Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 5 tháng 12, 2019

NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 3/12

Ngày “Thế Giới Người Khuyết Tật” năm nay, người viết muốn được chia sẻ với Bạn về thái độ của những người bình thường, khỏe mạnh trước những anh chị em không may mắn vì khuyết tật. Đây cũng là dịp nhìn lại chính mình, với những sai sót đã làm tổn thương không ít những anh chị em thiếu may mắn, qua thái độ thiếu trân trọng, không cảm thông và cái nhìn đôi khi diễu cợt, coi thường.
Không biết từ đâu và do nguyên nhân nào, một số không ít người trong đời thường có cái nhìn không mấy khác nhau về người khuyết tật : người khuyết tật bị nhìn như một thành phần thấp kém, một đám người xấu số, có khi như những người đã gây nhiều tội ác và đang phải đền trả. Chẳng thế mà đối với người khuyết tật, người ta dễ có thái độ khinh bỉ, xa lánh, ngao ngán, bực bội và thi thoảng mới chút ít thương hại, tội nghiệp. Xa lánh, khinh bỉ vì cho rằng  khuyết tật là do đã gây  nghiệp ác đâu đó ; ngao ngán, bực bội vì khuyết tật không có ích cho ai, nhưng suốt đời là gánh nặng của gia đình, xã hội ; riêng người có lòng tốt thì chép miệng thương hại, tội nghiệp khi nghĩ khuyết tật như thân phận hẩm hiu, số kiếp bị đọa đầy.
Não trạng tiêu cực về người khuyết tật trên đã đưa đến thái độ thiếu tôn trọng, cảm thông đã đành ; não trạng ấy còn làm cho cái nhìn của người khỏe mạnh, bình thường dễ trở nên tàn ác, phi nhân, làm tổn thương trầm trọng người khuyết tật. Viết điều này, bạn đọc có thể trách người viết đã “vơ đũa cả nắm”, khi bỏ quên những trái tim nhân ái suốt đời cống hiến cho hạnh phúc của người khuyết tật.
Đúng, bạn có lý, vì có thật những trái tim nhân ái trong những con người bằng xương bằng thịt ngày đêm tận tụy, hy sinh, quên mình trong các bệnh viện, trung tâm khuyết tật ; những tình yêu trên cả tuyệt vời đã được dâng hiến trọn vẹn cho anh chị em tật nguyền, bất hạnh ; những tâm hồn cao thượng dám nhìn thấy “Mầu Nhiệm con người” ở người anh em, chị em bại liệt, nằm ngồi xe lăn, ú ớ nửa tỉnh nửa mê, quờ quạng nửa sống nửa chết ; những tấm lòng quảng đại ngời sáng không ngại nhận làm người thân của mình người anh em khuyết tật, mà giá trị và ý nghiã đích thực của những bất hạnh trên thân xác của cuộc sống hôm nay sẽ chỉ có thể nắm bắt được ở một thế giới vĩnh hằng nào đó, phía sau thế giới này.
Nhưng khi viết lên nỗi đau của người khoẻ mạnh, bình thường gây ra cho đồng loại khuyết tật vì não trạng, và qua thái độ tiêu cực, người viết muốn nhìn thẳng vào nguy cơ của một ngày mai không còn mấy người cảm thông, yêu mến, tôn trọng và dám hy sinh phục vụ người khuyết tật, khi hôm nay, trong xã hội cực kỳ thực dụng và ích kỷ này, trẻ em trên đường đến trường không còn biết kính trọng người khuyết tật, nhưng sẵn sàng xô lấn, làm té người què cụt để dành lối đi ; ở đèn xanh đẻn đỏ, không còn người trẻ dám đưa tay dắt cụ già mù loà qua đường vì thẹn thùng, mắc cở với bạn bè ; trên xe buýt, người trẻ cũng đã đánh mất khả năng đứng dậy nhường chỗ cho người già tàn tật, người mẹ ẵm em bé bại não ; ngoài đường phố, một đám thiếu nhi vô tâm đang nhởn nhơ trêu ghẹo, chọc phá em bé tàn tật ngồi xe lăn. Đó là chưa kể những diễu cợt, khôi hài độc ác, dã man lấy đề tài từ tật nguyền khốn khổ, từ hình hài dị dạng của người khuyết tật đang co quắp, ngơ ngác, đờ đẫn rất đáng thương trước mặt đám trẻ không được giáo dục. Và ngay trong gia đình, người khuyết tật cũng thường xuyên bị anh chị em coi thường, bỏ quên, giấu diếm, vì sự có mặt, hay xuất hiện của “thành viên xấu số” này chỉ tăng thêm phần xỉ nhục cho người nhà trước bạn bè, bà con, khách khứa.       
Nếu não trạng xem người khuyết tật là người đáng bỏ đi, như nhà độc tài phát xít Hitler đã tìm cách tiêu diệt “sạch sẽ” những người khuyết tật để làm nhẹ gánh nặng của Đức Quốc Xã, nếu tuổi trẻ hôm nay trên quê hương chúng ta mất dần khả năng tôn trọng người khuyết tật, khi không còn coi họ là những con người có đầy đủ giá trị và quyền làm người như bất cứ con người nào nữa, thì tương lai của những  người khuyết tật sẽ đi về đâu, và số phận của họ sẽ ra sao ?
Vì thế, chúng ta có bổn phận ưu tư, nếu không muốn nói là lo lắng, và đặt vấn đề thái độ phải có đối với người khuyết tật một cách đứng đắn, và nghiêm chỉnh.
Để có thái độ đúng đắn, nghiã là thái độ tôn trọng, thân thiện, chia sẻ, cảm thông, nâng đỡ đối với anh chị em khuyết tật, thiết tưởng chúng ta phải :
1.   Ý thức về giới hạn  con người của mình :
Ý thức giới hạn của con người, tức biết mình là một hữu thể luôn có giới hạn, không những bởi không gian, thời gian, mà còn bị giới hạn bởi vô số những nhân tố khác, và tình trạng khuyết tật là điển hình, khi không chỉ khuyết tật do gien di truyền, do tai hoạ thiên nhiên, mà còn do tai nạn tự mình hoặc người khác gây ra,  hoặc do lòng ganh ghét và hành vi bạo lực, do cẩu thả, vô trách nhiệm của người đáng lẽ phải nuôi nấng, chăm nom, cứu chữa… Vì thế, không ai có thể nắm chắc suốt đời sẽ không gặp tai họa, và chẳng ai dám nắm chăc tương lai an bình, thịnh vượng của mình như bàn tay nắm chặt. 
Nhờ ý thức mình có giới hạn, nghiã là bất cứ lúc nào, ở đâu, ai cũng có thể từ người bình thường, khỏe mạnh thành người khuyết tật, không bình thường, chúng ta sẽ có thái độ và cái nhìn nhân bản, nhân văn hơn đối với anh chị em khuyết tật. Và qua họ, qua thân xác tật nguyền, và cuộc sống vất vả, khó khăn, không ngừng  phải chiến đấu để vượt qua của họ, chúng ta nhận ra giới hạn của chính mình, giới hạn của con người và giới hạn của đời người ở mọi người để không rơi vào thái độ vô cảm, vô tâm làm tổn thương người kém may mắn.
2.   Ý thức tính dễ bị tổn thương :
Con người có trí khôn để tư duy, nhưng cũng có trái tim để rung cảm. Vì rung cảm, nên  dễ bị tổn thương. Biết mình là con người nhạy cảm vì khao khát yêu và được yêu, nên chúng ta sẽ biết mình phải làm gì trước người khác cũng nhạy cảm, và dễ bị tổn thương như ta.
Một nền giáo dục tình cảm luôn được coi là cần thiết đối với thế hệ tương lai của một dân tộc, bởi nhờ nền giáo dục tình cảm đúng mức, người trẻ hôm nay sẽ không là những người lớn vô cảm, vô nhân đạo ở ngày mai, khi lạnh lùng và không chút ngượng ngùng làm tổn thương những người yếu kém, bất hạnh hơn mình, như những em học sinh hôm nay vì không chút ý thức về tính dễ bị tổn thương đang cười đuà, diễu cợt cách lố bịch, và vô văn hoá  trên tật nguyền của  những bạn khuyết tật cùng trang lứa.
Thực vậy, chỉ với ý thức tính dễ bị tổn thương của con người, chúng ta mới có thể hiểu nỗi đau bị tổn thương của người khuyết tật, và hết sức tránh những thái độ vô tâm, vô cảm, vô trách nhiệm làm anh chị em khuyết tật bị trầm trọng tổn thương .
3.   Ý thức con người là một mầu nhiệm :
Nhiều người cũng đã cố gắng cắt nghiã con người và đời sống con người như một trò chơi ngẫu nhiên, nghiã là không có gì linh thiêng, mầu nhiệm nơi con người, nhưng tất cả cố gắng của họ đều đã thất bại, bởi chỉ đứng trước cái chết và đau khổ thôi, người ta đã thấy mình bất lực trước những gì vượt quá hiểu biết của con người, mà chúng ta gọi là mầu nhiệm.
Vì con người có hồn, với sinh hoạt thiêng liêng, đây là chân lý không ai có thể chối cãi, nếu lương thiện với chính mình, và không bị áp lực khách quan, nên trước những bất toàn, khiếm khuyết, như tình trạng khuyết tật, người ta phải chân nhận giới hạn hiểu biết của mình trước mầu nhiệm của con người, mầu nhiệm mà mỗi người đang nắm giữ và được mời gọi trân qúy, tôn trọng.
Bởi có trân qúy mầu nhiệm con người, chúng ta mới có thể vượt qua những khiếm khuyết của thân xác, những thiếu sót của tinh thần, những yếu đuối của thân phận ; có tôn trọng con người là một mầu nhiệm, chúng ta mới có thể đón nhận với chia sẻ, cảm thông của tình người những khuyết điểm, khuyết tật trên thân xác và tinh thần của anh chị em ; mới có thể yêu thương họ với niềm hy vọng ở  mầu nhiệm sẽ được mặc khải sau này ; mới hết lòng hy sinh cho họ với niềm tin sẽ được cùng họ chia sẻ hạnh phúc khi mầu nhiệm khổ đau, mầu nhiệm của cuộc sống tật nguyền, mầu nhiệm của yếu đuối, thất bại, cùng với mầu nhiệm của sự chết được toả sáng trong ý nghĩa và giá trị tuyệt vời khi mọi sự được thực sự hoàn tất.
Đang khi chia sẻ với Bạn, người viết chợt nhớ câu chuyện trong Kinh Thánh của Kitô giáo liên quan đến mầu nhiệm khổ đau của con người : Hôm ấy, Đức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thưở mới sinh. Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” Đức Giêsu trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh ta” (Ga 9, 1-3).
Trả lời như thế, Đức Giêsu đã khẳng định : khuyết tật mù loà từ thưở mới sinh của người mù này hoàn toàn không do tội lỗi, sai phạm, nghiệp chướng của ai. Và nếu không do tội lỗi, ác nghiệp, thì chỉ có thể là một mầu nhiệm mà con người sẽ hiểu được sau này, khi ra khỏi thế giới thực nghiệm “cân - đo - đong - đếm”. Ở đây, Đức Giêsu dùng kiểu nói : “để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh ta” để nói lên giá trị tuyệt vời và ý nghiã thánh thiêng của mầu nhiệm con người, chứ không như một số người cố tình cắt nghĩa : Thiên Chúa thật ác độc đã tìm vinh quang của mình trên đau khổ, bất hạnh của loài người do mình dựng nên.
Với những chia sẻ chân thành nhân “Ngày Thế Gìới Người Khuyết Tật”, người viết xin được kính gửi đến tất cả các Bạn khuyết tật lòng trân qúy và yêu mến. Rất trân qúy các Bạn, vì các Bạn cho chúng tôi thấy giới hạn của phận làm người, và biên giới của khả năng trong cuộc sống. Rất yêu mến các Bạn, vì chính các Bạn đang đem lại muà xuân cho nhân loại bằng làm chứng Mầu Nhiệm Con Người qua tháng ngày khuyết tật nhiều thử thách, đau đớn, vất vả, nhục nhằn.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

GIÁNG SINH CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC

Giáng Sinh là lễ của toàn thể nhân loại, hạnh phúc cho hết mọi người, không trừ ai, vì Tin “Thiên Chúa yêu thuơng loài người” là Tin Vui cho mọi người ở mọi thời, mọi nơi ; Tin “con người được Thiên Chúa cứu” là Tin Mừng cho toàn thể nhân loại, không trừ người nào. Vì thế, bất luận chủng tộc, sắc dân, giai cấp, thành phần, hoàn cảnh nào trong xã hội cũng đều có chỗ đứng, có tên, có phần trong sứ điệp, niềm vui, và phúc lành của Thiên Chúa Giáng Sinh. Vấn đề là mỗi người có nhận ra mình có mặt trong niềm vui, hạnh phúc Giáng Sinh hay không ?  
Nếu hình ảnh các mục đồng là hình ảnh người trẻ trong niềm vui Giáng Sinh, thì hình ảnh Ba Vua, còn gọi là Đạo Sĩ hay các nhà chiêm tinh được coi là hình ảnh người trí thức, nhà khoa học trong hạnh phúc của sự thật nhận được từ Thiên Chúa làm người.
Tin Mừng Mátthêu làm nổi bật chân dung ba đạo sĩ từ bên phương đông theo ngôi sao chỉ đường đã tìm đến Bêlem bái thờ Hài Nhi Giêsu, mặc dù bị vua Hêrôđê âm mưu gài bẫy. Chân dung các vị thật tuyệt vời với những nét đẹp tiêu biểu của người trí thức, nhà khoa học :
1.    Tinh thần khao khát tìm kiếm sự thật :
Ba nhà đạo sĩ, thoạt thấy ngôi sao lạ, khi quan sát vận hành của các vì sao trên bầu trời, đã lập tức đặt vấn đề. Quan sát hiện tượng và đặt vấn đề trước các hiện tượng, sự kiện và nhận định cách khách quan để tìm ra chân lý, đó là đức tính căn bản của người trí thức.
Người trí thức khác người, và đáng yêu ở chỗ không ỷ mình nhiều kiến thức mà lười biếng tìm tòi, học hỏi ; không dựa vào vinh dự của khoa bảng mà chủ quan tự mãn ; không coi mình là thầy thiên hạ mà tiên thiên phủ nhận giá trị suy tư và chân lý ở người khác, nhưng luôn khiêm tốn trước bao la của hiểu biết, biết nép mình bé nhỏ trước kho tàng dường như vô tận của con người và vũ trụ, và hoà mình, thân thiện đồng hành trên đường tìm gặp chân lý với mọi người. Vì khiêm tốn nên chăm chỉ tìm tòi, thận trọng quan sát và khách quan nhận định ; vì hiền hoà, nhã nhặn, nên không độc đoán, thành kiến ; vì hào hiệp, cởi mở nên xởi lởi cho đi và trân trọng đón nhận tất cả mọi sự thật.
Với tinh thần tìm kiếm chân lý, ba nhà đạo sĩ đã từ phương Đông đến Giêrusalem và hỏi : “Đức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu ?” (Mt 2,2). Chính tinh thần khao khát chân lý đã giúp các vị không ngần ngại hỏi thăm người này người nọ trên đường. Cũng như tại Giêrusalem, các vị đã không ngượng ngùng đi tìm sự thật nơi những người kém hiểu biết hơn mình, không mắc cở khi được chỉ đường, dẫn lối bởi những người thua mình rất xa ở kiến thức, học vị, bằng cấp, bởi chân lý với người trí thức là đối tượng có giá trị cao, và là biển cả bao la không ai có thể thấu suốt, nên dù suốt đời miệt mài tìm kiếm, họ vẫn xác tín : “hiểu biết của mỗi người” chỉ là giọt nước trong đại dương mênh mông, sâu thẳm.      
2.   Tinh thần tôn trọng sự thật :
Sự thật của các vị là “chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lậy Người” (Mt 2,2).
Nếu là người kiêu căng, các vị đã phải nói : chúng tôi tự mình biết Đấng Cứu Thế sinh ra ở đâu, mà không cần vì sao dẫn lối, vì chúng tôi là người khoa bảng, học thức, có trình độ ; nếu là người xảo trá, lưu manh, các vị đã phải lừa dối thiên hạ, đại loại như : đây là chuyện nhỏ và chúng tôi thừa biết, đó là chuyện bình thường chúng tôi nắm trong tay ; nếu là người tìm vinh quang riêng mình, tìm tâng bốc “cái tôi”, các vị đã chẳng nói rõ cho mọi người : nhờ thấy vì sao của Đấng Cứu Thế, chúng tôi mới biết Ngài sinh ra, nhờ dõi theo ánh sao của “Đấng Cứu Tinh, chúng tôi mới đến được nơi này ; nếu là người nhiều thành kiến, kỳ thị chủng tộc, các vị đã không nhận mình là những người từ phương Đông đi tìm Đức Vua dân Do Thái  mới sinh, hiện ở đâu ? … và chúng tôi đến bái lậy Người” (Mt 2,2).  
Nhưng vì trung thực, các vị mới nói lên sự thật “đã thấy vì sao Cứu Thế”, mới thành thực kể cho người khác “chúng tôi đã thấy vì sao của Người”, mới chân thực không “đánh lận con đen”, “lấy của người làm của ta”, và tinh thần tôn trọng sự thật đã là nét đẹp của người trí thức được vinh danh trong trình thuật “Ba đạo sĩ đến bái lậy Hài Nhi Giêsu” (x. Mt 2,1-12).
3.   Tinh thần mạo hiểm vì sự thật, và bất khuất  trước mọi uy lực :    
Con đường đi tìm Hài Nhi Giêsu, Đức Vua dân Do Thái của ba đạo sĩ đã là một cuộc mạo hiểm liểu lĩnh, khi các vị dò hỏi nơi sinh của Hài Nhi ngay tại thủ đô Giêrusalem, nơi có dinh Hêrôđê, vua đương vị của dân Do Thái. Chẳng thế mà ngay “khi nghe tin ấy, vua Hêrôđê bối rối… liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Kitô phải sinh ra ở đâu ?” (Mt 2,3-4).
Không những liều lĩnh mạo hiểm, các vị còn bất khuất, không sợ uy lực của  vua Hêrôđê, nên đã đến gặp ông, dù  ít nhiều đã nghe về sự nham hiểm, độc ác của ông, khi “Hêrôđê bí mật cho vời các đạo sĩ đến, hỏi cặn kẽ ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện” (Mt 2,7). Qủa thực, Hêrôđê đã khéo léo “giả nhân giả nghiã” ân cần dặn dò : “Xin qúy ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Ngài” (Mt 2,8). Nhưng các vị đã về bằng con đường khác, như được báo mộng (Mt 2,12). Phần Hêrođê, để tránh hậu họa bị chiếm ngôi, ông cho lệnh giết “tất cả các con trẻ ở Bêlem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh” (Mt 2,16).   
Vâng, sở dĩ các vị được yêu mến như những nhà trí thức “uy vũ bất năng khuất”, vì dù biết vua Hêrôđê không chấp nhận Hài Nhi các vị đang đi tìm, càng không  kham nổi những điều viết về Hài Nhi trong sách ngôn sứ : “Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Íraen dân Ta sẽ ra đời” (Mt 2,6), ba đạo sĩ vẫn không run sợ trước uy lực của Hêrôđê mà giấu diếm sự thật, không nịnh bợ Hêrođê vì ông là vua, mà bỏ dở hành trình đi tìm Hài Nhi, không hèn nhát khi bị đe dọa xa gần mà từ bỏ nét đẹp cao qúy của người trí thức là bảo vệ và làm chứng cho sự thật về Đấng Cứu Thế, Vua Dân Do Thái đã sinh ra, dù có phải hy sinh.    
4.   Tinh thần khiêm tốn trước Thiên Chúa, là Sự Thật tuyệt đối :  
Đến hôm nay, ở thế kỷ XXI, vẫn không thiếu những người mang ý nghĩ : dân trí thức, nhà khoa học, đám khoa bảng thường không có đức tin, nếu có thì rất hời hợt, yếu kém, vì óc thực nghiệm làm họ khó tin Thiên Chúa và các mầu nhiệm của Ngài. Người ta còn cho rằng đức tin đối nghịch với khoa học, vì  khoa học thì thực tế, đòi được thí nghiệm, kiểm nghiệm, “cân, đo, đong, đếm”, trong khi đức tin thì thiêng liêng, gần ranh giới của mơ hồ, không tưởng, vô thực, nên đức tin xem ra chỉ thích hợp và dành cho những ai  ngu dốt, đần độn, u mê, ngây ngô, khờ dại.
Chiêm ngắm các đạo sĩ từ phương Đông trong trình thuật Giáng Sinh của Tin Mừng Mátthêu, chúng ta thấy ý nghĩ trên không có nền tảng đứng vững, và không thể được coi là tính cách của người trí thức, khoa học, khoa bảng, bởi con người trí thức vì được sinh ra cho sự thật nên thuộc về Sự Thật tuyệt đối, để đôi chân trí thức không bao giờ mệt mỏi trên đường tìm Sự Thật tuyệt đối, đôi mắt trí thức không bao giờ rời xa đối tượng là Sự Thật tuyệt đối, trái tim trí thức không bao giờ ngừng nhịp đập yêu mến Sự Thật tuyệt đối, đôi tay trí thức không bao giờ khép lại trước hồng ân của Sự Thật tuyệt đối, và đầu gối trí thức luôn biết khiêm tốn quỳ phục bái lậy Thiên Chúa là Sự Thật tuyệt đối, như ba vị đạo sĩ vừa đến Bêlem, “vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lậy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương, và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2,11).
Giáng Sinh về, Ngôi Lời là Sự Thật của Thiên Chúa xuống thế làm người, và ở giữa loài người. Ngài là Sự Thật yêu thương, Sự Thật giải phóng, Sự Thật cứu độ mà mọi người khao khát đi tìm, trong đó, người trí thức, nhà khoa học, dân khoa bảng là những người tiên phong, hăng hái nhất. Mang sứ mệnh yêu mến sự thật, người trí thức không thể quay lưng từ chối Thiên Chúa là Sự Thật tuyệt đối, Nguồn Mạch của mọi sự thật trên trời, dưới đất. Giữ trọng trách bảo vệ, gìn giữ sự thật, nhà khoa học không thể chống lại Thiên Chúa là Sự Thật tuyệt đối, Nguyên Ủy của mọi sự thật. Gánh vác sứ vụ truyền bá, phát huy sự thật, dân khoa bảng không thể phản bội Thiên Chúa là Sự Thật tuyệt đối, lẽ sống và nền tảng cho mọi sự thật được đứng vững, tồn tại. 
Mừng Thiên Chúa Ngôi Hai “là Đường, là Sự Thật, và là Sự Sống” nhập thể (Ga 14,6), để con người khỏi lầm đường lạc lối, chúng ta cầu xin cho mọi người ơn biết tôn trọng sự thật : sự thật của bản thân, sự thật của người khác, sự thật của cộng đoàn, sự thật của Thiên Chúa. Bởi không tôn trọng sự thật, chúng ta không thuộc về Thiên Chúa, và không được hưởng ơn Bình An của Thiên Chúa làm người, vì không là “người thiện tâm” có tấm lòng ngay thẳng, như Thiên Chúa muốn chọn để ban Bình An của Ngài (x. Lc 2,14).
Jorathe Nắng Tím         

GIÁNG SINH : NIỀM VUI THIÊN ĐÀNG


Tuy cuộc đời bị coi là “thung lũng nước mắt, chốn khổ ải, bến sầu thương”, nhưng cuộc đời vẫn không thiếu niềm vui. Có niềm vui, con người mới sống được và đủ nghị lực để vượt qua giòng đời cuồn cuộn nhiều thách đố, dập dồn lắm gian truân, bồng bềnh bao thử thách.
Có niềm vui của hai người yêu nhau đã trở nên vợ chồng sau nhiều năm tháng bị gia đình hai bên phản đối, có niềm vui của người mẹ hiếm muộn ngày con chào đời, có niềm vui của cha mẹ tìm lại được đứa con sau hơn ba mươi năm bị thất lạc trên đường chạy loạn, có niềm vui của những người vượt biển vừa được tầu lớn vớt lên thì cánh thuyền mỏng manh vỡ tan tành giữa biển cả, có niềm vui của người bệnh “gặp thầy gặp thuốc”, có niềm vui của người chồng thất nghiệp nhiều năm nay có người nhận đi làm, có niềm vui của người chiến sĩ thoát chết trong “đường tơ kẽ tóc” nơi trận mạc, có niềm vui của sinh viên ngày ra trường, có niềm vui của học sinh thấy tên mình trên bảng trúng tuyển thi tốt nghiệp, có niềm vui của bác sĩ sau ca mổ cực khó nhưng thành công vượt bậc, có niềm vui của tân linh mục ngày chịu chức và niềm vui của nữ tu ngày vĩnh khấn, có niềm vui của toàn dân ngày đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi, và có nhiều niềm vui, rất nhiều niềm vui kích cỡ, trọng lượng khác nhau đan quyện trong cuộc đời, giăng kín trên đường đời để người đời có nghị lực vượt qua, và sống hạnh phúc.
Nhưng ngoài những niềm vui của cuộc sống tự nhiên, còn một niềm vui siêu nhiên ; bên cạnh những niềm vui của đời thường, còn một niềm vui phi thường ; giữa những niềm vui của cuộc sống hôm nay, còn niềm vui thiên đàng ở cuộc sống mai hậu.
Thực vậy, con người không thể  hoàn toàn và trọn vẹn hạnh phúc với niềm vui tự nhiên của đời thường hôm nay và ở đây, mà còn khao khát niềm vui siêu nhiên, phi thường và thuộc đời sau, bởi con người biết mình sẽ phải chết, nghiã là sẽ phải bỏ những niềm vui đang có để đi đến một thế giới, vào một cuộc sống khác, với niềm vui mà con người không thể cho nhau, không thể tự mình “sản xuất, chế tạo”. Vì thế đã không thiếu những lúc ta vẫn thấy mình thiếu một cái gì, một cái gì lớn và quan trọng lắm, dù ta không thiếu những niềm vui có thể kể tên trong đời thường. Làm như trong ta vẫn trống vắng, thênh thang một nỗi buồn “siêu nhiên vô hình” rất lớn lao !
Đúng thế, trong ta vẫn mãi một nỗi buồn của người bị thất sủng vì phản bội của Ađam, Evà (x. St 3) ; vẫn mãi một nỗi buồn bị nguyền rủa vì ganh ghét và bạo lực của Cain (x. St 4,1-16) ; vẫn mãi một nỗi buồn bị trừng phạt vì dục vọng bất chính chiếm vợ thuộc cấp của Đavít (x. 2 S 11,26) ; vẫn mãi một nỗi buồn của dân tộc bị phân tán khắp nơi làm nô lệ ; vẫn mãi một nỗi buồn của thân phận tội nhân không hy vọng được ân xá ; vẫn mãi một nỗi buồn của kẻ bị giam cầm chẳng biết ngày nào được tha ; vẫn mãi một nỗi buồn của người nghèo, “thấp cổ bé miệng” bị bóc lột, đàn áp mà chẳng bao giờ dám nghĩ có ngày được giải phóng (x. Lc 18-19) ; vẫn mãi một nỗi buồn của kiếp không nhà, không quê hương, suốt đời “du thử du thực” ; vẫn mãi một nỗi buồn biết mình phải chết, mà không hề biết chết là gì, tại sao phải chết, chết rồi đi đâu, thưởng phạt thế nào ; vẫn mãi một nỗi buồn xác thân này sẽ trở về tro bụi, mà không một tia sáng hy vọng được hồi sinh, cứu độ ; vẫn mãi một nỗi buồn  của con người thao thức Tuyệt Đối nhưng bị đóng cũi trong tương đối, hữu thể khát khao Chân - Thiện - Mỹ nhưng không sao ra khỏi chiếc lồng chật hẹp của “tham - sân - si”, thụ tạo mang hình ảnh của Đấng Chủ Tạo nhưng gẫy cánh sa đà trong đêm tối u mê.
Vâng, chính trong đêm tối của nỗi buồn thiêng liêng, nỗi buồn thân phận phải chết, nỗi buồn không được cứu độ, Thiên Chúa đã xuống thế làm người để đem lại Niềm Vui siêu nhiên, Niềm Vui Thiên Đàng cho mọi người, không trừ ai. Niềm Vui ban Bình An, Niềm Vui An Bình của Thiên Chúa cho con người như tiếng hát các thiên thần đêm Giáng Sinh : “Vinh danh Thiên Chúa trên trời – Bình An dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2,14).
1.    Bình An của Niềm Vui được biết : Thiên Chúa là Tình Yêu cứu độ :
Sở dĩ con người không nguôi ngoai nỗi buồn trước tương lai đời mình, vì con người nhận ra mình rất đáng tội trong ý nghĩ, lời nói, việc làm, và xem ra cả cuộc đời chỉ là những tội lỗi nối tiếp, chồng chất ngày một dài, mỗi ngày mỗi cao. Biết mình là tội nhân, nên lo âu cho số phận sẽ bị trừng phạt : trừng phạt thế nào không biết, nhưng lý trí cho biết : đã làm tội thì phải chịu phạt theo luật nhân qủa, đã mang nợ máu thì phải trả nợ bằng máu, đồng thời biết mình chìm sâu trong tội ác, con người lo sợ vì không trốn tránh được những quở trách của lương tâm và viễn tượng một hình phạt sẽ kinh khủng ập tới, nặng nề vùi dập.
Trong nỗi buồn đắng đót nỗi lo âu bị trừng phạt, Đức Giêsu đã làm người để đem cho nhân loại Niềm Vui, như sứ thần đã loan báo cho các mục đồng năm xưa ở Bêlem : “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân : Hôm nay một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, Đức Chúa” (Lc 2,10-11).
Sứ điệp cho các mục đồng năm xưa cũng là sứ điệp cho mỗi người chúng ta hôm nay : Thiên Chúa bảo chúng ta “Đừng sợ”, đừng sợ bị Thiên Chúa nguyền rủa, xua đuổi, khước từ, trừng phạt ; đừng sợ “Thiên Chúa xử với ta như ta đáng tội và trả cho ta theo lỗi của ta”, nhưng “hớn hở mừng vui trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ” chúng ta (Lc 1,47), vì “lòng thương xót của Ngài trải qua từ đời nọ đến đời kia”, và “Ngài đã nhớ lại lòng thương xót của Ngài dành cho tổ phụ” chúng ta (Lc 1,50.55) ; vì từ nay có Ngài cư ngụ và ở giữa chúng ta, bởi tên Ngài là EMMANUEL ; vì từ nay ơn cứu độ ngập tràn như thánh Phaolô đã khẳng định : “Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó ơn huệ chứa chan” (Rm 5,20) ; vì từ nay chúng ta được Đức Giêsu Kitô, “Thiên Chúa làm người” cứu sống, bởi “nếu tội lỗi đã thống trị bằng cách làm cho người ta phải chết, thì ân sủng cũng thống trị bằng cách làm cho người ta nên công chính để được sống đời đời, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 5,21).
Qủa thực Niềm Vui vô cùng vĩ đại Thiên Chúa ban cho con người trong Mầu Nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa, chính là con người được Thiên Chúa yêu thương, cứu độ, nên từ nay, con người không còn buồn vì sẽ phải chết, vì có Thiên Chúa là “sự sống lại và sự sống” (Ga11,25) ; không còn sợ phải “mất linh hồn, sa hoả ngục”, vì Thiên Chúa đến để cứu những tâm hồn thống hối, và “đi tìm cho kỳ được con chiên bị lạc mất” (Lc 15,4) ; không còn lo lắng đời này đã khổ vì nghèo đói, bệnh tật, thất học, không vị thế xã hội, bị đời khinh bạc, nguyền rủa, ngược đãi, vu khống, tiêu diệt, và có khi đời sau còn bất hạnh hơn, vì không quen ai thần thế, không biết ai mà chạy chọt, cầu cạnh, mua chuộc, đút lót, khi được Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa hứa ban Nước Trời làm gia nghiệp, Thiên Đàng làm gia sản, Thiên Chúa là Hạnh Phúc (x. Mt 5,3-12 ).
2.   Bình An của Niềm Vui có Nhà Thiên Chúa là Giáo Hội:
Không ai không yêu mái nhà mình, không người con nào không mơ ước về lại tổ ấm gia đình những năm lưu lạc xa xứ, không đứa con hoang đàng nào ở buổi sa cơ thất thế, “thân tàn ma dại” lại không ước ao được trở về nhà cha mẹ, và niềm vui ngập lòng trong vòng tay ấm áp, nụ hôn yêu thương, tiếng cười rạng rỡ mãi là giấc mơ tuyệt vời của mỗi người.
Biết con người là những lữ khách trên đường đời dong duổi, lắm lúc lạc lõng, cô đơn, nhiều khi xao xuyến, nản lòng, Thiên Chúa đã đến làm người không những để đồng hành với con người. Ngài là “Đường, Sự Thật, Sự Sống” (Ga 14,6), và mái ấm hạnh phúc  cho nhân loại, ở đó mỗi người tìm được Thiên Chúa là Cha nhân hậu và gặp gỡ anh em có cùng một Cha trên trời.
Khi lập Giáo Hội, Đức Giêsu đã ban cho chúng ta gia đình của Thiên Chúa ngay ở trần gian, mái ấm Thiên Đàng tại đây và lúc này, để  chúng ta có “Lời hằng sống và Bánh hằng sống” cho niềm vui của chúng ta được trọn vẹn, vì trong Giáo Hội, nhà của Thiên Chúa, chúng ta không bị lạc đường, không bị đói khát, không bị đe dọa bởi bất cứ thế lực nào, như Đức Giêsu đã hứa : “Không quyền lực ma qủy nào có thể đánh phá, làm lay chuyển” (Mt 16,18), vì chúng ta có Chúa và có nhau trong mầu nhiệm Hiệp Thông của Thân Thể có Đức Giêsu là Đầu và tất cả chúng ta là chi thể.    
Giáng Sinh về, Niềm Vui Nhập Thể đến, và Bình An của Ngôi Lời làm nức lòng những ai khao khát Thiên Chúa và đi tìm Ngài. Họ được gọi là những người thiện tâm, những tâm hồn ngay lành, những người được Thiên Chúa yêu thương. Chắc chắn chúng ta cũng được ở trong số đó, vì chúng ta đang vui mừng với Tin Mừng : Thiên Chúa yêu loài người và “đoái thương nhìn tới phận hèn tôi tớ” của mỗi người (x. Lc 1, 48) ; vì chúng ta đang bình an với Tin Mừng : Thiên Chúa không còn nhớ tội xưa, nhưng tha thứ và “viếng thăm, cứu chuộc dân Người” (Lc 1,68) ; vì chúng ta đang hạnh phúc với Tin Mừng : Chúng ta sẽ không phải chết đời đời, nhờ ơn cứu chuộc của Thiên Chúa làm người, Đấng “hiến mạng sống cho đoàn chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Nhưng bên cạnh, và chung quanh chúng ta còn rất nhiều anh chị em chưa gặp được Thiên Chúa với Tin Vui cả thể, với Tin Mừng vĩ đại, với Mái Ấm tuyệt vời như chúng ta. Không lẽ chúng ta ích kỷ, nhỏ mọn đến độ không hào sảng, và quảng đại chuyển đến họ sứ điệp Giáng Sinh : “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời, Bình An dưới thế cho người Chúa thương” qua tin nhắn, qua điện thoại, qua facebook, qua Email, nhất là qua chính con người bằng xương bằng thịt của chúng ta với lời nói dễ thương, thái độ thân thiện, hành động khiêm tốn phục vụ, tâm tình cởi mở, chia sẻ, cảm thông, nhất là trái tim không bao giờ loại bỏ, khai trừ, nhưng bao dung, đón nhận, hiệp nhất tất cả trong Thiên Chúa là Niềm Vui cứu độ.
Như chúng ta biết, thế giới hôm nay không vui, khi bị cắn xé bởi các chủ thuyết, thế lực luôn gây sầu buồn vì chủ trương đố kị, ganh ghét, chia rẽ, hận thù, gian dối,  bạo lực ; người đời ở đây không vui, vì căng thẳng, “xì trét” do tham lam của cải, thèm khát danh vọng, mê man sắc dục bất chính, nên Tin Mừng, Tin Vui của Thiên Chúa Nhập Thể cứu độ là phao cứu hộ cho nhiều người  khỏi chết đuối trong biển khổ ; là núi đá chở che trước giông bão bất hạnh ; là bến đỗ an toàn cho thuyền đời mong manh trước sóng thần của Hoả Ngục ; là bảo đảm an toàn của sự sống đời đời trước đe dọa của tội lỗi và sự chết.
Qủa thực, thế giới chúng ta sống đang rất buồn, không buồn vì thiếu quán nhậu, vắng cơ sở ăn chơi, nhưng buồn vì không lẽ sống, mất hướng đi, cuộc đời chẳng còn ý nghiã, sự sống đối diện hư vô. Thế giới ấy không buồn vì thiếu tiền bạc, thiếu  đàn em, thiếu lính lác túc trực phục dịch, nhưng buồn vì hằng ngày phải sống giả, nghĩ giả, nói giả, làm giả, vì sự thật chỉ còn là ý niệm “không tưởng”, là câu chuyện huyền thoại vu vơ. Thế giới đang rất khổ, vì tình yêu chân chính, đích thực nhờ có hy sinh ngày càng qúy hiếm, nên tình chỉ còn là món hàng đổi chác, sản phẩm kinh doanh ; nhân nghiã cũng không còn giá trị trong cuộc sống, vì đời sống ngày càng giống “canh bạc lừa”, nên chẳng mấy người cần đến “nhân, lễ, nghiã, trí, tín” ; và cuộc sống mỗi ngày mở rộng hơn bãi chiến trường của những lật lọng, phản bội, bon chen, đấu đá, nên tìm nổ mắt cũng khó thấy “hiền nhân quân tử”, đấng trượng phu. Đó là chưa kể nỗi buồn bi thảm, thống thiết khi ở vào đường cùng của sự sống, lúc mà Thần Chết đột nhiên xuất hiện, và ai nấy chỉ còn có thể bám víu vào duy nhất một Đấng có quyền nói Lời ban niềm vui cứu sống : “Tôi bảo thật anh, ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng” (Lc 23,43).
Ước gì, Giáng Sinh về mang đến cho mỗi người chúng ta Niềm Vui Thiên Đàng, Niềm Vui của Thiên Chúa ban cho những ai “thành tâm thiện chí” được Thiên Chúa thương. Ý thức Niềm Vui Thiên Chúa ban, khi Ngôi Lời xuống thế làm nguời, chúng ta sẽ không còn lo âu, sợ hãi, nghi ngờ con đường chúng ta đang đi và tương lai chúng ta sẽ tới dưới ánh sáng của Tin Mừng Cứu độ. Bởi có Thiên Chúa làm người ở giữa chúng ta và đồng hành với chúng ta, chúng ta được sống đậm đà, sâu thẳm, tròn đầy hơn mỗi ngày Niềm Vui Thiên Đàng đã được ban ngay ở đời này, khi Ngôi Lời xuống thế.
Vâng, chính Đức Giêsu đã không ngừng nhắc nhở : “Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5,12), “Anh em hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20), và qủa quyết : “Cả triều thần thiên quốc cùng hân hoan, mừng rỡ, vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối, ăn năn” (Lc 15,7), nên chúng ta, những con người tội lỗi, có quyền hy vọng và vui mừng vì được yêu thương, cứu rỗi trong Đức Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót, vô cùng nhân hậu, bao dung.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 3 tháng 12, 2019

VĂN HÓA LƯƠNG THIỆN

Không cần cắt nghiã dài dòng, cũng chẳng cần ngọn nguồn lý giải, mọi người đều hiểu thế nào là trung thực, chân chất và thế nào là xảo trá, lưu manh ; thế nào là lòng ngay, tâm sáng, và thế nào là “lòng lang dạ thú” ; thế nào là tâm tốt, tâm lành, và thế nào là ác tâm, dã tâm. Hai chữ lương thiện bao gồm hầu như tất cả tinh hoa của con người, cao qúy của nhân cách, tốt đẹp của nhân phẩm. Hai chữ lương thiện nói lên giá trị tuyệt vời ở một con người, đức tính sáng ngời  của một cuộc đời, và nét đẹp không bao giờ tàn phai, héo úa của một đời người đáng sống.
Vì thế, lương thiện không là một đức tính nhỏ, phụ thuộc, như một phụ tùng có cũng được, không có cũng không sao, nhưng là đức tính quyết định, vì lương thiện là nền tảng của đời sống làm người, nguyên tắc căn bản của luật sống, rường cột của sinh hoạt luân lý, đạo đức. Thiếu lương thiện, người ta không thể sống xứng đáng đời làm người ; không lương thiện, tất cả sinh hoạt của đời sống sẽ trở thành phi nhân, phi đạo đức, và người ta không thể thực hiện bất cứ hành vi nhân nghiã, lý tưởng nhân đạo, đường lối nhân ái nào.    
Bởi lương thiện đòi tuyệt đối tôn trọng sự thật của bản thân, nên người không lương thiện sẽ kiêu căng, tự cao tự đại, huyênh hoang thổi phồng những điều tốt đẹp họ không có, và ém nhẹm, giấu diếm, ngụy trang những điều xấu ở họ ; bởi lương thiện là công bình và khách quan nhìn nhận sự thật của người khác, nên thiếu lương thiện, người ta sẽ không nhận điều hay việc tốt của người, mà chỉ xâm xoi nhìn những thiếu sót, khuyết điểm, lỗi lầm, mảng tối cuộc đời của người cùng sống. Kết qủa là sự thật sẽ thay đổi theo cảm tính và nhiệt độ ích kỷ, gian ác của người thiếu lương thiện và sẽ chẳng có sự thật nào tồn tại, vì không được tôn trọng và nhìn nhận cách khách quan, công bình.
Bởi lương thiện là tuyệt đối tôn trọng quyền sống và mọi quyền lợi khác của con người, nên sự sống, đời sống của người khác sẽ chỉ được coi như phương tiện phục vụ tham vọng bất chính và đòi hỏi thuộc bản năng của người thiếu lương thiện ; bởi lương thiện đòi mọi người “không làm cho người khác điều mình không muốn người khác làm cho mình”, nên khi làm ngược lại đòi hỏi của lương thiện, người ta xâm phạm, làm tổn thương trầm trọng đồng loại bằng nhiều cách, dưới nhiều hình thức ; bởi lương thiện là dấu ấn của người có trí sáng  nhân đạo, có tâm lành nhân ái, nên khi ánh sáng lương thiện lịm tắt, sẽ không chỉ nhân bản, nhân văn, nhân ái, nhân đạo tắt theo, mà cả nhân loại phải chìm  trong biển khổ.
Dìm nhau trong biển khổ khi thiếu lương thiện trong lời nói, để trắng trợn tố cáo oan uổng, trân tráo làm chứng gian, hồ đồ tung tin đồn thất thiệt, ngang ngược thêu dệt những chuyện tầy trời nhằm hạ danh dự, uy tín của người khác ; làm chìm cuộc đời  hạnh phúc của nhau trong biển khổ nhục nhằn, khi không chút lương thiện trong ý nghĩ đen tối, nhơ bẩn, bất công, và mưu đồ, thủ đọan đốn gục hiện tại bình an của người khác ; nhận chìm tương lai của nhau trong biển chết, khi bất cần lương thiện, bất chấp tiếng nói của lương tri, và nhẫn tâm thực hiện những hành động phi nhân, hành vi dã thú trên sự sống con người, mà không chút áy náy, hối hận.            
Tóm lại, khi không còn lương thiện, người ta sẽ tư duy như người không lý trí, phát ngôn như người không trái tim, và hành động như người không nhân tính, bởi một lý do duy nhất : đã làm người thì phải có lòng nhân, như bản vị của nhân tính, phải có lòng tốt như căn bản của loài người, phải trung thực như nền tảng của tương giao nhân vị, mà chúng ta gọi tắt là “tính bản thiện”, hay bản chất lương thiện.
Thực vậy, nếu các đức tính nhân văn, kể cả nhiều nhân đức siêu nhiên lệ thuộc tính lương thiện, thì lương thiện đòi phải có nền tảng công bằng, bởi không công bằng, lương thiện thiếu chân đứng, bệ phóng xa hơn trong sinh hoạt.
    Công bằng là ý thức luân lý, là đòi hỏi căn bản của đạo đức. Ngay cả người có lòng bác ái, vị tha, xả thân cho đời cũng phải quy chiếu mọi sinh hoạt trên công bằng, và quan tâm để công bằng không bị bỏ quên, bởi có khi yêu người “xa lạ” thái quá, mà bỏ quên bổn phận công bằng phải yêu thương gia đình, con cái; có khi đêm ngày vất vả ngược xuôi chạy việc cho “bàn dân thiên hạ”, mà quên nghiã vụ công bằng phải săn sóc, phụng dưỡng cha mẹ già bệnh tật ; có khi vui vẻ đổ hết tiền vào công việc từ thiện ở tận Phi Châu xa tít tắp, nhưng lại sao lãng công bằng với gia đình, khi bực bội, gắt gỏng vì chuyện đóng học phí cho con, đi mua máy sưởi vì đông về, đàn con co dúm, run rẩy vì lạnh.
Vì thế, thiếu công bằng, lương thiện không tồn tại được lâu, vì bước đi của lương thiện chuyệch choạc, chênh vênh, chếnh choáng, khập khiễng, mất thăng bằng. Phải nhận định và đánh giá mọi ý nghĩ, lời nói, việc làm trên nền tảng công bằng, thì lương thiện mới vững chắc và tiến xa hơn.
Nhưng tại sao lương thiện phải tiến xa hơn, và phải tiến đến đâu ?
Thưa vì lương thiện là bản chất của con người, như cha ông ta vẫn nói : “Nhân chi sơ, tính bản thiện” - con người sinh ra đều tốt lành. Điều này nói lên ảnh hưởng xấu của môi trường sống, cũng như sức mạnh cám dỗ làm điều xấu ở mỗi người, như ngài Phaolô, vị thánh lớn của Thiên Chúa giáo đã viết : “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19).
Do đó, để lương thiện không bị sóng thần sự dữ và sự xấu trong cuộc sống  tấn công, khi lương thiện chỉ ở mức “vừa phải, đúng mức” khi đặt trên nền tảng công bằng là “không làm cho người khác điều mình không muốn người khác làm cho mình”, lương thiện sẽ tự nguyện đi xa hơn, lên cao hơn bằng thêm một chân nữa là Bác Ái bên cạnh chân Công Bằng, khi “làm cho người khác điều mình muốn người khác làm cho mình”.
Đứng trên một chân Công Bằng, chúng ta  chỉ “lương thiện” nửa phần, khi không làm điều ác, điều xấu cho người khác, nhưng lương thiện không chỉ là “không vi phạm, không làm tổn thương, không gây thiệt hại”, mà còn là “làm điều tốt, xây dựng đẹp hơn, làm cho hạnh phúc hơn”. Nếu Công Bằng dừng lại ở ranh giới luật lệ, quy tắc bình thường để đảm bảo trật tự của sinh hoạt đời thường, thì Bác Ái  tiến xa hơn, đi vào  chính con người, khi chia sẻ, đồng hành với con người, để lương thiện được thi hành hết chức năng và bản chất của nó.
Vâng, một nền văn hoá lương thiện chính là nền văn hoá Công Bằng và Bác Ái. Có công bằng, con người sống với nhau mà không sợ bị ăn hiếp, bắt nạt, bóc lột, lạm dụng, đàn áp, cáo gian, vu khống, kết án oan uổng ; có bác ái, con người không những không còn sợ, nhưng bình an, hạnh phúc vì được cảm thông, chia sẻ, yêu thương, bao bọc, nâng đỡ, dắt dìu. Có lương thiện trong các tương quan, người không còn là lang sói, dã thú của nhau, nhưng liên đới là niềm vui, liên quan nỗi phấn khởi, liên hệ ngập ủi an, liên lạc nguồn hạnh phúc.
Ước mong nền văn hoá lương thiện ngày càng nẩy mầm, lớn lên, lan toả trên quê hương chúng ta, nơi mà người lương thiện bị coi là lạc hậu, “thần kinh” ; nơi mà nghĩ tốt, nói tốt, làm tốt bị coi là “không bình thường, có vấn đề” ; nơi mà không ai còn dám có sáng kiến và can đảm làm việc thiện, vì bị nghi ngờ là “có ý đồ, âm mưu” ; nơi mà cứu một em bé ba tuổi, nhem nhuốc, một mình hoảng loạn, khóc thét giữa đường phố, tưởng bị lạc cha mẹ, nào ngờ em chỉ là “cò mồi, bẫy nhử” để cha mẹ em làm tiền người lương thiện bị chụp mũ : bắt cóc trẻ em ; nơi mà cá thịt đã thối rữa chỉ trong mấy phút trở thành tươi ngon nhờ ngâm trong hóa chất độc hại, hoặc chỉ cần vài giọt “thần kỳ” là đã có ly càphê thơm ngon; nơi mà không có gì thật, từ hạt gạo đến viên thuốc, từ cơm áo qua ngày đến tình yêu đời đời, vĩnh cửu ; nơi mà ai cũng sợ “tai bay vạ gió” không phải do thiên nhiên, nhưng từ những con người không lương thiện ; nơi mà ngay trong gia đình, hàng xóm láng diềng bên cạnh, đồng nghiệp trong văn phòng đối diện, bạn học ngồi hàng ghế trước sau, tất cả đều có thể bất chợt trở thành người không lương thiện, vì không còn mấy người  giữ được ý thức công bằng, và bác ái trước cám dỗ của danh vọng, quyền thế, tiền bạc.
Tuy nhiên, bên cạnh những mảng tối của bức tranh quê hương đó, vẫn còn nhiều mảng sáng hy vọng, Bạn ạ ! Và ngay hôm nay, cũng trên quê hương yêu dấu này, chúng ta tiếp tục hân hoan chen vai, sát cánh lên đường xây dựng “Đất Người” Lương Thiện.
Jorathe Nắng Tím