Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

NGUY CƠ THIÊU LÒNG THƯƠNG XÓT

https://www.youtube.com/watch?v=e6ALnFgqNSc
                                        
    Nếu Thiên Chúa là Tình Yêu và Thiên Chúa thánh thiện vì Ngài xót thương ; nếu  Kitô giáo là Đạo của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã đến trong thế giới vì thương xót con người và lấy chính mạng sống để cứu độ con người vì xót thương ; nếu  tất cả các giới răn mà người Kitô hữu phải tuân giữ  được gồm tóm vào  một đòi hỏi duy nhất với hai mặt là yêu mến Thiên Chúa và thương xót đồng loại (Mt 22,37-40); nếu con đường Đức Giêsu đã vạch ra cho các môn đệ và những ai muốn theo Ngài là đường Yêu Thuơng : yêu thương đến cùng, yêu thương đến hy sinh mạng sống cho người mình yêu (Ga 15,13) ; nếu hiến chương Nước Trời được dành cho những người phải khóc vì xót thương người khác, phải buồn sầu vì xót xa nỗi đau thân phận người khác, phải chịu phiền toái, vất vả, nhục nhã, vu khống, truy lùng, bách hại vì mưu tìm hoà bình, công chính và hạnh phúc cho đời người khác (Mt 5, 1-12); nếu  số phận đời sau của mỗi người theo như Đức Tin Kitô giáo dậy sẽ tùy thuộc lòng thương xót mà mình đã thực hiện hay bỏ qua khi còn sống ( Mt 25, 31-46); nếu chỉ thực sự là người có Đạo khi lấy yêu thương là dấu chỉ và huy hiệu “độc nhất vô nhị”  của người Kitô hữu (Ga 13,35),  thì thiếu lòng thương xót, trống vắng yêu thương sẽ là một nguy cơ lầm đường lạc hướng, một tai hoạ khủng khiếp, một thất bại ê chề, một mất mát  thảm thương đối với người có Đạo. Do đó, thiếu lòng thương xót, đời người Kitô hữu  sẽ không còn lẽ sống, mục đích, ý nghiã và động lực để yêu mến Chúa và phụng sự Chúa trong mọi người. Chính vì thế, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã không do dự đặt tên cho tình trạng “thiếu lòng thương xót nơi người có Đạo” là  nguy cơ  trầm trọng, bên cạnh nguy cơ say mê tiền của, mà người viết đã chia sẻ với các bạn tuần trước.
     Thực ra, thiếu lòng thuơng xót không chỉ là nguy cơ đối với người có Đạo hay khép kín trong Giáo Hội Công Giáo, nhưng bất cứ ai không có lòng thương xót tha nhân đều mang lại hậu qủa tiêu cực cho xã hội loài người, bởi thương xót người khác là đòi hỏi tự  nhiên của luật tự nhiên.  Lương tâm  mỗi người luôn nhắc bảo, canh chừng, thôi thúc lòng thương xót được gọi chung dưới những tên như  “nhân ái, tình người, nhân đạo, lòng tốt”.

1.    Ý Nghiã Của Lòng Thương Xót
    Để hiểu hơn ý nghiã của lòng thương xót,  chúng ta cùng nhau phân tích từ “Thương Xót” của tiếng latinh.  MISERICORDIA  được làm thành từ Miseria là “cơ cùng, khốn nạn” và Cordia có nghiã “ở trong trái tim”. Theo ý nghiã đích thực của nguyên ngữ  latinh, Misericordia - Thương Xót  không thể hiểu là  thương hại, vì thương xót không là hành động bố thí tình cảm, cũng không là thái độ tự mãn phân phát yêu thương của người trên cho người dưới,  thí ban chút tình của ông chủ cho đầy tớ như  những mảnh  vụn từ chiếc bánh  tình người nhạt  nhẽo từ tay người lớn trên cao ném xuống cho người thấp cổ bé miệng đang ngắc ngoải chờ chết tận vực sâu đói khổ, nhưng thương xót là cúi xuống, qùy xuống, hạ  thấp mình xuống ngang người  ta xót thương để có thể vực họ lên, đỡ họ dậy, băng bó vết thương loang máu trên thân xác nhừ nát vì roi đòn của họ. Thương xót  là mang lấy tất cả sự thật của thân phận đôi khi rất bẽ bàng, kinh tởm của người đang cần được xót thương;  là đón nhận trọn niềm đau nỗi khổ, vất vả nhọc nhằn, thất bại tang thương, yếu đuối tội lụy của người mình thương xót trong riêng tư  thầm kín, nhưng vô vàn lắng đọng, thiết tha của trái tim mình. Thương xót ai như thế là gánh trên vai mình, mang trong tim mình, gắn vào cuộc đời mình những bất hạnh, khốn nạn của người mình xót thương. Và  thương xót ai chính là ngày đêm  thao thức, băn khoăn, lo lắng, ước mơ và  miệt mài hết mình tìm kiếm hạnh phúc cho người mình  thương xót. Vì thế, lòng thương xót luôn làm người xót thương nặng lòng, nặng vai, nặng đầu, nặng gánh bởi “gánh đời” của người được thương xót chẳng mấy khi không trĩu nặng.
2.    Lòng Thương Xót của Thiên Chúa
a.    Yêu đến cùng
      Đức Giêsu được thánh Gioan Tẩy Giả giới thiệu lần đầu tiên với đám đông : “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian” ( Ga 1,29). Và Con Chiên gánh tội đó đã không chỉ gánh mà còn hiến mạng sống mình trên thánh giá để làm chứng lòng xót thương vô bờ bến và tình yêu đến cùng của Thiên Chúa  (Ga 13,1). “Đến cùng”  không chỉ được hiểu là tận cùng của thời gian, mà còn phải hiểu là “vô điều kiện”. Đức Giêsu đã yêu thương đến giây phút cuối cùng và xót thương vô điều kiện:
 “Yêu đến cùng” môn đệ Phêrô nên đã đợi chờ để  âu yếm ngước nhìn người môn đệ nhiệt tình, nóng nẩy ở đường cùng phản bội (Lc 22,61); yêu đến cùng Tôma, nên đã trở lại để ban bình an cho ông ở đường cùng  cứng cỏi, chai đá (Ga 20, 27); yêu đến cùng người đàn bà bị bắt qủa tang đang ngoại tình để cứu bà một “bàn thua trông thấy” ở đường cùng sự sống ( Ga 8,1-11); yêu đến cùng người phụ nữ trắc nết, lăng loàn để đổi mới chị với bình an đích thực của Thiên Chúa ở đường cùng vong thân (Lc 7,36-47) ; yêu đến cùng đứa con hoang đàng “phá gia chi tử” để trả lại cho chàng nghịch tử quyền làm con đã mất ở đường cùng vong ân bội nghiã (Lc 15,11-32); yêu đến cùng Dakêu để đem ơn cứu độ cho gia đình ông ở cuối  đường bất chính (Lc 19,1-10); yêu đến cùng hai môn đệ trên đường Emmau để đem lại cho họ hy vọng ở đường cùng tuyệt vọng (Lc 24,13-35); yêu đến cùng những người qùe quặt, đui mù, câm điếc, bị qủy ám để ban lại cho họ sức khỏe và niềm vui ở đường cùng bất hạnh (Mt 4, 23-24); yêu đến cùng những người nghèo khổ bị bỏ rơi, kỳ thị để họ được ủi an ở đường cùng bạc phước; yêu đến cùng những người ngoại đạo để họ nhận ra dung mạo dễ thương, xót thương của Thiên Chúa ở cuối đường chân lý (Mt 8, 5-13; Ga 4,7-25);  yêu đến cùng những người ngoại quốc để họ thấy mình không còn là người xa lạ trong gia đình của Thiên Chúa; yêu đến cùng người tử tội cùng bị đóng đinh bên phải để Nước Trời mở toang cho anh ở đường cùng hình phạt (Lc 28,39-43); yêu đến cùng người bạn Ladarô và gọi anh ra khỏi mộ phần lạnh lùng, tăm tối ở đường cùng hủy diệt (Ga 11,17-44); yêu đến cùng cả những người vô ơn, đả đảo, lên án, tra tấn, đóng đinh mình bằng chạy tội cho họ với “lý do trắng án” : “Lậy cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,24), ở đường cùng  bạo lực phi nhân.

b.    Tình yêu của mẹ hiền
   Đức Giêsu đã yêu thương đến cùng bằng một trái tim mang hết những thiếu sót, yếu đuối, tật bệnh,  thất vọng, khổ đau, buồn chán, lỗi lầm, tội lụy của mỗi người chúng ta. Trái tim của Ngài là trái tim của người mẹ chỉ được dựng nên để yêu thương,  một tình yêu  hiện diện, quan tâm, trìu mến, nhẫn nại, vô điều kiện, nhưng không và đến cùng. Ngôn sứ Isaia đã diễn tả tình yêu ấy như sau:
   “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ. Hãy xem, Ta đã  ghi khắc ngươi trong lòng bàn tay Ta” (Is 49,14-16). “Các ngươi sẽ được nuôi bằng sữa mẹ, được bồng ẵm bên hông, nâng niu trên đầu gối. Như mẹ hiền an ủi con thơ, Ta sẽ an ủi các ngươi như vậy” (Is 66,12-13).
       Như thế, lòng thương xót thực sự là căn tính của người Kitô hữu, người có Đức Kitô, thuộc về Đức Kitô, đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, vì Đức Kitô là dung mạo của Chúa Cha giầu lòng thuơng xót, là hiện thân của Thiên Chúa là Tình Yêu Xót thương, và nhất là căn tính của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô  chính là Tình Yêu, như thánh  Tông Đồ Gioan đã định nghiã : “Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Tình Yêu” (1Ga 4,8).
     Chúng ta phải xác tín căn tính Tình yêu nơi Thiên Chúa, nếu không chúng ta sẽ lẫn lộn giữa căn tính Tình Yêu và những đặc tính khác của Thiên Chúa  như công bình, toàn năng, thông biết mọi sự, thưởng phạt  công minh...Tuy là đặc tính, nhưng bên cạnh căn tính, đặc tính vẫn  phụ thuộc và thứ yếu. Căn tính không thể thay đổi, và luôn giữ vai trò tất yếu, chính yếu, nên Thiên Chúa không thể là gì khác ngoài Tình Yêu. Ngài có những phụ tính như công bằng, chính trực, thông biết vô cùng, toàn năng vô song, nhưng Thiên Chúa không là  những phụ tính đó, Ngài chỉ là Tình Yêu. Curng vì căn tính của Thiên Chúa là Tình Yêu, nên Thiên Chúa hoá giải tất cả những gì nại đến công bằng, thưởng phạt, nghiêm minh trong tình yêu và với tình yêu. Nhờ thế mà tội nhân được thương xót, phạm nhân được tha bổng, hối nhân được thứ tha, ác nhân nhận được ơn đổi mới, trở về.   
     Tóm lại, không thể là Kitô hữu nếu không có Đức Kitô trong đời, và không thể có Đức Kitô nếu thiếu lòng thương xót. Muốn có Đức Kitô, người Kitô hữu phải có lòng thương xót; muốn có Đức Kitô đồng hành, phải đi với Ngài trên đường yêu  thương; nếu muốn Đức Giêsu ở cùng, nơi đó phải có lòng thương mến, cảm thông, bởi “đâu có tình yêu  và bác ái, ở đó có Thiên Chúa - Ubi Caritas et Amor , Deus ibi est”. Trái ngược lại, nơi nào không có tình yêu, trái tim nào thiếu lòng thương xót, gia đình nào phủ nhận tình nghiã, cộng đoàn nào chối từ bác ái huynh đệ thì Thiên Chúa không hiện diện, và  cạn kiệt  ân sủng là sức sống thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chân lý này không thể hiểu vu vơ theo kiểu “đánh lận con đen”, hay mập mờ ngụy biện, hầu ngụy trang một nghịch lý mâu thuẫn tận gốc rễ, khi nghĩ rằng không yêu thương thì Thiên Chúa vẫn hiện diện.       
    Chúng ta phải rõ ràng và dứt khoát với chân lý Thiên Chúa là Tình Yêu, và Thiên Chúa không thể là gì khác hơn ngoài là Tình Yêu, nghiã là có yêu thương mới có Thiên Chúa, nơi nào yêu thương có mặt, nơi đó Thiên Chúa  mới ngự trị và hành động, đồng nghiã với ở đâu không có yêu thương, ở đó vắng bóng Thiên Chúa. Phải rất thận trọng dành “ưu tiên một” cho tình yêu trong tất cả mọi lựa chọn, vì chọn tình yêu là chọn Thiên Chúa; phải can đảm dành chỗ cao nhất cho Lòng Thương Xót, vì thương xót là yếu tính của Thiên Chúa, nên khi  thương xót ai, ta chạm vào trái tim Thiên Chúa và làm Thiên Chúa chạnh lòng. Sở dĩ phải thận trọng và can đảm trong chọn lựa và hành động theo đức ái, vì đức ái cao trọng hơn tất cả,  nếu muốn không lạc hướng vì rất nhiều cám dỗ đủ loại, kể cả những cám dỗ  nhân danh lề luật của Thiên Chúa mà  xúc phạm đến Thiên Chúa là Tình Yêu; nhân danh cơ cấu hoàn hảo, kỷ cương, trật tự mà vô tình làm tổn thương Lòng Thương Xót là chính Thiên Chúa, nhân danh  thành qủa truyền giáo, lễ nghi  hoành tráng, linh đình, sinh hoạt sôi nổi, vượt trội mà chống lại Tình Yêu là chính Thiên Chúa. Sự khác biệt giữa Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót và các thuộc tính khác của Ngài phải được chúng ta phân định rất rõ ràng, để hành trình đi theo Đức Kitô của người Kitô hữu không bị lạc hướng.

3.    Sống Lòng Thương Xót
a.    Biết mình luôn cần được  thương xót
     Để sống lòng thương xót như Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót, chúng ta cần biết mình luôn cần lòng thương xót. Biết mình cần lòng thương xót vì chúng ta là kẻ có tội cần được thứ tha, hoà giải, cứu sống. Biết mình cần lòng thương xót là nền tảng của mọi sinh hoạt xót thương, bởi khi biết mình cần được thương xót, chúng ta chân nhận chính Thiên Chúa là Đấng luôn thương xót ta. Tin Mừng Mátthêu đã  mô tả người đầy tớ bị xiết nợ  biết mình cần lòng thương xót,  đã nài xin và được tha hết nợ :
  Người ta dẫn đến một kẻ mắc nợ vua mười ngàn yến vàng. Y không có gì để trả nên tôn chủ ra lệnh bán y và tất cả vợ con, tài sản mà trả nợ. Bấy giờ tên đầy tớ sấp mình xuống bái lậy: Thưa Ngài, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả hết. Tôn chủ của tên đầy tớ ấy liền chạnh lòng thương, cho y về và tha luôn món nợ (Mt 18, 24-27).
 b.    Biết người khác cũng luôn cần đựơc xót thương
     Biết mình cần được thương xót chưa đủ, chúng ta còn phải biết người  khác cũng cần đến lòng thương xót của chính chúng ta. Tất nhiên Thiên Chúa luôn xót thương họ như xót thương ta, nhưng để thương xót con người, Thiên Chúa cần đến lòng thương xót của chính con người dành cho nhau. Ngài cần bàn tay chia sẻ, nâng đỡ, xây dựng của con người để biểu lộ tình yêu mẫu tử của Ngài trên con người, như đã cho con người được cộng tác vào công trình sáng tạo những con người mới của Ngài. Cũng Tin Mừng Mátthêu  cho ta thấy thái độ vô cùng gian ác, vô ơn, vô cảm của người đầy tớ vừa nhận ơn thương xót xoá nợ của ông chủ đã cố tình tham lam, ngoan cố ích kỷ, trâng tráo bạo lực khi xóa khỏi tim óc  mình “cái biết về nhu cầu được xót thương” nơi người khác. Tin Mừng đã ghi lại tỉ mỉ cảnh tượng hãi hùng của người đầy tớ gian ác vừa được xót thương xóa hết nợ đã vội bỏ quên, khước từ bổn phận thương xót người bạn đáng thương đang mắc nợ mình:
    Nhưng vừa ra đến ngoài, tên đầy tớ ấy gặp một đồng bạn, mắc nợ y một trăm quan tiền. Y liền túm lấy, bóp cổ mà bảo: “Trả nợ cho ta” ! Bấy giờ, người đồng bạn sấp mình xuống năn nỉ: Thưa anh, xin rộng lòng hoãn lại cho tôi, tôi sẽ lo trả anh. Nhưng y không chịu, cứ tống anh ta vào ngục cho đến khi trả xong nợ. Thấy sự việc xảy ra, các đồng bạn của y buồn lắm, mới đi trình bầy với tôn chủ đầu đuôi câu chuyện. Bấy giờ tôn chủ cho đòi y đến và bảo: “Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết số nợ ấy cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta, thì đến lượt ngươi, ngươi không phải thương xót đồng bạn như chính ta đã thương xót ngươi sao?”  Rồi tôn chủ nổi cơn thịnh nộ, trao y cho lính hành hạ, cho đến ngày y trả hết nợ cho ông. Ấy vậy, Cha của Thầy ở trên trời cũng đối xử với anh em như thế, nếu mỗi người trong anh em không hết lòng tha thứ cho anh em mình (Mt 1828-35).
      Tóm lại, thiếu lòng xót thương, chúng ta không thể trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô” là đòi hỏi liên lỷ của Đức Giêsu đối với những ai muốn đi theo Ngài.  Chỉ với lòng thương xót anh em mình, chúng ta mới có thể nói được như thánh Phaolô : “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
   Thiếu lòng thương xót, tim chúng ta không đập chung nhịp  của trái tim Thiên Chúa, nên sẽ không thể gặp gỡ, kết hiệp với Ngài, vì Ngài chỉ ở trong những tâm hồn có lòng thương xót và nơi nào có bác ái, huynh đệ. Thiếu lòng thương xót, chúng ta càng không có thể thứ tha cho ai, kể cả cho mình, vì thứ tha là hành động phi thường mà chỉ những ai có trái tim của Thiên Chúa mới thực hiện được. Sở dĩ thứ tha đòi tình yêu của Thiên Chúa mới thực hiện được, vì trái tim tự nhiên của con người  bình thường chỉ thương ai thương mình, yêu ai yêu mình, tử tế với ai biết điều với mình, ơn nghiã với ai cư xử tốt đẹp với mình,  nhưng không thể thương kẻ ghét mình, yêu người  hãm hại mình, làm ơn cho người hàm oan, vu khống mình, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ, gây khốn khó cho mình, và tha thứ cho những ai xúc phạm, làm tổn thương, gây đau khổ cho mình. Không có trái tim thương xót của Thiên Chúa, chúng ta sẽ gục ngã, tuyệt vọng trước những bất công, vô ơn, bội nghiã và đòn thù thiên hạ giáng trên chúng ta, mặc dù chúng ta đã hết mình, hết tình yêu thương, giúp đỡ, bênh vực, che chở, xây dựng họ (x. Mt 5, 38- 42;18,21;Lc 6,36-37)
    Thật vậy, thiếu lòng thương xót của trái tim Thiên Chúa, chúng ta sẽ bó tay chào thua trước mãnh lực khủng khiếp của ma qủy biểu hiện qua cõi lòng ganh ghét, ghen tuông, qua miệng lưỡi điêu ngoa, dối trá, qua bàn tay bạo lực, bất công, tàn phá, hủy diệt của những người thiếu lòng thương xót chấp nhận đầu quân làm cánh tay nối dài của  thần dữ Satan.
     Nhiều người thắc mắc: tại sao thế giới bất an, gia đình bất ổn, và tâm hồn con người  ngày càng trở nên kiêu căng, chai đá, bất trị ? Và người ta đã nhận được nhiều nghiên cứu, phân tích, lý giải từ các chính trị gia, chuyên viên kinh tế, nhà xã hội học đến cả chuyên gia tâm lý, nhưng không một giải đáp nào được coi là thỏa đáng, hữu hiệu.
     Đứng trước những bế tắc liên quan đến vận mệnh và hạnh phúc của nhân loại, nếu chúng ta nhận mình là môn đệ của Đức Giêsu, thuộc về Đức Giêsu, yêu mến và muốn nên giống Đức Giêsu, chúng ta sẽ không thể cho phép mình dửng dưng, an thân tự tại, nhưng phải cùng Đức Giêsu lên đường loan báo Tin Mừng Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót cho thế giới hôm nay, vì chỉ một mình Thiên Chúa là Tình Yêu mới có thể hoá giải những mâu thuẫn, đố kỵ, tị hiềm, thù hận do lòng ganh ghét của con người; chỉ tình yêu thương xót của Thiên Chúa mới hàn gắn những đổ vỡ trong cuộc sống, chữa lành các vết thương do bạo lực gây ra  trong sinh hoạt; chỉ duy nhất trái tim đầy xót thương của Thiên Chúa là Tình Yêu mới hồi sinh được thế giới đang chết dần trong làn khí độc khước từ, phủ nhận  nhau. Chắc chắn khi lên đường để thương xót với Đức Giêsu, chúng ta sẽ bị phê bình, chỉ trích, hiểu lầm, cô lập, đàn áp, bởi lẽ ma qủy luôn tìm cách ngăn trở chúng ta thương xót như Thiên Chúa và xúi giục, thúc đẩy, bầy mưu - hiến kế cho chính anh em chúng ta chống lại chúng ta. Anh em chúng ta có thể vin vào nhiều lý do, dựa trên nhiều khuyết điểm, thiếu sót, mà vì hết lòng thương xót chúng ta đã không thể tránh được, khi phải ưu tiên cho lòng thương xót và đặt lòng thương xót là giá trị cao nhất của mọi lựa chọn. Câu chuyện Đức Giêsu bị các người Pharisiêu, luật sĩ Do Thái trách móc khi Ngài vì chạnh lòng thương xót đã chữa ngươi bị bại tay trong ngày Sabát là ngày mà Luật Môsê cấm không được làm việc.Thánh sử Mátthêu đã kể lại :
     Đức Giêsu đi vào  hội đường , “ở đó có người bị bại liệt một tay. Người ta hỏi Đức Giêsu rằng: Có được phép chữa bệnhh ngày Sabát không?”  Họ hỏi thế là để tố cáo Người. Người đáp: “Ai trong các ông có một con chiên độc nhất bị sa hố ngày sabát, lại khôg nắm lấy nó và kéo lên sao ? Mà con người thì qúy hơn chiên biết mấy ! Vì thế, ngày sabát được phép làm điều lành”. Rồi Đức Giêsu bảo người bại tay: “Anh giơ tay ra ! Người ấy giơ tay ra và liền trở lại bình thường lành mạnh như tay kia”. Ra khỏi đó, nhóm Pharisiêu bàn bạc để tìm cách giết Đức Giêsu (Mt 11, 9-14).
      Họ muốn giết Đức Giêsu vì Ngài đã đặt lòng thương xót trên Lề Luật;  muốn tiêu diệt Đức Giêsu, vì Ngài đã chọn thương xót như “đệ nhất ưu tiên” trong tất cả mọi lựa chọn. Qủa thực, việc làm và lựa chọn thương xót của Đức Giêsu đã  làm xáo trộn toàn thể bộ máy tôn giáo, đồng thời  làm sụp đổ pháo đài quyền lực và lợi nhuận tôn giáo mà họ đang nắm giữ. 
     Như Đức Giêsu, người môn đệ sống lòng thương xót cũng sẽ chịu chung số phận, khi chọn lựa của họ không phù hợp với “chọn lựa vị luật” của những Luật sĩ, không trùng khớp với “ưu tiên cơ cấu hoàn hảo” của ban tổ chức - điều hành, không đồng giọng với “chủ trương hiếu thắng, thành qủa”, chỉ được chứ không mất, chỉ thành công chứ không thất bại của  phần đông những người lãnh đạo.
   Số phận ấy cho đến tận thế cũng không khá hơn cho những người thuộc về Đức Giêsu, nhưng số phận ấy luôn là số phận được Thiên Chúa chúc phúc,  bởi  họ đã xót thương anh em đồng loại nên mới phải khóc lóc; xót xa thân phận người khác mới phải buồn sầu; khát khao mưu tìm công bình cho người bị đàn áp, oan sai, bóc lột mới khổ đau;  tranh đấu hết mình cho  hoà bình, hạnh phúc của mọi người mới bị vu khống, hiểu lầm oan uổng; nhiệt tình làm chứng cho sự thật mới bị nghi ngờ, truy lùng, bắt bớ ; và hết mình xả thân vì  Đức Giêsu khi triệt để sống lòng thương xót  mới phải  thiệt thân, đổ máu, mất mạng (x. Mt 5,1-11).  
    Vâng, Đức Giêsu đã làm người để nói với con người Thiên Chúa là Tình Yêu và Ngài đến để thương xót, cứu độ con người, đồng thời muốn mọi người trở nên giống Ngài như con cái giống cha mẹ trong tình yêu, thương xót vì Ngài biết chỉ  một mình Ngài là Tình Yêu đích thực mới ban sự sống và hạnh phúc đích thực; chỉ một mình Ngài là lòng Thương Xót mới cứu độ nhân loại và đem niềm vui  cho thế giới không hạnh phúc vì bất công, gian ác, bạo lực không ngừng đe doạ ; chỉ một mình Ngài là Thiên Chúa chậm bất bình và rất khoan dung mới thứ tha, xoá tội và ban ơn bình an thật cho mọi tâm hồn. Thiếu Tình Yêu là Thiên Chúa, khước từ Thiên Chúa là Tình Yêu, cũng như phủ nhận lòng Thương Xót là căn tính của người Kitô hữu, hay vứt bỏ Tình Yêu là huy hiệu của người có Đạo, chúng ta sẽ biến thái từ chứng nhân thành phản chứng, từ Kitô hữu thành “Phản-Kitô”, và mãi mãi người khác sẽ là địa ngục, thế giới là địa ngục, hiện tại là địa ngục, tương lai là điạ ngục, vì địa ngục đơn thuần là tình trạng không có tình yêu, không còn thương xót và  hoàn toàn vắng bóng Thiên Chúa.
     Thiên Chúa là Đấng Chủ Tạo. Ngài dựng nên chúng ta cho Ngài, nên không lý do gì chúng ta không cố gắng trở nên giống Ngài như Ngài đã căn dặn : “Chúng con hãy nên thánh như Cha chúng con trên Trời là Đấng thánh”. Thánh ở Thiên Chúa chính là lòng thương xót của Ngài, bởi Thiên Chúa thánh thiện vì Ngài xót thương.
    Chia sẻ lo âu của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trước nguy cơ thiếu lòng thương xót đang khuynh đảo thế giới và làm tổn thương Thân Thể mầu nhiệm Đức Kitô là Giáo Hội, chúng ta cầu xin  ơn đổi mới trái tim  chúng ta và  tất cả mọi Kitô hữu, để Vương Quốc  của Thiên Chúa  Tình Yêu, Nước Trời của  Thiên Chúa giầu lòng Thương Xót trị đến trong các tâm hồn và thế giới hôm nay đang có nguy cơ tự hủy diệt vì thiếu lòng thương xót.
Jorathe Nắng Tím           
   
      

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2018

MẸ NÀO CON NẤY


MẸ NÀO CON NẤY



   Ẵm trên vai đứa con 2 năm tuổi bụ bẫm, kháu khỉnh luôn miệng nghêu ngao : “Ba thương con vì con giống mẹ, mẹ thương con vì con giống ba”, người mẹ trẻ rạo rực niềm vui và mỉm cười mãn nguyện, hạnh phúc. 
Phải rồi, người mẹ trẻ này có quyền mãn nguyện vì đứa con do bà sinh ra đã không giống ai khác, mà chỉ giống chồng bà và giống bà. Và từ ngày hạ sinh bé, gia đình bé nhỏ lúc nào cũng vui như tết, vì cả bà và chồng đều hạnh phúc, hãnh diện về đứa con giống cha, giống mẹ của mình.

   Đức Maria, mẹ Đức Giêsu cũng vui niềm vui làm cha mẹ ấy, niềm vui khôn tả của hằng ngàn tỷ các cha mẹ trên thế giới, kể  từ ngày khai thiên lập địa đến giờ, bởi đó là hạnh phúc Thiên Chúa ban tặng riêng  cho bậc cha mẹ, là những cộng tác viên của Ngài trong việc sinh ra những con người mới.
Nhưng còn một điều làm cho Đức Mẹ vui hơn, đó là Đức Giêsu, con trai duy nhất của Mẹ đã tuyệt đối giống Mẹ như hai giọt nước trong tiếng  Xin Vâng.


    Qủa thực, hạnh phúc lớn nhất của Đức Mẹ là đã huấn luyện Đức Giêsu trở thành một người con luôn vâng phục thánh ý và sẵn sàng Xin Vâng trong mọi tình huống, và đúng như ước muốn của Mẹ,  Đức Giêsu suốt đời không những đã vâng phục cha mẹ trần gian của Ngài, mà còn tuyệt đối vâng phục Chúa Cha trên trời, Đấng đã sai Ngài đến trong thế gian để vâng phục và thực hiện thánh ý.
     Là người nữ được Thiên Chúa chúc phúc và tuyển chọn làm mẹ Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, Mẹ Maria đã khiêm tốn và can đảm đón nhận một sứ mạng vô cùng khó khăn của Thiên Chúa trao. Sứ mạng ấy cực kỳ khó khăn vì đầy những mâu thuẫn, bởi có đời nào trinh nữ mà  làm mẹ ; không ăn ở với đàn ông mà có thai, thiếu nữ tầm thường của thôn làng Nazareth vô danh tiểu tốt mà bỗng chốc trở thành mẹ Đấng Tối Cao,  không thuộc hàng ỡ danh gia vọng tộc “mà bỗng dưng làm mẹ Đấng Thiên Chúa sai đến để ỡ trị vị nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1, 30 -33) ; thế nên khi nghe thiên sứ Gabriel nói : “Maria, xin cô đừng sợ, vì cô đẹp lòng Thiên Chúa.Vì này đây, cô sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu” (Lc 1,31),  Đức Maria đã không khỏi  sửng sốt thưa lại với thiên sứ : “Việc ấy xẩy ra thế nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng”  (Lc 1,34). Và qủa thực, chỉ riêng một chuyện không  biết đến việc vợ chồng thôi cũng đủ làm Đức Maria hoảng hốt, rét run, nổi da gà, khi nghe thiên sứ loan tin được Thiên Chúa chọn làm mẹ Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế.

     Mẹ run là phải, nổi da gà là điều không thể tránh, hốt hoảng là tất nhiên, nhưng càng run, càng rét, càng hoảng, Mẹ càng chăm chú lắng nghe, và khiêm cung đón nhận giải thích của sứ thần : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên cô, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên cô, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kià Êlisabéth, người chị họ của cô, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một con trai : bà ấy mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 35-37). Và Đức Maria đã khiêm tốn thưa với thiên sứ Gabriel : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa  cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1, 38).

     Tiếng Xin Vâng đầy tin yêu, can đảm và khiêm tốn phó thác của Mẹ đã thay đổi toàn bộ cục diện nhân loại. Thiên Chúa lại có thể can thiệp vào tự do của con người để cứu độ con người, vì Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do và đợi chờ sự cộng tác của con người trong chương trình yêu thương, cứu độ nhân loại của Ngài. Chính nhờ Đức Maria đã tuyệt đối phó thác và vâng phục thánh ý mầu nhiệm của Thiên Chúa khi trả lời Xin Vâng với thiên sứ, mà Đức Giêsu mới có thể nhập thể làm người trong cung lòng một trinh nữ, hầu thực hiện mầu nhiệm “Thiên Chúa yêu thương loài người đế nỗi đã sai Con Một của Ngài xuống thế gian” (Ga 3,16)  làm người như mọi người, ngoại trừ tội lỗi để cứu độ mọi người . Với Đức Maria, nữ tỳ hiền lành và vâng phục , Đức Giêsu, Thiên Chúa mới có thể làm người để mặc khải và làm chứng :  Thiên Chúa là Tình Yêu thương xót,  và Ngài  được Thiên Chúa Cha sai đến để làm Chiên gánh tội và xóa tội trần gian, làm Của Lễ tuyệt đối chuộc hết lỗi lầm của  con  người ; làm cho mọi người được sống, được sống lại và sống đời đời sau cuộc sống  trần gian này.
Đức Maria đã không nói  tiếng Xin Vâng một cách vô tình, ngẫu nhiên, máy móc, nhưng tiếng Xin Vâng từ môi miệng Mẹ là kết qủa của niềm tin tuyệt đối vào Lời Hứa của Thiên Chúa với cha ông từ bao thế hệ, đồng thời là chứng cứ  tình yêu phó thác vô điều kiện của Mẹ ở Thiên Chúa toàn năng. Nhờ tuyệt đối tin yêu và phó thác, Mẹ đã ý thức tính cao qúy nhưng vô vàn khó khăn của sứ vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế, và cùng lúc, Mẹ sẵn sàng dấn thân, can đảm lao mình vào cuộc mạo hiểm yêu thương, cứu độ với Thiên Chúa, bởi biết rằng : “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 37). 

    Và suốt cuộc đời Đức Maria, từ buổi Truyền Tin làm Mẹ Đức Giêsu cho đến giây phút đứng nhìn, rồi ôm xác con nát tan, bê bết máu và nước vừa được  tháo xuống từ thánh giá, Mẹ đã luôn sống triệt để  lời Xin Vâng đã thưa với sứ thần.
Sống lời Xin Vâng, Mẹ cũng đã dậy Đức Giêsu, con mẹ sống Xin Vâng như Mẹ. Mẹ dậy Đức Giêsu, con Mẹ  không chỉ vâng phục cha mẹ trong nhà, vâng phục ông bà, chú bác, cô dì trong họ, vâng phục Lề Luật trong Đạo, mà còn kiên trì dậy Đức Giêsu vâng phục tuyệt đối thánh ý của Chúa Cha, thánh ý mà Mẹ nắm bắt chính xác và kín đáo ôm ấp trong lòng. Mẹ biết Đức Giêsu đến trong thế gian để làm gì ; biết Chúa Cha muốn gì nơi Đức Giêsu; biết sứ mạng của  con Mẹ khó khăn, cam go, và đầy chông gai, thử thách như thế nào ; biết số phận của Đức Giêsu sẽ ra sao ; biết tình đời đen bạc, lòng người khó đo lường,  và  thiên hạ sẽ đối xử tệ bạc đến cỡ nào với con Mẹ ; nhưng đồng thời Mẹ cũng biết vinh quang của Đức Giêsu, con Mẹ sẽ rực sáng, khi hoàn tất sứ mạng cứu thế bằng chết trên thánh giá.

     Đức Giêsu đã học ở Mẹ mình bài học căn bản và nằm lòng là Vâng Phục. Và Ngài đã vâng phục thánh ý Chúa Cha cho đến chết, và chết trên thập giá (Pl 2,8).Không còn vâng phục nào vĩ đại và trọn vẹn hơn  vâng phục cho đến chết, chết để chứng minh lòng vâng phục. Đức Giêsu, với nhân tính, sẽ không thể vâng phục đến cùng và  toàn tâm toàn ý, toàn phần như thế, nếu đã không được Mẹ mình là Đức Maria giáo dục huấn luyện, uốn nắn. Là người như mọi người, trẻ thơ như bao trẻ thơ, thiếu nhi như bao thiếu nhi, thanh niên như bao thanh niên, Đức Giêsu đã trở nên con người trăm phần trăm, nên khôngđược miễn trừ bất cứ một điều kiện, một đòi hỏi nào của con người, trừ tội lỗi. Vì thế, ngài cũng cần được cha mẹ, thầy cô, người lớn bảo ban, nhắc nhở, xây dựng để trưởng thành. Đức Maria đã không chỉ sinh ra Đức Giêsu, nhưng là Mẹ trăm phần trăm, Mẹ còn bổn phận nuôi dưỡng, giáo dục, đào tạo Đức Giêsu, nên người, nên con Chúa. Điều đó muốn nói lên rằng : Đức Maria thực sự là Mẹ Đức Giêsu ở trần gian và Mẹ đã chu toàn sứ mạng làm Mẹ Thiên Chúa, danh hiệu vô cùng cao qúy mà Giáo Hội vui mừng tôn vinh Mẹ.

    Được Mẹ dậy bảo vâng phục, Đức Giêsu đã tập sống từng ngày, từ thưở thơ ấu tinh thần vâng phúc ấy, nhờ thế, Ngài mới có thể  can đảm đón nhận chén đắng sắp phải uống với tinh thần tuyệt đối vâng phục  trong vườn Cây Dầu trước giờ bị bắt và chịu khổ hình, tử nạn:  “Lậy Cha, nếu có thể được thì xin cất chén đắng này cho con, nhưng xin đừng theo ý con, nhưng xin  vâng ý Cha mọi đàng” ( Mt 26,43).  Trên thánh giá, Đức Giêsu cũng  biểu lộ lòng vâng phục tột độ khi đau đớn rướn người thân thưa với Chúa Cha trong cô đơn tột cùng : “Lậy Thiên Chúa, lậy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con?” (Mt 27,47). Đây không phải lời than thở, trách móc trong tuyệt vọng, nhưng là lời cầu khẩn tha thiết nhất trong thử thách cuối cùng và tận cùng của trái tim dạt dào yêu mến, và tuyệt đối vâng phục thánh ý. Đức Giêsu đã sống vâng phục và luôn trả lời Xin Vâng với Chúa Cha trong mọi thử thách thể xác cũng như tinh thần, vì đó là mục đích của đời Ngài : đến để thi hành thánh ý Chúa Cha, như Ngài đã qủa quyết trước đám đông : “Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6,38).

     Qủa thực, trên đời này không gì dễ thương, đáng mơ ước hơn hạnh phúc  “Mẹ nào con nấy” khi  mẹ dễ thương, con dễ mến ; mẹ hiền lành, đằm thắm, con nhu mì, thùy mị ; mẹ khiêm nhường, đảm đang, con công -dung- hạnh, khiêm tốn ; mẹ vui vẻ, dễ gần, con thân thiện, cởi mở ; mẹ bao dung, ân cần,  con cảm thông tha thứ ; mẹ tần tảo, chịu khó, con nhẫn nại, hy sinh ; mẹ thương người, rộng lượng, con quảng đại sẻ chia ; mẹ trung tín, thật thà, con nghiã hiệp, thành tín ; mẹ tin tưởng phó thác, con hy vọng, lạc quan ; mẹ can đảm dấn thân, con mạnh mẽ, dũng cảm ; và tuyệt vời thánh thiện, tuyệt đối cao đẹp “Mẹ nào con nấy” của  Mẹ - Con Đức Giêsu, khi cả mẹ và con đã suốt đời cùng chung tiếng Xin Vâng : vâng phục đến cùng, vâng lời đến chết.

    Xin cho chúng con cũng được diễm phúc “Mẹ nào con nấy” để luôn được đồng hành với Mẹ trong tinh thần vâng phục, và mãi mãi cùng Mẹ Xin Vâng trước mời gọi của Thiên Chúa.
Jorathe Nắng Tím

      

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu


Những Nụ Hồng Bé Bé, Xinh Xinh !
Chắc chắn nhiều người trong các bạn đã có dịp đến Lisieux kính viếng thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, bổn mạng các xứ truyền giáo và tác giả của linh đạo “Con đường thơ ấu, bé nhỏ”. Đến đây, các bạn sẽ thấy nhiều vườn hồng với những nụ hồng chúm chím, bé bé, xinh xinh, e ấp, hiền lành quanh nhà  thánh nữ, trước cổng nhà dòng nơi thánh nữ tu và tạ thế, dọc theo con đường dẫn vào vương cung thánh đường dâng kính thánh nữ. Và khắp nơi trong thành phố Lisieux, hoa hồng chen chúc như muốn bám sát gót chân khách hành hương.
Ở  Việt Nam, đặc biệt Sàigòn, các dòng kín Camêlô vào dịp lễ thánh Têrêsa, mùng Một tháng Mười hằng nằm, các sơ đều trao tặng tận tay mỗi người một bông hồng, biểu tượng tình yêu của thánh nữ Têrêsa, người chị cùng dòng. 
Đọc nhật ký “Một Tâm Hồn” của thánh Têrêsa, chúng ta nhận ra một điểm rất đặc biệt nơi thánh nữ, đó là ý nghiã và giá trị của những việc nhỏ trong đời sống, nhất là tinh thần bé nhỏ đã trở thành với thánh nữ con đường nên thánh, con đường mà chị thánh Têrêsa cho là ngắn nhất, nhanh nhất đến với Thiên Chúa, và hình ảnh thang máy là hình ảnh chị thánh đã dùng để nói lên tính hữu hiệu tuyệt vời : vừa nhanh, vừa dễ  của “con đường thơ ấu, bé nhỏ”.
Con đường ấy bé nhỏ vì dành cho những con người bé nhỏ, nhưng được Thiên Chúa yêu thương cách riêng và dành cho mọi ưu tiên, đặc lợi : “Lậy Cha, con ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.Vâng, lậy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha” (Lc 10,21). Qua lời cầu nguyện tạ ơn  của Đức Giêsu, chúng ta mới biết : người bé nhỏ, hèn mọn luôn được Thiên Chúa yêu riêng, vì họ là những người làm đẹp lòng Thiên Chúa.
Làm đẹp lòng Thiên Chúa khi làm những việc bé nhỏ nhưng với tình yêu lớn ; chọn những việc thấp bé,  hèn mọn, nhưng với tình yêu vút cao ; đón nhận những chức phận bé nhỏ, mờ nhạt, dễ bị lãng quên, nhưng với niềm vui phục vụ  vĩ đại và tình yêu sâu thẳm. Con đường bé nhỏ tưởng nhỏ, nhưng không nhỏ chút nào, bởi con đường ấy tuy nhỏ với những việc làm mà người đời chê nhỏ nên không làm, chê bé nên không ham, chê tầm thường nên không muốn, chê hèn hạ nên không màng, chê ít ỏi nên không đầu tư, chê cỏn con, bé xíu nên không quan tâm, tìm kiếm , nhưng trong thực tế, những “bé nhỏ, hèn mọn, thấp kém, cỏn con, tầm thường” ấy đã phải cần đến tình yêu rất lớn để dám lên đường, cần đến nhiệt huyết sục sôi để thực hiện hành trình về đích, cần đến mồ hôi, nước mắt của hy sinh quên mình để hoàn thành sứ mệnh được trao, cần đến khổ đau, nhục nhằn, nhẫn nại, liều lĩnh của người anh hùng để đại cuộc được thành công. Trên con đường bé nhỏ  này, không có gì là bé nhỏ, hèn mọn, nhưng tất cả những gì được coi là hèn mọn, nhỏ bé gặp được trên đường đều trở thành vĩ đại, lớn lao, cao qúy khi được tình yêu bao phủ, thăng hoa, cất nhắc.
Suốt cuộc đời, chị thánh Têrêsa đã ươm trồng những bụi hồng hy sinh, chăm sóc những đóa hồng yêu thương tuyệt vời.Chọn hoa hồng như biểu tượng của tình yêu hy sinh, tình yêu quên mình, tình yêu hoàn toàn bị đốt cháy, thiêu hủy vì người khác, chị thánh đã hiểu hết ý nghiã : muốn là hoa hồng phải có gai, có gai mới được gọi là hoa hồng như tình yêu không thể thiếu hy sinh, yêu thương không thể vắng bóng thử thách, đau khổ. Nhưng trong tình yêu, khổ đau sẽ làm tăng hạnh phúc của tình yêu, và thử thách sẽ làm lớn sức mạnh của trái tim luôn sẵn sàng trở nên tất cả cho mọi người.
Chị thánh đã thể hiện con đường bé nhỏ của tình yêu trong gia đình với một tình yêu rất ân cần quan tâm đến cha già và các chị. Trong nhà dòng, với đôi chân bé nhỏ,  chị đã tín thác bước đi trên con đường yêu thương với muôn ngàn nhẫn nại chịu đựng và qủang đại tha thứ. Đời sống tu, tuy là đời sống của những người tận hiến cho Thiên Chúa, nhưng cũng là đời sống của con người. Được  trọn vẹn thuộc về  Chúa, nhưng tu sĩ vẫn phải sống cuộc sống của con người với nhiều giới hạn, nên không thiếu cho người tu những mâu thuẫn, đối kháng, đố kỵ, thị phi, bằng “mặt chứ không bằng lòng” trong cộng đoàn. Vì thế, thánh giá mình và thánh giá người khác cứ vẫn cồng kềnh nặng trĩu vai người tu ; chén đắng người tu vẫn cứ phải ừng ực uống mỗi ngày ; trái ý, phật lòng vẫn cứ níu kéo, bám chặt gấu áo dòng làm đau lòng, mệt não người tu. Chị thánh Têrêsa, tu sĩ dòng kín Camêlô đã sống hết thử thách của đời tu này, nhưng đồng thời cũng nếm hết ngọt ngào của hạnh phúc trong tình yêu hy sinh của đời tu.
Bên cạnh tình yêu rất lớn trong tinh thần bé nhỏ đối với gia đình, và cộng đoàn tu sĩ, chị thánh còn biểu hiện tình yêu của mình đối với Giáo Hội, mà chị xin được làm trái tim trong thân thể mầu nhiệm ấy. Không phải bồng bột mà chị đã muốn làm trái tim của thân thể Hội Thánh, cũng không vì ngạo mạn, kiêu căng mà chị thánh đòi làm bộ phận trọng yếu nhất trong thân thể Giáo Hội, nhưng vì tình yêu thúc bách dữ dội, vì khát vọng yêu thuơng dâng cao ngút ngàn, chị thánh đã không thể chọn cho mình một chỗ đứng khác hơn là trái tim để được thoả thích yêu thương, cuồng nhiệt yêu thương, đắm duối yêu thương, tha thiết yêu thương như Thiên Chúa, là cha nhân hậu, đầy yêu thương của chị. Muốn trở thành trái tim và tự chọn cho mình chỗ đứng của tình yêu, thánh nữ đã không ngần ngại xác tín : tuy bé nhỏ và chỉ làm được những việc nhỏ bé, nhưng trái tim luôn sục sôi một tình yêu vĩ đại dành cho Thiên Chúa và tha nhân ; tuy hèn mọn và chỉ thực hiện được những công tác mọn hèn, nhưng với một qủa tim luôn khao khát yêu thương hơn,  khắc khoải tìm nhiều hạnh phúc hơn  cho người khác, và thao thức, băn khoăn cho phần rỗi các linh hồn. Tình yêu của chị thánh vì thế đã vượt qua những gì là bé nhỏ, hèn mọn dưới mắt người đời, và trở nên tuyệt vời, vĩ đại trước mặt Thiên Chúa, người Cha giầu lòng thương xót và rất bao dung, nhân hậu của chị.    
Chị Têrêsa yêu mến ơi,

Sắp đến tháng mười, em muốn cùng các bạn hát tặng chị bài ca “Bông Hồng nhỏ”, bài hát nhỏ như những nụ hồng bé bé xinh xinh mà chị thích, cũng nhỏ bé như đời chị bé nhỏ, đời của một nữ tu bé nhỏ, ẩn dấu đến độ mẹ Bề Trên trong ngày lễ an táng chị đã phải lúng túng thốt lên : “suốt những năm trong dòng, Têrêsa đã chẳng làm việc gì được gọi là nổi bật, đáng chú ý, nên không biết sẽ phải nói gì về chị đây trong điếu văn bên phần mộ”.
Em và các bạn hằng mong ước mọi người nhận ra giá trị của tình yêu hy sinh và con đường nên thánh dành cho những tâm hồn bé nhỏ của chị, được bắt đầu bằng trao tặng nhau mỗi buổi sáng những nụ hồng bé bé xinh xinh ngọt ngào và thắm đượm tình yêu cho nhau, và cứ thế tình yêu sẽ lớn lên, lan rộng để mọi người có nhau trong đời, để mọi người có nhau mỗi ngày, cho “Danh Cha là Thiên Chúa Tình Yêu được cả sáng, vương quốc tình yêu của Cha trị đến, Ý Cha là yêu thương được thể hiện dưới đất cũng như trên trời” và tất cả chúng con đều được cứu rỗi.
Jorathe Nắng Tìm


Thứ Năm, 16 tháng 8, 2018

KẺ TỐ CÁO (Chương IV)


Chương IV : TIN  ĐỒN,  MÔT  HÌNH THÁI CỦA XÉT ĐOÁN
    
   Tin đồn hay tiếng đồn xuất phát từ chữ Rumor, tiếng latinh, có nghiã là tiếng động rân ran, chạy khắp xa gần.Trước thế kỷ 18, người Âu châu không quan tâm đến tính khả tín của tin đồn, vì cho rằng nội dung tin đồn thường thay đổi: một tin đồn thực có thể biến thành tin đồn giả và ngược lại. Nhưng về sau, mãnh lực lan rộng và công phá của tin đồn ngày càng khủng khiếp, nhờ sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật truyền thông.Và tin đồn hầu như đã nắm giữ vai trò đáng kể hướng dẫn dư luận và thông tin đại chúng.

    Qủa thực, không mấy người trong chúng ta đã không có kinh nghiệm về tin đồn. Có những tin đồn nghe rất thích thú vì có lợi, nhưng cũng có những tin đồn nghe mà luống cuống, sợ hãi, thất kinh vì ảnh hưởng xấu đến thanh danh, gia đình, sự nghiệp. Tin đồn không có hộ khẩu, vì không ai biết tin đồn xuất phát từ đâu. Tin đồn  không có căn cước, lý lịch, vì không ai công khai  nhận mình là tác giả đã khai sinh ra tin đồn. Nhờ tính nặc danh, vô thừa nhận, vô gia cư, mà tin đồn dễ dàng lan tỏa, nhanh chóng lây nhiễm, phong phú chi tiết, công phá dữ dội. Nhờ tính "không pháp nhân", tin đồn được triệt để xử dụng để tung hỏa mù, thăm dò, xuyên tạc, đe dọa, tạo rối rắm, hoang mang, trấn áp tinh thần đối phương. Nhờ tính vô trách nhiệm, tin đồn tha hồ chống phá, thoải mái  xâm phạm, tự do làm tổn thương ngườI khác, mà không một quyền lực nào có thể xử lý.

      Tin đồn còn là chất liệu cho xét đoán, đồng thời là hành vi xét đoán, vì trong  mọi tin đồn đều đã gói sẵn một chọn lựa, một thái độ, một phán đoán, nếu không, tin đồn sẽ không còn là tin đồn, nhưng sẽ là tin thật, tin chính xác thông tin một cách khách quan về một sự việc, con người nào đó. Tin đồn ở cùng đơn vị với tin thất thiệt, nhưng ở sát tin sét đánh, tin động trời, vì hấu hết mục tiêu của tin đồn là gây chấn động toàn cầu để đánh gục, đốn hạ đối phương, hơn là xây dựng, bênh đỡ. Do đó, người ta cũng xếp những thư nặc danh, những tờ rơi tố cáo, vu khống, mạ lỵ người khác mà không ghi tên tác giả vào danh sách "những con tương cận" của tin đồn.      
     Hậu qủa của tin đồn thì vô cùng rộng lớn và tai hại, trong khi phần đông đều  đánh giá thấp tin đồn. Chưa kể với những lý luận bình dân, thô thiển như : Không có lửa làm sao có khói, đám đông đã bị tin đồn làm chao đảo và  đồng tình cvô điều kiện với những gì tin đồn đã dọn sẵn, như người lười  suy tư, làm biếng truy tìm luôn thụ động nghe theo vào những gì người khác tuyên truyền, nhồi sọ. Tin đồn thường có chủ đích làm mất uy tín, mất niềm tin, mất tình liên đới, nên gây xáo trộn, nghi ngờ, dè dặt, chia rẽ, cô lập, phủ nhận, loại trừ. 
    
     Để hiểu rõ bản chất của tin đồn hơn, ngườI viết đề nghị bạn đọc quan sát kết qủa nghiên cứu của một số nhà tâm lý Mỹ, đứng đầu là nhà tâm lý James Brandt năm 1947 về hiện tượng tin đồn :
 Nếu tin đồn được tung ra với 100 chi tiết, thì khi trở về người thứ nhất,  tin đồn sẽ chỉ còn 36. 
 
Sau một tuần, khi nhận lại tin đồn do mình tung ra, ngườI ta nhận thấy tin đồn đã được bổ xung, cắt xén, cường điệu hoặc giảm thiểu trong khoảng  từ 35 đến 42% so với tin đồn nguyên thủy. 
76%  chuyển tải tin đồn cho người chung quanh
39% khai thác, tận dụng tin đồn cho lợi ích cá nhân hoặc phe nhóm.
86% không quan tâm tìm hiểu nguồn gốc tin đồn.
79% đồng tình với tin đồn vì ích kỷ
90% thích ngóng tin đồn và 44% biến nội dung tin đồn thành sở hữu để tiện dùng khi cần thiết.
Hầu hết tin đồn đều mang nội dung tiêu cực và không mang lại hy vọng.
39% tin đồn nhằm tấn công bí mật cá nhân, gia đình, cấp lãnh đạo
17% tin đồn chĩa mũi súng vào xí nghiệp, tổ chức, cộng đồng.
5 % tin đồn có chủ đích thăm dò dư luận
39% tin đồn có ý tạo hoang mang, rối loạn, bất mãn.
17% tin đồn kéo dài trên sáu tháng.
80% kéo dài dưới hai tháng.
70% tác giả tin đồn là cá nhân.
20% tin đồn phát xuất từ một tập thể
  Nhìn vào kết qủa nghiên cứu, ta thấy:
Mức độ trung thực, đáng tin của tin đồn rất mong manh:
   Rất mong manh, vì ai cũng có thể là đồng tác giả của tin đồn, và có quyền thay hình đổi dạng tin đồn, nên tính xác thực của tin đồn không được đảm bảo. Tại sao  nói không được đảm bảo, mà không nói: tính xác thực của tin đồn không có. Thưa vì đôi khi tin đồn lại xẩy ra đúng, làm cho tin đồn trở thành tin xác thực và chính điều này làm cho tin đồn được nhiều người ngóng nghe và mãi được tồn tại trong xã hội loài người. Vì thế, cơn cám dỗ của tin đồn xem ra vẫn có khả thể trở thành cơn cám dỗ sau cùng của con người.
Liên quan đến tin đồn là số đông:

  Tuy miệng thì nói tin đồn không đáng tin, nhưng phần đông lại bị tin đồn ảnh hưởng. Thống kê cho thấy những người liên quan đến tin đồn, từ người tung ra tin đồn đến những người nghe ngóng, quan tâm, bóp méo, thêm thắt, đồng tình, tin tưởng, tận dụng, đầu tư tin đồn luôn chiếm đa số. Điều này nói lên ảnh hưởng không nhỏ của tin đồn trong sinh hoạt xã hội, đồng thời sức lan toả rộng rãi của tin đồn trong đời sống.

    Phần đông không kiểm chứng, truy tìm nguồn gốc của tin đồn :
    Không kiểm chứng do không thể kiểm chứng, vì tin đồn tự nó là vô gia cư, vô thừa nhận, nên rất khó truy tìm nguồn gốc, lý lịch và thẩm tra tính xác thực.Không kiểm chứng cũng vì lười biếng và a dua theo lời bàn, phán xét của đám đông, dư luận ; nhất là do tính ganh ghét sẵn có, và chủ trương "Mackeno = mặc kệ nó" tiềm tàng trong con người vốn ích kỷ hơn vị tha.

       Thực ra nguy hiểm của tin đồn không ở nội dung tin đồn, cho bằng ở tình trạng bị cuốn theo tin đồn và không kiểm chứng, truy tìm nguồn gốc và tính xác thực của tin đồn nơi những người đón nhận nó. Vì tin đồn tự nó là những đồn đãi vô tội vạ, những đồn thổi không  căn cứ, nền tảng, những đồn đoán không đếm xỉa gì đến hậu qủa tai hại sẽ gây ra, và hầu hết đều mang tính tiêu cực, nên tin đồn không thể được coi như những  thông tin đáng tin cậy, cao qúy, đáng trân trọng. Cái khó là người ta luôn có khuynh hướng nghe theo tin đồn và vội vàng kết án đối tượng bị tin đồn ỡ phong thần ữ. Không ít người đã là nạn nhân vô phúc của tin đồn, khi bị cấp trên, bề trên phê bình, xét đoán, xử phạt dựa theo nội dung của thư nặc danh, tin đồn, thư tố cáo dài hàng chục trang nhưng không ký tên người viết.

    Tin đồn không tha ai, nể nang ai :
    Tin đồn là một hình thức nặc danh được dùng để hạ đối thủ. Đó là phương cách hèn hạ mà  tiểu nhân thường dùng. Nó cũng  được gọi là ném đá dấu tay, khi mượn tin đồn, thư ngỏ không ký tên, thư nặc danh phỏng đoán hồ đồ, tưởng tượng ngây ngô để khích bác, châm chích, lăng mạ, vu khống, bôi bác người khác. Nó nhắm đủ đối tượng, từ chuyện riêng tư cá nhân, gia cảnh đến chuyện công ty, cộng đoàn, việc chung khu phố. Tất đều nằm trong tầm ngắm của tin đồn, và mọi người, mọi việc đều có thể bị nó tung hê, té tát, lột trần.

     Vì thế, chúng ta dễ bị sa lưới của tin đồn khi háo hức, nôn nao nghe ngóng, bình luận, thêm bớt, mà không hề nghĩ  có thể một ngày nào đó, chính mình sẽ bị đưa lên bàn mổ của tin đồn.
Tin đồn luôn là thủ đoạn và mưu mô của cá nhân hay tập thể tung tin đồn.

    Người ta không rảnh tung tin đồn, viết thư nặc danh, hay phát tán tờ rơi xuyên tạc, bôi bác cá nhân, tổ chức nào đó mà không tìm cho mình một mối lợi lớn. Chỉ cần suy nghĩ điều này, ta đã có thể nhận ra  cái tồi tệ của các phương tiện được dùng vào công tác tạo tin đồn. Tin đồn, vì thế, không thể mang tính nhân văn, tích cực, xây dựng, nhưng hầu như chỉ đáp ứng bản năng thấp hèn là kèn cựa, ganh ghét của con người. Rất ít tin đồn mang tính thăm dò (5%), nhưng hầu hết đều là mũi nhọn tấn công, đốn hạ.

   Tóm lại, tin đồn là tư tưởng sai lạc, nhận định sai lầm, quyết đoán sai trái về một người,  một tập thể, một việc mà mình không biết, hoặc không biết đủ, không biết rõ, không biết tường tận. Điều đáng trách và đáng loại trừ ở tin đồn là những sai lầm, sai lạc, sai trái ấy lại được quảng bá cho mọi người, tung lên thành cao trào quần chúng để tìm sự đồng tình, đồng loã, đồng phạm của đám đông.
      
    Vì thế, chủ trương cho tin đồn là một trò chơi vô thưởng vô phạt, không quan trọng và không ảnh hưởng nhiều là suy nghĩ ngây thơ và lạc quan qúa đáng ; bởi tin đồn trong thực tế đã làm cuống cuồng,  điên loạn, đảo lộn không biết bao nhiêu người, bao nhiêu  cộng đoàn xã hội. Tin đồn tuy như không tay không chân, nhưng điều khiển, hướng dẫn, can thiệp không ít vào những nhận định, quyết định của những người có quyền.Tin đồn xem ra không gươm không súng, nhưng  làm tổn thương không ít những người vô tội. 

   Tin đồn xem như rất hồn nhiên, khách quan, nhưng là tai ương, hiểm hoạ cho rất nhiều người không may lọt vào tim bão của nó. Vấn đề ở đây là làm thế nào để tin đồn không thống trị, lèo lái, điều khiển được  tim óc của ta và trong mọi chọn lựa, tin đồn không là nguồn thông tin, dữ liệu, cơ sở, chứng cứ, lý do được tận dụng để buộc tội người vô tội, lên án người vô can,  dập vùi người yếu đuối. Không kiên định lập trường trước tin đồn, người ta sẽ sập bẫy tin đồn một cách dễ dàng và một cách vô thức, tin đồn sẽ vô tình được đón nhận như  chủ nhân quyết định mọi nhận xét, phán đoán liên quan.
      
     Không ít những người thiện chí, có khả năng phục vụ xã hội đã phải chùn bước, bó tay, vì tin đồn vây hãm, chống phá. Không thiếu những công trình đành dở dang vì bão tố tin đồn và cuộc sống ngày càng bị đe dọa bởi những tin đồn từ thất thiệt đến thất kinh làm thất bát bao nhiêu cố gắng của cộng đồng xã hội. Thời đại thông tin mạng với nhiều thuận lợi và tiện nghi thay vì giúp con người xích lại gần nhau để cảm thông nhau hơn, đã trở thành phương tiện phục vụ những ý muốn thấp hèn của những người chỉ say mê chụp mũ, tố cáo người khác. Cứ thử lướt mạng một vài giờ, bạn sẽ thấy điều tôi chia sẻ là đúng, và điều chúng ta cần mơ ước lúc này, chính là một làn khí  trong lành, không bị tin đồn làm ô nhiễm, cho tâm hồn sảng khoái và bình an. 
Quý độc giả vui lòng đọc chương kế tiếp

IV CHÚNG TA KHÓ NHẬN RA THIÊN CHÚA QUA HÌNH HÀI CON NGƯỜI YẾU ĐUỐI




Kiếp người và đời làm người vốn nhiêu khê, phức tạp, có khi còn thê lương, khốn khổ đối với những  phận đời không may mắn. Trong thử thách, sóng gió, quẫn bách của cuộc đời, khi không còn biết bám víu vào ai, cậy dựa nơi nào thì người ta thường chạy đến Đấng thiêng liêng, với hy vọng được cứu chữa, giải thoát.


Vì thế, trong tâm thức tôn giáo, thiên chúa, thượng đế, đấng chí tôn phải là đấng toàn năng, có quyền trên tất cả, làm được mọi sự, giải quyết được mọi nhu cầu của con người. Và tín đồ của bất cứ tôn giáo nào cũng có cùng một điểm chung là khó chấp nhận thiên chúa của mình yếu hơn thiên chúa của người khác, thượng đế của đạo mình đuối hơn thượng đế của giáo phái láng giềng, đấng mình tôn thờ, cầu khẩn  thấp cơ hơn đấng trên bàn thờ của nhà hàng xóm. Đã xẩy ra nhiểu  cuộc chiến tranh tôn giáo ác liệt, đẫm máu trong lịch sử nhân loại, mà nguyên nhân là sự so sánh hơn thua, cao thấp giữa thiên chúa của  đạo này với đấng chí tôn của đạo kia.

Thế mà Thiên Chúa của Kitô giáo lại là một Thiên Chúa rất yếu đuối khi  nhập thế, nhập thể làm người yếu đuối. Duới hình hài em bé lúc sinh ta, rồi tội nhân chịu đóng đinh  chết tức tưởi, Đức Giêsu -Thiên Chúa của chúng ta, Thiên Chúa mà Phêrô đã tuyên xưng  (Mc 8,27-29), Thiên Chúa mà từ các tông đồ đến chúng ta và tiếp nối mãi đến tận thế không ngừng được rao giảng, làm chứng rất khó được nhận ra. Khó nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa vì :

1. Sự khôn ngoan của con người khác sự khôn ngoan của Thiên Chúa trong yếu đuối của Đức Giêsu

Dựa vào khôn ngoan của con người, cũng như luận lý của nhân loại thì Đức Giêsu không thể là Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa gì mà yếu qúa, nghèo qúa, bé nhỏ qúa, bất lực qúa, bình thường quá, đơn sơ đến không ngờ, giản dị đến không thể tưởng :
Không nhỏ là gì khi sinh ra làm em bé, nên chẳng ai biết mà đến thờ lậy, ngoài ba đạo sĩ từ phương xa được ngôi sao lạ dẫn đường (Mt 2,1-1-12) và đám chăn cừu nghèo được thiên thần báo tin. (Lc 2,1-20). Không yếu là gì khi phải chạy trốn Hêrôđê  làm người "tỵ nạn chính trị" bên Ai Cập (Mt 2,13-18). Không  bình thường là gì khi ẩn dật ba mươi năm ở thôn nghèo Nadarét với cha mẹ sống nghề đóng ghế, đóng bàn (Mt 2,19-23). Không lang bạt như người không nhà cửa là gì khi dong duổi đó đây cùng một nhóm môn đệ loan báo Tin Mừng. Không lang bang là gì khi gần gũi, thân mật với đám dân nghèo, người tội lỗi, kẻ tật bệnh bị đời khinh chê, nguyền rủa, xa lánh, cô lập (Mt 9,11). Không thất bại là gì khi bị môn đệ Giuđa đem bán, Phêrô chối bỏ. Không nhục nhằn là gì khi một mình vác thập giá, bị đóng đinh trần truồng. Không hết thời là gì khi khát cháy cổ mà không ai cho uống, không  mất số, mất cửa mà đến cha mình còn thinh lặng bỏ rơi (Mt 27).

Thật không còn con người nào yếu đuối hơn con người của Đức Giêsu, không thân phận người nào hẩm hiu hơn thân phận người của Đức Giêsu, không cuộc đời nào trôi nổi, long đong, bấp bênh hơn cuộc đời làm người của Đức Giêsu. Ba mươi ba năm đâu phải  nhiều, so với tuổi đời của bao người khác, nhưng vất vả, cơ cực, cay đắng, phũ phàng, tệ bạc đời Đức Giêsu thì chồng chất gấp nhiều lần  đời người khác.
        
Chính vì thế, không mấy ngưới đã nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa. vì Thiên Chúa đã chọn yếu đuối để làm người, chọn thập giá để cứu độ. Chọn lựa của Thiên Chúa thật sốc với con người, bởi nếu có quyền chọn, con người sẽ không chọn yếu đuối cho thiên chúa của mình ; nếu được quyền góp ý, con người sẽ ngăn cản thiên chúa của mình cứu độ bằng khổ hình, tử nạn; nếu được quyền tư vấn, con người sẽ khuyên  thiên chúa của mình chọn trực thăng, xa lộ, xe Lexus, Mercedes để đến với nhân loại, thay vì  lết từng bước nặng nề trên đường thánh giá ; nếu được quyền đề nghị, con người đã đề nghị thiên chúa của mình sai đoàn quân thiên thần từ trời "xử đẹp" đám Biệt Phái, Luật Sĩ và tất cả những người Do Thái đã âm mưu, tiếp tay giết thiên chúa của mình ; nếu có quyền biểu quyết, toàn thể người có đạo chắc chắn sẽ giơ tay, la ó chống lại chương trình cứu độ bê bết máu, nước mắt, và mồ hôi của Đức Giêsu ; nếu có quyền bỏ phiếu, đại đa số cử tri "đạo gốc, đạo giòng" sẽ bỏ phiếu trắng không ủng hộ phương án "dùng thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ" ; nếu có quyền lên tiếng, không ít người trong chúng ta sẽ xin Đức Giêsu nên suy nghĩ lại, và thay đổi đường lối cứu thế, như Phêrô đã ngỏ lời can ngăn ; nếu có quyền thay đổi tình thế, chắc chắn chúng ta sẽ lập trình đời làm người của thiên chúa chúng ta cách rất huy hoàng, hoành tráng làm lé mắt thiên hạ, làm mê mẩn người ngoại đạo, làm cạch mặt tín đồ các tôn giáo khác.

Con người  đương thời với Đức Giêsu cũng đã can ngăn, chống đối một Thiên Chúa  yếu đuối, thua cuộc, như Phêrô đã can ngăn, và như đám đông đã chống đối ; cũng đã lên tiếng  kiến nghị không đồng tính với đường lối "yếu đuối" của Đức Giêsu khi thấy Ngài hiền lành, khiêm nhường, nhẹ nhàng với người tội lỗi, và hay chạnh lòng  trước yếu đuối, khổ đau của những người bé nhỏ, bị bỏ rơi.  Những người đương thời này cũng đã thẳng thừng bác bỏ đường lối cứu thế  của Đức Giêsu, vì  Thiên Chúa của Ngài đã không  theo mẫu mã, "đơn đặt hàng" của họ, cũng không đi theo quy trình, ước tính, nhu cầu, đòi hỏi  của tôn giáo, dân tộc họ. Sự yếu đuối của Đức Giêsu vì thế đã trở nên "cớ vấp phạm cho nhiều người" như ông già đạo đức Simêon đã tiên báo về Ngài (Lc 2,34).

Thánh Phaolô đã đối đầu với nhiều người khi rao giảng Đức Giêsu yếu đuối, chịu đóng đinh, và ngài cũng bị ném đá, đánh đòn, tù ngục vì làm người ta sốc nặng khi loan truyền Chúa chịu chết. Loan truyền Thiên Chúa chịu chết là một điều không thể tưởng tượng  đối với người không có đức tin, là một xỉ nhục, trò đuà đối với bậc khoa bảng, học thức, là ngón phù phép làm mê hoặc ngưởi nhẹ dạ. Đó là bản án cho đến hôm nay người ta vẫn dùng để công kích Đức Giêsu - Thiên Chúa làm người trong thân phận con người yếu đuối.
  
Một lần nữa, chúng ta không lạ gì khi nhiều người bị sốc vì mầu nhiệm thập giá, hay nói cách khác, nổi điên nổi khùng vì mầu nhiệm yếu đuối của Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người.

Không chỉ những người chưa là Kitô hữu bị sốc, mà cả những người đã theo Đức Giêsu lâu năm, lâu đời cũng khó tránh được tình trạng thất thần này như hai môn đệ trên đường Emmau, hay như Tôma, người môn đệ từ giờ đầu đã đòi thọc  ngón tay vào dấu đinh, và bàn tay vào vết thương ở cạnh sườn Thầy mới tin Thầy mình là Thiên Chúa (Ga 20, 24-29). 
   
 Như thế, để nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa, chúng ta phải cởi bỏ cái nhìn nhân loại, luận lý nhân loại, khôn ngoan  nhân loại để đi vào mầu nhiệm Thiên Chúa. Mầu nhiệm ấy là thánh ý Thiên Chúa muốn dùng chính yếu đuối của « con người yếu đuối » để cứu sống , giải thoát, làm cho con người trở nên mạnh mẽ trong ơn Ngài ; thánh ý ấy muốn mầu nhiệm Thiên Chúa  được mặc khải qua, và trong chính yếu đuối của con người, để con người không thể không tin rằng sức mạnh cứu độ, nguồn ơn cứu độ, hạnh phúc được sống đời đời mà con người nhận được là ở Thiên Chúa, do Thiên Chúa, từ Thiên Chúa, vì chỉ một mình Ngài mới nâng dậy được con người yếu đuối,  chỉ ơn Ngài mới vực dậy được những yếu đuối của phận người bằng Tình Yêu tuyệt đối, đời đời của Đấng là Tình Yêu đã tự nguyện trở nên yếu đuối giữa loài người yếu đuối.  

2.  Khó nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa vì Ngài tự đồng hoá mình với những người yếu đuối.
Trình thuật ngày chung thẩm trong Tin Mừng Mátthêu (Mt 25,31- 46) là một bức tranh  cực tả sự yếu đuối của Thiên Chúa trong Đức Giêsu, ở đó, Thiên Chúa đã xuống thấp tận cùng, và tự đồng hoá mình với những người hèn hạ nhất, tự nhận mình là người yếu đuối nhất : tù đầy, bệnh tật, đói khát, trần truồng, bị bạc đãi, khinh miệt, khai trừ…Thiên Chúa không còn giữ lại bất cứ một hình ảnh huy hoàng, tuyệt vời nào của Thiên Chúa, nhưng mang lấy hình hài của những con người xấu số, kém may mắn, thất bại. Tự chọn thân phận kém cỏi nhất, phận số hẩm hiu nhất, hoàn cảnh bê bết nhất, Đức Giêsu đã không dễ được người đời nhận ra, vì dung mạo, dáng dấp qúa tầm thường, qúa bết bát là những dung mạo, dáng dấp, hình hài không ai muốn nhận cho mình, cũng không muốn thân quen,  giao lưu, liên hệ, vì chẳng được ích gì, có chăng chỉ là phiền toái, rắc rối, thiệt thòi.

Đó là lý do cả những người lành và người dữ, những người được chúc phúc cũng như bị nguyền ruả đều đã không nhận ra Thiên Chúa trong người đói khát, trần truồng, tù đầy, bệnh hoạn khi còn sống. Cả hai bên trái, bên phải của Thiên Chúa đều thưa lại với Ngài : "Lậy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; có bao giờ thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù mà đến hỏi han đâu?" (Mt 25,37-39 ).
   
Không nhận ra Thiên Chúa vì ai biết được Thiên Chúa đã tự đồng hoá mình với đám nghèo hèn, "khố rách áo ôm", hết ngồi tù lại vào khám quanh năm ? Không nhận ra Thiên Chúa, vì ai dám tin Thiên Chúa "là" những người bệnh Siđa, ung thư, bại liệt, mất trí, què quặt, mù loà ? Không nhận ra Thiên Chúa, vì ai bảo Thiên Chúa "là" đám du thử du thực, không nhà cửa, quê quán, việc làm ? Không nhận ra Thiên Chúa, vì làm sao có thể tưởng tượng được : Thiên Chúa "là" người bán vé số bò lê bò càng trên đường vì tật nguyền, là em bé nhem nhuốc đang ngấu nghiến củ khoai, là người mẹ "ăn xin" ẵm con nhỏ dưới cái nắng cháy da cháy thịt của buổi trưa Sàigòn?
 
Không dễ nhìn, không dễ thấy, không dễ nhận diện, vì người nghèo có mấy ai dễ nhìn bởi có bao giờ được tươm tất sạch sẽ ?  Người tù có ai dễ thấy, vì tường nhà tù cao, cổng nhà tù kín. Người đói rét, trần truồng, đau bệnh có ai dễ được nhận diện, vì hình hài tiều tụy, kinh sợ, đâu còn tươi trẻ, xinh đẹp, khả ái, phương phi.

Đó là mầu nhiệm nhập thể của Thiên Chúa trong Đức Giêsu, khi trở nên con người yếu đuối, bằng lột bỏ tất cả những gì thuộc về Thiên Chúa của mình. Nhập thể không chỉ là hành vi xuống thế, mà còn là hành động tự lột bỏ, tự tháo gỡ, tự bôi xóa, tự làm cho mình nên trống rỗng, không còn gì. Chính mầu nhiệm này làm nên Kitô giáo, và cốt lõi của đạo công giáo là sống mầu nhiệm Thiên Chúa làm người trong tận cùng yếu đuối của con người, bằng hiện diện yêu thương, và phục vụ giữa những người bé nhỏ, yếu đuối nhất trong anh em. Thiên Chúa đã tự đồng hoá mình với những anh em bé nhỏ, yếu đuối, xấu số nhất, nên sẽ không còn không gian phân cách, lằn ranh phân ly, bảng hiệu phân biệt giữa Thiên Chúa và những con người yếu đuối, hèn mọn, bị bỏ rơi, bởi : "Mỗi lần các ngươi làm bất cứ việc gì cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40).

Tóm lại, yếu đuối là chọn lựa của Thiên Chúa, làm con người yếu đuối là phương án cứu thế, biến thân thành người yếu đuối là đường lối cứu độ. Đức Giêsu - Thiên Chúa làm người đã không hành xử như thông lệ cuộc đời, theo thói đời quen thuộc, nhưng vượt xa tầm hiểu biết, suy đoán của con người. Vì thế, con người chỉ có thể gặp được Thiên Chúa khi đi vào chính mầu nhiệm của Ngài, mầu nhiệm Thiên Chúa làm người yếu đuối giữa những con  người yếu đuối, tội lụy.
Quý độc giả vui lòng đọc chương kế tiếp!