Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2020

TINH THẦN THẾ GIAN

                         

      Không gì khó và cam go bằng ở trong bùn mà không hôi tanh mùi bùn”, sống với lũ mà không để lũ cuốn đi, ở giữa lửa mà không bị lửa đốt cháy, thiêu rụi. 

    Kinh nghiệm cuộc sống thường ngày cho chúng ta thấy đây là việc rất khó, như cả đơn vị, công ty, tổ chức từ cấp trên đến cấp dưới, từ ông gác cổng đến lãnh đạo tối cao đều tham nhũng, hối lộ, cửa quyền, mà chỉ riêng ai đó một mình liều lĩnh đi trái chiều, bơi ngược dòng  khi chọn lối sống  hoà đồng, tận tụy, gần gũi, lại liêm khiết, trong sạch thì làm sao “tập thể gian tham” kia “cho sống, và cho làm cùng”, mà không đưa lên bàn mổ “phân thây xẻ thịt”? Vì sức mạnh của đám đông sẽ nghiền nát cá nhân đi ngược nó; cỗ máy “đa số”, sẽ làm thiểu số quay ngoài qũy đạo phải bắn ra khỏi quy trình sinh hoạt. Do đó, cá nhân cũng như thiểu số không ngoan ngùy cúi đầu nghe theo tập thể, không vâng lời quy phục đa số, tất thẩy  đều sẽ phải mang chung số phận bị khai trừ, loại bỏ, triệt tiêu, đốn hạ. 

    Trong cuộc sống đức tin và trên hành trình đi theo Đức Giêsu, người môn đệ được coi là nhóm  thiểu số giữa đám đông không thiện cảm, nếu không muốn nói là đám đông luôn đe dọa và tìm cách tiêu diệt, như lời Đức Giêsu cảnh báo: “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10,16). 

     Hình ảnh con chiên ngơ ngác đi giữa bầy sói dữ không khỏi làm chúng ta chạnh lòng thương chú chiên đơn sơ, hiền lành, và lo sợ cho tính mạng của chú, vì lúc nào chú cũng bị  bầy sói ghét cay ghét đắng, và rình rập xé xác, như  lời căn dặn sau cùng của Đức Giêsu, trước khi đi chịu chết: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì thuộc về nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách  anh em ra khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15, 18-19). 

     Vấn đề ở đây không chỉ là thế gian ghen ghét và tìm cách bắt bớ, hãm hại, truy diệt, vì đó là điều tất nhiên, do chúng ta không thuộc về thế gian, nhưng vấn đề là chúng ta không chịu hoàn toàn thuộc về Chúa, không chịu đứng hẳn trong hàng ngũ, chiến tuyến của Chúa, không “toàn tâm, toàn ý, toàn thân” đi theo Chúa, nên thế gian đã lợi dụng những sơ hở, lỏng lẻo, rạn nứt trong tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa để đột nhập “nằm vùng” và lôi cuốn chúng ta mang lấy tinh thần của chúng trên hành trình theo Chúa, mặc lấy áo của thế gian cho dù vẫn đứng trong hàng ngũ môn đệ của Chúa, sống lối sống của thế tục, tuy đang mang danh hiệu người Kitô hữu…            

   Nhưng thế gian là gì? 

 Thánh Gioan tóm tắt: “Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha, vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; mà thế gian đang qua đi cùng với dục vọng của nó. Còn ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa thì tồn tại mãi.” (1 Ga 2,15-17).

    Như vậy, thế gian là một thực thể hay một tình trạng mà ở đó tinh thần của con người bi bóp nghẹt, “vì những lo lắng cho sự đời, và bả vinh quang phú qúy”, nên đã không đón nhận được Lời Thiên Chúa (x. Mt 13,22). Từ đó, tinh thần thế gian làm lu mờ đôi mắt, làm đục ngầu cuộc đời trong những ham muốn của bản năng và tính ganh ghét, kiêu căng cố hữu luôn  tiềm tàng tận đáy sâu tâm hồn. Hơn thế nữa, tinh thần thế gian không cho chúng ta biết “hằng ngày dùng đủ”, nhưng đẩy chúng ta vào những cám dỗ của vật chất, để rơi vào kiêu căng “cậy mình có của”, khinh miệt người nghèo khó (x. 1 Tm 6,9), và tìm vinh quang cho chính mình (x. Ga 7,18). Tinh thần thế gian  “còn làm cho tâm trí ra mù quáng, khiến không thấy bừng sáng lên Tin Mừng nói về vinh quang của Đức Kitô, là hình ảnh Thiên Chúa” (2 Cr 4,4). 

   Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu Rôma: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2).

     Như thế, tinh thần thế gian làm cho chúng ta không còn khả năng phân định cái gì tốt, cái gì xấu, cái gì hoàn hảo, cái gì làm đẹp lòng Thiên Chúa, và đó chính là nguyên nhân của mọi hủy diệt, vì không nhận ra “lẽ khôn ngoan mà Thiên Chúa đã tiền định từ trước muôn đời, cho chúng ta được vinh hiển” (1 Cr 2,7), bởi “con người  sống theo tính tự nhiên”, tức sống theo tinh thần thế gian, “thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là điên rồ; họ không thể biết được, bởi phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán. Nhưng con người sống theo Thần Khí thì xét đoán được mọi sự, mà chẳng có gì xét đoán được người đó”. Và thánh tông đồ dân ngoại qủa quyết: “Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa, để chỉ vẽ cho Người? Còn chúng tôi, chúng tôi được biết tư tưởng của Đức Giêsu”

(1Cr2,14-16). 

   Cũng thánh Phaolô, một lần nữa trình bầy rất rõ ràng tinh thần thế gian trong thư gửi giáo đoàn Êphêxô: “Anh em đã chết vì những sa ngã và tội lỗi của anh em. Xưa kia anh em đã sống trong đó, theo trào lưu của thế gian này, theo tên thủ lãnh nắm quyền lực trên không trung, tên ác thần hiện đang hoạt động trên những kẻ không vâng phục. Tất cả chúng tôi xưa kia cũng thuộc hạng người đó, khi chúng tôi buông theo các đam mê của tính xác thịt, thi hành những ước muốn của tính xác thịt và của trí khôn. Bẩm sinh chúng tôi là những kẻ đáng chịu cơn thịnh nộ của Thiên Chúa như những người khác” (Ep 2,1-3). 

    Thực vậy, tinh thần thế tục có mặt khắp nơi, ngay trong lòng Giáo Hội, bởi nó ở ngay trong tâm hồn con người. Nó làm yếu đi sức mạnh, làm giảm đi nhiệt huyết, làm thối chí, ngã lòng, làm xáo trộn, đổ vỡ, làm phôi phai, tàn lụi những gì tốt đẹp ở người môn đệ, và công trình của Thiên Chúa nơi loài người.

   Trước cuồng phong của tinh thần thế gian xem ra đang ở thế thượng phong áp đảo, chúng ta phải làm gì? 

1.   Hãy là những người con bé nhỏ để được thương xót, tha tội:

  Khác biệt giữa người lớn và trẻ em là tính kiêu hãnh, tự mãn, tự phụ,  vì người lớn thì  dưa vào sức mình, còn trẻ em thì biết mình nhỏ bé, yếu đuối, không tự mình làm được nhiều việc, nên luôn trông cậy, và dựa vào tình yêu, lòng tốt  của cha mẹ, và người khác. 

    Cũng vì biết mình cần cha mẹ,  người khác, nên khi làm sai, làm không được, trẻ em không cảm thấy “mất mặt” bị tổn thương, hay ngại ngùng xin lỗi. Trái lại, sự nhỏ bé làm cho em đơn sơ tin tưởng, hồn nhiên phó thác và sẵn sàng nhận lỗi, sửa sai, mà không tự ái, mặc cảm, dỗi hờn, bực tức, nổi giận với chính mình , hoặc đổ lỗi cho người khác.

   Thánh Gioan khuyên chúng ta hãy sống bé nhỏ giữa những cạm bẫy của thế gian khi gọi  giáo dân của ngài là “những người con bé nhỏ” của ngài, và cũng là “những người con bé nhỏ của Thiên Chúa”: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của tôi, tôi viết cho anh em những điều này, để anh em đừng phạm tội. Nhưng nếu ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng Công Chính. Chính Đức Giêsu Kitô là Đấng đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi của cả thế gian nữa (1Ga 2, 1-2), và liên tiếp, ngài dùng danh xưng “những người con bé nhỏ » (x. 1 Ga 2,12.14.18.28 ;3,7.18 ;4,4 ; 5,21), như năn nỉ chúng ta hãy trở thành những người con thơ của Chúa  và mang lấy tinh thần bé nhỏ của Tin Mừng, vì chúng ta biết chắc rằng: Thiên Chúa gìn giữ chúng ta và Ác Thần không làm gì chúng ta được, bởi “chúng ta thuộc về Thiên Chúa” (1 Ga 5,19); bởi “Đấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian” (1Ga 4,4); bởi “anh em được tha tội nhờ danh Đức Giêsu Kitô” (1Ga 2,12); bởi “chúng ta được mạnh dạn, chứ không bị xấu hổ, vì phải xa cách Người trong ngày Người quang lâm” (1Ga 2,28).       

   Tinh thần bé nhỏ của người thuộc về Thiên Chúa  đi ngược với tinh thần kiêu căng của thế gian, vì thế gian chỉ  tìm  quyền thế, vinh quang, và thụ hưởng. Chỉ người có  tinh thần bé nhỏ, tinh thần khiêm nhu như chiên con hiền lành  mới được Thiên Chúa yêu thương, gìn giữ, thương xót thứ tha mọi yếu đuối, lỗi lầm. 

   Trong kinh Tán Tụng, Đức Maria đã làm nổi bật tinh thần bé nhỏ của người nữ tỳ Chúa, và tinh thần bé nhỏ, khiêm nhu chính là nền tảng của đời sống người Kitô hữu, mà Đức Maria là gương mẫu lý tưởng (x. Lc 1, 46-56). 

2.   Hãy là những người con bé nhỏ để được bình an trong đức tin: 

    Thế gian không bình an, người thế gian không an bình, bởi trong thế gian chỉ có những người muốn làm lớn, làm lãnh tụ, “ăn trên ngồi trước”, cưỡi đầu cưỡi cổ thiên hạ, bắt người khác phục dịch, hầu hạ, làm theo ý mình, mà ít có người  chịu làm người bé nhỏ, hiền lành, khiêm nhường , phục vụ người khác. Thế gian tranh gìành, đấu đá, vì tinh thần thế gian là thống trị, sở hữu, nên ai cũng tìm cho mình quyền cao chức trọng  không  phải để phục vụ nhưng để thu về một mối cho mình, gom về tất cả dưới trướng của mình, để toàn quyền thao túng, sinh sát trên mọi người.

   Chính vì phải tranh giành, đấu đá để có quyền, nắm quyền, giữ quyền, cầm quyền, mà chiến tranh bùng nổ từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, từ gần ra xa, từ quê ra tỉnh, từ quốc gia đến toàn cầu, và cuộc chiến tang thương, đẫm máu nhất chính là cuộc chiến ngay trong tâm hồn người mang tinh thần thế tục với những ham muốn bất chính và kiêu căng.  

   Trái ngược với những người thuộc về thế gian, người con bé nhỏ của Thiên Chúa với tinh thần của Tin Mừng luôn bình an, vì không tìm kiếm danh lợi thú, là những ngòi nổ của chiến tranh, những nguyên nhân đưa đến mất an bình khởi đi từ tâm hồn. 

    Đức Giêsu đã ban bình an cho các tông đồ, và hết những người Ngài gặp sau khi sống lại, và tất cả những người nhận được ơn bình an phục sinh của Ngài đều là những con người bé nhỏ của Thiên Chúa: họ bé nhỏ trước những đua tranh quyền lực, vinh quang của những người vừa giết Đức Giêsu và tiếp tục truy lùng, làm khó dễ họ; họ bé nhỏ vì là một nhóm rất nhỏ, tay không tấc sắt, không tiền của, không ảnh hưởng, không thế lực tôn giáo, chính trị; họ bé nhỏ vì là thiểu số đi theo Đức Giêsu chỉ vì tin vào Ngài: họ bé nhỏ nên tin vào sức mạnh của Thiên Chúa, mà không tin vào mình, hay tin vào thế lực của thế gian; họ bé nhỏ nên tin vào những việc Đức Giêsu đã làm, và Lời  Đức Giêsu dậy: “Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu qúy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở thế gian này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha Thầy sẽ qúy trọng người ấy” (Ga 12,24-26), và tâm hồn họ sẽ được bình an giữa những tấn công dữ dội của thế gian, vì có Lời Hứa của Đức Giêsu bảo đảm: “Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh của thế gian này sắp bị tống ra ngoài! Phần tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12,31-32). 

    Cũng vì bé nhỏ, họ tuyệt đối nương  dựa vào sức mạnh của Đức Giêsu bênh đỡ, bởi Thủ Lãnh của thế gian “không làm gì được Thầy” (Ga 14,30), vì “Thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử rồi” (Ga 16,11), và  dù “trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan, khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16). Thực vậy, “Thầy nói với anh em những điều này để trong Thầy, anh em được bình an” 

(Ga 16,33). 

     Do đó, chỉ có những người bé nhỏ, có tinh thần thơ ấu của Tin Mừng mới nhận được ơn bình an của Đức Giêsu phục sinh, dù sống giữa thế gian tràn ngập hỗn loạn những  bất công, bất chính, bất nhân, bất nghiã; chỉ tâm hồn đơn sơ, nghèo khó của người bé nhỏ  mới có đất cho đức tin nẩy mầm, lớn lên, đơm hoa kết qủa, và  mới có chỗ cho Đức Giêsu và Thần Khí của Ngài cư ngụ. Nhờ thế, họ mới “tỉnh thức, đứng vững trong đức tin, sống xứng đáng, ăn ở kiên cường và làm mọi sự vì đức ái” (x. 1 Cr 16,13).    

     Vâng, thế gian ngày càng đua chen, tranh giành vinh quang, quyền thế và trở nên kiêu căng, ngang ngược, ngạo mạn. Tinh thần thế gian cũng vì thế ngày càng len lỏi sâu hơn vào đời sống của người môn đệ Đức Giêsu và  phá hoại công trình cứu thế của Ngài. Khi cảnh giác nguy cơ của tinh thần thế tục, Đức Giêsu muốn chúng ta trở nên những đứa con bé nhỏ của Thiên Chúa để tuyệt đối tin vào Ngài, và kiên trì làm chứng sức mạnh của Thiên Chúa, Đấng đã thắng thế gian, bằng tinh thần hiền lành, khiêm nhường của trẻ thơ để không quên Lời thì thầm của Đức Giêsu trước khi lên đường chịu chết: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ của Thầy” (Ga 13,33). “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1), vì “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). 

     


Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2020

NHỮNG NGƯỜI ĐỐI THOẠI

 

Giáo Hội cũng như xã hội không ngừng kêu gọi đối thoại, vì đối thoại cần thiết cho công trình tìm kiếm sự thật, cho đời sống bác ái, huynh đệ, cho cộng đồng nhân loại hoà bình, hạnh phúc. Lịch sử làm chứng đã có biết bao cuộc chiến tranh, cũng như ly giáo vì thiếu đối thoại, và vô số hôn nhân đổ vỡ, gia đình ly tan vì người trong cuộc không đủ khiêm tốn, can đảm và kiên nhẫn đối thoại. Tuy thế, không phải đối thoại nào cũng đem lại đáp số đúng, đối thoại nào cũng mang lại hoà giải, hoà bình, và đối thoại nào cũng là đối thoại đúng nghiã và có giá trị.

Tin Mừng cho chúng ta thấy : Đức Giêsu rất cởi mở, và dễ gần. Ngài gặp gỡ và đối thoại với hết mọi người, không trừ ai, từ người thương đến kẻ ghét, từ người tội lỗi đến người thánh thiện, đạo hạnh, từ giai cấp trí thức, chức sắc đến thành phần bị xã hội khinh khi, cô lập, bạc đãi, từ người đồng đạo đến người khác đạo, từ trẻ em đến người lớn, từ đàn ông đến đàn bà… Và với ai, Ngài cũng cởi mở đối thoại.

Tin Mừng cũng cho chúng ta nhận diện nhiều người đã đến gặp và đi vào đối thoại với Đức Giêsu với những ý nghĩ, tâm tình và thái độ rất khác nhau :

1.   Những người đối thoại với điều kiện :

Tin Mừng Luca tô đậm hình ảnh ba nhân vật nói với Đức Giêsu về ý muốn đi theo Ngài của họ, nhưng với những điều kiện được đặt ra thật chính xác, rõ ràng:

Nhân vật thứ nhất nói với Ngài : Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo, nhưng khi Đức Giêsu trả lời : Con chồn có hang,chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu (Lc 9,57-58), thì cuộc đối thoại tức khắc bị cắt đứt, vì điều kiện phải có nhà cửa, cơ sở vật chất, văn phòng làm việc, tổng hành dinh truyền giáo được đặt ra đã không được Đức Giêsu đáp ứng.

Nhân vật thứ hai thì được Đức Giêsu ngỏ lời mời : Anh hãy theo tôi!, nhưng người ấy thưa : Thưa Thầy, xin cho phép tôi về chôn cất cha tôi trước đã ». Và anh ta cũng đơn phương chấm dứt cuộc đối thoại, vì điều kiện đưa ra đã không được Đức Giêsu chấp nhận, khi Ngài bảo anh : Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa (Lc 9,59-60).  

Nhân vật thứ ba cũng như nhân vật thứ nhất ngỏ lời xin theo Đức Giêsu : Thưa Thầy, tôi xin theo Thầy, nhưng xin cho tôi từ biệt gia đình trước đã, và cả anh này cũng đã lặng lẽ bỏ dở cuộc đối thoại, vì điều kiện đưa ra đã không được Đức Giêsu tán thành, vì Ai đã tra tay cầm cầy mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa (Lc 9,61-62).

Tin Mừng Máccô thì tường thuật về người thanh niên giầu có đến gặp và thưa với Đức Giêsu : Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? (Mc 10,17). Nhưng sau khi trò chuyện với Đức Giêsu, và kể với Ngài về đời sống đạo hạnh, gương mẫu của mình, anh cũng đã bỏ ngang cuộc đối thoại, sa sầm nét mặt và buồn rầu bỏ đi (Mc 10,22), vì điều kiện anh đặt ra một cách kín đáo, tế nhị đã không được Đức Giêsu chấp thuận, khi Ngài bảo anh : Anh chỉ thiếu  có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi (Mc 10,21).

Có rất nhiều đối thoại không thành tựu, vì những điều kiện đặt ra đã không được đáp ứng, vì không phù hợp với Ơn Gọi, như vừa đi theo Chúa, vừa được thoải mái làm giầu, của cải sung túc, hay không thích ứng với sứ vụ như muốn đi rao giảng Tin Mừng, nhưng đòi phải được ở dinh thự khang trang, tiền tiêu rủng rỉnh, đời sống tiện nghi, ra vào có người phục dịch, hầu hạ và cha mẹ, gia đình, người thân phải luôn ở kề bên.

2.   Những người đối thoại cầm chừng, thủ thế, tránh né :

Có những cuộc đối thoại loanh quanh ngoài lề, mà không vào được trọng tâm của vấn đề, như bên giếng Giacóp, vào buổi trưa nóng bức, Đức Giêsu đã nói chuyện với người đàn bà Samari.  

Đọc kỹ đọan Tin Mừng Gioan (Ga 4,7-30), chúng ta sẽ thấy người phụ nữ đối thoại một cách cầm chừng, giữ thế và cố tránh né chuyện đời tư nhiều chồng của mình, bằng lái câu chuyện giữa chị và Đức Giêsu sang những vấn đề thần học khác. Chị muốn giấu chuyện đời tư thầm kín, trong khi Đức Giêsu muốn cởi trói chị khỏi mặc cảm của chuyện hôn nhân trắc trở, bởi đây mới chính là chìa khóa cởi mở tâm hồn chị, để chị có thể nhận ra Đấng Cứu Độ là người đang đối thoại với chị. Bằng chứng là chỉ khi Đức Giêsu bảo chị hãy gọi chồng chị ra, và cho chị biết chị đã năm đời chồng rồi và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị, sau khi chị nói : Tôi không có chồng, thì tâm hồn chị mới mở ra được, và nhẹ lòng, phấn khởi thưa với Ngài : Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ…, và nhận ra Ngài là Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô (Ga 4,19. 25-26).

Một con người khác cũng cầm chừng, giữ thế, dè dặt để được an toàn tối đa khi đối thoại với Đức Giêsu là ông nghị viên Nicôđêmô. Ông đã đến gặp và nói chuyện với Đức Giêsu ban đêm, và trong câu chuyện, ông tỏ ra thái độ dè dặt, thủ thế, khi bảo vệ những suy nghĩ riêng của mình, trong tư thế một người trí thức, lãnh đạo hiểu biết lẽ đạo trong Ítraen (x. Ga 3,1-21), và ông đã không cởi mở, nhưng khép kín, và giữ an toàn tối đa cho mình trong khi đối thoại với Đức Giêsu. 

3.   Những người đối thoại tráo trở, gạt gẫm :

Họ là những người đã dùng đối thoại để gài bẫy Đức Giêsu, lợi dụng những sơ hở của Đức Giêsu trong khi nói chuyện với họ để chụp mũ, tố cáo, buộc tội, lên án Ngài, nhất là dựa vào một cớ nào đó để kích động quần chúng, khuấy động dư luận chống lại Ngài.

Câu chuyện người đàn bà ngoại tình bị bắt qủa tang mà các kinh sư và người Pharisêu dẫn đến trước mặt Đức Giêsu, với mục đích gài Ngài vào một cạm bẫy cực độc và nguy hiểm, để có bằng cớ tố cáo Ngài khi hỏi Ngài : Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? (Ga 8,5).

Cái bẫy qúa rõ và đe dọa, bởi nếu Ngài trả lời : cứ theo Luật Môsê mà ném đá chị ta, thì còn đâu ở Ngài Thiên Chúa của lòng thương xót, như giáo lý Ngài đang giảng dậy, nhưng nếu bảo : không được ném đá chị ta, thì lập tức đám đông sẽ bị các ông Pharisêu kích động để họ lập tức ném đá Ngài, vì đã công khai chống lại Lề Luật Môsê là Luật của Thiên Chúa, và ai trong chúng ta cũng biết Đức Giêsu đã giải quyết vấn đề thế nào, khi Ngài đề nghị những người có mặt : Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi (Ga 8,7), rồi Ngài cúi xuống viết trên đất cho đến khi Ngài ngẩng lên và nói : Này chị, họ đâu cả rồi? Người đàn bà đáp : Thưa ông, không còn ai cả. Đức Giêsu nói : Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa! (Ga 8,10-11).

Một cuộc đối thoại khác cũng giữa Đức Giêsu và các ông Pharisêu. Lần này họ rắp tâm gài Ngài vào tội xúi dân chống lại Xêda, và chính quyền Rôma là đế quốc bảo hộ, khi hỏi Ngài : Có được phép nộp thuế cho Xêda hay không? (Mt 22,17).

Câu hỏi khó và rất đáng sợ, vì bảo không nộp thuế cho Xêda, tức công khai chống lại đế quốc đang nắm quyền đô hộ, và chắc chắn Ngài sẽ phải lãnh án tử hình với tội danh phiến loạn, phản động, chống chính quyền, xúi dân làm loạn không nộp thuế, nhưng nếu trả lời phải nộp thuế cho Xêda, thì khác nào nhận mình là phản quốc, theo đế quốc đô hộ làm khổ đồng bào, giầy xéo đất nước. Đàng nào cũng chết, kiểu nào cũng bị tấn công, lên án. Và Đức Giêsu đã trả lại cho những người đối thoại với ác ý gài bẫy Ngài trách nhiệm phải phân định mà Thiên Chúa đã trao cho họ, nhưng họ từ chối, không chấp nhận, khi Ngài nói với họ : Của Xêda, hãy trả về Xêda ; của Thiên Chúa, hãy trả về Thiên Chúa. Nghe vậy, họ ngạc nhiên và để  Người lại đó mà đi (Mt 22,21-22).

Qủa thực, trong đời sống hằng ngày, không ít thì nhiều, chúng ta đã gặp và đi vào đối thoại với những kiểu người đối thoại vừa kể. Họ làm chúng ta nổi giận khi khám phá đối thoại của họ chỉ là những chiêu trò lừa dối, tráo trở cốt đưa ta vào bẫy để thực hiện ý đồ đen tối, thâm độc của họ ; họ làm chúng ta ngao ngán, chán chường khi đối thoại chỉ là những đẩy đưa nhằm ích kỷ trục lợi với những điều kiện được khéo léo, tinh vi lập trình ; họ làm chúng ta mệt mỏi, thất vọng, mất niềm tin khi đưa chúng ta vào những đối thoại không chân thành, thiếu cởi mở, nhưng  khép kín, cầm chừng, nhạt nhẽo, hời hợt, vu vơ. Nhưng có thể chính chúng ta cũng thuộc những loại người đối thoại không đáng tin cậy trên, khi làm  người khác phải bực bội, chán ngán, thất vọng khi đối thoại, nhất là làm mất niềm tin của họ khi ta dùng đối thoại để bịp bợm, lừa dối, gài bẫy, vu khống, buộc tội người đối thoại với ta.

4.   Những người đối thoại lương thiện, chân thành :

Khác với những người đối thoại được kể trên, đó là những người đã tìm đến Đức Giêsu và lương thiện, chân thành đối thoại với Ngài. Trong cuộc đối thoại đã không hề có âm mưu, thủ đọan, ý đồ, mục đích thiếu lương thiện, nhưng tất cả đều được đặt trên bàn, dưới ánh sáng của Sự Thật và Tình Yêu. Sự thật và tình yêu là tiếng nói chung trong đối thoại, như cuộc đối thoại chân thành và cởi mở giữa Đức Giêsu và người mù từ lúc mới sinh trong Tin Mừng Gioan :

Với tình yêu, ngay từ giây phút nhìn thấy anh ta bên vệ đường, Đức Giêsu đã qủa quyết : Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh, khi các môn đệ hỏi Ngài với thành kiến thường có của người đời : Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta? (Ga 9,1-3).

Với trái tim tôn trọng sự thật, anh mù sau khi được chữa lành đã đối thoại hết sức cởi mở và lương thiện với đám đông vừa tò mò, vừa hạch hoẹ tìm sơ hở để kiếm cớ tố cáo Đức Giêsu : Người tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : Anh hãy đến hồ Siloác mà rửa. Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy. Họ lại hỏi anh : Ông ấy ở đâu? Anh đáp : Tôi không biết (Ga 9,11-12). Và suốt nhiều lần bị hạch hỏi bởi nhóm người Pharisêu, anh đã kiên trì kể lại toàn bộ sự thật được Đức Giêsu chữa sáng mắt, và trước sau như một, anh đã lương thiện trả lời mọi câu hỏi gài bẫy Đức Giêsu và gài tội anh của những người Pharisêu thiếu tình yêu và sự thật trong đối thoại, cho đến khi họ không còn chịu nổi sự cứng đầu của anh nữa, đã đuổi anh ta đi, sau khi nghe anh dõng dạc lý luận với giọng điệu dí dỏm : Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy ở đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt cho tôi! Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời người ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì (Ga 9,30-33).

Thực vậy, chỉ trong đối thoại có sự thật và bác ái, chúng ta mới gặp được Đức Giêsu, như anh mù trong Tin Mừng đã tuyên xưng  Đức Giêsu là Con Thiên Chúa: Thưa Ngài, tôi tin, rồi anh sấp mình xuống trước mặt Ngài (x. Ga 9,35-38) ; chỉ những người đối thoại lương thiện trước sự thật và chân thành trong tình yêu mới không bị Thiên Chúa xét xử là kẻ xem thấy lại nên đui mù, và phải nhận lời trách mắng nặng nề của Đức Giêsu như những người Pharisêu đã đối thoại với trí khôn kiêu căng, ngoan cố và trái tim thâm hiểm, ác độc : Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : Chúng tôi thấy, nên tội các ông vẫn còn! (Ga 9,41).

Xin Chúa cho chúng con biết học với anh mù từ lúc mới sinh tinh thần lương thiện và tâm tình chân thành trong đối thoại với mọi người, để bất cứ cuộc đối thoại nào cũng là cuộc gặp gỡ, hội ngộ, hiệp thông, hiệp nhất với anh em trong Chúa là Sự Thật và Tình Yêu.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2020

CON ĐƯỜNG

      


Sống là đi, nên ngay khi còn là bào thai trong bụng mẹ, hai chân em bé đã liên tục cử động, đạp mạnh đòi đi, và vừa chào đời, bàn chân bé như muốn lập tức lên đường..., bên cạnh là hình ảnh người chết với hai chân duỗi dài, đơ cứng, bất động, không còn bước đi được đã nói lên cuộc sống chính là con đường.

Nếu sống là con đường, sống phải đi, thì con đường phải có hướng, cũng như con người đi, thì phải biết mình đi đâu, đi đến đâu, đi về đâu, bởi người ta không thể lên đường mà không biết đường, và đường ấy sẽ dẫn về đâu, đưa mình đến nơi nào.

Ấy thế mà nhiều người vẫn muốn sống mà không muốn đi, vì không bao giờ nghĩ đi mới là sống, lên đường mới đích thực là làm đời mình ; vì không cho sự sống là qúy giá, không xem cuộc sống là hồng ân, không nhận đời sống là hành trình mạo hiểm đầy thú vị vì đường sống và đích tới luôn  hứa hẹn những tốt đẹp, cao cả, thánh thiện và hạnh phúc tuyệt vời.

Bên cạnh là những người không muốn chọn cho mình một con đường, nên suốt đời quanh quẩn, lang thang, lẽo đẽo đi theo thiên hạ, mà chẳng cần biết đám đông dẫn mình đi đâu, về bến bờ nào. Cách chung, họ là những người coi thường sự sống, bất cần đời sống, và thụ động sống cuộc sống dật dờ, tầm gửi chờ ngày sự sống bỏ họ ra đi.

Còn lại là những người  cùng chung mẫu số Tích Cực khi tìm cho mình một con đường, và một hướng đi an toàn cho hạnh phúc. 

Những người ngay từ bình minh của lịch sử nhân loại đã ý thức sống là phải đi, và mục tiêu của cuộc sống là hạnh phúc, nên đã mò mẫm đi tìm cho mình con đường dẫn đến  hạnh phúc. Trên hành trình tìm kiếm, khám phá hạnh phúc lâu dài và vất vả ấy, con người đã không hoàn toàn nhất trí, đồng ý với nhau thế nào là hạnh phúc và con đường nào là con đường tốt nhất, bảo đảm trăm phần trăm dẫn đến hạnh phúc đích thực.

Đó là tình trạng muôn hoa đua nở, trăm con đường, ngàn lối ngõ đi tìm hạnh phúc : có hạnh phúc được lập trình qua đường quyền lực, công danh ; có hạnh phúc được mơ tìm qua sắc đẹp, của cải, vật chất ; có hạnh phúc ước gặp được trên đường tự do thụ hưởng mọi thú vui theo bản năng, nên trước mặt mỗi người là rất nhiều sáng kiến, vô vàn lý thuyết, vô số cẩm nang và tràn ngập kỹ năng, kỹ thuật để có hạnh phúc.

Đó là lý do khiến thế giới loài người không ngừng quay cuồng, điên đảo với đủ  khuynh hướng khác biệt, qúa nhiều chủ trương đối kháng, quan điểm trái nghịch, đường lối trái chiều cùng lúc lưu thông, như chủ nghiã tư bản, chủ nghiã cộng sản, chủ nghiã hưởng thụ, chủ nghiã khắc kỷ, chủ thuyết  duy lý, chủ thuyết  duy vật, chủ thuyết duy tâm, tất cả cùng lúc có mặt… Và  kết qủa cuối cùng sau những cây số dài dằng dặc trên đường tìm hạnh phúc, phần lớn đã khám phá ra : hạnh phúc thật hiếm hoi, nhỏ giọt, hạnh phúc mau tàn phai, héo úa, hạnh phúc hay bế tắc, cạn kiệt, hạnh phúc dễ đứt gánh, dang dở.

Trước những thất bại của con người trên đường tìm hạnh phúc, không chỉ các bậc thức giả, khôn ngoan, mà cả những đấng khai đường, mở đạo như Đức Phật Thích Ca cũng mong tìm cho đồng loại của mình một con đường hạnh phúc khả thi, khả tín.

Riêng người Kitô hữu, với niềm tin đặt vào Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Đấng là Ánh Sáng cứu độ của muôn dân, là nguồn vui, hạnh phúc cho toàn thể nhân loại, đã không tìm con đường hạnh phúc nào khác ngoài Con Đường là chính Ngài, như lời Ngài đã qủa quyết : “Chính Thầy là Con Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống” (Ga 14,6).

Vì Ngài biết không ai có thể là đường, hay có thể chỉ đường cho người khác một cách chính xác, chắc chắn, bởi không ai biết hết những gì sẽ xảy ra trên đường, không người nào thấy trước những gì sẽ bất ngờ xuất hiện trên những cây số còn xa trước mặt, còn dài trong tương lai ; vì Ngài biết con người bị giới hạn bởi thời gian và không gian, nên không thể qúan triệt hết chuyện qúa khứ, hiện tại, tương lai, càng không thấy gì ngoài phạm vi rất hạn hẹp cuả một hiện tại nhỏ bé bị khoanh vùng ; vì Ngài biết thao thức, khắc khoải, ước mơ hạnh phúc của linh hồn con người thì vô hạn, tuyệt đối, nhưng khả năng, điều kiện của phận người thì tương đối, hữu hạn ; vì con người tự mình không thể đi trên con đuờng dẫn đến Thiên Chúa là Hạnh Phúc đích thực, viên mãn, đời đời, mà chỉ hạnh phúc này mới làm thoả lòng mong ước của con người, bởi con người đã mang hình ảnh của Thiên Chúa ngay khi được tạo dưng ; và sau cùng, vì yêu thương, không muốn con người mất hạnh phúc tuyệt vời và đời đời mà ngay từ thuở tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đã muốn con người được hưởng, bởi hạnh phúc ấy  nằm trong chương trình tạo dựng của Chúa Cha, nên Đức Giêsu đã xuống thế để trở thành Con Đường cho toàn thể nhân loại tìm về Thiên Chúa là Hạnh Phúc tuyệt đối.

Là Con Đường, Đức Giêsu dẫn chúng ta đến với nhau trên những cây số của Tình Yêu, Tha Thứ, và cũng trên con đường Tha Thứ, yêu Thương nhau, chúng ta được gặp Thiên Chúa, vì Ngài là Tình Yêu, nên chỉ những ai yêu mến mới nhận ra Ngài, khác với những trái tim rực lửa ghen ghét, hận thù bị ma qủy nhào nặn sẽ không nhận ra người khác là anh em mình, và Cha mình là Thiên Chúa.

Là Con Đường, Đức Giêsu nối kết mọi người trên hành trình cùng nhau đi gặp Thiên Chúa, trên những bước chân Sự Thật, bởi trên đường của Thiên Chúa, trên đường đi theo Đức Giêsu không có gian dối, ma mãnh, lừa đảo của Satan, nhưng chỉ có Thiên Chúa là Sự Thật giải phóng, tự do, Sự Thật bao dung, thương xót, Sự Thật băng bó, chữa lành, Sự Thật phục hồi, cứu sống, Sự Thật hạnh phúc, bình an.

Là Con Đường, Đức Giêsu không để bất cứ ai đi theo Ngài phải chết, vì Ngài là Nguồn Sống, Máu Thịt Ngài là lương thực cho đoàn chiên mà Ngài là Mục Tử nhân lành sẵn sàng hiến mạng sống, “để chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10), khác với Thần Dữ luôn tìm xâu xé sự sống con người, vì chúng là Bạo Lực, Chết Chóc.

Là Con Đường, Đức Giêsu không từ chối bất cứ ai muốn đi theo Ngài, trái lại, Ngài tìm đến và đồng hành với mọi người, như đã cùng đi với hai môn đệ trên đường Emmau, khi các ông thẫn thờ, buồn bã, hoang mang, thất vọng, vì cơ đồ cứu thế vừa tan tành sụp đổ, khi Thầy của họ vừa bị đóng đinh, chết và chôn đã ba ngày.

Là Con Đường, Đức Giêsu là mái ấm cho bước chân trở về của những đứa con hoang đàng, lầm đường lạc lối, vì đường của Ngài là đường hy vọng, đường bình an, đường thiên đàng.

Và nếu Con Đường Thiên Chúa dẫn đến sự thật, tình yêu, sự sống, thì ma qủy cũng có con đường của chúng để đưa con người đến Gian Dối, Ganh Ghét, Hận Thù và Sự Chết. Hai con đường trái chiều, hai con đường đối kháng, và cả hai đều mang bản tính của người làm nên : con đường Thiên Chúa làm nên là đường sự thật, tình yêu, sự sống, vì Thiên Chúa là Thiên Chúa Tình Yêu, Thiên Chúa Sự Thật, Thiên Chúa hằng sống, còn đường của ma qủy là dối trá, ganh ghét, hận thù, chết chóc, bởi dối trá, ganh ghét, hận thù, bạo lực, chết chóc là bản chất của chúng.

Tóm lại, Con Đường Thiên Chúa chính là Đức Giêsu, Đấng là Tình Yêu, là Sự Thật và là Sự Sống. Chỉ duy nhất một mình Ngài mới là Hạnh Phúc đích thực, viên mãn, tuyệt đối và đời đời mà con người khao khát, trông mong, tìm kiếm. Ở Ngài, con người tìm được hạnh phúc của Tình Yêu, đạt được hạnh phúc của Sự Thật, nhận được hạnh phúc của Sự Sống đời đời.

Vì thế, không có Ngài, từ chối đi với Ngài, không ai có thể cho chúng ta hạnh phúc đích thực và bền vững, như môn đệ Phêrô đã có lần thưa với Đức Giêsu : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết theo ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Bởi ngoài Đức Giêsu, không con đường nào đưa con người đến được với Thiên Chúa, như chính Ngài đã khẳng định : “Không ai có thể đến được Chúa Cha mà không qua Thầy”. Cũng vậy, “nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy” (Ga 14,6.7)              

Xin Chúa cho chúng con đừng tìm con đường nào khác ngoài Chúa là Đường Hạnh Phúc đời đời, đừng tìm Sự Thật nào khác, ngoài Chúa là Sự Thật của Thiên Chúa, đừng tìm Sự Sống nào khác vì ngoài Chúa ra, chẳng có ai, cũng chẳng thần thánh nào có thể ban cho chúng con sự sống và làm cho chúng con được sống lại trong vinh quang, và hạnh phúc thiên đàng. 

     Jorathe Nắng Tím                                   

     

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2020

TÌM GẶP THIÊN CHÚA

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 32, Thường Niên,  Năm A

Chúng ta vừa mừng lễ các Thánh Nam Nữ, và cầu nguyện đặc biệt cho  các linh hồn. Các bài đọc của Chúa Nhật hôm nay còn ở trong bầu khí của hai ngày lễ lớn Giáo Hội vừa mừng, khi đề cập đến chính cái chết, và mầu nhiệm của đời sống mới, nhờ sự chết và sống lại của Đức Giêsu.

Bài đọc thứ nhất trích từ thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Têxalônica, được coi là bản văn cổ nhất của Kitô giáo là câu trả lời của thánh nhân, cũng là của Giáo Hội về vấn đề những người đã chết : “Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng. Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” (1 Tx 4,13-14).

Nhưng “những người đã an giấc trong Đức Giêsu” để “được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” là ai?

Thưa là những người khôn ngoan, những người có đức khôn ngoan, vì đức khôn ngoan “bảo đảm được trường sinh bất tử. Truờng sinh bất tử cho ta được ở bên Thiên Chúa” (Kn 6,18-19).

Chân lý này được Đức Giêsu khẳng định trong dụ ngôn “Mười trinh nữ”. Trong số mười cô, có năm cô khờ dại “mang đèn mà không mang dầu theo. Còn  những cô khôn ngoan “thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo” (Mt 25,2-5). Vì chàng rể đến muộn, “nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả”. Đến khi chàng rể đến, thì các cô khờ dại tất tả đi mua dầu, nhưng không ai chờ ai, nên chỉ năm cô khôn ngoan có đèn đốt sáng trong tay “được theo chàng rể vào dự tiệc cưới” (x. Mt 5-10).

Nghe dụ ngôn, chắc hẳn chúng ta không khỏi ngạc nhiên trước sự khờ dại của những cô mang đèn mà không mang dầu. Nhưng rất tiếc, đó là sự khờ dại của chính chúng ta trong đời sống thiêng liêng.

Chúng ta khờ dại vì thiếu khôn ngoan khi nghĩ rằng mình bất tử, và sẽ không bao giờ có ngày phải rời bỏ cuộc đời này ; chúng ta khờ dại khi thả trôi thời gian cách vô ích mà không chuẩn bị hành trang cho chuyến đi vào đời đời ; chúng ta khờ dại khi tưởng mình biết hết mọi sự và làm chủ mọi hoàn cảnh, tình huống để rồi đến giờ Chúa gọi phải ra đi lại cuống quýt thất thần, vì chưa sẵn sàng ; chúng ta khờ dại khi sống như người không thuộc về Chúa, không cần đến Chúa, không tương quan với Chúa, để khi hữu sự, chính chúng ta sẽ tự nghi nan, tuyệt vọng vì không quen bám víu, cậy trông vào Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất. 

Thực vậy, Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay cảnh báo chúng ta phải khôn ngoan, không được khờ dại, bởi khờ dại sẽ không được gặp Ngài khi Ngài đến, khờ dại sẽ lỡ chuyến đò cùng Ngài xuôi dòng Hạnh Phúc, khờ dại sẽ mất cơ hội đi với Ngài vào Nước vinh quang của Ngài.

Đức Giêsu cảnh báo nhưng không đe dọa, làm sợ, mặc dù hậu qủa dành cho những cô trinh nữ khờ dại sẽ là câu trả lời không mấy dễ nghe của chàng rể : “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!” (Mt 25,12). Ngài chỉ nhắc nhở chúng ta phải khôn ngoan chuẩn bị hành trang cần thiết cho buổi gặp gỡ đời đời với Thiên Chúa, khi giờ chết đến.

Chuẩn bị hành trang bằng trái tim khao khát tìm kiếm Thiên Chúa, bằng tâm hồn khiêm tốn phụng sự Chúa và phục vụ anh em, bằng cõi lòng luôn mở rộng để đón nhận ơn thương xót của Chúa và sự tha thứ của anh em.

Hành trang là “đèn đầy dầu luôn được thắp sáng” trong suốt hành trình dương thế. Đó chính là Đức Tin được biểu hiện sống động qua đời sống Cầu Nguyện và Bí Tích ; là Đức Tin được nuôi lớn mỗi ngày bằng việc làm thiết thực của Đức Ái ; là tình yêu quên mình được thể hiện qua đời sống khiêm hạ phục vụ.

Và trên tất cả, cũng là khởi điểm của hành trình đi gặp Chúa là lòng khát khao Thiên Chúa, khát khao được hoàn toàn thuộc về Chúa như lời thánh vịnh 62:

“Lậy Thiên Chúa là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước… Con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ, suốt năm canh thầm thĩ với Ngài. Qủa thật, Ngài đã thương trợ giúp, nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui (Tv 62,2.7-8).

Jorathe Nắng Tím   

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2020

TRÁI TIM BÉ NHỎ NHƯNG TUYỆT VỜI

              


    Trái tim là bộ phận trong yếu nhất trên thân thể con người, vì trái tim là bộ phận bảo toàn sự sống; tim cũng là hình ảnh được nhắc nhiều hơn cả khi nói về tâm hồn, vì tim là biểu tượng của Tình Yêu. 

    Y Khoa khẳng định khi tim ngừng đập là thân xác  không còn sự sống, nên việc đầu tiên phải làm khi nhận một bệnh nhân mới trong bất cứ tình trạng nào là kiểm tra nhịp đập của tim: tim đập loan xạ, dồn dập, hay lười biếng, thờ ơ, không chịu đập. Cả hai đều nguy hiểm và có thể dẫn đến tử vong… Cũng thế, trong sinh hoạt thường ngày, người ta cẩn trọng gìn giữ, chăm sóc sức khỏe của tim hơn các bộ phận khác, vì để “đứng tim” là mọi sinh hoạt đều dừng, để tim ngừng đập là toàn thể sự sống lập tức đình chỉ, kết thúc.

   Giữa thời buổi bạo lực, và các cuộc khủng bố ngày càng nhiều, các nhà lãnh đạo cũng như cảnh sát đều phải mặc áo giáp trong khi thi hành công vụ, mà bộ phận được che chở đặc biệt chính là trái tim, bởi bị bắn vào đầu, đâm vào bụng chưa chắc đã chết, nhưng bắn trúng tim, đâm thấu tim thì chỉ còn nước gục đầu tắt thở, không kịp trăn trối.  

    Tuy là bộ phận rất quan trọng của sự sống, nhưng tim lại rất mềm yếu, mong manh. Bằng chứng là hơi bất bình, nóng giận một chút là tim đập thình thịch; nhận tin vui bất ngờ, hay đi đón người yêu lâu ngày không gặp là tim nôn nao, nhảy nhót muốn vỡ tung, khi tin buồn, tin dữ không may ập về, thì  tim quằn quại, se thắt đến rã rời, nghẹt thở, nát tan.

   Như thế tim giữ vai trò quan trọng bậc nhất cho sự sống của thân xác con người, nhưng tim lại rất dễ vỡ, mỏng dòn như hơi thở không hình không sắc. Trái lại, với tâm hồn, tim mang một tầm bao la tuyệt đối và sứcvóc mạnh mẽ tuyệt vời.

   Thực vậy, tim mang tầm bao la, vì  tim nuôi tâm hồn bằng tình yêu thao thức kiếm tìm tự do, công bình, bác ái là những thực tại siêu hình; tim mở toang tâm hồn bằng tình yêu vị tha, quảng đại khi miệt mài, tận tụy xây dựng hạnh phúc của đồng loại; tim nâng đỡ tâm hồn bằng tình yêu phấn đấu, hy sinh, bất chấp gian khổ, nhọc mệt, thiệt thòi, vì tương lai của người khác; tim cất bổng tâm hồn lên cao tận  Chân Thiện Mỹ tuyệt đối. Tim còn cao cả tuyệt vời khi cho tâm hồn  chạm được những ước mơ vượt thời gian, không gian, và phóng mình vào vô tận, vô cùng . 

    Và  điều đã làm cho tim mang tầm tuyệt đối, mang vóc dáng đời đời, khi từ nhỏ bé trở nên vĩ đại, từ mong manh, dễ vỡ thành bền vững trường tồn, chính là  tim đã đón nhận Tình Yêu  được Thiên Chúa là  Nguồn Tình Yêu đổ vào. 

   Thực vậy, tất cả những cao cả, bao la, vĩ đại, sâu thẳm, tuyệt vời, kỳ diệu, vô cùng và siêu việt mà trái tim đạt được đều là hồng ân của Thiên Chúa, khi Ngài ban cho con người khả năng hướng tâm hồn lên tới Ngài, mở lòng ra với Ngài, và để trái tim được chạm vào trái tim Ngài hầu được Ngài biến đổi, và trở thành mái ấm của Ba Ngôi Thiên Chúa.

  Vì thế, điều cốt yếu mà mỗi người chúng ta cần ý thức và chân nhận khi luận về trái tim, đó là Thiên Chúa trân qúy trái tim bé bỏng của mỗi người, và vì bé bỏng mà Ngài làm cho nên vĩ đại; Thiên Chúa tìm kiếm trái tim yếu đuối, mỏng dòn của mỗi người, và vì mỏng dòn, yếu đuối, Ngài làm cho nên mạnh mẽ, quả cảm; Thiên Chúa yêu thích trái tim kín đáo, khiêm hạ của mỗi người, và vì khiêm hạ, kín đáo, Ngài làm toả sáng tình yêu của trái tim ấy trước mặt muôn dân; Thiên Chúa thương xót trái tim bị tổn thương, nghiền nát của mỗi người, và vì mang nhiều thương tích tình yêu, Ngài đích thân chữa lành, ban bình an.

    Vâng, trái tim con người  trở nên bao la, cao cả và tuyệt vời, vì trái tim ấy kết nối với Trái Tim Thiên Chúa, để tình yêu nghèo nàn trong trái tim bé nhỏ của con người được bơi lội trong tình yêu bao la của Trái Tim Thiên Chúa. Và một khi trái tim nhỏ bé, mỏng dòn, yếu đuối ấy đã tìm được nơi ẩn náu an toàn, chốn nương thân bình an, bến bờ hạnh phúc trong Trái Tim Thiên Chúa, nó sẽ không sợ hãi, hoang mang, nghi nan, thất vọng trước bất cứ thử thách, gian nan, đe dọa nào, như thánh Phaolô đã đặt câu hỏi: Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? (Rm 8,35), và chính ngài đã trả lời thay cho những người có trái tim đã được chạm đến Trái Tim Thiên Chúa: Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương, qủy lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta (Rm 8,38-39). 

     Xin Chúa thương xót đổi mới con tim mỗi người, để ơn Bình An của Thiên Chúa là Tình Yêu Cứu Độ luôn ở với tất cả chúng ta. 

    Jorathe Nắng Tím      



          

 

        

 

ĐỨC GIÊSU BỊ TẤN CÔNG!

 

Có người vừa liếc qua tựa đề liền chép miệng thở dài : Tưởng chuyện gì mới lạ, chứ Đức Giêsu bị tấn công thì xưa qúa rồi, vì đó là chuyện cũ xẩy ra từ năm thứ nhất  công nguyên, khi người Do Thái là đồng bào, đồng hương của Đức Giêsu  ngay từ thuở ấy đã ghét bỏ, tẩy chay, vu khống, chụp mũ rồi kết  án, đóng đinh Ngài vào thập gía như một phạm nhân trọng tội.


Thực vậy, Đức Giêsu đã không chỉ bị tấn công, mà còn bị kết án tử hình cách bất công ngay trong dòng lịch sử của nhân loại. Hơn thế nữa, ròng rã hai mươi mốt thế kỷ, tên Ngài luôn bị nguyền rủa, xúc phạm và môn đệ Ngài hàng hàng lớp lớp theo nhau bị ghét bỏ, nguyền rủa, công kích, cô lập, tiêu diệt, đúng như lời Ngài đã căn dặn trước khi lên Giêrusalem chịu chết : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng  nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy nói với anh em : tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em…” (Ga 15,18-20).

Khi căn dặn các môn đệ, Đức Giêsu đã cho các ông thấy rõ lý do các ông sẽ bị ghét bỏ và không ngừng bị đe dọa, truy lùng, tận diệt. Lý do duy nhất đó chính là các ông không thuộc về thế gian là những kẻ chống lại Đức Giêsu, nhưng các ông hoàn toàn thuộc về Đức Giêsu.

Vì thuộc về Đức Giêsu, nên Ngài đã chọn và tách những ai theo Ngài ra khỏi thế gian ; vì thuộc về Đức Giêsu, nên Ngài đã yêu thương họ vô cùng và đến cùng (x. Ga 13,1), bằng chứng là Ngài ở lại với những ai thuộc về Ngài cho đến tận thế (x. Mt 28,20) ; vì thuộc về Đức Giêsu, nên Ngài làm cho họ được trở nên giống Ngài khi “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28) ; vì thuộc về Đức Giêsu, nên Ngài dậy họ “hiền lành và khiêm nhường”, dậy họ yêu thương, và cầu nguyện cho cả những kẻ thù ghét, bách hại mình, mà không lấy “mắt đền mắt, răng đền răng”, hay lấy oán báo thù, lấy sự dữ đáp lại điều gian ác (x. Mt 5,38-48) ; vì thuộc về Đức Giêsu, nên Ngài muốn người môn đệ phải như Ngài khi chấp nhận mọi thiệt thòi vì hạnh phúc của người khác, vui nhận mọi gian nan, thử thách vì lẽ sống yêu thương, phục vụ con người như con Chúa, vui lòng gánh chịu mọi đau khổ, tủi nhục để làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu cứu độ, vui vẻ đồng hành với tất cả mọi người, không trừ ai, vì tất cả là anh em có cùng một Cha trên trời.

Nhưng vì thuộc về Đức Giêsu, Thiên Chúa Tình Yêu cứu độ, mà các môn đệ Ngài bị  thế gian ghét bỏ, căm phẫn, trả thù, bởi thế gian gồm thần dữ và những kẻ tình ngyện đi theo chúng. Chúng là kẻ thù của Tình Yêu, vì bản chất là Ganh Ghét, Hận Thù ; đối thủ của Sự Thật, vì chúng là Gian Dối, Xảo Trá, Điêu Ngoa ; là kẻ  khủng bố, phá hoại, tiêu diệt vì chúng là Bạo Lực, Bóng Tối, và Sự Chết.

Vì thế, sự khác biệt giữa môn đệ Đức Giêsu và thế gian qủa thực không thể “hoà hợp, hoà giải”, hay nhượng bộ, thương lượng, vì một bên là ánh sáng, một bên là bóng tối, vì Đức Giêsu là Tình Yêu (x. 1 Ga 4,8), là “Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14,6), Satan và bè lũ là hận thù, lầm lạc, bạo lưc và sự chết, nên hai chiến tuyến giữa môn đệ Đức Giêsu và thế gian, ma qủy được phân chia rõ rệt, hai chọn lựa được phân biệt dứt khoát, hai con đường Thiên Chúa và Thế Gian không bao giờ có giao điểm hay đồng quy.

Do đó, sự kiện Đức Giêsu bị tấn công, biến cố người Kitô hữu bị bách hại, cảnh tượng cả làng công giáo bị vây chặt rồi phát lửa thiêu sống, linh mục đang dâng lễ bị cắt cổ, giáo dân đang cầu nguyện trong thánh đường bị đâm chết, và mới bốn giờ chiều hôm qua 31.10.2020, một linh mục chính thống 54 tuổi đã bị bắn trọng thương khi ngài đang đóng cửa nhà thờ ở thành phố Lyon, nước Pháp,  và rồi cho đến tận thế Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài sẽ mãi mãi là điểm ngắm của những tấn công, xúc phạm, ức hiếp, hãm hại, truy lùng, tiêu diệt mà thế gian tìm mọi cách thực hiện cho kỳ được, để rồi lịch sử của Giáo Hội Chúa Giêsu ngày càng rõ nét đối với mọi người là lịch sử của tử đạo, lịch sử của những chứng nhân quyết tâm đi theo  Đức Giêsu, vua Tình Yêu, Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót để yêu thương, phục vụ và sẵn sàng đổ máu, hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người.

Vâng, thế gian vẫn tiếp tục tấn công Đức Giêsu, vẫn đằng đằng sát khí xả súng giết các giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân, vẫn rực lửa căm thù Giáo Hội, và  điên cuồng khát máu người có đạo. Chỉ khác thời đại càng văn minh, kỹ thuật càng tân tiến thì mưu đồ càng tinh vi, thủ đoạn càng nham hiểm, kế hoạch càng dã man, hành động sát nhân càng man rợ, do mãnh lực độc ác của Satan ngày càng đè nặng trên những người vô phúc vướng vào xiềng xích của hỏa ngục, đến nỗi nhiều người trong chúng ta có lúc đã hoảng hốt lo sợ khi nghĩ rằng thời đại của Satan đã đến, và ngày tận thế đã gần kề.

Thực vậy, chúng ta không  khỏi hoang mang trước hiện tượng xúc phạm, tấn công Đức Giêsu, Thiên Chúa chúng ta tôn thờ, và lo âu trước làn sóng khủng bố, truy diệt  người Kitô hữu ngày càng nhiều và liên tục trên thế giới. Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi nhiều người thiện chí đang can đảm lên tiếng bênh vực chúng ta bằng đề nghị những biện pháp cứng rắn nhưng ít nhiều mang tính trả thù, báo oán, đòi nợ máu ; chúng ta cũng không phủ nhận nỗ lực của chính phủ các nước dân chủ, nhân quyền đang  huy động mọi khả năng, phương tiện  để bảo vệ  nhà thờ, và các cơ sở sinh hoạt phụng tự của Kitô giáo, mà tổ chức hồi giáo qúa khích đang chọn làm mục tiêu, tầm ngắm.

Tuy thế, Giáo Hội không bao giờ quên mình là Giáo Hội được Đức Giêsu thiết lập  để yêu thương, phục vụ, một Giáo Hội đến với muôn dân và làm cho họ trở thành môn đệ (x. Mt 28,19); Giáo Hội không bao giờ chịu thu mình, co quắp cuộn mình trong pháo đài kiên cố, sau tường thành có lính canh cẩn mật để được tuyệt đối an toàn ; Giáo Hội cũng không thay đổi đường lối tha thứ cho kẻ làm khổ mình, yêu thương kẻ thù ghét mình, cầu nguyện cho kẻ bách hại mình, chúc lành cho kẻ sỉ vả, vu khống cho mình đủ điều xấu xa, và luôn tìm cách biện hộ cho kẻ ném đá, đóng đinh mình, như Đức Giêsu trên Thánh Giá đã xin Chúa Cha tha cho tất cả những người đã vu cáo, lên án, tra tấn, đóng đinh Ngài khi viện cớ “vì họ không biết việc họ làm” (x. Lc 23,34).

Sau những cuộc khủng bố, đâm chém, cắt cổ, xả súng liên tục và dồn dập nhắm vào người Kitô hữu, Giáo Hội  vẫn  tha thiết cầu nguyện, vẫn nhẫn nại yêu thương, vẫn khiêm tốn phục vụ, vẫn hân hoan lên đường loan báo Tin Mừng “Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc loài người”, vẫn kiên trì làm chứng “Đức Giêsu là dung mạo đích thực của Thiên Chúa giầu lòng thương xót, chậm bất bình và rất đỗi khoan dung” ; vẫn miệt mài theo chân Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất đem đến cho nhân loại ơn cứu sống, hạnh phúc được làm con Thiên Chúa, và ánh sáng Bình An phục sinh của Ngài.

Ngay giữa cơn bão lửa của bạo lực, Giáo Hội vẫn kêu gọi con cái hãy biết “mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người”, mà không phân biệt kỳ thị, không lên án, “không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật” (1 Cr 13,5-6) ; ở tâm điểm của mọi chống đối bất công, Giáo Hội vẫn trung thành sống đức ái, để  có thể “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7), hầu  sống ơn gọi là Ánh Sáng và Muối cho đời, khi “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn  lỗi lầm, đem niềm tin vào nơi nghi nan, đem hy vọng vào nơi thất vọng, đem ánh sáng vào nơi tăm tối, đem niềm vui đến chốn sầu buồn”, bởi đó là sứ vụ của người Kitô hữu khi được sai đi, là hạnh phúc của dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn và chúc lành, là phần thưởng Thiên Chúa dành cho  những người có tâm hồn nghèo khó, và tấm lòng xót thương.

Xin Chúa thêm đức tin cho chúng con, để chúng con tín thác vào Chúa trong gian truân, đe dọa, thử thách, khi bị tấn công, xúc phạm, nhất là để trái tim chúng con luôn mở cửa cho Chúa Thánh Thần ngự đến và đổ đầy trong chúng con tình yêu hiệp thông, tình yêu hiệp nhất, tình quên mình, tình yêu tha thứ, tình yêu gánh tội của Ba Ngôi chí thánh.

Jorathe Nắng Tím 

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2020

BẠO LỰC NGAY TỪ NHÀ TRẺ

 


Những ngày này, truyền thông Âu Châu bàn bạc, tranh luận nhiều về hiện tượng bạo lực ở giới trẻ, sau những cuộc khủng bố đẫm máu liên tiếp xảy ra tại Pháp mà thủ phạm đều là người trẻ tuổi đời chỉ mười chín, đôi mươi. Brahim cắt cổ hai người, đâm chết một người trong nhà thờ Notre-Dame de l’Assomption ở Nice sáng ngày 29.10.2020 mới 21 tuổi ; Abdoullakh cắt cổ ông Samuel Paty, giáo sư sử địa tại Conflans-Ste-Honorine ngày 16.10.2020 cũng chỉ bước vào tuổi 18;  ngày 26.07.2016, hai người trẻ hồi giáo qúa khích Abdel Kermiche và Abdel Malik đã xông lên cung thánh cắt cổ cha Jacques Hamel 86 tuổi khi ngài đang dâng lễ tại nhà thờ giáo xứ St. Etienne-du-Rouvray, có đông giáo dân tham dự cũng chỉ là những thanh niên chưa qua tuổi hai mươi.

Tâm trạng chưa thôi bàng hoàng, thì chiều nay, người bạn từ Việt Nam chia sẻ clip bạo lực ở một nhà trẻ. Tôi bàng hoàng, và không dám tin vào mắt mình khi  em bé độ ba tuổi nhiều lần lao tới và thẳng chân đá vào người một em bé khác chắc chỉ hơn kém một tuổi. Cảnh tượng thật đau lòng và làm tâm hồn người xem chùng xuống thật sâu.

Chùng suống thật sâu vì sẽ chẳng còn gì tốt đẹp có thể nổi trội ở tuổi trẻ sau này, nếu ngay từ nhà trẻ, các bé đã được thoải mái thể hiện quyền thống trị bạo tàn, và tự do hành hạ đồng loại cách dã man ; sẽ chẳng có gì bảo đảm một tuổi trẻ của ngày mai được giáo dục nhân cách, được dậy dỗ cách sống làm người tử tế, nhân ái, được đào tạo thành những người có tâm hồn cao thượng và trách nhiệm, nhờ được xây dựng từ nền tảng đạo đức nhân bản vững chắc, nếu ngay từ nhà trẻ hôm nay, các bé đã được sống lối sống ngông cuồng “mạnh được yếu thua” ; sẽ chẳng còn gì để trông đợi ở tuổi trẻ tương lai như rường cột của đất nước, nếu ngay từ nhà trẻ, các bé đã không được khai tâm bằng lòng nhân ái, tình huynh đệ, nghiã đồng bào ; sẽ chẳng còn gì để hy vọng một dân tộc hùng mạnh, bình an, hạnh phúc, nếu ngay từ nhà trẻ, các bé đã có thể bạọ hành người khác như giữa chốn không người ; sẽ không bao giờ có một quê hương ấm êm, thanh bình, nếu ngay từ nhà trẻ, bảo mẫu đã tự nguyện giải giới vô trách nhiệm, bằng giải pháp vắng mặt, bận rộn việc khác và bỏ mặc bé lớn ăn hiếp bé nhỏ theo nguyên tắc “cá lớn nuốt cá bé”.

Sẽ chùng sâu hơn nữa, vì làm sao trong tương lai, trên đất nước này sẽ có được những đứa con hiếu thảo, những người chồng, người vợ hiền hoà, những anh chị em tương thân tương ái, những người bạn chân tình, những công dân yêu quê hương, đồng bào, nếu ngay từ nhà trẻ người ta đã coi nhẹ trách nhiệm giáo dục những em bé, mà không tập cho các bé biết nhường bạn, biết chơi chung đồ chơi, biết kính sợ bảo mẫu, biết tôn trọng người lớn, biết việc gì được phép và việc gì không được phép làm ; sẽ chùng sâu hơn nữa tương lai của gia đình và xã hội, khi không ai, không quyền bính nào có thể bảo đảm gia đình sẽ không là “mảnh đất mầu mỡ” của các kiểu bạo hành, xã hội sẽ là đấu trường thi thố bạo lực, nếu ngay từ nhà trẻ, người lớn đã không dám lên tiếng bênh vực các bé yếu thế, vì cha mẹ nghèo, không dám bảo vệ các bé  không được gửi gắm riêng, không dám đối xử bình đẳng giữa các bé thuộc diện con cháu đại gia, quan chức và các bé thuộc diện gia đình có hoàn cảnh, nhưng dồn nỗ lực, thời gian o bế, chiều chuộng, bao che, chăm sóc những bé có cha mẹ làm lớn, có quyền, nhiều tiền để tìm lợi nhuận và “bình an” cho cơ sở; sẽ chùng sâu thật sâu, và khó ngoi lên lắm tương lai của đất nước này, nếu ngay từ nhà trẻ, nạn phân biệt đối xử, kỳ thị giai cấp  giữa các bé đã trở thành bình thường, và chẳng còn mấy người quan tâm tìm cách ngăn chặn, sửa đổi.

Qủa thực, giáo dục bắt đầu từ tuổi thơ, nhưng bức tranh giáo dục tuổi thơ trong nhiều nhà trẻ hôm nay không mang nhiều mầu sắc hy vọng. Bằng chứng là người ta không ngớt phơi bầy những cảnh bảo mẫu bạo hành, cha mẹ đến lớp bạo hành, và tất nhiên rất nhiều cảnh bạo hành tương tự giữa các bé với nhau, mà không có sự can thiệp cấp thời  của người có trách nhiệm chăm nom các bé…

Trước những hiện tượng làm se dạ thắt lòng trong giáo dục, nhất là giáo dục tuổi thơ, thiết tưởng chúng ta không cần phải lý giải, biện luận, giãi bầy, thanh minh với đủ thứ lý do linh tinh, và luận chứng nhùng nhằng. Chúng ta cần lương thiện hơn lúc nào hết để cứu lấy nền giáo dục của hiện tại đang rữa nát, băng hoại, và cứu lấy tương lai của con cháu không xa vực thẳm bao nhiêu.

Chúng ta cần lương thiện, mỗi người cần lương thiện, vì chỉ lương thiện trở về với chính mình, chúng ta mới có cơ may ra khỏi qũy đạo gian dối, thoát khỏi quy trình lừa đảo mà xã hội thực dụng, tiêu thụ, vật chất đang khống chế, nghiền nát chúng ta một cách tinh vi, nhưng rất vô nhân đạo.

Và ngay bây giờ, lương thiện đòi chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, sự thật bạo hành ngay từ nhà trẻ, bởi không can đảm đối diện sự thật và chấp nhận sự thật, dù sự thật có thể qúa phũ phàng, và ghê tởm, kinh khiếp, chúng ta vẫn phải lương thiện  đối diện, lương thiện nhìn nhận, lương thiện sửa sai, đổi mới, vì chỉ sự thật mới thực sự giải phóng chúng ta và cho dân tộc chúng ta được tự do để thăng tiến.

Jorathe Nắng Tím