Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

“CỦA XÊDA, TRẢ CHO XÊDA ; CỦA THIÊN CHÚA, TRẢ VỀ THIÊN CHÚA”

 

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 29 Thường Niên, Năm A



Căng thẳng giữa Đức Giêsu và những người thuộc nhóm Pharisêu ngày càng trầm trọng và hầu như hết thuốc chữa. Nhóm này thường xuyên cùng giáo quyền Do Thái tấn công Đức Giêsu. Nhưng hôm nay, những người Pharisêu giả hình và độc ác ấy quyết định “tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy” (Mt 22,15), khi họ “cùng đi với những người phe Hêrôđê” là vua Do Thái đang trị vì, để cùng với người của Nhà Nước, dựa vào thế lực của chính quyền quyết tâm gài cho bằng được Đức Giêsu sập bẫy chính trị, hầu có cớ cáo gian, truy tố, lên án, triệt hạ Ngài như tội phạm chính trị : xúi dân nổi loạn, làm mất trật tự chung.

Ý đồ gài Đức Giêsu vào tội chính trị : kêu gọi dân chống chính quyền bảo hộ Rôma thật qúa rõ. Cũng như bao nhiêu vụ việc lừa đối phương vào vòng lao lý trong trò chơi tranh giành quyền lực, ảnh hưởng chính trị, các người Pharisêu đã xử dùng cùng một thủ đọan “xông hương, bốc thơm đối thủ” để đưa Đức Giêsu vào chỗ chết khi nói với Ngài : “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dậy đường lối của Thuên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta” (Mt 22,16).

Có lẽ không lời nào ngọt ngào, hợp lý, xứng đáng hơn cho vị đại Ngôn Sứ là Đức Giêsu ; không ngôn từ nào trân trọng, cung kính hơn trước “Người được Thiên Chúa sai đến” ; không hái độ nào khiêm hạ, vâng phục, ngoan ngùy hơn đối với “Đấng giảng dậy có thẩm quyền, chứ không như các kinh sư của họ” (Mt 7,29) mà nhóm Pharisêu và những người đi theo họ dành cho Đức Giêsu. Nhưng mưu hèn, kế bẩn của họ đã bị Đức Giêsu lật tẩy bẽ bàng : “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình!” (Mt 22,18).  

Họ thử Đức Giêsu để có bằng chứng tố cáo Ngài với chính quyền đế quốc Rôma đang cai trị họ, vì họ biết Ngài khó thoát khỏi cạm bẫy cực kỳ tinh vi họ sắp giăng ra. Tuy cung giọng đầy khiêm tốn của môn đệ đến thỉnh ý Thầy, nhưng thực ra họ đã nắm chắc phần thắng, vì nghĩ rằng Đức Giêsu sẽ  rơi vào một trong  hai câu trả lời đều nguy hiểm trước câu hỏi “bẫy” của họ : “Xin Thầy cho biết ý kiến : có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?” (Mt 22,17).

Là con dân một đất nước bị ngoại bang thống trị, người Do Thái phải nộp thuế cho đế quốc Rôma mà Xêda là đại đế, nên nếu trả lời “phải nộp thuế cho Xêda”, Đức Giêsu sẽ bị chụp mũ là tay sai đế quốc, phản nước hại dân, bưng bô cho ngoại bang, và tất nhiên Ngài sẽ bị dân chúng kịch liệt khinh bỉ, lên án, tẩy chay, trong khi Ngài xưng mình là “Đấng Thiên Chúa sai đến cho nhà Ítraen” (x. Mt 15,24). Nhưng nếu trả lời “không nộp thuế cho Xêda”, Đức Giêsu sẽ bị  ghép tội xúi dân chống lại nghiã vụ nộp thuế cho chính quyền đế quốc đang thống trị, và với tội danh này, chắc chắn Ngài sẽ bị truy tố và lãnh án nặng nề từ phiá chính quyền  Rôma.

Ngày nay trong xã hội chúng ta đang sống cũng có rất nhiều người lợi dụng hoàn cảnh chính trị phức tạp, tế nhị như tiền đề cho những mưu hèn kế bẩn để hại người, chẳng khác gì đám Pharisêu đã gài Đức Giêsu vào một thế cờ khó gỡ, một cạm bẫy khó thoát thân năm xưa.

Thực vậy, khi trả lời “Của Xêda, trả về Xêda ; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”, Đức Giêsu không chỉ làm ngỡ ngàng đám Pharisêu và những người đi theo họ với âm mưu hãm hại Ngài, khi “vô hiệu hoá đòn phép nham hiểm, ác độc » của họ, mà còn nhắc họ  nhớ đến một nghiã vụ thiêng liêng rất quan trọng, đó là trung thành với một Thiên Chúa duy nhất theo Giao Ước của Thiên Chúa với các tổ phụ của họ, mà ngôn sứ Isaia không ngừng kêu gọi, cảnh báo : “Ta là Đức Chúa, không con chúa nào khác ; chẳng có ai là Thiên Chúa, ngoại trừ Ta” (Is 45,5).

Sở dĩ Đức Giêsu nhấn mạnh : “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”, vì lúc bấy giờ, các đại đế của đế quốc Rôma bắt đầu coi mình là thần thánh, và bắt buộc dân chúng thực hành các nghi thức thờ lậy đại đế như một thiên chúa. Đó là lý do những Kitô hữu ở thế kỷ thứ nhất đã bị bắt bớ, hành hình vì từ chối thực hành nghi thức tế tự các đại đế, do trung thành với niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất. Đây cũng là một vấn đề khá phức tạp trong các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên, khi các tín hữu bị giằng co giữa đòi hỏi phải tôn trọng quyền bính chính trị và bổn phận tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất. Tuy thế, trong thư thứ nhất gửi giáo đoàn Thêxalônica được coi là tài liệu Kitô giáo cổ xưa nhất, thánh Phaolô đã chỉ nói  đến đức tin, đức ái, đức trông cậy của các tín hữu, mà không đề cập đến áp lực căng thẳng giữa chính trị và đức tin, khi ngài viết : “Chúng tôi không ngừng nhớ đến những việc anh em làm vì lòng tin, những nỗi khó nhọc anh em gánh vác vì lòng mến, và những gì anh em kiên nhẫn chịu đựng vì trông đợi Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô” (1 Tx 1,3).    

Xin Chúa cho chúng ta ơn khôn ngoan trong mọi thời thế, hoàn cảnh, ở đó các thế lực chính trị thường tạo nên những căng thẳng làm chúng ta mất đi niềm xác tín : hạnh phúc đích thực là được tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất, Đấng mà các dân nước phải bái thờ, run sợ, bởi “Chúa thiết lập địa cầu... Người xét xử muôn nước theo đường ngay thẳng…, xét xử muôn dân theo chân lý của Người” (Tv 95,10.13).

Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2020

ƠN AN BÌNH

 


Chưa lúc nào Bình An lại cần thiết đến mức cấp bách như những ngày này, khi mà khắp nơi trên thế giới an ninh trật tự không còn được bảo đảm, và hoà bình ngày càng trở thành ưóc mơ khó thực hiện.

Trên quê hương thì bạo lực dưới mọi hình thức, trong mọi lãnh vực, ở mọi thành phần ngày càng gia tăng với tốc độ chóng mặt biến đổi người dân ở làng quê xa xôi hôm nào còn chất phác, hiền hoà thành những con người nham hiểm, thủ đọan, tham lam, tàn ác sẵn sàng chém giết anh em, cháu chắt ruột thịt vì một vài mét đất cha mẹ để lại ; những em học sinh ngày trước còn  chăm chỉ, vâng lời thầy cô nay không ai còn nhận ra các em trước toà vì tội đâm cô, chém bạn ; những địa danh sinh ra anh hùng hào kiệt mà ngày xưa chỉ nghe cũng đủ xúc động, nức lòng nay biến thành hang ổ trộm cướp với những băng đảng hung ác, man rợ như dã thú.

Cũng quê hương ấy được xếp vào một trong những nước bệnh nhân ung thư nhiều hàng đầu trên thế giới, phần vì lương thực hầu như hoàn toàn bị xử lý bằng chất độc trước khi bán, phần vì nỗi lo hiện tại, tương lai ngày càng qúa tải.

Người dân ở đất nước này lo đủ thứ, lo đủ cách, đủ thể loại, vì không có gì không chạm đến nỗi lo, bởi ở đây không thứ gì được bảo đảm an toàn, không ai được bảo vệ đúng mức, không việc gì được bảo hiểm công bằng, minh bạch. Chính vì không có gì an ninh, an toàn, mà người ta lo sợ, khi không còn khả thể để an tâm, an lòng.

Nhìn ra thế giới, bức tranh Hoà Bình cũng không sáng sủa, tươi đẹp hơn, khi bạo loạn xuống đường đe dọa, bạo lực tràn lan như vết dầu loang từ thành phố này qua thành phố nọ, từ quốc gia này đến quốc gia khác biến thế giới thành một chảo dầu sôi sục hận thù, chiến tranh.

Trước thực tại bất an, bất ổn của đất nước và thế giới, nhiều người ngao ngán hỏi : đâu là nguyên nhân chính?

Trả lời câu hỏi, người thì đổ tội cho Trời, người khác quy tội láng diềng chung quanh, thiên hạ xa gần, nhưng không mấy người nhận về mình chút phần lỗi, hay vài gam trách nhiệm, bởi xã hội được làm nên bởi những cá nhân, nên xã hội tốt hay xấu cũng do những cá nhân đã làm nên xã hội ấy tốt hay xấu.

Qủa thực, bình an của đất nước, hay bình an của nhân loại đều xuất phát từ bình an tâm hồn của mỗi người. Nếu mỗi người đều tìm kiếm và xây dựng bình an thì xã hội sẽ có bình an, và ngược lại, ai cũng sắm kiếm đao để đâm chém, trang bị súng ống để bắn giết, tiêu diệt thì chiến tranh, hỗn loạn tất phải xẩy ra, bùng nổ.

Thánh Phanxicô thành Assisi, vị thánh của Hoà Bình với kinh nguyện Hoà Bình bất hủ, mà mỗi lần tiếng kinh ấy được cất lên, ai nghe cũng chạnh lòng khao khát một trời mới bình an, một đất mới an bình, một nhân loại mới an hoà, hạnh phúc.

Ở thánh nhân tâm hồn nghèo khó và xây dựng hoà bình là hai đặc điểm nổi bật đồng hành với nhau.

Thánh nhân đã sống tinh thần nghèo khó của Tin Mừng khi tự cởi bỏ khỏi của cải vật chất, và những giầu có của ích kỷ, tham vọng, bởi chính những giầu có ấy đẩy con người đến những bất công, bất chính trong tương quan với tha nhân, và từ đó phát sinh những ganh ghét, đố kị, hận thù, bạo lực.

Thánh nhân đã sống tinh thần yêu chuộng  hoà bình và nỗ lực xây dựng một cộng đoàn bình an, một thế giới hoà bình, khi làm trống trải trái tim khỏi những ý nghĩ ích kỷ, toan tính hưởng thụ, thủ đọan vinh danh cái tôi, nhưng làm đầy con tim bằng những cảm thương, chạnh lòng, những bao dung, thứ tha, những ủi an, chia sẻ, những bỏ mình, quên mình, những thiệt thòi vì hạnh phúc của người khác, những mất mát vì bình an của tha nhân, những  lần chết đi cho đồng loại được sống.    

Ước gì ngay hôm nay mỗi người chúng ta noi gương thánh nhân để  biết sống nghèo cái tôi hầu làm giầu cái chúng tôi ; biết từ bỏ chính mình để gặp được tha nhân và tìm lại chính mình trong an bình, vì Thiên Chúa chỉ ban ơn Bình An của Ngài cho những người thiện chí biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.

Jorathe Nắng Tím

YẾN TIỆC NƯỚC TRỜI

 

Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật 28 Thường Niên, Năm A



Càng gần những ngày cuối của ba năm rao giảng Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu càng cảm thấy áp lực nặng nề từ phía giáo quyền Do Thái, khi các thượng tế, ký lục và nhóm Pharisêu ngày càng công khai dồn sức tấn công và tìm mọi cách giăng bẫy Ngài với hy vọng giao nộp Ngài cho chính quyền đế quốc Rôma và ước mơ thấy Ngài lãnh án tử hình đóng đinh, hầu triệt tiêu một khuôn mặt gây nhiều phiền phức, có sức đảo lộn toàn bộ sinh hoạt xã hội, tôn giáo, và làm sụp đổ thành trì “cơ chế” vững chắc bảo đảm an toàn chỗ đứng của họ.

Ở thời điểm căng thẳng này, Đức Giêsu nhiều lần nói với những chức sắc tôn giáo ấy bằng một cung giọng ngày càng cứng rắn, và không ngại lột trần dã tâm đen tối, xấu xa của họ, như dụ ngôn “Tiệc Cưới Nước Trời” được ghi lại trong Tin Mừng Mátthêu.

Dụ ngôn được coi như bản cáo trạng thu gọn lên án thái độ khinh bạc và quyết định khước từ của Ítraen, dân Chúa trước lời mời vào dự tiệc Nước Trời của Thiên Chúa. Qua hình ảnh những khách được mời đã viện đủ lý do để từ chối, đã tìm mọi cách để không đến dự tiệc, dù “cỗ bàn đã dọn xong, bò tơ, thú béo đã hạ rồi, và mọi sự đã sẵn” (Mt 22,4). Không đếm xỉa và coi thường lời mời của Thiên Chúa đã đành, Ítraen còn bắt bớ, hành hạ và giết cả những người của Thiên Chúa sai đến để mời họ, và Đức Giêsu đóng lại bản cáo trạng bằng một kết luận đanh thép : “Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng” (Mt 22,8).

Trước lửa hận thù đang sôi sục trong tâm hồn những người lãnh đạo tôn giáo Do Thái lúc bấy giờ, lời tuyên bố không nể nang, nhân nhượng của Đức Giêsu về một dân riêng không còn xứng đáng với tình thương và lòng trân trọng của Thiên Chúa khác nào đổ thêm dầu để ngọn lửa bùng phát ngàn lần dữ dội, khủng khiếp. Bằng chứng là ngay sau đó “những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy” (Mt 22,15).

Khi nghe Đức Giêsu tố cáo như vậy, chắc chắn một số trong họ đã nghĩ đến ngôn sứ Giêrêmia, người mà cha ông họ đã bạc đãi, đối xử tồi tệ, bất công, đồng thời nhớ lại đội quân hùng mạnh của Nabucodonoso gần 6 thế kỷ trước (năm 587 trước công nguyên) đã tàn phá Đền Thờ và dẵm nát quê hương “Đất Hứa” của họ. Và  nhiều người trong họ đã coi đó là hình phạt của Thiên Chúa Giavê đổ trên dân riêng “bất xứng, ngỗ nghịch”.

Riêng Đức Giêsu, hôm nay Ngài chính thức cho họ biết có một dân mới được mời gọi vào yến tiệc Nước Trời thay thế họ ; có những người khách mới được Thiên Chúa đích thân đón vào dự tiệc cưới ; có những con người mới xứng đáng hơn họ được Thiên Chúa yêu thương, trân trọng cho đồng bàn. Và những khách mới, người mời, dân mới ấy chính là “bất cứ ai gặp được ở các ngã đường”, bởi đã đến lúc Thiên Chúa “gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới” trong Vương Quốc của Ngài (Mt 22,9).

Hình ảnh những người khách mới gặp được ở các ngã đường để thay thế những “khách mời bất xứng” chính là Giáo Hội của Đức Giêsu, một dân tộc mới “gồm muôn dân” được mời vào dự tiệc của Chiên Thiên Chúa như ngôn sứ Isaia đã loan báo : “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc : tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế” (Is 25,6), vì Thiên Chúa, Đấng thiết đãi muôn dân yến tiệc Nước Trời là Mục Tử nhân lành, Đấng dẫn đoàn chiên đến đồng cỏ xanh tươi, bên dòng nước trong lành ; Ngài dắt chiên đi trên đường ngay nẻo chính, và dọn sẵn cho chiên “bữa tiệc ngay trước mặt quân thù” (x. Tv 22,1-5). 

Nhưng khi các khách mời đã vào bàn tiệc, thì một biến cố buồn bất chợt xẩy ra : “nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới, mới hỏi người ấy : Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”. Người ấy câm miệng không nói được gì. Nhà vua liền bảo những người phục dịch : “Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 22,13).

Biến cố thật bất ngờ và đáng buồn chắc chắn đã làm sững sờ nhiều người, nhất là thực khách bị nhà vua chiếu tướng, điểm mặt và ra lệnh bắt giam, đem đi hành hạ. Ngay cả chúng ta cũng chung một tâm trạng hụt hẫng ấy, bởi cứ sự thường  những vị “khách mới” bất ngờ giờ chót được mời ở các ngã ba, ngã tư đường đã vào bàn tiệc với y phục thường ngày, vì không  ai trong họ đã được biết trước mình sẽ được nhà vua mời dự tiệc cưới trong hoàng cung. Thái độ nổi giận và hình phạt nặng nề của nhà vua trên vị khách không mặc y phục lễ cưới qủa thật làm sốc  không ít và chúng ta cảm thấy có chút gì bất công về phiá nhà vua.

Thực ra, Đức Giêsu đã mượn hình ảnh y phục lễ cưới để nói lên một chân lý quan trọng đó là Nước Trời từ nay được mở ra cho tất cả mọi người, không trừ ai, không phân biệt sắc dân, chủng tộc, trình độ, hoàn cảnh, nhưng điều đó không có nghiã những người được nhận vào Nước Trời không còn phải đáp ứng bất cứ đòi hỏi nào. Trái lại, luật mới của Tin Mừng, luật của Giao Ước Mới, luật mới của Đức Giêsu, tuy khác Luật cũ Môsê, nhưng vẫn đòi hỏi không kém, vẫn có những điều kiện buộc người muốn vào dự tiệc Nước Trời phải tuân giữ, thực hiện. Và Luật đó chính là Luật Yêu Thương, y phục lễ cưới đó chính là Đức Ái, điều kiện để được Thiên Chúa yêu thương cho đồng bàn với Ngài trong Vương Quốc, như thánh Tông Đồ Gioan  đã khẳng định : “Thiên Chúa là Tình yêu : ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy”, và “đây là điều răn mà chúng ta đã nhận từ Người : ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình” (1 Ga 4,16.21).

Xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ quên mang sẵn trên mình y phục lễ cưới là Đức Ái, để bất cứ giờ nào, ở đâu Thiên Chúa mời gọi vào dự Tiệc Cưới Nước Trời, chúng ta đều đến với Ngài trong y phục Tình Yêu lộng lẫy, xinh đẹp, để  xứng đáng đồng bàn với chính Thiên Chúa và các thánh của Ngài trên Thiên Đàng.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

TRÔNG CẬY Ở CHÚA

 

Kinh Thánh tràn ngập tâm tình và hành động trông cậy ở Chúa. Đặc biệt trong các thánh vịnh, niềm hy vọng, lòng trông cậy ở Chúa  được diễn tả rất sâu sa và sống động :  “Con đặt hy vọng nơi Chúa, con hết lòng trông cậy ở Lời Ngài” (Tv 129,5), “Lậy Thiên Chúa, chính Ngài sẽ đẩy chúng vào hố diệt vong những phường khát máu và chuyên lường gạt. Phần con đây, con tin tưởng nơi Ngài” (Tv 54,24), “Chúa để mắt trông nom người kính sợ và kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương” (Tv 32,18), “Lậy Chúa, chính Ngài là Đấng con trông đợi, chính Ngài là Đấng con tin tưởng ngay từ độ thanh xuân. Từ thuở sơ sinh, con nương tựa vào Ngài, Ngài đã kéo con ra khỏi lòng mẹ, con ca tụng Ngài chẳng khi ngơi” (Tv 70,5-6).

Trong Tân Ước, Đức Giêsu đã sống từng giây phút niềm Hy Vọng này, khi hết lòng trông cậy vào Thánh Ý Chúa Cha, và trong mọi tình huống dù éo le, khắc nghiệt, nguy hiểm đến đâu, Ngài vẫn một lòng tin tưởng như lời cuối cùng của Ngài trên Thánh Giá trước khi tắt thở : “Lậy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

Với các môn đệ, Ngài dậy các ông đặt trọn vẹn hy vọng nơi Thiên Chúa quan phòng, Đấng là Cha nhân hậu luôn biết con cái mình cần gì, thiếu gì để ban cho (x. Mt 6,25-34).

Nhưng làm thế nào để biết mình thực sự trông cậy ở Chúa, hy vọng vào Ngài ?

Thưa có hai điều kiện nền tảng để biết mình có lòng trông cậy đích thực, niềm hy vọng chính đáng :

1.   Biết mình có khả năng ra khỏi cái tôi khép kín, đóng chặt và những thành qủa do hoạt động của bản thân.

2.   Dám tin tưởng vào mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Để hiểu rõ hơn, chúng ta cùng chia sẻ tâm tình của thánh Gioan Tông Đồ, người môn đệ được Chúa yêu đặc biệt qua thư của Ngài : “Điều có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống. Qủa vậy, sự sống đã được tỏ bầy, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời : sự sống ấy vẫn hưóng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bầy cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra để niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn” (1 Ga 1,1-4).

Qua trích đọan trên, chúng ta thấy thánh Gioan đã không giữ riêng cho mình bất cứ sự gì nhận được từ Thiên Chúa, kể cả ơn được hiệp thông với Chúa Cha và Đức Giêsu, nhưng muốn truyền đạt tất cả cho chúng ta, với mục đích làm cho niềm vui của chúng ta được nên trọn vẹn, niềm vui mà theo Ngài chính là sự hiệp thông của toàn thể cộng đoàn trong Thiên Chúa và với Thiên Chúa. Sự hiệp thông được hình thành từ những liên đới ngày càng nhân rộng, ngày càng thêm mới, luôn vui tươi và chân thực vì được nuôi dưỡng trong niềm Hy Vọng ở Niềm Vui sẽ được Thiên Chúa làm cho hoàn hảo.

Qủa thực, không thể trông cậy, nếu lòng trông cậy không hướng đến một Niềm Vui hoàn hảo ; không thể hy vọng, nếu niềm hy vọng không tìm kiếm một Hạnh Phúc lớn lao, trọn vẹn. Đức trông cậy ở người Kitô hữu là nỗi khát khao Lời Hứa Hạnh Phúc của Thiên Chúa được thực hiện nơi họ ; là ước mơ, mong đợi, trông ngóng Niềm Vui bất diệt và Hạnh Phúc đời đời đã được Thiên Chúa hứa ban, nên trong trái tim Trông Cậy của người môn đệ Đức Giêsu luôn có bóng dáng của Niềm Vui Tin Mừng, và những bước chân của người đi theo Đức Giêsu trên  hành trình Hy Vọng lúc nào cũng dặt dìu, nhịp nhàng tiếng ca  ngày mùa Hạnh Phúc của Nước Thiên Chúa.

Nhưng niềm vui Tin Mừng và hạnh phúc Nước Trời không bất động như nước ao tù, nhưng sống động, rộn ràng, nhộn nhịp như sự sống ; không im lìm thê lương như ốc đảo hoang vu, tiêu điều, nhưng vui tươi gặp gỡ, hào sảng mời gọi, quảng đại trao ban, vì niềm vui riêng lẻ của  bản thân từ nay đã biết ra khỏi mình để cộng hưởng với Niềm Vui lớn của cộng đoàn, hạnh phúc riêng tư nay đã biết vươn mình ra khỏi vỏ ốc ích kỷ để chung sức góp phần làm nẩy sinh nhiều hạnh phúc mới và làm cho “Hạnh Phúc chung” của mọi người ngày càng lan rộng, bao trùm.   

Thực vậy, mầu nhiệm Hy Vọng của Thiên Chúa chính là Niềm Vui lớn của cộng đoàn, Hạnh Phúc lớn của dân Chúa, mà những niềm vui nhỏ của từng cá nhân, những  hạnh phúc bé của mỗi người đã  tận tụy đóng góp, chung phần làm nên.

Vì thế, lòng Trông cậy, niềm Hy Vọng của chúng ta ở Thiên Chúa không là lòng trông cậy thụ động, niềm hy vọng ươn lười, “ngồi chờ sung rụng”, nhưng là Trông Cậy tích cực, Hy Vọng hoạt động, Trông Cậy dấn thân, Hy Vọng nỗ lực xây dựng. Nói cách khác, chính mỗi người Kitô hữu được kêu gọi cùng Đức Giêsu “cưu mang” niềm Hy Vọng cho thế giới, “sinh ra” niềm Hy Vọng cho người nghèo, đau yếu, bất hạnh, và “làm lớn lên” niềm Hy Vọng, Cậy Trông giữa những con người đang chối bỏ Niềm Vui Hy Vọng của đời mình.

Để được cùng Đức Giêsu bước đi trên con đường Hy Vọng, mỗi người Kitô hữu phải trở nên người cộng tác tìm kiếm và xây dựng Niềm vui chung của cộng đoàn khi noi gương Đức Giêsu thực hiện bốn điều sau :

·      Chăm chú lắng nghe người khác, như Đức Giêsu đã chăm chú lắng nghe ông Nicôđêmô khi ông tìm đến gặp riêng Ngài ban đêm, vì ông là một thủ lãnh của người Do Thái (x. Ga 3,1-21).

·      Tuyệt đối kính trọng mọi người, như Đức Giêsu đã luôn trân trọng những người Ngài gặp : từ viên sĩ quan ngọai quốc, ngoại đạo (Lc 7,1-10), người đàn bà nghèo khó (Mc 12,41-44), chị phụ nữ ngoại tình bị bắt qủa tang (x. Ga 8,1-11) đến người ăn xin mù loà (x. Ga 9), người thu thuế tội lỗi (x. Lc 19,1-10) và các trẻ em (x.Mc 10,13-16).

·      Chân thành, chân thực với anh em như Đức Giêsu đã chia sẻ chân thành và chân thực với người đàn bà Samari bên giếng Giacóp.

Để có được những đối thoại chân thực, chân thành, người ta không những phải tôn trọng đối tượng mà còn phải hết tình quan tâm, và ân cần đón nhận, chia sẻ tâm sự.

·      Kiên nhẫn với nhau trong đời sống, như Đức Giêsu đã kiên nhẫn chịu đựng các môn đệ cũng như dân của Ngài. Kiên nhẫn khi không làm áp lực, bắt ép  người khác phải tin và làm theo ý mình, nhưng tôn trọng chọn lựa tự do của mỗi người ; kiên nhẫn để kiến tạo bình an và tự tin ở người khác, mà không biến bất cứ ai thành một thứ nô lệ tinh thần phải tùy thuộc và phục vụ ý muốn riêng của chúng ta.

Vâng, hình ảnh những con người đã được gặp Đức Giêsu trong Tin Mừng đã cho chúng ta thấy lòng trông cậy phải hướng đến Thiên Chúa là Niềm Vui hoàn hảo bằng tích cực cộng tác với Thiên Chúa “sinh ra và nuôi lớn” những liên đới mới, vì từ những liên đới này mà niềm vui được ươm mầm và sinh hoa kết qủa đem lại Hạnh Phúc lớn lao và trọn vẹn mà Thiên Chúa hứa ban cho những ai trông cậy ở Ngài.

Nói cách khác, những người tin tưởng vào Lời Hứa của Thiên Chúa sẽ đặt niềm hy vọng, lòng trông cậy của mình vào hành động xây đắp niềm vui chung, khi quên mình vì niềm vui của người khác và tin vào chương trình mầu nhiệm của Thiên Chúa, bởi hành trình Hy Vọng, con đường Trông Cậy của người môn đệ Đức Giêsu là dong duổi với Chúa đến với người khác, và cùng người khác miệt mài tìm đến Chúa là Nguồn Vui của Hy Vọng.  

Xin Đức Maria, gương mẫu của lòng Trông Cậy, người đã được Thiên Chúa ban trọn vẹn Niềm Vui của lòng Trông cậy, vì tin ở Mầu Nhiệm Thiên Chúa đã lên đường “ra khỏi” nhà mình, “rời bỏ” tổ ấm riêng tư của mình, ngay sau khi thụ thai Ngôi Lời Thiên Chúa do quyền phép Chúa Thánh Thần, để đến thăm người chị họ Êlisabét. Vì đặt trọn niềm Hy Vọng ở Mầu Nhiệm Thiên Chúa, và dám chia sẻ những gì “mình là” : là Mẹ Thiên Chúa, “mình có”: có Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể trong cung lòng, Đức Maria đã đánh thức lòng dạ bà chị họ để bà  được vui mừng vì nhận ra Hồng Ân của Thiên Chúa: “Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng. Em thật có phúc vì tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,44-45).

Vì tin những gì Thiên Chúa đã nói, vì tin vào Mầu Nhiệm của Thiên Chúa, Đức Maria đã thực hiện sứ vụ người cộng tác với Thiên Chúa để làm cho Niềm Vui của Hy Vọng được lan rộng, lớn nhanh, và chính vì đã chia sẻ niềm vui bản thân với người khác, niềm vui của Mẹ đã tăng lên gấp bội như lời ngợi khen tràn đầy hạnh phúc của người Nữ Tỳ được Thiên Chúa yêu thương trong Kinh Tán Tụng Magnificat mà Mẹ đã hát lên ngay sau lời khen ngợi, chúc mừng của bà chị họ Êlisabét : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới ; từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn !” (Lc 1,46-49).

Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 29 tháng 9, 2020

NIỀM VUI TRONG CUỘC ĐỜI THÁNH TÊRÊSA

 

Mừng Lễ Kính Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu 01 tháng 10



Niềm vui là đặc tính của đời sống thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, mà người ta đọc được trên từng trang Nhật Ký “Một Tâm Hồn” của chị thánh. Đó là  niềm vui xuất phát từ Nguồn Vui là Thiên Chúa, là hoa trái của Phó Thác, Tin Tưởng, là hạnh phúc của con thơ trong vòng tay yêu thương của Cha nhân hậu. Với con đường thơ bé, thánh nữ đã cho chúng ta bí quyết để sống bình an trong niềm vui sâu lắng của  người môn đệ hoàn toàn thuộc về Đức Giêsu.

1.   Niềm vui là hoa trái của tinh thần Phó Thác :

Phó thác ở Cha trên trời là “cột sống” của linh đạo Têrêsa, mà suốt đời thánh nữ đã thực hiện. Tinh thần phó thác ấy được đặt trên nền tảng ý thức về mình và sống như mình là, nghiã là đón nhận những gì mình là, và những gì mình có như Hồng Ân của Cha trên trời thương ban, mà không ganh tị với người hơn mình, không khinh khi người thua kém mình, nhất là không quy chiếu bất cứ thành qủa, giá trị nào do mình làm vào “cái tôi” bất toàn, nhiều giới hạn, luôn cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa và anh em.

Ý thức về thân phận của mình cũng là ý thức về Tình Yêu bao la, cao cả của Thiên Chúa, nên càng biết “đón nhận mình như mình là”, người môn đệ Đức Giêsu, như thánh nữ Têrêsa càng thiết tha yêu mến Thiên Chúa, “Đấng đã làm những việc kỳ diệu trên tôi tớ hèn mọn của Ngài”. Và đây chính là gốc rễ của niềm vui trong tâm hồn như thánh nữ đã viết : “Nếu con không luôn sẵn sàng phó thác vào Thánh Ý Chúa, và luôn bị xao động bởi những tình cảm vui, buồn không ngừng nối tiếp nhau, thì tâm hồn con lúc nào cũng muộn phiền, ủ dột đến độ không còn có thể chịu đựng được những thử thách hằng ngày của Tình Yêu”    

2.   Niềm vui là hoa trái của Tình Yêu hy sinh :

Như ơn Bình An của Đức Giêsu đã chỉ được thực sự ban cho các môn đệ, sau khi Ngài đã chịu khổ hình, chịu chết và sống lại, bởi bình an đích thực, cũng là niềm vui bắt nguồn từ Thiên Chúa phải là hoa trái của tình yêu hy sinh, phải là kết qủa của tình yêu xóa mình, hiến mình vì hạnh phúc của người khác, nên sẽ không có niềm vui đích thực của Đức Giêsu phục sinh, nếu đã không cùng chịu khổ và chết với Ngài vì tha nhân, cũng như không có tình yêu đích thực như tình yêu của Thiên Chúa yêu nhân loại nếu thiếu hy sinh vì yêu thương đồng loại.

Vì thế, chỉ với tình yêu hy sinh vì người khác trong mọi thử thách của cuộc sống hằng ngày, từ việc nhỏ đến việc lớn, trong lời nói, việc làm, với Bề Trên và bề ngang, bề dưới, lúc “cơm lành canh ngọt” cũng như khi phải “ngậm đắng nuốt cay”, người đi theo Đức Giêsu mới nếm được sự dịu ngọt của tình yêu hiến mình ; mới cảm được “ách Ta êm ái, và gánh Ta nhẹ nhàng” khi mang những Thánh Giá đủ kích cỡ Thiên Chúa đặt trên vai ; mới có thể hiệp nhất và trở nên “đồng hình đồng dạng” với Đức Giêsu chịu đóng đinh cho hạnh phúc của anh em mình. 

Để vượt qua những thử thách hằng ngày trong đời sống cộng đoàn luôn nhiêu khê,  nhiều phức tạp, và đòi  liên lỷ hy sinh quên mình, Thánh nữ Têrêsa đã sống hết tình từng giây phút của đời tu với bí quyết của Tình Yêu đó là làm mọi “việc nhỏ với Tình Yêu lớn”, như cuộc đời tuy ngắn ngủi với hai mươi bốn năm sống ẩn mình trong dòng kín, nhưng luôn tha thiết, nồng nàn với Tình Yêu vượt không gian, thời gian khi khao khát được đến tận chân trời góc bể của mọi thời để loan báo cho muôn dân Tin Mừng : Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc họ.

3.      Niềm vui là hoa trái của Tha Thứ :

Tâm hồn hạnh phúc, trái tim tràn ngập niềm vui chỉ có ở người biết sống bình an với chính mình, bình an với tha nhân và bình an với Thiên Chúa.

Sống bình an với mình khi biết tha thứ cho những thiếu sót, bất toàn, yếu đuối, thất bại của chính mình, mà không bao giờ nguyền rủa mình, và buông xuôi, đầu hàng cuộc sống là Hông Ân của Thiên Chúa, như thánh Têrêsa đã viết trong ngày Rước Lễ lần đầu : “Con sẽ không bao giờ nản chí, thất vọng”, bởi ý thức những giới hạn của mình, và bình an với mình, đó là đức tính anh hùng trong đời sống thường ngày, và “ơn bình an với chính mình” ấy chính là hoa trái của sự phó thác vào Thiên Chúa, mà chỉ Chúa Thánh Thần mới ban được cho những ai mở lòng đón nhận Ngài.

Sống bình an với mình chưa đủ, người Kitô hữu còn được mời gọi sống bình an với anh chị em của mình, với Giáo Hội, với cộng đoàn.

Sau cùng, chúng ta còn cần sống bình an với Thiên Chúa, nghiã là hài lòng với hình hài đã được Thiên Chúa dựng nên ; hài lòng với cha mẹ, gia đình, gia tộc, quê hương đất nước mà Thiên Chúa đã đặt mình vào ; hài lòng với hoàn cảnh của thế giới trong đó Thiên Chúa sai  đến phục vụ.

Nhưng để có được ơn Bình An với mình, với tha nhân và với Thiên Chúa, chúng ta phải khởi đi từ đòi hòi Tha Thứ là cao điểm của Tình Yêu, bởi chỉ có Tha Thứ, chúng ta mới có bình an là nguồn của niềm vui đích thực từ Thiên Chúa, như Đức Giêsu, trong kinh Lậy Cha đã dậy chúng ta tiên vàn hãy tha thứ để được thứ tha : “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, bởi không tha thứ, ơn bình an của Đức Giêsu phục sinh là nguồn vui đích thực sẽ không bao giờ “có cửa” để đến và cư ngụ trong tâm hồn người môn đệ.

Xin Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm mưa Hoa Hồng trên chúng con để chúng con được cùng toàn thể Dân Chúa hát lên : “Con sẽ bước tới bàn thờ Chúa Trời, Nguồn Vui của hồn con”.

Jorathe Nắng Tím  

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2020

VƯỜN NHO GIÁO HỘI

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 27 Thường Niên, Năm A


Vườn nho là hình ảnh của Ítraen, dân riêng của Thiên Chúa Giavê trong Cựu Ước, cũng là hình ảnh của Giáo Hội Đức Giêsu trong Tân Ước, vườn nho mà người chủ vườn là Thiên Chúa hằng say mê, trân qúy, “đem giống nho qúy về trồng… và những mong nó sinh trái tốt” (Is 5,2).

Qủa thực, ông chủ vườn nho rất hạnh phúc với vườn nho của mình và hãnh diện nói với mọi người : “Có gì làm hơn được cho vườn nho của tôi, mà tôi đã chẳng làm?” (Is 5,4). Và tương quan gắn bó mật thiết giữa ông chủ và vườn nho chính là hình ảnh tình yêu của Thiên Chúa dành cho dân Ngài, như ngôn sứ Isaia đã qủa quyết : “Vườn nho của Đức Chúa các đạo binh, chính là nhà Ítraen đó ; cây nho Chúa mến yêu qúy chuộng ấy chính là người xứ Giuđa” (Is 5,7). Nhưng rồi, chính “vườn nho - dân riêng” ấy đã làm thất vọng ông chủ của mình khi sinh ra “những trái nho dại” do làm những điều bất chính (x. Is 5,2.7).    

Tin Mừng Mathêu cho chúng ta thấy : đứng trước những khước từ, tẩy chay, chống đối ngày càng dồn dập, và những âm mưu hãm hại, thủ đọan triệt hạ ngày càng bủa vây quyết liệt của người Do Thái được các Thượng tế, Kinh Sư và những người thuộc nhóm Pharisêu cực đoan dàn dựng, đạo diễn, Đức Giêsu đã không ngần ngại so sánh họ với bọn tá điền gian ác, bất trung đã bắt bớ, đánh đập, ném đá, giết chết những đầy tớ của chủ được sai đến gặp họ để thu hoa lợi trong vườn nho của ông, khi  mùa hái nho đến. Sau nhiều lần hành hung, hãm hại một số rất đông đầy tớ của chủ được sai đến, chủ quyết định sai chính đứa con thừa tự vô vàn yêu qúy của mình đến gặp đám tá điền hung dữ, với hy vọng họ sẽ không làm gì cậu. Nhưng ông chủ đã lầm, vừa thấy người con, bọn chúng bảo nhau : “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết qúach nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!. Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho và giết đi” (Mt 21, 38-39).

Thẳng thừng so sánh họ với bọn tá điền ác ôn, vô ơn, phản bội, Đức Giêsu chẳng khác nào đổ dầu vào lửa. Ngài còn nghiêm khắc bảo : “Tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” vì thế “họ tìm cách bắt Người” (Mt 21,43.46).

Thực vậy, chương trình của Thiên Chúa là Ítraen, dân Chúa sẽ đón nhận Đức Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, Đấng Thiên Chúa sai đến, Đấng mà các ngôn sứ đã loan báo từ bao đời trước, nhưng rất tiếc, Ítraen, dân riêng của Thiên Chúa đã không mở lòng đón nhận Ngài, bởi thế, Đức Giêsu, Con Một của Thiên Chúa, người con thừa kế được sai đến Vườn Nho - Dân Chúa đã bị hành hình, đóng đinh bởi chính dân Ngài. Và lời Kinh Thánh đã ứng nghiệm nơi Đức Giêsu : “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta” (Tv 117,22-23).

Công trình kỳ diệu ấy là Giáo Hội được khai sinh, khi Đức Giêsu xây Giáo Hội  trên tảng đá Phêrô để làm thành một dân mới biết làm cho Vườn Nho đơm hoa kết trái, “biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (Mt 21,43) ; là hạt cải vốn “là loại nhỏ nhất trong các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ lớn nhất ; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được” (Mt 13,32) ; là “thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời” ; là đại hội của những người “đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới” (Dt 12,22.24).   

Là “Vườn Nho mới” được Thiên Chúa làm giậu, xây tường và tiả cành, nhổ cỏ cho tươi thắm, Giáo Hội mang sứ mệnh loan báo Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ đích thực và duy nhất của nhân loại được Chúa Cha sai đến, Đấng “đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1,11). Dầu vậy, Ngài vẫn yêu thương để “những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,11-12) trong Vườn Nho Giáo Hội của Ngài.

Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

TỪ VÂNG PHỤC LỀ LUẬT ĐẾN TIN VÀO ĐỨC GIÊSU

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 26 Thường Niên, Năm A


Tin Mừng Mátthêu ghi lại “dụ ngôn hai người con” được Đức Giêsu đặt thành câu hỏi : người con thứ nhất trả lời cha : “Con không muốn đi đâu!”, khi ông bảo cậu : “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho Cha”, nhưng sau đó, anh ta hối hận, nên lại đi ; còn người thứ hai nhanh nhẩu trả lời : “Thưa Cha, con đi ngay”, thì lại đổi ý không đi. Vậy “trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” (Mt 21,31).

Tin Mừng Chúa Nhật này tuy tiếp tục nói về vườn nho, nhưng không đặt vấn đề thời gian làm việc, lương bổng, và đặc biệt không gọi “người làm vườn nho” là “công nhân, người làm” nữa, nhưng gọi là “Con”, và trọng tâm của dụ ngôn chính là  hai người con được mời gọi đi làm vườn nho của Cha mình.

Chúng ta thấy cung giọng của Tin Mừng hôm nay hoàn toàn thay đổi khi tương quan Cha - Con, liên đới gia đình thay thế “thứ bậc” ông chủ - người làm công, lời mời thay cho lệnh, tự do thay “giao kèo, hợp đồng”, nên không còn cảnh kèo nhèo, phân bì, khiếu nại tiền công cuối ngày của đám thợ nghĩ mình bị chủ bóc lột, ăn chặn, xử ép bất công.

Hai người con được cha mời gọi đi làm vườn nho, và cả hai hoàn toàn tự do chấp thuận hay từ chối, toàn quyền quyết định đi hay không đi, và việc vào làm vườn nho không mang tính cách của một hình phạt, án khổ sai, hay công việc dành cho tôi tớ, nhưng là vinh dự chỉ dành cho con cái, và trách nhiệm đương nhiên của người thừa kế gia nghiệp.

Người con thứ nhất ban đầu không muốn đi đã thẳng thắn trả lời Cha : “Con không muốn”. Nhưng  anh suy nghĩ lại và hối hận, nên lại đi theo như ý muốn của Cha. Trái ngược với người thứ nhất, con thứ hai đã năng nổ ban đầu, nhưng rồi lại không đi.

Hình ảnh này ngôn sứ Êdêkien đã loan báo khi nói về người công chính và không công chính trong dân Ítraen : Các ngươi lại nói : “Đường lối của Chúa Thượng không ngay thẳng”. Vậy hỡi nhà Ítraen hãy nghe đây : Phải chăng đưòng lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình” (Ed 18,25-27).

Ngôn sứ nhấn mạnh : đường lối của Thiên Chúa không sai, nhưng sai là do con người có tự do đã từ chối thực hiện đường lối thánh thiện, tốt đẹp của Thiên Chúa, như người Cha đã mời gọi cả hai con cùng vào vườn nho, nhưng quyết định vào hay không tùy thuộc lựa chọn và quyết định tự do của mỗi người.  

Đức Giêsu, trong Tin Mừng Mátthêu, khi đưa ra dụ ngôn “hai người con” đã không chỉ nói chung chung, nhưng trực diện và trực tiếp nói với những kinh sư, Pharisêu, và toàn thể giai cấp lãnh đạo tôn giáo lúc bấy giờ cái sai của họ, vì họ không tin Ngài. Sở dĩ không tin Ngài, vì họ không thể dứt ra khỏi cơ cấu của truyền thống, không thể gỡ mình khỏi ràng buộc của cơ chế lề luật để tâm hồn  mở rộng đón nhận Tin Mừng, trái tim mở cửa đón tiếp Ngài là Đấng Thiên Chúa sai đến. Họ là những người “vị Lề Luật”, sùng bái, tôn thờ Lề Luật nên không ra khỏi não trạng vâng phục Lề Luật cách mù quáng, mà chỉ muốn ở lỳ trong “vòng chi ly, tỉ mỉ của Lề Luật”, nên đã không để Đức Giêsu dẫn vào con đường đức tin, khi từ chối tin Ngài là Con Thiên Chúa.

Chính vì khép kín, lại kiêu căng, ương ngạnh, họ vô tình đánh mất chỗ tốt nhất mang lại nhiều lợi nhuận nhất là chỗ của người có tội, chỗ của những người thu thuế gian tham, chỗ của những cô gái điếm buông thả, lăng loàn, chỗ của phường lưu manh, trộm cướp, nhưng tất cả những người tưởng  bị loại bỏ này đã không từ chối con đường Cứu Độ Thiên Chúa mở ra mời gọi, khi họ đặt niềm tin vào Đức Giêsu, như Đức Giêsu đã qủa quyết : “Tôi bảo thật các ông : những ngưòi thu thuế và những cô gái điếm  vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin” (Mt 21,31-32).

Như thế, then chốt của vấn đề, đáp án của nan đề là tin vào Đức Giêsu, Đấng là “Đường, Sự Thật và Sự Sống”, Đấng mà Gioan Tẩy Giả đã trân trọng loan báo và giới thiệu với đám đông : “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29). Và đó là ý muốn của Thiên Chúa, nên tin Đức Giêsu là Đấng xóa tội, tội lỗi của tội nhân sẽ được Máu Ngài  tẩy xóa, rửa sạch ; tin vào Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ nhân hậu, giầu lòng thương xót, thân phận yếu đuối, tội lụy, bất xứng của người có tội sẽ được thương xót, chữa lành. Cũng vậy, Nước Trời sẽ chỉ dành cho những ai đặt niềm tin vào Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ, nên bất cứ ai, dù tội lỗi nhưng tin vào Ngài chắc chắn sẽ được Ngài cứu độ, và ban phần thưởng thiên đàng.

Vâng, Đức Giêsu  luôn mời gọi chúng ta noi gương Ngài vâng phục trong Tình Yêu “cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên cậy thập tự” để từ vâng phục, chúng ta đi đến đức tin, khi tin “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,8.11), bởi vâng phục mà thiếu tình yêu, dù là vâng phục Lề Luật, chúng ta sẽ như người con thứ hai nhanh nhẩu trả lời Cha “Con đi ngay”, nhưng lại không đi, vì chỉ vâng phục  trong Tình Yêu và với Tình Yêu, chúng ta mới đi đến cùng con đường Thiên Chúa muốn chúng ta đi, mới có thể  thực hiện Ý Muốn của Thiên Chúa khi tin vào Đức Giêsu và tuyên xưng Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.

Jorathe Nắng Tím 

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2020

Lời Kết (Xin Chớ Để Chúng Con Sa Chước Cám Dỗ)

 Chúng ta đang ở thời đại mà Satan trở nên trâng tráo đến tột độ. Satan hoạt động ráo riết và xem như đang dốc toàn lực để hủy diệt nhân loại. Ngày xưa Satan và bè lũ còn ẩn mình trong tội lỗi và lầm lạc của con người như Leviathan trong Cựu ước, nhưng ngày nay, chúng quậy phá theo cấp số nhân và ngang nhiên ngẩng cao đầu nghênh chiến trong những cơ cấu tội lỗi, tổ chức phản nghịch để hạ bệ Thiên Chúa, chống báng Giáo hội, bứng gốc con người.

Bạn hãy cùng tôi quan sát Satan đang cười ngạo nghễ trước phong trào nạo thai, phá thai của rất nhiều thiếu nữ còn đi học, và con số những thai nhi nhặt được trong thùng rác, trên hè phố, giữa phố chợ ngày càng nhiều và bình thường đến độ người ta không còn bận tâm, chú ý. Bạn cũng gặp Satan đi dạo thong thả, ra chiều thích thú trên con phố san sát những quán càphê ôm, massage kích dục, sạp báo khiêu dâm, tiệm bán các dụng cụ phục vụ nhu cầu tình dục. Satan cũng thường có mặt trong những cuộc biểu tình đòi quyền tự do sống thử, tự do phá thai, tự do ly dị, tự do hôn nhân đồng tính. Satan đang cười khoái trá trong quán nhậu, và vỗ tayđôm đốp khi người ta giết nhau nhanh chóng và dễ dàng như lột vỏ trái chuối. Trước mắt Satan, hai chàng bợm nhậu vừa đâm nhau lủng ruột chỉ vì một câu nói “vô thưởng vô phạt”.

Chưa bao giờ, chúng ta thấy sự dữ tràn lan và được thúc đẩy bởi những điều kiện xã hội như vậy. Sự dữ không còn cần che giấu, hay lén lút thực hiện trong bóng tối. Người ta không còn e ngại, ngượng ngùng khi làm điều xấu, điều ác, điều kinh tởm trước mặt người khác. Trái lại, sự dữ được cấu trúc thành cơ chế, tổ chức, đường hướng, kế hoạch quy mô, hiện đại. Sự dữ được trưng bày công khai, được phát tán thoải mái qua facebook, và bình luận, “comment” sôi nổi trên mạng; sự dữ được quay phim, trình chiếu, thực tập, bắt chước học đòi; sự dữ có mặt không thẹn thùng trong mọi lãnh vực đời sống, và được chấp nhận như sinh hoạt chính danh. Và nguy cơ cực lớn của xã hội hôm nay, chính là sự dữ đã không còn được coi là sự dữ trong tâm thức của con người thời đại.

Ngày xưa, ly dị là điều quái gở, nhưng thời nay, không ly dị mới là khờ khạo, “hai lúa”; thời trước có đời nào biết đến đồng tính, pê-đê, thế hệ sau này lại coi đồng tính là “mốt thời đại”; tham nhũng năm xưa bị coi là ung nhọt của xã hội, năm nay “ung nhọt” chẳng là gì so với “ung thư di căn”; ngày xưa đâm chém là chuyện hi hữu, tầy trời, ngày nay đâm chém trở thành “chuyện nhỏ”, thường ngày. Từ ngày xưa đến ngày nay, trên chuyến xe Sự Dữ với tốc độ chóng mặt do Satan cầm lái, thế giới loài người đã bị cuốn vào mênh mông tội lỗi, nhất là giới trẻ hầu như hoàn toàn không được trang bị để đối phó với sự thống trị chuyên chế của Satan.


Satan đang khống chế và sử dụng con người một cách hết sức tồi tệ, đốn mạt cho mục đích gian ác của hắn. Lấy con người để giết con người, dùng bàn tay con người để xử con người: Tay con giết cha, tay vợ chém chồng, tay nhân loại hành hung nhân loại. Thế kỷ XXI đã là chiến trường luân lý và thiêng liêng, ở đó, Satan đang cố sức định nghĩa lại sự sống, sự thật, tình yêu, tình dục, hôn nhân, gia đình, hạnh phúc, và bằng sức mạnh của hỏa ngục, Satan tích lũy thêm tội ác trong nhân loại, đồng thời vận dụng mọi thế cờ để nắm quyền kiểm soát toàn diện, và toàn bộ đời sống con người, từ hành vi sinh sản đến sự sống và sự chết. Trật tự thế giới mới mà Satan mong ước đang được xây trên chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa tục hóa, mà bước đi của những chủ nghĩa này đang tạo thành cơn sóng thần dữ dội xô lấp tất cả những tốt đẹp của loài người, và tận diệt các linh hồn một cách hung ác chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.

Con người thời đại không còn biết mình là ai, ở trên đường đời mà không biết mình đi đâu, cũng không hiểu ý nghĩa đích thực của những giá trị nhân bản, và thiêng liêng, nhưng chỉ cắm đầu ngoan ngoãn nghe theo Satan để chống lại chính mình, và từ đó chống phá Thiên Chúa và tha nhân. Đây là cuộc chiến mà bên ngoài tưởng chỉ Thiên Chúa là đối tượng, nhưng thực ra là cuộc chiến của con người chống lại con người. Chiến thắng sẽ về phía Satan khi con người để hắn khống chế, bắt làm tay sai, và hậu quả không bao giờ thay đổi chính là bất hạnh của con người.

Thế giới hôm nay cũng là thế giới của nhiều hiểm hoạ mang tính tôn giáo: Những cuộc thanh trừng đẫm máu, những màn “giết sống” được quay phim cho cả thế giới phải rùng mình của tổ chức “Nhà Nước Hồi giáo IS tự xưng” đã khẳng định cơn khát máu người của Satan đã lên đến tột đỉnh. Hắn đang đạt đến mức tàn ác nhất khi xúi con người, không còn nhân danh con người, nhưng nhân danh Thiên Chúa để tiêu diệt con người. Đến được mức tàn ác này, Satan đang mường tượng một ngày mai sẽ toàn trị thế giới, sau khi đánh sụp Giáo hội của Đức Giêsu.

Nhưng đó là thực tế, thực trạng của thế giới đang bị Satan quậy phá, một thế giới ngày càng quên sự hiện diện yêu thương, và hoạt động cứu độ của Đức Giêsu, Đấng mà Satan phải bái chào, quy phục, vì Ngài là Thiên Chúa, đồng thời cũng là Đấng mà tất cả nhân loại nhờ Ngài mà được giải thoát khỏi quyền lực của Satan, bởi Ngài là Thiên Chúa làm người, ở giữa loài người, cứu độ mọi người. Ngài đến để cứu chữa, Ngài đến để giải thoát, Ngài đến để giải phóng tất cả chúng ta khỏi ách nô lệ của Satan, tội lỗi và hỏa ngục.

 

Rất có thể, tôi và bạn, cả hai chúng ta đều không đi thẳng người, mà phải còng lưng nhìn đất, do gánh nô lệ tội lỗi, và sức nặng của quyền lực Satan. Thời buổi “a còng @” mà, nên lưng còng, người cong cũng là chuyện bình thường!

Thế nhưng với Đức Giêsu, cái cong, cái còng của chúng ta không bình thường chút nào, vì đó là gông cùm, xiềng xích của ma quỷ trói buộc. Hơn ai hết, Ngài chạnh lòng thương, vì quả thực, chúng ta thật đáng thương, và Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi tay Satan và bè lũ, như đã cứu người phụ nữ lưng còng trong ngày Sabát:

“Ngày Sabát kia, Đức Giêsu giảng dạy trong một hội đường. Ở đó, có một phụ nữ bị quỷ làm cho tàn tật đã mười tám năm. Lưng bà còng hẳn xuống và bà không thể nào đứng thẳng lên được. Trông thấy bà, Đức Giêsu gọi lại và bảo: “Này bà, bà đã được giải thoát khỏi tật nguyền!”. Rồi Người đặt tay trên bà, tức khắc bà đứng thẳng lên được và tôn vinh Thiên Chúa.

Ông trưởng hội đường tức tối, vì Đức Giêsu đã chữa bệnh vào ngày Sabát. Ông lên tiếng nói với đám đông rằng: “Đã có sáu ngày để làm việc, thì đến mà xin chữa bệnh những ngày đó, đừng có đến vào ngày Sabát!”. Chúa đáp: “Những kẻ đạo đức giả kia! Thế ngày Sabát, ai trong các ngươi lại không cởi dây, dắt bò lừa rời máng cỏ đi uống nước? Còn bà này, là con cháu ông Ápraham, bị Satan trói buộc đã mười tám năm nay, thì chẳng lẽ lại không được cởi xiềng xích đó trong ngày Sabát sao?”. Nghe Người nói thế, tất cả những kẻ chống đối Người lấy làm xấu hổ, còn toàn thể đám đông thì vui mừng, vì mọi việc hiển hách Người đã thực hiện” (Lc 13,10-17).

Lạy Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ con, chính Chúa đã thấy người đàn bà bị quỷ làm cho lưng còng mười tám năm, và gọi bà đến gần Chúa, xin cho chúng con được phúc như bà, để suốt cuộc đời, giữa những đảo điên của tội lỗi, ngông cuồng của Satan, yếu đuối của chính mình vẫn được ở trong tầm nhìn yêu thương, cứu độ của Chúa. Và xin cho con tin tưởng: Chúa tuyệt đối toàn năng sẽ kịp thời can thiệp để cứu sống con, như đã bất chấp luật ngày Sabát của Môsê khi làm phép lạ chữa người đàn bà mười tám năm bị ma quỷ khống chế, vì Lạy Chúa, chỉ có Chúa mới giải thoát con khỏi tai ương, cạm bẫy của địch thù. Con xin tạ ơn và ngợi khen Chúa, Đấng Cứu Độ con!

Trung Tâm Bác Ái, Phú Dòng 26.9.2014

                                             Jorathe Nắng Tím


Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG TỐT LÀNH, NHÂN HẬU

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 25 Thường Niên, Năm A


Ngay từ buổi đầu tạo dựng, Thiên Chúa đã mặc khải Ngài là Đấng tốt lành và mọi việc Ngài làm, mọi thụ tạo Ngài dựng nên đều tốt đẹp. Riêng với con người, Ngài  dựng nên theo hình ảnh Ngài, chúc phúc  cho họ và ban cho họ quyền thống trị mặt đất (x. St 1,1-31).  

Dòng dã lịch sử nhân loại và lịch sử dân riêng Ítraen, Thiên Chúa không ngừng nói với con người và chứng tỏ : “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, chậm giận và giầu tình thương. Chúa nhân ái với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên… Ai qụy ngã, Chúa đều nâng dậy, kẻ bị đè nén, Người cho đứng thẳng lên” (Tv 144,8-9.14). Ngôn sứ Isaia còn công bố và nhắc nhở : “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người còn ở kề bên. Kẻ gian ác hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa, và Người sẽ xót thương” (Is 55,6-7).

Sự tốt lành, và lòng nhân hậu của Thiên Chúa tất nhiên vượt xa ý nghĩ của phàm nhân, vì “tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào, thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy” (Is 55,8-9). Chân lý này đã được chính Đức Giêsu làm sáng tỏ qua dụ ngôn “thợ làm vườn nho” trong Tin Mừng Matthêu:

1.   Thiên Chúa là Đấng tốt lành và nhân hậu, vì Ngài đón nhận tất cả mọi người,  không loại bỏ ai:

Đức Giêsu đã trình bày chân dung một ông chủ rất tốt lành “vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình, sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền” (Mt 20, 1-2). Thế rồi,” khoảng giờ thứ ba”, rồi “khoảng giờ thứ sáu”, cả khi chiều về, ông đều ra ngoài đường và thấy vẫn còn những người “ở không”, chưa được ai mướn. Ông chủ hỏi họ : “Sao các anh đứng suốt ngày ở đây, không làm gì hết vậy ? Họ đáp : “Vì không ai mướn chúng  tôi” (Mt 20,6-7). Và ông bảo tất cả  “Hãy đi vào vườn nho làm việc cho tôi !”, và với mỗi người, ông đều thoả thuận trả lương cho họ “hợp lẽ công bằng” (Mt 20,4).

Ông chủ là Thiên Chúa đã đích thân ra đường hầu như suốt ngày để mời gọi những người “ở không”, thất nghiệp vào vườn nho làm việc cho ông. Ông chủ thật tốt, vì không từ chối ai, dù trong số họ có những người chưa làm vườn nho bao giờ, tay nghề còn non nớt, cả những người sức khoẻ yếu kém, lý lịch nhân thân không bảo đảm. Bằng chứng là ông đã không đặt ra bất cứ điều kiện nào từ tuổi tác, sức khỏe, khả năng, cũng chẳng bắt ai phải xuất trình bằng cấp, hay giấy chứng nhận hạnh kiểm của phường xã, hoặc nhận xét của tổ trưởng, công an khu vực, nhưng cách chọn nhân viên, người làm của ông chủ rất hào phóng, dễ dàng, và hợp đồng lương bổng hậu hĩnh, rõ ràng, phân minh.

Qủa thực, sự tốt lành và nhân hậu của Thiên Chúa được thể hiện qua trái tim thương xót và đôi tay giang rộng của Ngài khi đón nhận tất cả mọi người vào vườn nho Nước Trời, không trừ ai, dù phần đông bất xứng, không đủ điều kiện.

2.   Thiên Chúa tốt lành và nhân hậu khi ban hồng ân dồi dào, chan chứa cho tất cả mọi người:

Thiên Chúa là ông chủ đã biểu hiện lòng tốt cách rất độc đáo, khi trả cho tất cả mọi người đã vào làm vườn nho cho ông số lương cao nhất của một ngày trọn, dù có người mới chỉ làm một giờ, vì được nhận vào muộn, ở “giờ thứ mười một”. Thấy thế, những người vào làm trước nhất tỏ thái độ bất mãn, và cằn nhằn ông chủ : “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (Mt 20,12). 

Thực vậy, dụ ngôn “thợ làm vườn nho” đã đề cập và đề cao sự tốt lành và lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Trước những người tự cho mình xứng đáng, giỏi giang, đạo đức hơn người, và đang khiếu nại phần tốt nhất cho mình, Đức Giêsu muốn họ hiểu rằng lương bổng họ nhận, phần thưởng họ  lãnh đều không do tài cán, công lênh, đạo đức, phẩm hạnh của riêng họ, nhưng tất cả là hồng ân từ lòng tốt, và nhân hậu của Thiên Chúa, nên thái độ phải có chính là biết chấp nhận và đón nhận tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, Đấng không gọi những người được  tuyển chọn là tôi tớ, kẻ ăn người làm, nhưng là Bạn Hữu  (x. Ga 15,15); Ngài cũng ân cần  căn dặn những ai đi theo Ngài: “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20,27), nên thái độ ghen tức khi thấy người khác nhận được hồng ân như mình, hoặc hơn mình là thái độ không xứng hợp ở người được Thiên Chúa gọi vào làm vườn nho cho Ngài.

Xin Chúa cho chúng con luôn xác tín lòng tốt và nhân hậu của Thiên Chúa hằng  bao phủ cuộc đời mỗi người chúng con, và đừng bao giờ lấy tư tưởng của con người để đo đạc tư tưởng của Thiên Chúa, lấy đường lối của phàm nhân để đo lường đường lối của Ngài, vì tư tưởng của Thiên Chúa thì vô cùng tốt lành, và đường lối của Ngài thì nhân hậu vô biên.

Là người cha tốt lành, nhân hậu, Thiên Chúa chỉ nghĩ và thực hiện những gì tốt đẹp nhất cho chúng con là con cái của Ngài.  

Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2020

Chương 7 : Đức Maria, Đấng đã đạp giập đầu Satan

Viết về ma quỷ, mà không tôn vinh Mẹ Maria là một sai lầm, và thiếu sót rất lớn, cũng như viết về Đức Giêsu mà bỏ quên Mẹ Ngài, hay về Giáo hội mà không tôn vinh Chúa Thánh Thần. Bởi Đức Maria là Người Nữ đối thủ của Satan đã được ghi trong sách Sáng thế: “Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và Người Nữ” (St 3,15). Lời tuyên án Satan của Thiên Chúa chính là phát súng lệnh khởi đầu cuộc chiến giữa ma quỷ và nhân loại được cứu rỗi.

Nhưng đâu là mối thù giữa Satan và Đức Maria, Người Nữ được Thiên Chúa tuyển chọn?

1.   Satan căm thù Đức Maria vì Mẹ đã phá tan kế hoạch thống trị thế giới của hắn

Satan, trong cái kiêu căng vô cùng vĩ đại và lố bịch của nó, đã muốn trở thành trung tâm của công cuộc sáng tạo. Vì thế, Satan đã phản nghịch Thiên Chúa, đòi trở thành Thiên Chúa. Sau khi bị trục xuất khỏi thiên đàng, Satan vẫn kiêu căng, ngạo mạn trong ý đồ trở thành trung tâm của lịch sử loài người, nên đã cám dỗ nguyên tổ loài người. Sự kiêu căng vô độ của Satan đã bị Thiên Chúa đạp đổ bằng công cuộc Nhập Thể để cứu độ loài người của Đức Giêsu. Satan từ nay miễn cưỡng nhận ra rằng: trung tâm của công cuộc tạo dựng, cũng như của lịch sử ơn cứu độ chính là Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, bởi “nhờ Người, mà muôn vật được tạo thành”, nhờ Người mà tất cả được giải thoát, trong Người, tất cả được giao hoà với Thiên Chúa. Satan cũng bị bắt buộc nhìn nhận sự thất bại thê thảm của hắn, khi Đức Giêsu nhập thể làm người trong thân xác con người.

Điều mà ma quỷ muốn lấy làm của riêng, chính là thân xác con người, vì thân xác sẽ trở nên dịp tội cho con người. Ma quỷ muốn sở hữu hóa thân xác mọi người để biến thành lãnh thổ thống trị của chúng. Vì thế, chúng cố dùng mọi thủ đoạn để cưỡng bức, khống chế, hãm hại thân xác con người, như phản ứng điên cuồng trước sự nhập thể, làm người trong thân xác con người của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Thân xác từ nay không còn là nô lệ, một thứ tồi tệ, dơ bẩn, nhưng được thánh hóa để trở thành Đền thờ của Chúa Ba Ngôi, cung diện của Thiên Chúa. Và Người Nữ đầu tiên đã được là Đền Thờ trong sạch, cao quý, xứng đáng của Thiên Chúa, khi cung lòng vô nhiễm của Bà đã sẵn sàng mở ra đón Con Thiên Chúa xuống thế làm người.

Trước hết sự trinh trong, vô nhiễm nguyên tội của Đức Maria, đặc ân mà Thiên Chúa dành cho Người Nữ khiêm nhường, trung tín như công cụ xứng đáng và tuyệt vời cho kế hoạch đời đời của Ngài đã làm Satan choáng váng, té nhào.

Hắn không ngờ trong thế gian có một Người Nữ hoàn hảo, tuyệt vời, yêu mến, vâng lời Thiên Chúa cách tuyệt đối, nhất là đã không hề chịu lệ thuộc quyền lực tăm tối của hắn, dù là một giây ngắn ngủi vì tội lỗi. Hắn chỉ cao ngạo nghĩ: đã là người tất sẽ phạm tội, sẽ kiêu căng, ngạo mạn, bất tuân phục như hắn.

Sự có mặt của Đức Maria trong nhiệm cuộc cứu độ, tuy đã được loan báo từ khởi thủy, nhưng cũng gây sốc lớn cho Satan và bè lũ khi Đức Maria thưa với thiên thần Gabriel lời Xin Vâng khiêm nhường, phó thác: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, tôi xin vâng như lời thiên sứ truyền” (Lc 1,38).

Quả thực, qua việc xưng mình là nữ tỳ của Thiên Chúa, Đức Maria đã trở thành kẻ thù số một của Satan kiêu căng và bè lũ ngạo mạn. Sự khiêm nhường, phó thác, tin yêu, và tuân phục Thiên Chúa của Đức Maria đã cho phép Đức Giêsu trở thành trung tâm của công cuộc Cứu Độ, qua việc nhập thể trong cung lòng Mẹ: “Vì loài người chúng ta, và để cứu rỗi chúng ta, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria và đã làm người”. Satan hoàn toàn thất bại, và vương quốc của hắn hoàn toàn sụp đổ dưới chân của Người Nữ đã được tiên báo từ khởi thủy: “Người Nữ sẽ đạp giập đầu mi” (St 3,15).

Như thế, kế hoạch trở thành trung tâm của Tạo Dựng, kẻ thống trị thế giới của Satan đã bị phá vỡ, và hắn phải quay mặt đi khỏi Thiên Chúa, trở nên thụ tạo xa cách Ngài, và chịu hình phạt hỏa ngục đời đời.

Ở đây, chúng ta cần ghi nhận hai điểm nơi Đức Maria mà ma quỷ luôn tìm cách phá hủy, hay ít nhất là làm mu mờ:

a. Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội

Đây là đặc ân của Người Nữ được Thiên Chúa tuyển chọn từ đời đời để làm Đấng Đồng Công với Thiên Chúa trong nhiệm cuộc cứu độ. Là Đấng Vô Nhiễm, bởi Đức Maria không bao giờ bị tì vết bởi tội nguyên tổ, cũng như bởi tội riêng, vì ngài trọn vẹn thuộc về Thiên Chúa, không bao giờ chịu khuất phục Satan, hay dưới trướng Satan. Trái lại, chính Người Nữ vô nhiễm nguyên tội này sẽ đạp giập đầu Satan, thủ lãnh của ma quỷ.

 

Satan rất căm tức Đức Maria vì ngài không bao giờ có tội, nghĩa là không bao giờ chịu ở dưới gông cùm của hắn. Đức Maria là người duy nhất đã không chịu ảnh hưởng của Satan, đã làm Satan và ma quỷ phát điên, phát cuồng vì căm tức, bởi ngài được đặc ân vô nhiễm nguyên tội.

Hãy nhìn danh sách những đòi hỏi, yêu sách của Satan và những phong trào phò Satan. Bạn sẽ thấy: đòi hỏi đầu tiên, yêu sách số một, chính là phế bỏ vai trò của Đức Maria trong công cuộc cứu độ, và lấy khỏi ngài danh hiệu, cũng như đặc ân “Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

b. Vai trò Mẹ Thiên Chúa và Đồng Công Cứu Chuộc

Ma quỷ rất căm tức Đức Maria vì ngài luôn có mặt với Đức Giêsu và năng động trong công cuộc cứu độ của Ngôi Hai Thiên Chúa. Hơn ai hết, Đức Maria làm ma quỷ nổi khùng vì Mẹ không bao giờ rời xa Đức Giêsu, con Mẹ. Từ buổi Truyền Tin khi Ngôi Lời nhập thể trong cung lòng Mẹ, cho đến tận chân Thánh giá trên đồi Calvariô, Đức Maria luôn là Người Nữ kiên cường trong Đức Tin, nồng nàn trong Đức Mến, và bình an với lòng Trông Cậy.

Ma quỷ rất bực tức, khó chịu với Mẹ, vì Mẹ luôn yêu mến Đức Giêsu và làm ngược những gì ma quỷ làm: Ma quỷ kiêu căng, Mẹ khiêm tốn; ma quỷ ngang ngược, bất tuân, Mẹ ngoan ngùy, vâng phục; ma quỷ dối trá, xảo quyệt, Mẹ thật thà, trung thực; ma quỷ hung dữ, tàn bạo, Mẹ hiền hậu, nhân từ; ma quỷ hận thù, ghen ghét, Mẹ yêu thương, quảng đại; ma quỷ ích kỷ, hưởng thụ, Mẹ quên mình, hy sinh; ma quỷ tìm vinh quang mình, Mẹ tìm vinh quang Thiên Chúa; ma quỷ ghen tuông với con người, Mẹ đồng hành, chia sẻ, nâng đỡ, ủi an mọi người; ma quỷ săn lùng giết chết sự sống, Mẹ trân quý, giữ gìn và trao ban sự sống. Ở Mẹ có tất cả những gì của Thiên Chúa, trong khi ở ma quỷ, có tất cả những gì Thiên Chúa kinh tởm. Vì có Thiên Chúa, nên Mẹ chia sẻ trọn vẹn công việc của Thiên Chúa. Đó chính là ý nghĩa vai trò Đồng Công Cứu Chuộc của Mẹ trong chương trình cứu thế của Đức Giêsu, con Mẹ.

Cũng như tước hiệu và vinh quang “Vô Nhiễm Nguyên Tội” của Đức Maria đã làm ma quỷ phẫn nộ, danh dự và vai trò làm Mẹ Đức Giêsu Thiên Chúa, và tước hiệu Đấng Đồng Công Cứu Chuộc cũng làm điên đảo Satan và bè lũ. Chúng không còn có thể chịu đựng được những cú đòn chí tử từ gót chân của Đức Maria, nên lồng lộn cắn gót chân Mẹ, và ra sức quậy phá những tâm hồn yêu mến, và tôn vinh Mẹ.

2.   Đức Maria là gương mẫu của người tín hữu trong trận chiến chống lại ma quỷ

      Đầu quân theo Đức Giêsu, cùng Đức Maria, Người Nữ đạp giập đầu Satan, chúng ta có gương sáng của một người tín hữu lý tưởng, tuyệt vời. Người Nữ ấy “mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1), vì ngài là thụ tạo hoàn toàn tinh tuyền, tốt đẹp, thánh thiện của Thiên Chúa, và Thiên Chúa phủ trên ngài mọi ơn thiêng cao quý, nhiệm lạ, như chính ngài đã thốt lên trong kinh Tán Tụng: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, Danh Người thật chí thánh, chí tôn!” (Lc 1,49).

a. Mẹ là gương sáng của đời sống kết hiệp mật thiết trong tình yêu với Thiên Chúa

Không lúc nào Mẹ rời xa Đức Giêsu; không hoàn cảnh nào làm trái tim Mẹ ngưng hướng về Đức Giêsu; không thế lực nào ngăn cản được thiết tha, nồng nàn Mẹ dành cho Đức Giêsu; không uy quyền nào tách Mẹ ra khỏi đời Đức Giêsu, và đời Mẹ chính là đời Chúa, trái tim mẹ là trái tim Chúa, sự chết của Chúa làm hắt hiu lòng Mẹ, và hạnh phúc của Mẹ là sự phục sinh chiến thắng tội lỗi, Satan, hỏa ngục của Đức Giêsu, con Mẹ.

Ma quỷ khiếp sợ Mẹ vì Mẹ có Chúa từng phút giây, kết hiệp với Chúa trong mọi tình huống. Và vũ khí Mẹ dạy con cái phải có để chiến thắng ma quỷ là sống kết hiệp với Đức Giêsu, con yêu dấu của Mẹ.

b. Mẹ là gương lành sáng chói của đời bác ái, quên mình

Mẹ không nghĩ đến mình, mà nghĩ đến người khác trước mình. Vừa thụ thai, Mẹ đã nghĩ đến chuyện chia sẻ niềm vui với bà chị họ ở xa. Cũng mang thai mệt nhọc như chị họ, nhưng Mẹ hy sinh ở lại để giúp đỡ, chăm nom chị những ngày sinh nở (Lc 1,39-45). Ở tiệc cưới Cana, nhà đám hết rượu (Ga 2,1-10), Mẹ nghĩ đến chuyện cứu gia đình hai họ, và đôi tân hôn trong ngày hạnh phúc khỏi cảnh bế tắc, mất mặt vì mang tiếng “trùm Sò”: Đãi khách mà ti tiện, để hết rượu giữa buổi tiệc. Ngay cả những người không thương con Mẹ, những người hành hạ, bắt bớ, đánh đòn, đóng đinh con Mẹ trần truồng trên thập tự, Mẹ cũng rộng lượng tha thứ, và đồng tình với Đức Giêsu đang thều thào trên Thánh giá lời tha tội: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

Cũng chính vì Mẹ bác ái, quên mình, mà Satan càng điên lên, bởi Bác Ái, yêu kẻ thù là khí giới kinh khủng nhất làm hoảng loạn Satan, và đánh sập nhanh chóng vương quyền của hắn.

c. Mẹ là gương mẫu tuyệt hảo của tình yêu Giáo hội

 

Hơn ai hết, Mẹ yêu mến Giáo hội của Đức Giêsu, con Mẹ, vì Mẹ đồng khai sinh Giáo hội với Đức Giêsu và Chúa Thánh Thần. Suốt ba năm truyền giáo của Đức Giêsu, Mẹ luôn có mặt, đồng hành, chia sẻ, đồng công, nên Mẹ biết rõ, và yêu thương từng môn đệ của Đức Giêsu. Những khó khăn, thử thách, yếu đuối của các tông đồ, Mẹ đều chia sẻ, ủi an. Những nhiêu khê, rắc rối của Giáo hội thuở ban đầu, Mẹ đều biết, gánh vác, và đỡ nâng. Mẹ có mặt trong lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, là sinh nhật của Giáo hội, vì Mẹ cùng Chúa Thánh Thần sinh ra Hội Thánh (Cv 2,1-4). Và trải dài suốt dòng lịch sử của Giáo hội, vai trò làm mẹ của Mẹ trong Giáo hội đã và mãi mãi không bao giờ có thể phai nhạt hay thay thế. Đó là lý do Giáo hội luôn yêu mến Mẹ và nhận Mẹ là Mẹ Giáo hội, Mẹ các giáo hữu.

Lại một lần nữa, Satan điên tiết vì Mẹ không bỏ rơi Giáo hội của con Mẹ, nhưng luôn có mặt để yêu thương, săn sóc, giữ gìn, chỉ bảo. Ma quỷ rất muốn đánh gục Giáo hội, vì bao lâu Giáo hội còn, bấy lâu vương quốc tối tăm, gian dối, hận thù của Satan không thể bành trướng.

Nhìn vào hoạt động của ma quỷ trong thế giới hôm nay, chúng ta nhận ra ngay: mục tiêu mà Satan và bè lũ liên lỉ và triệt để đặt vào tầm ngắm, chính là Giáo hội Công giáo; đồng thời những người đi theo ma quỷ luôn khởi đầu hành trình về Hỏa ngục của họ bằng những bước chân “chống phá Giáo hội, chỉ trích giáo huấn của Đức Giáo hoàng, phỉ báng các Đấng bản quyền, bôi bác những yếu đuối của những người thuộc về Giáo hội, xúi dục người khác lìa bỏ hàng ngũ tín hữu Công giáo”.

Quả thực, Giáo hội là thành trì Đức Tin tinh tuyền, là gia đình nhân loại có Đức Giêsu ở cùng, là Lời Hứa của Chúa Cha, là Hành Trình có Chúa Thánh Thần hướng dẫn, là mái ấm của Tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa, là “Nước Thiên Chúa đang ở giữa anh em”, là thiên đàng chớm nở ngay dưới thế. Vì những lẽ đó, nên Satan và toàn thể lực lượng của Hỏa ngục không ngừng dồn sức tấn công, cố đánh sụp Giáo hội.

Tóm lại, Đức Maria đã là người Kitô hữu đầu tiên và tuyệt vời, lý tưởng. Không ai đã sống hoàn hảo đời Kitô hữu như Mẹ, không người nào đã theo sát, ở cùng Đức Giêsu như Mẹ, cũng không ai đã sống Tin mừng cách trọn vẹn như Mẹ. Vì thế, ma quỷ sợ Mẹ, run rẩy trước nhan thánh Mẹ, lẩn trốn dung nhan Mẹ, kinh hãi khi nghe danh thánh Mẹ. Ma quỷ sợ Mẹ, vì Mẹ giống Chúa Giêsu trong mọi sự. Đó là bí quyết để chiến thắng ma quỷ, mà Đức Maria dạy lại cho chúng ta, là con cái của Mẹ:

    Sống “đời có Chúa” bằng cầu nguyện,

    Sống Bác Ái, yêu thương.

     Hết lòng yêu mến và phục vụ Giáo hội.

Với ba vũ khí này, Satan và ma quỷ phải đầu hàng chúng ta vô điều kiện.

Cảm tạ Mẹ Maria đã là người Kitô hữu đầu tiên và tuyệt vời, để chúng con vui mừng, phấn khởi theo Mẹ hầu trở nên xứng đáng hơn với ơn gọi làm Kitô hữu: người có Chúa Kitô.

3.   Đức Maria, nguồn ủi an, trông cậy của các tín hữu trong trận chiến chống lại Satan

Trong trận chiến cam go, lâu dài này, cũng sẽ có lúc chúng ta mệt nhọc, lơ là, thiếu cảnh giác, để bị ma quỷ đánh bị thương; cũng sẽ không thiếu những phút chao đảo, hoang mang trước những cám dỗ đường mật, ngon ngọt của thần dữ; và tránh sao khỏi những khi hoàng hôn buông rơi, tơ lòng chùng xuống, và yếu đuối đua nhau nổi cộm trên từng phân ly da thịt; và khi đêm tối bao phủ, quyền lực Satan hoành hành, chúng ta sẽ như Phêrô chối Thầy, dù Thầy đã báo trước: “Đêm nay, khi gà chưa kịp gáy hai lần, thì con đã chối Thầy ba lần” (Mc 14,30), như các Tông đồ khác, mỗi người bỏ Thầy một kiểu (Mc 14,27), và cũng rất có thể như Giuđa phá sản niềm hy vọng ở tình Thầy xót thương đã để Satan cướp đi linh hồn mình (Ga 13,27), để lạnh lùng, vô cảm, vô ơn, phản phúc đi gặp các thượng tế đề nghị chỉ chỗ Thầy đang ở và nhận ba mươi đồng (Mt 26,14-16), như giá máu của chính ông, khi tuyệt vọng ra đi thắt cổ (Mt 27,3-10).

Đức Maria, mẹ Giáo hội, mẹ các tông đồ, mẹ các tín hữu vẫn luôn có mặt, đồng hành và ủi an, nâng đỡ. Mẹ có mặt để là nguồn cậy trông, hy vọng cho chúng ta trong cơn thử thách. Mẹ đứng đó bên Thánh giá Đức Giêsu (Ga 19,25), để nâng đỡ thánh giá cuộc đời của mỗi người. Hơn ai hết, Mẹ cần có mặt để giúp chúng ta chiến đấu chống lại Satan là kẻ thù của Mẹ và đối thủ của Chúa Giêsu, con Mẹ.

Hãy chạy lại Mẹ, Người Nữ được Thiên Chúa sủng ái, tuyển chọn. Hãy ở bên Mẹ, người mẹ nhân lành, hiền dịu, hay cứu giúp. Hãy bám chặt tay Mẹ, Nữ Vương thiên đàng, Mẹ Thiên Chúa. Và hãy nghe lời Mẹ dặn dò: Sám hối, trở về - Tôn sùng trái tim Mẹ - Lần chuỗi Mân Côi, vì Mẹ biết thế giới đang ở tình trạng nào, và phải làm gì để cứu thế giới, cứu chúng ta thoát khỏi quyền lực gian ác của Satan, ra khỏi kiếp nô lệ cho ma quỷ, và thoát khỏi hình phạt hỏa ngục đời đời mà Thiên Chúa dành cho ma quỷ và những kẻ đi theo chúng.