Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2020

ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO KHÔNG BIÊN GIỚI (8)

                                             LẠC QUAN
Lạc quan là cái nhìn tích cực về một sự việc, một biến cố, một hoàn cảnh, một con người, khác với bi quan là cái nhìn tiêu cực. Lạc quan không mang tính đầu hàng, buông xuôi, không trầm trọng một vấn đề vốn đã nặng nề, không làm khó hơn tình huống vốn đã ngặt nghèo, bế tắc, không cường điệu hoá bi kịch cuộc đời vốn đã tang thương, sầu thảm, như ý nghĩ và hành động tiêu cực của người bi quan. Lạc quan còn là tâm tình vui tươi, và chọn lựa Vượt Qua không ngừng trước cái khó, cái khổ của cuộc sống, mà không chán chường, bi lụy, sợ hãi, chủ hoà, hèn nhát, thất vọng.
Vì cuộc sống là đường dài xa tít tắp nhiều  hiểm trở, là cuộc chiến liên lỷ đầy nguy hiểm, đe dọa, nên không lạc quan, bước chân người lữ khách sẽ nặng trĩu âu lo, tinh thần người ra trận sẽ sụp đổ vì hoang mạng, sợ hãi.
Người môn đệ Đức Giêsu không những là người lữ hành trên đường đời như bao người khác, mà còn được kêu gọi  đi với Đức Giêsu trên con đường Từ Bỏ và vác Thập Giá (x. Mt 10,37-39); không chỉ xông pha giữa trận mạc như người lính bình thường, mà còn phải là người lính giỏi, qủa cảm của Đức Giêsu trong cuộc chiến dành phần thắng đời đời cho mình và mọi người, nên lạc quan là đức tính không thể thiếu cho người môn đệ, để nhẹ bước lên đường, nhẹ lòng chiến đấu.
Thực vậy, người môn đệ trên đường truyền giáo sẽ bớt lo lắng, xao xuyến khi biển dậy sóng, vì lạc quan tin tưởng: “Thầy ngủ, nhưng đang ở đây” (x. Mt 8,23-25); người môn đệ sẽ bớt thắc mắc tìm tòi và phán đoán tiêu cực, bất công trước yếu đuối, khiếm khuyết của người khác, nhưng lạc quan tin tưởng đường lối của Thiên Chúa qua bề ngoài thiếu sót, bất toàn của con người, như lần kia, khi thấy “một người mù từ thuở mới sinh”, các môn đệ đã hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?”. Và Đức Giêsu đã trả lời: “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ ra nơi anh ta” (Ga 9,2-3).
Người môn đệ trên đường truyền giáo cũng sẽ bớt nặng lời chê bai, lên án và nhẹ tay trừng phạt người tội lỗi, vì lạc quan tin tưởng ở tình yêu thống hối, như hôm nao có người Pharisêu mới Đức Giêsu đến dùng cơm. Trong bữa ăn, “bỗng một  phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pharisêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (Lc 7,37-38). Trước cảnh tượng ấy, ông Pharisêu đã nhìn Đức Giêsu với ánh mắt nghi ngờ về khả năng của Ngài, vì nghĩ Ngài không biết gì về nhân thân không mấy tốt đẹp của người phụ nữ trắc nết đang hôn chân mình, đồng thời  ném cái nhìn khinh bạc về phiá người đàn bà tội lỗi.
Khác với cái nhìn bi quan, tiêu cực của ông Pharisêu, Đức Giêsu đã lạc quan nhìn rõ trái tim sôi sục tình yêu thống hối của chị khi nói với ông Pharisêu: “Tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều” (Lc 7,47).    
Thực vậy, lạc quan là đức tính cần thiết của nhà truyền giáo, vì sứ vụ loan Tin Mừng đòi hỏi. Bởi  thiếu tinh thần lạc quan, người môn đệ bi quan không thể loan báo Tin Vui mà không làm Tin Vui bị bóp méo thành tin buồn; không thể rao giảng Nước Trời hạnh phúc mà không bẻ cong đường hạnh phúc thành lối ngõ bất hạnh; không thể công bố Tin “rất đáng mong đợi” mà không nhập nhằng, do dự biến thành tin “chẳng nên đợi chờ”; không thể khuyến khích “Anh em hãy vui lên trong Chúa” đang khi mình ủ dột, yếm thế, tiêu cực, bi quan.
Nói cách khác, nhà truyền giáo không thể làm chứng Đức Giêsu là Tình Yêu cứu độ, và giáo huấn yêu thương của Ngài nếu không xác tín và thực hiện đòi hỏi của đức mến như thánh Phaolô đã tóm tắt và qủa quyết trong thư gửi giáo đoàn Côrintô: “Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7), và nhờ tinh thần lạc quan, nhà truyền giáo sẽ dễ dàng thực hiện đòi hỏi yêu thương của người môn đệ. 
1.   Lạc quan để dễ dàng “tha thứ tất cả”:
Đường truyền giáo không tránh khỏi nhiều cay đắng, nặng lòng: nặng lòng vì những thị phi, đố kị, bất công của người đời; cay đắng vì hiểu lầm, thờ ơ, lạnh nhạt, vô ơn, phản bội của người nhà thân quen, nên luôn cần đức mến để tha thứ tất cả, nếu không, tâm hồn người môn đệ không thể nâng lên cao, và đôi chân nhà  truyền giáo không thể nhẹ nhàng cất bước.
Bởi tha thứ không dễ, vì tha thứ là “thua cuộc, thua đậm, thua thiệt, thua xa, thua đứt” dưới mắt người đời, nên người bi quan khi phải tha thứ sẽ dễ rơi vào cám dỗ bi thảm hoá hiện trạng, vấn đề, đồng thời trầm trọng hoá tổn thương mình phải gánh chịu, và nghiêm trọng hoá lỗi lầm của người mình phải tha thứ. Vì thế, vết thương sẽ hoắm sâu hơn nên khó lành, tội sẽ nặng nề hơn nên khó xóa, người gây ra tội sẽ ghê gớm, tởm lợm, đáng nguyền rủa hơn nên khó tha.
Khác với người lạc quan luôn thấy tương lai sáng hơn qúa khứ, tin ngày mai của tội nhân sẽ đẹp hơn hôm qua và hôm nay, và đường trượt té hôm nao sẽ mở ra đường lên hôm nay của người yếu đuối, để nhìn vào và làm nổi bật những điểm mạnh, điểm sáng, điểm tốt của người khác thay vì soi mói, tìm lòi, lục lọi những điểm yếu, điểm tối, điểm xấu nơi họ, như Đức Giêsu đã không a dua với nhóm Kinh Sư và Pharisêu áp giải đến trước mặt Ngài người đàn bà ngoại tình bị bắt qủa tang, khi không nhìn thân xác tội lỗi của chị như họ nhìn, nhưng cúi xuống để chìm sâu vào huyền nhiệm con Thiên Chúa của chị; không lớn tiếng chửi rủa thậm tệ, lên án gắt gao người đàn bà lăng loàn, nhưng yên lặng cảm thông nỗi nhục nhằn không thể tả xiết của thân phận yếu đuối, mỏng dòn, dễ vấp ngã, bởi Ngài lạc quan tin vào ơn trở về của Thiên Chúa trên đời chị, và đã nói với chị: “Chị hãy về bình an và đừng phạm tội nữa” ( Ga 8,11).  
Chính vì tha thứ không dễ, nên cần lạc quan để tha thứ trở nên nhẹ nhõm, đơn giản, dễ dàng hơn, nhờ những chọn lựa tích cực được nâng đỡ bởi tinh thần lạc quan.
2.   Lạc quan để dễ  dàng “tin tưởng tất cả”:
Người lạc quan trong những hoàn cảnh, tình huống khắc nghiệt, khó khăn luôn tìm ra ánh sáng, không như người bi quan rất dễ rối loạn, hoảng hốt, mất tinh thần, và nghĩ nhiều đến giải pháp tiêu cực: “bàn ra”, buông xuôi, thất thủ, phó mặc, và chấp nhận thua cuộc trước khi nhập cuộc.
Sở dĩ người lạc quan bình an trước thách đố và vượt qua thử thách dễ hơn người bi quan, vì họ dễ tin tưởng tất cả, khi tâm hồn mở rộng, nhờ nhìn mọi sự, mọi việc, mọi người dưới lăng kính hào sảng, thông thoáng, nhẹ nhàng.
Qủa thực, niềm tin là then chốt của tâm hồn truyền giáo, và “tin tưởng tất cả” là đòi hỏi quan trọng không thể thiếu ở nhà truyền giáo, vì truyền giáo là chuyển tải giới luật Yêu Thương đến mọi người.  Nhưng với một trái tim bi quan, một tinh thần tiêu cực, nhà truyền giáo sẽ rất khó tin tưởng tất cả, vì “ở tất cả, trong tất cả” đều có những điều đáng nghi ngờ, khó tin: việc khó tin, người đáng nghi ngờ. Điều này sẽ làm lòng dạ nhà truyền giáo xốn xang, bối rối đưa đến nghi ngại mọi sự, nghi nan mọi việc, nghi kỵ mọi người, nếu không được trang bị tinh thần lạc quan.
Và một khi rơi vào tình trạng không dám tin tưởng, làm sao nhà truyền giáo có thể loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh vì Ngài đã tin tưởng mọi người, tin tưởng mỗi người, “tin tưởng tất cả”, dù tất cả đều bất xứng, tội lụy.
3.    Lạc quan để dễ dàng “hy vọng tất cả”:
Không có niềm hy vọng nếu thiếu lạc quan, vì người bi quan là người thiếu hy vọng trầm trọng.
Vì bi quan nên Giuđa đã đánh mất hy vọng được tha thứ, trong khi Phêrô  lạc quan đã tìm lại hy vọng trở về qua ánh mắt cảm thương, bao dung của Thầy; vì bi quan, Giuđa đã rơi vào tuyệt vọng, trong khi Phêrô lạc quan đã tìm về và dìm mình trong Đức Giêsu là đại dương của lòng thương xót. Hai môn đệ cùng Thầy, hai tội nhân cùng phản bội, nhưng lạc quan đã cứu Phêrô và trả lại cho ông niềm hy vọng cứu rỗi, và bi quan đã đẩy Giuđa vào cái chết tang thương tuyệt vọng.
Là người đem đến cho người khác niềm hy vọng được sống lại với Đức Giêsu, nhà truyền giáo không thể nhút nhát, dè dặt trong niềm hy vọng, nhưng phải “hy vọng tất cả”, vì tin vào Lời Hứa của Đức Giêsu. Chính Lời Hứa làm nên niềm hy vọng của dân Chúa, Lời Hứa là động lực cho mọi hoạt động tông đồ, Lời Hứa  mang lại niềm vui lên đường rao giảng, Lời Hứa thúc đẩy nhà truyền giáo dấn thân mạo hiểm: xuống thuyền ra sâu, ra xa, ra mãi với Đức Giêsu, mà không sợ sóng gió, không cần ngày về cập bến.
4.   Lạc quan để dễ dàng “chịu đựng tất cả”:
Không ai chịu đựng bằng nhà truyền giáo, vì truyền giáo không chỉ “không nhà cửa cố định, không hộ khẩu vĩnh viễn”, như Đức Giêsu nay đây mai đó, không được như “con chồn có hang, chim trời có tổ” (Lc 9,58), mà còn “làm dâu trăm họ”, phục vụ mọi người thuộc đủ giai cấp, thành phần, trình độ, nên phức tạp vô cùng, nhiêu khê hết chỗ nói, đôi khi rối rắm không biết giải quyết thế nào cho đẹp mọi bề, êm mọi phiá, vì “chín người mười ý”, và ai cũng muốn ý mình được trọn vẹn thể hiện. Vì thế, không chịu đựng, nhà truyền giáo không thể truyền giáo, vì qúa căng thẳng.
Nhưng chịu đựng không dễ, bởi có những lúc “chịu hết nổi”, có những khi vượt qúa sức người có hạn, nhất là khi “cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”. Chẳng thế mà có nhiều nhà truyền giáo đã sa sút sức khỏe thân xác lẫn tinh thần, vì không còn khả năng chịu đựng những căng thẳng do anh em trong nhà, do người của cộng đoàn, hoặc người ngoài, đối phương gây ra.
Biết mình phải “chịu đựng tất cả” như đòi hỏi của Tin Mừng yêu thương, và phải trở nên gương mẫu yêu thương của Tin Mừng, người môn đệ sẽ  khôn ngoan trang bị cho mình tinh thần lạc quan để sức chịu đựng dẻo dai hơn, đôi vai “chịu đựng” bớt ê ẩm hơn, gánh gồng “chịu đựng” bớt nặng nề, nhưng nhẹ nhõm hơn, như Đức Giêsu hằng mời gọi: “Hỡi những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi, bồi dưỡng… Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28.30), bởi nơi Ngài có lạc quan phát sinh từ hoa trái của đức ái là hiền lành và khiêm nhường.
Như thế, lạc quan ở nhà truyền giáo không còn là thứ lạc quan của người “vô lo, mơ mộng, không thực tế, không dám nhìn sự thật, và thiếu khôn ngoan phân định”. Trái lại, lạc quan của người môn đệ, nhà truyền giáo chính là tinh hoa của đức ái, thái độ  tinh thần của Yêu Thương. Lạc quan giúp  người môn đệ thực hiện “Giới Luật mới” cách vui tươi hơn, và làm cho người khác sẵn sàng đón nhận Tin Mừng hơn, vì lạc quan luôn giúp giải quyết nhẹ nhàng, ổn thoả mọi khúc mắc, bế tắc của tương quan, đồng thời mang lại  niềm vui cho người chung quanh, và bình an cho người môn đệ trên đường truyền giáo.
Lậy Đức Giêsu, xin ban cho các nhà truyền giáo niềm vui của người được sai đi, và trang bị cho các vị tinh thần lạc quan được lớn lên mỗi ngày trong Đức Ái và triển nở nhờ niềm Hy Vọng vào Lời Hứa của Thiên Chúa: “Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thuởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Mt 5,12).
Jorathe Nắng Tím      

DEATHS AMIDST THE COVID-19 PANDEMIC

( NHỮNG CÁI CHẾT THỜI COVID )
Author : Jorathe Nắng Tím
Translator : A. Prisca
            We are frightened by Covid because of the deadly virus. People in the world fight for survival over Covid because of its destruction. Everybody is desperately afraid of Covid because it is easy to fall in the situation of losing the life without any family members beside at the hospital beds or any friends for the final farewell when they are infected by this virus. And Covid has become the sign of the Scary Death!
            Up to now, known global death toll exceeds 215,000 and there are over 03 million confirmed cases with several hundred thousand Covid patients, who are in the emergency rooms and have a close brush with death for resuscitation, so the deaths amidst Covid-19 Pandemic actually have become dangerous obsession and a terrible threat to the whole world.
Among hundred thousands of deaths in the Covid-19 period, there have been deaths beyond medical diagnostics and beyond the initial estimate of scientists that Covid does not affect the infants. However, in reality, there is a confirmed case of a 6-month old baby in Connecticut, the USA as well as a lot other confirmed cases of children from 2 to 10 years old in Europe, in which there is a pitiful case of a 3-year old child without parents besides from the time of infection to the time of dying.
            Among hundred thousands of deaths in the Covid-19 period is a sudden death of Ms. Lorna Breen, an anti-Covid woman doctor at the front line of New York, the head of the Emergency Department of a hospital in Manhattan, who committed suicide at the age of 49, on April 26, 2020 after a very difficult time serving Covid patients after knowing her Covid infection due to the intolerable pressure of the obsessing deaths in front of her eyes, particularly right at the lobby of the hospital. Her sudden death seems to be unexpected footsteps of Covid into the world !
Among hundred thousands of deaths in the Covid-19 period, there is the death for the future of the world of the elderly woman Suzanne Hoylaerts in Vlaams-Brabant Province, the Kingdom of  Belgium, Europe. Taken to the hospital due to her Covid infection, knowing that there is a serious shortage of ventilators in hospital in comparison with the contiunually increasing number of Covid-19 patients, with the suggestion from the doctor to use the ventilator, she replied : “ I don’t want to us the ventilator. Let other young people use is. I think I have fulfill my life beautifully. It’s oke for me now!” Two days later, on March 22, 2020, she passed away from the Covid.
        Among hundred thousands of deaths in the Covid-19 period, while there are some deaths for the future of the world, there are some others for being afraid of the future of other people as the death of Mr. Thomas Schaefer, Minister of Finance of Hesse in German committing suicide after “coronavirus crisis worries” on March 28 by heading into a railway track because of becoming “deeply worried” over how to cope with the economic fallout from the coronavirus. Moreover, there is a death because of getting such an awful fright from Covid like the suicide of Dr. Bernard Gonzales, a physician at the Stade de Reims of the French League, France, on Sunday April 5, 2020 at the age of 60 right after testing positive for the coronavirus.
            Among hundred thousands of deaths in the Covid-19 period, there are such a lot deaths of doctors, nurses, medical workers, volunteers, fighting Covid like soilders in the front line with bravery and sacrifice for the sake of the others. Every evening, at 8P.M, all people in France applause simultaneously to show the deep gratitude and glory to them from all windows and balconies.
            Among hundred thousands of deaths in the Covid-19 period, there are still such a lot deaths of Catholic priests, men and women Catholic religious, men and women Buddhist monks and monastics, and other volunteers of different religions for the spiritual happiness of the Covid patients when taking up ministries for the patients in hospitals.
             Besides these hundred thousands of deaths in the Covid-19 period, there are some deaths not because of Covid, but because of being alone and being lonely of a great numbers of the ederly men and women in the infirmaries or nursing homes. They did not died from the infection, but from the loneliness and the depression because of the quarantine when their children or grandsons and granddaugters can not come to visit them often as usual.
  Indeed, we have never been closer to death than at this very moment because the coronavirus has crossed any country boundaries and attacked any person regardless of age, gender, race, religion, sexual orientation or any other social or personal characteristics ; it is high time for us to be fully aware of the death around us because any mistake, any carelessness, any incaution in our social meetings or conversations can lead us to hospital or to mortuary; and more than ever, we have a lot of time to think about the mortal life, to question about the reason of life, the meaning of life, the value of life as well as the attitude to have in our lives.
     The Month of May is just around the corner. The month begins with the day of Muguet Flower, also known as Lily of the Valley, May Lily, May Bells, Lily Constancy, Ladder-to-Heaven or Our Lady’s tears, recognized as the sign of peace and good luck. With all my heart-felt appreciation, I would like to offer a bouquet of the pure white Muguet to the departed amidst the Covid-19 time and my fervent prayers for the peace to them afterdeath. Besides, another bouquet of Muguet is given to all of you, who are still alive, who are bitterly fighting to protect the others from Covid-19 as doctors, nurses, medical workers, volunteers , or who are the victims of Covid-19 staying in hospitals with my best wishes for a great abundance of forever luck to you.

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2020

NHỮNG CÁI CHẾT THỜI COVID

Người ta sợ Covid vì Covid làm chết người. Thế giới chống Covid, vì Covid muốn xóa sổ nhân loại. Mọi người sợ Covid vì lây nhiễm sẽ khó tránh khỏi thảm cảnh “một mình ra đi, không người thân bên giường, không bạn hữu trên đường ra nghiã trang, phần mộ”. Và Covid đã trở thành hiện thân của Tử Thần rất đáng sợ! 
Đến hôm nay, số tử vong trên thế giới đã lên đến 215.000 người, và hơn 3 triệu người bị lây nhiễm, chưa kể vài trăm ngàn người đang nằm trong các phòng cấp cứu hồi sức, với tình trạng “thập tử nhất sinh”, nên những cái chết thời Covid đã thực sự ám ảnh nhiều người, và là đe dọa lớn trong sinh hoạt hằng ngày của toàn thế giới.
Giữa hàng trăm ngàn cái chết thời Covid, có những cái chết ngoài chẩn đoán của y khoa, vượt xa tiên liệu của các nhà  khoa học ban đầu vẫn cho rằng: Covid không ảnh hưởng đến trẻ thơ, khi một bé thơ chưa đầy sáu tuần tuổi ờ Connecticut, Mỹ, cũng như nhiều bé khác từ hai đến mười tuổi ở Âu Châu đã bất hạnh phải đứng chung hàng ngũ nạn nhân của Covid, trong số đó, thương tâm nhất là trường hợp em bé ba tuổi từ khi  lây nhiễm phải đưa vào bệnh viện cho đến khi xác được đem chôn đã không có bất cứ người thân nào bên cạnh.
Giữa hàng trăm ngàn cái chết thời Covid, có cái chết bất ngờ của bà Lorna Breen, nữ bác sĩ chống Covid ở tuyến đầu New York, trưởng khoa cấp cứu của một bệnh viện ở Manhattan đã tự vẫn ở tuổi 49, ngày 26.04.2020 sau thời gian phục vụ rất vất vả bệnh nhân Covid.
Bà đã bất ngờ tự vẫn, sau khi biết mình bị lây nhiễm, và lý do đã đưa đến quyết định rất buồn này chính là bà đã không thể chịu nổi căng thẳng do những cái chết đã ám ảnh suốt thời gian làm việc trong phòng cấp cứu bệnh nhân, bởi có những người bệnh chưa kịp đưa vào phòng cấp cứu đã chết trước mắt bà khi họ vừa được chuyển từ xe cứu thương vào hành lang bệnh viện. Cái chết bất ngờ của bà đã như bước chân bất ngờ của Covid đi vào thế giới! 
Giữa hàng trăm ngàn cái chết thời Covid, có cái chết vì tương lai thế giới của cụ bà Suzanne Hoylaerts ở tỉnh Vlaams-Brabant, vương quốc Bỉ, Âu Châu. Nhập viện vì Covid và phải dùng máy thở để hỗ trợ hô hấp. Nhưng vào thời điểm đó, máy thở khan hiếm, vì số bệnh nhân cấp cứu cần hỗ trợ hô hấp tăng vọt. Trước đề nghị đặt máy thở của bác sĩ, cụ bà đã nói: “Tôi không muốn dùng máy trợ thở. Xin hãy dành cho những bệnh nhân trẻ khác. Tôi đã sống một đời tốt đẹp rồi. Không sao đâu!”. Hai ngày sau, 22.03.2020, cụ bà đã qua đời vì Covid.
Cái chết hy sinh của ông bà cho tương lai con cháu, cái chết hy sinh của người già cho tương lai người trẻ, cái chết hy sinh của đấng sinh thành cho tương lai hậu duệ. Tất cả là những cái chết đẹp, như đời sống đẹp của các vị, đúng như lời cụ bà đáng kính Suzanne Hoylaerts đã nói với bác sĩ .
Giữa hàng trăm ngàn cái chết thời Covid, nếu có cái chết vì tương lai của người khác, thì cũng có cái chết vì sợ tương lai của người khác, như cái chết của bộ trưởng tài chánh Đức, ông Thomas Schaefer. Ông đã tự tử vì qúa lo âu cho tương lai đen tối của nền kinh tế bang Hesse, mà ông là người có trách nhiệm. Tuy không bị lây nhiễm Covid, nhưng sức tàn phá, hủy hoại khủng khiếp trong mọi lãnh vực của Covid đã làm ông hoảng lọan, kinh hãi, và cái chết đã là chọn lựa để được giải thoát khỏi nỗi lo sợ tưởng như vượt sức người có hạn.
Nhưng không chỉ có những cái chết vì biết mình bất lực trước tương lai đất nước, đồng bào như cái chết của bộ trưởng Thomas Schaefer, mà còn những cái chết vì sợ giây phút lưỡi hái tử thần của Covid đặt vào cổ, nên khi vừa biết mình bị lây nhiễm đã hỏang sợ và tự kết liễu đời mình, như bác sĩ Bernard Gonzales, phụ trách sức khỏe của đội bóng Reims, Pháp đã tự vẫn ngày chúa nhật 05.04.2020 vừa qua ở tuổi sáu mươi.
Giữa hàng trăm ngàn cái chết thời Covid, có những cái chết vì sức khoẻ thể xác của người khác như nhiều y tá, bác sĩ, nhân viên y tế trong các bệnh viện đã lây nhiễm và ngã gục, ra đi. Họ là những chiến sĩ qủa cảm ở tuyến đầu đã hy sinh mạng sống mình vì sự sống của đồng loại, mà mỗi buổi tối, đúng 20 giờ, toàn thể nước Pháp đồng loạt vỗ tay cám ơn và tôn vinh họ như những ân nhân của đồng bào, từ các cửa sổ, ban công.
Bên cạnh những cái chết vì sức khoẻ thân xác của đồng loại, còn những cái chết vì hạnh phúc thiêng liêng của rất nhiều linh mục, tu sĩ nam nữ, thượng tọa, đại đức, ni sư, ni cô, cả những cái chết rất âm thầm, vô danh của tín hữu các tôn giáo đã chết vì lây nhiễm Covid khi thi hành sứ vụ thiêng liêng bên các người bệnh.
Bên cạnh hàng trăm ngản cái chết thời Covid, còn những cái chết không vì Covid, nhưng vì Cô Đơn, Cô Độc của những cụ ông, cụ bà trong các nhà dưỡng lao. Các cụ không chết vì lây nhiễm, nhưng vì để tránh lây nhiễm, các cụ không còn được con cháu đến thăm cuối tuần. Vì tuổi già sống bằng tinh thần và thuốc men nhiều hơn bằng cơm bánh, nên khi tinh thần căng thẳng vì tưởng mình bị con cháu “bỏ rơi”, tinh thần khủng hoảng vì nghĩ không còn ai nhớ đến mình, các cụ đã rơi vào trầm cảm, sầu buồn, thất vọng và rất nhiều cụ đã lặng lẽ ra đi trong thời dịch bệnh Covid, vì sức mạnh tàn phá kinh dị của Cô Đơn, Cô Độc do Covid gây ra.
Qủa thực, không lúc nào chúng ta cận kề cái chết hơn lúc này, vì Covid không tha ai, không miễn trừ sắc tộc, quốc gia, thành phần, giai cấp, trình độ, tôn giáo nào; chúng ta cũng nhận diện cái chết rõ hơn, vì bất cứ sơ sót, bất cẩn, không thận trọng, mất cảnh giác nào trong giao tế, gặp gỡ cũng có thể là nguyên nhân đưa chúng ta vào bệnh viện, ra nhà xác, và cũng hơn lúc nào hết, chúng ta có thời giờ suy nghĩ về thân phận phải chết của con người, để đặt vấn đề lẽ sống, ý nghiã cuộc sống, giá trị đời sống cũng như thái độ phải có trong cuộc sống của chính mình.
Còn hai ngày nữa là mùng 1 tháng Năm, ngày của hoa Muguet tượng trưng bình an và may mắn. Người viết xin kính đến những người đã chết trong thời Covid  đóa Muguet trắng ngần và nguyện cầu ơn Bình An cho các vị ở bên kia thế giới, đồng thời xin trao tặng Bạn, những người còn sống hoặc đang vất vả chiến đấu phòng chống Covid, bảo vệ đồng loại, hoặc đang nằm bệnh viện, bị cách ly vì là nạn nhân của Covid chùm hoa Muguet tươi thắm với May Mắn tràn đầy, May Mắn bền lâu, May Mắn mãi mãi.
Jorathe Nắng Tím   

THÁNH GIUSE, NGƯỜI ĐÀN ÔNG CAO THƯỢNG


Mỗi dịp mừng lễ thánh Giuse, với bài Tin Mừng kể về những ngày đầu đời hôn nhân của thánh Giuse và Đức Maria, khi “chưa chung sống”, Đức Mẹ “đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”, mà thánh Giuse không hề biết. Việc này đã đưa đến quyết định “kín đáo bỏ đi”, vì thánh Giuse là người công chính và không muốn tố giác Đức Mẹ. Chính trong lúc âm thầm, ngậm ngùi ra đi, Thiên Chúa đã can thiệp và nói cho thánh Giuse biết tất cả sự thật: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,20-21), tâm hồn người viết lại trào dâng tâm tình yêu mến rất sâu lắng, dạt dào kính dâng vị thánh quan thầy công chính, cao thượng rất kính yêu.
Tâm tình yêu mến dâng Thánh Cả, không chỉ vì Ngài là “Người Công Chính” được Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn làm cha nuôi Đức Giêsu, Ngôi Lời làm người, mà còn vì Ngài là người chồng tuyệt vời, người đàn ông lý tưởng với tâm hồn cao thượng khi tuyệt đối tôn trọng vợ mình.
Tuyệt đối tôn trọng nên không tra vấn, hạch hỏi, bắt phải trình bầy, ép phải nói thật khi chưa chung sống mà vợ đã có thai, bởi cứ sự thường, người chồng dù bình tĩnh, qủang đại, hiền lành đến mấy cũng sẽ ít nhiều, xa gần tỏ thái độ bực bội, ghen tương, nghi ngờ, coi thường, khinh bỉ và tìm mọi cách để biết hết sự thật về bào thai không thuộc về mình; bởi như người thường, thì quyền của chồng không chỉ được chứng tỏ và thể hiện trên thân xác vợ mà cả từng ngõ ngách tinh thần và toàn diện đời sống của vợ, do uy quyền bao la, phủ kín khi làm chồng.
Tuyệt đối tôn trọng nên không tìm biết, nếu không được nói cho biết, kể cho biết, hay được mời góp ý, trao đổi. Thánh Giuse đã không muốn biết, khi Đức Mẹ không nói, vì tinh thần cao thượng đòi ngài chỉ muốn biết khi người trong cuộc muốn cho biết, chỉ tự cho phép “muốn biết”, khi sở hữu chủ của sự thật sẵn lòng chia sẻ, giãi bầy chuyện riêng của họ, bởi với người công chính và cao thượng như thánh Giuse, thì “đời riêng, riêng đời” của người khác phải được tuyệt đối tôn trọng như một vùng riêng tư “mầu nhiệm”, không gian bí mật bất khả chiếm cứ, bất khả xâm phạm.
Tuyệt đối tôn trọng nên không nói cho ai điều mình không được biết, điều mình chưa được biết, dù điều ấy liên quan đến mình, như thánh Giuse đã “không muốn tố giác”, bởi người ta có thể tố giác khi đã biết, để người làm tội phải chịu tội, và tố giác khi không biết, chưa biế, để nghi can bị hạch hỏi, điều tra, làm rõ.
Tuyệt đối tôn trọng nên bằng mọi giá không để người mình vốn thương mến gặp khó khăn, mất danh dự, không còn uy tín, bởi bất cứ “lời ăn tiếng nói” vô ý, vô tình, vô duyên hay hành động “thái qúa bất cập” nào cũng có thể trở thành nguyên nhân của đại hoạ, tai ương cho nhiều người.
Tuyệt đối tôn trọng nên chỉ còn chọn lựa sau cùng là âm thầm, kín đáo ra đi, chọn lựa mà có người cho là hèn nhát, có người lại cho là chưa đủ quảng đại.
Qủa thực, khi tôn trọng Đức Mẹ với tình yêu rất sâu sa, trìu mến và cao thượng, thánh Giuse đã bị coi là hèn nhát, thiếu cương quyết, khi không dám hỏi thẳng Đức Mẹ về bào thai, mà đáng lẽ ngài phải biết, vì là chồng. Những người này có thể đã gán cho ngài biệt danh “người chồng khờ dại bị cắm sừng”, nhưng họ đã không hiểu gì.
Họ không hiểu tình yêu đích thực của trái tim người chồng cao thượng phải được liên lỷ nuôi dưỡng bằng lòng tôn trọng, chứ không bằng thống trị, sở hữu. Lòng tôn trọng phát xuất từ tình yêu đích thực là hoa trái của tình yêu đến từ Thiên Chúa, như Thiên Chúa luôn tôn trọng con người, dù con người chỉ là thụ tạo đối với Ngài, bởi tình yêu ấy đòi hy sinh, quên mình, bỏ mình, xóa mình; tình yêu ấy đòi được đóng đinh chính mình cho hạnh phúc của người mình yêu; tình yêu ấy đòi những hoa thơm, trái ngọt Bình An cho người mình yêu được hái từ mão gai, đinh sắt, lưỡi đòng của cây Thánh Giá, nên trong trái tim yêu thương  của người chồng cao thượng không có chỗ cho ích kỷ, hưởng thụ, không có đất sống cho độc tài, độc trị, độc quyền, độc tôn, càng không có đất dụng võ cho độc ác, độc hại, nhưng bằng mọi giá, trong mọi hoàn cảnh chỉ có Bình An là hoa trái tuyệt vời của Tình Yêu đích thực, hạnh phúc viên mãn của tình yêu hôn nhân.
Vâng, thánh Giuse đã không hèn nhát, không là người chồng đáng thương, khờ dại bị cắm sừng, vì tình yêu cao thượng đã cho ngài cảm nhận: Đức Maria, vợ mình là người trung chính, thánh thiện, người trọn vẹn thuộc về Thiên Chúa, và ngài được trao phó trách nhiệm yêu thương, giữ gìn, bảo vệ, nên khi Đức Mẹ không nói gì, mà bào thai cứ lớn dần, thánh Giuse hiểu ngay: đây là việc vượt qúa điều ngài có thể suy nghĩ, vượt xa những gì ngài có thể nắm bắt, tiên liệu, và điều ấy, việc ấy chắc chắn phải có bàn tay Thiên Chúa can thiệp. Lòng tôn trọng tuyệt đối Đức Mẹ nơi Thánh Cả không là lòng tôn trọng “kiểu cách, hời hợt, quy ước”, nhưng có nền tảng là lòng kính sợ Thiên Chúa, mà cả thánh Giuse và Đức Mẹ đều bám vào như điểm tựa của niềm tin.
Thánh Giuse cũng không thiếu quảng đại, như có người phê bình, khi cho rằng: nếu quảng đại, ngài đã vui vẻ chấp nhận bào thai và sẵn sàng nuôi con người khác, kiểu “qụa nuôi tu hú”.
Thực ra, khi định tâm kín đáo ra đi, thánh Giuse rất do dự. Chính vì do dự mà ngài mới không bỏ “đi ngay”, nhưng “đi ngủ”, vì thế sứ thần mới kịp hiện đến trong giấc mộng và bảo ngài đón Đức Mẹ, vợ mình về nhà , vì bào thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần.
Ngài do dự vì ngài là người công chính, mà người công chính thì không thể làm điều bất chính, cũng không được đồng loã với những gì bị coi là bất chính. Ở đây, thánh Giuse bị giằng co giữa con người Đức Mẹ là người trung chính tuyệt vời và bào thai xuất hiện trước khi vợ chồng chung sống, ăn ở là một điều bất chính trước mặt Thiên Chúa. Vì lẽ đó, ngài do dự, phân vân, và tha thiết cầu nguyện. Đàng khác, vì biết rõ Đức Mẹ là người phụ nữ đạo hạnh, thánh thiện, thì sự có mặt bất ngờ của bào thai đã trở thành một nghịch lý không thể lý giải bằng thông minh của con người trong tim óc của thánh Giuse.
Vâng, chính trong nghịch lý không thể lý giải bởi con người ấy, Thiên Chúa đã can thiệp để người công chính Giuse được tôn vinh hơn nhờ tinh thần cao thượng, tinh thần không chỉ cần thiết để làm chồng yêu thương vợ, mà còn là tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi người, để xây dựng một xã hội hạnh phúc hơn, một thế giới bình an hơn, như Chúa muốn.
Kính lậy thánh Giuse, Bổn Mạng của Giáo Hội Việt Nam, và bổn mạng của rất nhiều người tín hữu!
Xin dậy chúng con học với Cha thánh đức Công Chính, tình yêu xóa mình để làm vinh danh Chúa hơn, và phục vụ anh em với tinh thần cao thượng.
Jorathe Nắng Tím 

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2020

ST. JOSEPH - THE SELF-DENYING WORKER


(THÁNH GIUSE – NGƯỜI LAO ĐỘNG XÓA MÌNH)
Author : Jorathe Nắng Tím
Translator : A. Prisca
Normally, the person who takes the role of the breadwinner in a family has some dominant rights, wants to become a member that others have to be in awe of and easily tends to control all family activities.
Looking at the Holy Family in Nazareth, we realize St. Joseph is the breadwinner who makes earn of living for the whole family, protects Mother Mary, together with her, nourishes and educates Jesus.
Actually, there are few stories about St. Joseph in all Gospels as if God wants to hide him from us and even he himself wants to self-erase voluntarily.
God wants to hide him , so we just know that St. Joseph belongs to the House of Jacobs , coming from the offspring of  David or more clearly in the Gospel of Luke : “When Jesus began his ministry he was about thirty years of age. He was the son, as was thought, of Joseph, the son of Heli.” (Lk 3,23). However, no tradition tells about his parents in details like Mother Mary’s ones, Joachim & Anna.
God wants to hide him, so we just know about St. Joseph through some events of Jesus’ childhood and no more clues after the event that Jesus at the age of 12 got lost in Jerusalem at the feast of Passover (cf. Lc 2,41-50)
God wants to hide him, so we just know that St. Joseph is mentioned briefly “a righteous man” (Mt 1,19) without any other praise or commendation.
God wants to hide him, so God assigns the Angel just to appear and say to him in his dreams (cf. Mt 1,20 ; 2,13.19), unlike the way to Zechariah, that is, the angel appeared to him directly in the temple (cf. Lk 1,11) or the direct way to Mother Mary in the Annunciation. (cf. Lk 1,26)
Hidden from others by God, St. Joseph voluntarily erased himself at the early time of marriage when “unwilling to expose her to shamed, he decided to divorce her quietly” beacause he did not know “it is through the holy Spirit that this child has been conceived in her.” (Mt 1,20).
St. Joseph voluntarily erased himself by living quietly to fulfill his duty as the breadwinner : loving, protecting, supporting Mother Mary , nourishing and educating Jesus.
St. Joseph voluntarily erased himself by self-sacrificing before any challenges to take the family to flee to Egypt for the sake of Jesus (cf. Mt 2,13-18).
St. Joseph voluntarily erased himself by keeping totally silent in service to the family. We can find no accounts on what he has said, even after 03 days of Jesus getting lost, while Mother Mary put one question to Jesus “Son, why have you done this to us?” (Lk 2,48).
And St. Joseph erased himself dramatically through his whole life of a normal worker : breadwinner with low income ; a carpenter making and repairing structures and fixtures from wood, from making wooden tables to the installation of kitchen cabinets for the need of any people in the village; a worker of manual labor who is usually looked down on when compared to people of mental work”; a man of a low social class with little respect from the others. The evidence is shown in the fact when Jesus came back to Nazareth, despite their praise to Jesus, people from that village did not show any great eargerness, talking to one another : “Isn’t this the son of Joseph?” and when they showed their disrespect and the rejection , Jesus said : “I say to you, no prophet is accepted in his own native place.” (Lk 4,22.24).
Indeed, St. Joseph lived a life of  “a righteous man”  as mentioned in the Gospel in terms of not only trusting in God to follow His Commandments but also the spirit of self-denial in service to God as an unprofitable servant who just fulfills what is obliged to do.
On the contrary to St. Joseph’s spirit of a self-denying worker, nowadays, the focus on individual interests and benefits in the modern society leads to the unfair world with social inequality : the lack of equality of outcome, the lack of equality of access to opportunity,  the unequal distribution of income or wealth and other kinds of injustice. We can see evidently  the Covid-19 outbreak has become a chance for speculators to take advantage of to store hundreds of piles of facemasks, hand sanitizer gel, toilet papers, causing to the shortage and price hikes of these kinds of goods around the world regardless of the urgent need in all hospitals.
On the Feast Day of St. Joseph the Worker, we keep in our hearts and our prayers all kind-hearted workers and laborers in the world : nice and kind in their daily lives, choosing warm-hearted behaviors, caring and honest in labor work, sacrifice in daily work for the sake of the others. Let us pray for one another so that all of us, in all kinds and types of occupation in the society, humbly and self-sacrificingly work as faithful servants of God, the kind and loving Lord.

THE MARY FLOWER GARDEN IN MAY

(VƯỜN HOA THÁNG NĂM CỦA MẸ)
                                                 Author : Jorathe Nắng Tím
                                                    Translator : A. Prisca
At early dawn, Mother Mary starts her busy day to take care of her special flower garden.
         
Mother Mary really has a special love for this flower garden. It has been cleared up and built up by herself from a piece of abandoned land ragged with thorny bushes and big stumps that incompletely chopped and burnt.
            Looking at how she takes care of flowers and tends her own beds lets us know the heart-burning love she gives to this garden : the way she holds a hoe, the way she cultivates camellias, hyacinths, honeysuckle, gardenias, lilies, chrysanthemums, moon cactus,  morning glory, dogwood or roses, the way she lovingly tends the flowerbeds of rose arbor on the south lawn, the magical way she cherishes the Cherokee rose… A wide variety of flowers have been brought to be nourished with her deep appreciation of beauty in her gardern, whose paths form an ornate, looping design, cutting the beds into odd shaoed but organized patterns and in which there is a large wooden arbor at the center that is thick with yellow jasmine and honeysuckle.
          This garden is considered a heavy splendid treasure that she can never keeps far away; the garden in her heart is like a sweet-natured and gorgeous daughter she can never loses; there is no doubt that the garden is such a joyful pride for her.
           However, over the past few months, Mother Mary has been seen walking silently and contemplatively every morning in this garden and pondering sadly step by step back home every evening. Her heart has been severely hurt and her eyes have been filled with tears due to the bad happenings with her beautiful flowers : roses attacked by budworms, apricot blossoms attacked by bugs, orchid spikes lacking of some more sunshine… She has become more and more anxious and worried about her garden destroyed day by day and tries to find a way out to recover and maintain “her lovely and scented flower garden”.
          The above-mentioned garden, the Mary Flower Garden, is the Garden of humankind, in which every person is a beautiful flower tree, a delicate flower branch, a sweet and fresh unopened bud with a wide variety of vivid shiny colors and pleasant fragrances under Mother Mary’s loving care and protection.
          For the last few months, this Garden has been utterly destroyed by a virus named Corona as well as other deadly viruses which are much more dangerous than Corona, called “virus of selfisheness, virus of pompousness, virus of jealousy, virus of greed, virus of severe and bloody violence, virus of backbiting, virus of false accusations, virus of slander… etc… even the virus of insult to the Creator of the World. Recently, this Garden has become a bloody battlefield, a hospital without enough beds for patients, a giant mortuary, a cemetery with collective burial pits ; all those things have cut off the joy of flowers blooming at  dawn or the dancing flower branches in spring breeze and cheery sunshine and have lead to the terribly gloomy and desperately sad atmostphere over the garden.
           Consequently , we are confused about where to find such beautiful flowers of the world to offer Mother Mary this May as we do every year for you.  
          Nevetheless, when we are in the chaos amidst the Covid-19 Pandemic, Mother Mary has shown  us another flower garden, “The New Flower Garden of Mankind”, in which all flowers bloom from “thorny crown, iron nail, lance” of The Crucified Jesus : a bunch of flowes of “Self-Scacrificing and Self-Giving Love” of those who devotedly take care of patients with coronavirus confirmed infection in hospitals, a bunch of flowers of “Compassionate Love” of those who willingly to share food and necessary goods with the poor, the homeless or the marginalized; a banquet of flowes of  Humility in Love in voluntary service to the lowly, the elderly, the humble with all great respect; bushes of flowers of Hope and Love in continuing to support and build up a better world during the dark time of the pandemic.
          Additionally, Mother Mary herself takes us to “the flower garden of Jerusalem” to encounter Jesus, her son, when we get lost in our lives ; she herself takes us to “the flower garden of Cana” to make a request to Jesus for a strong faith during our challenging lives; she herself takes us to “the flower garden of Passion” to live the full life of Jesus’disicple and to help, to protect and to comfort us when we face our daily harhships, difficulties, challenges; she herself takes us to “the flower garden of Calvary”, in which “the flower of Salvation” is now in full bloom on the Crucifix; and finally, she herself takes us to meet with Jesus and introduce us to Him : “These are my beloved sons and daughters.”
         Mother Mary, during May of this year, we would like to offer you such scented and splendid Spiritual Flowers picked up from “The New Flower Garden of Mankind”, which you have taught us how to cultivate and nourish through “Trusting Love, Self-denial Love, Serving Love, Self-giving Love” in unity with “the Great Love to lay down one’s life for the one he loves” of Jesus , Son of God and your son , to make it “The lush and fruitful Flower Forest of Salvation” for humankind.

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2020

VƯỜN HOA THÁNG NĂM CỦA MẸ

Trời chưa sáng Mẹ đã ra vườn, và “luôn tay luôn chân”, hết việc này đến việc nọ  cho đến khi trời tối.
Mẹ thương vườn của Mẹ lắm, vườn do chính tay Mẹ dọn sạch từ một miếng đất bỏ hoang, xơ xác những bụi cỏ gai và những gốc cây to bị đốn nham nhở và đốt cháy dở dang.
Mẹ trồng đủ thứ hoa, nhiều vô kể, hầu như không thiếu thứ hoa nào mà Mẹ biết, Mẹ gặp. Cứ hoa là Mẹ đem về vun trồng, chăm sóc. Không một cây nào, dù bé bỏng, gầy gò, yếu đuối đã bị Mẹ bỏ, nhưng tất cả đều được Mẹ xít xoa, trầm trồ, “khen lấy khen để” đẹp qúa, xinh qúa, thơm qúa, dễ thương qúa… và ân cần chăm bón sáng chiều.
Phải nhìn Mẹ nhẹ nhàng tiả từng nhánh cúc, cẩn thận rửa từng cánh hồng e ấp, nâng niu từng nụ qùynh mới nở, rón rén đánh thức từng khóm huệ mới đơm bông  mới thấy tình Mẹ dành cho vườn hoa, cho từng bụi hoa, từng cây hoa, từng cánh hoa lớn và sâu đậm thế nào.
Mẹ thương vườn hoa như kho tàng không thể để mất, nhớ vườn hoa như nhớ con, nhắc vườn hoa như niềm tự hào, hãnh diện, và hạnh phúc  của Mẹ là ra vườn  chăm nom, săn sóc, chữa lành ngàn hoa muôn sắc.
Nhưng từ mấy tháng nay, con thấy Mẹ đăm chiêu mỗi sáng ra vườn, và trầm tư từng bước về nhà buổi tối. Biết Mẹ không vui, biết Mẹ có nỗi buồn, biết Mẹ có niềm u uất, khi đôi mắt Mẹ không còn giấu được nhạt nhoà bên những nụ hồng bị sâu cắn, những gốc mai sần sùi bị kiến đào, những cành lan rũ rượi thiếu nắng. Trước cơn bệnh của hoa, Mẹ đôn đáo, tất bật tìm thuốc diệt sâu, trừ kiến; Mẹ  ngược xuôi chạy chữa khi hoa trong vườn theo nhau chết yểu; Mẹ lo lắng, bồn chồn trước nguy cơ vườn hoa bị kẻ gian phá hoại. Và mọi người thấy mắt Mẹ quầng thâm, tóc Mẹ điểm thêm nhiều sợi bạc. Riêng con, nghe  được tiếng Mẹ thở dài thương xót “vườn hoa qúy giá” của Mẹ.
Vườn hoa ấy là vườn hoa nhân loại, vườn hoa của Đức Maria, mà mỗi người là những cây hoa, nhánh hoa, nụ hoa, đóa hoa muôn dáng, muôn mầu được tình Mẹ trên trời bao bọc, chở che, nâng niu, chăm sóc.
Tháng hoa năm nay vườn hoa tơi tả, không chỉ vì một thứ virút có tên Côrôna, nhưng còn vì nhiều thứ dịch nguy hiểm, tàn phá gấp ngàn lần khác. Những virút ích kỷ, kiêu căng, gian tham, ganh ghét, kèn cựa, đấu đá, những vi trùng bạo lực đến mức không còn lương tri và hoàn toàn cạn kiệt tình nhân loại, những vi khuẩn  nói xấu, vu khống, mạ lỵ, chụp mũ không ngượng miệng đến vô liêm sỉ, bất nhân, tàn nhẫn, chưa kể những virút ngạo mạn phạm thượng, xúc phạm đến Đấng Tạo Dựng. Tất cả đã làm vườn hoa nhân loại của Mẹ thành một bãi chiến trường đẫm máu, một bệnh viện không còn giường nằm, một nhà xác khổng lồ, một nghiã trang toàn những hố chôn tập thể; tất cả đã làm co rúm niềm vui ban sớm của ngàn hoa khi nhỏen miệng cười đón bình minh; tất cả đã làm tê liệt tay chân khiến hoa không còn hồn nhiên nhẩy múa  dưới nắng xuân; tất cả đã làm đau đớn thân xác để hoa không còn hứng thú vui đùa, khoe sắc, toả hương trong gió; tất cả đã làm  hoa hoảng hốt, lo sợ bị bứng rễ, tiêu diệt, và cả vườn hoa của Mẹ những tháng qua đã ủ dột, khép nhụy, co mình, buồn bã.
Vì vườn hoa bị sâu bọ, côn trùng đủ loại tàn phá, như đàn con Mẹ đang thống khổ, lo âu vì dịch bệnh Covid, nên tháng hoa của Mẹ năm nay, đoàn con không biết tìm đâu hoa đẹp, hoa tươi, hoa thơm ngát để dâng Mẹ như các tháng Năm khác.   
Nhưng chưa kịp đi tìm, thì Mẹ đã chỉ cho chúng con một vườn hoa khác, “Vườn Hoa Nhân Loại Mới” với muôn hoa tươi nở từ “mão gai, đinh sắt, lưỡi đòng” của cây Thánh Giá trên đó có Đức Giêsu chịu đóng đinh: những chùm hoa Hy Sinh của Tình Yêu quên mình, khi liều thân săn sóc bệnh nhân trong các bệnh viện; những nụ hoa “Biết Chạnh Lòng” của Tình yêu chia sẻ khi chia cơm sẻ bánh cho người khốn cùng không còn gì để sống; những bông hoa Khiêm Tốn của Tình Yêu phục vụ, khi qùy xuống rửa chân anh em nghèo hèn, yếu đuối với tâm tình và thái độ thân thiện, trân qúy; những bụi hoa Hy Vọng của Tình Yêu xây dựng, thăng tiến, khi nỗ lực đóng góp cho tương lai chênh vênh, đen tối của thế giới trước đại dịch.
Không những chỉ cho chúng con vườn hoa “nhân loại mới”, Mẹ còn đích thân dẫn chúng con đi với Mẹ vào vườn hoa Giêrusalem để tìm gặp Đức Giêsu, Con Mẹ, khi chúng con lầm đường lạc lối; Mẹ đích thân dẫn chúng con đi với Mẹ vào vườn hoa Cana, ở đó đang có tiệc cưới linh đình, nhưng chẳng may hết rượu giữa tiệc, để xin Đức Giêsu, Con Mẹ làm nở hoa đức tin trong những bế tắc của đời sống; Mẹ đích thân dắt chúng con đi với Mẹ vào đường hoa Thương Khó, để đời “làm môn đệ Đức Giêsu” của chúng con không qúa căng thẳng, nặng nề vì luôn có tình mẹ nâng đỡ, ủi an; Mẹ đích thân đồng hành với chúng con vào vườn hoa  Canvê, ở đó có cây thập tự rực rỡ hoa Cứu Độ cho chúng con được cứu sống; sau cùng, đích thân Mẹ đưa chúng con đến gặp Đức Giêsu và giới thiệu chúng con với Ngài: “Đây là các con của Mẹ”.
Vâng, tháng hoa năm nay, các con của Mẹ sẽ dâng Mẹ những “hoa lòng” sắc hương rực rỡ, nồng nàn hái từ “Vườn Hoa Nhân Loại Mới” mà chính Mẹ đã dậy chúng con vun trồng, chăm sóc bằng Tình Yêu tín thác, Tình Yêu quên mình, Tình Yêu phục vụ, Tình Yêu tự hiến hiệp thông với “Tình Yêu lớn lao, cao cả là chết cho người mình yêu” của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa và Con Mẹ để cho nhân loại “Rừng Hoa Cứu Rỗi” bát ngát, ngút ngàn.
Jorathe Nắng Tím    

CHÂN DUNG MỤC TỬ NHÂN LÀNH

                           Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 4, Phục Sinh, Năm A
Hai hình ảnh không thể thiếu về người chăn chiên được Đức Giêsu mô tả trong Tin Mừng Gioan về Mục Tử nhân lành là “Tiếng gọi chiên”, và “Cửa cho chiên ra vào” (Ga 10,7), để làm nổi bật sứ vụ của người chăn chiên là “gọi tên từng con và dẫn chúng ra” đến đồng cỏ xanh, suối nước trong “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,3.10).
Quan sát người chăn chiên với đoàn chiên của anh: Anh không ngớt gọi từng con, và nhắc nhớ, khuyến khích, động viên chúng. Làm như chúng hiểu anh nói gì, dặn dò gì, nên khi người lạ nói, người lạ lên tiếng thay anh, chúng không hiểu và ngơ ngác nhìn nhau tỏ vẻ nghi ngờ, sợ hãi, vì “chúng nhận biết tiếng của anh. Chúng không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ” (Ga 10,4-5).
Khi ra vào chuồng, đoàn chiên cũng chờ tiếng nói của mục tử, và tuyệt đối không ra khỏi chuồng khi không có mặt người chăn giữ chúng, vì chúng sợ bị kẻ trộm bắt đi. Chúng cũng không liều lĩnh trốn khỏi chuồng đi lang thang một mình trong rừng, vì biết có nhiều sói dữ rình rập, chực chờ vồ lấy chúng, và ăn thịt (x.Ga 10,12).
Với hình ảnh “tiếng nói của mục tử”, Đức Giêsu nhắc đến sứ vụ của Ngài là Ngôi Lời của Thiên Chúa, là Tiếng Nói của Thiên Chúa với nhân loại, cũng như toàn bộ Cựu Ước là lịch sử “Thiên Chúa nói với con người”, và con người tin vào Ngài nhờ lắng nghe tiếng Ngài.
Như thế, Thiên Chúa đã là người đi bước trước đến với con người bằng “mở lời” nói với con người, như trực tiếp nói với Ápraham, Môsê, và gián tiếp qua các ngôn sứ nói với dân Ngài trong Cựu Ước. Cũng vậy, trong Tân Ước, Thiên Chúa đã sai sứ thần Gabrien mở lời với Đức Maria ở ngày Truyền Tin, và chính Đức Giêsu đã trực tiếp mở lời kêu gọi các môn đệ bên bờ hồ Galilê: “Các anh hãy theo tôi!” (Mt 4,19).  
Thiên Chúa luôn mở lời trước, đề nghị trước, mời gọi trước, và dành cho con người toàn quyền trả lời đồng ý hay không đồng ý, chấp thuận hay khước từ, với tất cả tự do được Thiên Chúa tuyệt đối tôn trọng. Đó là lý do có rất nhiều người đã được Đức Gêsu “mở lời” mời làm môn đệ, nhiều người được gọi theo Ngài, nhưng con số đáp trả rất ít, số người trả lời tích cực không nhiều, như thánh Gioan đã viết: “Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1) “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian, và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,10-11).
Tiếp đến, Đức Giêsu chọn hình ảnh Cửa chuồng chiên, bên cạnh hình ảnh Tiếng Gọi khi nói về người mục tử nhân lành, vì đoàn chiên cần chuồng để được an toàn, cần nơi có cửa nẻo khép kín, có hàng rào ngăn chặn để người lạ, kẻ trộm, sói dữ không thể đột nhập, xâm phạm, phá hoại, cắn giết. Và chỉ khi được ở trong chuồng có cửa khép cẩn thận, có chủ chăn trông nom, đoàn chiên mới thoải mái, bình an.
Là Cửa, người chăn chiên vừa thi hành trách nhiệm gìn giữ, che chở, vừa thực hiện bổn phận giải phóng, khi tập cho đoàn chiên trưởng thành với ý thức tự do, vì chuồng chiên không là trại giam, và người gác cửa chuồng chiên không làm công việc của công an gác cổng nhà tù, bởi chiên có quyền đi ra đi vào: đi vào để ngủ nghỉ an toàn, để khỏi bị mưa ướt, sương lạnh, để kẻ trộm và sói dữ không lợi dụng sơ hở, trống trải mà “giết hại, phá hủy”, cướp đi mạng sống, đồng thời đi ra để “gặp được đồng cỏ” (Ga 10,9), hầu được “sống và sống dồi dào” (Ga 10,9-10).       
Thực vậy, Đức Giêsu nhận mình là Mục Tử nhân lành: mục tử biết nói với chiên, và chiên lắng nghe tiếng Mục Tử (x. Ga 10,3). Nói điều này, Đức Giêsu nhấn mạnh tầm quan trọng của tiếng nói, bởi không tiếng nói giữa mục tử và đoàn chiên, không trao đổi giữa chúa chiên và con chiên, không đối thoại giữa người chăn dắt và đám đông được chăn dắt, thì không thể có đoàn chiên đúng nghiã, không thể có chuồng chiên an bình, không đấu đá, và không thể có đoàn thể chiên, cộng đoàn chiên “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Nhưng ai phải nói với ai, và ai giữ phần quyết định thành - bại trong đối thoại, để “mục tử nghe được tiếng chiên, và chiên nghe biết tiếng mục tử”, mà không ngược lại: chủ chiên và chiên, cả hai không ai chịu nghe ai”?
Hỏi tức trả lời, vì chủ chiên là người nói trước, người mở lời, và trách nhiệm đầu tiên của mục tử là nói với đoàn chiên, nên nếu mục tử không nói, không muốn nói, không biết nói gì, hoặc nói mà chiên không hiểu, thì qủa thực đối thoại không đạt chuẩn thành công. Tệ hơn, nếu chủ chiên chỉ nói những gì mình muốn, những gì có lợi cho riêng mình, nói những chuyện không thuộc phận vụ phải nói, nói những chuyện không liên quan đến hạnh phúc của đoàn chiên, không đáp ứng nhu cầu sống của đoàn chiên, không giải quyết những vấn đề thiết thực của đoàn chiên, thì coi như tương quan chủ chiên - đoàn chiên bị tắc nghẽn, đóng băng. Nhưng còn tệ hơn gấp bội, nếu chủ chăn dùng quyền “mở lời, nói trước” của mình mà độc thoại, độc diễn, độc chiếm micrô để “thánh tướng” khoe khoang thành tích, đánh bóng “cái tôi”, mỉa mai, chỉ trích những con chiên không ngoan ngùy, dễ bảo, “mắng vốn mắng lời” người này người nọ, bôi bác, hạ nhục đám này, trách móc, thĩa bãi xa gần phe nhóm kia làm cho chuồng chiên mất bình an, đoàn chiên  chia rẽ, hoang mang, hoảng lọan.
Cũng thế, nếu đoàn chiên thấy cửa chuồng ngày càng giống cổng nhà giam, cửa sắt trại tù, thì chúng sẽ không hớn hở nối đuôi nhau chạy vào chuồng để được nghỉ ngơi, thư giãn. Trái lại, nếu mặt người giữ cửa hung bạo, dữ dằn, lại nóng giận “đằng đằng sát khí”, dò xét, đe dọa thì chiên sẽ nói nhỏ với nhau và cùng tìm đường chuồn, không về chuồng nữa để thoát thân, bảo toàn mạng sống, dù đời lang bạt sẽ nhiều rủi ro, và cuộc sống “không cửa không nhà” hứa hẹn nhiều vất vả, nhọc nhằn.
Vì thế, Đức Giêsu không chỉ mô tả “suông và hời hợt” hình ảnh Tiếng Nói và Cửa chuồng chiên, mà không căn dặn các môn đệ điều phải làm để là Tiếng Nói của chủ chiên đích thực, và Cửa bảo đảm an toàn và hạnh phúc của đoàn chiên. Trái lại, Ngài đã dậy các môn đệ là những mục tử nối bước chân chăn chiên của Ngài bài học quan trọng như bửu bối để trở nên mục tử nhân lành như Ngài. Bài học, bửu bối đó chính là Tình Yêu sẵn sàng hiến mạng sống của chủ chiên cho đoàn chiên mình chăn dắt.  
Vâng, Đức Giêsu đã lấy chính mạng sống để bảo đảm cho Tiếng Nói đích thực và Cửa an toàn của Mục Tử nhân lành, bởi “không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình cho người mình yêu” (Ga 15,13), khi qủa quyết: “Tôi chính là Mục Tử nhân lành. Mục Tử nhân lành hy sinh mang sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,11).
Vì yêu đến sẵn sàng hiến mạng, nên sẽ không có mục tử từ chối nói với đoàn chiên của mình, vì Mục Tử nhân lành là người yêu thương chiên, “biết chiên” (Ga 10,14) và “gọi tên từng con” (Ga 10,3); sẽ không có mục tử độc thoại, khống chế, áp đặt, bắt chiên phải gục đầu, nhắm mắt nghe mà không được đối thoại, vì mục tử nhân lành là người có đủ tư cách để nói: “Tôi biết chiên của tôi, và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10,14), bởi biết nhờ trao đổi, trao đổi để hiểu biết nhau hơn; sẽ không có chủ chăn không biết cách nói, hoăc không biết nói gì, vì khi yêu thương đoàn chiên đến độ “tự ý hy sinh mạng sống mình”, trong khi “mạng sống của mình không ai lấy đi được” (Ga 10,18), thì nội dung Tiếng Nói của mục tử sẽ là tình yêu mãnh liệt của chủ chiên nhân lành dành cho đoàn chiên, và chính trái tim đầy “tình yêu chiên” sẽ chỉ cho người chăn chiên cách nói hay nhất, cách nói dễ thương nhất, cách nói ân tình cha con nhất, cách nói thuyết phục nhất, cách nói tuyệt vời của Chúa Thánh Thần có sức biến đổi trái tim, đổi mới cuộc đời của đoàn chiên, để chiên không phải thiếu gì, nhưng được thỏa thuê no đầy, thảnh thơi, hạnh phúc bên bờ suối trong, trên đồng cỏ xanh rì.
Thực vậy, chỉ với tình yêu “sẵn sàng hiến mạng sống mình cho đoàn chiên”, người chăn chiên mới chu toàn được sứ vụ là Tiếng Nói và Cửa cho đoàn chiên. Cũng với tình yêu mãnh liệt và liều lĩnh là dâng hiến cả mạng sống, mục tử mới có thể trở thành mục tử nhân lành, người chăn dắt nhân hậu, và khi đó, không cần phải có tài hùng biện, hay “thôi miên”, lôi cuốn, cũng chẳng cần văn chương hoa mỹ, với những ngôn từ có cánh, mục tử nhân lành vẫn đánh động tâm hồn đám chiên ghẻ lở, ngang ngược; vẫn đưa về chuồng những chiên lầm đường lạc lối trót nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của sói rừng; vẫn được đoàn chiên chăm chú lắng nghe, nhất là mãi mãi được đoàn chiên yêu thương, tín nhiệm, để  trao đổi tâm tư, trút bỏ tâm sự, cởi mở cõi lòng với chủ chăn, cho Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa được đón nhận, như người đàn bà Samari ngoại đạo đã trân trọng nghe và chân thành nói với Đức Giêsu bên bờ giếng Giacóp. Nhờ vậy, bà đã nhận ra Ngài là Mục Tử nhân lành, là Đấng Thiên Chúa sai đến trong thế gian để yêu thương và cứu độ mọi người, không trừ ai.
Jorathe Nắng Tím