Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2020

 

Nước Pháp bàng hoàng, người dân Pháp phẫn nộ, tuổi trẻ Pháp  kinh tởm, toàn thế giới  rùng mình  trước vụ thảm sát xẩy ra  thứ sáu ngày 16.10.2020 tại thành phố Conflans-Sainte-Honorine, thuộc vùng ngoại ô Paris : kẻ thủ ác là anh Abdoullakh Abouyezidvicha, 18 tuổi, sinh qúan Moscou, người Nga, gốc Tchétchène, tỵ nạn chính trị tại Pháp cùng với cha mẹ, và hiện sống tại Evreux.

Anh và gia đình thuộc thành phần tín đồ Hồi Giáo cực đoan. Bức xúc trước những video đăng tải sự kiện tiên tri Mahômét bị “xúc phạm”, anh đã cùng nhiều người trong gia đình đến trước cổng trường trung học truy tìm, áp tải một khoảng xa,  rồi dùng dao đâm chết và chặt đứt đầu thầy giáo Samuel Paty, người Pháp 47 tuổi, có vợ và một con trai 5 tuổi, giáo sư Sử Địa của trường trung học cơ sở Bois d’Aulne.

Nguyên nhân đưa đến thảm sát là trong giờ học, thầy giáo Samuel đã trình bầy quyền tự do tư tưởng và ngôn luận của công dân theo giáo án của lớp Sử Học và đã đưa ra nhiều tài liệu nói lên quyền tự do tư tưởng và diễn đạt tư tưởng, trong đó có bức  hí họa vẽ  Mahômét, vị tiên tri vĩ đại của Hồi Giáo  của tuần báo Charlie Hebdo, một tờ báo có đường lối cứng rắn chống lại các tổ chức khủng bố và Hồi Giáo qúa khích, cực đoan.  

Trước hành động man rợ trên đất của một dân tộc văn minh nổi tiếng tôn trọng nhân quyền và có truyền thống  tranh đấu cho lý tưởng Tự Do, Bình Đẳng, Huynh Đệ rất hào hùng, toàn dân Pháp đồng loạt xuống đường lên án tội ác không thể tha thứ, và quyết tâm không chùn bước trước đe dọa của các thế lực sự dữ, khi cùng thủ tướng Pháp Jean Castex vang dội hô to trong cuộc biểu tình chiều ngày 17 tại Paris : “Các người không làm chúng tôi sợ!” một ngày sau cuộc thảm sát man rợ.

“Không làm chúng tôi sợ!”, vì các người chỉ là những kẻ cuồng tín man rợ đã nhân danh một Thiên Chúa mà chính các người tôn vinh là “xót thương, nhân hậu” để lấy đi sự sống qúy giá của những người không cuồng tín, man rợ như các người !

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì các ngươi rất ngu muội đã không hiểu rằng tôn giáo nào cũng dậy ăn ngay ở lành, sống tử tế, lương thiện và nhân ái, nhân hậu với đồng loại. Chỉ các người mới man rợ đến độ làm nhơ bẩn dung mạo Thiên Chúa của các người, và xóa bỏ giáo lý của tôn giáo các người đi theo.

“Không làm chúng tôi sợ!”, vì chỉ những kẻ ngược ngạo, ngông cuồng, “không còn tính người” như các người mới có thể phủ nhận tiếng nói của lương tâm, khi đánh mất nhân tính và hành xử như ác qủy, vì chỉ ác qủy mới có thể hành động man rợ như các người đã hành động .

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì các người là những kẻ bất nhân, bất nghiã và vô ơn  đến đáng sợ, khi nhuốm máu và triệt hạ không gớm tay cả những người đang mở lòng, đưa tay đón tiếp và giúp đỡ các người trên đất nước, và trong nhà họ.

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì chủ nghiã bạo lực khủng bố mượn danh Thiên Chúa, mượn tiếng tín đồ trung thành với Đức Alla để đổ máu người vô tội của các người chỉ là trò hề rẻ tiền của những tên ngu si đần độn trong một thế giới văn minh, tự do, nhân quyền.

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì những người có lương tri sẽ không bao giờ chấp nhận hành vi man rợ, tàn nhẫn, quái đản, kinh dị của các người, những con người bị nhồi sọ, rửa óc bởi những kẻ lợi dụng đầu óc non nớt, ấu trĩ, khờ dại của các người cho mục đích chính trị.

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì chỉ những con người không bình thường, thiếu quân bình tâm lý như các người mới hoang tưởng cho rằng : thiên đàng chỉ dành cho những kẻ cầm dao giết đồng loại để bảo vệ Thiên Chúa, một Thiên Chúa không cần ai bảo vệ, nhưng chính Ngài là Đấng bảo vệ và thương xót “đồng loại” của các người, mà chính các người đã ra tay cắt cổ, chặt đầu khi nhân danh Ngài.

“Không làm chúng tôi sợ!”, vì niềm tin tôn giáo của các người là thứ niềm tin đặt không đúng chỗ, thứ niềm tin dùng bạo lực để khống chế, áp đặt niềm tin của người khác, khi ngu muội không biết rằng : dưỡng khí của niềm tin là tình yêu và tự do. Nhưng rất tiếc, ở các người, không hề có làn khí trong lành cần thiết này để niềm tin đích thực được tồn tại.

“Không làm chúng tôi sợ!”, vì man rợ chặt đầu người khác giữa thời đại văn minh là hành động không ai có thể quan niệm, tưởng tượng, và người ta chỉ có thể xếp các người vào hạng “bị qủy ám”, bởi chỉ có qủy mới đủ sức thổi vào các người lửa của hận thù, sức nóng của bạo lực phi nhân.

 

Tôi lọt vào giữa đám đông các giáo sư từ tiểu học đến đai học trong dòng người xuống đường biểu tình vinh danh giáo sư Samuel Paty, anh hùng của Tự Do Ngôn Luận, người hùng của Tự Do Tư Tưởng, vị tử đạo của tôn giáo nhân ái, bao dung, trái ngược với những kẻ mong được là “thánh tử đạo”, vì đã đâm chém, cắt cổ, xả súng bắn vào con người, khi nhân danh “bảo vệ” một Thiên Chúa giầu lòng thương xót.

Thật không còn gì ghê tởm, hợm hĩnh và lố bịch, ngu xuẩn hơn!

Muà thu Paris năm nay buồn hơn mọi năm, không chỉ buồn vì dịch Covid trở lại đợt hai, đe dọa nhiều rủi ro, nguy hiểm hơn, mà thu Paris còn buồn vì cuộc thảm sát kinh tởm, hãi hùng của kẻ cuồng tín, phi nhân tính đã vô ơn với đất nước đã đón tiếp mình như người tỵ nạn, và man rợ cắt cổ người con ưu tú của dân tộc, một dân tộc không bao giờ biết sợ trước bất cứ thế lực ma quái nào chống lại lý tưởng Tự Do, Bình Đẳng và Huynh Đệ.

Jorathe Nắng Tím    


Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

MỘT TÌNH YÊU DUY NHẤT

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 Thường Niên, Năm A



Nét độc đáo của Tình yêu trong Kitô giáo chính là duy nhất tính của tình yêu khi Mến Chúa và Yêu người là một, điều mà người ta rất khó chấp nhận, nhưng lại là điều Thiên Chúa muốn.

Là điều rất khó chấp nhận, vì ai cũng muốn phân biệt rõ rệt Thiên Chúa là Thiên Chúa và con người là con người : Thiên Chúa chí thánh chí tôn, con người yếu đuối, tội lụy ; Thiên Chúa toàn năng, cao cả, con người bất toàn, bất xứng, và một khi rành rọt phân biệt như thế, người ta sẽ có thể yêu Thiên Chúa mà không phải yêu con người ; có thể tử tế với Thiên Chúa mà không  tử tế với những người không cần phải được đối xử tử tế ; có thể “mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” (Mt 22,37), mà vẫn bình an tự cho phép ghét những người làm hại mình, và khinh những ai bị coi là đáng khinh ; có thể phụng sự Thiên Chúa bằng hết sức lực, tiền của, mà vẫn không áy náy khi ki bo, bần tiện, keo kiệt với người thân và tham lam, lọc lừa chiếm đọat tài sản của người xa lạ ; có thể hiến mình cho Thiên Chúa, mà chẳng bận tâm, nặng lòng khi cùng lúc “hy sinh” người khác vì vinh quang, quyền lợi của bản thân mình ; có thể chết sống với Nước Trời, nhưng cùng lúc phá họai nước đời, cộng đồng nhân loại ; có thể là con Chúa, nhưng đồng thời là kẻ thù của con người, bởi giữa tình yêu dâng Thiên Chúa và tình yêu cho đồng loại được phân ranh cẩn thận, và hai tình yêu không qua lại, ảnh hưởng trên nhau.

Nhưng đó là phiá con người, về phiá Thiên Chúa thì khác hẳn, và chủ trương Yêu Thương của Thiên Chúa đã bị nhiều người lên án là “huyên thuyên, nhập nhằng, lẫn lộn Thiên Chúa với con người” khi nghe Đức Giêsu đã công bố : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”, khi một người thông luật hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng : “Thưa Thầy, trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?” (Mt 22,36-39).

Đây là cốt lõi giáo lý mới của Đức Giêsu, điều mà người Do Thái còn xa lạ và bỡ ngỡ khi nghe Ngài công bố, bởi Luật Môsê chỉ dừng lại ở công bình trong tương quan giữa người với người, mặc dù với Thiên Chúa thì phải “mến yêu hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn”, khi cho phép trong tương quan con người với nhau thì “mắt đền mắt, răng đền răng” (Mt 5,38), yêu người thương mình và ghét kẻ thù mình (x. Mt 5,43), nghiã là “ăn miếng trả miếng, ân oán sòng phẳng”, trong khi Luật mới của Đức Giêsu lại dậy : “Đừng chống cự người ác… Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,39.44).

Đức Giêsu còn đi xa hơn khi “đồng hoá” Thiên Chúa với những con người bé mọn, nghèo hèn, ốm đau, tù đầy, vô gia cư, tha phương cầu thực, và tuyên bố tình yêu cũng như việc làm tốt được thực hiện cho những con người yếu đuối, bần hàn, vô danh tiểu tốt, sa cơ thất thế này là làm cho chính Thiên Chúa (x. Mt 25,31-46). Cũng vậy, Thiên Chúa lấy chính con người làm thước đo tình yêu đối với Ngài và mức độ ân sủng, lòng thương xót của Ngài đối với chúng ta cũng tùy thuộc vào lòng qủang đại và thương xót của chúng ta đối với người khác, như Đức Giêsu đã khẳng định trong Tin Mừng : “Anh em đong cho ai đấu nào, sẽ được Thiên Chúa đong lại đấu đó”, “Xin tha tội chúng con như chúng con cũng tha cho những người mắc lỗi với chúng con” (Mt 6,12), “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).

Thực vậy, mầu nhiệm tình yêu trong Kitô giáo là chân lý được mặc khải từ Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu (1 Ga 4,16). Mầu nhiệm tình yêu ấy tuy là mầu nhiệm, nhưng là mầu nhiệm nhập thế, nhập thể, nên được biểu hiện sống động và cụ thể trong đời sống thực sự và thường ngày của con người. Mầu nhiệm tình yêu từ Thiên Chúa đến trong thế giới loài người  không mơ hồ, viển vông, mây khói, nhưng có chỗ đứng, bãi đáp hộ khẩu trên da thịt, trong tâm hồn, ngay giữa sinh hoạt của con người, những con người bằng xương bằng thịt, cá vị, độc lập. Mầu nhiệm Tình Yêu ấy đã được Cựu Ước xây dựng nền tảng khi đòi hỏi tín hữu Do Thái : “không được ngược đãi và áp bức người ngoại kiều, không được ức hiếp mẹ goá con côi, không được cho vay nặng lãi người nghèo” (x. Xh 22,20-24) để rồi khi Đức Giêsu đến, Ngài đã kiện toàn Giới Luật duy nhất và đời đời của Thiên Chúa : Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu thương anh em như mình vậy, bởi “Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,40).

Vâng, là người Kitô hữu, chúng ta thuộc về và được tháp nhập vào Đức Giêsu, Thiên Chúa Tình Yêu, và tình yêu Thiên Chúa được thực hiện khi chúng ta yêu thương anh em mình, nhất là những anh em hèn mọn, kém cỏi, yếu đuối, xấu số, bất hạnh nhất, bởi đó là Thánh Ý Thiên Chúa. Ngài muốn chúng ta xác định và làm chứng tình yêu đối với Ngài bằng yêu thương anh em, nếu không chúng ta là những kẻ xảo trá, lừa lọc, như thánh Gioan tông đồ đã viết : Nếu ai nói : “tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20).   

Vẫn biết yêu Thiên Chúa dễ hơn yêu anh em cận kề chung sống với bao nhiêu chuyện không hài lòng, vừa ý, bao nhiêu điều chướng tai gai mắt và yếu đuối, lỗi lầm, trong khi Thiên Chúa vô hình, lại toàn năng, thánh thiện, có quyền sinh tử trên mọi loài, nhưng Chúa muốn tự đồng hoá mình với người anh em hèn yếu ; Chúa muốn lấy người anh em bất xứng, bất toàn làm thước đo tình yêu của ta với Ngài ; Chúa muốn chọn người anh em nghèo khó, cơ bần làm đấu đong ơn phúc ; Chúa muốn ta chuẩn bị hành trang để ra trước tôn nhan Ngài ngày chung thẩm nơi người anh em bị coi là đồ bỏ, vô tích sự, không sinh lợi cho ai, không giúp ích được người nào, có khi còn là gánh nặng của mọi người, nên chúng ta hãy vui vẻ  tập sống mỗi ngày Yêu Chúa trong Anh Em, Yêu Thương anh em vì Yêu Mến Chúa, vì đó là Ý Muốn thánh thiện của Thiên Chúa.

Jorathe Nắng Tím

Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2020

TẤM LÒNG NGHỆ SĨ

 

Số phận người nghệ sĩ qủa thực vô thường, khi gặp thời thì “lên voi” với đám đông “fan cuồng” say mê, thần tượng, nhưng khi hết  thời, thì tang thương “xuống chó” ra vào chẳng người dòm ngó, đón đưa.

Số phận ấy còn buồn thảm hơn, khi liên tục phải  lãnh những cú đấm thôi sơn của dư luận, vì “ghen ăn tức ở”, hay những châm biếm cay đắng đến lặng người : “xướng ca vô loài”.

Thật không gì làm tổn thương người nghệ sĩ hơn “cụm từ” rất xúc phạm và phản cảm này, trong khi tấm lòng nghệ sĩ ở bất cứ thời nào đều rất đáng được trân qúy.  

Bởi không có tấm lòng nghệ sĩ của ngày xưa đã rung động trước vẻ đẹp thiên nhiên, thì làm gì có những kiệt tác nghệ thuật để ngày nay trầm trồ ngắm nghiá, thưởng ngoạn? Không có tấm lòng nghệ sĩ khiêm tốn ngước nhìn bầu trời đầy trăng sao đêm hè, thì bao giờ thế gian mới biết duyên dáng của nàng trăng, và ngàn sao nhí nhảnh chân sáo? Không có tấm lòng nghệ sĩ trào dâng niềm cảm xúc trước đàn én giăng kín trời, hỏi làm sao hậu thế cảm được nắng ấm tưng bừng của hạnh phúc ngày xuân?

Bởi rất nhiều và rất nhiều những tấm lòng nghệ sĩ đã làm tươi đẹp ước mơ, đã làm phấn khởi lòng người, đã đưa hồn người lên cao tít tắp đến tận truyệt đối, tuyệt vời Chân Thiện Mỹ. Vì thế, không nghệ sĩ nào “vô loài”, không tâm hồn nghệ sĩ nào vô cảm, cằn cỗi, vì nghệ sĩ cho thế giới nguồn cảm hứng, gieo vào đất người hạt giống nhiệm mầu, kỳ diệu là hình ảnh không phôi phai, là dấu ấn không nhạt nhoà của Tạo Hóa trong hình hài con người “cát buị”.

Cũng bởi có rất nhiều con người nghệ sĩ có tấm lòng mà những em bé dân tộc của vùng sâu vùng xa được đến trường mỗi sáng, những bà mẹ neo đơn, cô qủa được ấm lòng ở tuổi già, những thân phận tật nguyền phải cậy nhờ lòng tốt của người khác để sống còn được bớt buồn tủi, cả những người chết trong túng bấn, nghèo nàn cũng bớt lạnh lẽo, tức tưởi với tấm áo quan trên đường về bên kia thế giới.

Những tấm lòng nghệ sĩ ấy cũng đang sắn quần lội nước đến từng nhà, và trao tận tay từng nạn nhân lũ lụt những chia sẻ cần thiết. Và hình ảnh những con người có nghiã tình cao cả mang tâm hồn nghệ sĩ ấy đã thực sự gây nhiều ấn tượng đậm nét trong tim óc nhiều người, trong đó có tôi.

Tuy thế, tôi vẫn nghe tim mình se thắt vì ấm ức. Tôi ấm ức trước những thị phi vô cảm của những “anh hùng bàn phím” rảnh đến mức không biết làm gì ngoài thả những ngón tay vô hồn “gõ” những vu khống chát chúa vào mặt người nghệ sĩ đang miệt mài vì sự sống của những phận người bất hạnh ; tôi ấm ức khi nghe những bới móc thô lỗ của đám “thánh soi” đêm ngày soi mói, “móc lò” những nghệ sĩ có tấm lòng, mà lịch làm việc của “các thánh” là hết đêm đến ngày, hết ngày lại đêm những vu vơ, lơ lửng, lâng lâng mơ màng những chuyện “ruồi bu”, chẳng ích lợi cho ai, mà chẳng hề bận tâm nhúc nhích vài ngón tay giúp đời bớt khổ ; tôi cũng ấm ức trước đạo quân “mồm loa mép dải” say máu phê bình, chỉ trích thiên hạ như một nghề kiếm sống, trong khi cuộc sống của những tay chuyên nghiệp “ném đá” này chỉ là chuỗi dài vô tận những “vô tích sự”.

Trong nỗi buồn rất ấm ức, tôi muốn nhắc bạn, những người vì không làm được “chuyện lớn” như thiên hạ, nên siêng năng kiếm cớ “làm lớn chuyện” : Bạn lên án rất nặng nề những nghệ sĩ không làm từ thiện, nhưng khi họ làm, bạn lại kết tội họ mượn cớ từ thiện để “đánh bóng” tên tuổi ; bạn trách móc sự thờ ơ, nhưng khi nghệ sĩ dấn thân đóng góp tiền bạc, thời giờ, công sức chia sẻ với bà con, bạn lại bực bội cho rằng họ “đóng kịch, trình diễn” mà không thật tình khi mượn hình ảnh người nghèo, lợi dụng nỗi đau của người bất hạnh để  phô trương, qủang cáo. Bạn còn lố bịch hơn khi muốn biết nghệ sĩ nào làm từ thiện, nghệ sĩ nào không, cứ như thiên hạ “nhất cử nhất động” đều phải kính báo bạn, mặc dù bạn thuộc thành phần “vô danh tiểu tốt” biết hết mọi người, nhưng chẳng mấy người rảnh rỗi quan tâm, biết  bạn.

Ôi rõ thật thói đời, với những miệng đời thị phi kinh niên, ganh tỵ mãn tính, và nếu cứ mãi thế này thì không biết đến bao giờ lòng người mới bình an, người nghèo mới hết khổ, người sầu buồn mới được nguôi ngoai, bởi bao la như tiếng hát, thênh thang như giọng hò, dạt dào như vần thơ, hào sảng như tình thân của tấm lòng nghệ sĩ mà còn bị tan nát, bầm dập, thử hỏi sẽ te tua, tơi tả đến cỡ nào những tấm lòng “không tên tuổi” khác ?

Jorathe Nắng Tím 

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

“CỦA XÊDA, TRẢ CHO XÊDA ; CỦA THIÊN CHÚA, TRẢ VỀ THIÊN CHÚA”

 

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 Thường Niên, Năm A



Căng thẳng giữa Đức Giêsu và những người thuộc nhóm Pharisêu ngày càng trầm trọng và hầu như hết thuốc chữa. Nhóm này thường xuyên cùng giáo quyền Do Thái tấn công Đức Giêsu. Nhưng hôm nay, những người Pharisêu giả hình và độc ác ấy quyết định “tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy” (Mt 22,15), khi họ “cùng đi với những người phe Hêrôđê” là vua Do Thái đang trị vì, để cùng với người của Nhà Nước, dựa vào thế lực của chính quyền quyết tâm gài cho bằng được Đức Giêsu sập bẫy chính trị, hầu có cớ cáo gian, truy tố, lên án, triệt hạ Ngài như tội phạm chính trị : xúi dân nổi loạn, làm mất trật tự chung.

Ý đồ gài Đức Giêsu vào tội chính trị : kêu gọi dân chống chính quyền bảo hộ Rôma thật qúa rõ. Cũng như bao nhiêu vụ việc lừa đối phương vào vòng lao lý trong trò chơi tranh giành quyền lực, ảnh hưởng chính trị, các người Pharisêu đã xử dùng cùng một thủ đọan “xông hương, bốc thơm đối thủ” để đưa Đức Giêsu vào chỗ chết khi nói với Ngài : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dậy đường lối của Thuên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta” (Mt 22,16).

Có lẽ không lời nào ngọt ngào, hợp lý, xứng đáng hơn cho vị đại Ngôn Sứ là Đức Giêsu ; không ngôn từ nào trân trọng, cung kính hơn trước “Người được Thiên Chúa sai đến” ; không hái độ nào khiêm hạ, vâng phục, ngoan ngùy hơn đối với “Đấng giảng dậy có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7,29) mà nhóm Pharisêu và những người đi theo họ dành cho Đức Giêsu. Nhưng mưu hèn, kế bẩn của họ đã bị Đức Giêsu lật tẩy bẽ bàng : “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình!” (Mt 22,18).  

Họ thử Đức Giêsu để có bằng chứng tố cáo Ngài với chính quyền đế quốc Rôma đang cai trị họ, vì họ biết Ngài khó thoát khỏi cạm bẫy cực kỳ tinh vi họ sắp giăng ra. Tuy cung giọng đầy khiêm tốn của môn đệ đến thỉnh ý Thầy, nhưng thực ra họ đã nắm chắc phần thắng, vì nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ  rơi vào một trong  hai câu trả lời đều nguy hiểm trước câu hỏi “bẫy” của họ : “Xin Thầy cho biết ý kiến : có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?” (Mt 22,17).

Là con dân một đất nước bị ngoại bang thống trị, người Do Thái phải nộp thuế cho đế quốc Rôma mà Xêda là đại đế, nên nếu trả lời “phải nộp thuế cho Xêda”, Đức Giêsu sẽ bị chụp mũ là tay sai đế quốc, phản nước hại dân, bưng bô cho ngoại bang, và tất nhiên Ngài sẽ bị dân chúng kịch liệt khinh bỉ, lên án, tẩy chay, trong khi Ngài xưng mình là “Đấng Thiên Chúa sai đến cho nhà Ítraen” (x. Mt 15,24). Nhưng nếu trả lời “không nộp thuế cho Xêda”, Đức Giêsu sẽ bị  ghép tội xúi dân chống lại nghiã vụ nộp thuế cho chính quyền đế quốc đang thống trị, và với tội danh này, chắc chắn Ngài sẽ bị truy tố và lãnh án nặng nề từ phiá chính quyền  Rôma.

Ngày nay trong xã hội chúng ta đang sống cũng có rất nhiều người lợi dụng hoàn cảnh chính trị phức tạp, tế nhị như tiền đề cho những mưu hèn kế bẩn để hại người, chẳng khác gì đám Pharisêu đã gài Đức Giêsu vào một thế cờ khó gỡ, một cạm bẫy khó thoát thân năm xưa.

Thực vậy, khi trả lời “Của Xêda, trả về Xêda ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”, Đức Giêsu không chỉ làm ngỡ ngàng đám Pharisêu và những người đi theo họ với âm mưu hãm hại Ngài, khi “vô hiệu hoá đòn phép nham hiểm, ác độc » của họ, mà còn nhắc họ  nhớ đến một nghiã vụ thiêng liêng rất quan trọng, đó là trung thành với một Thiên Chúa duy nhất theo Giao Ước của Thiên Chúa với các tổ phụ của họ, mà ngôn sứ Isaia không ngừng kêu gọi, cảnh báo : “Ta là Đức Chúa, không con chúa nào khác ; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta” (Is 45,5).

Sở dĩ Đức Giêsu nhấn mạnh : “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”, vì lúc bấy giờ, các đại đế của đế quốc Rôma bắt đầu coi mình là thần thánh, và bắt buộc dân chúng thực hành các nghi thức thờ lậy đại đế như một thiên chúa. Đó là lý do những Kitô hữu ở thế kỷ thứ nhất đã bị bắt bớ, hành hình vì từ chối thực hành nghi thức tế tự các đại đế, do trung thành với niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất. Đây cũng là một vấn đề khá phức tạp trong các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, khi các tín hữu bị giằng co giữa đòi hỏi phải tôn trọng quyền bính chính trị và bổn phận tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất. Tuy thế, trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica được coi là tài liệu Kitô giáo cổ xưa nhất, thánh Phaolô đã chỉ nói  đến đức tin, đức ái, đức trông cậy của các tín hữu, mà không đề cập đến áp lực căng thẳng giữa chính trị và đức tin, khi ngài viết : “Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô” (1 Tx 1,3).    

Xin Chúa cho chúng ta ơn khôn ngoan trong mọi thời thế, hoàn cảnh, ở đó các thế lực chính trị thường tạo nên những căng thẳng làm chúng ta mất đi niềm xác tín : hạnh phúc đích thực là được tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, Đấng mà các dân nước phải bái thờ, run sợ, bởi “Chúa thiết lập địa cầu... Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng…, xét xử muôn dân theo chân lý của Người” (Tv 95,10.13).

Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

ƠN AN BÌNH

 


Chưa lúc nào Bình An lại cần thiết đến mức cấp bách như những ngày này, khi mà khắp nơi trên thế giới an ninh trật tự không còn được bảo đảm, và hoà bình ngày càng trở thành ưóc mơ khó thực hiện.

Trên quê hương thì bạo lực dưới mọi hình thức, trong mọi lãnh vực, ở mọi thành phần ngày càng gia tăng với tốc độ chóng mặt biến đổi người dân ở làng quê xa xôi hôm nào còn chất phác, hiền hoà thành những con người nham hiểm, thủ đọan, tham lam, tàn ác sẵn sàng chém giết anh em, cháu chắt ruột thịt vì một vài mét đất cha mẹ để lại ; những em học sinh ngày trước còn  chăm chỉ, vâng lời thầy cô nay không ai còn nhận ra các em trước toà vì tội đâm cô, chém bạn ; những địa danh sinh ra anh hùng hào kiệt mà ngày xưa chỉ nghe cũng đủ xúc động, nức lòng nay biến thành hang ổ trộm cướp với những băng đảng hung ác, man rợ như dã thú.

Cũng quê hương ấy được xếp vào một trong những nước bệnh nhân ung thư nhiều hàng đầu trên thế giới, phần vì lương thực hầu như hoàn toàn bị xử lý bằng chất độc trước khi bán, phần vì nỗi lo hiện tại, tương lai ngày càng qúa tải.

Người dân ở đất nước này lo đủ thứ, lo đủ cách, đủ thể loại, vì không có gì không chạm đến nỗi lo, bởi ở đây không thứ gì được bảo đảm an toàn, không ai được bảo vệ đúng mức, không việc gì được bảo hiểm công bằng, minh bạch. Chính vì không có gì an ninh, an toàn, mà người ta lo sợ, khi không còn khả thể để an tâm, an lòng.

Nhìn ra thế giới, bức tranh Hoà Bình cũng không sáng sủa, tươi đẹp hơn, khi bạo loạn xuống đường đe dọa, bạo lực tràn lan như vết dầu loang từ thành phố này qua thành phố nọ, từ quốc gia này đến quốc gia khác biến thế giới thành một chảo dầu sôi sục hận thù, chiến tranh.

Trước thực tại bất an, bất ổn của đất nước và thế giới, nhiều người ngao ngán hỏi : đâu là nguyên nhân chính?

Trả lời câu hỏi, người thì đổ tội cho Trời, người khác quy tội láng diềng chung quanh, thiên hạ xa gần, nhưng không mấy người nhận về mình chút phần lỗi, hay vài gam trách nhiệm, bởi xã hội được làm nên bởi những cá nhân, nên xã hội tốt hay xấu cũng do những cá nhân đã làm nên xã hội ấy tốt hay xấu.

Qủa thực, bình an của đất nước, hay bình an của nhân loại đều xuất phát từ bình an tâm hồn của mỗi người. Nếu mỗi người đều tìm kiếm và xây dựng bình an thì xã hội sẽ có bình an, và ngược lại, ai cũng sắm kiếm đao để đâm chém, trang bị súng ống để bắn giết, tiêu diệt thì chiến tranh, hỗn loạn tất phải xẩy ra, bùng nổ.

Thánh Phanxicô thành Assisi, vị thánh của Hoà Bình với kinh nguyện Hoà Bình bất hủ, mà mỗi lần tiếng kinh ấy được cất lên, ai nghe cũng chạnh lòng khao khát một trời mới bình an, một đất mới an bình, một nhân loại mới an hoà, hạnh phúc.

Ở thánh nhân tâm hồn nghèo khó và xây dựng hoà bình là hai đặc điểm nổi bật đồng hành với nhau.

Thánh nhân đã sống tinh thần nghèo khó của Tin Mừng khi tự cởi bỏ khỏi của cải vật chất, và những giầu có của ích kỷ, tham vọng, bởi chính những giầu có ấy đẩy con người đến những bất công, bất chính trong tương quan với tha nhân, và từ đó phát sinh những ganh ghét, đố kị, hận thù, bạo lực.

Thánh nhân đã sống tinh thần yêu chuộng  hoà bình và nỗ lực xây dựng một cộng đoàn bình an, một thế giới hoà bình, khi làm trống trải trái tim khỏi những ý nghĩ ích kỷ, toan tính hưởng thụ, thủ đọan vinh danh cái tôi, nhưng làm đầy con tim bằng những cảm thương, chạnh lòng, những bao dung, thứ tha, những ủi an, chia sẻ, những bỏ mình, quên mình, những thiệt thòi vì hạnh phúc của người khác, những mất mát vì bình an của tha nhân, những  lần chết đi cho đồng loại được sống.    

Ước gì ngay hôm nay mỗi người chúng ta noi gương thánh nhân để  biết sống nghèo cái tôi hầu làm giầu cái chúng tôi ; biết từ bỏ chính mình để gặp được tha nhân và tìm lại chính mình trong an bình, vì Thiên Chúa chỉ ban ơn Bình An của Ngài cho những người thiện chí biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

Jorathe Nắng Tím

YẾN TIỆC NƯỚC TRỜI

 

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 28 Thường Niên, Năm A



Càng gần những ngày cuối của ba năm rao giảng Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu càng cảm thấy áp lực nặng nề từ phía giáo quyền Do Thái, khi các thượng tế, ký lục và nhóm Pharisêu ngày càng công khai dồn sức tấn công và tìm mọi cách giăng bẫy Ngài với hy vọng giao nộp Ngài cho chính quyền đế quốc Rôma và ước mơ thấy Ngài lãnh án tử hình đóng đinh, hầu triệt tiêu một khuôn mặt gây nhiều phiền phức, có sức đảo lộn toàn bộ sinh hoạt xã hội, tôn giáo, và làm sụp đổ thành trì “cơ chế” vững chắc bảo đảm an toàn chỗ đứng của họ.

Ở thời điểm căng thẳng này, Đức Giêsu nhiều lần nói với những chức sắc tôn giáo ấy bằng một cung giọng ngày càng cứng rắn, và không ngại lột trần dã tâm đen tối, xấu xa của họ, như dụ ngôn “Tiệc Cưới Nước Trời” được ghi lại trong Tin Mừng Mátthêu.

Dụ ngôn được coi như bản cáo trạng thu gọn lên án thái độ khinh bạc và quyết định khước từ của Ítraen, dân Chúa trước lời mời vào dự tiệc Nước Trời của Thiên Chúa. Qua hình ảnh những khách được mời đã viện đủ lý do để từ chối, đã tìm mọi cách để không đến dự tiệc, dù “cỗ bàn đã dọn xong, bò tơ, thú béo đã hạ rồi, và mọi sự đã sẵn” (Mt 22,4). Không đếm xỉa và coi thường lời mời của Thiên Chúa đã đành, Ítraen còn bắt bớ, hành hạ và giết cả những người của Thiên Chúa sai đến để mời họ, và Đức Giêsu đóng lại bản cáo trạng bằng một kết luận đanh thép : “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng” (Mt 22,8).

Trước lửa hận thù đang sôi sục trong tâm hồn những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái lúc bấy giờ, lời tuyên bố không nể nang, nhân nhượng của Đức Giêsu về một dân riêng không còn xứng đáng với tình thương và lòng trân trọng của Thiên Chúa khác nào đổ thêm dầu để ngọn lửa bùng phát ngàn lần dữ dội, khủng khiếp. Bằng chứng là ngay sau đó “những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy” (Mt 22,15).

Khi nghe Đức Giêsu tố cáo như vậy, chắc chắn một số trong họ đã nghĩ đến ngôn sứ Giêrêmia, người mà cha ông họ đã bạc đãi, đối xử tồi tệ, bất công, đồng thời nhớ lại đội quân hùng mạnh của Nabucodonoso gần 6 thế kỷ trước (năm 587 trước công nguyên) đã tàn phá Đền Thờ và dẵm nát quê hương “Đất Hứa” của họ. Và  nhiều người trong họ đã coi đó là hình phạt của Thiên Chúa Giavê đổ trên dân riêng “bất xứng, ngỗ nghịch”.

Riêng Đức Giêsu, hôm nay Ngài chính thức cho họ biết có một dân mới được mời gọi vào yến tiệc Nước Trời thay thế họ ; có những người khách mới được Thiên Chúa đích thân đón vào dự tiệc cưới ; có những con người mới xứng đáng hơn họ được Thiên Chúa yêu thương, trân trọng cho đồng bàn. Và những khách mới, người mời, dân mới ấy chính là “bất cứ ai gặp được ở các ngã đường”, bởi đã đến lúc Thiên Chúa “gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới” trong Vương Quốc của Ngài (Mt 22,9).

Hình ảnh những người khách mới gặp được ở các ngã đường để thay thế những “khách mời bất xứng” chính là Giáo Hội của Đức Giêsu, một dân tộc mới “gồm muôn dân” được mời vào dự tiệc của Chiên Thiên Chúa như ngôn sứ Isaia đã loan báo : “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc : tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is 25,6), vì Thiên Chúa, Đấng thiết đãi muôn dân yến tiệc Nước Trời là Mục Tử nhân lành, Đấng dẫn đoàn chiên đến đồng cỏ xanh tươi, bên dòng nước trong lành ; Ngài dắt chiên đi trên đường ngay nẻo chính, và dọn sẵn cho chiên “bữa tiệc ngay trước mặt quân thù” (x. Tv 22,1-5). 

Nhưng khi các khách mời đã vào bàn tiệc, thì một biến cố buồn bất chợt xẩy ra : “nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy : Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”. Người ấy câm miệng không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch : “Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 22,13).

Biến cố thật bất ngờ và đáng buồn chắc chắn đã làm sững sờ nhiều người, nhất là thực khách bị nhà vua chiếu tướng, điểm mặt và ra lệnh bắt giam, đem đi hành hạ. Ngay cả chúng ta cũng chung một tâm trạng hụt hẫng ấy, bởi cứ sự thường  những vị “khách mới” bất ngờ giờ chót được mời ở các ngã ba, ngã tư đường đã vào bàn tiệc với y phục thường ngày, vì không  ai trong họ đã được biết trước mình sẽ được nhà vua mời dự tiệc cưới trong hoàng cung. Thái độ nổi giận và hình phạt nặng nề của nhà vua trên vị khách không mặc y phục lễ cưới qủa thật làm sốc  không ít và chúng ta cảm thấy có chút gì bất công về phiá nhà vua.

Thực ra, Đức Giêsu đã mượn hình ảnh y phục lễ cưới để nói lên một chân lý quan trọng đó là Nước Trời từ nay được mở ra cho tất cả mọi người, không trừ ai, không phân biệt sắc dân, chủng tộc, trình độ, hoàn cảnh, nhưng điều đó không có nghiã những người được nhận vào Nước Trời không còn phải đáp ứng bất cứ đòi hỏi nào. Trái lại, luật mới của Tin Mừng, luật của Giao Ước Mới, luật mới của Đức Giêsu, tuy khác Luật cũ Môsê, nhưng vẫn đòi hỏi không kém, vẫn có những điều kiện buộc người muốn vào dự tiệc Nước Trời phải tuân giữ, thực hiện. Và Luật đó chính là Luật Yêu Thương, y phục lễ cưới đó chính là Đức Ái, điều kiện để được Thiên Chúa yêu thương cho đồng bàn với Ngài trong Vương Quốc, như thánh Tông Đồ Gioan  đã khẳng định : “Thiên Chúa là Tình yêu : ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy”, và “đây là điều răn mà chúng ta đã nhận từ Người : ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,16.21).

Xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ quên mang sẵn trên mình y phục lễ cưới là Đức Ái, để bất cứ giờ nào, ở đâu Thiên Chúa mời gọi vào dự Tiệc Cưới Nước Trời, chúng ta đều đến với Ngài trong y phục Tình Yêu lộng lẫy, xinh đẹp, để  xứng đáng đồng bàn với chính Thiên Chúa và các thánh của Ngài trên Thiên Đàng.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

TRÔNG CẬY Ở CHÚA

 

Kinh Thánh tràn ngập tâm tình và hành động trông cậy ở Chúa. Đặc biệt trong các thánh vịnh, niềm hy vọng, lòng trông cậy ở Chúa  được diễn tả rất sâu sa và sống động :  “Con đặt hy vọng nơi Chúa, con hết lòng trông cậy ở Lời Ngài” (Tv 129,5), “Lậy Thiên Chúa, chính Ngài sẽ đẩy chúng vào hố diệt vong những phường khát máu và chuyên lường gạt. Phần con đây, con tin tưởng nơi Ngài” (Tv 54,24), “Chúa để mắt trông nom người kính sợ và kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương” (Tv 32,18), “Lậy Chúa, chính Ngài là Đấng con trông đợi, chính Ngài là Đấng con tin tưởng ngay từ độ thanh xuân. Từ thuở sơ sinh, con nương tựa vào Ngài, Ngài đã kéo con ra khỏi lòng mẹ, con ca tụng Ngài chẳng khi ngơi” (Tv 70,5-6).

Trong Tân Ước, Đức Giêsu đã sống từng giây phút niềm Hy Vọng này, khi hết lòng trông cậy vào Thánh Ý Chúa Cha, và trong mọi tình huống dù éo le, khắc nghiệt, nguy hiểm đến đâu, Ngài vẫn một lòng tin tưởng như lời cuối cùng của Ngài trên Thánh Giá trước khi tắt thở : “Lậy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

Với các môn đệ, Ngài dậy các ông đặt trọn vẹn hy vọng nơi Thiên Chúa quan phòng, Đấng là Cha nhân hậu luôn biết con cái mình cần gì, thiếu gì để ban cho (x. Mt 6,25-34).

Nhưng làm thế nào để biết mình thực sự trông cậy ở Chúa, hy vọng vào Ngài ?

Thưa có hai điều kiện nền tảng để biết mình có lòng trông cậy đích thực, niềm hy vọng chính đáng :

1.   Biết mình có khả năng ra khỏi cái tôi khép kín, đóng chặt và những thành qủa do hoạt động của bản thân.

2.   Dám tin tưởng vào mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Để hiểu rõ hơn, chúng ta cùng chia sẻ tâm tình của thánh Gioan Tông Đồ, người môn đệ được Chúa yêu đặc biệt qua thư của Ngài : “Điều có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống. Qủa vậy, sự sống đã được tỏ bầy, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời : sự sống ấy vẫn hưóng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bầy cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (1 Ga 1,1-4).

Qua trích đọan trên, chúng ta thấy thánh Gioan đã không giữ riêng cho mình bất cứ sự gì nhận được từ Thiên Chúa, kể cả ơn được hiệp thông với Chúa Cha và Đức Giêsu, nhưng muốn truyền đạt tất cả cho chúng ta, với mục đích làm cho niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn, niềm vui mà theo Ngài chính là sự hiệp thông của toàn thể cộng đoàn trong Thiên Chúa và với Thiên Chúa. Sự hiệp thông được hình thành từ những liên đới ngày càng nhân rộng, ngày càng thêm mới, luôn vui tươi và chân thực vì được nuôi dưỡng trong niềm Hy Vọng ở Niềm Vui sẽ được Thiên Chúa làm cho hoàn hảo.

Qủa thực, không thể trông cậy, nếu lòng trông cậy không hướng đến một Niềm Vui hoàn hảo ; không thể hy vọng, nếu niềm hy vọng không tìm kiếm một Hạnh Phúc lớn lao, trọn vẹn. Đức trông cậy ở người Kitô hữu là nỗi khát khao Lời Hứa Hạnh Phúc của Thiên Chúa được thực hiện nơi họ ; là ước mơ, mong đợi, trông ngóng Niềm Vui bất diệt và Hạnh Phúc đời đời đã được Thiên Chúa hứa ban, nên trong trái tim Trông Cậy của người môn đệ Đức Giêsu luôn có bóng dáng của Niềm Vui Tin Mừng, và những bước chân của người đi theo Đức Giêsu trên  hành trình Hy Vọng lúc nào cũng dặt dìu, nhịp nhàng tiếng ca  ngày mùa Hạnh Phúc của Nước Thiên Chúa.

Nhưng niềm vui Tin Mừng và hạnh phúc Nước Trời không bất động như nước ao tù, nhưng sống động, rộn ràng, nhộn nhịp như sự sống ; không im lìm thê lương như ốc đảo hoang vu, tiêu điều, nhưng vui tươi gặp gỡ, hào sảng mời gọi, quảng đại trao ban, vì niềm vui riêng lẻ của  bản thân từ nay đã biết ra khỏi mình để cộng hưởng với Niềm Vui lớn của cộng đoàn, hạnh phúc riêng tư nay đã biết vươn mình ra khỏi vỏ ốc ích kỷ để chung sức góp phần làm nẩy sinh nhiều hạnh phúc mới và làm cho “Hạnh Phúc chung” của mọi người ngày càng lan rộng, bao trùm.   

Thực vậy, mầu nhiệm Hy Vọng của Thiên Chúa chính là Niềm Vui lớn của cộng đoàn, Hạnh Phúc lớn của dân Chúa, mà những niềm vui nhỏ của từng cá nhân, những  hạnh phúc bé của mỗi người đã  tận tụy đóng góp, chung phần làm nên.

Vì thế, lòng Trông cậy, niềm Hy Vọng của chúng ta ở Thiên Chúa không là lòng trông cậy thụ động, niềm hy vọng ươn lười, “ngồi chờ sung rụng”, nhưng là Trông Cậy tích cực, Hy Vọng hoạt động, Trông Cậy dấn thân, Hy Vọng nỗ lực xây dựng. Nói cách khác, chính mỗi người Kitô hữu được kêu gọi cùng Đức Giêsu “cưu mang” niềm Hy Vọng cho thế giới, “sinh ra” niềm Hy Vọng cho người nghèo, đau yếu, bất hạnh, và “làm lớn lên” niềm Hy Vọng, Cậy Trông giữa những con người đang chối bỏ Niềm Vui Hy Vọng của đời mình.

Để được cùng Đức Giêsu bước đi trên con đường Hy Vọng, mỗi người Kitô hữu phải trở nên người cộng tác tìm kiếm và xây dựng Niềm vui chung của cộng đoàn khi noi gương Đức Giêsu thực hiện bốn điều sau :

·      Chăm chú lắng nghe người khác, như Đức Giêsu đã chăm chú lắng nghe ông Nicôđêmô khi ông tìm đến gặp riêng Ngài ban đêm, vì ông là một thủ lãnh của người Do Thái (x. Ga 3,1-21).

·      Tuyệt đối kính trọng mọi người, như Đức Giêsu đã luôn trân trọng những người Ngài gặp : từ viên sĩ quan ngọai quốc, ngoại đạo (Lc 7,1-10), người đàn bà nghèo khó (Mc 12,41-44), chị phụ nữ ngoại tình bị bắt qủa tang (x. Ga 8,1-11) đến người ăn xin mù loà (x. Ga 9), người thu thuế tội lỗi (x. Lc 19,1-10) và các trẻ em (x.Mc 10,13-16).

·      Chân thành, chân thực với anh em như Đức Giêsu đã chia sẻ chân thành và chân thực với người đàn bà Samari bên giếng Giacóp.

Để có được những đối thoại chân thực, chân thành, người ta không những phải tôn trọng đối tượng mà còn phải hết tình quan tâm, và ân cần đón nhận, chia sẻ tâm sự.

·      Kiên nhẫn với nhau trong đời sống, như Đức Giêsu đã kiên nhẫn chịu đựng các môn đệ cũng như dân của Ngài. Kiên nhẫn khi không làm áp lực, bắt ép  người khác phải tin và làm theo ý mình, nhưng tôn trọng chọn lựa tự do của mỗi người ; kiên nhẫn để kiến tạo bình an và tự tin ở người khác, mà không biến bất cứ ai thành một thứ nô lệ tinh thần phải tùy thuộc và phục vụ ý muốn riêng của chúng ta.

Vâng, hình ảnh những con người đã được gặp Đức Giêsu trong Tin Mừng đã cho chúng ta thấy lòng trông cậy phải hướng đến Thiên Chúa là Niềm Vui hoàn hảo bằng tích cực cộng tác với Thiên Chúa “sinh ra và nuôi lớn” những liên đới mới, vì từ những liên đới này mà niềm vui được ươm mầm và sinh hoa kết qủa đem lại Hạnh Phúc lớn lao và trọn vẹn mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai trông cậy ở Ngài.

Nói cách khác, những người tin tưởng vào Lời Hứa của Thiên Chúa sẽ đặt niềm hy vọng, lòng trông cậy của mình vào hành động xây đắp niềm vui chung, khi quên mình vì niềm vui của người khác và tin vào chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa, bởi hành trình Hy Vọng, con đường Trông Cậy của người môn đệ Đức Giêsu là dong duổi với Chúa đến với người khác, và cùng người khác miệt mài tìm đến Chúa là Nguồn Vui của Hy Vọng.  

Xin Đức Maria, gương mẫu của lòng Trông Cậy, người đã được Thiên Chúa ban trọn vẹn Niềm Vui của lòng Trông cậy, vì tin ở Mầu Nhiệm Thiên Chúa đã lên đường “ra khỏi” nhà mình, “rời bỏ” tổ ấm riêng tư của mình, ngay sau khi thụ thai Ngôi Lời Thiên Chúa do quyền phép Chúa Thánh Thần, để đến thăm người chị họ Êlisabét. Vì đặt trọn niềm Hy Vọng ở Mầu Nhiệm Thiên Chúa, và dám chia sẻ những gì “mình là” : là Mẹ Thiên Chúa, “mình có”: có Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể trong cung lòng, Đức Maria đã đánh thức lòng dạ bà chị họ để bà  được vui mừng vì nhận ra Hồng Ân của Thiên Chúa: “Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc vì tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,44-45).

Vì tin những gì Thiên Chúa đã nói, vì tin vào Mầu Nhiệm của Thiên Chúa, Đức Maria đã thực hiện sứ vụ người cộng tác với Thiên Chúa để làm cho Niềm Vui của Hy Vọng được lan rộng, lớn nhanh, và chính vì đã chia sẻ niềm vui bản thân với người khác, niềm vui của Mẹ đã tăng lên gấp bội như lời ngợi khen tràn đầy hạnh phúc của người Nữ Tỳ được Thiên Chúa yêu thương trong Kinh Tán Tụng Magnificat mà Mẹ đã hát lên ngay sau lời khen ngợi, chúc mừng của bà chị họ Êlisabét : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn !” (Lc 1,46-49).

Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2020

NIỀM VUI TRONG CUỘC ĐỜI THÁNH TÊRÊSA

 

Mừng Lễ Kính Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu 01 tháng 10



Niềm vui là đặc tính của đời sống thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, mà người ta đọc được trên từng trang Nhật Ký “Một Tâm Hồn” của chị thánh. Đó là  niềm vui xuất phát từ Nguồn Vui là Thiên Chúa, là hoa trái của Phó Thác, Tin Tưởng, là hạnh phúc của con thơ trong vòng tay yêu thương của Cha nhân hậu. Với con đường thơ bé, thánh nữ đã cho chúng ta bí quyết để sống bình an trong niềm vui sâu lắng của  người môn đệ hoàn toàn thuộc về Đức Giêsu.

1.   Niềm vui là hoa trái của tinh thần Phó Thác :

Phó thác ở Cha trên trời là “cột sống” của linh đạo Têrêsa, mà suốt đời thánh nữ đã thực hiện. Tinh thần phó thác ấy được đặt trên nền tảng ý thức về mình và sống như mình là, nghiã là đón nhận những gì mình là, và những gì mình có như Hồng Ân của Cha trên trời thương ban, mà không ganh tị với người hơn mình, không khinh khi người thua kém mình, nhất là không quy chiếu bất cứ thành qủa, giá trị nào do mình làm vào “cái tôi” bất toàn, nhiều giới hạn, luôn cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa và anh em.

Ý thức về thân phận của mình cũng là ý thức về Tình Yêu bao la, cao cả của Thiên Chúa, nên càng biết “đón nhận mình như mình là”, người môn đệ Đức Giêsu, như thánh nữ Têrêsa càng thiết tha yêu mến Thiên Chúa, “Đấng đã làm những việc kỳ diệu trên tôi tớ hèn mọn của Ngài”. Và đây chính là gốc rễ của niềm vui trong tâm hồn như thánh nữ đã viết : “Nếu con không luôn sẵn sàng phó thác vào Thánh Ý Chúa, và luôn bị xao động bởi những tình cảm vui, buồn không ngừng nối tiếp nhau, thì tâm hồn con lúc nào cũng muộn phiền, ủ dột đến độ không còn có thể chịu đựng được những thử thách hằng ngày của Tình Yêu”    

2.   Niềm vui là hoa trái của Tình Yêu hy sinh :

Như ơn Bình An của Đức Giêsu đã chỉ được thực sự ban cho các môn đệ, sau khi Ngài đã chịu khổ hình, chịu chết và sống lại, bởi bình an đích thực, cũng là niềm vui bắt nguồn từ Thiên Chúa phải là hoa trái của tình yêu hy sinh, phải là kết qủa của tình yêu xóa mình, hiến mình vì hạnh phúc của người khác, nên sẽ không có niềm vui đích thực của Đức Giêsu phục sinh, nếu đã không cùng chịu khổ và chết với Ngài vì tha nhân, cũng như không có tình yêu đích thực như tình yêu của Thiên Chúa yêu nhân loại nếu thiếu hy sinh vì yêu thương đồng loại.

Vì thế, chỉ với tình yêu hy sinh vì người khác trong mọi thử thách của cuộc sống hằng ngày, từ việc nhỏ đến việc lớn, trong lời nói, việc làm, với Bề Trên và bề ngang, bề dưới, lúc “cơm lành canh ngọt” cũng như khi phải “ngậm đắng nuốt cay”, người đi theo Đức Giêsu mới nếm được sự dịu ngọt của tình yêu hiến mình ; mới cảm được “ách Ta êm ái, và gánh Ta nhẹ nhàng” khi mang những Thánh Giá đủ kích cỡ Thiên Chúa đặt trên vai ; mới có thể hiệp nhất và trở nên “đồng hình đồng dạng” với Đức Giêsu chịu đóng đinh cho hạnh phúc của anh em mình. 

Để vượt qua những thử thách hằng ngày trong đời sống cộng đoàn luôn nhiêu khê,  nhiều phức tạp, và đòi  liên lỷ hy sinh quên mình, Thánh nữ Têrêsa đã sống hết tình từng giây phút của đời tu với bí quyết của Tình Yêu đó là làm mọi “việc nhỏ với Tình Yêu lớn”, như cuộc đời tuy ngắn ngủi với hai mươi bốn năm sống ẩn mình trong dòng kín, nhưng luôn tha thiết, nồng nàn với Tình Yêu vượt không gian, thời gian khi khao khát được đến tận chân trời góc bể của mọi thời để loan báo cho muôn dân Tin Mừng : Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc họ.

3.      Niềm vui là hoa trái của Tha Thứ :

Tâm hồn hạnh phúc, trái tim tràn ngập niềm vui chỉ có ở người biết sống bình an với chính mình, bình an với tha nhân và bình an với Thiên Chúa.

Sống bình an với mình khi biết tha thứ cho những thiếu sót, bất toàn, yếu đuối, thất bại của chính mình, mà không bao giờ nguyền rủa mình, và buông xuôi, đầu hàng cuộc sống là Hông Ân của Thiên Chúa, như thánh Têrêsa đã viết trong ngày Rước Lễ lần đầu : “Con sẽ không bao giờ nản chí, thất vọng”, bởi ý thức những giới hạn của mình, và bình an với mình, đó là đức tính anh hùng trong đời sống thường ngày, và “ơn bình an với chính mình” ấy chính là hoa trái của sự phó thác vào Thiên Chúa, mà chỉ Chúa Thánh Thần mới ban được cho những ai mở lòng đón nhận Ngài.

Sống bình an với mình chưa đủ, người Kitô hữu còn được mời gọi sống bình an với anh chị em của mình, với Giáo Hội, với cộng đoàn.

Sau cùng, chúng ta còn cần sống bình an với Thiên Chúa, nghiã là hài lòng với hình hài đã được Thiên Chúa dựng nên ; hài lòng với cha mẹ, gia đình, gia tộc, quê hương đất nước mà Thiên Chúa đã đặt mình vào ; hài lòng với hoàn cảnh của thế giới trong đó Thiên Chúa sai  đến phục vụ.

Nhưng để có được ơn Bình An với mình, với tha nhân và với Thiên Chúa, chúng ta phải khởi đi từ đòi hòi Tha Thứ là cao điểm của Tình Yêu, bởi chỉ có Tha Thứ, chúng ta mới có bình an là nguồn của niềm vui đích thực từ Thiên Chúa, như Đức Giêsu, trong kinh Lậy Cha đã dậy chúng ta tiên vàn hãy tha thứ để được thứ tha : “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, bởi không tha thứ, ơn bình an của Đức Giêsu phục sinh là nguồn vui đích thực sẽ không bao giờ “có cửa” để đến và cư ngụ trong tâm hồn người môn đệ.

Xin Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm mưa Hoa Hồng trên chúng con để chúng con được cùng toàn thể Dân Chúa hát lên : “Con sẽ bước tới bàn thờ Chúa Trời, Nguồn Vui của hồn con”.

Jorathe Nắng Tím  

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2020

VƯỜN NHO GIÁO HỘI

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 Thường Niên, Năm A


Vườn nho là hình ảnh của Ítraen, dân riêng của Thiên Chúa Giavê trong Cựu Ước, cũng là hình ảnh của Giáo Hội Đức Giêsu trong Tân Ước, vườn nho mà người chủ vườn là Thiên Chúa hằng say mê, trân qúy, “đem giống nho qúy về trồng… và những mong nó sinh trái tốt” (Is 5,2).

Qủa thực, ông chủ vườn nho rất hạnh phúc với vườn nho của mình và hãnh diện nói với mọi người : “Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?” (Is 5,4). Và tương quan gắn bó mật thiết giữa ông chủ và vườn nho chính là hình ảnh tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân Ngài, như ngôn sứ Isaia đã qủa quyết : “Vườn nho của Đức Chúa các đạo binh, chính là nhà Ítraen đó ; cây nho Chúa mến yêu qúy chuộng ấy chính là người xứ Giuđa” (Is 5,7). Nhưng rồi, chính “vườn nho - dân riêng” ấy đã làm thất vọng ông chủ của mình khi sinh ra “những trái nho dại” do làm những điều bất chính (x. Is 5,2.7).    

Tin Mừng Mathêu cho chúng ta thấy : đứng trước những khước từ, tẩy chay, chống đối ngày càng dồn dập, và những âm mưu hãm hại, thủ đọan triệt hạ ngày càng bủa vây quyết liệt của người Do Thái được các Thượng tế, Kinh Sư và những người thuộc nhóm Pharisêu cực đoan dàn dựng, đạo diễn, Đức Giêsu đã không ngần ngại so sánh họ với bọn tá điền gian ác, bất trung đã bắt bớ, đánh đập, ném đá, giết chết những đầy tớ của chủ được sai đến gặp họ để thu hoa lợi trong vườn nho của ông, khi  mùa hái nho đến. Sau nhiều lần hành hung, hãm hại một số rất đông đầy tớ của chủ được sai đến, chủ quyết định sai chính đứa con thừa tự vô vàn yêu qúy của mình đến gặp đám tá điền hung dữ, với hy vọng họ sẽ không làm gì cậu. Nhưng ông chủ đã lầm, vừa thấy người con, bọn chúng bảo nhau : “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết qúach nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!. Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho và giết đi” (Mt 21, 38-39).

Thẳng thừng so sánh họ với bọn tá điền ác ôn, vô ơn, phản bội, Đức Giêsu chẳng khác nào đổ dầu vào lửa. Ngài còn nghiêm khắc bảo : “Tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” vì thế “họ tìm cách bắt Người” (Mt 21,43.46).

Thực vậy, chương trình của Thiên Chúa là Ítraen, dân Chúa sẽ đón nhận Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, Đấng Thiên Chúa sai đến, Đấng mà các ngôn sứ đã loan báo từ bao đời trước, nhưng rất tiếc, Ítraen, dân riêng của Thiên Chúa đã không mở lòng đón nhận Ngài, bởi thế, Đức Giêsu, Con Một của Thiên Chúa, người con thừa kế được sai đến Vườn Nho - Dân Chúa đã bị hành hình, đóng đinh bởi chính dân Ngài. Và lời Kinh Thánh đã ứng nghiệm nơi Đức Giêsu : “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (Tv 117,22-23).

Công trình kỳ diệu ấy là Giáo Hội được khai sinh, khi Đức Giêsu xây Giáo Hội  trên tảng đá Phêrô để làm thành một dân mới biết làm cho Vườn Nho đơm hoa kết trái, “biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (Mt 21,43) ; là hạt cải vốn “là loại nhỏ nhất trong các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất ; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được” (Mt 13,32) ; là “thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời” ; là đại hội của những người “đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới” (Dt 12,22.24).   

Là “Vườn Nho mới” được Thiên Chúa làm giậu, xây tường và tiả cành, nhổ cỏ cho tươi thắm, Giáo Hội mang sứ mệnh loan báo Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ đích thực và duy nhất của nhân loại được Chúa Cha sai đến, Đấng “đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11). Dầu vậy, Ngài vẫn yêu thương để “những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,11-12) trong Vườn Nho Giáo Hội của Ngài.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

TỪ VÂNG PHỤC LỀ LUẬT ĐẾN TIN VÀO ĐỨC GIÊSU

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 Thường Niên, Năm A


Tin Mừng Mátthêu ghi lại “dụ ngôn hai người con” được Đức Giêsu đặt thành câu hỏi : người con thứ nhất trả lời cha : “Con không muốn đi đâu!”, khi ông bảo cậu : “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho Cha”, nhưng sau đó, anh ta hối hận, nên lại đi ; còn người thứ hai nhanh nhẩu trả lời : “Thưa Cha, con đi ngay”, thì lại đổi ý không đi. Vậy “trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” (Mt 21,31).

Tin Mừng Chúa Nhật này tuy tiếp tục nói về vườn nho, nhưng không đặt vấn đề thời gian làm việc, lương bổng, và đặc biệt không gọi “người làm vườn nho” là “công nhân, người làm” nữa, nhưng gọi là “Con”, và trọng tâm của dụ ngôn chính là  hai người con được mời gọi đi làm vườn nho của Cha mình.

Chúng ta thấy cung giọng của Tin Mừng hôm nay hoàn toàn thay đổi khi tương quan Cha - Con, liên đới gia đình thay thế “thứ bậc” ông chủ - người làm công, lời mời thay cho lệnh, tự do thay “giao kèo, hợp đồng”, nên không còn cảnh kèo nhèo, phân bì, khiếu nại tiền công cuối ngày của đám thợ nghĩ mình bị chủ bóc lột, ăn chặn, xử ép bất công.

Hai người con được cha mời gọi đi làm vườn nho, và cả hai hoàn toàn tự do chấp thuận hay từ chối, toàn quyền quyết định đi hay không đi, và việc vào làm vườn nho không mang tính cách của một hình phạt, án khổ sai, hay công việc dành cho tôi tớ, nhưng là vinh dự chỉ dành cho con cái, và trách nhiệm đương nhiên của người thừa kế gia nghiệp.

Người con thứ nhất ban đầu không muốn đi đã thẳng thắn trả lời Cha : “Con không muốn”. Nhưng  anh suy nghĩ lại và hối hận, nên lại đi theo như ý muốn của Cha. Trái ngược với người thứ nhất, con thứ hai đã năng nổ ban đầu, nhưng rồi lại không đi.

Hình ảnh này ngôn sứ Êdêkien đã loan báo khi nói về người công chính và không công chính trong dân Ítraen : Các ngươi lại nói : “Đường lối của Chúa Thượng không ngay thẳng”. Vậy hỡi nhà Ítraen hãy nghe đây : Phải chăng đưòng lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình” (Ed 18,25-27).

Ngôn sứ nhấn mạnh : đường lối của Thiên Chúa không sai, nhưng sai là do con người có tự do đã từ chối thực hiện đường lối thánh thiện, tốt đẹp của Thiên Chúa, như người Cha đã mời gọi cả hai con cùng vào vườn nho, nhưng quyết định vào hay không tùy thuộc lựa chọn và quyết định tự do của mỗi người.  

Đức Giêsu, trong Tin Mừng Mátthêu, khi đưa ra dụ ngôn “hai người con” đã không chỉ nói chung chung, nhưng trực diện và trực tiếp nói với những kinh sư, Pharisêu, và toàn thể giai cấp lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ cái sai của họ, vì họ không tin Ngài. Sở dĩ không tin Ngài, vì họ không thể dứt ra khỏi cơ cấu của truyền thống, không thể gỡ mình khỏi ràng buộc của cơ chế lề luật để tâm hồn  mở rộng đón nhận Tin Mừng, trái tim mở cửa đón tiếp Ngài là Đấng Thiên Chúa sai đến. Họ là những người “vị Lề Luật”, sùng bái, tôn thờ Lề Luật nên không ra khỏi não trạng vâng phục Lề Luật cách mù quáng, mà chỉ muốn ở lỳ trong “vòng chi ly, tỉ mỉ của Lề Luật”, nên đã không để Đức Giêsu dẫn vào con đường đức tin, khi từ chối tin Ngài là Con Thiên Chúa.

Chính vì khép kín, lại kiêu căng, ương ngạnh, họ vô tình đánh mất chỗ tốt nhất mang lại nhiều lợi nhuận nhất là chỗ của người có tội, chỗ của những người thu thuế gian tham, chỗ của những cô gái điếm buông thả, lăng loàn, chỗ của phường lưu manh, trộm cướp, nhưng tất cả những người tưởng  bị loại bỏ này đã không từ chối con đường Cứu Độ Thiên Chúa mở ra mời gọi, khi họ đặt niềm tin vào Đức Giêsu, như Đức Giêsu đã qủa quyết : “Tôi bảo thật các ông : những ngưòi thu thuế và những cô gái điếm  vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin” (Mt 21,31-32).

Như thế, then chốt của vấn đề, đáp án của nan đề là tin vào Đức Giêsu, Đấng là “Đường, Sự Thật và Sự Sống”, Đấng mà Gioan Tẩy Giả đã trân trọng loan báo và giới thiệu với đám đông : “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29). Và đó là ý muốn của Thiên Chúa, nên tin Đức Giêsu là Đấng xóa tội, tội lỗi của tội nhân sẽ được Máu Ngài  tẩy xóa, rửa sạch ; tin vào Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ nhân hậu, giầu lòng thương xót, thân phận yếu đuối, tội lụy, bất xứng của người có tội sẽ được thương xót, chữa lành. Cũng vậy, Nước Trời sẽ chỉ dành cho những ai đặt niềm tin vào Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, nên bất cứ ai, dù tội lỗi nhưng tin vào Ngài chắc chắn sẽ được Ngài cứu độ, và ban phần thưởng thiên đàng.

Vâng, Đức Giêsu  luôn mời gọi chúng ta noi gương Ngài vâng phục trong Tình Yêu “cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cậy thập tự” để từ vâng phục, chúng ta đi đến đức tin, khi tin “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,8.11), bởi vâng phục mà thiếu tình yêu, dù là vâng phục Lề Luật, chúng ta sẽ như người con thứ hai nhanh nhẩu trả lời Cha “Con đi ngay”, nhưng lại không đi, vì chỉ vâng phục  trong Tình Yêu và với Tình Yêu, chúng ta mới đi đến cùng con đường Thiên Chúa muốn chúng ta đi, mới có thể  thực hiện Ý Muốn của Thiên Chúa khi tin vào Đức Giêsu và tuyên xưng Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.

Jorathe Nắng Tím