Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2020

CON ĐƯỜNG KHÔNG BIÊN GIỚI

THỨ BẢY TUẦN THÁNH
Trên thế gian này làm gì có “đường không biên giới”, làm gì có con đường bao phủ toàn cõi địa cầu, có mặt trong toàn thể thời gian, đến được hết mọi con người, bởi khi nói về đường, người ta nghĩ ngay đến đường ở đâu, đường dài ngắn bao nhiêu, phát xuất từ chỗ nào và dẫn đến chốn nào. Ấy là chưa nói đến: đường dành riêng cho thú vật, cho người đi bộ, cho xe đạp, xe máy, hay cho xe hơi, chưa kể những con đường khác như đường sông, đường biển, đường hàng không… Tắt một lời, đã là đường, ắt phải được giới hạn, định vị bằng một đơn vị đo lường; đã là đường thì không thể thiếu ranh giới, biên cương. Vì thế, khi nói đến “con đường không biên giới”, người ta khó có thể quan niệm đó là con đường của con người, mà thường nghĩ là con đường viễn tưởng huyền hoặc, con đường mơ ước vu vơ.
Nhưng Đức Giêsu đã mở ra con đường không biên giới. Ngài đã mở ra một cách thiết thực bằng con đường Thánh Giá đổ máu và mồ hôi, bị xỉ nhục và vu khống, bị đội mão gai và hnàh hạ, bi lột trần truồng và đóng đinh, bị đâm thủng cạnh sườn, và bị chôn trong mồ như mọi người.
Ngài đã mở ra con đường không biên giới một cách sống động bằng chính con người của Ngài: con người trăm phần trăm, vì Ngài đã nhập thể và làm người như chúng ta: trăm phần trăm vui mừng và hy vọng, trăm phần trăm sầu buồn và lo lắng, trăm phần trăm nhục nhằn và tang thương, trăm phần trăm kiếp người phải đau khổ và phải chết, trăm phần trăm trong thân xác biết đau khi bị đánh đòn, đóng đinh, và xông mùi hôi thối của tử thi trong mồ.
Ngài đã mở ra con đường không biên giới một cách lâu dài và tiệm tiến: khởi đi từ bước thứ nhất ở buổi Tạo Dựng, khi con người được dựng nên với hình ảnh Thiên Chúa và sống hạnh phúc trong ân nghiã Cha - Con với Ngài ( bài đọc 1); rồi Ápraham đuợc gọi lên đường đến nơi Thiên Chúa chỉ cho ông, vì ông được chọn làm tổ phụ một dân riêng “đông như sao trên trời, nhiều như cát dưới biển” (bài đọc 2); tiếp đến là dân riêng được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai Cập và vượt qua biển đỏ mà bàn chân họ vẫn ráo khô (bài đọc 3); nhưng rồi dân riêng ấy quên lời thề đã phản bội và bỏ Thiên Chúa, nhưng dù thế nào đi nữa, Ngài vẫn thương và dắt đưa họ về (bài đọc 4); và mãi mãi Thiên Chúa là nguồn nước làm đã khát cơn khát của dân Ngài (bài đọc 5), cũng như muôn đời Thiên Chúa bảo đảm ơn bình an cho những ai đi trên đường lối của Ngài (bài đọc 6); sau cùng chính Thiên Chúa sẽ đoàn tụ con dân Ngài lưu lạc khắp muôn phương, và đưa tất cả về Đất của Ngài đã chọn cho dân Ngài (bài đọc 7). Và quả thực, Thiên Chúa đã chuẩn bị “Con đường không biên giới” của Ngài bằng một qúa trình rất lâu dài với Dân riêng.
Nhưng con đường ấy Thiên Chúa không thực hiện một mình. Trái lại, Ngài muốn cùng con người thực hiện, để con đường không biên giới ấy trở thành con đường của Thiên Chúa và của con người.
Con đường của Thiên Chúa và của con người, khi Ngôi Lời nhập thể để làm người như con người, và sống, chết với con người, để con người cũng được chết và sống lại, sống mãi với Thiên Chúa. Chỉ với khả năng sống chết cho nhau, thuộc về nhau trọn vẹn, con người và Thiên Chúa mới có thể cùng thực hiện Con Đường cứu độ không biên giới, mà Đức Giêsu mong đợi ấy.  
Qủa thực, khi nói đến “sống, chết với nhau”, người ta hiểu: chỉ có tình yêu mới có thể thúc đẩy hai người chấp nhận sống chết với nhau đến cùng. Khi sẵn sàng sống như con người, và chết cho con người, Đức Giêsu biểu lộ một tình yêu tuyệt đối, khi hiến mạng sống mình cho con người mà Ngài yêu, để Thiên Chúa và con người thuộc về nhau, nên một với nhau, tháp nhập trong nhau, nhất là để con người được sống lại với Ngài để cùng Ngài thực hiện con đường không biên giới, như thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Rôma :
“Anh em không biết rằng: khi chúng ta đuợc dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao ? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta cũng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại” (Rm 6, 3-5).
Được sống lại như Đức Giêsu đã sống lại, vì chúng ta đã chết với Ngài ở cuối đường tử nạn, nhưng cuối đường tử nạn không là “cùng đường, đường cùng”, cũng chưa là đích tới. Trái lại, cuối đường tử nạn là Con Đường mới được mở ra: con đường không biên giới của Đức Giêsu Phục Sinh, con đường Ngài cùng các môn đệ ra đi từ Galilê, nơi Ngài hẹn gặp các ông sau khi sống lại như trình thuật của thánh Mátthêu: “Sau ngày Sabát, khi ngày Thứ Nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Maria Mácđala, và một bà khác cũng tên là Maria, đi viếng mộ” (Mt 28,1). Các bà gặp một thiên thần, và thiên thần lên tiếng bảo các bà: “Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy, như lời Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người nằm, rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này : Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Galilê trước các ông. Ở đó các ông sẽ được thấy Người” (Mt 28,5-7).
Sứ điệp Phục Sinh của thiên thần rất rõ:
“Người không có ở đây”, vì mộ phần không là chỗ của người sống, nhưng con đường mới là không gian cho người sống sinh hoạt, vì sống là lên đường, sống là bước đi, sống là thực hiện hành trình cuộc đời. “Người cũng không có ở đây”, vì ở đây chỉ là nơi dừng chân, chứ không là đích tới, bởi một con đường không biên giới vừa được mở ra từ biến cố sống lại.
Nhưng “Người đi Galilê”. Galilê là đất của mọi dân tộc ra vào; Galilê là vùng “bỏ ngỏ” cho mọi sắc dân, chủng tộc đi lại; Galilê là miền quy tụ, gặp gỡ của mọi nền văn hoá; Galilê là nơi Đức Giêsu chọn để khai trương con đường cứu độ không biên giới của Ngài, con đường đến với muôn dân của mọi thời, ở mọi nơi; Galilê là điểm hẹn của Đức Giêsu phục sinh với các môn đệ, không phải hẹn để kể chuyện chết chóc, mai táng, nhưng hẹn để sai đi: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dậy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18-20).
Như thế, biến cố Phục Sinh của Đức Giêsu đã mở ra con đường không biên giới đến với muôn dân của mọi thời, ở mọi nơi, bất phân chủng tộc, mầu da, giai cấp, trình độ, văn hoá, chính kiến… Con đường không biên giới vì không dừng ở một hạn chế nào, không bị ngăn cấm bởi một hàng rào nào, không bị kiểm tra bởi một trạm gác nào, và không phân biệt, kỳ thị, loại trừ bất cứ ai.
Con đường không biên giới khi bao trùm tất cả, toàn bộ, toàn phần thời gian và không gian. Con đường không biên giới khi không một con người nào từ “khai sinh lập địa” cho đến tận thế không có chỗ trên con đường này, và không được chúc phúc, cứu độ, nhờ Lời Hứa “ở lại cho đến tận thế với các môn đệ” trên con đường Truyền Giáo không biên giới đến với muôn dân của Đức Giêsu (x. Mt 28,20).
Thực vậy, mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu, trong đó người tín hữu được “dìm mình vào”, như kiểu nói của thánh Phaolô, sẽ chỉ có giá trị khi người tin theo Đức Giêsu đi về Galilê, nơi Đức Giêsu hẹn gặp, để cùng Ngài thực hiện con đường không biên giới “Đến Với Muôn Dân” loan báo Tin Mừng: Chúa đã chết và đã sống lại ! Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất cho nhân loại được sống hạnh phúc đời đời.
Đường Thánh Giá, đường Khổ Nạn, đường Từ Bỏ, tất cả đều dẫn đến “Sáng sớm Phục Sinh”, ở đó, Đức Giêsu sống lại ban Bình An phục sinh của Ngài cho chúng ta (x. Ga 20,19), để chúng ta cùng Ngài lên đường Truyền Giáo, con đường không biên giới của Thiên Chúa và của con người. Chỉ trên con đường Truyền Giáo không biên giới này, chúng ta mới sống trọn vẹn Ơn Gọi Kitô hữu của mình, khi được chết và sống lại với Đức Giêsu.
Jorathe Nắng Tím

COVID-19 và CƠ HỘI ĐI THEO CÁC GIÁO PHÁI



Khi rơi vào tình trạng hoang mang, mất phương hướng, hay ở vào tình thế sự sống bị đe dọa, tâm lý chung là đặt lại vấn đề. Có rất nhiều vấn đề được đặt lại, khi đời sống bỗng lạc nhịp, bất thường, không còn bình thường, bình an, bình ổn, bởi khi gặp khó khăn, thất bại, thua cuộc, nguy biến, người ta luôn cần một tác giả, một thủ phạm, một tội đồ, một vật tế thần để cắt nghiã sự việc, để đổ lỗi đổ tội, để lý giải nguyên nhân, cũng như để có đôi vai gánh vác hết hậu qủa nặng nề. Và một trong những vấn đề rất thường được người trong cơn khủng hoảng đặt lại, chính là vấn đề niềm tin tôn giáo.
Kinh nghiệm sống đức tin cũng cho chúng ta thấy: nếu đời sống không gặp gian truân, thử thách, nếu vợ chồng lúc nào cũng “cơm lành canh ngọt”, nếu con cái đứa nào cũng mạnh khỏe, ngoan hiền, thông minh, chăm chỉ, nếu đường sự nghiệp, công danh luôn hạnh thông, nếu đất nước thái bình, an lạc, nếu xã hội có công lý hướng dẫn, giáo hội có yêu thương bao phủ, thì chẳng mấy khi đức tin phải được đặt lại, và cuộc sống đạo sẽ mãi êm đềm như mặt nước hồ thu.
Chỉ khi sóng gió cuộc đời nổi lên, phong ba gia đình nổi dậy, bão tố sự nghiệp bùng nổ dữ dội, chúng ta mới xem lại niềm tin tôn giáo của mình, ở đó, ngay Đấng bấy lâu chúng ta tôn thờ, giáo lý bấy lâu chúng ta tuân giữ, giáo hội bấy lâu chúng ta thuộc về, cộng đoàn bấy lâu chúng ta gắn bó sinh hoạt cũng sẽ lần lượt bị chúng ta đặt lại lý do có mặt trong đời sống, với số phận tương lai của chúng ta.
Sở dĩ ngay cả sự có mặt của Thiên Chúa trong đời chúng ta cũng có thể bị đặt lại, vì lúc này đây, khi rơi vào hoàn cảnh bĩ cực, lâm vào tình trạng nửa sống nửa chết, bị kẹt vào chân tường, ngõ cụt, thì sự an toàn của chúng ta, an ninh của đời chúng ta, an sinh của cuộc sống chúng ta có khuynh hướng trở thành duy nhất, độc tôn thống trị và vô cùng quan trọng. Nó không chỉ là thước đo mức đáng tin cậy của niềm tin chúng ta đang có, mà còn là lý do của niềm tin này. Nói cách khác, chúng ta sẽ đặt an ninh của chính mình là mục tiêu, và Đấng nào, tôn giáo nào, giáo lý nào đáp ứng nhanh chóng và hữu hiệu mục tiêu do chúng ta đề ra, mới đáng cho chúng ta tiếp tục tin tưởng, tôn thờ, đi theo. Trái lại, như  người sắp chết đuối, đang hốt hoảng ngụp lặn giữa biển khơi, chúng ta chỉ mong bám được vào bất cứ vật gì, miễn sự sống của chúng ta được bảo đảm. Cũng vì thế đức tin bị chính chúng ta đặt lại vấn đề ngay trong lúc mà đáng lẽ ra đức tin ấy phải là cột trụ, là đá tảng chở che an toàn, nơi trú ẩn tuyệt đối an ninh.
Vì thế, sẽ không luôn tự động, tự nhiên đức tin của chúng ta trở nên vững mạnh hơn, tình yêu Giáo Hội của chúng ta nồng nàn, gắn bó hơn, tinh thần sống đạo của chúng ta sâu sắc, trưởng thành hơn khi chúng ta gặp chông gai, thách đố, nhưng một sự thật phũ phàng được xác minh bởi các nhà tâm lý, xã hội, cũng như tôn giáo học, thần học, đó là cơn cám dỗ không luôn dễ vượt qua ở nhiều người khi từ bỏ niềm tin tôn giáo để chạy theo các giáo phái trong những lúc gặp thử thách, khủng hoảng.
Trước khi đi vào những đặc tính của giáo phái, cũng là những dấu hiệu phân biệt niềm tin tôn giáo chính đáng với niềm tin mang tính ảo tưởng, lệch lạc, cục bộ, qúa khích với nhiều nguy hiểm, rủi ro tâm lý nơi các giáo phái, chúng ta một lần nữa lưu tâm đến cơn khủng hoảng toàn cầu do Covid-19 gây ra, như cơ hội phát triển mạnh của các giáo phái, và giai đọan mà niềm tin tôn giáo của nhiều người dễ bị chao đảo, lệch hướng.
1.   Một cái nhìn về giáo phái:
a.   Giáo Phái và những đặc tính:
Giáo phái được hiểu là một nhóm người cùng tách ra khỏi một tôn giáo chính thức, để thực hiện quan điểm riêng của mình.
Một cách vắn tắt, chúng ta hiểu rằng những người theo giáo phái trước đó đã từng ở trong một tôn giáo chính danh, chính thức, có hệ thống giáo lý đức tin, có tổ chức phụng tự, có giới răn, kỷ luật, nhưng vì một lý do nào đó, ngoài lợi ích cá nhân, như bất mãn với giáo quyền, không chấp nhận một điều khoản hay một phần của giáo lý đã tự ý rời bỏ Giáo Hội, để thành lập một nhóm, một hệ phái mới với chủ trương, quan điểm, đường lối riêng, thường đối nghịch với giáo lý mình đã theo trước đó một cách rất cực đoan, qúa khích. 
Các nghiên cứu trên thế giới về giáo phái đều đồng ý với nhau ở những điểm chung:
·  Chủ trương của giáo phái thường lệch lạc về phương diện tín lý và thiếu hẳn quân bình tâm lý.
·  Phương cách của các giáo phái có khuynh hướng khống chế, đàn áp và hủy hoại tâm lý của thành viên, với mục đích biến họ thành những con cừu ngoan ngoãn, mất khả năng phân định, chọn lựa.
·  Người thành lập, hoặc đứng đầu giáo phái đa số là những người bị tâm bệnh với tính độc đoán, độc tài, cực đoan và sắt máu.
Đặc biệt nhà nghiên cứu nổi tiếng về hiện tượng các giáo phái Harvey Cox đã đưa ra những kết luận rất đáng quan tâm:
· Các giáo phái luôn đe dọa bình an của xã hội, do ước muốn đảo ngược toàn thể trật tự xã hội sẵn có.
·  Sinh hoạt khép kín của các giáo phái thường đưa đến những lạm dụng tình dục như ấu dâm, loạn luân, làm tình tập thể, hoặc ngược lại là tiết dục tuyệt đối.
· Tính cách cộng đoàn tự ý ly khai tách rời khỏi xã hội của các giáo phái tạo nên đường lối lừa đảo, gian trá trong mọi sinh hoạt.
· Kỷ luật khắt khe của giáo phái là tiền đề cho những khủng bố tinh thần, áp đảo tâm lý đối với các thành viên.    
Bên cạnh những nghiên cứu trên là những ghi nhận của ngành tư pháp liên quan đến hiện tượng tự tử hoặc sát hại tập thể của nhiều giáo phái khắp nơi trên thế giới, mà ở đây, người viết chỉ nêu ra một số trường hợp điển hình từ năm 1978:
· Ngày 18.11.1978: 914 thành viên của giáo phái “Đền Thờ của Dân – People’s Temple”, trong đó có 260 trẻ em bị sát hại tập thể bằng chất cyanure  theo lệnh của thủ lãnh giáo phái Jim Jones, người này đã tự tử bằng súng sau đó.
· Ngày 19.09.1985: 60 thành viên của giáo phái D. Mangayanon đã cùng tự tử ở Mindanao, Philippines.
·  Ngày 28.08.1987: 32 thành viên của giáo phái Parkson đã tập thể tự sát ở Seoul, Hàn Quốc.
· Ngày 19.04.1993: 76 thành viên giáo phái Davidiens, trong đó có 21 trẻ em đã phát lửa tự thiêu sống trong đền thờ của giáo phái tại Texas, Hoa Kỳ.
· Từ ngày 30.09.1994 đến 22.03.1997, giáo phái Đền Thờ Mặt Trời (Ordre du Temple Solaire - OTS) đã liên tục tự sát tập thể: 5 thành viên cùng tự thiêu ở Québec, Canada ngày 30.09.1994 ; 48 người cùng chết cháy ở Thụy Sĩ ngày 5.10.1994; 16 người tự thiêu ở Vercors ngày 15.12.1995, và 5 người tự thiêu ở Saint - Casimir ngày 22.03.1997
· Ngày 18.03.2000: 500 thành viên của giáo phái Tận Thế, do Joseph Kibwetere lãnh đạo đã cùng tự thiêu tại Kanungu, Ouganda.
· Ngày 28.05.2014: cuộc tự sát tập thể của giáo phái Mc Donald’s ở Zhaoyuan, Trung Quốc đã làm thế giới kinh hoàng.
b.  Giáo phái Nhân Chứng Giêhôva “Jehovah’s Witnesses – Les Témoins de Jéhovah”.
Người viết muốn dừng lại ở đây để trình bầy thêm về giáo phái rất đặc biệt này. Nét đặc biệt của giáo phái Nhân Chứng Giêhôva là duy trì được tính mơ hồ, không rõ ràng, nhờ thế đã đánh lừa được dư luận và tồn tại lâu đời hơn nhiều giáo phái khác, vì pháp luật không đủ lý chứng để xếp tổ chức này vào hàng ngũ giáo phái có hại cho xã hội, nguy hiểm cho cá nhân, và thành công mới nhất của họ ở những năm gần đây là đạt được tính cách pháp lý của “nhóm những tín đồ còn sót lại của Kitô giáo cổ đại, truyền thống”.   
Giáo phái được Charles Taze Russel thành lập năm 1870 tại Hoa Kỳ, với hơn 8 triệu tín đồ trên toàn thế giới, trụ sở trung ương đặt tại Watch Tower, New York, với chủ trương:
· Thành viên giáo phái là thiểu số được chọn và được cứu ở ngày tận thế. Những người được cứu này sẽ đứng trên ngọn đồi có tên Armegeddon ở Galilê được nhắc đến trong sách Khải Huyền: “Đây Ta đến như kẻ trộm. Phúc thay kẻ canh thức và giữ áo mình, kẻo phải đi đứng trần truồng và bị người ta nhìn thấy sự loã lồ của mình. Chúng quy tụ họ ở một nơi, tiếng Híppri gọi là Hácmơghítđô” (Kh 16,15-16) (tiếng Anh là Armageddon, tiếng Pháp là Armaguédon).
·  Sứ mạng của thành viên được Thiên Chúa trao là  tái tạo lại Kitô giáo thuở ban đầu, thời nguyên thủy.
· Họ tin Đức Giêsu là Thiên Chúa đã chết và sống lại, nhưng không chấp nhận mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi.
· Trong sinh hoạt xã hội, họ chủ trương biệt lập, vì tự cho mình là thiểu số được chọn và được Đức Giêhôva đặc biệt sủng ái. Thái độ thường nhận thấy ở họ là ảo tưởng sự thánh thiện vượt trội của mình, và coi thường người khác. Họ từ chối nhận máu của người khác, kể cả khi thập tử nhất sinh, và không chấp nhận hệ thống giáo dục bình thường của xã hội.
Trên đây là một vài nét đại cương về hiện tượng giáo phái, với mục đích giúp người tín hữu chúng ta nhận định sáng suốt để khôn ngoan trước những cạm bẫy rất thường được giăng trên mọi lối ngõ cuộc đời, bởi với phương tiện truyền thông ngày càng dễ dàng và bao trùm, nhanh chóng, rất nhiều giáo phái với những giáo lý sai lạc đang làm lu mờ chân lý đức tin mà Giáo Hội được Đức Giêsu ủy thác gìn giữ nguyên vẹn, và lôi kéo chúng ta đi theo những chủ trương phản Tin Mừng, khi biến “đức tin” đã bị họ bóp méo thành công cụ đàn áp tự do của con người, dùng “giáo lý” đã bị họ đầu độc để  khống chế quyền chọn lựa, quyết định theo lương tâm của cá nhân, sử dụng chiêu bài cứu rỗi đã được họ sơn phết lại để nghiền nát sự sống, tiêu diệt hạnh phúc, bình an của con người, tắt một lời là dùng gian dối, bạo lực để đưa nhân loại vào hủy diệt.
Và đứng trước những cám dỗ ly khai Giáo Hội, đi theo giáo phái, chúng ta được tha thiết mời gọi ngước nhìn Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, là “Đường, Sự Thật và Sự Sống”.
2.   Đức Giêsu là “Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14,6).
Đức Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ: Ngài là Đường, Sự Thật và Sự Sống trong bối cảnh đặc biệt của những ngày cuối đời ở dương thế, cũng là những giây phút cuối cùng ở với các môn đệ trước khi lên Giêrusalem chịu khổ hình và tử nạn…, nên tâm trạng của Ngài thì bồi hồi và tâm trạng các môn đệ thì xao xuyến.
Đức Giêsu bồi hồi, vì “vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người thương họ đến cùng” (Ga 13,1), trong khi các môn đệ xao xuyến vì không biết mình đang ở đâu, sẽ đi đâu khi linh cảm thấy rất nhiều chuyện chẳng lành sắp xẩy ra, rất nhiều biến cố đau thương, nghiệt ngã sắp đổ xuống trên Thầy và những người đi theo Thầy như các ông.
Không kể những lần báo trước sẽ bị nộp, và “chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21, tức thời đây, Thầy còn loan báo thêm một tin sét đánh “có một người trong anh em sẽ nộp Thầy” (Ga 13,21), rồi cả Phêrô, người môn đệ trưởng được Thầy tín nhiệm cũng không thoát khỏi cơn cám dỗ phản bội, khi Đức Giêsu công khai cảnh báo ông: “Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư ? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần” (Ga 13,38), ngay sau khi ông hùng hồn tuyên bố: “Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy ngay bây giờ được? Con sẽ thí mạng con vì Thầy” (Ga 13,37).
Như thế, các môn đệ đã rất khủng hoảng, lo sợ khi chung quanh các thượng tế, kỳ mục và nhóm Pharisêu đang ráo riết chuẩn bị những khâu cuối cùng của kế hoạch bắt Đức Giêsu và giao nộp Ngải cho chính quyền Rôma với đủ thứ tội danh, hầu đạt được từ tay quan tổng trấn Philatô bản án tử hình đóng đinh Ngài là mục tiêu phải đạt cho kỳ được của toàn bộ cơ chế đạo cũ. Vì thế, tâm trạng của các môn đệ lúc này là rất hoang mang, lo sợ, hốt hoảng… trước một tương lai không những đen tối, mờ mịt, mà còn vô vàn khó khăn, bế tắc, nguy hiểm.
Tình hình ấy không mấy khác tình huống của chúng ta: cũng phập phồng lo sợ, run rẩy đợi chờ những điều xấu sắp xẩy đến, và hoàn toàn bất lực trước những biến cố bất ngờ không thể tiên liệu, đề phòng, dự đóan. Và chính trong hoàn cảnh bi đát, nhiều rủi ro, nhiều cám dỗ bỏ cuộc, bỏ Thầy, bỏ nhóm của các môn đệ, cũng như chúng ta hôm nay giữa sóng gió thử thách đang nghi nan, muốn đặt lại nhiều vấn đề, trong đó có cả vấn đề đức tin, Giáo Hội, mà Đức Giêsu đã trấn an bằng mặc khải: “Thầy là Đường, Sự Thật và Sự Sống”
a.   Qủa quyết với các môn đệ: “Thầy là Đường”, Đức Giêsu trấn tĩnh các ông, để các ông đừng lo bị lầm đường, lạc lối khi bỏ mọi sự mà đi theo Ngài, vì Ngài biết: khi đáp lại lời mời gọi của Ngài, các ông cũng đã suy nghĩ để không bị xỏ mũi dắt đi “loanh quanh cho đời mỏi mệt”, mà cuối cùng chẳng được gì, có khi lại thiệt thân, toi mạng, bởi các ông thừa biết đã có rất nhiều người cũng hối hả đi tìm đường sống, nhưng cuối cùng đã rơi vào tử lộ; nhiều người đã tưởng gặp thấy đường quang vinh, nào ngờ chỉ thấy đường cùng, ngõ cụt; nhiều người suốt đời vất vả đầu tư cho con đường hạnh phúc, cuối cùng cả đời chỉ là những cây số đau thương, bất hạnh.
Và điều quan trọng nhất, Đức Giêsu đã nhấn mạnh để các ông tin Ngài là Đường đích thực, Đường Hạnh Phúc, Đường Bình An, đó là “Không ai có thể đến với Chúa Cha, mà không qua Thầy” (Ga 14,6), không ai có thể đến với Thiên Chúa, mà không qua Ngài là “Thiên Chúa làm người”, không ai có thể vào Nước Trời mà không đi qua Ngài là Nhà của Thiên Chúa giữa nhân loại, và “là cửa chuồng chiên, cho chiên ra vào” (Ga 10,7).    
b.  Khẳng định với các môn đệ: “Thầy là Sự Thật”, Đức Giêsu làm dịu cơn sốt bị phỉnh gạt, lừa dối khi đi theo Ngài, như các ông đã ít nhiều từng bị thiên hạ “cho ăn bánh vẽ”, leo cây, “đi tầu bay giấy” cách này cách khác.
Qủa thực, ở bất cứ thời nào và ở đâu, con người đều khao khát sự thật, vì chỉ sự thật mới đem lại bình an, vì chỉ sự thật mới giải phóng con người khỏi ngục tù của dối trá, nghi nan, ngờ vực là nguyên nhân gây nên vô vàn bất hạnh trong tương quan giữa người với người, bởi sống không sự thật, sống với người không tôn trọng sự thật, sống trong môi trường, xã hội sự thật bị bức tử, người ta không sống, nhưng đúng nghiã là sống một cái chết được triển hạn, sống một cái chết dần mòn, chập chùng từng bước làm thối rữa thân thể đang phải mở to mắt, mở toang họng để thấy và nuốt từng giọt đắng của nỗi bất hạnh lớn nhất của đời người là không được sống thật với mình và với người. 
Nhận mình là Sự Thật, Đức Giêsu lấy chính mình để bảo đảm cho niềm tin của các môn đệ, và bảo đảm ấy trăm phần trăm vững chắc, vì Ngài nói với các ông: “Nếu  anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy” (Ga 14,7), nghiã là Thầy là Sự Thật của Thiên Chúa Cha, nên không cỏn sự thật nào thật hơn, không còn sự thật nào tuyệt hảo hơn, cũng không sự thật nào bảo đảm bình an, hạnh phúc hơn chính Thẩy.
Đức Giêsu còn củng cố lòng tin của các môn đệ, khi cho các ông biết thêm: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (Ga 14,16-17).
c.    Xác quyết với các môn đệ: “Thầy là Sự Sống”, Đức Giêsu giải thoát các ông khỏi nỗi sợ thân phận là phải chết, và đưa các ông ra khỏi nỗi ám ảnh triền miên của kiếp người phải chết, bởi ai cũng sợ chết, ai cũng ngao ngán cái chết, và ai cũng dễ thất vọng vì biết mình phải chết.
Chính vì chết qúa kinh dị, và bí mật đến kinh hãi, mà phần đông đã tìm đến niềm tin tôn giáo để có câu trả lời, nên bao lâu tôn giáo không cho đáp án mong đợi, giáo lý không đáp ứng nhu cầu cháy bỏng của con người muốn biết chết là gì, tại sao phải chết, chết rồi đi đâu…, thì bấy lâu con người còn nghi nan, sợ hãi và phải lang thang, vật vờ  đi tìm đó đây câu trả lời cho vấn nạn sự sống.
Đức Giêsu muốn ban bình an cho đời sống các ông, khi xác quyết với các ông Ngài là sự sống, như đã nhiều lần làm phép lạ cho người chết sống lại trước mặt các ông, và đã từng nói với các ông: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26).
Và một lần nữa, Đức Giêsu đặt xác quyết này trên nền tảng sự sống của Thiên Chúa Cha: “Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em” (Ga 14,19-20).
Qủa thực, ba nhu cầu căn bản của con người để bình an, hạnh phúc là đi đúng đường, có sự thật và được sống. Đó cũng là mục tiêu mà con người đi tìm trên hành trình làm người.
Đức Giêsu, Tình Yêu của Chúa Cha đã xuống thế làm người để là “Đường, Sự Thật và Sự Sống” cho con người được hạnh phúc viên mãn, vì Thiên Chúa yêu loài người và muốn cứu loài người khỏi cuộc sống bất hạnh vì lầm lạc, thiếu sự thật, và phải chết.
Vì thế, ở với Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, chúng ta có tất cả để được hạnh phúc với Thiên Chúa và trong Thiên Chúa, hạnh phúc mà chỉ một mình Đức Giêsu, Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng là Đường, Sự Thật và Sự Sống mới mang lại được.
Xin cho mỗi người trong mọi hoàn cảnh, dù bi đát, nhiêu khê, bất ổn đến đâu cũng vẫn một lòng trông cậy, tín thác và bám chặt vào Đức Giêsu, Đấng đem đến cho nhân loại Bình An trên Đường Tình Yêu, Niềm Vui trong Chân Lý và Hạnh Phúc được sống tràn đầy hôm nay và dồi dào trong vĩnh cửu, đời đời.
Jorathe Nắng Tím    

Thứ Tư, 1 tháng 4, 2020

La cultura di “Carino”

La cultura di “Carino”- Văn hóa “dễ thương”
Autore : Jorathe Nắng Tím
Traduttore : Iosephus H.V
"Carina" è la pìu grande felicità di coloro che sono amati e innamorati, perché le persone carine sono amate così tanto, e solo la persona che ama così tanto capisce il grande valore della felicità che si chiama "carina" con tutti.
Quindi, quando una persona presa una cotta per qualcuno, quando l'amore diventa appassionato e ardente, nessuna coppia era felice insieme senza il fuoco di passione che si chiama "carino".
In realtà, "carino" non è un titolo, ricchezza, status sociale_sono le cause che ci rendono qualcuno diventare una persona odioso ed intrattabile_perché quando una persona ha un piccolo status sociale, abusa della propria autorità, si può diventare una persona arrogante e ridicolo; quando una persona ha un pò di gloria si può diventare una persona sprezzante e distingue i nobili e plebei, e poi “carina" viene mutilata, rimossa senza pietà.
Nella vita, così tante persone che quando le incontriamo, siamo sempre sorpresi e delusi di renderci conto che non sono pìu "carini" come sempre, non più "carini" come una volta, e in loro, "carino" è solo una cosa del passato, i ricordi di quel giorno sono finiti, l'immagine sbiadita di quel giorno è così lontana, ci sono solo l'odio, lo sprezzante, il difficile per andare d'accordo. E così, "carino" può essere presente solo in un cuore amorevole, in una persona che sa di essere amato.
Poiché il cuore ha l'amore, c'è una chiara ; il cuore ha l'amore, c'è un viso sorridente e carino; il cuore è pieno d'amore, ci sono le parole amichevoli e carine; il cuore è pieno d'amore, c'è l'atteggiamento carino e generoso. Perché se qualcuno sa che è amato da tutti, allora il suo cuore si irradierà in modo carino, il suo atteggiamento, i suoi gesti saranno carini e la sua vita sarà meravigliosa e adorabile.
Realtà, nessuno può vivere per negare l'amore. Raramente le persone imparano a capire l'amore, meno studiano per sapere come amare, ma ci non possono evitare il potere che controlla, domina, influenza sempre sulla vita quotidiana dell'amore, perché una ragione semplice ma sempre fondamentale, cioè l'uomo nasce dall'amore per desiderare incessantemente di amare ed essere amato, come una condizione requisito e indispensabili per la felicità. Quindi, quando possiamo avere tutto sul mondo, ma non abbiamo il presente d'amare, allora, ci ancora troviamo solitario, infelici, e sfortunato.
Se l'amore è importante, necessario e indispensabile nella nostra vita, la solitudine è sempre il risultato d’illusione e arroganza, perché per ognuno, con tutti i mezzi, meritano di essere amato. La problema è se sono consapevoli della propria natura umana o no.
Va bene, nella vita nessuno non ama e non è amato, perché l'amore è un grande dono di Dio per tutte le persone ed è un meraviglioso tesoro di felicità che l'uomo è libero di usare e capace di dare come il dono. Quindi il rifiuto del nostro amore e dell'amore per gli altri, così come l'ignoranza dell'amore che dovremmo offrire e dell'amore che riceviamo, sono atti di "perdere seriamente noi stessi" e molto pietoso.
Riconoscendo l'amore nella nostra vita non è solo una condizione per vivere felici, ma anche una ragione per amare se stessi e amare le persone. Con un senso di amore, saremo "carini" innocentemente per gli inferiori nella società e più deboli di noi, perché il vero amore è pieno di compassione e sincerità; con il sottile sentimento di chi è innamorato, siamo semplicemente "carini" per coloro che hanno bisogno di noi, perché il vero amore porta gentilezza, umanità; con l'abbondante gioia dell'amare, siamo dolce ma coraggiosi "carini" con coloro che non sono molto amichevoli con noi. L'amore è come una pianta rara che produce bellissimi fiori solo quando è curata dalla generosità e dalla tolleranza; e con la felicità dell'amore, siamo gentilmente "carini" verso coloro per i quali abbiamo una vita di gratitudine, un profondo amore di gratitudine.
Desiderei che ti incontrassi sempre le persone carine sulla strada della vita, perché nella vita, una bellissima cosa è essere accompognati con amici carini. Condividendo un percorso con i simpatici piedi di persone carine, il percorso della vita sarà meno stanco, il duro lavoro, le storie di vita saranno meno difficili, stressanti e il lavoro della vita sarà meno pesante e più difficile.
Ma affinché il sogno si realizzi, tu ed io, cerchiamo costantemente di diventare amici carini sul nostro percorso, persone carine con sentimenti carini, parole carine, sorrisi carini, occhi carini, gesti carini, stile di vita carino e una vita tutta carina quando costantemente consapevole che: ti amo molto e sono molto innamorato.



MY BELOVED TEACHERS

MY BELOVED TEACHERS – THẦY CÔ TÔI
 Author: Jorathe Nắng Tím
 Translator:  A. Prisca 
Although I am in my sixties this year, all of memories about my teachers during my childhood are still unforgettable, remaining ever vivid and heart-warming ; especially the yearly National Teachers’ Day always reminds me of my great teachers with kindness, empathy and a focus on building community. Whenever gathering with my old friends, I often tell them about “those were the days”. Personally, that was the picture about the fairy time of the school age with all our beloved teachers in small and simple classes at the first time I moved from the North to the South of my country. I remember at that time my teachers were very kind and lovely, deeply concerned, compassionate, poor but completely honest, and strongly dedicated to the society with their strong desire to build up their students as people of high standards for the community and make things better inside and outside of the classroom. Obviously, people of high standards for the community can be defined as people of loving kindness, people of great knowledge and people of strong critical thinking.
But what lies in the heart of a person of high standards for the community ?
In my viewpoint, that is,
They should be truly kind to others in life because kindness makes the world go around and helps the others feel welcomed, feel cared for and feel loved.
They should be compassionate about the others in life because compassion is the utmost feeling of understanding and opening to the world around them with their concern.
They should be empathetic with others in life because empathy is an important trait to have and to help develop in themselves and in the others.
They should be positive in life because staying positive in toughness can have a tremendous positive impact on everyone around them and looking on the bright side always seems to make things better.
They should become an inspiration for the others because they can help the others to uncover their hidden treasures and possibilities.
So, it cannot be denied that students that are trained by teachers to become people of above-mentioned standards are genuinely the best fruits and the big success in the life of a teacher.
At the bottom of my heart, I myself am very grateful for what all of my teachers have trained me to help me get these characteristics so that I can become a good person to live and bring a variety of benefits to my community. I remember very clearly my teachers’ dedication, motivation, kindness, deep concern and guidance were instrumental in the improvement of many of the students, including me.
Particularly, apart from transferring knowledge, my teachers reminded me to live as a person of upright character, a person of honesty, a person of loyalty, a person of righteousness, a person to respect the truth, a person to cherish the life as the gift from God for human beings and a person with a heart full of love, kindness and compassion for others. I really love all my teachers and all of those who dedicate their life to education to make better student and even better person. It is also what I like to share with the next generation :
Love all of your teachers ! Because they have to sacrifice themselves and struggle to overcome different sufferings and obstacles to choose becoming a teacher. Personally, when choosing becoming a teacher, they do not intend to get the best rank in the society for being famous, wealthy, or powerful, but they have chosen a VOCATION – A vocation to cultivate the loving kindness and the best things of the world into their beloved students so that these people will bring joy, peace and love to their family, to their nation and to all parts of the world they have gone through.  
May all the teachers on earth get a lot of blessings to go ahead strongly for carrying out such a beautiful vocation and such a significant mission for sake of the happiness of the world.

AI LÀ ANH EM TÔI ?



Sáng nay đọc một vài bài báo và lướt mạng xã hội quanh hình ảnh Đức Thánh Cha độc hành trên đường phố Rôma thê lương, tiêu điều những ngày Covid-19 tung hoành biểu dương sức mạnh phá hoại, tiêu diệt đáng sợ của nó, với những con số khó có thể tưởng tượng: Ở vào thời điểm hôm nay, thứ Ba 31.03.2020, toàn thế giới có 803.313 người bị nhiễm, với 39.014 ca tử vong, trong đó Tây Ban Nha có 8179 người, Mỹ 3170, Pháp 3024, và Ý 11.591. Bên dưới tấm hình người lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo giữa thánh đô vắng vẻ, người viết đọc được nhiều dòng “comment” với nội dung tương tự:
“Ích lợi gì chuyện đi một mình giữa thành phố hoang vu. Điều có ích cho tha nhân, mà Giáo Hội Công Giáo cần làm là lấy tiền từ các ngân hàng toà thánh để giúp các bệnh viện”, Chúng tôi không cần ai đại diện Chúa ở trần gian, vì đức tin của chúng tôi ở Thiên Chúa không cần đến các ông đại diện này, vì thử hỏi: trong khi nhân loại quằn quại vì đại dịch, các ông có tên là “đại diện Thiên Chúa ở trần gian” đã làm được gì cho trần gian?, “Cho chúng tôi được phép hỏi: Giáo Hội Công Giáo có còn nhận ra ai là anh em của mình nữa không?”…
Ngoài những comment rất tiêu cực trên, còn một vài bài báo, đương nhiên trên những tờ báo không mấy thiện cảm với Giáo Hội, nhận định rằng: “Trong bối cảnh đại dịch Covid 19, người ta không nhắc đến Giáo Hội Công Giáo nhiều, và dường như người ta muốn quên đi sự có mặt ngày càng thờ ơ trước con người của Giáo Hội già nua, cằn cỗi, lỗi thời này…”.
Đọc những dòng này, người viết muốn lên cơn sốt, không sốt vì những phê phán thực sự phiếm diện và thiếu sót của các tác giả, nhưng sốt vì không ngờ Giáo Hội lại bị chính thế giới mình được sai đến, đi vào để phục vụ cô lập, cách ly, tẩy chay, từ chối một cách vô tình và đáng thương như vậy.
Thực ra, Giáo Hội không bao giờ có thể làm vui lòng được người đời, vì một lý do rất dễ hiểu, mà chính Đức Giêsu đã công khai dặn dò Nhóm Mười Hai trước khi lên Giêrusalem chịu khổ hình và tử nạn: “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15,18-19).
Lời khẳng định của Đức Giêsu cho phép chúng ta tin rằng những chống đối nhiều khi rất vô cớ, những bôi bác thường xuyên rất vô tình, những lên án thường rất đỗi vô duyên của rất nhiều người đều xuất phát từ nguyên lý: anh em không thuộc về thế gian, và thế gian chỉ yêu thích cái gì thuộc về nó, nên đó cũng là lý do để chúng ta tự an ủi vì biết số phận đã được dành sẵn cho những người không thuộc về thế gian đã đành, mà còn được  Đức Giêsu chọn và tách ra khỏi thế gian.
Chính vì không thuộc về thế gian, mà Giáo Hội thường bị coi là nhóm người “chướng đời, ngược đời, khác đời, lạ đời”: lạ đời với giáo lý kỳ lạ xây trên mầu nhiệm nền tảng “Thiên Chúa mà lại làm người: con người và Thiên Chúa cùng hiện diện nơi Đức Giêsu Kitô”; khác đời với giới luật mới phải yêu cả kẻ thù và cầu nguyện, thi ân cho cả kẻ ngược đãi, bách hại; ngược đời vì đời mong “nắm đầu cưỡi cổ” người khác, còn đạo thì khiêm tốn phục vụ, đời tìm “cái tôi” vinh quang, phú qúy, an nhàn, hưởng thụ, còn đạo thì tìm xóa mình, bỏ mình, vác thập giá, mất mạng vì tha nhân; chướng đời với những chủ trương không luôn đồng thuận với đòi hỏi, áp đặt của đời, như không a dua theo đời phủ nhận sự sống, hủy diệt thai nhi, không đồng loã với đời vi phạm nhân quyền, làm tổn thương nhân phẩm, không chạy theo quyền lực của đời để có miếng đỉnh chung, chỗ đứng, chỗ ngồi.
Nói chung thì thế gian khó có thể chung đường, chung lối với Giáo Hội, không chỉ vì thế gian ghét những ai, những gì không thuộc về nó, mà còn ghét Đức Giêsu, Đấng thành lập Giáo Hội mà thế gian được ma qủy tham mưu, tiếp tay trợ lực để không ngừng đánh phá (x. Mt 16,18). Đàng khác, thế gian không có những giá trị siêu nhiên, không tìm ơn cứu rỗi đời đời, không tin nhận Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người là Đấng Cứu Độ duy nhất của muôn dân, nên cho đến tận thế, thế gian vãn mãi căng thẳng với Giáo Hội của Đức Giêsu, và tìm những kẽ hở, những thiếu sót mang tính nhân loại để bôi bác, miệt thị, triệt hạ Giáo Hội, để không còn bị  Giáo Hội làm phiền, răn đe, khi Giáo Hội lên tiếng bảo vệ con người, bênh vực Chân Lý, làm chứng Thiên Chúa là “Đường, Sự Thật, Sự Sống”, Tình Yêu, Ơn Cứu Độ, và Hạnh Phúc đời đời của toàn thể nhân loại.
Ý thức vấn đề, chúng ta sẽ bình tĩnh trước những chống đối mà phần lớn đều phát sinh từ lòng ghen ghét của thế gian, căm thù của ma qủy đối với Giáo Hội, và bình an sống đức tin, làm chứng đức tin bằng sống đời bác ái, để đức tin không bao giờ trở thành đức tin chết, như thánh Giacôbê khuyến cáo: Đức Tin không có hành động của đức ái là đức tin chết (x. Gc 2,17), nhất là tuyệt đối tín thác vào Đức Giêsu, Đấng đã bảo đảm: “Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18), cũng như chính Ngài đã cầu xin Chúa Cha gìn giữ Giáo Hội: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật” (Ga 17,15-17).    
Nhưng bên cạnh sự thật “họ không thuộc về thế gian” (Ga 17,14), lại kèm theo một sự thật khác, đó là “như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian” (Ga 17,18). Cả hai sự thật đều là đòi hỏi sống chết, cả hai đều là bổn phận phải chu toàn, cả hai đều là sứ mạng phải thực thi: không thuộc về, nhưng được sai đến để làm chứng bằng yêu thương và phục vụ.
Qủa thực, Giáo Hội được sai vào thế gian, tuy như chiên đi giữa bầy sói, nhưng sứ mạng của Giáo Hội thì vô cùng cao đẹp, tuyệt vời thánh thiện: sứ mạng làm chứng Đức Giêsu là Đấng được Thiên Chúa sai đến để yêu thương, và hiến mình cứu độ mọi người.
Chính sứ mạng làm chứng Đức Giêsu là Tình Yêu từ Thiên Chúa đến trong thế gian, mà Giáo Hội, dù bị thế gian ghét bỏ vẫn không thể không yêu thương, dù bị người đời khinh mạn, chế diễu vẫn không thể từ chối sứ vụ phục vụ, dù bị đời “chơi xỏ”, “đâm sau lưng”, hay đánh thẳng mặt vẫn không thể bỏ quên ơn gọi thương xót. Nếu không, Giáo Hội sẽ không còn được gọi là Giáo Hội của Đức Giêsu, nhà của Thiên Chúa giầu lòng thương xót giữa nhân loại, nơi ẩn náu an toàn của tội nhân, sức mạnh của người cô qủa, yếu đuối, bị bỏ rơI. Đó cũng chính là lý do lệnh truyền duy nhất của Đức Giêsu là “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34), và dấu chỉ duy nhất để “mọi người nhận biết anh em là môn đệ Thầy là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).
Như thế “chắc nịch” là Giáo Hội hiện hữu từ Tình Yêu của Đức Giêsu, “chắc chắn” là Giáo Hội sống bằng Tình Yêu của Đức Giêsu, “chắc ăn” là sứ vụ đời đời của Giáo Hội là phục vụ trong yêu thương, làm chứng bằng yêu thương, “chắc cú” là người môn đệ Đức Giêsu, thành viên của Giáo Hội Ngài không thể sao nhãng, bỏ quên bổn phận yêu thương đồng loại, và phục vụ mọi người như người anh em.
Vì thế, câu trả lời chính xác người công giáo cần phải có lúc này, giữa tâm dịch đang đe doạ thế giới, cho những vấn nạn, cũng như những biện bác, phê phán của nhiều người, chính là thái độ khiêm tốn nhìn lại mình, xem lại cung cách phục vụ, nếp sống yêu thương, tâm tình chia sẻ qủang đại và thân thiện của mình với mọi người. Rất có thể chúng ta đã làm nhiều việc bác ái, nhưng ít người biết; có thể Giáo Hội đã và đang dồn mọi nỗ lực phục vụ, chia sẻ, nhưng chưa mấy người nhận ra, như thao thức và chương trình bác ái rất cụ thể
“chung sức lan toả yêu thương” đến những mảnh đời thiếu thốn, cơ cực sống từng ngày nhờ những tấm vé số, những thúng ve chai, bao nhựa góp nhặt trên đường phố của đức cha Giuse Nguyễn Năng, Tổng Giám Mục Sàigòn được chính ngài chia sẻ và kêu gọi mọi người chung tay cộng tác hôm nay 31.03.2020 qua clip phỏng vấn được đăng trên mạng xã hội.
Thực vậy, chúng ta không tìm lời khen, hay chạy theo những tuyên dương công trạng của thế gian cho những công việc bác ái là sứ vụ của Giáo Hội, nhưng không vì thế, chúng ta bất cần thiên hạ, coi thường nhận xét của người đời, vì biết đâu những nhận định của họ lại phản ánh sự thật về một tình trạng “đức tin đang chết dần mòn, vì thiếu sức sống là đức ái” nơi mỗi người, và trong cộng đoàn, tình trạng mà thánh Giacôbê đã không ngại ngùng cảnh giác: “Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì? Cũng vậy, đức tin không có hành động thì qủa là đức tin chết. Đàng khác, có người sẽ bảo: Bạn, bạn có đức tin; còn tôi, tôi có hành động. Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin. Bạn tin rằng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất. Bạn làm phải. Cả ma qủy cũng tin như thế, và chúng run sợ. Hỡi người đầu óc rỗng tuếch, bạn có muốn biết rằng đức tin không có hành động là vô dụng không?” (Gc 2,14-20).
Tóm lại, trước những “comment” tiêu cực lên án, chỉ trích, phê bình Giáo Hội cách này cách khác, trong những ngày đại dịch Covid-19, người viết tuy cảm thấy buồn, nhưng không lấy đó làm ô nhục hay chụp lấy như cơ hội để phản công, đốp chát dưới chiêu bài bảo vệ đức tin, bênh vực Hội Thánh, vì chúng ta không được kêu gọi để đấu đá, ăn thua đủ với bất cứ ai, nhưng “được chọn và được tách ra khỏi thế gian” để làm chứng cho thế gian Thiên Chúa là Tình Yêu cứu độ, và mọi người đều là con cái Thiên Chúa, anh em của chúng ta, nên dù có thế nào đi nữa, có phải chịu  thiệt thòi, bất công nhiều hơn nữa, mãi mãi sẽ chỉ có một lệnh truyền, một giới răn, một sứ vụ, một bài sai, một lý tưởng cho người  môn đệ đi theo Đức Giêsu là “yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.
Yêu thương nhau là yêu thương hết mọi người, yêu thương nhau là xây dựng, thăng tiến nhau bằng tôn trọng, trân qúy, yêu mến, phục vụ nhau, nhưng khó nhất là khiêm tốn đón nhận nhau, khiêm tốn nhìn lại mình, khiêm tốn sửa đổi bản thân, cộng đoàn để trở nên tốt hơn trong tình yêu thương xót, và đức ái xả thân, quên mình vì  hạnh phúc của anh em, như lòng Chúa hằng mong ước ở  người môn đệ.
Jorathe Nắng Tím   

CHỖ Ở


                                      Suy Niệm Tuần Thánh
Con người là con vật biết mình hiện diện ở một nơi và một thời điểm, nên đau khổ lớn nhất của con người là vào đời mà không có chỗ sinh ra, làm người mà không cha mẹ, gia đình, sống mà không chỗ ở, chết  không đất chôn, mộ phần.
Chẳng thế mà hình phạt kinh khủng, ác nghiệt nhất dành cho người tù là không cho biết họ đang ở đâu, và ở vào thời khắc nào, bởi con người là con vật chỉ sống hạnh phúc khi biết mình đang sống ở đâu và vào thời điểm nào.
Có nhiều hoàn cảnh trong cuộc đời đã cho chúng ta kinh nghiệm hãi hùng này, như trong  chiến tranh, khi tứ bề thọ địch, trên bom dưới mìn, chung quanh súng nổ, và không gian hoàn toàn tắc nghẽn, bít bùng, không đường ra, không lối thoát. Đó cũng là cảm nghiệm mất phương hướng khi lạc đường, hoặc biết có đường, nhưng đường bị đóng, đường bị cắt ngang, bịt kín, và trước sau, ngang dọc đều là tử lộ, đất chết.   
Những ngày này, ít nhiều chúng ta đang rơi vào tâm trạng “xao xuyến” vì mất phương hướng, mất khả năng an toàn định vị, mất khả thể phóng hoạ bước tới của thời gian, khi dịch Covid-19 xem như khống chế toàn diện, phá hủy toàn phần, làm đảo lộn toàn bộ đời sống.
Covid-19 làm đảo lộn toàn bộ đời sống, khi đời sống bỗng rơi vào tình trạng bị đe dọa khắp nơi, đến nỗi đóng cửa, ở yên trong nhà cũng không cảm thấy an tâm; bỏ quốc gia có dịch chạy về đất nước, nơi tưởng dịch biết sợ, không dám bén mảng tới cũng không thấy được bảo vệ an toàn. Covid-19 còn phá hủy toàn phần cơ nghiệp không chỉ của bản thân, gia đình, mà của cả quốc gia, thế giới, khi ngân sách đổ hết cho công tác ngăn dịch, và tương lai kinh tế hứa hẹn những ngày cực kỳ đen tối. Sau cùng, Covid-19 đã khống chế toàn diện mọi lãnh vực khi đạo đời, chính trị, xã hội, kinh tế, giáo dục, nhất là y tế đang mất quân bình và rơi sâu xuống vực thẳm suy thoái trầm trọng.
Thực vậy, tâm trạng xao xuyến là sự thật không ai có thể chối cãi hay tránh né, dù có lừa người và tự dối mình khéo léo, tài tình đến đâu, bởi đó là sự thật hiển nhiên, không cần chứng minh, lý giải. Không cần chứng minh, vì ai cũng biết thật hư của cơn đại dịch vẫn còn là một ẩn số to đùng, và bao lâu còn là ẩn số một nguy hiểm mang tính quốc tế, có tầm vóc địa cầu thì nỗi lo sợ vẫn còn đó, nếu không muốn nói là ngày càng lớn hơn, phình to ra đe dọa. Không cần lý giải, vì ai cũng phải tự hiểu  theo sau những ngày chống dịch sẽ là những năm tháng dài chống đói, chống nghèo, chống cướp bóc, khi người ta không còn biết tin ai, không còn dám tin vào thể chế nào, vì biết “không ai thương ta như là ta đâu”.
Tâm trạng xao xuyến như thế có căn gốc từ mất lòng tin: không tin nơi mình đang ở, không tin đường mình đang đi, không tin chỗ mình đang sống, không tin tay người hướng đạo, không tin đường ngày mai phải bước tới. Và không tin con đường, mặc dù đời là con đường; không tin nơi ở, dù thân phận người luôn cần một chỗ cắm dùi để làm người chính là nỗi khổ quay quắt của mỗi người trong những hoàn cảnh khắc nghiệt.
Tâm trạng xao xuyến vì mất niềm tin trên không mới lạ, như Tin Mừng Gioan đã tường thuật qua tâm tình an ủi của Đức Giêsu khi các môn đệ của Ngài xao xuyến, lo sợ: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi”  (Ga 14,1-4).
Biết các môn đệ xao xuyến, vì không biết sẽ ở đâu cho an toàn, ở đâu cho bình an khi chung quanh đầy sóng gió cuộc đời, tứ bề nhiều đe dọa, thử thách, Đức Giêsu đã bảo các ông: “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”. Ngài biết: nguyên nhân của mọi lo sợ, xao xuyến trong tâm hồn các ông là do niềm tin còn non nớt, niềm tin còn mong manh, dễ vỡ, và bao lâu chưa tin vào Thiên Chúa và chưa tin vào Ngài, người môn đệ sẽ còn phập phồng lo sợ, hốt hoảng lo âu, thất kinh khiếp viá, không chỉ vì an sinh cho hiện tại, mà vì cả an toàn của tương lai. 
Nhắc bảo các môn đệ  phải tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy, Đức Giêsu không đưa ra một phương án nào khác để làm giảm cơn lo, một toa thuốc nào khác  làm hạ cơn sốt sợ hãi, ngoài đề nghị tin vào Thiên Chúa và tin vào Ngài. Và một khi đã tin, người môn đệ sẽ nhận ra Thiên Chúa là Đấng đáng tin, Đấng không lừa dối ai, như những khẳng định của Đức Giêsu:
a.   “Nhà Cha Thầy có nhiều chỗ”:    
Với niềm tin, người môn đệ sẽ nhận ra trái tim Thiên Chúa là mái ấm bình an cho tất cả mọi người chạy đến kêu cầu Ngài, vì ai cũng có chỗ tốt, chỗ đẹp, chỗ ân tình, chỗ nghiã thiết trong trái tim bao la tình yêu, mênh mông lòng thương xót và hải hà nhân hậu của người Cha Thiên Chúa.
“Nhà Cha Thầy có nhiều chỗ” là qủa quyết mang tính bảo đảm trăm phần trăm cho con người đang lo mình sẽ ở đâu, sống nơi nào, nỗi lo của thân phận lữ khách không chỉ lo những ngày dong duổi trên đường đời, mà còn lo cuối đường đời không biết sẽ về đâu, cập bến nào, trôi giạt nơi nao; nỗi lo không chỉ của người đang sống mà còn của ngày mai khi giã từ cuộc sống, không biết số phận ra sao, thưởng phạt thế nào…
Đức Giêsu biết chúng ta lo âu, như biết các môn đệ xao xuyến, nên không chỉ bảo đảm “Nhà Cha Thầy có nhiều chỗ”, mà còn xác quyết: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em” (Ga 14,3). Hai lần qủa quyết chắc chắn có chỗ ở cho các môn đệ, hai lần xác quyết chính Thầy đi trước để dọn chỗ ở cho anh em, Đức Giêsu muốn chúng ta tin Ngài là nơi ở vững chắc, nơi ở an toàn, nơi ở bình an, nơi ở hạnh phúc không chỉ hôm nay mà đời đời cho những ai tín thác ở Ngài, sau hành trình dương thế.
b.  “Để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó”:
Khi bảo đảm với các môn đệ: Nhà Chúa Cha có nhiều chỗ và Ngài đi trước để dọn chỗ, Đức Giêsu đã cho các ông biết mục đích của việc làm này. Đó là Ngài ở đâu, thì những kẻ thuộc về Ngài cũng ở đó với Ngài.
Ở với Ngài, ở lại trong tình yêu Ngài là khao khát nóng bỏng của trái tim Đức Giêsu, là ước mơ duy nhất của tình yêu “Thiên Chúa làm người” lúc nào cũng bùng cháy tình yêu nhân loại, nên một lần nữa, Đức Giêsu cắt nghiã rõ hơn cho các môn đệ  tại sao nhà Cha Ngài luôn có nhiều chỗ, và Ngài đi  trước để dọn chỗ, rồi trở lại đón các ông về ở với Ngài (x. Ga 14,2-3).
Qủa thực, không còn tình nào đẹp hơn tình ao ước được ở gần người mình yêu, không trái tim nào dễ thương hơn trái tim luôn trông ngóng người mình yêu đến cư ngụ hạnh phúc tận thâm cung cõi lòng. Đức Giêsu đã bầy tỏ công khai ước mơ của Ngài là được ở với những người Ngài yêu thương, vì “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1).
c.    “Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi”:
Như đã nói ở trên, chúng ta không chỉ lo âu về chỗ ở, mà còn âu lo về đường đi, hướng tới, bởi ở trên đường mà ngơ ngác, lạc lõng, cũng như mất hướng, lạc đường giữa chợ đời, nơi rừng sâu đều là tai ương khốn khó cho con người, và là nguyên nhân đẩy con người vào tình trạng hãi hùng, khiếp sợ, tuyệt vọng.
Đức Giêsu biết các môn đệ đã không chỉ xao xuyến vì không biết ở đâu cho an toàn, sống ở đâu cho bình an, mà còn hiểu rõ tâm trạng băn khoăn không biết ngày mai sẽ đi đâu, sẽ đi con đường nào để an toàn tính mạng, để không gục ngã giữa đường đời vì người đời cạm bẫy, không bị  hùm beo, chó sói xé xác, phân thây… và nhất là đâu mới thực là con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực, đâu mới là đường bình an viên mãn, bởi có rất nhiều con đường được chào mời, vô số con đường được khuyến mãi, ngàn vạn con đường lấp lánh hào quang quyến rũ, nhưng không chắc sẽ là đường thật, đường an toàn không cướp bóc, thú dữ, đường có niềm vui, hy vọng, bình an.
Nói với các môn đệ: “Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi”, Đức Giêsu nhắc các ông con đường Tình Yêu mà Ngài đã mở ra, con đường duy nhất có Thiên Chúa cùng đồng hành với con người, con đường đưa con người vào trong nhà Thiên Chúa, con đường dẫn con người đến và ở với Đức Giêsu. Con đường ấy cũng chính là con người Đức Giêsu, như Ngài đã khẳng định: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). 
Lậy Đức Giêsu giầu lòng thương xót, xin nâng đỡ đức tin của chúng con và cứu chúng con khỏi cơn xao xuyến “không biết ở đâu cho bình an, không biết đi đường nào cho an toàn” trước cơn đại dịch không chỉ đe dọa đời sống thể lý, sinh hoạt xã hội, đời sống tương lai, mà còn là nguy cơ làm chúng con hoang mang, thất vọng, không còn dám tin vào Thiên Chúa, khi niềm tin vào người đời ngày càng cạn kiệt, băng hoại, nhưng xin dậy chúng con biết nhìn lên Thánh Giá là nguồn ơn cứu độ, để tìm lại chỗ ở bình an đã đánh mất là vòng tay thương xót của Chúa, để thấy lại con đường đã phũ phàng từ chối là đường tình dẫn con hoang đàng trở về nhà Cha, là nhận ra hướng đi đã bao lần phủ nhận là hướng về nơi Chúa ở, để Chúa ở đâu thì chúng con cũng được ở đó với Chúa trong bình an, hoan lạc.
Jorathe Nắng Tím