Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 19 tháng 12, 2018

NỢ ĐỜI

Cuối năm là lúc tính sổ để đòi nợ, trả nợ. Chủ nợ  thì tìm gặp con nợ, con nợ thì ngại ngùng né tránh, năn nỉ khất lần. Và ít khi nợ nần được thanh toán gọn nhẹ, sòng phẳng, vui vẻ giữa hai bên. 
Có nhiều món nợ, từ nợ tiền đến nợ tình, nợ cơm gạo đến nợ nhà đất, nợ danh dự đến nợ ơn nghĩa. Nhưng trong tất cả, nợ tình, nợ ơn nghĩa là món nợ vừa nặng nhất vừa nhẹ nhất. 
Nợ tình nhẹ với người vô ơn, vô tình; nợ ơn nghĩa nhẹ với người vô cảm, vô tâm vì họ coi nhẹ ân sâu nghĩa nặng, xem thường giá trị tình cảm, và dửng dưng với giá trị các tương quan. Người coi nhẹ nợ tình thường là người kiêu căng, bất cần đời, nên bất cần cả những người dầy công khó nhọc xây dựng cuộc đời mình. Họ cũng là người gian dối và bất công khi phủ nhận người ơn bằng xoá hẳn hình bóng họ trong đời. Vì coi nhẹ nợ tình nên họ không nặng lòng hay quan tâm đến chuyện thanh toán, trả nợ, và nợ tình với họ đương nhiên trở thành món nợ không cần phải trả, cũng chẳng cần phải nghĩ ngợi, phân vân. 
Trái lại nợ tình là món nợ rất nặng đối với  những con người tử tế, cao thượng. Họ ý thức nợ tình là món nợ nặng nhất, khó trả nhất mà đã làm người thì không ai không mang. Nợ cha mẹ tình yêu sinh thành, dưỡng dục; nợ đất nước quê hương, họ hàng gia tộc; nợ thầy cô, bạn hữu, và ân nhân đã cứu giúp mình trong đủ hoàn cảnh, tình huống. Ngoài ra, còn những mối tình ăn rễ sâu trong đời và làm thay đổi cả cuộc đời, như những mối tình duyên nợ vợ chồng, tình nhân ... 
Người nặng lòng với nợ tình không xem thường ân nghĩa đã nhận, không coi điều tốt lành người khác làm cho mình là chuyện nhỏ, không đáng để tâm và không cần đền đáp, nhưng trân quý, nâng niu, giữ gìn và mong được đền đáp, tri ân. Họ không trân tráo nghĩ rằng: không làm cho mình, ngườiấy cũng làm cho người khác. Đây là kiểu ngụy biện dễ dãi và tiện lợi mà người vô ơn thường dùng để xù món nợ tình khó trả. 
Quả thực, nợ gì thì cũng có thể trả, nhưng nợ tình thì thật khó trả. Khó trả vì là nợ tình, vì tình không hình dáng, kích thước, không mầu sắc, mùi vị, không định vị, cân đo đong đếm. Chính vì thế, không biết thế nào mà định lượng, trả giá. Một chút ân cần, quan tâm, một quãng đường nhỏ sát cánh, đồng hành cũng có thể đã là biển tình bao la; một xiết tay cảm  thông, một ánh mắt trìu mến động viên cũng trở thành món nợ thiên thu, vĩnh cửu. Người ơn nghĩa thì chôn giữ tận đáy lòng từng món nợ tình nghĩa, dù dưới mắt người đời, đó chỉ là những tình cảm mưa bay, vụn vặt. 
Thánh Phaolô đứng vào hàng ngũ những người coi trọng nợ tình khi nhắc nhở tín hữu: “Anh em chớ mắc nợ ai điều gì, ngoài nợ tình thương mến” (Rm 13, 8). Thánh nhân khuyên chúng ta đừng nợ ai tiền bạc, của cải, càng tránh mắc nợ người khác những món nợ tinh thần như uy tín, danh dự, nhưng muốn mọi người biết mình luôn mang nặng món nợ Đức ái đối với người khác. 
Nợ yêu thương anh em chính là món nợ Thiên Chúa muốn chúng ta mang suốt đời làm con Chúa ở trần gian. Với lệnh truyền : “Anh em hãy thương yêu nhau” ( Ga 13,34). Thiên Chúa đặt chúng ta thành những con nợ tình của nhau suốt đời, không chỉ một thời gian như món nợ có thời hạn, nhưng vô hạn và chỉ hết nợ nhau khi tính sổ yêu thương trước mặt Chúa giờ phán xét. 
Vì nợ tình yêu chỉ có thể trả bằng tình yêu, nên Thiên Chúa đề nghị hai cách trả nợ tình yêu bảo đảm, hữu hiệu nhất, đó là tha thứ và phục vụ. 
Tha thứ cho anh em trong tư thế con nợ của anh em, chúng ta sẽ không mặc cảm tự tôn, coi anh em là người có lỗi, có tội, có nợ chúng ta cho bằng chính chúng ta đang trả nợ anh em bằng tình yêu hoà giải, giao hoà, như Chúa dậy : “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật mà sực nhớ có người anh đang bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em đó đã, rời trở lại dâng lễ vật của mình” ( Mt 5, 23-24). 
Bên cạnh bổn phận tha thứ là nghĩa vụ phục vụ. Phục vụ như Chúa "đến không phải để người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống để làm giá cứu chuộc muôn người" ( Mt 20,28). Nếu Thiên Chúa là Đấng chẳng bao giờ mắc nợ ai, mà còn đến để phục vụ thì chúng ta lẽ nào bắt người khác phục vụ mình. Đàng khác, đạo của Chúa là đường tình yêu đến với người khác, nên phục vụ là những bước chân trên đường tình này. Nói đúng hơn, không phục vụ, đối với Chúa, chúng ta chỉ là những người đứng lì một chỗ mà không bước đi, dù ở trên đường và phải đi về đích. 
Đích tới chính là buổi họp tính nợ có Chúa hiện diện, ở đó, Chúa sẽ hỏi tình hình nợ tình yêu của ta đối với người khác, nhưng đúng ra là nợ tình của ta với Chúa được hạch toán trên phục vụ: “ Khi xưa Ta đói, ngươi đã cho ăn, khát đã cho uống, rách rưới đã cho mặc, khách lạ đã đón tiếp, tù đầy đã thăm nuôi, bệnh hoạn đã chăm sóc, dốt nát đã chỉ dậy, khổ đau đã ủi an, thất vọng đã động viên, quỵ ngã đã nâng dậy, thập tử nhất sinh đã hồi sinh cứu tử ( x. Mt 25, 31-46). 
Quả thực, Thiên Chúa đã nhận việc ta phục vụ ngươi khác là phục vụ Ngài, yêu mến người khác là yêu mến Ngài, như đã đặt ta là con nợ của người khác trong khi ta mắc nợ rất nhiều và rất nặng với Ngài.
 Để kết thúc, người viết xin mượn lời của thánh Fulgence : “Nếu bạn muốn có được gia tài của Cha trên trời, thì bạn hãy trả món nợ tình yêu của bạn không chỉ với bạn hữu mà còn với cả kẻ thù”.
Jorathe Nắng Tím

Sống Như THIÊN CHÚA MUỐN


Nhiều khi chúng ta hoang mang không biết thế nào là sống như Thiên Chúa muốn, nhất là khi trước mặt là cả một rừng lề luật mà luật nào cũng trọng, lề phép nào cũng phải giữ. Đó là chưa kể những áp lực của cơ chế, cộng đồng. Trong Tin Mừng, Đức Kitô quả quyết : “ Ai yêu mến Ta thì giữ điều Ta dậy” ( Ga 14,15), mà điều Thiên Chúa dạy chính là mến Chúa và yêu người như mình.

A. Yêu mến Thiên Chúa.
Yêu mến Thiên Chúa đòi tin Chúa là Đấng giầu lòng thương xót, bởi không  tin Chúa là Đấng đến để thương xót, chúng ta không thể yêu mến Thiên Chúa như Thiên Chúa muốn, vì Chúa muốn chúng ta nhận ra dung mạo của Ngài là Thiên Chúa của lòng thương xót, mầu nhiệm chỉ có trong Thiên Chúa của Đức Giêsu. Nói cách khác, Thiên Chúa được mặc khải trong Đức Giêsu là Thiên Chúa xót thương con người. Xót thương con người mới tạo dựng và cứu độ, mới đến để cứu những gì đã hư mất, mới tha thứ xoá tội và hiến mạng sống cho muôn người được sống và sống dồi dào (Ga 10, 10). Xót thương vì thế chính là sự thánh thiện của Thiên Chúa, mà bỏ đi sự thánh thiện này, Đức Giêsu không còn là dung mạo đích thực của Thiên Chúa Cha như tiếng Chúa Cha phán khi Đức Giêsu chịu phép rửa: “ Đây là Con Ta rất yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng” (Mt 3, 17). Yêu mến Thiên Chúa đòi hiệp thông, nên một với Chúa, vì Chúa muốn chúng ta trở nên giống Chúa hơn mỗi ngày trong tư tưởng, lời nói, việc làm. Đức Giêsu đã mong ước tất cả những ai yêu mến Ngài hãy ở trong Ngài như Ngài ở trong Chúa Cha. Hiệp thông trong Chúa là hiệp thông với Giáo hội trong kinh nguyện và các bí tích.

B. Yêu mến tha nhân.


Yêu tha nhân như mình đòi không nghĩ xấu cho ai, không cư xử bất công cho ai, không làm tổn thương uy tín, danh dự, quyền lợi tinh thần, vật chất của người nào. Nhưng Đức ái không dừng lại ở đó, mà đòi phải tích cực đóng góp xây dựng người khác bằng tha thứ, chia sẻ, phục vụ hết mình, hết tình mọi người, đặc biệt những người kém may mắn. Yêu tha nhân như thế chính là yêu như Chúa yêu, giúp đỡ như Chúa giúp đỡ, tha thứ như Chúa thứ tha, cho đi như Chúa hiến mình, và phục vụ như Chúa hạ mình hầu hạ, rửa chân các môn đệ của Ngài. 
Bổn phận sau cùng của yêu mến tha nhân là loan  báo và làm chứng Tin Mừng. Bởi yêu ai, ta muốn chia sẻ niềm vui, hạnh phúc với họ. Tin mừng của Thiên Chúa là sứ điệp ban niềm vui, bình an, hạnh phúc, không lẽ yêu thương nhau mà không trao cho nhau hạnh phúc, niềm vui, an bình? Vì thế khi lắng nghe, suy gẫm, sống và làm chứng Tin Mừng chính là lúc ta yêu mến người khác rất nhiều, vì Tin Mừng bằng nhiều cách và dưới nhiều dạng đang được gieo vào tâm hồn người anh em với tình yêu, và ơn bình an của Thiên Chúa qua tình yêu chia sẻ và phục vụ Tin Mừng của ta. Như thế, sống như Thiên Chúa muốn là sống giới luật yêu thương đối với Thiên Chúa và đối với anh em đồng loại một cách đơn sơ nhưng triệt để, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, nhỏ bé nhưng cao quý, nhân bản nhưng thánh thiêng, vì trong tình yêu có Thiên Chúa, trong Thiên Chúa có tình yêu con người, trong con người có tình yêu Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa là Tình Yêu. Sống như Thiên Chúa muốn cũng là để lòng thương xót bao trùm mọi sự, kể cả lề luật, bởi luôn luôn có một luật trừ sau cùng là luật trừ của tình yêu. Luật trừ của tình yêu sẽ giải quyết mọi khó khăn, kể cả những khó khăn tưởng như không tìm được đáp án. Đồng thời tất cả mọi sự, mọi việc phải quy hướng về tình yêu, bởi Đức ái đứng trên tất cả, kể cả Đức Tin và Đức Trông Cậy. 
Tóm lại, sống như Thiên Chúa muốn, chúng ta sẽ được tình yêu Thiên Chúa biến đổi khi chúng ta yêu thương nhau, bởi Thiên Chúa đã quảng đại đón nhận tình yêu ta dành cho nhau, như  tình yêu dành cho chính Ngài.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 18 tháng 12, 2018

XÉ NHÁP!


Bắt đầu vào tháng 12 , khắp nơi từ trong nhà đến ngoài phố, đi đâu chúng ta cũng thấy bầu khí rộn ràng chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh và năm mới .
Ở vào cái tuổi sáu mươi, tôi không còn nôn nao mừng lễ như thưở thanh xuân, cũng không háo hức mong chờ năm mới như thời thơ trẻ, nhưng tâm hồn đã chứa nhiều suy tư đan chen với ít nhiều tiếc nuối cho phần đời mình đã trải qua.
Nhìn Chúa Hài Đồng trong hang đá, tôi chợt nghĩ giá mà mình cũng được trở lại ngày mới chào đời để có thể lớn lên, trưởng thành và bắt đầu làm lại đời mình như người ta có thể “xé nháp” một bài viết sai, không như ý .
Thật vậy, khi đã trải qua những thăng trầm trong cuộc sống, đã nếm đủ mùi vị của thành công và thất bại, đã cảm nghiệm được đầy đủ giá trị của hạnh phúc và khổ đau thì đa phần chúng ta đều rút ra được ít nhiều kinh nghiệm sống và ước muốn được xé nháp để làm lại từ đầu . Có khác nhau chăng, là khác ở số lần muốn xé nháp tuỳ thuộc mức độ sai lầm trong đời của mỗi người .
Riêng bản thân tôi có lẽ số lần phải xé nháp là không ít. Không ít, bởi lẽ tôi đã mắc quá nhiều sai lầm trong chọn lựa, thiếu can đảm trong quyết định và nhiều thiếu sót trong cách cư xử .
1/ Sai lầm trong việc chọn nghề :
Thường thì cha mẹ nào cũng muốn con mình có một nghề nghiệp ổn định, vững chắc có thể mang lại cuộc sống an nhàn sung sướng. Ước muốn chính đáng đó không sai, nhưng tiếc là các bậc phụ huynh đã quên một việc rất quan trọng là không nhìn vào khả năng và năng khiếu riêng của con cái. Thậm chí, còn có những ông bố, bà mẹ muốn gửi gắm, trao phó vào con mình cái nhiệm vụ phải thực hiện ước mơ mà mình đã không đạt được. Trong những gia đình có truyền thống “cha truyền con nối” thì sự áp đặt này càng nặng nề hơn.
Nghe theo lời bố mẹ để học hành, theo đuổi một nghề nghiệp mà mình không thích, không phù hợp với khả năng và đam mê là không ít những trường hợp đã xảy ra trong nhiều gia đình. Và tôi đã thuộc một trong số những trường hợp này .
Ngày đó, mẹ tôi muốn tôi phải thi vào trường y, mặc dù tôi chưa bao giờ nghĩ đến ngành này. Tôi có khiếu về sinh ngữ, thích đi đây đi đó, và ước mơ lúc bấy giờ của tôi là học văn khoa để sau này theo ngành ngoại giao. Ước mơ là vậy, tương lai đã được vẽ ra như thế, nhưng ngày ấy tôi đã không đủ can đảm để nói lên ước muốn của mình, không đủ cương quyết để đấu tranh cho công việc mình yêu thích. Tôi ngoan ngoãn nghe theo quyết định của mẹ để thi vào trường y. Vì không thích, không hứng thú, không tha thiết, nên cả hai lần thi tôi đều rớt. Không bỏ cuộc, mẹ tôi vẫn cương quyết muốn tôi phải theo ngành y vì theo bà đó là ngành có ích cho xã hội. Và tôi đã nhu nhược để trở thành kỹ thuật viên gây mê trong miễn cưỡng.
2/ Sai lầm trong hôn nhân :
Không biết có phải để “ rút kinh nghiệm” sau việc chọn ngành học hay không mà lần này trong hôn nhân tôi lại hoàn toàn không nghe theo lời khuyên của ba mẹ . Và một lần nữa, tôi lại phạm sai lầm, một sai lầm nghiêm trọng trong đời tôi.
Tôi đã sai lầm khi chọn lựa cho mình một đời hôn nhân không trọn vẹn, một hạnh phúc không viên mãn. Trái ngược hoàn toàn với việc chọn ngành học, lần này tôi không ngoan ngoãn nhưng lại ương ngạnh cứng đầu, bất chấp lời khuyên bảo của mẹ tôi . Tôi yêu cuồng, yêu dại, bỏ ngoài tai ý kiến của ba tôi. Cái sai lầm của tôi là tự cao, hiếu thắng, cứ cho mình đúng còn ba mẹ thì lạc hậu lỗi thời. Tôi quên một điều là ba mẹ mới chính là những người từng trải, nhiều kinh nghiệm, và ba mẹ mới là người hiểu rõ tôi hơn ai hết, để có thể nhận biết ai sẽ mang lại hạnh phúc cho con mình.
3/ Thiếu sót trong cư xử:
Khi đã đi hơn hai phần ba đời người, ngồi kiểm lại đời mình tôi tiếc nuối rất nhiều vì đã không còn cơ hội để sửa sai cho những lần thiếu sót.
Tôi ân hận rất nhiều vì những muộn phiền mang đến cho ba mẹ, tôi tiếc nuối vô cùng khoảng thời gian tôi mê say với hạnh phúc riêng mà quên đi đấng sinh thành, tôi day dứt khôn nguôi vì những lần thất lễ với các ngài. Và tôi luôn tự trách mình vì những điều đã không làm được cho ba mẹ khi các ngài còn tại thế.
Trong đời sống gia đình tôi cũng tự trách mình không ít. Giá mà ngày đó tôi trầm tĩnh như bây giờ để đừng gây gỗ lớn tiếng, tranh giành thắng thua. Giá mà tôi có đủ nhẫn nhịn để chịu đựng được tính xấu của người phối ngẫu. Giá mà tôi biết ôn hoà bao dung trước lỗi lầm, sa ngã của người bạn đời... Và còn rất nhiều lần “giá mà” như thế nữa thì hôn nhân tôi đã không đổ vỡ, hạnh phúc tôi đã trọn vẹn, viên mãn hơn.
Trong giao tiếp hằng ngày tôi cũng có quá nhiều thiếu sót khi không ít lần đã lớn tiếng hỗn hào với anh chị trong nhà, chỉ vì chút tự ái, tự cao, hiếu thắng của mình .
Với đồng nghiệp chung chỗ làm, tôi càng thấy xấu hổ hơn khi nhớ đến những lần mình so đo ganh tỵ trong công việc, tự trách mình hơn khi đã khinh khi xem thường những người yếu kém, thua mình.
Nhìn lại đời mình, nếu có phép mầu cho phép được bắt đầu lại, tôi thấy mình sẽ phải xé nháp rất nhiều.
Ước gì các bạn trẻ hôm nay đừng như tôi. Các bạn hãy cố sống sao để quyển sách đời mình được viết lên một cách hoàn hảo mà không phải xé nháp lần nào hay ít nhất là số lần xé nháp không quá nhiều như tôi .
Mây Tím

Thứ Tư, 12 tháng 12, 2018

SỨ ĐIỆP GIÁNG SINH!

Tin Mừng Luca kể lại: “Trong vùng ấy, có mục đồng đóng ở ngoài trời và đêm khuya thức canh giữ đàn cừu. Thiên thần Chúa bỗng hiện đến bên họ và vinh quang Chúa rạng ngời bao quanh họ, làm họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng thiên thần nói với họ: Đừng sợ! Này ta đem tin mừng cho các ngươi về một niềm vui rất lớn, tức là niềm vui cho toàn dân: hôm nay đã sinh ra cho các ngươi vị Cứu Tinh, là Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa trong thành của vua Đavít. Và đây là dấu chỉ cho các ngươi: các ngươi sẽ gặp thấy một hài nhi mình vấn tã, được đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2,8-12).  
    Sứ điệp Giáng Sinh đã chính thức được loan báo khi thiên thần hiện đến với anh em mục đồng đang canh thức giữ đàn cừu giữa đêm khuya. Sứ điệp ấy được các thiên thần đặt tên là “tin rất vui mừng cho toàn dân”, và ngay lập tức, thiên thần mời các mục đồng lên đường đến gặp Đấng Cứu Thế vừa hạ sinh, vấn tã, nằm trong máng cỏ, giữa bầy chiên lừa.
     Sứ điệp Giáng Sinh ấy thật ngắn gọn, chỉ vỏn vẹn vài dòng, không làm giật mình, thức giấc ai ngoài đám mục đồng nghèo thức đêm canh giữ chiên lừa; không làm bàng hoàng, thất kinh ai, vì có ai để ý đến chuyện Thiên Chúa sinh ra làm người như con người; không làm bận tâm, mất thời gian của ai, vì có ai quan tâm đến chuyện hoang đường, không thể xẩy ra: Đấng Cứu Thế sinh hạ nghèo hèn trong chuồng chiên lừa giữa đêm khuya hiu hắt. 
    Sứ điệp Giáng Sinh ấy được loan báo thật đơn sơ: văn phong đơn sơ, cách diễn tả đơn sơ, và đối tượng được loan báo là những người đơn sơ. Sứ điệp ấy cũng đã được đón nhận một cách đơn sơ khi các mục đồng rủ nhau đến chuồng chiên  tìm gặp hài nhi vấn tã, đơn sơ  nằm trong máng cỏ, mà không chút thắc mắc, nghi ngờ.
    Sứ điệp Giáng Sinh ấy thật êm đềm, nhẹ nhàng, không gò bó, áp đặt, lấn lướt, bằng cớ là không  người nào có mặt đêm ấy ở chuồng chiên đã lên tiếng tuyên truyền, biện bác, hay ồn ào lý giải, phân bua trước quang cảnh một hài nhi nằm trong máng cỏ, nhưng tất cả đều lặng thinh thờ lậy, an bình cung kính, rồi giữ kỹ những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong long như Đức Maria, Mẹ Hài Nhi (Lc 2,19).
    Sứ điệp Giáng Sinh ấy thật gần gũi, vì ở giữa cuộc đời, gắn liền với con người, cho mọi người, bất phân tuổi tác, thành phần, thời điểm, nơi chốn. Ai cũng là đối tượng của sứ điệp, nhà nào cũng nhận được Tin Vui, tâm hồn nào cũng được vui mừng, rạo rực.
    Sứ điệp ấy là sứ điệp Thiên Chúa từ trời cao thăm thẳm tự nguyện xuống thế giới loài người để làm người như mọi người, vì yêu thương và để cứu độ con người. Trong suy tưởng và hiểu biết bình thường, Thiên Chúa không thể làm người, bởi Thiên Chúa và con người không thể có mặt trong cùng một hữu thể, do sự khác biệt giữa Thiên Chúa và con người. Thiên Chúa là đấng chủ tạo, chí thánh và tuyệt đối, còn con người là thụ tạo yếu đuối, tội lụy, tương đối; Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ, con người giới hạn, bất toàn, khiếm khuyết. Vì thế, ngay việc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người đã là bất khả thi, nói chi đến chuyện Thiên Chúa tuyệt đối trong mọi sự và con người tương đối trong mọi sự hiện hữu trong cùng một hữu thể. Cũng vì khó có thể quan niệm, mà sứ điệp Thiên Chúa làm người không được nhiều người đón nhận, không được toàn thể nhân loại bỏ phiếu đồng tình ủng hộ. Nhưng trở thành một phi lý không thể chấp nhận đối với nhiều người, và bị coi là huyền thoại viển vông bởi số đông khác.
     Sứ điệp ấy là sứ điệp Thiên Chúa làm người để gánh tội, xóa tội, chuộc tội cho con người; để tẩy rửa tội lỗi và lấy đi hậu qủa bất hạnh là hình phạt phải chết của từng người, vì xót thương con người. Như thế, Thiên Chúa làm người ấy đã đến trong thế giới loài người và làm người không phải để được con người phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống cho hạnh phúc của con người.
     Sứ điệp ấy là sứ điệp giao hoà giữa Thiên Chúa với con người, giữa Trời cao và Đất thấp, giữa người này với người kia, để  bình an là hạnh phúc lớn nhất tràn ngập, phủ lấp tâm hồn mỗi người và toàn thể nhân loại, bởi Thiên Chúa dã dựng nên con ngườI để con người được hạnh phúc trong bình an viên mãn.
     Với sứ điệp Giáng Sinh, nhân loại từ nay bước vào một kỷ nguyên được cứu rỗi bởi Thiên Chúa làm người. Con người từ nay biết mình được Thiên Chúa yêu thương, yêu nên làm người để ở với, ở cùng; thương nên tự nguyện hiến mạng làm giá cứu chuộc, chấp nhận chết để con ngườI được sống và sống dồi dào (Ga 10,10).
    Với sứ điệp Giáng Sinh, con người từ nay có ánh sáng chân lý dẫn đi trên đường đời. Không ai sẽ phải lầm lạc trong đêm tối nếu ngước mắt dõi nhìn ánh sao Giáng Sinh luôn có mặt để chiếu sáng, soi đường.
     Cũng với sứ điệp Giáng Sinh, không ai là người không được thương xót, tha thứ,  cứu độ, bởi Thiên Chúa làm ngườI chỉ vì một mục đích duy nhất là tìm lại những gì đã mất, hồi sinh những ai đã chết trong tội lỗi, cho duy nhất một niềm vui lớn “giữa triều thần Thiên Chúa,  khi ai nấy sẽ vui mừng, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,10), một ngườI con, một con người “đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm được” (Lc 15,32).
     Vâng, Giáng Sinh về mang đến từng ngườI, từng nhà, từng cộng đoàn và toàn thể nhân loại sứ điệp bình an của Thiên Chúa làm người, Thiên Chúa cứu độ. Vì sứ điệp Giáng Sinh không là sứ điệp của con người gửi con người, tác giả của sứ điệp không là con người với vóc dáng, tầm cỡ tư duy, suy tính của con người, nhưng là sứ điệp của Thiên Chúa gửi con người, nên khó nghe, khó đón nhận, vì khó hiểu, khó lý giải, khó nắm bắt, bởi tự thân sứ điệp ấy là Mầu Nhiệm.
    Trước sứ điệp mầu nhiệm Thiên Chúa làm người trong hình hài em bé yếu đuối, nằm trong máng cỏ, ở hang chiên cừu, giữa đêm khuya, cũng như mầu nhiệm của sứ điệp Cứu Độ với cây thánh giá sần sùi, nặng nề khó vác, và núi Sọ đẫm máu cực hình, rùng rợn chết chóc, không ai có thể hiểu và giải thích, bởi đây chính là Mầu Nhiệm Thiên Chúa, mầu nhiệm mà chúng ta chỉ có thể noi gương Đức Maria, và thánh Giuse thờ lậy và chiêm ngắm trong thẳm sâu thinh lặng của tâm hồn. Cha mẹ của Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người đã không huyênh hoang phát biểu gì, không huyên thuyên kể lể, tường thuật gì, nhưng chỉ say mê chiêm ngắm Hài Nhi trong thinh lặng, cung kính thờ lậy Hài Nhi trong thinh lặng, khiêm hạ đón nhận ơn bình an của Hài Nhi trong thinh lặng. Chỉ trong thinh lặng, tâm hồn mới có thể đón nhận Mầu Nhiệm; chỉ với thinh lặng, Mầu nhiệm của sứ điệp từ Trời cao mới được hé mở; chỉ bằng thinh lặng, chúng ta mớI cảm nhận được ơn bình an của Thiên Chúa làm người ban tặng cho toàn thể nhân loại trong đêm Giáng Sinh.
     Cùng một tâm tình của người nghèo khó, bé mọn như Đức Maria và thánh Giuse, các mục đồng đã đón nhận sứ điệp Giáng Sinh, nói đúng hơn, đã đón nhận Thiên Chúa giáng sinh làm người với thái độ đơn sơ của người nghèo trước Mầu Nhiệm. Họ không cầu kỳ, thắc mắc, không biện bác, tranh luận, không e dè, tính toán hơn thiệt hay do dự, chần chừ, nhưng hiền lành, chất phác đi theo thiên thần đến gặp Thiên Chúa làm người  với niềm vui hồn nhiên, chân thành  của nếp sống nghèo vốn dĩ rất đơn sơ.
   Vâng Thiên Chúa làm người đã chỉ có thể được nhận ra bởi những đôi mắt hiền lành, nhân hậu, chân thành, chất phác như đôi mắt của cha mẹ Ngài và các mục đồng canh giữ cừu chiên giữa đêm khuya; Thiên Chúa làm người chỉ được đón nhận bởi những tấm lòng của người nghèo khó nhưng bàn tay luôn quảng đại, của người hèn mọn nhưng trái tim luôn cao thượng, của người bé nhỏ nhưng cuộc đời luôn là kỳ công tuyệt vời dưới mắt Thiên Chúa.
     Như thế, sứ điệp Giáng Sinh mang trọn vẹn Thiên Chúa đến cho con ngườI. Sứ điệp ấy không chỉ là Tin Vui lớn lao cho toàn dân, nhưng là Tất Cả trời đất, Tất Cả thần thánh, nhân loại, vũ trụ muôn loài, Tất Cả thời gian, không gian, Tất Cả những gì hiện hữu từ khai thiên lập địa cho đến tận thế, bởi là sứ điệp mang Thiên Chúa, sứ điệp của Mầu Nhiệm Thiên Chúa, sứ điệp của Tuyệt Đối, sứ điệp của Ánh Sáng Sự Thật, Sự Sống đời đời, Tình Yêu đến cùng và vĩnh cửu của một Thiên Chúa yêu thương con người vô cùng, vô tận.
    Và duy nhất một thái độ, một tâm tình Thiên Chúa đợi chờ ở chúng ta trong đêm Giáng Sinh, đó là đơn sơ, thinh lặng: đơn sơ đến gặp Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người như các mục đồng, và thinh lặng chiêm ngắm, thờ lạy như cha mẹ Ngài trong đêm Giáng Sinh.
    Xin Chúa cho tâm hồn chúng ta được cởi bỏ mọi phức tạp để đơn sơ đón nhận mầu nhiệm, và xa dần những huyên náo, ồn ào để thinh lặng chiêm ngắm và thờ lậy Mầu Nhiệm Thiên Chúa  là Tình Yêu Nhập Thể và Cứu Độ.
Jorathe Nắng Tím

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT IV Mùa Vọng, Năm C

   
Chúa nhật cuối cùng của  Mùa Vọng, không khí lên đường hân hoan, rộn rã gấp nhiều lần với hình ảnh người chăn chiên được ngôn sứ Mikha, cũng như thánh vịnh 79 làm nổi bật. Hình ảnh Đấng Cứu Thế đến như người chăn dắt đàn chiên mở ra một kỷ nguyên mới của Giao Ước Mới, Giao Ước được ký kết và thành hình không  do “hiến lễ, lễ toàn thiêu và lễ xá tội ... là những của lễ được dâng tiến như Luật truyền” (Dt 10,8), mà “Chúa không còn ưa thích”, nhưng là Thánh Ý Thiên Chúa Cha, như Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ đến trong trần gian đã thân thưa với Cha Ngài : “Này con xin đến, để thực thi thánh ý Cha” (Dt 10,9). Cũng trong hào khí lên đường thực hiện Thánh Ý, Đức Maria và bà  chị họ Êlisabét là hai khuôn mặt quan trọng được Tin Mừng Luca long trọng giới thiệu.
    Qủa thực, chúng ta đang ở trên đường đi gặp Đấng Cứu Thế, và hôm nay Ngài đến với những kẻ đi tìm Ngài với dung mạo và tư thế người chăn chiên, Đấng chăn giắt dân Ngài.
     Cựu Ước đã báo trước nguồn gốc gia phả, và tư thế Mục Tử của Đấng Cứu Thế, như ngôn sứ Mikha đã công bố : “Phần ngươi, hỡi Belem Éphrata, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, nhưng từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một Mục Tử, Đấng chăn giắt Ítraen” (Mk 5,1). Bêlem là ngôi làng nhỏ bé mà hai thế kỷ trước Đức Giêsu, vua Đavít đã được sinh ra ở đây. Cũng như Đavít, Đức Giêsu sẽ là Mục Tử quy tụ, tập hợp các chiên nhà Ítraen và dẫn dắt chúng.
     Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Do Thái hôm nay, tuy không đặt rõ vai trò Mục Tử của Đức Giêsu, nhưng đề cao kỷ nguyên mới của Đấng Cứu Thế, Đấng đã đến để lập một Giao Ước Mới, bằng “bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10,9-10). Qua những giòng này, thánh Tông Đồ đã nhấn mạnh sứ mệnh hiến thân vì đàn chiên của Mục Tử là Đức Giêsu, và làm nổi bật mục đích đến trong thế gian của Đức Giêsu là “hiến dâng chính mạng sống mình để đàn chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10), như ý muốn của Chúa Cha (x. Dt 10,9).
    Tin Mừng Luca vẽ lên bức tranh “Lên Đường” tuyệt vời của Đức Maria đến thăm bà chị họ Êlisabét. Cả hai đều mang thai cách kỳ diệu : Êlisabét, tuy đã già rồi, không còn có thể thụ thai, thế mà “cũng cưu mang một người con trai : bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay cũng dã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,36-37). Còn Đức Maria thì thụ thai ở tình trạng đồng trinh, như chính Mẹ đã tự nhận trước thiên sứ Gabriel : “Việc ấy xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34), và  Đức Giêsu, Con Thiên Chúa mà Mẹ cưu mang là do Chúa Thánh Thần, và quyền năng của Đấng Tối Cao rợp bóng trên Mẹ (x. Lc 1,35).
     Đức Maria, ngay sau ngày Truyền Tin, nghiã là ngay khi Đức Giêsu hiện diện trong cung lòng mình, “đã vội vã lên đường đến miền núi, vào một thành thuộc chi họ Giuđa, vào nhà ông Dacaria, thăm bà Êlisabét” (Lc 1,39). Hình ảnh hăng hái lên đường, nôn nóng mong gặp bà chị họ đã già đang mang thai những tháng cuối cùng cực nhọc của Đức Maria là hình ảnh của Mục Tử nhân lành khấp khởi lên đường đến với đàn chiên, nóng lòng sốt ruột trên đường đi tìm mấy chú chiên con ham chơi lạc đàn. Mục tử nhân lành, yêu thương ấy chính là Đức Giêsu, Đấng đã bắt đầu sứ mệnh đi tìm, tập hợp, dẫn dắt, yêu thương, chăm sóc đàn chiên của mình ngay khi còn là bào thai trong lòng Đức Trinh Nữ Maria, mẹ Ngài.   
    Sứ vụ Mục Tử của Đức Giêsu như thế đã không chỉ bắt đầu sau khi chịu phép rửa của Gioan ở sông Giođan, nhưng bắt đầu từ trong bụng mẹ, và từ ngày cùng mẹ đến thăm gia đình Êlisabét, người đang mang thai Gioan, vị Tiền Hô tương lai của Ngài. Vì thế  chúng ta có thể nói: gia đình Dacaria - Êlisabét là đại diện của đoàn chiên Ítraen, và là hình ảnh của đoàn chiên Dân Chúa mà Đức Giêsu là Mục Tử, vị Mục Tử yêu thương trọn vẹn và đến cùng, trọn vẹn từ những ngày đầu nhập thể vào đời và đến cùng cho đến khi tất thở trên thánh giá. Không bỏ một giây phút, không lãng phí một khoảnh khắc thời gian của cuộc đời nhập thể làm người, Đức Giêsu đã muốn thực hiện tuyệt đối trọn vẹn thánh ý Chúa Cha, bằng chu toàn không sai sót, không sơ hở, nhưng quyết liệt và qủa cảm sứ vụ Mục Tử được Chúa Cha trao phó.
    Nếu chúng ta chăm chú chiêm ngắm dung mạo và đời sống Mục Tử của Đức Giêsu, chúng ta sẽ không thể bỏ qua hai điểm quan trong trong đời Ngài: khởi điểm là khi còn ở trong lòng mẹ đã cùng mẹ đến thăm gia đình Dacaria, Êlisabét, Gioan Tẩy Giả và đích điểm là tự mình vác thánh giá lên núi Sọ để hiến mạng sống làm của lễ đền tội cho đàn chiên.
      Ở khởi điểm Gioan Tẩy Giả đã nhảy mừng trong bụng mẹ, Êlisabét được đầy tràn Thánh Thần (Lc 1,41), và Dacaria chan chứa niềm vui, vì được Đức Giêsu, Mục Tử của Ítraen tìm đến thăm; ở đích điểm dưới chân thánh giá, toàn thể nhân loại là đoàn chiên Thiên Chúa hân hoan, sung sướng, vì không còn phải chết, nhưng “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Ở đâu và bất cứ lúc nào, cho đến tận thế, Đức Giêsu Mục Tử luôn là nguồn sống, nguồn vui, nguồn hy vọng, nguồn Tình yêu, ơn An Bình cho tất cả những ai lên đường đi theo Ngài.
     Điểm độc đáo mà Tin Mừng Luca hôm nay đã cực tả là cuộc lên đường Đức Tin với Đức Giêsu của người Kitô hữu đầu tiên. Người Kitô hữu đầu tiên là người thứ nhất đã có Đức Giêsu Kitô trong đời mình, đã mang Đức Kitô trong trái tim mình, trong cung lòng mình. Người tín hữu đầy phước lạ, vượt trội không những mọi người nữ, mà cả loài người, đó chính là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người.
      Đức Maria đã vội vã lên đường đến với người khác để giới thiệu Đức Giêsu đang hiện diện trong lòng Mẹ. Đây là sứ vụ của người Kitô hữu. Và sứ vụ loan báo Tin Mừng Cứu Độ, sứ vụ loan báo Đức Giêsu Kitô và làm chứng về Ngài luôn đòi phải Lên Đường. Không có sứ vụ nào không đòi lên đường, đi ra khỏi nhà mình, đến với người khác. Không người nào được sai đi, mà có thể ở lì trong nhà, không cất bước lên đường thực thi sứ vụ. Và cũng chẳng có sứ vụ nào là sứ vụ  nằm ở nhà, tường cao cổng kín, cửa đóng then cài. Trái lại, đã nhận sứ vụ là nhận “ra đi”, mang sứ mệnh là mang “kiếp sống trên đường”. Cũng vậy, người Kitô hữu mang Đức Kitô không phải chỉ khư khư giữ  Đức Kitô cho riêng mình như giữ một của riêng, một báu vật phải dấu kỹ, không để lộ cho ai biết. Nhưng người Kitô hữu có Đức Kitô để loan báo, giới thiệu Đức Kitô cho mọi người, mang Đức Kitô đến với mọi người, để mọi người được hạnh phúc với Đức Kitô như chính họ đang hạnh phúc vì có Đức Kitô trong cuộc đời .
    Vì thế, sẽ không có người Kitô hữu, nếu không có Đức Giêsu Kitô; cũng như không có Đức Giêsu Kitô cửa quyền, hống hách ngồi đó cho thần dân hầu hạ, phục dịch, nhưng chỉ có Đức Giêsu Kitô Mục Tử chạnh lòng thương đàn chiên, biết từng con chiên, biết cả mùi chiên, gìn giữ, bảo vệ chiên để chiên không rơi vào tay kẻ trộm hoặc làm mồi cho sói dữ, nhưng lên đường chăn chiên đến “hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên” (x. Ga 10,1-15); chỉ có Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành đôn đáo lên đường đi tìm “đồng cỏ xanh tươi”, cho đàn chiên nằm nghỉ; đi tìm “suối nước mát”, cho chiên uống thỏa thuê (x. Tv 22).
     Đức Giêsu là Mục Tử luôn trên đường chăn dắt chiên, nuôi nấng chiên, chăm sóc chiên, tìm kiếm chiên, nên Lên Đường là sứ vụ của Ngài, Lên Đường để sứ vụ của Ngài được hoàn thành, bởi Thiên Chúa đã đặt con người vào đời trong tình trạng lữ hành, bước tới, chứ không trong trạng thái đã xong, đã hoàn thành, vô cảm như những rôbốt. Chính vì thế, đức tin luôn bắt đầu bằng đôi chân, như Ápraham đã lên đường ngay khi được Thiên Chúa Giavê chọn làm tổ phụ : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng, nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12,1); Môsê đã lên đường khi được sai đi giải phóng dân (Xh 3,12.15); các ngôn sứ cũng lên đường khi được kêu gọi; các Tông Đồ “đã bỏ chài lưới mà đi theo Người”  (Mc 4,20); và tất cả mọi Kitô hữu, khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy đều được sai đi, được thúc đẩy Lên Đường với Đức Giêsu Mục Tử, và anh em mình, dưới ơn huệ  của Chúa Thánh Thần.
     Xin Chúa cho chúng ta ý thức sứ vụ lên đường loan báo Tin Mừng, và mỗi khi  “Loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại”, chúng ta nhớ đến  hình ảnh người Kitô hữu đầu tiên và đời đời diễm phúc là Đức Maria đã vội vã lên đường đem Đức Giêsu đến với gia đình người chị họ Êlisabét trong yêu thương chia sẻ, trong khiêm tốn phục vụ, trong đằm thắm tri ân; bởi  chính khi Lên Đường đến với người khác là lúc chúng ta thi hành sứ vụ “loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại” một cách thiết thực, sống động, hữu hiệu và đẹp lòng Chúa, mưu ích cho anh em hơn tất cả. 
     Và như Mẹ Maria, noi gương Mẹ, chúng ta cũng hớn hở lên đường với Giáo Hội loan báo Tin Mừng Giáng Sinh : “Hôm nay Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, Mục Tử nhân lành của đoàn chiên nhân loại đã sinh ra và cư ngụ giữa loài người chúng ta”.   
Jorathe Nắng Tím      

Thứ Hai, 10 tháng 12, 2018

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT III, Mùa Vọng, Năm C


    
Tất cả các bài đọc và Tin Mừng hôm nay đều diễn tả một niềm vui khôn tả trên đường đi gặp Thiên Chúa, là Thiên Chúa cứu độ. Nơi Ngài, không còn sợ hãi, vì Ngài là sức mạnh (Is 12, 2), và niềm vui bật thành lời ca tiếng hát, câu hò chúc tụngThiên Chúa đang ở giữa dân Người sẽ lấy tình thương của Người mà đổi mới muôn dân.
     Thực vậy, bầu khí Chúa Nhật thứ ba mùa vọng thật tưng bừng, phấn khởi và ngôn sứ  Xôphônia đã hoan hỷ kêu gọi trong bài đọc thứ nhất: “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Sion, hò vang dậy đi, nhà Ítraen hỡi, vì án lệnh phạt ngươi, Đức Chúa đã rút lại” (Xp 3,14-15). Qủa thực, không gì hạnh phúc cho can phạm khi án toà được hủy bỏ, lệnh tống giam được xé đi, và Đức Chúa đã đến như vị cứu tinh, người giải phóng, Đấng Cứu Độ để đem hạnh phúc cho dân Người.
     Thánh Phaolô thì dường như xuất thần với niềm vui Chúa đã đến gần, và kêu gọi mọi người vui lên trong Chúa bằng sống hiền hoà, quảng đại, chân thành, tử tế, nhất là cầu nguyện và kết hợp với Đức Giêsu Kitô (x. Pl 4, 4-9).
     Cũng trong niềm vui Đức Chúa đã đến gần, Tin Mừng Luca tiếp tục triển khai lệnh lên đường của Thiên Chúa đã được Gioan Tẩy Giả loan báo, kêu gọi. Trả lời câu hỏi của đám đông : “Chúng tôi phải làm gì đây?” (Lc 3, 10), Gioan đã trình bày công việc phải làm của người đáplời kêu gọi dọn đường, lên đường, sám hối của ông. Theo Gioan, có ba công việc phải làm: 

1.         Chia sẻ cơm ăn, áo mặc với anh em:
  Gioan không úp mở xa gần, nhưng bộc trực, huỵch toẹt: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có; ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy” (Lc 3, 10). Đơn sơ, ngắn gọn, nhưng thiết thực và hữu hiệu: chia sẻ cơm áo với người thiếu thốn chung quanh. Người đói ăn, thiếu mặc thì khắp nơi, không tìm cũng thấy, không mong cũng gặp, nên ai cũng có cơ hội để chia sẻ những gì mình có, cho đi những gì mình dư thừa cho người anh em thiếu thốn, đang cần được giúp đỡ.
    Ngay từ buổi đầu, nghiã là trước khi Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng, Gioan Tẩy Giả, vị Tiền Hô của Ngài đã nắm bắt chính xác đòi hỏi tất yếu của Tin Mừng, đó là Yêu Thương, Chia Sẻ. Là người đi trước dọn đường, Gioan đã thấy con đường Đức Giêsu mở ra, cũng là con đường Ngài đi và bất cứ ai muốn theo Ngài cũng sẽ phải đi: con đường Bác Ái, con đường Xót Thương, con đường Chia Sẻ.

2.         Công Bình  trong ứng xử:
   Công việc thứ hai phải làm là công bình: “Đừng đòi hỏi gì qúa mức đã ấn định” (Lc 3,13). Đòi hỏi ai điều gì qúa mức quy định họ phải làm là vi phạm luật công bình, bởi mỗi người có trách nhiệm, nhưng cũng có quyền lợi đi đôi với trách nhiệm ấy. Đòi hỏi ai làm qúa trách nhiệm là bất công với họ, cũng như bắt người khác làm qúa nhiều, qúa sức, qúa độ, qúa khả năng, mà không cho quyền lợi tương xứng là bóc lột, vi phạm luật công bằng.
   Công bình không chỉ đòi chúng ta tôn trọng quyền sở hữu, mà còn tôn trọng quyền sống làm người của người khác, và trong mọi trường hợp, công bình luôn là nền tảng của bác ái. Không thể có bác ái, không thể qủang đại sẻ chia, nếu thiếu phân minh, công bình. Như thế, chẳng khác nào người tham nhũng đi làm từ thiện bằng tiền cắc của khối tiền tham những kếch xù. Việc từ thiện đó tưởng do lòng bác ái, nhưng thực chất chỉ là trò giả hình gian xảo, điếm đàng, lừa lọc, cốt che mắt phàm nhân, nhưng sao che được mắt Thiên Chúa?
      Vì thế, công bình rất cần thiết và không thể thiếu trong đời sống người lữ hành theo Đức Gêsu trên đường Sự Thật và Yêu Thương, bởi cả sự thật và yêu thương đều không thể thiếu công bình như nền tảng, bệ phóng.
  
3.         Không bạo lực:
   Công việc thứ ba Gioan khuyên phải làm, đó là: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta” (Lc3,14). Hà hiếp, tống tiền là đàn áp, trấn lột, và tất nhiên để thực hiện việc hà hiếp, tống tiền, người ta cần sử dụng bạo lực. Có thể là bạo lực ngôn từ, bạo lực chân tay, bạo lực vu khống, bạo lực gieo tin đồn thất thiệt, bạo lực vũ khí... Cách nào của bạo lực thì cũng là bạo lực, là vi phạm luật giao thông của Con Đường Sự Thật và Tình Yêu, bởi làm tổn thương con người, vì con đường này Thiên Chúa đã lập nên cho hạnh phúc của con người.
     Gioan Tẩy Giả đã hiểu rõ hơn ai hết, vì ngài là Tiền Hô của Đức Giêsu, giá trị của sự hiền lành, không bạo lực, bởi chính Sự Thật sẽ giải giới mọi bạo lực, vì Sự Thật có sức mạnh giải phóng toàn diện, không để con người chìm đắm trong u mê, tăm tối của gian dối, lầm lạc là nguyên nhân đưa đến mâu thuẫn, chia rẽ, đố kỵ, tạo cơ hội cho bạo lực chiếm sân, can thiệp. Sự hiền lành, nhu mì cũng rất cần thiết để sống Yêu Thương, vì người có lòng yêu mến anh em mình, sẽ không thể chung sống với bạo lực, vì bạo lực là kẻ thù của Tình Yêu.   
        Và để đám đông hiểu rõ hơn đòi hỏi cấp bách phải thay đổi não trạng, thay đổi nếp nghĩ cũ, thay đổi lối sống vô độ, gian ngoa, thù hận, Gioan Tẩy Giả cho mọi người biết thêm: “Tôi rửa anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3,16). Tuyên bố này xác định thật rõ ràng, chính xác: Anh em phải khẩn trương thay đổi, vì Đấng đến sau tôi cao cả hơn tôi rất nhiều, nên đòi hỏi còn gắt gao nhiều lần hơn, bởi “tay Người sẽ cầm nia ria sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Lc 3,17).
     Tóm lại, Thiên Chúa muốn chúng ta đón rước Ngài bằng bước đi với Ngài trên con đường Sự Thật và Tình Yêu, bằng sống đời công bình, bác ái, tẩy chay bạo lực nhưng xây dựng hoà bình. Trên con đường có Chúa đồng hành và chờ đón, ta nhận được Niềm Vui ơn Cứu Độ, và có Chúa là nguồn Bình An (Pl 4, 9). Chính nguồn “bình an vượt lên trên mọi hiểu biết” (Pl 4,7), sẽ giữ lòng trí chúng ta được kết hợp với Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ là Sự Sống, Sự Thật, và Tình Yêu đang đến trong nhà chúng ta.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2018

Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội


   
Mt trong nhng tuc hiu vinh d ca Đc M là Vô Nhim Nguyên Ti. Vi ơn vô nhim nguyên ti, m  ngưi con duy nht không vung mc ti ca ông bà t tông đ li, ngưi  n duy nht hoàn toàn trong sch , con ngui duy nht không b  thn d Satan khng chế, th to duy nht đuc Thiên Chúa gìn gi khi mi ti li. Tín điu này đã đưc Đc Giáo Hoàng Piô IX long trng tuyên b vào năm 1854  sau nhng ln hin ra ca Đc M ti L Đc, nưc Pháp vi  ch Bênađét, đó, Đc M đã t mình là Đng Vô Nhim Nguyên Ti.
  Đ hiu rõ hơn v tín điu Đc M Vô Nhim Nguyên Ti, chúng ta cn hiu ti t tông, hay ti ca nguyên t truyn li cho con cháu là ti gì ?
   Sách Sáng Thế đã trình thut v cơn cám d và sa ngã ca ông bà nguyên t  trong chương 3, và chúng ta có th rút ra nhng đim nhn đc bit t trình thut này :
   Thn d  là ma qy đã cc lc cám d bà Evà làm trái ý Thiên Chúa bng đánh thng vào đim yếu ca bà , đó là tính nghi nan, ng vc.
   Trưc hết, ma qy đã gieo ht đc nghi ng vào tâm hn Evà  v kh năng nhn biết thánh ý Thiên Chúa, khi "na đùa na tht" hi bà: "Có tht Thiên Chúa bo : 'Các ngươi không đưc ăn hết mi trái cây trong vưn không ?' .." (St  3,1). Hi như thế, ma qy c ý làm cho Evà không còn tin vào mình na, đ ri không tin mình đã nhn lnh truyn ca Thiên Chúa mt cách chính xác, rõ ràng là "không đưc ăn trái trên cây gia vưn" (St 3,3).
    Và qa tht, khi thy Evà biu l do d, hoang mang, thn d đã dn sc tn công: "Chng chết chóc gì đâu ! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó,  mt ông bà s m ra, và ông bà s nên như  nhng v thn biết điu thin điu ác" (St 3,4-5). Cú  th hai qúa đc,  có sc mnh chí t, đánh gc lp tc Evà khi " Bà lin hái trái cm mà ăn, ri đưa cho c chng đang đó cùng ăn" (St 3,7).
    Cc đc vì ma qy đã gieo đưc vào tim ca Evà mi nghi ng th hai, ngàn ln quan trng hơn mi nghi nan, ng vc th nht v kh năng hiu biết thánh ý Thiên Chúa ca mình, đó là nghi ng chính lòng tt và tình yêu ca Thiên Chúa, nói đúng hơn là nghi ng chính Thiên Chúa.
  Nghi ng Thiên Chúa không tt vi mình, khi tin vào bí mt va đưc ma qy tiết l : "Ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mt ông bà s m ra". Thế ra, t lâu nay, Thiên Chúa bt mt mình, không cho mình thy "tri trăng mây nưc" và muôn s đp l lùng quanh mình. Bt mt mình như thế, Thiên Chúa đã không chân tht và tt lành, vì còn giu diếm rt nhiu s, không cho mình  biết. Thế là Evà đâm nghi, nghi Thiên Chúa không tt, không thương yêu con ngưi và tín nhim con ngưi như Ngài nói: "Chúng ta hãy làm ra con ngưi theo hình nh chúng ta, ging như chúng ta, đ con ngưi làm bá ch cá bin, chim tri, gia súc, dã thú, tt c mt đt và mi ging vt bò dưi đt " (St 1,26).
     ma qy đã thành công ngoài sc tưng tưng, bi chính hn cũng chng bao gi dám nghĩ có ngày hai con ngưi đu tiên đưc Thiên Chúa sng ái, và đt vào vưn đa đàng (St 2,16) li có th "rt đài" nhanh chóng và d dàng như vy.
  Thc ra, khi đánh vào tính nghi nan, ng vc ca Evà, ma qy đã nm đưc mt đim yếu khác, vô cùng quan trng và mang tính quyết đnh ông bà nguyên t, đó là tính ganh t.
   Vì ganh t , nên khi nghe ma qy thì thm to nh: "mt ông bà s m ra, và ông bà s nên như nhng v thn biết điu thin điu ác" (St 3,5), ông bà đã lên cơn ghen tuông vi "các v thn", và bc bi vì mình không đưc biết "điu thin điu ác" như thn thánh. Lòng ghen tương, ganh t đã thúc đy Evà mun tr thành thn thánh ngay lp tc, mun chp nhoáng ri b phn làm ngưi, mun khn trương ra khi điu kin ca loài ngưi,mà ông bà nghĩ là rt ti tăm, vì mt không đưc m ra như thn thánh. Cũng chính vì ghen tuông, ganh t, Evà đã không chu thua các v thn đang có "mt m ln", và đưc biết nhiu điu, nhiu s mà ông bà không đưc biết. Và chính lúc sôi sc ghen tuông vi thn thánh , Evà đã bt mãn vi chính Thiên Chúa và nghim nhiên quy ti cho Ngài đã không m mt ông bà, như đã m mt các v thn; không cho ông bà biết điu thin, điu ác như thn thánh, nhưng ngăn chn, giu diếm, hn chế, cm cn ông bà cách bt công.
    Ađam, tuy không đóng vai chính, tích cc trong sa ngã này, nhưng khi chp nhn ăn trái cm Evà trao, ông đã t ra đng tình vi v mình, trong suy nghĩ và chn la.       
     Thc vy, nếu không b thôi thúc bi lòng ghen tuông, không mun thua ai, không mun kém ngưi, thì chưa chc ông bà nguyên t đã b "nc ao" nhanh chóng và d dàng như trình thut k; nếu không ganh t và mun ngang bng các v thn, chc chn Evà đã không liu lĩnh hái trái Thiên Chúa cm và cùng chng ăn; nếu không vì ghen tuông, kiêu căng, không mun ai qua mt mình, thì nhiu phn trăm ma qy s phi tht bi trong chiến dch cám d Ađam - Evà trái lnh Thiên Chúa.
   Tiến trình và thc trng ca  cơn cám d đã nghiêng hn phn thng v phiá ma qy ngay t  giây phút đu, đt tn công th nht, vì nơi ông bà nguyên t đã ngm ngm mm mng ghen tuông, ganh ghét, và kiêu  căng đã nm chc sn ca tâm hn ông bà. Kiêu căng là r, ghen tuông là thân cây, hn thù - bo lc là cành, và chết chóc, bt n là hoa trái.
     Ông bà nguyên t vì kiêu căng mun biết hết mi s như thn thánh biết, đúng hơn là như Thiên Chúa biết; vì ghen tuông , không mun ai hơn mình, k c thn thánh, nên đi đến chn la mang tính bo lc là chng cưng lnh cm ca Thiên Chúa, đ nhn vào hu qa là bt an và s chết.
    Tiếp lin trình thut Sa Ngã ca nguyên t là câu chuyn Cain giết chết em mình, ch vì ganh ghét, khi thy l vt ca Aben, em mình đưc Thiên Chúa khng nhn, còn l dâng ca mình thì không. Không còn chu đng đưc la ghen tuông đt cháy tâm can, Cain đã d em ra đng và giết chết em (St 4,4-8).
   Phn trình thut đã làm ni bt mt cách kinh ngc ti t tông, khi qa quyết: bà Evà đã sinh ra Cain và Aben, đng thi đt trng tâm vào nguyên nhân ca  v vic sát nhân: do ghen tuông, ganh ghét.
    Cain đã ganh ghét em trai  mình, ch vì thua kém em; Aben đã b chính tay anh trai mình h sát, ch vì b Cain, anh mình, ghen tuông. Nguyên nhân ca ti ác giết ngưi đưc coi là đu tiên ca lch s ơn cu đ mà sách Sáng Thế k li là lòng ganh ghét. Vì ganh ghét, anh em rut tht cùng cha cùng m cũng đã không ngn ngi ra tay giết chết nhau.  Thm kch ca nhân loi bt đu t lòng ganh ghét khi đi t thm cnh "huynh đ tương tàn" ca hai con trai ca ông bà nguyên t, kéo dài mãi đến tn thế, như mt th ti t tông, di truyn ca nòi ging loài ngưi.
   Qa thc, không ai trong chúng ta dám t ph mình không ganh ghét, ghen tuông; trái li, mm mng ca ganh ghét luôn nm ca tâm hn mi ngưi, ch cơ hi thun tin là ni dy, n tung. Chúng ta ganh ghét ngưi khác rt d dàng, và hu như t đng, vô thc, ch vì chúng ta mang trong mình kiêu căng, như gien ca ông bà nguyên t di truyn.
    Mng kính Đc M Vô Nhim Nguyên Ti, chính là dp chúng ta nhìn li yếu đui di truyn ca tt c chúng ta, con cháu Evà đã vì kiêu căng mà nghi nan, ng vc; vì kiêu căng mà ganh ghét; vì kiêu căng mà bt tuân lnh Thiên Chúa.
   Cũng vi tâm tình mng kính M Vô Nhim đó, chúng ta t ơn Chúa đã ban cho nhân loi Đc Maria Vô Nhim Nguyên Ti, mt ngưi n cc k khiêm nhu, nhân hu, không vn vương ghen tuông, ganh ghét hn thù; mt con ngưi không biết t mãn, t ph, t cao, t đc là gì, bi sut đi ch nhn và sng đi n t bé mn, đ tr li cho thế gii loài ngưi nim hy vng đưc cu ri. Và Ngưi N mà Thiên Chúa chn có tên là MARIA đó đã không ch đưc đc ân Vô Nhim Nguyên Ti, mà còn "mình khoác mt tri, chân đp mt trăng, và đu đi triu thiên mưi hai ngôi sao... Ngưi N này đã sinh đưc mt ngưi con, mt ngưi con trai, ngưi con này s dùng trưng st mà chăn git muôn dân. Con Bà đưc đưc đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tn ngai ca Ngài" (Kh 12,1.5).  
   Xin Đc Maria Vô Nhim Nguyên Ti cho chúng con hc vi M tinh thn ca ngưi tôi t trung tín ch biết khiêm tn Xin Vâng và "làm nhng gì Ngài bo" (Ga 2,5),  như M hng ân cn căn dn chúng con trên hành trình đi theo Đc Giêsu, con yêu qúy ca M.
Jorathe Nng Tím