Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

BẠO HÀNH TRẺ THƠ


Tôi biết chắc một điều: những bạn đọc yêu qúy của tôi sẽ không bao giờ là người cha, người mẹ bạo hành con cái, và tôi tin rằng: các bạn hiểu hơn ai hết tội ác nặng nề nhất mà loài người gây ra chính là tội bạo hành trẻ thơ.
Báo chí thế giới không ngừng đưa những tin động trời làm nghẹt thở và quặn thắt ruột gan: những em bé bị người thân đánh đập đến thương tật, những em bé bị cha mẹ bỏ đói, nhốt trong tủ, dưới hầm tối; những em bé bị bắt lao động khi “ăn chưa no, lo chưa tới”; những em bé bị bán cho các động đĩ, bị hãm hiếp tình dục; các em bé bị tập trung trong các trại huấn luyện quân cảm tử; những em bé bị lấy đi nội tạng và bóc lột dã man.
Thế giới loài người ngày càng nhiều người điên đang làm tổn thương, băng hoại tuổi thơ qua những tội ác không thể tha thứ. Những em bé vô tội, trong trắng miệng còn hơi sữa đã vô phúc trở thành nạn nhân của thú tính, của tàn bạo, dã man. Bao nhiêu bút mực, bao nhiêu phiên toà đã sôi sục, nóng bỏng quanh những tội ác bạo hạnh tuổi thơ. Đang khi viết bài này thì đài truyền hình FR3  loan tin: Không xa Angoulême, một người đàn ông 32 tuổi vào tiệm ăn tối với cô bạn gái có đứa con 29 tháng tuổi cùng đi. Em bé khóc trong khi mẹ đi vệ sinh. Bực mình vì phải nghe tiếng con nít khóc, người đàn ông  đã thô bạo nhấc bổng em bé và đập đầu em vào tường, rồi thả tay cho em rớt xuống nền gạch. Em bé vỡ đầu chết tại chỗ…
Bạo hành tuổi thơ là dùng sức mạnh để hiếp đáp, lạm dụng, bóc lột, hãm hại trẻ thơ. Có nhiều hình thức bạo hành:
1.   Bạo hành thân thể: 
Chẳng hạn em bé bị cha mẹ đánh đập, bị bỏ đói, bị trói chân tay bỏ trong phòng tối…. và tất cả những hành động khác làm tổn thương thân xác em như bắt em làm việc cực nhọc, khai thác triệt đề sức “chưa được phép” lao động của em.
2.   Bạo hành tinh thần :
Như áp đảo tinh thần em bé, làm cho em hoảng sợ, kinh hãi, không cho trí não em được tự do và bình thường phát triển bằng “nhồi sọ, tẩy não”. Bên Phi Châu có những em bé chưa đầy 10 tuổi đã bị đưa vào những trại huấn luyện  cảm tử quân. Bị bắt vào đây, các em bị “nhồi nặn, uốn ép” thành những quân khủng bố tinh nhuệ và liều lĩnh sẵn sàng ôm bom, thí mạng .
3.   Bạo hành tình dục:
Đây là bạo hành đang làm thế giới điên đảo, mất ăn mất ngủ. Thế giới mất thăng bằng vì nhiều con người mất thăng bằng đã dùng bạo lực phá hoại và triệt tiêu nhân vị của người khác, nhất là của các em bé bằng biến nạn nhân thành những đồ vật, phương tiện thoả mãn thú tính. Rất nhiều em bé đã là nạn nhân của bạo hành tình dục bởi chính những người thân quen. Không thiếu những chú bác, anh em họ, bạn bè của cha mẹ hay bạn của anh chị đã hiếp dâm những em bé đáng tuổi con cháu mình. Không thiếu những em bé đã bị bạo hành tình dục bởi chính những người có trách nhiệm tinh thần và bổn phận bảo vệ các em. Nhiều cơ quan, đoàn thể đã vào cuộc để dập tắt ngọn lửa dâm dục tàn phá tuổi thơ và vấn đề ấu dâm đã trở thành mối lo nhức nhối của nhân loại.
Tại sao có hiện tượng quái đản này?
Trước hết do truyền thông xấu đã ảnh hưởng trên nhiều người. Hãy đọc thống kê của ONU năm 2009: hơn 600.000 trang web về ấu dâm, 4 triệu trang web đăng đàn hình ảnh các em bé cho thiên hạ  ngắm nghiá, tìm tòi, hơn 40% trẻ em từ 10 đến 16 tuổi đã ít là một lần xem phim sex trên Internet; chưa kể những phim ảnh, sách báo “khai thác, quảng bá, ủng hộ, dung dưỡng” bạo lực.
Tiếp đến là khuynh hướng thả lỏng tình dục mà không có một hướng giáo dục tình dục đúng đắn. Sau cùng là chủ trương “cá nhân chủ nghiã, tôn sùng “cái tôỉ ” đã nhắm mắt trước những lạm dụng thân xác trẻ  bắt đầu từ những mức độ vi phạm thấp  đến những vi phạm trầm trọng, không thể cứu chữa. Bên cạnh đó, đạo đức gia đình lỏng lẻo sản sinh những lương tâm bệnh hoạn khi chủ trương “tất cả đều được phép”; thêm vào đó là tình trạng  thoái hoá luân lý và mất thăng bằng tâm lý nơi người lớn. Tất cả cùng lúc đã tạo nên những cơn chấn động “bạo hành tình dục” làm tan nát cuộc đời các em bé và xô đẩy tương lai các em xuống vực sâu của tủi hận.    
Người ta không khỏi rùng mình khi đọc những tài liệu điều tra về tội ác bạo hành tré thơ. Người ta cũng chưa hết kinh tởm khi nghe những tâm sự não nề, đắng đót của các nạn nân trẻ tuổi. Nhiều người đã không đủ can đảm để đối diện với những tang thương kinh khủng này và không dằn được phẫn nộ khi đứng trưóc những tác nhân đã gây tội ác.
Hậu qủa không thể tránh được ở nạn nhân là khủng hoảng tâm lý trầm trọng, nhiều cơ năng tâm sinh lý bị xáo trộn, mất trật tự, khả năng tinh thần giảm sút và nhất là sinh hoạt tình dục bị tê liệt, mất quân bình. Đau khổ nhất là những hình ảnh hung bạo, dã man ăn sâu vào tâm trí trẻ thơ tạo nên những vết nứt  tình cảm: giận dữ, hận thù, dửng dưng, lãnh đạm; đồng thời nạn nhân mất hết khả năng thích nghi với cuộc sống và hứng thú dấn thân, nhập cuộc.

Để tránh cho con cái thảm họa khôn lường “bị bạo hành”, cha mẹ phải:
a.   Luôn gần gũi con cái và tinh tế nhận ra những nguy hiểm có thể xẩy đến cho con. Thí dụ: không để con ở một mình với những người bạn sơ giao hay những người lạ chưa thân thiết. Tránh để con thân mật với những người “không bình thường tâm lý”, đời sống luân lý đáng nghi ngờ và những người đã một lần sai phạm trong phạm vi tình dục.
b.   Thường xuyên quan sát thân thể con để kịp thời phát hiện những dấu vết đáng nghi ngờ.
c.    Năng nói chuyện với con, nhất là khi con có những cử chỉ không bình thường.
d.   Tạo lòng tin nơi con để con không ngần ngại nói hết với cha mẹ những vấn đề riêng tư, kín đáo.
e.    Biết rõ những bạn bè của con và những người lớn mà con thường lui tới.
f.     Phá tan luật yên lặng vì yên lặng là luật của thần dữ. Các phe đảng Mafia chủ trương luật yên lặng để giữ những bí mật tội ác, bịt đầu mối và thủ tiêu nạn nhân cũng như thủ phạm gây tội ác. Cha mẹ phải đặc biệt giúp con cái phá tan luật yên lặng man rợ, phi nhân và chết chóc này bằng cách  siêng năng đối thoại với con.

Ngoài những biện pháp mang tính ngăn ngừa, đề phòng, cha mẹ còn phải thực hiện những việc tích cực như làm gương cho con  bằng kiến tạo một đời sống an bình, hoà nhã trong gia đình. Những cãi vả, chửi rủa, đánh đập giữa vợ chồng là điều tối kỵ gây nên ấn tượng bạo lực trong đầu óc còn non nớt, thơ ngây của con. Những hành động hung bạo  đi ngược tinh thần yêu thương, đùm bọc trong gia đình sẽ ảnh hưởng rất xấu trên nhân cách của con. Một tuổi thơ “bạo lực” sẽ không thể cho một tuổi lớn bình an. Một em bé quen sống bạo lực sẽ không thể là người lớn biết yêu thương.
Ước mong tất cả các cha mẹ trên thế giới ý thức:  gia đình hạnh phúc là gia đình không có chỗ cho bạo lực, dù đó là bạo lực trong tư tưởng hay ngôn từ.

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2020

NGƯỜI GIEO HẠT

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 15, TN, Năm A
Hình ảnh đẹp ở người nông dân là gieo hạt, bởi khi gieo hạt, người ấy đã nói lên được những đức tính cao qúy của con người, đó là hào sảng quảng đại và tin tưởng, hy vọng.
Người gieo hạt thật hào sảng, quảng đại khi tay vung cao, vung xa những nắm hạt giống trên ruộng. Người ấy không so đo, ki bo khi gieo; không nhút nhát, nghi ngại khi tung cao và xa từng nắm hạt chặt tay; không tiếc nuối, xót xa ođng đếm từng hạt, nhưng cởi mở tấm lòng và vui vẻ qủang đại  gieo.
Cử chỉ gieo thật đẹp, vì gieo la cho đi, là dâng tặng, là trao ban; gieo là không giữ riêng cho mình thúng hạt giống, không đầu cơ tích trữ nhưng phân phát, chia sẻ với mọi người, nên người gieo hạt không thể là người ích kỷ, chỉ nghĩ cho mình, vun vén cho riêng mình.
Người gieo hạt còn là người tin tưởng và hy vọng. Người ấy tin tưởng hạt giống được gieo là hạt giống tốt, tin tưởng hạt giống sẽ cho vụ mùa bội thu. Ông còn đặt tất cả hy vọng vào thửa ruộng đã được dọn, thửa ruộng mà ông luôn hy vọng sẽ mầu mỡ để cho hoa trái tốt tươi, mùa màng trù phú.
Đức Giêsu đến từ Trời để gieo hạt giống Nước Trời trong tâm hồn mỗi người, và Ngài ao ước hạt giống ấy lớn lên, sinh hoa kết trái, như ngôn sứ Isai đã loan báo: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc…” (Is 55,10). Và  suốt những năm tháng ở dương thế, Đức Giêsu đã dong duổi gieo hạt giống “Lời Thiên Chúa”, và với Giáo Hội, công cuộc gieo hạt Lời cứu rỗi ấy sẽ tiếp tục giữa muôn dân mãi cho đến tận thế.
Ngoài thái độ hào sảng, quảng đại và tin tưởng, hy vọng của người gieo hạt, Tin Mừng Matthêu còn làm nổi bật thái độ tôn trọng tự do của Đức Giêsu đối với  người đón nhận, khi Ngài đặt nặng phần trách nhiệm của người đón nhận Lời Thiên Chúa, như hạt giống được gieo.
Theo Ngài, mỗi người có tự do để đón nhận hay từ chối hạt giống Lời Thiên Chúa, và tự do để làm cho hạt giống ấy sinh sôi nẩy nở “gấp trăm, gấp sáu chục, gấp ba chục hay cháy khét, chết khô, chết nghẹt” (x. Mt 13,7-8), và nhấn mạnh tự do này bằng câu kết luận “lạnh” như gáo nước làm tỉnh người: “Ai có tai thì nghe” (Mt 13,9).      
Thực vậy, người gieo hạt đã làm phận vụ của mình với lòng qủang đại và tin tưởng, hy vọng. Người ấy đã không chỉ tin tưởng vào Hạt Giống tốt, mà còn hy vọng vào thửa ruộng mầu mỡ của tâm hồn người đón nhận. Phần còn lại là trách nhiệm của người đón nhận, bởi Lời Thiên Chúa không làm áp lực trên ai, không áp chế, áp đảo ai, nhưng tôn trọng tự do chọn lựa và đón nhận của mỗi người. Vì thế sẽ có hạt Lời Chúa bị mất đi trong những tâm hồn dửng dưng, kiêu căng, ngạo mạn; hạt Lời Chúa héo úa, còi đẹt trong những tâm hồn “ba phải”, cuốn theo chiều gió; hạt Lời Chúa chai cứng trong những tâm hồn vô cảm, ích kỷ, ăn người.
Nhưng dù thế nào đi nữa, dù rủi ro, khó khăn, nguy hiểm đến đâu đi nữa, người gieo hạt vẫn hào sảng, quảng đại gieo Lời Thiên Chúa, và tin tưởng, hy vọng vẫn có những thửa ruộng mầu mỡ, những tâm hồn được chuẩn bị chu đáo, những trái tim đã sẵn sàng đón nhận Hạt Tin Mừng và hăm hở làm cho Hạt ấy sinh hoa kết qủa gấp trăm, để đáp lại lòng qủang đại, tin tưởng, và kỳ vọng của người gieo là Đức Giêsu, Thiên Chúa.
Jorathe Nắng Tím 

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2020

VĂN HÓA CẢM THÔNG

Khi nói đến cảm thông, người ta nghĩ ngay đến “thấu hiểu và thương yêu”. Thấu hiểu tâm sự, nỗi niềm, hoàn cảnh của một người và chạnh lòng thông cảm, thương yêu người ấy.
Trước dòng lệ của người khác, người vô cảm sẽ lạnh lùng nghĩ: nước mắt cá sấu, nhưng người có trái tim cảm thông sẽ đặt mình vào hoàn cảnh đau lòng của  người đang khóc, và bùi ngùi thương cảm; đối diện với người ăn xin luôn miệng khẩn khoản lòng tốt của “ông đi qua bà đi lại”, người ki bo, ích kỷ sẽ dửng dưng bịt tai, bỏ đi, khác với người có tấm lòng sẽ  tự nguyện đứng lại để hiểu nỗi ô nhục phải lê lết ăn xin, nỗi đau của cơn đói, nỗi buồn ở thân phận sống nhờ “cơm thừa canh cặn” của bá tánh, và mủi lòng thương xót, chia sẻ; bên cạnh người mù loà, què quặt, người độc ác sẽ “phán” ngay mà không ngượng ngùng: “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, mà không chút xót xa cho thân phận tật nguyền rất đáng thương; đối mặt với những người sa cơ thất thế, gặp vận không may, người thiếu cảm thông sẽ chẳng ngại phun ra những lời nguyền rủa đắng đót: “Nhân qủa nhãn tiền”, “đáng đời  tên gian ác bị Trời phạt”.
Trong xã hội hôm nay, những con người kiêu căng, vô cảm, kỳ thị ngày càng nhiều và số đông đó đang làm đổ vỡ nền văn minh tình người, tạo nên một lối sống vô cảm, khi trái tim không còn rung cảm, thông cảm, thương cảm trước bất hạnh, khổ đau, kém may mắn của người khác
Thực vậy, người ta có thể tổ chức hoành tráng những phong trào bảo vệ nhân quyền, những cuộc biểu tình đòi quyền sống cho người phụ nữ, những buổi xuống đường tranh đấu cho quyền lợi của trẻ em, người nghèo, nhưng tất cả sẽ không mang lại kết qủa tích cực nào, nếu bỏ quên giáo dục tâm hồn, và xây dựng nền văn hoá cảm thông.
Bởi tâm hồn là tổng hành dinh điều khiển và quyết định sinh hoạt xã hội của mỗi người, nên chỉ một tâm hồn chai đá, vô cảm, một trái tim không rung cảm, một con người không biết chạnh lòng trước nhu cầu, khốn quẫn của tha nhân cũng đủ làm nhiều người sống chung phải thất vọng, nói chi đến cả xã hội mà phần đông đều vô cảm, vô tình.
Bởi trái tim có biết thấu hiểu, trí óc mới mở ra để hiểu thấu đáo hoàn cảnh đáng thương của người khác; trái tim có cảm thương, đôi bàn tay mới mở ra, cánh tay mới giang rộng chia sẻ, bao bọc, và đôi chân mới đi tới tìm kiếm, đồng hành, nên khi trái tim đóng kín cửa, chính là tình yêu bị cấm vận và tình người bị bức tử.
Để có được tâm hồn biết chạnh lòng cảm thông, và xã hội không còn bị chiếm đóng bởi đa số vô cảm, chúng ta cần can đảm loại bỏ những ý tưởng, quan niệm sai lệch về con người, những phát ngôn không chỉ không phù hợp mà còn xúc phạm nhân phẩm, chống lại con người. Chẳng hạn  như câu nói rất thiếu văn hoá, thiếu tình người, thiếu hiểu biết nhưng rất thường nghe: “Cây độc không trái, gái độc không con”, khi nói về người đàn bà son sẻ.
Câu nói thật tàn nhẫn, ác độc. Câu nói như án lệnh nặng nề trên cửa miệng của nhiều người, kể cả những người có tiếng “đạo đức”, vì  không ý thức tính vô lý và mức độ độc ác của vô cảm, vô đạo đức biểu hiện qua câu nói đầy chì chiết, khinh khi, miệt thị. Đó là những “câu nói” do nhiều người nói nên quen, quen nên  cho là định luật, chân lý, một thứ chân lý, đnh luật sai lạc từ căn gốc được làm nên bởi đám đông không văn hoá cảm thông.
Đám đông thiếu văn hoá cảm thông này thường hời hợt. Vì hời hợt nên không tìm hiểu thấu đáo, nhưng vội vã đưa ra nhưng phán đoán, nhận định lệch lạc, bằng những so sánh kệch cỡm và hoàn toàn thiếu hiểu biết. Kệch cỡm vì hai vế không cùng phạm trù, thiếu hiểu biết vì vô lý tận chân răng, khi chuyện có con hay không có con đâu phải hoàn toàn lỗi của đàn bà, cũng như chuyện sinh con trai hay con gái cũng đâu do đàn bà muốn là được, nhưng tùy thuộc và do hai người đàn ông, đàn bà trong cuộc cộng tác tạo nên.
Đám đông thiếu văn hoá cảm thông còn chịu áp lực khống chế của ích kỷ, vì không ai muốn người khác hơn mình, nên khi có cơ hội nhận chìm người khác, có “cơ may” đạp đổ người chung quanh là người ta mau mắn nhập cuộc, kéo bè kéo đảng thi nhau ném đá, và a dua, đồng loã vùi giập không thương tiếc. Đừng quên: khuynh hướng bạo lực phát sinh từ ích kỷ luôn giữ thế mạnh trong con người, nên khi có dịp là lập tức bùng phát dữ dội.
Tóm lại, để xây dựng một nền văn hoá cảm thông, thiết tưởng mỗi người phải bắt đầu bằng gạt bỏ những thói quen suy nghĩ, thói quen phát ngôn, thói quen ứng xử thiếu hiểu biết thấu đáo hoàn cảnh của người bên cạnh, như thay vì buông những câu phê phán hồ đồ, nặng nề, tàn nhẫn, chúng ta cần tôn trọng và cảm thông nỗi khổ, bất hạnh, kém may mắn của họ với tâm tình của một người hiểu biết, có tình người. Và chắc chắn cuộc sống xã hội sẽ nhẹ nhàng, thoải mái, hạnh phúc hơn rất nhiều, khi mọi người biết tự đặt mình vào hoàn cảnh khó khăn, bế tắc của tha nhân để biết “chạnh lòng thương cảm” và chia sẻ thân phận làm người vốn bất toàn, vô thường của nhau.
Ước gì nền văn hóa cảm thông ngày càng được trân trọng, xây dựng, phát triển trên quê hương, để dân mình bớt tủi, bớt đau, bớt khổ, bớt buồn, vì dù gì chúng ta vẫn còn có nhau để được cảm thông, chia sẻ, khi tang thương tứ phiá từ bao đời đã qúa đè nặng trên dân tộc dễ thương nhưng cũng đáng thương này.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 6 tháng 7, 2020

CON YÊU MẾN MẸ, VÌ MẸ LÀ MẸ ĐỨC GIÊSU VÀ MẸ CHÚNG CON

Người vợ hiền không thể tự hào yêu chồng mà khinh bỉ mẹ chồng, cũng như người chồng tốt không thể hãnh diện yêu vợ hết tình, hết mình, mà coi thường cha mẹ vợ, bởi một lý do rất đơn sơ: những người ấy đã sinh ra và nuôi dưỡng, giáo dục người mình yêu thương.
Vì thế, sẽ rất khó  chấp nhận những phong trào đòi giảm bớt hay hủy bỏ vai trò của Đức Mẹ trong công trình cứu độ loài người của Đức Giêsu; rất khó quan niệm  cao trào hạ giá Đức Mẹ cách này hay cách khác, khi triệt để  đẩy Đức mẹ xa khỏi  Đức Giêsu Thiên Chúa, cho dù Thiên Chúa ấy làm người trong lòng Đức Mẹ. Khuynh hướng này ngày càng  gần với chủ trương của anh em Tin Lành và đang có nguy cơ loại trừ Đức Mẹ khỏi công trình cứu độ của Đức Giêsu ở một số nhà thần học công giáo.
Phần chúng  con, chúng con yêu mến Mẹ vì Mẹ là Mẹ của Đức Giêsu, Đấng chúng con yêu mến, tôn thờ và phụng sự.
Tin Mừng kể từng chi tiết sự việc sứ thần truyền tin và giây phút Mẹ thụ thai Đức Giêsu bởi phép Chúa Thánh Thần. Thánh sử Matthêu còn tỉ mỉ thuật lại hoàn cảnh rất éo le và tâm trạng bối rối toan tính bỏ đi cách kín đáo của thánh Giuse, khi thấy Mẹ có thai mà thánh cả không hay biết. Rồi những ngày sinh con ở Bêlem, vất vả trốn qua Ai Cập để tránh lệnh truy lùng Hài Nhi Giêsu của vua Hêrôđê (x. Mt 1,18-23). Thánh Luca còn cẩn thận ghi lại ngày Mẹ dâng Chúa trong Đền Thờ, biến cố lạc mất Chúa ở Giêrusalem năm mười hai tuổi, và đời sống ẩn dật ở Nadarét, ở đó “Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghiã đối với Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52).
Như thế, không ai có thể chối cãi, hay phủ nhận Mẹ là mẹ thật của Đức Giêsu, vì chính Mẹ đã sinh ra, nuôi dưỡng, giáo dục Đức Giêsu; cũng chính Mẹ luôn có mặt và đồng hành với Đức Giêsu trên từng cây số của hành trình truyền giáo cho đến cây số cuối cùng trên Núi Sọ, Mẹ cũng đứng đó dưới chân Thánh Giá để “cùng chết với Con mình” cho nhân loại được cứu sống. Và những ngày sau phục sinh, Mẹ đã luôn hiện diện với các môn đệ của Con Mẹ  để ủi an, nâng đỡ, đồng hành với họ trong sứ vụ loan báo Tin Mừng của Con Mẹ cho thế giới.
Thực vậy, Mẹ luôn ở đó, ở đó với Đức Giêsu, ở đó với Nhóm Mười Hai, ở đó với Giáo Hội như Tin Mừng thường viết khi nói về Mẹ: “Có mẹ Đức Giêsu ở đó” (Ga 2,1 ; Cv 1,14) .
Ở đó như Mẹ của Thiên Chúa, vì Mẹ là Mẹ thật của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, như công đồng Ephêsô năm 431 đã tuyên tín: “Nếu ai từ chối tin Thiên Chúa làm người là Thiên Chúa thật và Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa, vì Mẹ đã sinh ra Ngôi Lời làm người, người ấy sẽ bị vạ tuyệt thông”.
Ở đó như Mẹ của Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất của loài người, bởi  tội nguyên tổ và tội riêng đã làm con xa Thiên Chúa, mất ân tình nghiã thiết với Ngài. Nhưng nhờ sự chết và sống lại của Đức Giêsu, Con Mẹ, chúng con đã được chuộc lại, khi Ngài gọi chúng con “ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” (1Pr 2,9), để được trở nên anh em của Ngài, tức con của Mẹ. 
Ở đó như Mẹ của Đức Giêsu, Hy Vọng của  chúng con. Đó là niềm hy vọng được sống lại với thân xác ngày sau hết, nhờ sự sống lại của thân xác Đức Giêsu, thân xác đã được sinh ra từ cung lòng Mẹ, như chúng  con hằng tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”.
Không chỉ yêu mến Mẹ vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đấng Cứu Độ, Hy Vọng của chúng con, chúng con còn yêu mến Mẹ vì mẹ là Mẹ chúng con.
Là Mẹ chúng con, vì chính Đức Giêsu, con Mẹ, trước khi tắt thở trên Thánh Giá đã trăn trối và giới thiệu Mẹ là Mẹ của chúng con, khi nói với môn đệ Gioan: “Đây là Mẹ con” (Ga 19,27).
 Là Mẹ của chúng con, vì Đức Giêsu là Đầu của Thân Thể Giáo Hội, và chúng con là chi thể của Thân Thể ấy, như thánh Louis - Marie Grignion de Montfort đã khẳng định: “Người mẹ không thể chỉ sinh ra đầu của đứa con, mà cùng lúc không sinh ra các chi thể khác. Trường hợp ấy chỉ có thể là qoái vật. Trong trật tự siêu nhiên cũng thế, nếu một chi thể của Thân Thể mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô được sinh ra bởi một người mẹ khác Đức Maria là người đã sinh ra Đức Giêsu là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm, thì chi thể ấy cũng phải được coi là qúai vật trong trật tự của ân sủng” (Traité de la vraie dévotion, n° 32).
Là Mẹ của chúng con, nên chắc chắn chúng con được Mẹ yêu thương, bởi “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ. Hãy xem, Ta đã ghi khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta” (Is 49,15-16). Đây là lời của Thiên Chúa nói với chúng con, nhưng cũng là lời của Mẹ, và chúng con cảm nghiệm được tình Mẹ thiên đàng bao phủ đời sống mỗi người chúng con trên hành trình dương thế:
1.   Mẹ yêu chúng con bằng tình yêu trìu mến:
Tình của Mẹ vô cùng trìu mến, vì Mẹ  được ơn vô nhiễm nguyên tội, nghiã là tội lỗi không có quyền gì trên Mẹ, không làm phai nhạt, lu mờ tình mẹ tinh tuyền, không cắt xén, làm suy giảm tình mẹ trọn vẹn, bao la, vĩ đại, và mãi mãi Mẹ yêu chúng con bằng một tình yêu ngời sáng tuyệt vời và mãnh liệt không gì có thể so sánh.
2.   Mẹ dõi nhìn và che chở chúng con:
 Đường đời nhiều chướng ngại, rủi ro, nguy hiểm, và Mẹ luôn đồng hành, dõi bước và che chở chúng con khỏi mọi sự dữ, vì Mẹ chỉ mong và làm mọi sự cho bình an, hạnh phúc của con cái Mẹ.
3.   Mẹ bao phủ chúng con bằng tâm hồn thánh thiện của Mẹ:
 Tâm hồn chúng con bị nhơ bẩn, thương tích vì tội lỗi, và Mẹ không ngừng săn sóc, băng bó tâm hồn chúng con bằng chuyển ban cho chúng con ơn thánh từ Đức Giêsu, Con Mẹ. Mẹ muốn chúng con mang lấy hương thơm ân sủng của Đức Giêsu, và dìu dắt chúng con từng bước như người Mẹ tập cho con thơ chập chững đi,  để đến gặp Đức Giêsu, Con Mẹ, Anh của chúng con.
4.   Mẹ bênh đỡ chúng con chống lại kẻ thù:
 Satan là kẻ thù của Mẹ, cũng là kẻ thù của chúng con, tên thần dữ đã bị Thiên Chúa kết án và nguyền rủa: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi...” (St 3,15). Nó muốn phá hỏng mọi công trình tốt đẹp của Thiên Chúa. Nó ghen tức với con người, vì con người mang hình ảnh Thiên Chúa, như thánh Phêrô đã viết: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma qủy, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5,8). Trước tấn công của ma qủy, Mẹ giấu kín chúng con dưới áo Mẹ, và che chở chúng con “như gà mẹ tập hợp gà con dưới cánh” (Mt 23,37).
5.   Mẹ cầu bầu cùng Chúa Ba Ngôi cho chúng con:
Thánh Gioan qủa quyết: “Chúng ta có một Đấng Bảo Trợ trước mặt Chúa Cha, đó là Đức Giêu Kitô, Đấng Công Chính” (1 Ga 2,1). Đến phiên Mẹ, Mẹ cũng là trạng sư của chúng con: Mẹ nài xin Đức Giêsu, Con Mẹ thương xót tha thứ và ban ơn cho chúng con, như đã xin Ngài làm phép lạ  khi tiệc cưới bất ngờ hết rượu ở Cana (x. Ga 2,1-10). Và từ trời cao, Mẹ tiếp tục can thiệp để Chúa Ba Ngôi chí thánh mà Mẹ được đặc biệt sủng ái ban cho chúng con những ơn cần thiết để sống xứng đáng con Chúa, con Mẹ.
Vâng lậy Mẹ Maria, chúng con yêu mến Mẹ vì Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu và là Mẹ chúng con. Xin Mẹ dậy chúng con yêu mến Mẹ mỗi ngày hơn, vì không yêu Mẹ, chúng con không thể yêu mến Đức Giêsu, Con Mẹ, và giúp chúng con noi gương Mẹ sống khiêm nhường, tín thác, sẵn sàng trả lời “Xin Vâng” trước mời gọi Tình Yêu của Đức Giêsu, Con chí thánh của Mẹ.
Jorathe Nắng Tím 
      

THẬN TRỌNG VỚI CÁM DỖ: MẸ SAY MÊ CON, BỎ QUÊN CHỒNG


Lướt qua đề tài, bạn đã bắt gặp cặp đôi Mẹ - Con được người viết cố ý làm nổi bật, nổi bật đến độ mất sự hiện diện của “Vợ” cho cặp đôi Vợ - Chồng. Người chồng thực sự chơ vơ, trơ trọi khi người mẹ say mê con.
Qủa thực, khi sinh con, người mẹ dường như chỉ còn biết đến con. Bao nhiêu suy nghĩ, nỗ lực, ước mơ của bà đều đổ về con, hướng đến con, tụ ở con. Con trở thành lực hút duy nhất và bà chẳng còn khả năng nhìn người nào quan trọng hơn con, qúy hơn con, cần hơn con. Không biết đã có bao nhiêu ông chồng, hay đúng hơn là tất cả các ông chồng đã trở thành nạn nhân của tình trạng tâm lý này khi vợ mình sinh con. Đang là nhân vật số một, các ông bỗng rơi tỏm xuống hàng thứ mấy không biết khi đứa con xuất hiện. Vợ các ông không còn hăng say, nồng nàn, mướt mát, nhưng bỗng dưng nhợt nhạt, mệt mỏi, có khi chán ngán, không muốn gần các ông. Chuyện gì các ông đề nghị lúc này cũng không được hồ hởi đón nhận. Việc gì các ông làm cũng bị phu nhân lắc đầu ngoai ngoải phê bình. Đề nghị nào các ông đưa ra cũng bị vợ  bai bải chối. Làm như sự ra dời của đứa con đã truất phế chỗ đứng vốn luôn vững chắc và ưu tiên của chồng đối với vợ.
Khoa tâm lý gia đình đã khẳng định: một trong những khủng hoảng dễ xẩy đến cho hạnh phúc vợ chồng là khi người vợ sinh con. Bởi trong thời kỳ này, người vợ không còn quan tâm đến chồng, mà dồn “hết sức lực, hết linh hồn, hết  tình cảm, hết trí khôn” cho con. Không chỉ  quan hệ sinh lý sút giảm mà ngay cả trong sinh hoạt bình thường, thường ngày, người vợ cũng không còn tỏ ra đậm đà, tha thiết với chồng.
Người ta có thể thông cảm với nàng, vì nàng mệt mỏi sau khi sinh con và phải ngày đêm lo cho con bú mớm. Cũng có thể nàng chưa hoàn hồn sau “lần đi biển, vượt cạn một mình”. Khoa tâm lý ghi nhận thêm một vài nguyên nhân khác:
1.   Độc quyền, sở hữu con:
Người  vợ lơ là với chồng, sau khi sinh con và trong thơì gian nuôi con nhỏ là vì muốn độc quyền sở hữu con: Có những bà mẹ không muốn chồng hôn con, vì sợ hơi chồng làm con ngạt; không cho chồng ngủ gần con, vì sợ tiếng ngáy của chồng làm con thức giấc và nhất là độc quyền lo cho con… Thực ra, đó chỉ là cái cớ bên ngoài, nguyên nhân chính và sâu sa là tham vọng độc quyền sở hữu con của  các bà mẹ. Các bà tự tuyên dương công  trạng  đã sinh con, sau những tháng dài mang thai vất vả, nặng nề. Các bà dành vinh dự làm Mẹ và coi vinh dự đó lớn hơn, cao qúy hơn vinh dự làm cha của chồng. Và tự nhiên như “người ở hành tinh khác”, các bà tự cho mình độc quyền sở hữu con. Con từ nay thuộc về bà, không chỉ một nửa, nhưng trăm phần trăm. Con sẽ do bà quản lý “tất tần tật” từ A dến Z; nghiã là mọi sự liên quan đến con phải do bà quyết định, phê chuẩn, kiểm soát. Chồng chỉ là người đóng vai phụ, không hơn không kém “người để sai vặt”.
Hầu hết đàn bà đều bị khuynh hướng độc quyền, sở hữu khống chế. Có những trường hợp các bà đã không  muốn nhìn mặt chồng, vì sợ độc quyền trên con bị san sẻ. Một cách vô thức và do bị tham vọng độc quyền thúc đẩy, các bà có thể đi đến tình trạng xua đuổi chồng khỏi nhà, vì không chịu được sự có mặt của chồng mà các bà nghĩ: sẽ có một lúc, khi sơ ý, con của các bà sẽ bị chồng lấy khỏi tay bà. Trường hợp tâm bệnh này tuy hiếm, nhưng không phải không gặp đã đẩy người mẹ đến những hành động điên cuồng rất nguy hiểm. Ở Pháp đã có một vài trường hợp người vợ  đâm chồng chì vì hoang tưởng nghĩ chồng sẽ bắt con.

2.   Người vợ biến chồng thành đối thủ:
Trong khi sinh con đã không thiếu những người vợ, vì đau quá đã xối xả chửi rủa chồng. Bà chửi  rủa vì vô thức trong bà đã cho bà biết: chính chồng bà làm bà có thai và bà phải đang một mình  đau đẻ. Ý thức thì  phân minh, rành rẽ thông báo: chuyện sinh con là việc chung của hai người; nhưng vô thức lại xử ép ông chồng và đổ hết tội làm đau bà cho ông, nên bà không tiếc lời trách mắng ông  khi đau đẻ. Cũng thế, vô thức cho bà ý nghĩ: chồng là đối thủ khi bà có con. Và đối thủ có tên là “Chồng” đang ở gần bà, nên bà phải đẩy ra xa; có thể ẵm bế con bà, nên bà phải khôn ngoan, thận trọng đề phòng; có quyền ân ái với bà, nên bà phải tìm mọi cách ngăn cản và ra sức chối từ. Ở bà, vô thức có sức mạnh đáng kể; bởi chính bà khi ý thức “hoàn hồn” cũng không hiểu tại sao đã ghét chồng như thù địch ?

3.    Người vợ không cần chồng vi đã có con:
Trước khi có con, người vợ thường ngoan ngùy nương theo chồng, nghe chồng, chiều chồng, vì vợ thực sự cần chồng khi thấy rời chồng ra sẽ chẳng còn ai ở với mình, theo mình. Nhưng khi có con và coi con như sở hữu, người vợ thấy mình không còn đơn độc, nhưng đã có đồng minh và hơn một đồng minh, bà có “con của bà”. Vô thức lại một lần nữa xúi bà không cần chồng, vì bên cạnh bà đã có con.
Con trở thành tất cả, có thể bảo đảm tất cả cho bà và là chính điều bà từng ước mơ, chờ đợi. Chồng bà hôm nay không còn chỗ đứng cấn thiết  trong đời bà, vì chỗ đứng ấy đã được con bà chiếm đóng.
Không cần chồng khi có con, đó là cám dỗ thường xuyên của những người vợ trong thời sinh nở, nuôi con thơ. Cám dỗ từ vô thức, nhưng có sức phá vỡ tương quan vợ chồng trong đời thường. Với các nhà tâm lý, tình trạng bất cần chồng là nguyên nhân xa và thầm kín của nhiều đổ vỡ hôn nhân.

Nêu lên cơn cám dỗ “ Mẹ say mê con bỏ quên chồng” để  thấy tâm lý người mẹ khi sinh con rất phức tạp. Tính phức tạp  làm cho đời sống vợ chồng ít nhiều trở nên nặng nề, căng thẳng và nạn nhân là cả hai người. Chồng, vì bị vợ “hắt hủi” sẽ dễ mang mặc cảm tội lỗi vì đã gây nên đau đớn, vất vả cho vợ và mặc cảm tự ty: bị truất quyền, xuống cấp, “mất cửa”. Vợ, vì “thừa thắng xông lên” sẽ mệt nhoài, hao mòn  vì những kế sách đương đầu phải liên tục tìm kiếm. Cả hai cùng mệt vì những điều hoàn toàn vô lý do vô thức giật giây, xúi bẩy.
Chính vì thề, chuẩn bị một tâm lý trưởng thành là điều rất cần thiết cho đời hôn nhân và nhất là cho đời làm cha mẹ. Thiếu quân bình tâm lý, do thiếu kiến thức căn bản về tâm lý, cha mẹ sẽ rơi vào những bất đồng, mâu thuẫn rất vô duyên mà cả hai khi chuyện đã xong sẽ bỡ ngỡ tiếc nuối vì đã không biết tại sao mình đã hành động, cư xử như vậy. Kinh nghiệm của nhiều gia đình đã làm chứng điều này. Đó cũng là những nhắc nhở để tránh một thảm trạng khi vợ quên vai trò làm vợ đối với chồng mà chỉ còn nghĩ mình là mẹ của con. Nguy cơ của hôn nhân là khi hai người không nhận ra chỗ đứng của người phối ngẫu trong đời mình, cũng như từ chối vai trò của mình trong cuộc đời người phối ngẫu. Đó là tình trạng hai lần đánh mất: đánh mất mình và đánh mất người thuộc về mình, đánh mất mình trong người mình yêu và đánh mất người yêu trong chính mình.

Được cảnh báo để không sập bẫy, cũng như học kinh nghiệm máu xương của người khác để không phải đổ máu, phơi xương  mình. Ước mong các bà mẹ yêu con nhưng không say con như người say nắng chẳng còn nhìn thấy gì ngoài nắng; qúy con nhưng đừng hủy bỏ những tương quan khác cũng cần thiết như tình nghiã vợ chồng; cần con nhưng không độc quyền sở hữu con như một chiếc nhẫn kim cương, hột xoàn; vì làm mẹ, trên hết và trước hết, chính là sinh ra cho chồng, mang vào gia đình, đưa vào thế giới  một  người con là quà tặng vĩ đại nhất  của Hạnh Phúc Tình Yêu.  

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2020

TÔI TRUNG CỦA THIÊN CHÚA

Ơn gọi của mỗi người là trở nên người tôi tớ trung tín của Thiên Chúa, người tôi tớ  được ông chủ yêu thương, tin tưởng vì “khi chủ về tới và gõ cửa, là mở ngay”, kể cả khi “canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về”, mà thấy tôi tớ còn tỉnh thức như vậy, “thì thật là phúc” cho người tôi  tớ ấy! (x. Lc 12,37-38).
Nhưng thế nào là tỉnh thức? Nói cách khác, thế nào là  tôi tớ trung tín của Thiên Chúa?
1.   Tôi tớ trung tín biết mình thuộc về ông chủ:
Tôi tớ bất trung và tôi tớ trung tín khác nhau ở ý thức tương quan giữa mình và ông chủ. Tương quan ấy định hình nếp nghĩ, lối sống, tinh thần làm việc của người tôi tớ trong nhà ông chủ.
Tôi tớ bất trung và tôi tớ trung tín cũng giống như mục tử nhân lành và người chăn thuê (x. Ga 10,1-15). Tôi tớ bất trung và người chăn thuê chỉ quan tâm đến lợi nhuận riêng, mà không để tâm đến ích lợi của chủ và an ninh, hạnh phúc của đoàn chiên, nên sẵn sàng trở mặt phản bội chủ, và bỏ bê đoàn chiên để sói rừng cắn xé, hãm hại. Trái lại, tôi tớ trung tín và mục tử nhân lành “chết sống” vì chủ, sẵn sàng hiến mạng sống mình vì đoàn chiên để chiên “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
Thiếu ý thức “thuộc về chủ” qua tương quan yêu thương, kính trọng, biết ơn, người tôi tớ không thể trung tín với chủ mình. Nhưng để có thể yêu thương, kính trọng, biết ơn chủ, trước hết người tôi tớ phải nhận ra mình được chủ yêu thương, tín nhiệm, tin dùng, điều mà Thiên Chúa luôn thực hiện với mỗi người, như Lời Ngài qua ngôn sứ Isaia: “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và hết lòng qúy mến, Ta cho thần khí ngự trên người; người sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân” (Is 42,1).
Như thế, để là tôi tớ trung tín của Thiên Chúa, chúng ta phải đạt đến tâm tình và xác tín: Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi… “Người là Đấng nhào nặn ra tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ để tôi trở thành người tôi trung” (Is 49,1.5).
2.   Tôi tớ trung tín lắng nghe Thiên Chúa như người môn đệ:
  Không phải ai cũng lắng nghe như ai. Có người nghe như “vịt nghe sấm”, vểnh tai nghe mà không muốn hiểu gì; có người “nghe tai này ra tai kia”, nghe có lệ, nghe cho qua chuyện, nhưng không quan tâm, chú ý; có người giả vờ nghe như  chiến thuật đánh lừa người nói; có người nghe với lỗ tai thần phục, nhưng với trái tim rực lửa phục hận, nên không phải cứ có tai là biết lắng nghe, nhất là lắng nghe như người môn đệ, điều mà Thiên Chúa đòi hỏi ở người tôi trung: “Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ” (Is 50,4)
Đôi tai lắng nghe của người môn đệ là đôi tai sẵn sàng và vâng phục: sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa như cậu bé Samuen đêm khuya trong đền thánh: “Lậy Chúa, xin phán dậy, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe” (1 Sm 3,10); vâng phục như Môsê để “không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” khi Thiên Chúa mở tai (x. Is 50,5).
3.   Tôi tớ trung tín nói năng như người môn đệ:
Lắng nghe như người môn đệ chưa đủ, người tôi trung của Thiên Chúa còn phải biết “nói năng như một người môn đệ” (Is 50,4): “Người sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường” (Is 42,2).
Sở dĩ người tôi trung “không kêu to, nói lớn”, vì người ấy hiền lành, khiêm nhường: hiền lành đến nỗi “Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi” (Is 42,3) và khiêm nhường đến độ “đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu, không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50,6), bởi người tôi trung chỉ nói điều ông chủ muốn, và điều ông chủ Thiên Chúa muốn ở người tôi trung là “làm ánh sáng chiếu soi muôn nước, mở mắt cho những ai mù loà, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm” (Is 42,6-7).  
Như thế, sứ vụ của ngưòi tôi trung được “ông chủ Thiên Chúa” tín nhiệm trao phó không còn là “tạp vụ trong nhà”, nhưng là loan báo lòng thương xót của Thiên Chúa cho muôn dân; là “lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức” (Is 50,4); là “đem nhà Giacóp về cho Người và quy tụ Ítraen chung quanh Người” (Is 49,5); là đem ơn cứu độ của Thiên Chúa đến tận cùng cõi đất (x.Is 49,6).
Và để làm công việc này, người tôi trung phải nói năng như người môn đệ, nghiã là không “phùng mang trợn mắt” to tiếng, lắm lời, dữ tợn, hùng hổ, phách lối, kênh kiệu, khinh bạc, hãnh tiến, hống hách, cửa quyền như ông chủ khắc nghiệt, tàn ác, hay như vua chúa độc đoán, độc tài, toàn quyền sinh sát, nhưng hiền lành, khiêm nhu, thương xót, chịu đựng.
4.   Người tôi  trung  tuyệt đối tin tưởng vào chủ mình:
Trò phản thầy, tôi tớ phản chủ không chỉ vì thiếu ý thức “thuộc về chủ, thuộc về thầy”, mà còn thiếu lòng tin tưởng ở thầy, ở chủ khi gặp khó khăn, thử thách. Kinh nghiệm cuộc sống cho thấy có rất nhiều người tuy biết chủ thương mình, thầy qúy mình, nhưng vẫn quay lưng phản bội, vẫn trở mặt đấu tố, vu khống vì áp lực của hoàn cảnh đổi thay, vì sức ép của quyền lực, vì bế tắc của tinh thần trong cơn hoảng loạn, quẫn bách. Đó là kinh nghiệm của Phêrô khi chối Đức Giêsu, do áp lực của đám đông và yếu đuối của tinh thần, tuy Phêrô vẫn yêu Đức Giêsu và biết Thầy thương mến, tín nhiệm mình.
Vì thế, ý thức thuộc về chủ chưa đủ bên cạnh biết lắng nghe và nói năng như người môn đệ, người tôi tớ trung tín của Thiên Chúa còn phải tuyệt đối tin tưởng: “Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi” (Is 5,7), “và tìm nương tựa nơi Thiên Chúa mình thờ” (Is 50,10) trong những lúc không thuận lợi, những khi bị tranh tụng, kiện cáo, bị vu khống, kết tội (x. Is 50,8-9).
Qủa thực, ngôn sứ Isaia đã mô tả chính xác Đức Giêsu, người tôi trung của Thiên Chúa Giavê, cũng là hình ảnh người môn đệ Đức Giêsu. Họ cũng phải trở nên “đồng hình đồng dạng” với thầy mình là Đức Giêsu, người tôi trung tuyệt vời của Thiên Chúa, vì “tôi tớ không hơn chủ” (Ga 15,20).
Ở giữa mùa tiến chức, hiến dâng, chúng ta cùng cầu nguyện cho các tâm hồn tận hiến để các vị được Thiên Chúa thánh hiến thành những tôi trung của Ngài, những tôi tớ biết mình trọn vẹn thuộc về một mình Chúa, những tôi trung biết lắng nghe và nói năng như người môn đệ, những cộng sự viên tuyệt đối tin tưởng vào Thiên Chúa, Đấng đã tuyển chọn và sai đi loan báo Tin Mừng Cứu Độ cho muôn dân.
Jorathe nắng Tím        

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

THÁO - BUỘC

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 21, Thường Niên A
“Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (Mt 16,15).
Câu hỏi của Đức Giêsu không chỉ dành cho các tông đồ, nhưng cho mỗi người chúng ta, và suốt cuộc đời, câu hỏi ấy vẫn vang vọng  nhắc nhớ chúng ta tương quan giữa chúng ta với Đức Giêsu.
Khi Phêrô trả lời Đức Giêsu: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), ông đã tuyên xưng :
1.   Tương quan Cha - Con giữa Đức Giêsu và Thiên Chúa Cha:
Giữa lúc mọi người hoặc còn đang nghi ngờ hoặc kịch liệt chối bỏ thiên tính của Đức Giêsu, thì Phêrô tuyên xưng Ngài là Con Thiên Chúa, tức đồng bản thể với Thiên Chúa Cha. Bằng chứng: “kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Êlia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các ngôn sứ” (Mt 15,14). Nghiã là  người ta chỉ coi Đức Giêsu như hiện thân của một trong những  ngôn sứ  đã có mặt trong lịch sử Do Thái, nhưng không ai nghĩ hay tin Ngài là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa nhập thế, nhập thể như Phêrô đã tin và tuyên xưng trước Đức Giêsu và anh em Nhóm Mười Hai.
2.   Đức Giêsu là con người thật:    
Khi tuyên xưng “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, Phêrô đã không chỉ tuyên tín thiên tính của Đức Giêsu, mà còn khẳng định niềm tin vào Đức Giêsu: Thiên Chúa thật và con người thật; qủa quyết thiên tính và nhân tính đồng hiện diện nơi Đức Giêsu.
Là con người thật, Đức Giêsu sống như con người, chết như con người. Là Thiên Chúa thật, Ngài sống lại với quyền năng của Thiên Chúa vì Ngài là Thiên Chúa hằng sống.
Lời tuyên xưng đức tin hôm ấy “ở vùng kế cận thành Xêdarê Philípphê” của Phêrô chính là “đức tin tông truyền” mà chúng ta đang tuyên xưng và làm chứng, đức tin từ Tông Đồ trưởng Phêrô, người đại diện Nhóm Mười Hai Tông Đồ đã tuyên xưng  tin vào Đức Giêsu: Thiên Chúa làm người để cứu độ con người, ngay trước mặt Đức Giêsu, và lời tuyên xưng long trọng ấy đã được Đức Giêsu chính thức và công khai chứng thực: “Này anh Simôn, con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời đã mặc khải cho anh” (Mt 16,17).
Phần Đức Giêsu, khi xác nhận với các tông đồ: không phải phàm nhân đã làm cho các ông biết và tin Ngài là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, nhưng Chúa Cha đã tỏ cho các ông biết điều này, Ngài muốn các ông hiểu rằng: đức tin là ân huệ, qùa tặng của Thiên Chúa cho con người, là hồng ân lớn lao chính Chúa Cha trao ban, là kho tàng qúy báu mà thế gian không cho  được, nên những ai tin Ngài là “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” đều được Chúa Cha mặc khải và thương yêu, được đi vào tương quan thiết thân với Chúa Cha, khi được Chúa Cha ban cho đức tin để tin vào Con của Ngài.
Và để làm chứng cho các tông đồ biết: đức tin là kho tàng qúy báu Thiên Chúa muốn ban cho toàn thể nhân loại, là hồng ân bao la Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được chung hưởng, là ơn cứu độ Thiên Chúa muốn ban tặng từng người bất kể người ấy là ai, thuộc sắc tộc, trình độ, giai tầng xã hội nào, miễn tin Ngài là “Con Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã được sai đến trong thế gian để cứu độ mọi người”, Ngài đã lập Giáo Hội của Ngài trên nền tảng Nhóm Mười Hai tông đồ, là những người đã tuyên tín Ngài là Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ muôn dân, với mục đích làm cho mọi người tin vào Ngài, và trở thành môn đệ của Ngài để họ được cứu rỗi, được sống hạnh phúc đời đời trong Nước vinh quang của Ngài (x. Mt 28,19).
Khi ban cho các tông đồ chià khoá Nước Trời, Đức Giêsu đã dùng hai động từ “tháo - buộc” là kiểu nói của hiền nhân Do Thái thời đó để nói lên hình ảnh tín nhiệm và trao phó toàn quyền cho một người. Nhưng ở đây, hai động từ “Tháo - Buộc” phải được hiểu một cách tích cực theo văn mạch và ngữ cảnh của Tin Mừng, bởi không ít người đã cắt nghiã một cách tiêu cực, chủ quan và dùng như tiền đề biện minh cho việc củng cố quyền lực, chỗ đứng cai trị của mình trong sứ vụ phục vụ.
Bởi theo nguyên ngữ và theo văn mạch, động từ “Buộc” phải được hiểu cách tích cực là “nối kết lại, tạo ra những liên đới mới, thắt chặt hơn tình nghiã” giữa người với người, giữa các chi thể của cùng một Thân Thể với nhau. Buộc đây là “buộc nhau trong đức ái, buộc nhau chặt hơn trong lòng thương xót, tha thứ, buộc nhau sát hơn trong tình huynh đệ”, chứ không lấy những khối đá to đùng, nặng nề của lề luật, cơ chế mà buộc cổ nhau, tìm những thiếu sót, kẽ hở yếu đuối của nhau như những giải lụa, giây thép mà buộc tay chân nhau, hoặc rình mò những sai phạm, tội lỗi của nhau mà xiềng xích, buộc trói cuộc đời nhau.   
Cũng vậy, “Tháo” ở đây không có nghiã tháo những liên đới, tháo những tương quan, nhưng là “tháo cởi” những gì làm con người xa nhau, “tháo bỏ” những chướng ngại ngăn cản con người đến với nhau, “tháo gỡ” những khúc mắc, khó khăn, bế tắc làm con người phải đau khổ và phải chết. Tắt một lời, động từ “Tháo”  ở đây chính là hủy bỏ, tiêu diệt tất cả những gì đi ngược đức ái, để “buộc” nhau lại trong Tình Yêu đích thực của Con Thiên Chúa, Đấng đến thế gian để cứu độ chứ không để luận phạt, đến để “phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,28).
Do đó, sứ mệnh của Giáo Hội chính là tháo những gì ngăn trở yêu thương, và nối kết, hợp nhất, “buộc” mọi người lại với nhau trong đức ái của Đức Giêsu, bởi Phêrô đã không tuyên xưng một Thiên Chúa làm người để kết án, trừng  phạt, tiêu diệt, bắt con người phải chết, nhưng đã tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu là Đấng Kitô, tức Đấng Cứu Thế, Đấng Thiên Chúa sai đến để cứu và sứ vụ của Đức Kitô,  Đấng Cứu Thế chính là: “loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố năm hồn ân của Chúa cho mọi người” (Lc 4,18-19); đồng thời tuyên xưng Đấng Kitô là Con Thiên Chúa hằng sống, nghiã là Thiên Chúa của sự sống, Thiên Chúa của người sống, Thiên Chúa ban lại cho con người sự sống đời đời.
Chúng ta  xin Chúa thêm đức tin cho chúng ta, và cầu nguyện cho Giáo Hội để đừng bao giờ Giáo Hội quên lời tuyên xưng đức tin của thánh tông đồ trưởng Phêrô trước Đức Giêsu: “Lậy Thầy, Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, để trung thành với sứ vụ “tháo - buộc” trong yêu thương, vì yêu thương và mang lại sự sống của Đức Giêsu cho muôn người, như sứ vụ được chính Đức Giêsu trao phó.
Jorathe Nắng Tím

GIÁO DỤC VỊ THA


Em bé muốn được mọi người quan tâm, chú ý. Em khóc vì thế… Khóc để kéo chú ý, khóc để tự khẳng định, khóc để mọi người biết “tôi đang có mặt”. Em rất sợ bị bỏ rơi và buồn khi mọi người không quây quần “ú oà”, nói chuyện, chơi đuà với em. Bằng tiếng khóc, tiếng cười, chân tay muá máy, em diễn tả sự hiện diện của mình và khát vọng là trung tâm lôi cuốn mọi sinh hoạt gia đình. Em rất vui khi có người đút cho ăn, khen em ngoan, em đẹp, rất hãnh diện khi được mẹ dỗ dành, chị nâng niu. Thế giới của em lúc này chỉ có em là trọng tâm và  bằng mọi giá em muốn bảo vệ chỗ đứng trọng tâm đó. 
Khuynh hướng vị kỷ, tức chỉ vì mình, trong em khá mạnh, mạnh đến độ em khó có thể chia sẻ cha mẹ với người khác, ngay cả với anh chị trong nhà; bằng cớ khi mẹ ẵm chị hay em bé nào khác trước mặt  là em hét lên, đòi mẹ phải ẵm em ngay. Tính ganh tỵ bắt đầu đâm chồi trong em và em biểu lộ bàng giận dỗi, bỏ ăn, không ngủ.
Tình trạng tìm chỗ đứng quan trọng của em trong gia đình là chuyện tâm  lý bình thường, không xấu không tốt. Nó là những hiện tượng phát triển của tâm lý. Cái không bình thường cần phải tránh có thể xẩy ra là hiện tượng vị kỷ ấy sẽ bám chặt, ăn rễ sâu và  biến thành nhân cách của em. Khi đó vị kỷ trở thành bá chủ thống trị toàn thể đời sống của em.
Vị kỷ là chỉ nghĩ đến mình, làm vì mình, hưởng riêng mình. Người vị kỷ thường thực dụng vì lợi ích cá nhân là mục tiêu cần đạt trong mọi nỗ lực, hoạt động. Vị kỷ khác vị tha. Vị tha là nghĩ đến người khác, sống vì người khác, chung hưởng với người khác. Nhưng vị tha không có nghiã là vong thân, bỏ quên chính mình hay đánh mất chính mình; trái lại, người vị tha lấy chính mình làm khởi điểm để đi đến người khác, chọn chính bản thân là điểm xuất phát cho hành trình tìm gặp gỡ tha nhân. Đứa bé vị tha lấy bánh của mình đang có để chia sẻ cho người chung quanh, tức là bắt đầu từ chính mình, từ miếng bánh bé đang có trên tay. Hình ảnh đơn sơ nhưng nói lên bản chất của vị tha.
Một trong những mục tiêu giáo dục khó nhất ở tuổi thơ là giáo dục vị tha, khi em bé muốn gom tất cả về mình, tìm tất cả cho mình, muốn tất cả phục vụ mình. Giúp em nhận ra mình là một con người, có vị thế riêng biệt, nhưng không là trọng tâm duy nhất của gia đình, không là cái rốn của vũ trụ là tránh cho em nhiều hậu qủa tai hại của ích kỷ sẽ ảnh hưởng xấu trên nhân cách và thành công sau này của em.
a.   Vì ích kỷ, em sẽ trở thành nô lệ trung thành của vật chất: Một người không biết chia sẻ sẽ đau đớn, khổ sở vì vật chất, bởi bất cứ một mất mát, giảm thiểu vật chất nào, dù cỏn con, bé nhỏ đến đâu cũng làm họ đau khổ. Say mê thu vén cho riêng mình, họ sẽ lầm lẫn vai trò của vật chất và chỗ đứng của họ để rồi đáng lẽ ra phải là chủ, họ lại chấp nhận trở thành đầy tớ; vì  vật chất đặc biệt có sức mê hoặc  người ích kỷ và dễ dàng biến họ thành nô lệ
b.   Vì ích kỷ, em sẽ rất chật hẹp trong phán đoán, tư duy. Nếu ích kỷ vật chất biến em thành nô lệ của đồng tiền, của cải thì ìch kỷ tinh thần giải giới hết khả năng hướng ra ngoài và đẩy em rớt sâu trong những định kiến, thành kiến, thiên kiến thiếu hào phóng, quảng đại, bác ái, vị tha. Tư tưỏng của em vì thế sẽ cằn cỗi, phán đoán của em sẽ phiếm diện và biến thành độc đoán. Người ích kỷ tinh thần không làm việc được với ai, ngay cả với chính mình, vì không còn khả năng tương quan, liên đới. Nên nhớ, người ích kỷ tinh thần đóng kín hết cửa lòng nên ngay chính bản thân, họ cũng không gặp được.  
c.    Vì ích kỷ, em sẽ tìm hưởng hạnh phúc một mình: Đây là dạng ích kỷ tình cảm khi em không muốn trao ban tình cảm cho người khác, vì sợ mất mát, thua thiệt. Vì thế, em sẽ không đủ quảng đại để vị tha và cùng tìm hạnh phúc với người khác. Những người rơi vào tình trạng tâm lý ích kỷ tình cảm này thường tìm hạnh phúc một mình, nghiã là chọn những hình thức  “tự biên tự diễn” và  “tự sướng ” như thủ dâm. Họ sẽ khó sống đời đôi lứa vì luôn cảm thấy bị đe doạ khi phải chia sẻ với người khác. Đóng kín đường, bịt kín cửa, khép kín lòng trước tha nhân, người ích kỷ cũng nhốt kín luôn hạnh phúc của mình trong ngục tù “cái tôi ”, một cái tôi mà khả năng  giới hạn ở việc sản xuất ra những mảnh vụn của một thứ hạnh phúc rất bệnh hoạn, kỳ quái; bởi bản chất của hạnh phúc tình cảm hệ tại ở hai yếu tố không thể thiếu, đó là cho đi và nhận lãnh.

d.   Vì ích kỷ, em sẽ chỉ muốn biết một mình và bo bo giữ lấy kiến thức như vật sở hữu. Hình ảnh những em học sinh lấy tay và cả thân mình  che tập bài làm vì  không muốn bạn làm được bài  như mình, hay hình ảnh những sinh viên không biết hay cố tình không muốn biết làm việc chung  với các bạn cùng lớp, cùng khoa là hình ảnh đáng buồn của “thế hệ thực dụng, ích kỷ”.  Ích kỷ trí thức là phản trí thức, vì người trí thức luôn thao thức, mơ ước một điều là đem hết những gì mình biết, mình đã học hỏi, nghiên cứu để phục vụ nhân sinh, phụng sự nhân loại. 


e.    Vì ích kỷ, em cũng sẽ chỉ muốn lên thiên đàng, về Niết Bàn một mình; nghiã là tôn giáo, thần thánh là của riêng em, phục vụ một mình em. Người ích kỷ sẽ ích kỷ cả trong tín ngưỡng, niềm tin của mình và muốn thuợng đế, thánh thần thuộc về riêng họ, làm theo ý họ. Cuối cùng, không phải họ theo tôn giáo, nhưng tôn giáo phải đi theo họ, làm theo ý họ. Nhìn những người đi đạo mà luôn miệng “người này xuống hoả ngục, người kia không lên thiên đàng” đủ cho thấy có những người muốn độc quyền cả tôn giáo, thượng đế, thánh thần. Ngạo mạn và ích kỷ đến thế là cùng !
Giáo dục vị tha ngay từ thời thơ ấu là tập cho em bé nghĩ đến người khác như cầu nguyện cho ông bà đã qua đời, ghi nhớ ngày sinh của mọi người trong gia đình, viết thư thăm bà ngoại, chung vui, chia buồn với hàng xóm, gia tộc. Những việc làm như quét nhà, nhặt rau cũng cho em thói quen chia sẻ, cộng tác. Tập cho  em biết niềm nở đón khách, vui vẻ rót nước mời khách của mẹ, ân cần, lịch sự với mọi người, biết mời trước khi ăn, cúi đầu lễ phép khi đi lúc về là những thực hành tinh thần vị tha, hướng đến người khác. Bên cạnh đó, cha mẹ tránh  xem con như ông chủ, bà chủ nhỏ của gia đình và cho con  những cơ hội chia sẻ, cộng tác với người khác. Đến thăm gia đình nào mà cha mẹ suỵt suỵt ra dấu cho khách đừng nói lớn kẻo con thức dậy, hay do dự không quyết định được ngày giờ đi chơi chung  của hai gia đình vì phải đợi ý kiến của con… ; người ta nhận ra ngay gia đình ấy đang  sản xuất những ông vua ích kỷ, những bà hoàng kiêu căng , tự mãn mà tương lai của những ông vua, bà hoàng này chắc chắn sẽ không mấy gì sáng sủa, hạnh thông vì ích kỷ đóng kín hết đường lên, lối vào.