Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2020

THIÊN CHÚA TỎ TÌNH

 

Người ta tỏ tình bằng nhiều cách khi yêu nhau. Người thì tỏ tình bằng lời nói, người khác viết thư, làm thơ, sáng tác nhạc. Cũng có người không viết, không nói, nhưng tỏ tình qua cử chỉ âu yếm, cưng chiều và hành động chăm sóc, quan tâm. Dù bằng cách nào đi nữa, hai người yêu nhau cũng háo hức tìm dịp tỏ cho nhau tình yêu mình dành cho đối tượng. Nếu không, tình ấy  dễ rơi vào  câm lặng để bất hạnh biến thành tình đơn phương, tình cô đơn, tình một chiều, tình đi hoài không tới…

Thiên Chúa yêu nhân loại và cũng tỏ tình với nhân loại, như hai người yêu nhau xúc động khi tỏ tình trước người mình yêu, và hạnh phúc được người yêu mở lòng  đón nhận lời tình ngỏ.

   Tạo dựng con người, Thiên Chúa tỏ tình với con người bằng chúc lành và đặt con người làm  chủ mọi loài trên mặt đất (x. St 1,28);  chọn một dân riêng, Thiên Chúa tỏ tình với Ápraham, tổ phụ của Ítraen bằng chúc phúc cho ông, và  cho những ai chúc phúc cho ông (x. St 12,2-3) ; trước nỗi thống khổ của Ítraen, Thiên Chúa đã tỏ tình thương xót  và sai Môsê đi giải phóng : Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng…Giờ đây, tiếng rên siết của con cái Ítraen đã thấu tới Ta ; Ta cũng thấy cảnh áp bức chúng phải chịu vì người Ai Cập. Bây giờ ngươi hãy đi ! Ta sai ngươi đến với Pharaô  để đưa dân Ta là con cái Ítraen ra khỏi Ai Cập (Xh 3, 7.9 -10).

    Trong Tân Ước, Thiên Chúa tỏ tình một cách « táo bạo » hơn bằng sai Con Một của Ngài xuống thế gian, mặc lấy thân phận phàm nhân, « sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự » (Pl 2,7-8), để chuộc tội  nhân loại.

     Trong chuyện tình giữa Thiên Chúa và con người, Thiên Chúa đã yêu con người trước và tỏ tình  với con người, như thánh Gioan đã diễn tả : « Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta » (1 Ga 4,10). Nói cách khác, Thiên Chúa đã  say mê và đi tìm con người ; đã « phải lòng » con người, vì « Thiên Chúa là Tình Yêu » (1 Ga 4,16), và « tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa » (1 Ga 4, 7).

   Chính Đức Giêsu đã  không ngừng  bầy tỏ tình yêu của Ngài đối với « đám đông lầm tha, vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt » (Mt 9, 36), với những người tật nguyền, đau bệnh, bị qủy ám (x. Mt 8,16-17) với người tội lỗi bị lên án, tẩy chay (x. Mt 9,19-13), với những mảnh đời bọt bèo, hèn mọn bị xã hội khinh chê, coi thường. Riêng với các môn đệ, nhiều lần Ngài bộc lộ  một tình yêu nồng nàn, sôi sục, như trước giờ chia tay lên đường chịu khổ hình và  đóng đinh vào thập giá. Trong giây phút thiêng liêng, dạt dào xúc động ấy, Đức Giêsu đã tỏ cho các môn đệ tình yêu vô cùng của Ngài khi nói với các ông : « Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương  của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình » (Ga 15,13).

    Còn lời tỏ tình nào cảm động và trìu mến hơn lời của Đức Giêsu vừa nói ? Còn giá trị, ý nghiã nào cao đẹp hơn ý nghiã và giá trị của một tình yêu sẵn sàng chết cho người mình yêu ? Nhất là khi giá trị và ý nghiã cao cả của tình yêu ấy được minh chứng ngay sau đó bằng việc làm sống động và cụ thể : giang tay chết trên thánh giá.

    Cũng với tình yêu cao cả, tuyệt vời của người đã tự nguyện chết cho người mình yêu, Đức Giêsu lại tỏ tình một lần nữa trước các môn đệ sau khi Ngài sống lại từ cõi chết :

  Bên bờ hồ Tibêria, sau khi chỉ cho các môn đệ : « Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá » và các ông đã vâng lời Ngài « thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá » (Ga 21,5-6), Đức Giêsu đã cùng ăn với các môn đệ. « Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi Simôn Phêrô : « Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ? Ông đáp : « Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy. » (Ga 21,15). Và liên tiếp ba lần, Ngài hỏi Phêrô với cùng một câu hỏi.

    Khác với những lần trước, lần này  Đức Giêsu tỏ tình với Phêrô, cũng là tỏ tình với các môn đệ có mặt bằng cách đặt câu hỏi, thay vì khẳng định tình yêu của Ngài dành cho các ông. Đây là cách tỏ tình rất quen thuộc ở những cặp đôi đang « say nắng » nhau, cách tỏ tình dễ thương, lãng mạn ở những đôi uyên ương  dưới trời hạnh phúc, khi anh chị thay vì thỏ thẻ : « Em yêu anh!», hay âu yếm thì thầm : « Anh yêu em ! » đã mượn câu hỏi : « Em có yêu anh nhiều không ? », « Anh có yêu em thật lòng không ? » như một lời tỏ tình nhẹ nhàng, tế nhị với niềm vui ngút ngàn vời vợi khi người tình khẳng định tình yêu  dành cho mình.

    Đức Giêsu hỏi Phêrô : « Anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không ? » trước hết để tỏ cho ông biết Ngài yêu ông rất nhiều, nhiều hơn các anh em khác, dù ông mới công khai chối không biết Ngài là ai, dù ông yếu đuối phản bội Ngài (x. Ga 18, 15-27), mà không lâu trước đó ông đã qủa quyết : « Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy » (Mt 26, 35) ; sau nữa, Ngài muốn công khai xóa mặc cảm tội lỗi cho ông, trước mặt anh em Tông Đồ, như ông đã công khai chối Ngài trước nhiều người trong sân dinh Thượng Tế, để ông được bình an trong tình yêu bao dung của Ngài khi trao cho ông quyền thay mặt Ngài coi sóc đoàn chiên.   

   Ở đây, chúng ta nhận ra một điểm khác biệt giữa Thiên Chúa và con người khi tỏ tình. Tuy cùng là tỏ tình, nhưng Thiên Chúa tỏ tình để trao ban, cứu giúp như Đức Giêsu tỏ tình với đám đông để cho đám đông được ăn no nê, dư dả ; tỏ tình với người quặt, đui mù để họ đi được và sáng mắt ; tỏ tình với người tội lỗi, yếu đuối để họ được trắng án, tha bổng, đổi mới, bình an, vững mạnh ; tỏ tình với người phản bội để họ tìm gặp đường về  và hăng hái dấn thân ; tỏ tình với toàn thể nhân loại để xóa tội và ban ơn cứu độ trong khi con người  tỏ tình với nhau chưa chắc đã vì hạnh phúc của nhau, mà có thể chỉ vì lợi ích riêng tư của bản thân mình, vì ích kỷ nghĩ cho mình hơn qủang đại quan tâm đến đối tượng mình yêu.  Hơn thế nữa, tuy cũng là tỏ tình, nhưng Thiên Chúa tỏ tình vì chung tình, khi yêu vô cùng và yêu đến cùng (x. Ga 13,1), trong khi con người  có thể đắm đuối tỏ tình rồi  hững hờ bỏ tình ngay sau đó.  

     Thực vậy, Thiên Chúa vẫn tiếp tục tỏ tình với con người, vì Ngài yêu con người đến cùng, cho dù con người có « thay lòng đổi dạ », nay yêu mai ghét, sớm tỏ tình, chiều phụ tình. Và vì yêu đến cùng, Ngài  cố tìm cho kỳ được cơ hội để con người nhận ra lời tỏ tình của Ngài, bằng đích thân nắn nót từng chữ rất thẳng trên những hàng kẻ cong  của đời mỗi người, với khao khát cháy bỏng là cũng  nhận được những tỏ tình đơn sơ, chân thành từ phiá con người.

    Vâng, lậy Chúa Giêsu ! Chúa đợi chờ chúng con tỏ tình với Chúa không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng việc làm sống động, cụ thể hướng đến tình yêu cao cả là chết cho người mình yêu. Chết cho người mình yêu là cách tỏ tình của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người. Đó cũng là cách tỏ tình Chúa dậy chúng con phải thực hiện mỗi ngày để « con người tự nhiên » được Ơn Chúa biến đổi  thành con người siêu nhiên, « con người phàm tục » được Máu Chúa  rửa sạch và thánh hoá thành  « con Thiên Chúa ». Bởi chỉ là con Thiên Chúa, con người mới biết tỏ tình với Thiên Chúa khi tha thiết gọi  Thiên Chúa « Ápba, Cha ơi ! » (Rm 8,15) ; chỉ con người được Chúa kéo lên  Thánh Giá với Ngài mới có thể trung tín đến cùng trong tình yêu và gan lì tỏ tình ngay cả trong lúc bị người yêu bỏ rơi,  bị người tình lạnh lùng ruồng bỏ, như chính Chúa ở giờ hấp hối trong « thân phận con người » đã thổn thức, nức nở tỏ tình với  Thiên Chúa Cha : « Lậy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ? » (Mc 15,34).   

    Xin cho chúng con suốt đời  sống « có tình » với Chúa, và liên lỷ « tỏ tình » với Chúa bằng cầu nguyện, hãm mình hy sinh, dấn thân phục vụ mọi người trong mọi hoàn cảnh vui buồn, thành công cũng như thất bại, nhục nhằn cũng như vinh quang, « lên » như diều trong vinh dự cũng như  « xuống » tận đáy sâu lầm than, cùng quẫn, vì bất cứ ở đâu và lúc nào Chúa cũng vẫn mãi trung tín và « tỏ tình » yêu thương con.

Jorathe Nắng Tím   

CÂY NHO

 

     Tin Mừng Mátthêu ghi lại nhiều dụ ngôn về vườn tược và người làm vườn : từ dụ ngôn người gieo giống, cỏ lùng, hạt cải (x. Mt 13,3-32) đến dụ ngôn thợ làm vườn nho (x. Mt 20,1-16), cây vả không ra trái (x. 21,18-22), những tá điền sát nhân (Mt 21,33-45. Và những hình ảnh sống động ấy cho chúng ta nhận ra tâm tình và ước muốn của Thiên Chúa đối với con cái Ngài. Trong số những hình ảnh ấy, Cây Nho là hình ảnh  quen thuộc trong Cựu Ước được Đức Giêsu thường  dùng để nói về chính mình.

1.     Cây nho là Dân Thiên Chúa của Cựu Ước:

     Thiên Chúa đã tuyển chọn  Ítraen làm dân riêng của Ngài,  như người chủ chọn cho mình cây nho tốt nhất :

 Mẹ ngươi giống cây nho được trồng bên dòng nước, qủa trĩu nặng, lá sum suê, nhờ mạch nước dồi dào. Nó trổ ra những cành vững chắc, thành những cây vương trượng ; thân của nó vươn cao lên tới tầng mây thẳm. Người ta nhìn thấy nó vì thân nó cao, cành lá um tùm (Ed 19, 10-11).

   « Gốc nho này, Chúa bứng từ Ai cập, đuổi chư dân, lấy chỗ mà trồng. Chúa khẩn hoang bốn bề quang đãng, cho bén rễ sâu và lan rộng khắp nơi » (Tv 80,10).  

    Với Thiên Chúa, Ítraen là cây nho qúy, và Ngài  chăm bón  cẩn thận,, nhưng cây nho « dân riêng » ấy đã phụ lòng yêu thương của Ngài, khi phản bội, xóa bỏ Giao Ước đã ký kết với Ngài, như lời than thở của Ngài từ miệng các ngôn sứ Giêrêmia, Isaia và Hôsê:

   « Còn Ta, Ta đã trồng ngươi như cây nho hảo hạng, cây nho thuần chủng. Sao ngươi lại thoái hoá thành những cây nho tạp chủng ? » (G 2,21), bởi vì « Người những mong họ sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu ; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than » (Is 5,7)

      Thật không còn gì đau khổ hơn cho người chủ vườn nho, khi « anh ra tay cuốc đất nhặt đá, giống nho qúy đem trồng, giữa vườn anh xây một vọng gác, rồi khoét bồn đạp nho. Anh những mong nó sinh trái tốt, nó lại sinh nho dại », để phải than thở, tiếc nuối khôn nguôi : « Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm ? Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại ? » (Is 5,2.4).

2.     Cây Nho là Giáo Hội của Tân Ước :

    Trong Tân ước, Đức Giêsu lấy lại hình ảnh Cây Nho để diễn tả  tương quan mật thiết giữa Ngài và Giáo Hội. Theo Ngài, Chúa Cha vẫn là người chủ vườn, nhưng từ nay, Cây Nho chính là Ngài. Ngài là Cây Nho mà các ngành nho phải kết hiệp để được « sống và sống dồi dào» (Ga 10,10), và  sinh nhiều trái ngon ngọt.

    Thánh Gioan đã ghi lại thật rõ lời Đức Giêsu khi nói về Cây Nho : « Thầy là cây nho thật. Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi ; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tiả cho nó sinh nhiều hoa trái hơn...» (Ga 15,1-3).

  Như thế, mỗi người Kitô hữu được Thiên Chúa mời gọi tháp nhập đời mình vào Đức Giêsu, « cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho », như Đức Giêsu đã cảnh báo : « Anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy » (Ga 15,4), vì « Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được » (Ga 15, 5).

  Ở đây, chúng ta bị đặt trước một vấn nạn : Tại sao đang là cành  gắn liền với cây mà vẫn bị chủ vườn chặt đi ? Tại sao cành vẫn liền  cây, mà cành lại không sinh hoa trái, đến nỗi bị  đốn bỏ, quăng ra ngoài, khô héo đi và người ta ném vào lửa cho cháy ? (x.Ga 15,6). Nói cách khác, nếu đã là người Kitô hữu, tức thuộc  hàng ngũ những người đi theo Đức Giêsu Kitô, thì sao còn chuyện bị loại trừ, sa thải, chặt đứt phăng, và  « quăng ra ngoài » ?

   Thưa, đòi hỏi của ông chủ vườn chính là các cành phải « sinh nhiều hoa trái » (Ga 15,5), vì ông chủ muốn như thế, nên cành nào không cho trái thơm ngon, như cây vả lười biếng không cho trái sẽ bị chặt đi.

    Chính vì muốn các cành  nặng trĩu qủa, mà ông chủ vườn không chỉ vun xới, tưới nước, bón phân mà còn phải « cắt tiả cho nó sinh nhiều hoa trái hơn» (Ga 15,3). Ông chủ không thể để các cành lớn lên bừa bãi, nhưng ông biết phải làm gì để các cành cho nhiều qủa ngon, trái ngọt. Ông còn chăm chút, kiên nhẫn  vạch từng chiếc lá để tìm sâu, bởi có những con sâu lẩn trốn dưới khe lá để cắn đọt non, làm hư hoa qủa.    

  Bên cạnh công việc « cắt tiả, chăm bón » của ông chủ là nghiã vụ của cành nho, nghiã vụ « ở lại trong cây nho ». « Ở lại » là động tự rất quan trọng Đức Giêsu thường dùng để nói lên sự hiệp nhất giữa người Kitô hữu và Ngài, như các chi thể trong một Thân Thể duy nhất. Nhưng « ở lại » như thế nào với Cây để không bị cắt đi và ném ra ngoài, như cành nho khô héo ?

  Trả lời câu hỏi trên, Đức Giêsu minh định : « Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người » (Ga 15,10). « Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em » (Ga 15,12).

   Như thế, điều kiện để cành nho sinh nhiều trái ngon  tuyệt hảo chính là giữ giới luật Yêu Thương của Thiên Chúa, như những người sẽ  « được Thiên Chúa chúc phúc » ngày phán xét chung. Họ được đi thẳng vào lòng Thiên Chúa yêu thương, vì suốt đời họ đã yêu thương đồng loại, xót thương người anh em khốn khó, bần hàn, cơ nhỡ, bị bỏ rơi, bởi phần thưởng đời đời và tuyệt hảo của những ai yêu thương anh em  chính là Thiên Chúa yêu thương họ (x. Mt 25, 31-46).

    « Điều kiện tất yếu » trên cũng là khẳng định không thể chối cãi về môt sự thật đau lòng, như sự thật Ítraen, Cây Nho qúy của Thiên Chúa Giavê đã cho những trái nho dại,  đó là có nhiều người Kitô hữu, tuy mang danh « thuộc về cây Nho Đức Kitô » nhưng không để mình được nuôi dưỡng bằng nhựa Yêu thương của Đức Kitô ; có những người mang tên môn đệ Đức Kitô nhưng không sống  sự sống của Đức Kitô giầu lòng thương xót ; có một số không nhỏ những người gắn trên áo nhiều phù hiệu  lóng lánh « người có đạo », nhưng bước đi như người mù, không bám gót Đức Kitô là Đường ; có không ít  dáng dấp « đạo gốc, đạo dòng », kể cả chức sắc, quan viên trong cơ chế đạo, nhưng không mấy ai nhận ra ở họ dung mạo  bao dung,nhân từ,  thương xót của Đức Kitô, Đấng đến để yêu thương và cứu độ.  

      Sở dĩ  người Kitô hữu chỉ « sinh nhiều hoa trái », chỉ « sống và sống dồi dào » trong Đức Giêsu là Thiên Chúa Tình Yêu, vì họ được sinh ra từ Đức Giêsu, như Ngài đã nói với ôngt Nicôđêmô : « Thật, tôi bảo thật ông : không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên » (Ga 3,3). Đó chính là lý do người  sinh ra « bởi Nước và Thần Khí » của Đức Kitô được  mang tên  « Kitô hữu », tức người được Đức Kitô sinh ra, người mang Đức Kitô, người sống sự sống của Đức Kitô, người tháp nhập đời mình trong Đức Kitô, mà  bằng chứng hùng hồn  cũng như dấu chỉ chắc chắn để biết ai là người Kiô hữu đích thực, chính là họ cùng Đức Kitô  yêu thương và phục vụ anh em mình.

      Tóm lại, Đức Giêsu mới thực sự là Cây Nho qúy giá của Thiên Chúa Cha để nhân loại được tháp nhập vào Ngài, hầu được sống dồi dào và sống đời đời. Ở ngoài Đức Giêsu, hay ở với Đức Giêsu nhưng không yêu thương, phục vụ như Đức Giêsu, chúng ta đều rơi vào tình trạng bị khô héo  dẫn đến nguy cơ bị ông chủ vườn nho là  Thiên Chúa Cha chặt bỏ, quăng ra ngoài, và  « người ta nhặt lấy, ném vào lửa cho nó cháy đi » (Ga 15,6).

       Ước gì mỗi người Kitô hữu đều trở thành những cành nho, dù  to hay bé, lớn hay nhỏ, cao hay thấp, nhưng luôn « ở lại trong tình thương » của Đức Giêsu, bằng giữ giới luật Yêu Thương của Ngài. Cụ thể là vui vẻ đón nhận vị trí Chúa đặt, vui tươi phục vụ mọi người Chúa gửi đến, và vui lòng thay đổi nơi chốn, sứ vụ đặc thù khi Chúa muốn, như cành nho hoàn toàn  tháp nhập vào cây nho, như người đầy tớ trung tín hoàn toàn lệ thuộc, yêu mến, vâng phục và thiết thân gắn bó với chủ mình (x. Mt 25,45-47).

Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

NHÀ THIÊN CHÚA CỦA MUÔN DÂN

 

                    Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 20 Thường Niên, Năm A

Trước khi Đức Giêsu đến trong thế giới, Itraen, dân riêng được Thiên Chúa chọn với tổ phụ Ápraham giữ một vị thế “độc tôn” Giavê Thiên Chúa, độc quyền tôn giáo thờ một Thiên Chúa duy nhất giữa các tôn giáo đa thần. Tính ưu việt và ưu thế “dân riêng của Thiên Chúa” vừa là niềm kiêu hãnh của Ítraen, nhưng cũng là cớ cho các quốc gia lân bang và các tôn giáo khác ganh ghét, gây hấn, tấn công.

Thực ra, Cựu Ước đã loan báo: ơn Cứu Độ của Thiên Chúa là ơn phổ quát hướng đến muôn dân, muôn nước, và không giới hạn ở biên giới Ítraen, không co mình cố thủ ở Giêrusalem, như ca khúc tạ ơn của thánh vịnh 65 : “Cả trái đất hãy tung hô Thiên Chúa, đàn hát lên mừng Danh Thánh rạng ngời. Muôn dân hỡi, hãy chúc tụng Chúa chúng ta, trổi vang lên lời tán dương, chúc tụng Người” (Tv 65,1-2.8). Ngôn sứ Isai cũng tuyên sấm vinh dự được làm tôi tớ Thiên Chúa của những người ngoại quốc, không thuộc dân Ítraen : “Người ngoại bang nào gắn bó cùng Đức Chúa để phụng sự Người và yêu mến Thánh Danh cùng trở nên tôi tớ của Người » (Is 56,6). Và tất cả “đều được Ta dẫn lên núi thánh và cho hoan hỷ nơi nhà cầu nguyện của Ta. Trên bàn thờ của ta, Ta sẽ ưng nhận những lễ toàn thiêu và hy lễ chúng dâng, vì nhà của ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân” (Is 56,7).

Trong Tân Ước, Đức Giêsu đến và Ngài đã loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho tất cả mọi dân tộc, và trong suốt hành trình rao giảng, Ngài luôn quan tâm, và tỏ lòng trân trọng, yêu mến những người ngoại giáo, tức những người không thuộc dân riêng Ítraen.

Tin Mừng Matthêu kể lại câu chuyện người đàn bà ngoại đạo xứ Canaan “lẽo đẽo, lèo nhèo” van xin Đức Giêsu  chữa con gái bà “bị qủy ám khổ sở lắm!” (Mt 15,22). Thái độ “qúa nhây” của bà đã làm các môn đệ của Đức Giêsu bực bội, khó chịu, khi các ông lại gần và xin Đức Giêsu: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo chúng ta mà kêu mãi!” (Mt 15,23).

Và chúng ta thật bất ngờ với phản ứng xem ra mâu thuẫn của Đức Giêsu, khi Ngài nói với bà: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Ítraen”, rồi còn nặng lời hơn khi bà cứ năn nỉ ỉ ôi xin Ngài dủ lòng thương chữa con bà : “Không nên lấy bánh dành cho con cái mà ném cho lũ chó con” (Mt 15,24.26).     

Những lời trên của Đức Giêsu qủa sẽ làm đắng lòng người đàn bà ngọai đạo, và làm chúng ta sốc nặng, nếu không đặt mình vào bối cảnh giai đọan đầu của hành trình rao giảng, khi Đức Giêsu phải đối mặt và đối phó với  não trạng “dân riêng” rất nặng nề do tính ưu việt, biệt lập và nhiều ảo tưởng “kiêu căng” khác của dân tộc được Chúa chọn trong tâm thức và đời sống của họ. Vào thời đó, và ở bước đầu trên hành trình loan báo Nước Trời phổ quát cho các dân tộc, Đức Giêsu cần một thời gian và áp dụng sư phạm đặc biệt của Ngài để dần dà giúp dân Do Thái hiểu được rằng để  tin thờ Thiên Chúa chân thật, người ta sẽ không nhất thiết phải tuân giữ những tập tục dành riêng cho người Do Thái, như giáo quyền đạo Do Thái bó buộc, bởi “đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem… Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật” (Ga 4, 21.23).

Đức Giêsu đã nói điều trên với người đàn bà ngoại đạo ở Samari, cũng như nói với nguời đàn bà ngoại đạo xứ Canaan, sau khi thử thách lòng tin của bà: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (Mt 15,28).

Bà muốn Ngài làm phép lạ chữa con gái bà khỏi qủy ám, và “từ giờ đó, con gái bà được khỏi” (Mt 15,28).

Như thế, khi đặt vấn đề một cách có vẻ “mâu thuẫn, gây sốc nặng”, Đức Giêsu đã không làm giảm bớt tính phổ quát của Nước Trời, Nhà Thiên Chúa cho muôn dân là giáo lý Ngài đang rao giảng, cũng không phân biệt, kỳ thị người ngoại đạo. Trái lại, đây là cách làm nổi bật ơn Cứu Độ phổ quát cho muôn dân, là cơ hội công khai ra khỏi pháo đài dân riêng để mở cửa Nước Thiên Chúa cho các dân tộc, mà đòi hỏi căn bản, thiết yếu không còn là những luật lệ, tập tục, nghi thức, nhưng là Tin vào Đức Giêsu Kitô, như thánh tông đồ dân ngoại đã viết: “Các dân ngoại không tìm cách để được nên công chính, thì được nên công chính, mà được nên công chính nhờ đức tin. Còn dân Ítraen tìm một luật làm cho họ nên công chính thì lại không đạt tới Luật đó. Tại sao thế? Tại vì họ không tìm cách nên công chính nhờ đức tin, nhưng nhờ việc làm” (Rm 9,30-32).     

Xin cho đức tin của chúng ta được mạnh mẽ như đức tin của người đàn bà ngoại đạo xứ Canaan, và cùng với bà, chúng ta ca ngợi Tình Yêu bao la của Thiên Chúa và dâng lời cầu nguyện: “Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin toả ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Người” (Tv 66,2-3).

Jorathe Nắng Tím

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

NỤ CƯỜI CỦA BÉ


Em bé mỉm cười là bức vẽ đẹp nhất  họa sĩ có thể vẽ, là hình ảnh sống động nhất nhạc sĩ có thể viết thành nhạc, là tâm tình thánh thiện nhất  thi sĩ có thể dệt nên thơ, là hạnh phúc tuyệt vời nhất cha mẹ  được lãnh nhận, và là giấc mơ thần tiên nhất loài người có thể  kiếm tìm.
Em bé mỉm cười khi miệng vừa buông đầu vú, lăn ra ngủ. Em bé mỉm cười khi mẹ ôm bé ru à ơi. Em mỉm cười để biểu lộ niềm vui được yêu thương, hạnh phúc được bảo vệ, che chở an toàn. Hai tháng tuổi, em đã chúm chím cười như muốn chào mọi người đang quây quần chiêm ngắm em. Nụ cười rất xã hội… Tám tháng tuổi, em biết chọn người, chọn lúc để  cười. Gặp người lạ, em khóc; gặp chuyện không vừa ý, em nhăn mặt. Và em chỉ cười với người thân, khi em  hài lòng. Thỉnh thoảng mẹ lấy tay xoa bụng, thọc léc, em sung sướng cười vang, chân tay múa máy. Nụ cười của em đem lại hạnh phúc cho cả nhà và gia đình rộn rã một niềm vui qua tiếng em cười.
Qủa thực nụ cười của em vượt xa mọi vẻ đẹp, vì đó là quà tặng đẹp nhất của Thượng Đế dành  cho nhân loại. Chỉ cần nhìn em cười, hận thù trong lòng  chìm xuống và đau buồn nhẹ vơi đi. Em cười cho thế giới già nua tươi trẻ lại; cho băng tuyết bon chen, ganh ghét , kiêu căng tan đi; cho những tính toán ích kỷ, lừa lọc lui vào góc nhỏ; cho vất vả, nhọc nhằn theo gió quyện vào hương lúa ngọt tình yêu.
Nụ cười của em vượt xa mọi hy vọng, vì là chià khoá  mở cửa mọi tâm hồn. Có ai cầm lòng khi em cười chia sẻ và tim nào dám chai đá, lì lợm trước nụ cười  bé nhỏ, non nớt nhưng an bình của em. Nét trinh trắng nguyên thủy trên bờ môi vừa nhoẻn đã biến đổi nhiều lương tâm, cuộc đời vì nụ cười của em là sứ điệp tinh tuyền, trong sáng nhất của Tình Yêu.
Và mỗi ngày, từng bước, nụ cười thơ  ngây ấy đang đi vào lịch sử và biến thời gian thành những chấm nhỏ của niềm vui. Em vui cho người người vui và em cười cho ngày nào cũng là ngày tạo dựng mới, vừa mới được tạo dựng.
Xin hãy cho nụ cười của em được tươi nở. Đừng dập tắt nụ cười thiên thần đang cầu xin ơn cứu độ cho mọi người.
Xin hãy cho nụ cười của em được có mặt. Đừng lấy đi khỏi bờ môi nụ cười thơ ngây đang cầu xin ơn hồi sinh cho nhân loại.
Xin hãy cho nụ cười của em được rong chơi trên vùng đất người. Đừng xua đuổi nụ cười bé bỏng đang cầu xin sự sống  ấy vào vùng tử địa.
Xin hãy cho nụ cười của em được sinh sôi nẩy nở. Đừng giết chết nụ cười  xinh xắn đang nuôi lớn mầu nhiệm  của Lời đã hứa từ ngàn xưa cho nhân loại.
Và mãi mãi nụ cười của em sẽ là HẠNH PHÚC của cha mẹ, NIỀM VUI của gia đình, HY VỌNG của nhân loại, VINH QUANG của Thượng  Đế.   

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2020

HUẤN LUYỆN CON TỰ LẬP


Một trong những niềm vui lớn của cha mẹ và của cả nhà là những lúc bé chập chững đi. Cả gia đình bao quanh bé, người vỗ tay tán thưởng, người hò hét khích lệ. Ai cũng đóng góp niềm vui để giúp bé bước thêm một bước. Ai cũng góp chung hy vọng cho bước chân của bé mỗi ngày thêm vững hơn. Và hạnh phúc của mọi người là thấy bé bước đi một mình.
Đi được một mình là ước mơ của cha mẹ và mọi người khi em bé tập đi. Đó cũng là hình ảnh của ước mơ lớn nhất, và sau cùng của cuộc đời làm cha mẹ khi mong cho con chóng lớn và tự lập được trong đời. Tự lập là tự mình đứng vững trên đôi chân mình. Tự lập là tự mình bước đi bằng đôi chân mình. Tự lập là không còn cần tay vịn, người khác dắt đi, hay phải bồng ẵm.
Vì thế, nỗi lo âu của cha mẹ có con cái tàn tật là không biết sau này khi mình không còn có mặt trên cõi đời này nữa, thì ai sẽ là người lo cho con, vì con không thể một mình bước đi trên đường đời, và không thể tự lập trong cuộc sống . Nỗi khổ ấy sẽ đeo đẳng những cha mẹ này cho đến chết…Với những cha mẹ bình thường khác, chuẩn bị cho con cuộc sống tự lập là mục đích của giáo dục và đích tới của  ước mơ.
Người ta có thể chuẩn bị cho con nhiều thứ như nhà cửa, tiền bạc, nghề nghiệp… Có những đứa con được cha mẹ chuẩn bị cả chồng, vợ tương lai. Tục “tảo hôn”: lấy chồng, cưới vợ cho con khi tuổi còn qúa nhỏ đã nói lên điều này. Tất cả chuẩn bị cho ngày con đứng một mình, “ra riêng”, tự xoay xở.
Nhưng những chuẩn bị đó tuy quan trọng nhưng không thay thế những  chuẩn bị tâm lý quan trọng hàng ngàn lần hơn. Đó là chuẩn bị cho con tinh thần trách nhiệm để biết nhận trách nhiệm trước gia đình, xã hội khi tự trách nhiệm đời mình và trách nhiệm trên những người thuộc về mình. Trách nhiệm là ấn dấu của người trưởng thành. Người không trách nhiệm không thể là người trưởng thành, vì trưởng thành là đứng được một mình, tự quản, tự quyết, tự lập. Trách nhiệm đời mình là biết mình là ai, có vai trò nào trong cuộc đời và đâu là ý nghiã, mục đích của cuộc sống? Trách nhiệm là tự mình trả lời về mọi chọn lựa, việc làm của mình và tự mình gánh vác những hậu qủa của lựa chọn và hành động đó. Người có trách nhiệm không lệ thuộc người khác, mặc dù luôn cần người khác tương trợ. Người có trách nhiệm không đổ lỗi cho người khác, mặc dù luôn cần cộng tác với mọi người. Người có trách nhiệm không dựa vào người khác, mặc dù luôn tin tưởng, tín nhiệm ở mọi người. Người có trách nhiệm không lợi dụng người khác, mặc dù luôn nhận người khác là thầy, là bạn.
Đào tạo cho con sau này trỏ thành người có trách nhiệm là tập cho con bước đi trên đôi chân của  chính mình, chứ không để con mãi bước trên đôi chân của cha mẹ. Có nhiều cha mẹ giầu có nghĩ rằng: chẳng việc gì con cái phải tự lo, tự lập, vì chúng đã sẵn có gia sản kếch sù mình để lại và có sống đến đời cháu chắt, của cải ấy vẫn còn. Những cha mẹ ấy lại một lần nữa lầm lẫn sự trưởng thành của con người chỉ hệ tại ở khả năng vật chất. Họ đã quên hay không biết rằng: sự trưởng thành  hệ tại ở tinh thần tự lập; nói đúng hơn là tình trạng “ tự lập của tinh thần”. Ngôn ngữ tâm lý của tình trạng tự lập tinh thần thường được phiên dịch là  tinh thần trách nhiệm. Bởi cả hai đi đôi với nhau: không thể tự lập, nếu thiếu trách nhiệm; cũng như không thể trách nhiệm, nếu còn lệ thuộc, chịu sự bảo hộ của người khác.
Như em bé cố gắng tập đi từ một tuổi, cha mẹ cũng tập cho con tự lập từ bé bằng những cố gắng nho nhỏ  của cả hai bên: cha mẹ và em bé:
a.   Cha mẹ cố gắng ghìm mình đừng làm hết mọi việc cho con, vì quá thương con, nhưng để em tập đương đầu với những khó khăn mà em có thể tự mình giải quyết. Can thiệp bất cứ lúc nào khi con cần là không giúp con tập tự mình giải quyết những khó khăn sau này. Thói quen ỷ lại sẽ lớn dần và sau này khi đã lớn, em  sẽ không tự lập và tự trách nhiệm được.
b.   Có những rủi ro mà cha mẹ phải để con tự mình đối phó để con biết động não, biết huy động ý chí để vượt qua. Ngăn chặn và tránh cho con mọi rủi ro trong cuộc đời là điều không thể có. Vì không thể có, nên cha mẹ phải tập cho con ngay từ nhỏ lòng can đảm để  dám đối diện với rủi ro.
c.     Chấp nhận mất thời giờ khi để  con tự làm một số việc trong khả năng của con, nghiã là không vì sợ mất thời giờ của mình mà làm hết mọi việc thay con.
d.   Trao cho con công tác và tin vào khả năng thực hiện tốt công tác của con.
e.    Để con hoàn thành một mình từ đầu đến cuối công việc của con và chỉ cho con ý kiến khi được hỏi.
f.     Dậy con biết vui vẻ chấp nhận thành qủa cũng như hậu qủa không như ý của mọi công việc do mình chọn và thực hiện.
Với những hướng dẫn mang tính thực hành trên, cha mẹ sẽ dần dần giúp con tự lập, khởi đầu trong những việc nhỏ và chọn lựa dễ, sau sẽ lớn hơn, khó hơn, hầu giúp em không bỡ ngỡ, sợ sệt khi phải một mình chọn lựa và quyết định sau này trong đời sống.
Phương châm của giáo dục là : không có gì không cần được chuẩn bị, tập tành. Tự lập là bước rất quan trọng để đạt tới trưởng thành, nên càng cần được chu đáo chuẩn bị và chuyên chăm tập tành. Cha mẹ thương con, không chỉ thương cho ăn cho mặc, mà con cho con khả năng tự lập, tự trách nhiệm cuộc đời mình.
Và hạnh phúc đích thực của con cái, như em bé đang tập đi là đứng vững một mình và đi được một mình giữa tiếng reo hò vui mừng, sung sướng của cha mẹ và  mọi người.         

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

NGƯỜI KITÔ HỮU TRƯỚC SỨ VỤ

 

Rất nhiều người Công Giáo rơi vào tâm trạng bối rối, không biết phải làm gì và bắt đầu từ đâu, mặc dù ý thức rất rõ và xác tín rất vững chỗ đứng Kitô hữu của mình. Có thể vì chưa gặp được ở Giáo Hội bầu khí gia đình, chưa được các Đấng Bậc và anh em trong gia đình Giáo Hội  nhiệt tình đón nhận và ân cần hướng dẫn, đồng hành; hoặc do những gương mù gương xấu trong Giáo Hội làm hốt hoảng, hoang mang. Tình trạng này là nguyên nhân gần đưa đến thái độ bàng quan, lối sống vật vờ, thờ ơ, không tha thiết đến sứ mệnh của người Kitô hữu, cũng chẳng trăn trở, thao thức, quan tâm đến công việc chung, hay những khó khăn, thách đố của Giáo Hội trong sứ vụ loan báo Đức Giêsu cho thế giới hôm nay.

Gần gũi chia sẻ với nhau, chúng ta thương nhau hơn là trách móc, vì hầu hết chúng ta đều muốn đóng góp xây dựng, mở mang Nước Chúa; đều sẵn sàng hy sinh phục vụ; đều có khả năng và nhiệt tâm cống hiến cho việc nhà Chúa. Nhưng sở dĩ  không có nhiều cơ hội “thi thố”, vì chúng ta chưa chuẩn bị cho mình hành trang cần thiết, mà thường chỉ được huy động cho từng công việc riêng lẻ, từng phong trào nhất thời, và chưa được đào tạo để trở thành những Kitô hữu thực sự trưởng thành có đủ điều kiện, đức tính nhân bản và siêu nhiên để gánh vác trách nhiệm của người giáo dân trong Giáo Hội.   

Trước nhu cầu phải có một hành trang cần thiết, người viết mạo muội đóng góp một vài suy tư:

Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng” của Công Đồng Vaticanô II minh định và không ngừng xác quyết: Giáo Hội được mời gọi bằng hết sức lực của mình thực hiện ba đòi hỏi quan trọng là loan báo Tin Mừng, Cầu Nguyện và Đối Thoại để giật sập những bức tường ngăn cách con nguời với con người, và con người với Thiên Chúa, bởi trong chương trình đời đời của Thiên Chúa, toàn thể nhân loại được kêu gọi quy tụ để làm thành một dân mới của Thiên Chúa (x. Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân 13), bởi chỉ trong sự hiệp nhất được chúc phúc này, con người mới thực sự hạnh phúc vì được chữa lành, nuôi dưỡng, và củng cố ngày thêm vững mạnh.

1.   Loan Báo Tin Mừng:

Đòi hỏi thứ nhất và quan trọng nhất là loan báo Tin Mừng. Tin Mừng là Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, Đấng “là Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14,6), nên bao lâu Lời Chúa chưa được  loan báo, lắng nghe và đón nhận như sự sống và ánh sáng của đời mình, bấy lâu chúng ta còn chơi vơi, lạc lõng, yếu nhược, vì bỏ quên Lời Chúa, không người Kitô hữu nào có thể vững bước  trên đường theo Chúa phục vụ anh em.

Ở đây, chúng ta đừng quên một điều rất quan trọng, đó là người tín hữu không chỉ loan báo, nhưng đồng thời phải lắng nghe, và đón nhận Lời Thiên Chúa. Bổn phận loan báo đi đôi với nghiã vụ lắng nghe, đón nhận, vì cả hai đều quan trọng như nhau. Nhưng loan báo và đón nhân Lời Chúa thế nào?

Thưa, loan báo và đón nhận Lời Chúa không như  lời người phàm, nhưng như lời Thiên Chúa, đúng theo bản tính của lời ấy (1 Tx 2, 13). Không như lời người phàm, nên khi loan báo cũng như khi lắng nghe, đón nhận, chúng ta chỉ loan báo và lắng nghe lời nào thuộc về Thiên Chúa, lời nào của Thiên Chúa, vì “Lời đó tác động nơi anh em là những tín hữu” (1 Tx 2,14), như thánh Phaolô đã khẳng định.

Sở dĩ chúng ta chỉ quan tâm loan báo và lắng nghe, đón nhận Lời Chúa, vì Lời ấy ban sự sống đích thực, ban ơn sủng dồi dào, nên khi Lời được loan báo, thì chắc chắn Lời hằng sống ấy ban sự sống; và khi lắng nghe, đón nhận Lời Thiên Chúa, nguồn mạch mọi ơn sủng, thì ơn sủng tuôn đổ dồi dào, để chúng ta được thánh hoá, đổi mới, đón nhận ơn bình an.

Xác định được điều này, chúng ta không còn sợ hãi, hoang mang khi có người thay vì giảng lời Chúa như sứ vụ đòi hỏi  lại chỉ nói lời của phàm nhân, bởi chúng ta biết lời nào mình cần quan tâm lắng nghe, và lời nào không nên để lọt tai, bởi chính Lời Thiên Chúa ban ơn phân định cho những ai hết lòng yêu mến lắng nghe Lời Ngài.

Nhiều người trong chúng ta, trong đó có người viết thường chiều theo khuynh hướng “khoán trắng” việc loan báo Tin Mừng cho các Đấng Bậc, và thanh thản, thụ động giữ đạo cho riêng mình, làm như đạo là một kho báu phải giữ kín, bảo mật để không phải chia sẻ cho ai, mà quên rằng sứ vụ quan trọng người tín hữu nhận được khi gia nhập Giáo Hội là loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu cho muôn dân, nên bỏ quên loan báo Tin Mừng chính là không chu toàn sứ vụ đuợc Thiên Chúa trao phó.

2.   Cầu Nguyện:

Đi đạo không phải đi theo một chủ thuyết, một chương trình, một ý thức hệ, như người ta đi theo đảng để được là đảng viên, nhưng đi đạo là đi theo một con người Thiên Chúa, đi theo một Thiên Chúa làm người: Đức Giêsu Kitô. Tin Mừng đã làm chứng điều này khi Đức Giêsu  kêu gọi các môn đệ, hay bất cứ ai đi theo Ngài, Ngài luôn bảo họ: Hãy theo tôi! (Lc 5,27), mà không nói: Hãy theo chương trình của tôi, môn phái của tôi, hay kế hoạch của tôi. 

Điều này cho chúng ta thấy: Đạo là tương quan tình nghiã giữa mỗi người với Đức Giêsu; là gặp gỡ thiết thân giữa Thiên Chúa và mỗi con người; là sự hiệp nhất trọn vẹn của mỗi người trong Đức Giêsu như cành  nho gắn liền với cây nho, như giọt nước  hoà tan trong ly rượu.

Tin Mừng Gioan ghi lại rất rõ lời Đức Giêsu: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy anh em chẳng làm được gì” (Ga 15,5).  

Cành phải gắn liền và hiệp nhất với cây để được sống và sinh hoa trái là hình ảnh Đức Giêsu dùng để chỉ sự kết hiệp mật thiết giữa người tín hữu và Ngài. Ngài còn nhấn mạnh “phải ở lại trong Thầy” để khẳng định người tín hữu  trọn vẹn thuộc về Ngài khi ở với Ngài, và được trở thành “chính Ngài”, được “đồng hình đồng dạng với Ngài” khi Ngài ở lại trong họ, như thánh Phaolô đã viết: “Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, nhưng là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20), và cầu nguyện chính là phương thế Thiên Chúa ban cho con người để con người được trực tiếp liên lạc, giao lưu, hiệp thông, kết hợp mật thiết nên một với Thiên Chúa.  

Đức Giêsu đã làm gương cầu nguyện khi liên lỷ cầu nguyện với Chúa Cha trong mọi tâm trạng, ở mọi tình huống, bất cứ nơi nào. Ngài cầu nguyện trên núi, dưới thuyền; cầu nguyện một mình trong đêm khuya, rừng vắng hay công khai, lớn tiếng trước đám đông ; cầu nguyện lúc vui mừng, phấn khởi  và cả khi bị phản bội, bỏ rơi, ô nhục hấp hối trên Thánh Giá. Ngài dậy các môn đệ cầu nguyện, không chỉ nội dung mà cả cách cầu nguyện khiêm hạ, kín đáo, không nhiều lời (x. Mt 6,5-13). Ngài còn lưu ý các môn đệ: “không cầu nguyện, các ông không thể  vượt qua  cám dỗ, cũng không chiến thắng được ma qủy (x.Mt 17,21 ; 26,41), nhất là đảm bảo trăm phần trăm hiệu qủa của cầu nguyện: “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa sẽ mở ra. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho con rắn? Vậy, nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Mt 7,7-11).

Cũng cần lưu ý: ngoài việc cầu nguyện riêng tư, cá nhân, chúng ta cầu nguyện với toàn thể Giáo Hội bằng sống đời sống bí tích, thực thi các việc đạo đức được Giáo Hội hướng dẫn, động viên, đặc biệt tham dự Thánh Lễ là đỉnh cao của cầu nguyện.

3.   Đối Thoại:

Trong Hiến Chế “Vui Mừng và Hy Vọng”, Công Đồng đặc biệt nhấn mạnh sứ vụ Đối Thoại của người Kitô hữu với mọi người, bởi đối thoại là bước đầu của con đường nhân ái, là ngưỡng cửa đi vào ngôi nhà bình an của cộng đồng nhân loại. Thiếu đối thoại, rất nhiều mâu thuẫn phát sinh trong cộng đoàn; không đối thoại, tương quan dễ căng thẳng trong xã hội; khi đối thoại bị bế tắc, mọi giao lưu, hiệp thông, hiệp nhất sẽ  theo nhau sụp đổ, tan vỡ; từ chối đối thoại, nhiều oan sai, oan nghiệt sẽ xẩy ra, nhiều hiểu lầm xuất hiện làm rạn nứt liên đới.

Vì thế, khả năng đối thoại với mọi người, bất luận họ là ai, dù không đồng quan điểm, chính kiến là ưu tiên trong việc đào tạo những Kitô hữu trưởng thành, bởi người Kitô hữu cần  ý thức càng hiệp thông với người chung quanh, họ càng được hiệp nhất với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là trung tâm hiệp nhất toàn thể nhân loại, và để thực hiện mục tiêu trên, chúng ta phải bắt đầu bằng đi vào đối thoại với người khác.

Để đối thoại với tinh thần tìm về hiệp thông, hiệp nhất của Kitô giáo, chúng ta phải cầu xin ơn Chúa Thánh Thần, Đấng làm phong phú và vững chắc sự hiệp nhất bằng chính những khác biệt, biến xa lạ thành gần gũi  như đã làm cho nhiều người thuộc các ngôn ngữ khác nhau nghe được các tông đồ nói tiếng bản xứ của mình, khi các vị rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh đã sống lại sau ngày lễ Hiện Xuống. Sách Công Vụ các Tông Đồ kể lại sự kinh ngạc của những người này, khi họ sửng sốt nói với nhau: “Những người đang nói đó không phiả là người Galilê cả ư? Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta? Chúng ta đây, có người là dân Pácthia, Mêđi, Êlam, Mêxôpôtamia, Giuđê, Cáppađôkia, Pôntô và Axia, có người là dân Phyghia, Pamphilia, Ai Cập và những vùng Lybia giáp giới Kyrênê; nào là những người từ Rôma đến đây; nào là người Do Thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơrêta hay người Ả Rập, vậy mà chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa!” (Cv 2,7-12).

Thực vậy, nói và lắng nghe không dễ; yêu thương, hiệp thông, hiệp nhất còn ngàn lần khó hơn, nên ở bước đầu của con đường yêu thương, hiệp thông, hiệp nhất với mọi người là đối thoại, chúng ta rất cần ơn Chúa, vì không ơn Chúa, chúng ta sẽ không biết đối thoại thế nào như Đức Ái đòi hỏi, đối thoại làm sao cho sứ vụ của người Kitô hữu được thực hiện tốt đẹp nnhư ý Chúa muốn.

Xin Chúa thương cho mỗi người chúng ta ơn phân định để biết và thực thi sứ vụ được trao phó: chứng tá của Tin Mừng Tình Yêu giữa thế giới hôm nay.

Jorathe Nắng Tím 

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2020

NHÀ THỜ

 

Tôn giáo nào cũng có nơi quy tụ tín đồ để cử hành nghi lễ phụng tự. Hội thánh công giáo có nhà thờ. Trước phong trào xây dựng nhà thờ, nhiều người đặt vấn đề: nhà thờ bằng gạch đá bên ngoài có thực sự cần thiết không?

Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta cùng nhau truy tìm nguồn gốc, ý nghiã của nhà thờ:

1.   Nhà Thờ được xây dựng từ Giao Ước Thiên Chúa đã ký kết với dân Ngài:

Nhà Thờ không là sáng kiến của con người, nhưng trước hết Nhà Thờ là hình ảnh Giao Ước, biểu hiện Giao Ước như vua Salômôn đã khẳng định trong lời cầu nguyện trước Thiên Chúa trong Đền Thờ mới được xây dựng: Vua Salômôn đứng trước bàn thờ của Đức Chúa, trước toàn thể cộng đồng Ítraen, giơ hai tay lên trời và thưa: “Lậy Đức Chúa là Thiên Chúa Ítraen, chốn trời cao cũng như nơi đất thấp, chẳng có thần nào giống như Ngài. Ngài vẫn giữ giao ước và tình thương đối với các tôi tớ Ngài, khi họ hết lòng bước đi trước nhan thánh Ngài” (1 V 8,22-23).

Vua Salômôn đã không chỉ cầu nguyện một mình trước Thiên Chúa, nhưng trước cả toàn dân, vì ở đây, trước bàn thờ, trong Đền Thờ của Thiên Chúa có Giao Ước giữa Thiên Chúa và Dân Ngài. Chính Giao Ước là lý do sư có mặt và tồn tại của Đền Thờ; Giao Ước là nền móng của Nhà Thiên Chúa giữa Dân Ngài.

2.   Nhà Thờ là Nhà của Thiên Chúa ở giữa con người:

“Giao Ước và tình thương của Thiên Chúa” cho phép dân Ngài xác tín Thiên Chúa cư ngụ dưới đất với họ, như Salômôn đã cầu nguyện: “trời cao thăm thẳm còn không chứa nổi Ngài, huống chi ngôi nhà con đã xây đây!… Xin Ngài để mắt nhìn đến ngôi nhà này đêm ngày, nhìn đến nơi này; xin Ngài lắng nghe lời nguyện tôi tớ Ngài dâng ở nơi đây” (1 V 8,27.29).  

Là nhà cầu nguyện, vì ở đây có Thiên Chúa ngự, như Đức Giêsu đã khẳng định: “Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện” (Mt 21,13); đồng thời là nơi Thiên Chúa cứu giúp, chữa lành như “có những kẻ mù loà, què quặt đến với Đức Giêsu trong Đền Thờ, và Người đã chữa lành họ” (Mt 21,14).

Là nhà của Thiên Chúa, Nhà thờ còn là mái ấm bình an, bến bờ hạnh phúc mà “cả tấm thân con cùng là tấc dạ những hướng lên Chúa Trời hằng sống mà  hớn hở reo mừng” (Tv 83,3), vì “cung điện Ngài xiết bao khả ái” (Tv 83,2-3), và “phúc thay người ở trong thánh điện”, vì “một ngày được ở trong khuôn viên nhà Chúa qúy hơn ngàn ngày” (Tv 83,5.11).

Là Nhà của Thiên Chúa giữa con người, Nhà Thờ là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người để ban tình yêu, ơn tha thứ của Ngài, như người thu thuế khiêm hạ lên Đền Thờ nài xin: “Lậy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, và ông đã được trở nên công chính “khi trở  xuống mà về nhà” (Lc 18,13-14).    

Thực vậy, Nhà Thờ chính là Nhà của Thiên Chúa ở cùng nhân loại, và là thiên đàng như thánh Gioan Tông Đồ đã thị kiến: “Bấy giờ tôi thấy trời mới đất mới, và biển cũng không còn nữa. Và tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi  tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa - ở - cùng - họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,1-4).

3.   Nhà Thờ là nơi quy tụ, quây quần toàn thể gia đình Thiên Chúa:

Dân Chúa là một gia đình và Nhà Thờ là nơi gia đình của Thiên Chúa quây quần, xum họp quanh Thiên Chúa là Cha nhân hậu hằng yêu thương, chăm sóc con cái mình. Gia đình ấy gồm “các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dậy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42).  Gia đình ấy hợp nhất, đồng tâm nhất trí với nhau, sống đơn sơ vui vẻ, và tình nghiã trong hạnh phúc được ca ngợi Thiên Chúa (Cv 2,46).

Như thế, Nhà Thờ là nơi có tình huynh đệ, ở đó mọi người yêu thương, phục vụ nhau như anh em có cùng Cha trên trời. Hơn thế nữa, Nhà Thờ còn hướng đến và mong chờ những anh em chưa về nhà trong buổi hội ngộ, chưa có mặt ở buổi đoàn tụ vì một lý do nào đó, bởi “Thiên Chúa hằng cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ” (Cv 2,47).

Qủa thực, Nhà Thờ không chỉ là nơi Thiên Chúa có mặt với tình yêu thương của Ngài, mà còn mà nơi mọi người thuộc gia đình Thiên Chúa thực thi đức ái, tình huynh đệ, tương trợ giữa nhau, đồng thời là nơi phát xuất mọi hoạt động truyền giáo, mọi công cuộc ra đi loan báo Tin Mừng, mọi chuyến ra ngoài, ra xa, ra xâu đến với muôn dân. Do dó, Nhà Thờ không bao giờ “bế môn toả cảng, nội bất xuất, ngoại bất nhập”, cửa đóng then cài, khép kín, kỳ thị, khai trừ, loại bỏ, nhưng phải trở thành “chuồng chiên” của Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành. Ngài là “cửa cho chiên ra vào”: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10,7.9).

Đức Giêsu đã không là Cửa đóng kín, khoá chặt để chiên bị nhốt như tù vì không “ra vào” được, nhưng là Cửa chuồng chiên để chiên “ra và vào” như những đứa con tự do, những đứa con trưởng thành có trách nhiệm và được trao ban  sứ vụ. Nhà Thờ chính là chuồng chiên của Đức Giêsu, ở đó đoàn chiên thoải mái “ra vào”: vào cầu nguyện, vào gặp gỡ nhau và cùng nhau gặp gỡ Thiên Chúa để rồi ra đi loan báo Tin Mừng, ra xa đến với muôn dân, ra sâu “lưới cá người”, bởi sứ vụ của người tín hữu là cánh tay nối dài của Đức Giêsu để thực hiện ước mơ, sứ mạng cứu thế của Ngài: “Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (Ga 10,16).

Qủa thực, nếu Nhà Thờ không đáp ứng những đòi hỏi vừa kể, như Thánh Ý Chúa Cha được xác quyết qua miệng Đức Giêsu thì việc xây dựng những ngôi Nhà Thờ nguy nga, tráng lệ tốn kém nhiều công sức, tiền bạc sẽ là một gương xấu gây bức xúc, bất mãn ở nhiều người. Rơi vào trường hợp này khi Nhà Thờ không được xây dựng làm nơi Thiên Chúa ngự, nơi hẹn hò của Thiên Chúa và con người, nơi ơn phúc của Thiên Chúa được tuôn đổ trên mọi người, bất kể ai, nhưng bị phong toả, cấm vận bởi một số người ỷ quyền, dựa thế, và dùng Nhà Thờ như  phương tiện làm vinh danh cá nhân, biểu dương thế lực phe nhóm, ghi dấu triều đại cai trị; khi Nhà Thờ  không còn là Nhà của Thiên Chúa giữa con người, và  Thiên Chúa bị biến thành bình phong, lá chắn, thỏi bùa để  ai đó lợi dụng củng cố thanh danh, vị thế của bản thân, và loại trừ anh em, khước  từ  người khác; khi Nhà Thờ  thoái hoá thành nơi làm tiền, cơ sở kinh tài, điểm hẹn kinh doanh,  chốn trao đổi hàng hoá, của cải thế gian, như Đức Giêsu đã nổi nóng khi “đuổi tất cả những người đang mua bán trong Đền Thờ” Giêrusalem, và bảo họ: “Đã có lời chép rằng: Nhà Ta sẽ được gọi là nhà cầu nguyện, thế mà các ngươi lại biến thành hang trộm cướp” (Mt 21,13); khi Nhà Thờ trở thành gánh nặng qúa mức trên vai những người tín hữu nghèo khó, túng bấn không có gì nuôi sống mình và con cái, mà vẫn phải nai lưng đóng góp để xây những Nhà Thờ hoành tráng nhất nước, nhất vùng, nhất châu lục, nhất địa cầu ; khi Nhà Thờ qúa  lớn, nhưng chỗ dành cho những người bé mọn, không thế lực, không tiếng nói lại qúa nhỏ, có khi chẳng có ; khi Nhà Thờ biến thành nơi cho người có của, có ảnh hưởng, có thế giá khoe khoang, vung vít; khi Nhà Thờ trở thành “sở hữu” của một số người có chức phận, có “công trạng”, ở đó họ tha hồ thao túng, mượn Nhà Chúa ra oai thần lực, “xưng hùng xưng bá”, miệt thị, tẩy chay người không cùng phe cánh, người thấp cổ bé miệng, vô danh tiểu tốt; khi Nhà Thờ không còn là Chuồng Chiên của Mục Tử nhân lành là Đức Giêsu, nhưng biến thành “trại tập trung” của người chăn thuê, kẻ trộm cướp (x Ga 10,1.12-13); khi Nhà Thờ không ấm áp bầu khí gia đình, nhưng nồng nặc thị phi, giành giật, đấu đá, ganh ghét, hận thù; khi Nhà Thờ lạnh lẽo tình nghiã anh em có cùng một Cha trên trời, vì kiêu căng, đố kỵ, hiềm khích, đấu tranh quyền lực; khi Nhà Thờ rặt những trái tim kiêu hãnh chỉ đến Nhà Thờ  để khoe danh, khoe của, khoe công trạng như người Pharisêu trong Tin Mừng  Luca (x. Lc 18, 9-14).    

Tóm lại, Nhà Thờ phải được mọi người Kitô hữu gìn giữ để mãi là Nhà của Thiên Chúa, người Cha nhân hậu luôn rộng mở trái tim và vòng tay ôm ấp con cái mình, dù con ấy có yếu đuối, gầy gò, tồi tệ đến đâu, như người con hoang đàng được cha già ra đầu ngõ ngóng từng ngày và khi trở về đã được cha tha thứ, yêu thương, cưng chiều (x. Lc 15); Nhà Thờ phải được củng cố, xây dựng để mãi là Mái Ấm Gia Đình, ở đó, tất cả “các tín hữu hợp nhất với nhau… đồng tâm nhất trí”, yêu thương, tương trợ đến nỗi người ngoài nhìn vào phải trầm trồ khen ngợi: “Kià xem họ yêu thương nhau biết bao!”, bởi Nhà Thờ là nhà của Thiên Chúa Tình Yêu, nhà của các con cái được Cha trên trời yêu thương và yêu thương nhau như Cha trên trời; bởi Nhà Thờ là Nhà sinh ra và đào tạo những chứng nhân của Tin Mừng Tình Yêu nhờ các bí tích được ban trong Nhà Thờ; bởi Nhà Thờ là tổng hành dinh của mọi kế hoạch, công trình “được sai đi loan báo Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người để yêu thương, cứu độ nhân loại”; bởi Nhà Thờ là nơi mọi người nhận ơn hoà giải với Thiên Chúa, để được hoà giải với nhau và với chính mình ; bởi Nhà Thờ là Hiệp Thông, Hiệp Nhất của các chi thể trong một Thân Thể duy nhất là Đức Giêsu; bởi Nhà Thờ là Nhà của lòng thương xót, ơn cứu độ cho hết mọi tội nhân có lòng thống hối trở về.   

Chỉ trong tinh thần ấy, chỉ với ý nghiã ấy, chỉ hướng đến mục tiêu ấy, Nhà Thờ mới  thực sự là Nhà thờ phượng Thiên Chúa, vì có Thiên Chúa hiện diện giữa con cái Ngài, có Thiên Chúa được vinh danh, cảm tạ bởi con cái Ngài, khi con cái Ngài tuân giữ lời Ngài dậy: “Hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương chúng con” (Ga 13,34). Không có tình yêu, Nhà Thờ chỉ là một công trình của phàm nhân, mà không có ánh sáng cứu độ của Thiên Chúa; thiếu tình yêu, Nhà Thờ chỉ  là một ngôi nhà bằng gạch đá vô cảm, mà không có sức sống của Chúa Thánh Thần là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con; thiếu tình yêu, Nhà Thờ chỉ còn là thây ma, xác chết, vì không có máu nuôi Thân Thể mầu nhiệm; thiếu tình yêu, Nhà Thờ mất hoàn toàn giá trị và ý nghiã “Nhà của Thiên Chúa ở giữa nhân loại”, “Mái Ấm Gia đình của Thiên Chúa”; không có tình yêu hiệp thông, hiệp nhất giữa các tín hữu, Nhà Thờ không là “hình ảnh của Giêrusalem trên trời” như thánh Phaolô đã viết trong thư gửi giáo đoàn Do Thái, khi qủa quyết: chúng ta đã được ở trong nhà Thiên Chúa ngay từ bây giờ: “Anh em đã đến núi Xion, tới thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa những con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người, đến với linh hồn những người công chính đã được nên hoàn thiện. Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giêsu và được máu Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Aben” (Dt 12,22-24).  

Vâng, chúng ta có Nhà Thờ là Nhà, và “thành đô của Thiên Chúa” ở giữa chúng ta để chúng ta được đến với Ngài, gặp gỡ Ngài, nên bổn phận của mỗi người Kitô hữu là xây dựng, bảo vệ Nhà Thờ, nơi Thiên Chúa ngự, nơi chúng ta tụ họp quây quần bên Thiên Chúa là Cha nhân hậu, và chúng ta là anh em với nhau. Nhưng chỉ có thể thực hiện được mục tiêu trên, nếu tâm hồn mỗi người tín hữu  khao khát được biến đổi để trở thành “Đền Thờ của Thiên Chúa” như thánh Phaolô đã kêu gọi: “Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?” (1 Cr 3,16).

Khi viết những giòng này thì phong trào đập phá các tượng thánh, và đốt nhà thờ đang bùng lên dữ dội không chỉ ở các nước theo thể chế vô thần, mà ngay tại những nước có nền văn hoá Kitô giáo. Người ta không còn e ngại giấu diếm ý đồ đánh phá, tiêu diệt Kitô giáo, nhưng công khai thực hiện bằng những lời nói,  hành vi chống phá một cách “qúa quắt, điên rồ” như lời  Đức Cha Barron, Giám Mục phụ tá tổng giáo phận Los Angeles, Hoa Kỳ ngày 3 tháng 8/2020 mới đây, sau tuyên bố được coi là thô bỉ, ngu xuẩn và man rợ của bà dân biểu Alexandrai Ocasio - Cortez của đảng Dân Chủ, đơn vị New York, khi bà chỉ trích và đề nghi tháo gỡ bức tượng của thánh Đamien, tông đồ người cùi tại Molokai trong điện Capitol.  Vị thánh của người cùi này tên thật là Joseph de Veusterin, người Bỉ đã bỏ quê hương và suốt cuộc đời hy sinh phục vụ những người anh em cùi ở một nơi xa xôi, hầu như bị cô lập khỏi “thế giới loài người”, mà bà dân biểu này đã không biết gì tiểu sử, cuộc đời bác ái gương mẫu của Ngài, để rồi phát biểu một cách thiếu hiểu biết, vô trách nhiệm và  bất công, khi lên án ngài là biểu tượng của “chế độ gia trưởng và một nền văn hoá da trắng thượng đẳng”. Thật không còn gì ngược ngạo và phi lý hơn! 

Ước gì mỗi người chúng ta ý thức bổn phận xây dựng, bảo vệ  Nhà Thờ bên ngoài bằng gạch đá là nơi Thiên Chúa ngự và quy tụ con cái Ngài cách “hữu hình” bằng những đóng góp thiết thực với thao thức được là những viên đá sống động góp phần làm đẹp Nhà Thiên Chúa giữa nhân loại, đồng thời tô điểm cho thật đẹp mỗi ngày Nhà Thờ bên trong là “Đền Thờ của Chúa Thánh Thần” trong tâm hồn chúng ta.

Jorathe Nắng Tím      

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2020

KHÔNG LẼ CHÚNG TA THUA CÂY CỎ, LÁ HOA?

Chắc hẳn những ngày cách ly Covid, nhiều người trước đây không có giờ ra vườn, nhưng nay đã quen với thú điền viên, và khám phá nhiều điều kỳ diệu ở cây cỏ, lá hoa. Và tôi là một trong số những người đó.

Bên cạnh cỏ cây, tôi khám phá nhiều điều thú vị và qua những thú vị được khám phá, tôi nhận ra Thiên Chúa thực là người cha yêu thương và ân cần quan tâm đến từng tạo vật rất bé nhỏ của Ngài. Ngài ban cho cây cỏ mầu xanh của sự sống, và trăm sắc mầu tuyệt đẹp khác mà con người khó có thể bắt chước trăm phần trăm; Ngài ban mưa, nắng, gió cho cỏ cây, hoa lá đâm chồi, trổ lá, đơm bông; Ngài cho con người rung động trước cỏ hoa, cây trái, và chia sẻ với con người niềm vui  săn sóc chúng, làm cho cỏ cây xanh tươi, xum xuê hoa trái, như đã ký thác cho nguyên tổ bổn phận trông nom vạn vật.

Vì thế, thiên nhiên mang hình ảnh của Thiên Chúa yêu thương, quan tâm, quan phòng; thiên nhiên nâng tâm hồn con người lên với Đấng đã dựng nên đất trời và muôn vật hữu hình, vô hình ; thiên nhiên là những lối ngõ, nhịp cầu đưa con người đến Thiên Chúa, bởi thiên nhiên là công trình từ tay Thiên Chúa, mang hình ảnh và  nói lên lòng thương xót quan tâm của Ngài. 

Thực vậy chỉ riêng những cánh hoa rất mong manh như đóa hồng, nhưng nét đẹp và sức quyến rũ không gì có thể ngăn cản được cảm hứng dào dạt của con người đã đủ nói lên tình thương của Thiên Chúa không ngừng gìn giữ, bao bọc thụ tạo của Ngài. Chính Đức Giêsu đã mời chúng ta: Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết : ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy (Mt 6,28-29); chỉ riêng sức sống tiềm ẩn trong hạt giống nhỏ tí teo nếu được gieo vào đất tốt sẽ sinh hoa kết qủa gấp trăm (x.Mt 13,18-23) cũng đã nói lên kỳ công sáng tạo của Thiên Chúa; chỉ riêng việc cây tốt không thể sinh qủa xấu, cũng như cây xấu không thể sinh qủa tốt (Mt 7,18) cũng đã là bài học hữu ích Thiên Chúa muốn dậy con người qua thiên nhiên: Cứ xem họ sinh hoa qủa nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? (Mt 7,16).    

Gần gũi thế giới của cây cỏ, chúng ta còn khám phá những loại cây cần nhiều nước, loại khác cần ít hơn, có hoa say nắng gay gắt, dữ dội, có thứ chỉ thích nắng ấm, dịu dàng, nhưng tất cả đều cần nắng,tìm kiếm nắng, hướng về Mặt Trời. Có những cây bị khuất nắng cố nhoài mình ra tìm nắng đến nỗi biến dạng thành những cây cong nhìn rất thảm hại; có những hàng cúc bị cớm nắng đồng loạt ngả mình theo hướng mặt trời làm thành một hàng thẳng nghiêng đến tội nghiệp; đám cà chua bị những tầu lá chuối to đùng che nắng  lách mình khỏi vùng âm u đang cố rướn xa tìm nắng ấm vừa thấy thương vừa buồn cười.

Thế mới biết vạn vật luôn hướng về Đấng đã dựng nên và hằng ngày chăm nom, săn sóc chúng, như cây cỏ luôn hướng về Mặt Trời, vì Nắng Ấm của Mặt Trời đem lại cho chúng sức sống, niềm vui. Tâm hồn con người cũng vậy: luôn hướng về Thiên Chúa mà con người mang hình ảnh ngay từ khi được tạo dựng. Thánh Augustinô, nhà thần học của tình yêu đã cảm nghiệm và khẳng định: tâm hồn chúng ta chỉ thực sự được hạnh phúc khi ở trong Thiên Chúa, vì ngoài Thiên Chúa, Đấng chúng ta luôn hướng về như hoa lá, cỏ cây luôn hướng về Mặt Trời, không người nào có thể thoả mãn khát vọng tuyệt đối trong chúng ta, cũng như không giá trị nào cho tâm hồn chúng ta no thoả bình an, hạnh phúc.

Như thế, để có được bình an đích thực, tâm hồn cần Thiên Chúa như cây cỏ cần nắng ấm của mặt trời. Có Thiên Chúa ở cùng, chúng ta sẽ chẳng còn kinh hãi gì, cũng chẳng sợ hãi ai, vì nếu có phải sợ, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục, và đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn (Mt 10,28). Có Thiên Chúa yêu thương, chăm sóc, chúng ta sẽ không qúa lo  cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. (Mt 6,25), vì Thiên Chúa là Cha nhân hậu thương chúng ta hơn chúng ta tưởng, như chính Đức Giêsu đã qủa quyết: Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng qúy giá hơn chúng sao? (Mt 6,26). Vấn đề còn lại của chúng ta chính là khát khao Thiên Chúa, hướng về Thiên Chúa, tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài (Mt 6,33), như cây cỏ, hoa lá hướng tìm Nắng Mặt Trời, còn mọi sự khác, Ngài sẽ lo liệu cho. Và qủa thực, chưa có người nào cảm thấy bất hạnh khi bỏ mọi sự để đi tìm và phụng sự Thiên Chúa cho dù ngươii khác nhìn vào cho họ là những người kém may mắn vì không thực tế, thiếu khôn ngoan khi chỉ mơ ước những sự trên trời; chưa có ai đến cuối đời lại tiếc nuối, hối hận, bất mãn, bực bội vì đã hết tình, hết mình phục vụ Tin Mừng, dù dưới mắt người đời, họ là những người gặp nhiều sóng gió; cũng chẳng tìm được một tâm hồn tận hiến nào không hạnh phúc, bình an vì đã chọn Chúa làm Lẽ Sống, Gia Nghiệp, dù thế gian bảo họ là những người chịu nhiều thiệt thòi, thua lỗ.   

Để rồi, mỗi sáng ra vườn thăm cây cỏ, lá hoa, tôi lại tự hỏi: không lẽ mình thua bụi hồng, khóm trúc khi cứ mãi thu mình trong bóng tối tội lỗi và trốn chạy ánh sáng thánh thiện; không lẽ con người thua cả cây cỏ, lá hoa khi chúng luôn hướng về Đấng đã tạo dựng nên chúng và biết làm nở mặt, tôn vinh Đấng ban mưa, nắng, gió  cho chúng tươi tốt, đơm hoa kết trái xum xuê, rực rỡ làm đẹp vũ trụ, làm vui lòng người? Và rồi mỗi lần ân cần chăm sóc cỏ cây, hoa lá, tôi lại thì thầm cùng chúng ngợi khen, chúc tụng Thiên Chúa, Đấng hằng thương yêu, chăm sóc mọi loài Chúa đã dựng nên.

Jorathe Nắng Tím