, người con Phật thuần thành, vì Ba đã dậy cho tôi hiểu thế nào là ơn cha, thế nào là hạnh phúc được bơi lội trong đại dương tình cha nhân hậu. Ba tôi đã là hình ảnh sống động và thực tế của Thiên Chúa, và qua hình ảnh Ba, tôi đã khám phá và tìm gặp Thiên Chúa, người Cha nhân hậu của Đức Giêsu. Và cho đến hôm nay, sau 30 năm làm người Kitô hữu, đức tin của tôi được nâng đỡ và lớn lên từng ngày trong tình Cha của Thiên Chuá luôn yêu thương và ân cần chăm sóc, bảo vệ con mình như gà mẹ ủ ấp đàn con.
2.   Đức Giêsu, Thiên Chúa của người nghèo (Lc 21,1-4)
Gia đình tôi rất nghèo, không chỉ ba đời nghèo rớt mùng tơi, nhưng ba lần ba những kiếp người dính chặt lấy nhau lê thê nối dài đời nghèo cơm lo từng bữa, quanh năm bốn mùa khố rách áo ôm. Nghèo nên bị mọi người khinh khi, coi thường, từ dòng họ hai bên nội ngoại đến hàng xóm, dân làng, và mặc cảm tự ty biến chúng tôi thành những con người khép kín, nhát sợ, tự cô lập, trốn tránh mọi người.
Cũng vì nghèo, nên tôi thù Thượng Đế và coi tôn giáo mà ông bà để lại chỉ là hủ tục mê tín, hoàn toàn vô nghiã, ở đó, giai cấp giầu tụ tập tung hô, nịnh hót, xông hương nhau.
Cho đến một ngày, tôi bị choáng vì say nắng Đức Giêsu, con người của người nghèo thực sự, Thiên Chúa yêu thương người nghèo thực sự, chứ không chỉ yêu người nghèo, bênh vực người nghèo trên chữ nghiã, sách vở, loa phóng thanh, đài truyền hình như bao nhiêu người tôi gặp đã chẳng một chút yêu thương người nghèo, chia sẻ với người túng thiếu, neo đơn.  
Ngài làm tôi say nắng tình Ngài, khi người nghèo mù loà ngồi ăn xin bên vệ đường ở Giêrikhô khi nghe biết Ngài đang đi qua đó đã lớn tiếng kêu lên: Lậy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!.
Ôi tiếng kêu của người nghèo lại bị trời bắt tội phải mù loà nghe xót xa, thảm não, thống thiết làm sao! Thế mà nhiều người đã nặng lời chửi rủa, quát nạt, bảo anh im đi (Lc 18,39), chẳng khác những người hàng xóm có tiền có của đã xỉ vả, mắng nhiếc và bắt nạt cha mẹ và anh em chúng tôi suốt bao năm tháng dài nghèo khổ; lại có người tình nguyện làm hàng rào cản trở Đức Giêsu để Ngài không  nhìn thấy anh. Nhưng Đức Giêsu đã dừng lại, bảo dẫn anh đến với Ngài » và âu yếm hỏi anh: Anh muốn tôi làm gì cho anh?. Anh thưa: Lậy Ngài, xin cho tôi được nhìn thấy. Đức Giêsu nói: Anh nhìn thấy đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh. Lập tức, anh ta nhìn thấy được và theo Người (Lc 18,40-43).
Tôi say nắng con nguời Giêsu thương người nghèo khổ, tật nguyền, lê lết bên vệ đường ăn xin kiếm sống; tôi yêu Đức Giêsu, Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ ở với và gần gũi dân Ngài; tôi kính mến Đức Giêsu vì trái tim Ngài luôn dành chỗ ưu tiên cho những người bé mọn bị đời khinh miệt chỉ vì nghèo nàn, dốt nát,  không danh gia vọng tộc, cơ ngơi bề thế, như thái độ quan tâm của Ngài đến đồng xu bé nhỏ của  bà goá túng thiếu đã bỏ vào thùng dâng cúng của Đền Thờ và tuyên dương bà: Thầy bảo thật anh em: bà goá này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Qủa thật, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình (Lc 21,3-4).
Với tôi, Đức Giêsu đích thực là Thiên Chúa  của người nghèo khổ bất hạnh, vì Ngài quan tâm, yêu thương, bênh vực người nghèo thấp cổ bé miệng », khác xa nhiều người giầu  hãnh tiến, kênh kiệu miệng thì liên hồi kinh kệ, nhưng lòng thì độc ác, gian tham, khinh khi, bóc lột, lợi dụng người nghèo đến tận xương tủy.   
3.   Đức Giêsu, người bênh vực, chở che, giải phóng phụ nữ (Ga 8,1-11)
Có lẽ không người con gái nào có thể qua mặt tôi về tuổi thơ và tuổi thiếu nữ bất hạnh, vì tôi là đứa con đã phải sống  suốt mười bảy năm trong hoả ngục của bạo hành gia đình: cha tôi là người đàn ông vũ phu, bất cứ chuyện gì, và bất cứ lúc nào cũng có thể đánh vợ, đánh con. Tôi đã chứng kiến những trận đòn chí tử mẹ phải chịu, và tôi cũng là nạn nhân trực tiếp của cha khi ông say xỉn, hay không vừa ý. Những lúc đó, ông chửi rủa um trời rồi bạ đâu đánh đó, ném vào mặt tôi và mẹ bất cứ vật gì ông nắm được làm hai mẹ con co rúm, ôm chặt lấy nhau mà la khóc, năn nỉ, chịu trận.
Bầu khí bạo hành gia đình làm tôi trở nên nhút nhát và căm ghét đàn ông. Năm mười bảy tuổi, tôi bỏ nhà đi bụi, vì không còn chịu được người cha ích kỷ, vô trách nhiệm, bạo lực, sau khi mẹ tôi mất vì ung thư.
Mười năm với đường phố và băng đảng, tôi vẫn giữ một mối căm thù và khinh ghét đám đàn ông. Tôi mất hết những tình cảm tốt đẹp với phái nam, vì hình ảnh hung bạo của cha tôi làm lu mờ những gì tốt đẹp ở người khác phái; tôi không còn cảm xúc của một người con gái trước bạn trai, vì những lời chửi bới thô tục của cha tôi không cho tôi nghị lực để có thể tin bất cứ lời nào đàn ông nói. Qủa thực, tôi không ngờ cha tôi đã hủy hoại toàn thể con người tôi, đã tàn phá tất cả nghị lực tinh thần của tôi bằng những thô bạo của ông, và để lại trong tôi nỗi chán chường tưởng như lúc nào cũng muốn nôn mửa tất cả những gì dính dáng đến đàn ông ra khỏi cuộc đời tôi.
Tôi thật là đứa con gái bất hạnh giữa bao người con gái bất hạnh khác, vì những người đàn ông bạo lực không những không là bờ vai cho phái yếu nương tựa, mà còn là tai ương, hoả ngục của những  phụ nữ vô phúc phải làm vợ làm con. Ý nghĩ ấy khóa chặt tôi trong pháo đài cố thủ và không mở lòng cho bất cứ người bạn khác phái nào cho đến một ngày, có người mời tôi vào đạo…
Vị linh mục niềm nở đón tiếp tôi buổi đầu theo người bạn đến gặp. Không để linh mục mở lời, tôi bắt đầu bằng câu hỏi: Đạo công giáo có chủ trương trọng nam khinh nữ như đạo Khổng không cha?. Vị linh mục trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên. Tôi dấn thêm: Nếu giáo lý công giáo dậy nam nữ bình đẳng, có quyền lợi và bổn phận như nhau thì con đi tới, nếu không thì con xin cáo biệt cha ở đây.
Từ hôm ấy với  Tin Mừng thánh Gioan về biến cố Đức Giêsu một mình bênh vực và cứu sống người đàn bà bị bắt qủa tang phạm tội ngoại tình khi mọi người đang lên án và lăm le ném đá chị cho đến chết theo luật Môsê là luật đạo Do Thái thời đó đã đổi mới tận gốc và toàn thể trái tim, cái nhìn và cuộc sống của tôi.
Thực vậy, Đức Giêsu đã lôi cuốn và đổi mới trái tim tôi, khi tôi nhận ra Ngài là người đã giải phóng phụ nữ khỏi ách thống trị của đàn ông, khi lên án chủ  trương phân biệt, kỳ thị giới tính. Thái độ qủa cảm khi công khai bênh vực người đàn bà bị bắt qủa tang đang phạm tội ngoại tình là một liều lĩnh vô cùng nguy hiểm, vì Ngài đang bị bao vây bởi những gã đàn ông hung hăng như đám diều hâu chờ xác chết: Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người (Ga 8,4-6).
Đức Giêsu đã hút hồn và thay đổi cái nhìn của tôi, làm tôi sửng sốt trước thái độ tế nhị, rất đáng yêu của Ngài đối với một người đàn bà bị mọi người coi là lăng loàn, mất nết, khi tế nhị cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất (Ga 8,6), và không ngước mắt nhìn, để chị khỏi phải thêm một lần nữa mắc cở, ngượng ngùng, nhục nhã vì đã bị thiên hạ lườm nguýt, xoi mói qúa kỹ, qúa lâu. Ngài còn rất đáng yêu khi chẳng hỏi han, tra vấn gì về nhân thân, sự việc để không khoét sâu hơn nỗi đau của người có tội qủa tang, công khai, trống trải trước bàn dân thiên hạ.   
Đức Giêsu đã làm tôi say mê và biến đổi hoàn toàn cuộc sống của tôi, khi làm tôi ngất ngây hạnh phúc qua câu hỏi của Ngài dành cho đám đàn ông nhỏ nhen, hung bạo, chung hàng ngũ với những ông chồng gia trưởng, vũ phu, kiêu căng, hưởng thụ, khinh thường phụ nữ: Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi (Ga 8,7).
Và tôi tha thiết yêu Ngài và đi theo Ngài từ dạo ấy, Đức Giêsu, nhà giải phóng vĩ đại và Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót của cánh đàn bà chúng tôi.
4.   Đức Giêsu, người bạn tình nghiã (Ga 11,1-44)
Xã hội càng nhố nhăng, con người càng điên đảo thì tình nghiã càng thảm hại xuống cấp. Người ta không còn dễ gặp những tình bạn tri âm tri kỷ, huynh đệ sống chết có nhau, anh em thà khổ sở, thiệt thòi, chứ không chịu làm cá heo bỏ bạn.
Trầy da tróc vẩy giữa cuộc đời đầy lọc lừa, gian dối, chung quanh là những người lòng dạ đổi trắng thay đen tùy cơ hội, lợi nhuận, tiện ích, tôi như con vụ chóng mặt với tình đời, người đời, và cuộc sống ngày càng trở nên nặng nề, vô vị.
Tìm về nhiều tôn giáo, tôi cũng chỉ gặp những thiên chúa toàn năng nhưng rất  xa con người, những thượng đế thánh thiện nhưng con người không thể đến gần, chạm tới. Nhưng riêng ở Đức Giêsu, tôi gặp được Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Và con người tình nghiã của  Đức Giêsu đã đốn đổ tim tôi, và tôi muốn suốt đời  thuộc về Ngài.
Ngài đến với tôi cũng như những lần đã đến với gia đình hai cô Mácta, Maria và anh Ladarô ở làng Bêtania năm xưa ấy, và gia đình này đã trở nên gia đình thứ hai của Ngài suốt những năm tháng dong duổi truyền giáo.
Nhưng có lẽ lần cuối cùng trở về Bêtania khi nghe tin Ladarô đau nặng và qua đời là lần về đánh dấu tình nghiã sâu sắc nhất của Ngài dành cho gia đình, khi làm phép lạ cho Ladarô đã chết bốn ngày được sống lại.
Qủa thực, thái độ của Đức Giêsu đã biểu lộ một tình bạn vô cùng nghiã thiết. Nghiã thiết vì không bỏ bạn hữu trong thử thách, gian truân; không tỉnh bơ, phớt lờ, giả làm người xa lạ khi bạn sa cơ thất thế; không lạnh lùng làm như không quen thân, chưa từng gặp gỡ khi bạn bị nhiều người cô lập, tấn công; không tráo trở lật lọng hàm oan cho bạn để gỡ tội mình; càng không tàn nhẫn bán đứng bạn cho kẻ thù để kiếm lợi lộc riêng. Trái lại, tất cả những người Do Thái có mặt hôm ấy đều thấy Đức Giêsu khóc vì thổn thức trong lòng và xao xuyến (Ga 11,33), và họ nói với nhau: Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!.
Phải tình nghiã lắm mới có thể thương nhau đến cùng ở đường cùng » cuộc sống, bởi ở cây số cùng đường bế tắc này, người ta không còn mối lợi nào để chờ đợi ở nhau, mà chỉ còn khó khăn, nhiêu khê, phiền lụy; phải tình nghiã sâu đậm lắm mới có thể khóc, bởi chẳng mấy ai muốn khóc vì bồi hồi trước khổ đau của người khác, nhất là khi người khác hết thời, và vì lo lắng cho hiện tại đổ vỡ, tương lai đen tối của họ, như Đức Giêsu, con người tình nghiã đã khóc vì bồi hồi thương tiếc Ladarô và lo lắng cho cuộc sống sẽ khó khăn hơn rất nhiều của hai chị em Mácta, Maria, khi nhà vắng bóng trụ cột đàn ông.
Chiêm ngưỡng Đức Giêsu, con người tình nghiã, tôi nghe tim mình rộn ràng niềm vui, vì có Ngài là núi đá bền vững ân tình cho tôi nương náu khi đời bạc bẽo, xử tệ; có Ngài là bến bờ hy vọng, nguồn ủi an cho tôi nghị lực theo Ngài đi hết hành trình yêu thương.
5.   Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ bao dung, thương xót (Lc 23,39-43)
Tôi sợ lắm khi nghe dậy về hình phạt ngày sau trong hoả ngục, và run rẩy tưởng tượng cảnh phải ở với ma qủy đời đời trong một tình trạng chỉ toàn là ghen ghét, hận thù, bạo lực, mà nguời có tội đêm ngày và miên trường vĩnh cửu phải khóc lóc, nghiến răng.
Cũng vì sợ hình phạt hoả ngục dành cho người có tội, mà tôi đã tránh xa Giáo Hội, bỏ đức tin công giáo một thời gian rất dài, vì không chịu nổi những bài giáo lý sặc mùi đe doạ.
Để giải toả tâm lý khỏi mầu đen hoả ngục và án phạt đời đời dành cho người tội lỗi, tôi tìm đến một tôn giáo khác tuy có hình phạt theo nhân qủa, nhưng nhất định không kinh hoàng, khủng khiếp như hình phạt hỏa ngục đời đời của Kitô giáo, để rồi sau đó bước vào và ở lại với chủ thuyết duy vật vô thần: con người chỉ là vật chất, nên chết là hết, sẽ không có gì là tôi, của tôi tồn tại sau khi tôi chết. Dấu chấm hết gọn nhẹ, dễ thở, dễ chịu, vì không hứa hẹn hay đe dọa, không thiên đàng hay hoả ngục, không khen thưởng hay trừng phạt, cũng không nhân hay qủa gì sau khi tấm thân này trở về cát bụi.
Thế là tâm lý tôi ổn, tâm trí tôi yên, không còn bối rối, lo âu chuyện chết rồi đi đâu, lên thiên đàng hay xuống hoả ngục…
Cho đến một ngày, tôi khám phá mình đang lừa mình, đang cố tự đánh lạc hướng, đang tự phỉnh gạt, khi lương tri ngày càng dồn dập mách bảo: con người không chỉ là vật chất, nhưng còn có linh hồn bất tử, nên chết không hết, chết không là dấu chấm hết vô lý, vô duyên, vô nghiã, vô vị, bởi con người không thể vào đời một cách ngẫu nhiên, vô tình, vô tích sự, cũng như tiếng lòng hằng đêm trăn trở: con người không thể bị hủy hoại thành hư vô, bởi tâm hồn vẫn khắc khoải  hướng về một Đấng Thiêng Liêng là Cội Nguồn, Cùng Đích và sau cuộc sống này chắc sẽ có một cuộc sống khác.
Mùa Thương Khó cách đây bốn năm, tôi tìm lại đức tin đã bỏ quên hàng chục năm, khi nhận ra Đức Giêsu đã chết và sống lại để bảo đảm cho đời sống mai hậu của loài người. Nhưng điều quan trọng an ủi hơn cả chính là Ngài đã chết để xóa tội cho mọi người như Đấng Cứu Độ nhân hậu, từ bi, luôn thương xót, và đã sống lại như Thiên Chúa toàn năng đời đời vinh hiển.
Qua sự chết của Ngài, tôi an tâm chết mà không sợ bị nghiêm khắc luận tội, và nghiêm minh trừng phạt, vì Ngài đã sống và chết cho tôi, sống và chết vì tôi, sống và chết với tôi, không lẽ nào Ngài chịu thua những yếu đuối, sai sót của thân phận tôi bèo bọt, miễn tôi khiêm tốn xin Ngài dủ lòng thương xót tha thứ lỗi lầm, tội lụy và xin được cùng Ngài vào thiên đàng, như người gian phi bị đóng đinh với Ngài đã khẩn khoản nài xin: Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi! (Lc 23,42). Và chính anh gian phi đã không ngờ Đức Giêsu đã nghe và trả lời anh: Tôi bảo thật anh, ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng (Lc 23,43), cho dù trước đó không lâu, cũng từ Thập Giá loang máu, Ngài đã cầu xin Chúa Cha tha thứ cho tất cả mọi người: Lậy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm (Lc 23,34).
Và từ ngày đó, Đức Giêsu ban cho tâm hồn tôi ơn Bình An phục sinh, như đã ban cho các Tông Đồ sau khi sống lại, và dậy tôi sống ơn Bình An của Ngài bằng thương xót anh em, nhất là những anh em bé mọn, nghèo hèn, và cả những người ganh ghét, vu khống, tìm cách hãm hại, làm khổ mình, vì điều làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn tất cả chính là thương xót anh em như đời tôi hôm qua, hôm nay, ngày mai, cũng như đời sau sắp tới luôn được Thiên Chúa và anh em chạnh lòng thương xót (x. Mt 18,23-35), bởi chính Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa đã hứa Hạnh Phúc được Thiên Chúa xót thương cho những ai có lòng thương xót anh em mình (x. Mt 5,7).  
6.   Trái Tim rộng mở yêu thương của Thiên Chúa (Mt 20,1-16)
Tôi rất dị ứng khi ai đó gọi tôi là đạo mới, đạo theo để phân biệt người mới được rửa tội, mới theo đạo, mới gia nhập Giáo Hội với người đạo gốc, đạo dòng, đạo cha truyền con nối.
Nhớ những ngày đi xin học giáo lý tân tòng, đến đâu, gặp ai, tôi cũng bị tra tấn bởi những câu hỏi chẳng dễ nghe và không khuyến khích, động viên chút nào, như Học đạo để lấy chồng hả? Chắc đi đạo vì quen mấy cha, mấy sơ?, mà tuyệt nhiên không ai, kể cả những người dậy giáo lý đã hiểu khác hơn, đúng hơn lý do tôi xin đi đạo.
Tôi đi đạo vì một lý do duy nhất: Tôi say nắng Đức Giêsu, con người rất nhân bản, thân thiện, thương yêu, và Mái Nhà Thiên Chúa của Ngài luôn mở cửa đón hết mọi người. 
Những ngày học đạo, tôi thích nhất dụ ngôn thợ làm vườn nho (Mt 20,1-11), một hình ảnh Nước Trời, Nhà Thiên Chúa luôn rộng mở đón tiếp hết mọi người, và Thiên Chúa, ông chủ dễ thương lúc nào cũng vui vẻ mời gọi, năng nổ đi tìm và trân qúy, niềm nở đón tiếp từng người vào làm việc trong vườn nho của ông.
Nhưng điều thú vị, độc đáo nhất không ai ngờ ở ông chủ chính là với tất cả mọi người, ông đều ký một hợp đồng trả lương trọn ngày, nghiã là mức lương cao nhất, cho dù có người đã làm suốt ngày từ sáng sớm đến giờ đóng cửa vườn, có người từ mười hai giờ trưa, có người từ hai giờ chiều, lại có người chỉ mới vào làm chưa được một giờ. 
Chẳng thế mà cuối ngày, đến giờ trả lương, những người vào làm trước nhất tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, khi thấy những người vào làm sau chót được trả đầy đủ lương của một ngày làm. Nhưng rất tiếc, khi đến phiên, họ cũng chỉ lãnh như những người vào làm ở giờ chót lương của một ngày làm như hợp đồng đã thoả thuận. Thế là những người vào làm trước nhất này đã bất mãn phân bì và cằn nhằn ông chủ: Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt (Mt 20,12).
Và Thiên Chúa là ông chủ vườn nho đã trả lời: Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền đó sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuy ý định đọat về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức? (Mt 20,13-15).
Thiên Chúa của Đức Giêsu thật vô cùng quảng đại và Ngài đã không phân biệt, kỳ thị người đến trước, kẻ vào sau, đạo cũ, đạo mới, nhưng tốt bụng với tất cả mọi người và làm tràn đầy hạnh phúc tất cả những ai tin và đi theo Ngài.
        
Ước gì những tâm tình say nắng Đức Giêsu được ghi lại từ những chia sẻ chân thành trên biến thành tia nắng nhỏ luồn qua khe cửa những trái tim còn e ngại, rụt rè, những trái tim đã mệt mỏi vì thất vọng, những trái tim chưa sống đã vội già vì nhiều oan khiên để Tình Yêu Đức Giêsu có cơ hội sưởi ấm tim anh đã lạnh lùng, chữa lành tim em đầy thương tích, biến đổi chai đá tim tôi thành thịt, và cho tất cả chúng ta được chung nhịp đập của Trái Tim Đức Giêsu là Tình Yêu vô cùng và đến cùng, Trái Tim đã làm chúng ta say nắng Ngài là Tình Yêu. 
Jorathe Nắng Tím

THIÊN CHÚA BAN SỨC MẠNH

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 12, Thường Niên, Năm A  
Tin vào Chúa là tin vào tình yêu và sức mạnh của Chúa, bởi kinh nghiệm sống đức tin cho chúng ta biết mình rất yếu, và dễ đuốitrước nhiều thứ mãnh lực  của người đời và của thần dữ.
Ngôn sứ Giêrêmia đã không ngại cho mọi người biết: đời ngôn sứ không êm ả như giòng sông hiền hoà, nhưng sứ vụ nói với đời Lời Thiên Chúa luôn đặt ngôn sứ vào tình trạng khó khăn, tình huống không thuận lợi, và tình hình dường như lúc nào cũng nghiêm trọng, căng thẳng, như ở đây, trong bài đọc một, Giêrêmia đã vâng lời Thiên Chúa loan báo sự tàn phá sắp tới của vương quốc Giuđa, nhưng dân chúng, cũng như những người lãnh đạo, tất cả đều không tin, đúng hơn là không muốn tin lời tiên báo xui xẻo. Và Giêrêmia đã than thở với Thiên Chúa về nỗi đau bị loại trừ, cô lập, và nỗi buồn cô đơn của mình: Con nghe biết bao người vu cáo… và bạn bè thân thích đều rình rập xem con vấp ngã (Gr 20,10).
Đó cũng là số phận của người môn đệ Đức Giêsu, số phận bị người đời ghét bỏ, vu oan, truy lùng, tiêu diệt vì đi theo Đức Giêsu và làm chứng về Ngài: Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết » (Mt 10,17-18).
Vì thế, Đức Giêsu trong Tin Mừng đã trấn an các môn đệ, như người Thầy trấn an môn sinh, như người cha củng cố niềm tin của con cái mình: Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục(Mt 10,28), bằng cho thấy giá trị cao qúy của con người được Thiên Chúa dựng nên, cũng như vinh dự vô cùng lớn lao được làm con Thiên Chúa, khi so sánh: Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào, thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý muốn của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi (Mt 10,29). Và Ngài kết luận: Vậy anh em đừng sợ, anh em còn qúy giá hơn muôn vàn chim sẻ(Mt 10,31).   
Sở dĩ thế gian trở nên bãi chiến trường, ở đó sự dữ, sự ác làm con người đau khổ, vì tội lỗi và sự chết đã xâm nhập vào trần gian và lan tràn tới mọi ngườido một người là nguyên tổ loài người đã bất tuân lệnh truyền của Thiên Chúa. Cũng chính vì sự chết đã thống trị toàn thể nhân loại do tội của Ađam, mà hậu qủa là con người không còn thuần thảo trước Thiên Chúa, Đấng Chủ Tạo của mình. Đó cũng là lý do thế gian thù nghịch chính Đấng thương yêu, tạo dựng, gìn giữ mình, và không mệt mỏi chống báng, tiêu diệt những kẻ thuộc về Ngài, phụng sự Ngài và làm chứng cho Ngài.
Đứng trước thảm cảnh của nhân loại không còn ân phúc, tức mất hết ơn nghiã với Thiên Chúa, Đức Giêsu đã tự nguyện trở nên Ađam mớiđể nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết máy cho muôn người(Rm 5,15). Đó là then chốt sứ vụ Cứu Thế của Đức Giêsu mà thánh Phaolô đã trình bầy trong thư của ngài gửi giáo đoàn Rôma.
Thực vậy, được chọn làm ngôn sứ của Thiên Chúa, cũng như được kêu gọi làm môn đệ của Đức Giêsu, tất cả đều chung số phận bị thế gian ghét bỏ, vu khống, hãm hại, bởi sứ vụ của những người được tuyển chọn này là tiếp tay với Đức Giêsu để lan toả ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với nhân loại bị tội lỗi và sự chết thống trị. 
Để thực hiện sứ vụ được Thiên Chúa trao phó trong những hoàn cảnh thường không thuận lợi, thiết tưởng người môn đệ Đức Giêsu sẽ phải học với ngôn sứ Giêrêmia để luôn nằm lòng niềm xác tín: Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng. Vì thế những kẻ từng hại con sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con(Gr 20,11), cũng như tín thác tuyệt đối vào Lời Đức Giêsu: Anh em đừng sợ…(Mt 10,28), Vì Danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng ai bền chí đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát(Mt 10,22).
Jorathe Nắng Tím

BÚP BÊ NHỒI BÔNG CỦA BÉ


Mỗi dịp Noel, các học sinh thành phố có thói quen chuẩn bị những món quà Giáng Sinh để gửi cho các em bé nghèo ở vùng sâu vùng xa. Nhìn những gói qùa do chính tay các em gói, đóng thùng gửi đi với tình yêu chia sẻ, tôi thấy dậy lên  nỗi xúc động khôn tả và niềm vui tràn đầy hy vọng ở tương lai.
Tôi cũng tò mò quan sát những gói quà dễ thương, ăm ắp tình người và nhận thấy : không gói nào vắng bóng một búp bê xinh xinh hay một chú chó, chú mèo, chú gấu nhồi bông.
Tôi  tạm gọi chung là “búp bê” tất cả những người bạn “nhồi bông” khó rời của tuổi thơ, những anh Gấu, chị Mèo, em Beo trung thành luôn có mặt, không mấy khi chịu rời xa bé. Từ Á sang Âu, từ Pháp qua Mỹ, từ New York đến Sydney, đâu đâu tuổi thơ cũng ôm một chú Gấu, một búp bê  trừ những em bé sinh ra trong hoàn cảnh nghèo nàn, túng quẫn mà ngay cả nước gạo cũng không có để uống thay sữa, nói chi đến những Gấu, Chó, Búp Bê đưọc xếp vào hàng “xách tay” xa xỉ.
Búp Bê với bé là một người bạn thân tình, tri âm tri kỷ. Người bạn ấy :
1.   Biết tất cả về bé :
Với bé, không ai biết bé muốn gì, thích gì, buồn gì, nghĩ gì bằng Búp Bê, vì không ai ở gần bé bằng Búp Bê. Đàng khác, bé không kể cho ai, ngay cả cha mẹ tất cả những gì thuộc về bé. Đời sống của bé, Búp Bê biết hết rồi. Ngay cả bé mơ gì trong giấc ngủ, bé tin rằng Búp Bê cũng biết hết, vì Búp Bê ngủ sát bên bé mỗi đêm. Với bé, Búp Bê là  người biết hết mọi sự và bé có thể hỏi ý kiến Búp Bê về mọi vấn đề.

2.   Chăm chú lắng nghe bé:
Lắm lúc bé nói mà chẳng ai nghe, kể cả mẹ, vì mọi người mải mê lo chuyện riêng của họ; chưa kể nhiều lúc người lớn bỏ bé nằm một mình. Bé có cảm tưởng chuyện bé nói, điều bé kể không hấp dẫn, không lôi kéo chú ý của người lớn, bằng chứng là chẳng mấy người quan tâm. Chỉ có Búp Bê là dễ thương quan tâm lắng nghe bé. Không chỉ quan tâm thôi, mà còn yên lặng để bé nói cho đến hết những gì bé muốn nói. Bé biết không ai dễ thương bằng Búp Bê, vì Búp Bê luôn  nghe bé.

3.   Không bao giờ nóng giận, khó chịu với bé:
Mấy sáng nay, bé liên tục bị mẹ càu nhàu, khó chịu vì bé bú chậm làm mẹ mất thời giờ. Bé thương mẹ vì mẹ cho bé bú, nhưng bé không thích mẹ khi mẹ nổi nóng, làm mặt dữ với bé. Búp Bê của bé thì không dữ như mẹ. Búp Bê chẳng bao giờ biết giận dỗi bé, ngay cả khi bé lười không bú, làm reo không ngủ…

4.    Trấn an bé:
Bé rất sợ ở một mình, nhất là giữa đêm khuya  khi bé thình lình thức dậy không thấy mẹ. Bé tưởng tượng : nếu không có Búp Bê ở bên cạnh, chắc bé sẽ sợ đến chết được.

5.   An ủi, nâng đỡ bé:
Bé rất hay bị mẹ mắng vì không chịu bú sữa, lại không ngủ đúng giờ, chưa kể bé còn hay đái dầm nữa. Bị mẹ la, bé làm gì bây giờ, nên chỉ khóc thôi. Cũng may có Búp Bê an ủi, nếu không bé buồn đến chết được, vì chẳng có ai hiểu tại sao bé đã không bú, không ngủ...
Như thế, phần nào ta đã thấy vai trò khó thay thế của Búp Bê trong đời sống thơ ấu của em bé. Thực sự em cần Búp Bê và coi Búp Bê như bạn, như chị em, anh em song sinh. Ở đây ta cần lưu ý một điều: nhu cầu được lắng nghe, được quan tâm, được an ủi,nâng đỡ là nhu cầu chung của con người và em bé tuy còn bé nhưng  đã là một con người, nên có đủ những nhu cầu đó. Vì thế, nhu cầu có Búp Bê không chỉ dành cho các bé gái, mà cho cả  bé trai, chỉ khác một điều giữa trai – gái là hình dạng của Búp Bê. Các bé gái thích Búp Bê là người, các bé trai ưa Búp Bê bằng thú.
Kinh nghiệm nuôi con của nhiều cha mẹ cho thấy : rất khó tách con nhỏ ra khỏi Búp Bê của em. Đi đâu xa nhà mà quên mang theo Búp Bê là coi như con sẽ mất vui, khó ngủ…Búp Bê gắn liền đời sống của em bé và biến thành người bạn lý tưởng của em. Những đối thoại nghe được của em bé với Búp Bê càng cho ta thấy mức độ tin tưởng, tín nhiệm của bé dành cho Búp Bê của mình.
Ở đây, chúng ta nhìn nhận vai tró tích cực của Búp Bê trong đời sống của em bé khi cho em cơ hội trút bỏ lòng mình, giải toả ấn ức, xả bớt căng thẳng. Nó giúp em bé khám phá thế giới bên ngoài bằng tập diễn tả nội tâm cách tự nhiên, không sợ hãi, mặc cảm. Nó cũng đồng hành với em bé những bước đầu trong tiến trình tạo nhân cách qua tương quan.Và người ta có thể nói: Búp Bê là dàn trải của tâm hồn em bé.
Nhưng bên cạnh những điểm tích cực này, Búp Bê có thể đưa em bé đến tình trạng từ chối đối thoại với cha mẹ và những người khác. Em từ chối vì thấy mình không cần; bởi những nhu cầu tâm lý cần cho em  thì Búp Bê đã đáp ứng rồi. Vai trò của cha mẹ  trong đối thoại vì thế giảm bớt trầm trọng, nếu cha mẹ lơ là, ơ hờ không tìm dịp lắng nghe, nói chuyện với em.
Đối thoại là nhu cầu của em bé. Em có thể đối thoại qua ánh mắt, tay chân quờ quạng, đôi môi chúm chím, lắp bắp bi bô. Đối thoại giúp em ra khỏi mình để đến với người khác, hiểu người khác. Không có nhịp cầu đối thoại, em sẽ bị giam trong pháo đài cô quạnh, buồn chán là “cái tôi đặc sệt, ngộp thở”.Vì thế, cha mẹ không nên khoán trắng vai trò đối thoại cho Búp Bê vô hồn, vô cảm, vô tri mà quên nhiệm vụ xây nhịp cầu đối thoại với con cái của mình, mà hậu qủa tai hại có thể xẩy đến là biến em bé  thành một người lớn suốt đời “độc thoại”.     

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

HẠNH PHÚC ĐƯỢC BÌNH AN

    HẠNH PHÚC ĐƯỢC BÌNH AN
    Tác giả: Xuân Vui
   
Mỗi sáng thức dậy, tôi rất thích cảm giác ngồi nhìn những đóa hoa đang nở, nhâm nhi café và ngồi thưởng thức cuộc sống. Rất nhiều cảm giác khác nhau trong những buổi sáng tương tự như thế này. Nhưng nói chung những suy nghĩ thường hướng về con người xung quanh và những nhân sinh quan cuộc sống của họ. Như một người khách tham quan, tôi nhìn ngắm cuộc đời của họ và tìm hiểu những gì họ đang có và tôi luôn rút ra một kết luận: những con người luôn khao khát điều gì thuộc về tiền của, vật chất, danh lợi thì cuộc đời họ luôn bất an vì chính những điều ấy. Nỗi khao khát khiến họ luôn nỗ lực bằng mọi giá và trong số họ có người đạt được có người không nhưng dù kết quả thế nào tôi không cảm thấy họ đang hạnh phúc hay bình an. Có người vì ham làm Việt Kiều nên bị tan đàn sẻ nghé sau khi thành Việt Kiều, có người thì ham tiền bạc nên lựa chọn sự bất công và cuối cùng cũng không còn gì bao nhiêu, có người thì ham ông này bà nọ, ham được đứng trên cao, ham thích những ánh nhìn ngưỡng mộ và cuối cùng họ bị những điều ấy nhấn chìm. Cuộc đời có một sự sẻ chia rất công bằng đó là tiền bạc vì tất cả mọi người đều bảo rằng thiếu. sau tất cả những gian khổ của cuộc đời, hôm nay ngồi đây nhìn lại, tôi thấy hạnh phúc nó rất đơn sơ, một tình bạn đẹp có thể mang lại hạnh phúc, một tình nghĩa thủy chung trong tình vợ chồng cũng thế, một gia đình thuận hòa là hạnh phúc, anh chị em yêu thương nhau là hạnh phúc và nhiều, rất nhiều những điều hạnh phúc khác chẳng liên quan gì đến vật chất, tiền bạc hay danh lợi. Tôi đến nhà thờ, ngồi đối diện với Thiên Chúa không đọc kinh và cũng chẳng nói gì, đơn giản chỉ đến thăm, và nhìn ngắm thôi, nhưng cảm thấy rất bình an và hạnh phúc.
    Con người luôn mải mê và làm nô lệ cho những tham vọng của chính mình, đến khi giật mình nhìn lại thì đã cuối con dốc của cuộc đời, muốn thay đổi ư??? Không còn kịp nữa. Trong cuộc đời mình, tôi luôn tìm kiếm hai chữ bình an dù đôi khi phải trả giá nhiều, có thể đó là tiền bạc phải cho đi vì một lời kêu xin trợ giúp, có thể đó là thời gian và sức khỏe vì một công việc mà mình cảm thấy đó là một sứ mạng, nhưng tôi chưa phải suy nghĩ nuối tiếc khi nhìn lại. Sáng hộm nay, một sáng mùa hè, có nắng và trời xanh mây trắng, có tiếng chim hát ca và một ly trà ngon, cuộc sống dường như chậm lại và tôi, một kẻ vô công rỗi việc ngồi viết những dòng suy nghĩ vu vơ như một lời cảm ơn dâng lên: “Xin dâng lời cảm tạ…” đó là tất cả những gì tôi cảm thấy trong buổi sáng bình yên này.
Chúc mọi người một tuần mới nhiều niềm vui và hạnh phúc nhé. Yêu mọi người!!!


SINH NHẬT THÁNH GIOAN TIỀN HÔ


“Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1,5). 
Thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiền hô của Đức Giêsu không những được Thiên Chúa biết và thánh hoá, mà còn đượcThiên Chúa đặt tên trước khi sinh ra, như Tin Mừng Luca thuật lại: “Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy cha là Dacaria mà đặt cho em. Nhưng bà mẹ lên tiếng nói: “Không, phải đặt tên cháu là Gioan. Họ bảo bà: “Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả. Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết: “Tên cháu là Gioan. Ai nấy đều bỡ ngỡ” (Lc 1,59-63).
Gioan trong tiếng Do Thái có nghiã là Hồng Ân của Thiên Chúa. Đây là tên mà sứ thần của Thiên Chúa đã truyền cho Dacaria, cha của em bé  đang lúc dâng hương trong Đền Thờ của Đức Chúa”, vì ông thuộc hàng tư tế, và đã trúng thăm được vào dâng hương: “Bà Êlisabét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gioan” (Lc 1,13).
Được Thiên Chúa đặt tên là một hồng ân cao cả, lớn lao. Như chính tên Hồng Ân của  ông, Gioan đã được Thiên Chúa chuẩn bị từ muôn thuở để đón nhận hồng ân là Tiền Hô dọn đường cho Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, đồng thời là niềm vui cho mọi người, vì mọi người đều nhận trên cuộc đời ông “có bàn tay Chúa phù hộ” (Lc 1,66).
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, nên Dacaria, cha ông, và Êlisabét, mẹ ông, cả hai tuy đã lớn tuổi và không còn có thể sinh con vẫn được Thiên Chúa ban hồng ân làm cha mẹ. Sự việc này vượt qúa sức tưởng tượng của loài người, vì thế mà Dacaria, cha ông đã không dám tin, và  Dacaria đã “bị câm, không nói được, cho đến ngày các sự ấy xẩy ra” (Lc 1,20).
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, Gioan mới được hồng ân trở nên Tiền Hô của Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, như lời ca tụng Thiên Chúa của Dacaria, cha ông trong kinh Chúc Tụng: “Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa mở lối cho Người, bảo cho dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên” (Lc 1,76).
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, tiếng hô của Gioan, như lời chép trong sách ngôn sứ Isaia: “Hãy dọn đường cho Đức Chúa, sửa lối thẳng để Người đi, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người sẽ thấy ơn Cứu Độ của Thiên Chúa” mới được nhiều người lắng nghe.         
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, đám đông mới lũ lượt kéo đến xin Gioan làm phép rửa, khi nghe “ông rao giảng, kêu gọi mọi người chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3,3).
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, Gioan mới can đảm thực thi sứ mệnh làm chứng sự thật của ngôn sứ khi “khiển trách vua Hêrôđê vì đã lấy bà Hêrôđia là vợ của người anh” (Lc 3,19) để rồi bị tống giam và bị chém đầu sau đó (x. Mt 14,1-11).
Qủa thực, cả cuộc đời của  Gioan Tiền Hô là nguồn suối Hồng Ân không ngừng tuôn chảy: chảy từ cha mẹ trước khi thụ thai ông, và liên tục chảy dài trong suốt cuộc đời Tiền Hô, Ngôn Sứ cho đến giờ chết, khi đầu rời thân vì làm chứng cho sự thật, vì thi hành đến cùng và trọn vẹn sứ vụ Ngôn Sứ Thiên Chúa trao.
Nhưng điều quan trọng chúng ta cần học hỏi nơi thánh Gioan Tiền Hô, chính là tâm tình khiêm tốn biết ơn Chúa, tâm tình khiêm tốn phục vụ Chúa, tâm tình khiêm tốn sẵn sàng trở thành Của Lễ dâng Chúa.
Biết tên mình là Hồng Ân do chínhThiên Chúa chọn, thánh Gioan đã luôn khiêm tốn biết ơn Chúa, khi nhận mình “không đáng cởi quai dép cho Người” (Lc 3,16); biết đời mình là Hồng Ân do chính Thiên Chúa chuẩn bị, thánh nhân đã khiêm tốn phục vụ Chúa, bằng không giữ bất cứ sự gì (x. Mc 1,6), hay bất cứ môn đệ nào cho mình (x. Ga 1,35-40), nhưng tất cả dành cho Đức Giêsu Thiên Chúa. 
Chính Đức Giêsu đã công khai tuyên dương Gioan khi nói với đám đông về ông: “Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến” (Mt 11,7-10); biết sứ vụ của mình là loan báo Hồng Ân của “Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn” hằng tha cho dân Người hết mọi tội khiên (x. Lc 1,77-78), Gioan Tiền Hô đã khiêm tốn hiến mạng sống trong chốn lao tù làm Của Lễ tạ ơn Thiên Chúa. 
Thực vậy, cuộc đời thánh Gioan Tiền Hô là Hồng Ân, như tên Thiên Chúa đã chọn trước cho ngài, và suốt cuộc đời, thánh nhân luôn sống trong hạnh phúc được bao phủ bởi Hồng Ân, vì luôn “có bàn tay Chúa phù trợ”.
Lậy thánh Gioan Tiền Hô, xin cầu bầu cho chúng con biết sống tâm tình biết ơn Chúa và khiêm tốn phục vụ theo gương khiêm tốn với “khẩu hiệu ngôn sứ” của ngài: “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3,30).              
Jorathe Nắng Tím