Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

Mùa Chay - Mùa Nhắc Nhớ Kỷ Niệm

Một trong những hạnh phúc của hai người yêu nhau là nhắc nhớ kỷ niệm từ buổi đầu mới quen đến những buổi hẹn hò, yêu thương, giao ước.

Hai người nhắc nhớ kỷ niệm về nhau, nhắc từng chi tiết, biến cố, hoàn cảnh đã làm nên cuộc tình, nhớ từng thời điểm thai nghén, khai sinh, lớn lên của mối tình. Và kỉ niệm càng được năng nhắc nhớ, họ càng cảm thấy cần nhau và yêu nhau mặn nồng.

Mùa Chay chính là mùa Thiên Chúa gặp gỡ và nhắc nhớ kỷ niệm của giao ước tình yêu giữa Ngài và ta như hai người yêu nhau nhìn lại đường tình đã đi và cùng nhau làm mới lại lời thề.

Khi chọn Ápraham, Thiên Chúa đã giao kết chọn ông làm tổ phụ dân riêng của Ngài, “một dân đông như sao trên trời, nhiều như cát dưới biển” và kí thác cho dòng dõi này sứ mệnh tôn thờ duy nhất một Thiên Chúa Giavê. Đáp lại, Thiên Chúa sẽ yêu thương, bảo bọc, gìn giữ dân riêng Ngài mãi mãi, từ đời này đến đời kia (St 15; 17,2; 28,15-21).

Dọc suốt lịch sử dân Do Thái, Thiên Chúa đã luôn trung thành với giao ước, mặc dù dân Ngài thường xuyên phản bội, bất trung, không tuân giữ những điều đã hứa. Vừa được giải phóng khỏi đời nô lệ bên Ai Cập, dân đã bất trung đúc bò vàng để thờ; vừa được nuôi bằng manna rơi xuống từ trời, dân đã ca thán, trách móc, phạm thượng Thiên Chúa Giavê. Có bao nhiêu đời vua là có bấy nhiêu đời thất tín, bất trung; có bao nhiêu cơ hội là có bấy nhiêu lần xây đền thờ thần ngoại giáo; có bao nhiêu cám dỗ là có bấy nhiêu chống đối, phản bội. Các tiên tri đã kêu gào dân trở về, năn nỉ dân thôi đừng phản bội, đe nạt dân thôi đừng xé bỏ giao ước, nhắc nhở dân thôi đừng vô ơn, bất kính Giavê. Lịch sử dân Do Thái đã thăng trầm với trung thành - phản bội, bỏ đi - trở về, phản nghịch – ăn năn. Lịch sử với các tổ phụ Ápraham, Isaác, Giacóp trung tín, với Môsê khiêm tốn, với Đavít vâng lời, với Gioan Tẩy Giả như tiếng kêu trong sa mạc dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến; đồng thời cũng là lịch sử của không biết bao nhiêu đổi dời, tàn phá gắn liền với kiêu căng, sa đọa, bất trung, bất tín của dân đối với Thiên Chúa.


Dù thăng trầm với bao nhiêu phản bội, thất hứa, Giao ước ấy vẫn luôn là hiến pháp quốc gia, sức mạnh của niềm tin, bảo đảm của nòi giống và hy vọng của Israel nhờ bởi lòng trung tín đơn phương, vô điều kiện của Giavê Thiên Chúa.

Thực vậy, trước thái độ dửng dưng, ngạo mạn và hành động phản bội của dân (Đnl 29,24; Gs 7,11; Tl 2,20), Thiên Chúa đã luôn đơn phương trung thành và không quên lời Ngài đã giao ước (Xh 2,24; 6,5; Đnl 4,31; Đn 9,4; Lc 1,72). Là Thiên Chúa trung tín, Ngài đã không quên hay vi phạm lời hứa, nhưng luôn giữ lời và không ngừng làm mới lại lời đã hứa: yêu thương, bảo vệ dân Ngài. Là Thiên Chúa nhịn nhục và kiên nhẫn, Ngài đã luôn nhớ lại lòng trung thành và vâng lời của tổ phụ cha ông mà bỏ qua lỗi lầm của con cháu. Nhưng lý do Thiên Chúa đã trung tín và nhẫn nhục trước những xúc phạm, phản bội của dân là vì giao ước đã được xây dựng trên lòng xót thương bao la của Ngài như lời kinh Tán Tụng của Đức Maria: “Lòng thương xót Chúa trải qua đời nọ đến đời kia”. Chính lòng xót thương vô điều kiện, đơn phương và vô vị lợi của Thiên Chúa đã cho dân được tiếp tục đứng vững và sống. Chính lòng thương xót không tính toán, cân đo của Ngài đã triển hạn hiệu lực của giao ước. Lòng thương xót ấy bao la, vô biên, vô tận đã làm tan biến những vi phạm trắng trợn, những phản bội tầy đình, những phạm thượng kinh tởm của dân. Chính lòng thương xót không giới hạn thời gian, không gian đã cho dân cơ may trở về hoà giải, nối lại giao ước xưa với Ngài. Chính lòng thương xót hải hà đã làm cho dân được tái sinh trong ơn thứ tha mỗi ngày. Trong giao ước này, Thiên Chúa đã không thu lợi về mình, nhưng toàn bộ lợi nhuận đã được dành hết cho con người; phần Thiên Chúa, theo ngôn ngữ của nhân loại: Ngài chỉ “hạnh phúc” vì tỏ được lòng xót thương trên con người là tạo vật Ngài nuông chiều, yêu quý.


Giao ước giữa Thiên Chúa và dân riêng cũng là giao ước giữa Thiên Chúa với mỗi người. Giao ước cũ với dân Do Thái đã được kiện toàn bằng giao ước mới của Đức Kitô với chúng ta qua máu của Thiên Chúa đổ trên Thánh Giá. Sự chết của Đức Kitô đã là chữ ký của Thiên Chúa trên giao ước mới và vĩnh cửu. Nếu giao ước cũ đã ký bằng máu hy lễ chiên bò, thì giao ước mới được đóng ấn bằng máu Đức Kitô - Thiên Chúa làm người. Máu Thiên Chúa đã chứng nhận và bảo đảm sự hữu hiệu vô cùng của giao ước: ơn cứu rỗi đời đời và vô hạn cho mọi người.

Gặp gỡ Đức Kitô trong Mùa Chay, mỗi người có dịp nghe Ngài nhắc nhớ tình yêu nhập thể, nhập thế và mầu nhiệm cứu chuộc. Tình yêu đã nhập cuộc trong đời mỗi người. Tình yêu đã khiêm hạ quỳ xuống rửa chân cho mỗi người. Tình yêu đã vất vả gánh vác tội lỗi của mỗi người. Tình yêu đã giang tay chịu đóng đinh để ôm lấy trọn vẹn vận mệnh, đời sống của mỗi người. Và tình yêu ấy đã đơn phương yêu thương, đơn phương tha thứ, đơn phương chữa lành, hoà giải, bởi tình yêu ấy là tình xót thương, “thích” mù loà trước tội lỗi và liều lĩnh thứ tha.

Gặp gỡ mỗi người trong Mùa Chay, Đức Kitô muốn làm mới lại giao ước tình yêu giữa Ngài và mỗi người. Giao ước ấy là tình cha – con vời vợi, tình bè bạn thân thương, tình thầy – trò nghĩa thiết. Đức Kitô đã thiết lập bằng chính máu Ngài các mối quan hệ ân tình này giữa Ngài và mỗi tâm hồn. Ngài muốn đi vào trái tim mỗi người và ở lại đó để yêu thương, cứu độ. Hạnh phúc của Thiên Chúa say mê con người là được ở trong cuộc đời mỗi người để thăng tiến, xây dựng và thánh hoá cuộc đời đó cho hạnh phúc tròn đầy, viên mãn, đời đời. Hạnh phúc của Thiên Chúa xót thương là con người không phải chết, nhưng được sống và sống dồi dào. Hạnh phúc ấy còn là nâng nhân tính của con người lên hàng thiên tính, nghĩa là được tháp nhập trong chính sự sống của Thiên Chúa. Ngày chịu phép thánh tẩy, mỗi người được dìm mình trong nước như dấu chỉ của một lần chết đi cho tội lỗi hầu mặc lấy sự sống của chính Thiên Chúa, để rồi ngày sống lại, thân xác hư nát cũng sẽ được phục sinh trong Đấng đã chiến thắng sự chết nhờ sự chết và sống lại của Ngài. Giao ước giữa Đức Kitô và mỗi người chính là giao ước sự sống và phục sinh đã được ký trong ơn sủng từ Thánh Giá. Đức Kitô đã tự hiến mạng sống để có được giao ước mới hoàn hảo mang ơn cứu độ. Ngài cũng đã chấp nhận đau khổ và cái chết nhục nhã để giao ước mang một giá trị vô cùng: cho tất cả mọi người được ơn tha tội. Và giao ước bằng máu Thiên Chúa ấy đã đời đời hoà giải con người tội lỗi với Thiên Chúa và ban lại ơn bình an của con cái Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại tội lụy.

Mùa Chay như lời tâm sự nhắc nhớ. Thiên Chúa nhắc mỗi người để mỗi người nhớ lại tình xưa nghĩa cũ với Thiên Chúa. Đã có bao nhiêu kỷ niệm đẹp giữa ta và Chúa, bao nhiêu ân sâu nghĩa nặng ta cần cám ơn, đền đáp, bao nhiêu dấu ái mặn nồng Chúa đã để trên đời ta, bao nhiêu ước mong, khát vọng, đợi chờ Chúa đã hơn một lần ở ta kí thác.

Đời Chúa muốn gắn với đời ta như giao ước cho ta sự sống của Chúa. Tình Chúa muốn bao phủ đời ta như giao ước cho tình ta nghèo nàn được bơi lội thỏa thuê trong đại dương tình Chúa. Ơn Chúa như sương sớm nuôi ngàn hoa như giao ước chan hoà đời ta niềm vui cứu độ. Vì hạnh phúc duy nhất của Thiên Chúa Tình Yêu chính là trái tim con người biết rung lên niềm cảm tạ “lòng thương xót của Ngài từ đời nọ đến đời kia trên những kẻ kính sợ Ngài“ (Lc 1,50).

Mùa Chay - Mùa Tìm Lại Bóng Hình

Nếu phải xa nhau lâu ngày, hai người yêu nhau khi gặp lại thường quấn quýt hôn lấy hôn để, và nghẹn ngào sờ soạng khuôn mặt nhau. Họ đang tìm ở nhau một cái gì đó sâu đậm hay đã phôi phai, vẫn còn hay đã mất, như ngày xưa hay đã khác xa lắm rồi. Đôi tay tình nhân có khi hốt hoảng, có lúc ngập ngừng, có khi hạnh phúc, có lúc bẽn lẽn tìm lại khuôn mặt người tình, tìm xem những gì còn, những gì mất trên đó. Họ đang khám phá dung mạo của nhau bằng đối chiếu những nét hôm nay với những nét hôm qua, những đổi thay hằn sâu hay bàng bạc, phơn phớt trên làn da, thớ thịt. Hai tình yêu đang mơn trớn sờ soạng tìm bóng dáng nhau. Hai trái tim đang thổn thức nhận diện lại nhau. Hai cuộc đời đang ghi chụp hình ảnh về nhau. Hai hạnh phúc đang xác định nồng độ tình cho nhau.

Tìm lại hình ảnh, dung mạo nhau là điều cần thiết; bởi không những bóng thời gian làm lu mờ, phai nhạt hình ảnh; dung mạo trong tim nhau, mà người đời cũng góp phần không nhỏ làm bầm giập, lệch lạc, méo mó. Những thị phi, ganh ghét, hiểu lầm của người chung quanh, những cơn mây đen kịt của lòng ích kỉ, hận thù đã biến thành dị dạng nhiều khuôn mặt dễ thương, phúc hậu và không cho hai trái tim nhận ra nhau; vì thế mới có cảnh “xa mặt cách lòng” đáng buồn, đáng trách.

Tìm lại hình ảnh, dung mạo nhau cũng là đòi hỏi của tình yêu chân thực khi mỗi ngày tình ấy đều muốn nói mãi lời “yêu em - yêu anh” như khẳng định lòng này chẳng bao giờ muốn cách, dù mặt này đôi lúc phải xa xôi. Những khẳng định tình yêu như những thanh củi cho bếp hồng luôn có lửa tỏa ấm và như những giọt nước rót đều vào gốc hồng chờ ra đời những bông hồng tươi xinh, rực rỡ. Trong bất cứ cuộc tình nào, những lần trở lại, gặp lại, tìm lại đã cho phép những người yêu nhau lại nhận ra khuôn mặt mình yêu, hình bóng mình thương, dáng dấp mình dấu ái, dung mạo mình âu yếm, tôn thờ để tình yêu trong họ được sống mãi và vững chãi trưởng thành.

Tình yêu giữa ta và Đức Kitô cũng cần những Mùa gặp lại, tìm lại để dung mạo Đức Kitô không nhạt nhòa, phôi phai và bóng dáng Ngài không bị xiêu vẹo, sụp đổ trong tâm hồn những người đi theo Ngài. Và Mùa Chay chính là Mùa thuận tiện để bóng hình, dáng dấp, dung mạo ấy được cung kính tô đậm trong trái tim muốn nói yêu Ngài.

Nhưng đâu là dung mạo đích thực của Đức Kitô - Thiên Chúa?

Chính Đức Kitô đã muốn biết các môn đệ vẽ chân dung của Ngài thế nào, khi hỏi các ông: “Người ta bảo Thầy là ai? ” trong khi dân chúng đang ồn ào, xôn xao, kháo láo, đồn thổi, phỏng đoán về Ngài (Mt 16,13-15). Người thì bảo Ngài là Gioan Tẩy Giả mới bị Hêrôđê chém đầu sống lại; nhóm khác bảo Ngài là hiện thân của tiên tri Elia; có đám cho rằng Ngài là tiên tri Giêrêmia hay một tiên tri nào đó... Người ta thi nhau vẽ hình dáng và “tự biên tự diễn” lí lịch của Ngài, nhưng có mấy người đã biết chính xác và chân thực Đức Giêsu là ai?


Người thời nay cũng như người đương thời với Đức Kitô đã nhốn nháo đổ xô đi xem phép lạ, điềm lạ nhưng lại không tin Đức Kitô là người đã làm phép lạ. Họ thích nghe chuyện lạ, thấy sự lạ, nhưng rất xa lạ với Đấng có quyền làm phép lạ. Đức Kitô đã nhiều lần nói với họ về Ngài, cũng như Gioan Tẩy Giả trước khi Đức Kitô khởi đầu sứ vụ rao giảng đã công khai giới thiệu về Ngài (Lc 3,16), nhưng rất ít người đã tin Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế. Người ta cũng như chúng ta thích tự mình nặn ra một Thiên Chúa theo óc tưởng tượng của mình, thích vẽ một Thiên Chúa như mình nghĩ, mình muốn, thích đúc tạc một Thiên Chúa hợp với khuynh hướng, sở thích riêng. Con người muốn tạo dựng Thiên Chúa cho mình, muốn Thiên Chúa thuần túy mang hình ảnh mình, là khuôn mẫu luân lý do chính mình đề ra để che chống, giải toả những ẩn ức và dục vọng bất chính. Thiên Chúa do con người tạo nên đã không khác “thiên chúa bò vàng” mà dân Do Thái đã đúc tạc rồi rủ nhau thờ lạy trên hành trình về Đất Hứa.

Những Thiên Chúa được tạo nên từ bàn tay con người thì nhiều và thời nào cũng có. Đã có bao nhiêu tổ chức to nhỏ tự dựng nên một Thiên Chúa, tự tạo một giáo lý, tự chế biến một giáo hội. Nhóm này bảo Thiên Chúa của họ phán thế này; nhóm kia tuyên bố chính xác ngày giờ tận thế; nhóm khác “nhặt nhẹ” giáo lý Công

Giáo, bỏ đi vài điều phải tin, rồi vui vẻ tung tin mình vừa được Thiên Chúa mạc khải và giao sứ mệnh thành lập một giáo hội mới; có nhóm tự phụ: chỉ những người đi theo họ mới được lên thiên đàng, còn tất cả sẽ phải sa hoả ngục, mất linh hồn. Tựu trung các nhóm này đều không xây dựng được giáo lí của mình trên một nền tảng vững chắc vì thường chỉ là vay mượn, cắt xén, hoặc do óc tưởng tượng bệnh hoạn nên “giáo lí” không nhất quán, không chặt chẽ nhưng thiếu sót, lệch lạc, phi lí. Và mãi mãi, ta còn phải gặp những người tự xưng là đấng thiên chúa sai đến, là “chiêu thánh hoàng đế”, là “con cưng của chúa”, là tiên tri sau cùng của loài người. Thế giới hôm qua cũng như hôm nay tràn lan những giáo phái với những giáo lý giật gân, kinh dị, non nớt này, nhưng vẫn không thiếu những người nhẹ dạ, hiếu kì đổ xô xin làm đệ tử.

Thực ra, chuyện bỏ Đạo và chạy theo những giáo thuyết lệch lạc đã được chính Đức Kitô cảnh báo: “Sẽ nổi lên nhiều đấng cứu thế và ngôn sứ giả. Họ sẽ làm mê hoặc dân chúng và vì sự dữ lan tràn, đức ái nơi nhiều người sẽ nên như băng giá” (Mt 24,23-26) và các tông đồ tiếp tục nhắc nhở từ những ngày đầu của Giáo Hội. Thánh Gioan trong thư thứ nhất của Ngài đã viết rất rõ về câu chuyện “bỏ Đạo chạy theo tiên tri giả” (1Ga 2,17-27). Vấn đề đặt ra cho ta là lý do nào đã làm những người anh em này bỏ Giáo Hội ra đi? Có khi nào ta nghĩ: ngoài tính nhẹ dạ, bồng bột, hiếu kỳ và tâm lý yếu đuối, bệnh hoạn, những người anh em này đã bỏ Đạo vì chúng ta đã không yêu thương, kính trọng, nâng đỡ, hướng dẫn, đồng hành với họ; vì những người có trách nhiệm trong Dân Chúa đã không làm tròn bổn phận mục tử; vì thái độ kiêu căng, hống hách, quan liêu, gian dối, bóc lột, thiếu từ tâm và công bình bác ái của Bề Trên, người phụ trách; vì những phán đoán lệch lạc, thiên kiến của cộng đoàn; vì chúng ta sống không xứng đáng; vì gương mù gương xấu của cha xứ, ban Hành Giáo, anh chị huynh trưởng; vì chúng ta đã đi lệch đường Đức Kitô dạy; vì chưa một lần ta cầu nguyện xin cho họ ơn trở về… Nếu khiêm tốn và chân thành, chúng ta sẽ thấy mình đồng trách nhiệm trong yếu đuối, sa ngã của anh em và biết mình phải làm gì.


Trở lại câu hỏi của Đức Kitô về dung mạo, căn cước tính của Ngài, ta có lời tuyên xưng của Phêrô, tông đồ trưởng, đại diện nhóm mười hai: “Lạy Thầy, Thầy là Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Lời tuyên xưng rất quan trọng của Phêrô đã cho ta dung mạo, căn cước đích thực của Đức Kitô và là nền tảng cho niềm tin Công giáo; bởi chúng ta tin Đức Kitô và tuyên xưng niềm tin của chính Phêrô đã tuyên xưng khi nhận bí tích Rửa Tội, gia nhập Giáo Hội được Đức Kitô chính thức xây trên tảng đá Phêrô: “Phúc cho con, Phêrô ơi, vì không phải máu huyết loài người tỏ cho con biết điều này, nhưng chính Chúa Cha trên Trời đã mạc khải cho con. Thầy nói với con: Con là Đá và trên tảng Đá này, Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy” (Mt 16,17-18). Lời tuyên xưng của Phêrô đã được Đức Kitô đóng ấn chấp thuận và công khai, chính thức xây dựng Giáo Hội trên niềm tin được tuyên xưng ấy. Nói cách khác, đức tin ở Đức Kitô mà Phêrô vừa tuyên xưng là đức tin duy nhất của Giáo Hội, đức tin không thể thay đổi của người theo Đức Kitô, đức tin tinh tuyền, trọn vẹn không tì ố và chúng ta không tuyên xưng một niềm tin nào khác ngoài niềm tin đã được Phêrô long trọng tuyên xưng này. Đây là điểm rất quan trọng mà chúng ta không được phép quên hay lơ là, sao lãng; bởi có thể cũng là niềm tin, nhưng niềm tin của những người khác, giáo phái khác không “giống” niềm tin của Phêrô, niềm tin mà Giáo Hội đã, đang và mãi mãi tuyên xưng. Chúng ta không tuyên xưng niềm tin của triết gia, nhà đạo đức, lý thuyết gia, bậc vĩ nhân, hay ông tổ của giáo phái nào đó, dù niềm tin ấy cũng là “tin vào Thiên Chúa dựng nên trời đất”; bởi vì niềm tin của Phêrô là niềm tin được đặt hoàn toàn trên con người Đức Kitô, Thiên Chúa làm người. Niềm tin ấy không mơ hồ, bâng quơ, đại trà, tổng quát, chung chung; nhưng xác định rõ trên con người Đức Kitô, tin ở Đức Kitô, Thiên Chúa ngôi Hai nhập thể làm người, đã sống, đã chịu khổ hình thập giá để cứu độ và đã sống lại từ cõi chết. Niềm tin của Phêrô phải là niềm tin của chúng ta, nghĩa là một niềm tin gắn bó thiết thân, thiết thực, thiết tha, thiết yếu trong Đức Kitô, Đấng cứu thế, Con Thiên Chúa hằng sống. Các tông đồ và tất cả mọi người tín hữu từ buổi đầu của Giáo Hội đến hôm nay đều tuyên xưng chung một niềm tin Phêrô này. Chối từ, loại bỏ niềm tin Phêrô, chúng ta lập tức ở ngoài Giáo Hội của Đức Kitô, bởi lẽ Đức Kitô đã xây Giáo Hội của Ngài trên niềm tin Phêrô đã tuyên xưng này.


Như thế, khi loại bỏ Đức Kitô hay giảm bớt Đức Kitô, chúng ta cũng loại bỏ luôn niềm tin nơi Thiên Chúa, vì ngoài Đức Kitô, chúng ta không có niềm tin nào đáng tin hơn; vì ngoài Đức Kitô, ta không thể gặp được Thiên Chúa, không hoà giải được với Thiên Chúa và không nhận được từ Thiên Chúa ơn cứu độ. Đức Kitô xuống thế để trở thành Thiên Chúa ở giữa con người hầu qua Ngài, con người biết Thiên Chúa là ai. Không những biết, con người còn được gặp gỡ Thiên Chúa trong Đức Kitô và cùng với Đức Kitô, con người được đồng hưởng hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa. Cắt đi nhịp cầu Giêsu, Đấng trung gian giữa Đất - Trời, Loài người - Thiên Chúa, chúng ta sẽ hoàn toàn bất lực trong toan tính lên trời, gặp Thiên Chúa, và thất bại trong công trình tìm hạnh phúc đời đời. Loại bỏ Đức Kitô ra khỏi niềm tin như phần đông các giáo phái chủ trương, con người sẽ lập tức rơi vào tình trạng lầm lạc, mất sức sống vì Đức Kitô là “Ánh Sáng, là Đường, Sự Thật và Sự Sống”. Suốt cuộc đời dương thế, Đức Kitô đã luôn luôn căn dặn các môn đệ và những người đi theo Ngài:

“Chúa Cha yêu thương Chúa Con và đặt nơi Ngài tất cả mọi sự. Vì thế, ai tin ở Chúa Con sẽ được sống đời đời. Ai từ chối không tin Ngài, sẽ không có sự sống, trái lại cơn giận của Thiên Chúa sẽ đè nặng trên họ” (Ga 3,35-36). Vì thế, “các ngươi sẽ không nghe được tiếng Chúa Cha, không thấy mặt Ngài, và Lời Ngài không ở trong các ngươi, nếu các ngươi không tin Ta là Đấng đã được Chúa Cha sai đến” (Ga 5,37-38), để rồi “các ngươi không biết Chúa Cha và Ta; nhưng nếu các ngươi biết Ta, các ngươi cũng sẽ được biết Cha Ta trên trời” (Ga 8,19) vì “ai tin Ta là Tin Đấng đã sai Ta, ai thấy Ta là thấy Đấng đã sai Ta” (Ga 12,14-15), “ai đón nhận Ta là đón nhận Đấng đã sai Ta” (Ga 13,20), “ai nghe lời Ta, Cha Ta sẽ yêu mến họ và chúng ta sẽ đến ở với họ” (Ga 14,23).


Giáo Hội từ hơn hai nghìn năm nay đã trung thành với niềm tin được Phêrô tuyên xưng về Đức Kitô: “Lạy Thầy, Thầy là Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống” và Giáo Hội đã sống chết với niềm tin này, bằng chứng là không lúc nào máu các chứng nhân đã ngưng đổ ra trước sức tấn công vũ bão của thần dữ và bè lũ. Thần dữ chỉ tấn công một điểm duy nhất là đánh bật Đức Kitô ra khỏi niềm tin của chúng ta; bởi chúng biết: duy nhất một niềm tin nơi Đức Kitô là niềm tin thật, niềm tin vững chắc, tinh tuyền mang lại ơn cứu độ và sự sống đời đời; bởi chúng biết khi loại bỏ được Đức Kitô, niềm tin sẽ chỉ còn là mơ hồ, ảo tưởng; bởi chúng biết khi bứng được Đức Kitô, niềm tin sẽ trở nên u tối, lầm lạc, phai tàn, héo úa vì không còn Ánh Sáng và Sự Sống. Đánh phá niềm tin của người tín hữu, thần dữ luôn nhắm vào hòn đá tảng là niềm tin Phêrô đã tuyên xưng khi tìm mọi cách li gián niềm tin của ta ra khỏi niềm tin của Phêrô, tách rời xác tín của ta ra khỏi lời tuyên xưng nồng nàn, quyết liệt của Phêrô và làm lung lạc niềm tin của ta nơi niềm tin của Phêrô là đá tảng xây Giáo Hội. Kinh nghiệm làm việc với những anh em bị cuốn hút bởi các giáo phái mới mọc lên như nấm ở Việt Nam những năm gần đây cho thấy: hầu như tất cả đều bắt đầu bằng loại bỏ vai trò của Đức Kitô, truất phế vị trí trung tâm trong công trình cứu chuộc của Đức Kitô, tách biệt Đức Kitô ra khỏi Chúa Cha và phủ nhận thiên tính của Ngài trong mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa. Không một giáo phái nào đã dám để Đức Kitô có mặt, trái lại trọng tâm và mục đích của họ là triệt phá, xóa hẳn, tẩy sạch dấu vết hình ảnh, dung mạo Đức Kitô trong niềm tin của con người. Đức Kitô không thể “đội trời chung” với họ và bằng mọi giá phải đánh gục Ngài. Vì thế, khi đối thoại với những người anh em bỏ Giáo Hội đi theo các giáo phái chống Đạo, không chấp nhận đức tin tông truyền của Phêrô, chúng ta nên cố gắng giúp họ can đảm nhìn thẳng vào Đức Kitô và tìm gặp lại chính Ngài với dung mạo yêu thương, nhân hậu, tha thứ, “chậm bất bình và rất đỗi khoan dung” hơn là mất giờ vì những đối chất loanh quanh ở vòng ngoài, không liên quan đến cốt lõi của niềm tin nơi Đức Kitô qua những cắt nghĩa gượng ép, phân tích vụn vặt, chú giải rời rạc, thiếu khách quan, lương thiện xoay quanh một vài câu Kinh Thánh được cẩn thận cắt xén và tách ra khỏi ngữ cảnh của Tin Mừng với ác ý “ăn thua đủ”, gài người đối thoại vào ngõ bí. Đừng quên một điều rất căn bản là niềm tin của chúng ta luôn dựa trên “Đức Kitô - Thiên Chúa làm người”, nên niềm tin ấy không chấp nhận bất cứ một nhượng bộ, du di, sắp xếp, thương lượng nào có mục đích thay đổi “Con Người - Thiên Chúa” nơi Đức Kitô. Trái lại, bằng mọi giá phải gìn giữ dung mạo ấy được tinh tuyền, nguyên vẹn là “Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống” mà Phêrô đã tuyên xưng. Trong đức tin tông truyền, niềm tin của chúng ta được Đức Kitô chứng thực, bảo đảm và niềm tin ấy cho chúng ta nghị lực và sáng suốt để cùng Giáo Hội can đảm làm chứng Đức Kitô là Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian để cứu độ mọi người.


Như thế sẽ không khó phân biệt, cũng không khó đo lường đức tin của mỗi người, vì tiêu chuẩn duy nhất để phân biệt, đo lường là mức độ gắn bó với Đức Kitô như thánh Gioan đã viết: “Tiên tri giả sẽ tràn đầy thếgiới. Và đây là cách để anh em biết ai thực là người được Thánh Thần Chúa linh ứng, thúc đẩy: Nếu người được linh ứng tuyên xưng rằng Đức Giêsu Kitô đã đến giữa chúng ta trong xác phàm thì người ấy thuộc về Thiên Chúa; trái lại, người được linh ứng mà từ chối tuyên xưng Đức Giêsu thì quả thực người này không thuộc về Thiên Chúa, nhưng họ thuộc về thần dữ chống Đức Kitô...” (1Ga 4,1-3) và “Bất cứ ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, người ấy thực sự được sinh bởi Thiên Chúa” (1Ga 5,1).


Dung mạo Đức Kitô trong ta có lẽ ít nhiều cũng đã bị lu mờ, méo mó, nhăn nhúm, sứt mẻ vì những yếu đuối, thiếu sót, lỗi lầm của ta. Dung mạo tuyệt vời ấy trong anh em cũng có thể đã bị bôi nhọ lấm lem, bẩn thỉu vì rất nhiều tội lỗi và đời sống bất xứng của ta.

Mùa Chay, Đức Kitô ghé lại thăm nhà tâm hồn, Ngài muốn rửa sạch trong ta những vết nhơ trên mặt Ngài để dung mạo thánh thiện của Ngài sẽ lấy đi cái hoang vắng của cõi lòng thiếu Chúa là Tình Yêu. Xin cho Mùa Chay trở thành mùa tìm lại hình bóng Chúa và dung mạo Đức Kitô nhân từ, khiêm nhường, giàu lòng xót thương.

Mùa Chay - Mùa Bác Ái


Khi nghe đến bác ái, ta có khuynh hướng quy chiếu và giản lược ngay giới luật yêu thương của Đức Kitô vào những công việc từ thiện, chia sẻ vật chất bên ngoài. Những việc làm bác ái cụ thể, thiết thực rất đúng và rất cần vì “Đức Tin không việc làm là Đức Tin chết”, Đức Ái không việc làm còn chết lẹ, chết bạo hơn và người “nói mà không làm” này được thánh Phaolô và Giacôbê xếp vào hạng “ba xạo, khoác lác, nổ bậy”. Tuy thế, bên cạnh những việc làm bác ái, còn một việc cần phải làm nữa, đó là yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho họ. Tin Mừng Mùa Chay đưa ta vào giữa lòng của cao trào Đức Ái và dắt ta đến tận “củ tỷ” của đòi hỏi bác ái rất gắt gao, dứt khoát.

Gọi Yêu Thương là giới luật mới, vì Đức Kitô đã đến giữa con người để thiết lập bộ luật yêu thương mới, không giống như luật cũ Môsê. Bằng chính cuộc đời và cái chết trên thánh giá, Ngài đã làm chứng: với ơn Chúa, người theo Đức Kitô có thể yêu thương đến cùng, yêu thương mọi người, kể cả kẻ thù và hiến mạng sống cho những người mình yêu.

Luật Môsê hay luật của Cựu Ước với Đức Giêsu đã không còn thích hợp. Luật cũ ấy cho phép “mắt đền mắt, răng đền răng”: “mày bẻ răng tao, tao bứng răng mày; mày móc mắt tao, tao khoét mắt mày” và tự nhiên yêu người thân, ghét kẻ thù. Đức Kitô đến và Ngài đã làm một cuộc cách mạng toàn bộ, khi thay đổi tận gốc rễ luật cũ và thiết lập luật Tình Yêu mới.

Ngài đã lập luật mới như Tin Mừng cho mọi người: luật yêu thương cho một thế giới yêu thương. Yêu thương của Ngài là cho đi không tính toán, là giơ má cho người ta tát nếu cần, là yêu không biên giới, là thương vô điều kiện, là liên lỉ tha thứ, là nhận về mình mọi thiệt hại và nhất là yêu cả người khinh bỉ, bách hại, lên án mình và cầu nguyện cho họ (Mt 5,43-48). Đức Kitô đã đảo ngược trật tự xã hội, tôn giáo của thời Ngài, ở đó công lý sẽ không còn xây trên nền tảng công - tội, thưởng - phạt nhưng xây trên lòng thương xót, bao dung; nhờ thế mà người đàn bà ngoại tình đang bị công lý loài người đè ra ném đá đã được công lý Thiên Chúa xót thương cứu giúp, giải thoát (Ga 8,1-11). Ngài dấy lên phong trào nhân quyền khi bất chấp luật cấm của ngày Sabát: “Tôi nói cho các ông nghe: Luật là để phục vụ con người, chứ không phải con người là nô lệ của Lề Luật” (Mc 3,27). Ngài đổi mới tư duy, cái nhìn của con người về tha nhân qua câu chuyện người Samaritanô nhân lành (Lc 10,25-37). Ngài lập một tiêu chuẩn trách nhiệm và lượng giá mới: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên” và người làm lớn là người phục vụ, người lãnh đạo là người tận tụy, hy sinh và khiêm tốn quỳ xuống rửa chân cho thuộc cấp (Mt 20,27-28). Ngài lập một trật tự xã hội, tôn giáo mới khi cố tình quấy động để đổi mới nếp nghĩ, nếp sống, thói đời bình thường, quen thuộc của người đương thời: Người ta mong làm lớn để được ngồi cao, còn Ngài thì bảo: Ai không trở nên bé nhỏ như trẻ thơ thì không được vào vương quốc của tôi và người có chỗ cao nhất trong nước trời là người bé mọn nhất (Mt 18,1-6). Ở đây, chúng ta cùng Ngài đi vào cốt lõi của luật mới: Tình Yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù.



Tin Mừng ngày thứ Bảy tuần thứ nhất Mùa Chay đặt chúng ta trước nghịch lý của một tình yêu vượt ngưỡng tự nhiên. Vượt ngưỡng tự nhiên vì cứ tự nhiên, bình thường, hơi đâu đi yêu kẻ ghét mình, thương kẻ coi thường mình, mến kẻ kèn cựa, bon chen. Cứ đương nhiên thì ai lại ngu đến độ giúp đỡ kẻ “chơi” mình và làm ơn cho đứa phản bội, tiêu lòn. Tình tự nhiên thấy ngay đòi hỏi trên là nghịch lý, khó chấp nhận, vì tự nhiên người ta chỉ thương được người thương mình và tất nhiên phải ghét người làm hại mình. Biết chúng ta sẽ nổi quạu vì cái nghịch lý khó chịu này, nên Đức Kitô đã rào trước đón sau như một nhà sư phạm khi khơi dậy trong ta một vài suy tư:

      Trước hết, Ngài công khai xin chúng ta cùng Ngài bước qua ngưỡng của tình yêu tự nhiên theo luật cũ “Yêu người thân, ghét kẻ thù” để bước vào một thế giới siêu nhiên với tình yêu siêu nhiên: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người hành hạ, bách hại chúng con để chúng con xứng đáng là con của Cha trên trời” (Mt 5,43-35). Thế giới Ngài dắt chúng ta vào là thế giới siêu nhiên của Cha trên trời, không còn là thế giới tự nhiên và mục đích phải đạt của những người theo Ngài là trở nên con Thiên Chúa, chứ không còn là con của loài người. Ngài đã công khai và dứt khoát mời chúng ta ra khỏi thế giới tự nhiên với tư duy tự nhiên, hành động tự nhiên của con người tự nhiên. Như thế, yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ thù không còn nằm trong vùng phủ sóng của tự nhiên, nhưng vượt tầm, vượt ngưỡng, vượt biên, vượt mức để sang hẳn khung trời, thế giới siêu nhiên. Trong thế giới siêu nhiên, con người tự nhiên cần ơn siêu nhiên để có thể thực hiện những hành vi siêu nhiên; nói cách khác, con người tự nhiên được nâng lên hàng siêu nhiên để hoạt động với Chúa, trong Chúa. Hành động bác ái yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ thù là hành vi siêu nhiên, có Chúa; vì thế, con người tự nhiên với lý lẽ tự nhiên, suy nghĩ tự nhiên, khuynh hướng tự nhiên, chọn lựa tự nhiên sẽ không làm được và tất nhiên cho là nghịch lý, vô lý, không chấp nhận được.



Để củng cố niềm tin và hy vọng vào lời Ngài hứa cho những ai dám theo Ngài vào khung trời siêu nhiên, Đức Kitô đã chứng minh ngay: Thiên Chúa đã làm mưa nắng trên cả người lành, kẻ dữ; có nghĩa là Ngài yêu cả kẻ dữ, người lành và luôn mong đợi mọi người trở về với Ngài để được hạnh phúc. Tình yêu của Thiên Chúa tuôn đổ tràn trề trên tất cả người lành, kẻ dữ, vì không một ai lọt ra ngoài tầm ngắm yêu thương của tình Ngài bao dung, thương xót. Cứ theo thói thường và tình tự nhiên thì chỉ nên mưa nắng cho người “ăn ngay ở lành”, còn bọn gian ác “trẻ không tha, già không thương” thì mưa nắng trên chúng làm gì cho uổng nắng mưa của Trời. Chúng ta không khỏi một lần khó chịu, bực bội với Chúa khi thấy bọn lưu manh, gian ác, ngậm máu phun người thì phây phây “hạnh phúc”, còn người công chính thì gặp toàn bất hạnh, rủi ro, đau khổ... Khác gì các môn đệ đã xin Đức Kitô cho lửa trên trời xuống thiêu hủy trọn một thành thuộc xứ Samaria vì dân chúng đã không đón tiếp Chúa. Không như các ông dự đoán và mong ước, Đức Kitô đã trách tâm địa không tốt của các ông và nói: “Thầy đến không phải để giết hại mà để cứu sống”. Nghe thế, các ông buồn hiu vì không “dạy được cho bọn này một bài học” để chúng “biết thế nào là lễ độ” (Lc 9,52-54); hay như người con lớn của người cha nhân từ trong câu chuyện đứa con hoang đàng (Lc 15,25-32). Anh hai thấy em về sau bao năm tháng xa nhà, xa cha, đã thay vì vui với cha, với em và mọi người, anh hai đã “bực bội, tức giận, không muốn vào nhà” và hằn học với cha: “Bao nhiêu năm ở nhà, không đi đâu và chỉ biết hầu hạ, phụng dưỡng cha... thế mà con chẳng được gì, còn thằng chó chết bỏ nhà đi hoang, phung phí hết tiền của, đáng lẽ đã chết bờ chết bụi, nay vác xác, mò về thì cha lại đãi tiệc ăn mừng. Thiệt tình, con hết hiểu nổi và chán cha tận cổ”. Anh hai chán cha tận cổ vì tình cha vượt quá tình tự nhiên chật hẹp, nhỏ bé của anh. Anh hai giận cha tím mặt, vì trái tim cha có lí lẽ siêu nhiên mà trái tim tự nhiên của anh không thể hiểu nổi. Anh hai càu nhàu, trách móc cha, vì anh không có tình siêu nhiên “thương xót” như cha. Anh hai giận cha, không vào nhà, vì anh không qua được ngưỡng tình yêu tự nhiên để bước vào vùng trời yêu thương siêu nhiên. Anh hai sẽ mãi mãi không hiểu và không bao giờ chấp nhận lòng bao dung, tha thứ không điều kiện của cha đối với em, vì quả tim “tự nhiên” của anh hai rất bé nhỏ, chỉ quanh quẩn với chút công lênh: “con chẳng đi đâu khỏi nhà, chỉ biết hầu hạ, phụng dưỡng cha” mà quên rằng: “mọi sự của cha là của con”. Trái tim anh hai chỉ đủ để chứa công trạng, huân chương, bảng khen, phần thưởng của riêng mình; ngoài ra không chứa thêm được gì, kể cả tình yêu cha già, người mà anh tự phụ “suốt đời hầu hạ, phụng dưỡng”.



Vì thế, nguy cơ của đời sống đạo là không chịu vượt ngưỡng tự nhiên để sang vùng trời siêu nhiên, không gồng mình ra khỏi pháo đài bề ngoài kiên cố nhưng bên trong rỗng tuếch, tạm bợ, nặng phần trình diễn của nhiều “cái tôi” như ý tôi, đời tôi, nhà tôi, nhóm tôi, xứ đạo tôi, hội đoàn tôi. Luật Tình Yêu mới của Đức Kitô là một cuộc cách mạng đòi đứng dậy, ra khơi, sang bờ bên kia, đi đến tận cùng thế giới, tận cùng thời gian. Tình yêu ra đi gặp gỡ, đón tiếp. Tình yêu ra khỏi nhà mình chật hẹp, ra khỏi lòng mình nhỏ nhen, ra khỏi nếp sống vun vén, ích kỷ để không ai không có chỗ trong cuộc đời mình, không ai bị ruồng bỏ, hắt hủi, lãng quên trong trái tim mình, không ai còn là kẻ thù “không đội trời chung”, không chung một đường về. Tình yêu cởi trói tâm địa kỳ thị, bóc lột, lợi dụng người khác. Tình yêu vượt trên tất cả để ôm được tất cả, thứ tha tất cả để nối kết tất cả, hy sinh tất cả để gặp được tất cả. Tình yêu ấy vô vị lợi đến mức không đợi chờ bất cứ phần thưởng nào, ngoài một phần thưởng duy nhất là chính Đức Kitô khi tình yêu tự nhiên đạt mức hoàn thiện siêu nhiên như Cha trên trời (Mt 5,48).

Thánh Tôma Aquinô sau khi viết xong “Tổng luận thần học” đã được Chúa hiện ra và hỏi: “Này Tôma, con đã viết rất nhiều về Cha, nay Cha muốn thưởng công con, vậy con muốn Cha thưởng con điều gì?” Thánh Tôma đã thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con chỉ xin cho con có Chúa”.

Có lẽ ta cũng phải như thánh Tôma xin cho ta luôn có Chúa để trái tim yêu được như Chúa yêu, thương như Chúa thương và tâm hồn thứ tha được như Chúa bao dung, độ lượng; bởi không có Chúa, ta không thể yêu được kẻ thù, không liều lĩnh được đến độ giơ má cho kẻ thù tát tiếp dăm ba cái nữa và nhất là không đủ khiêm nhường để chăm chú, sốt sắng, thiết tha cầu nguyện cho kẻ chơi xỏ, nói xấu, mạ lị, lên án, hành hạ, bách hại, truy diệt mình.

Mùa Chay, Chúa mời gọi mỗi người lên đường mạo hiểm với Chúa trong thế giới loài người với trái tim Thiên Chúa. Trang bị trái tim ta bằng tình yêu siêu nhiên, Chúa muốn ta đồng hành với Ngài trong thế giới tự nhiên để biến đổi tất cả quả tim đã hoá đá thành những trái tim có máu thịt: ngoan hiền trước tình Chúa, mềm mỏng, nhân hậu trước tình người.

Yêu Thương - Tha Thứ và Quảng Đại Cho Đi

           Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 7, TN C

    Nếu nhiều tổ chức thiện nguyện trên thế giới mang cùng lôgô “Không Biên Giới”, như hội Y Sĩ không biên giới, Phóng Viên không biên giới, Sắc Đẹp không biên giới, Nhân Quyền không biên giới, Nghệ Thuật không biên giới... , thì Hội Thánh, một cách nào đó, cũng có thể gọi là hội Tình Yêu -Tha Thứ - Cho Đi không biên giới.
    Tất cả các bài đọc trong lễ Chúa Nhật thứ bẩy thường niên năm C hôm nay quy hướng về “Thiên Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, Người chậm giận và giầu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi. Người không cứ tội ta mà xét xử, không trả báo ta xứng với lỗi lầm. Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất, tình Chúa thương kẻ thờ Người cũng trổi cao. Như đông đoài cách xa nhau vạn dặm, tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta. Như người cha chạnh lòng thương con cái, Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn Người” ( Tv 102, 8-13).
    Sở dĩ con người được Thiên Chúa nhận làm con và được bao bọc bằng tình thương âu yếm của người cha nhân từ, như thánh vịnh 102 vừa diễn tả, vì Đức Giêsu đã ban cho con người sự sống mới của con Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã xác quyết với giáo đoàn Roma : Đó là sự sống siêu nhiên, sự sống xuất phát từ Đức Giêsu, Đấng đến từ Chúa Cha và hiến mạng cho con người được sống và sống dồi dào sự sống của con cái Chúa. 
     Tin Mừng Luca khẳng định chân lý trên, nhưng không khẳng định xuông, mà có điều kiện. Đức Giêsu công khai đưa ra những điều kiện để được làm con Thiên Chúa, điều kiện để có Thiên Chúa là Cha, điều kiện để hưởng lòng nhân hậu của Thiên Chúa:
    Trước hết, ở câu 31, Ngài nhắc lại “luật vàng” đã có trong Do Thái giáo : “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy” (Lc 6,31), nhưng điều kiện Ngài đòi không dừng lại ở luật vàng này, mà vượt rất xa quy ước bình thường của con người mọi thời. Vượt xa quy ước bình thường khi Ngài truyền cho người muốn trở nên con Thiên Chúa phải thực hiện ba đòi hỏi sau: 



     1/ Yêu thương như Thiên Chúa yêu thương.
    Thiên Chúa yêu thương và muốn cứu độ mọi người, bất kỳ ai, dù là người lành kẻ dữ. Ngài muốn chúng ta nên giống Ngài khi yêu thương mọi người, kể cả kẻ thù, bởi “nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì có gì là ân với nghĩa” (Lc 6, 32), nhưng “hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” (Lc 6, 27-28).



    2/ Tha thứ như Thiên Chúa luôn rộng lượng thứ tha :
    Yêu thương đòi tha thứ, bởi không có người yêu hoàn hảo, mà chỉ có “người khác” bất toàn. Nhưng để tha thứ, Chúa muốn chúng ta khởi đầu hành trình tha thứ bằng không xét đoán, lên án ai, bởi kẻ lên án, xét đoán anh em thì chẳng bao giờ có thể yêu thương, tha thứ.
    Đàng khác, Thiên Chúa đã không chỉ mời gọi, nhưng còn đặt hành động tha thứ và không lên án anh em như điều kiện để được cứu rỗi, tức được Thiên Chúa thứ tha và không đoán phạt : “Anh em đừng xét đóan, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha” (Lc 6, 37).



3/ Quảng đại cho đi nhưng không, như đã nhận nhưng không : 
     Điều kiện thứ ba Thiên Chúa đặt ra cho con cái của Ngài là phải biết quảng đại cho đi, mà không tính toán, vì yêu thương đòi cho đi, trao tặng, và tình yêu chân chính luôn là tình yêu vị tha, hướng đến người khác : ước mong và mưu tìm hạnh phúc cho người mình yêu. 
    Ở đây, Đức Giêsu đã không úp mở khi nhấn mạnh : “Ai xin, thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại” (Lc 6, 30), vì “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại... Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6, 38).
    Thực vậy, Đức Giêsu mặc khải những bí mật của Nước Trời, và những bí mật này cũng là giấc mơ của Thiên Chúa. Ngài mơ mọi người “có lòng nhân từ, như Thiên Chúa là Đấng nhân từ” (Lc 6, 36), để con người được sống hạnh phúc của con cái Thiên Chúa và anh em của nhau .
    Xin cho chúng con được cùng Chúa lên đường thực hiện giấc mơ hạnh phúc này.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2019

Mùa Chay - Mùa Học Sống Thành Thật

Trong xã hội, người thông thái, trí thức là giai cấp luôn được trọng vọng. Cưới vợ, gả chồng, làm quen, kết nghĩa, người ta đều ưu tiên chọn người có học vì “có chữ vẫn hơn” và thời nào cũng “nhất sĩ ” sau đó mới đến Nông, Công, Thương. Kẻ sĩ thường được trao quyền lãnh đạo quần chúng vì được coi là người học rộng, biết nhiều và được gọi là người khôn ngoan vì bách khoa, uyên bác. Cũng vì vị thế quan trọng và vinh hiển của người trí thức trong xã hội mà cha mẹ nào cũng gắng sức cho con ăn học. Hy sinh, vất vả đến mấy cũng phải cho con một mảnh bằng, một bồ chữ, một cơ hội thành công trên đường học vấn. Phong trào rầm rộ và rất tốn kém gửi con sang Mỹ, Úc du học đã phần nào nói lên giấc mơ cho con cái thành kẻ sĩ của xã hội Việt Nam hôm nay.

Kẻ sĩ “vĩ đại, vinh quang, hiển hách” như vậy, người thông thái đáng trọng, đáng kính, đáng tin đến thế mà Đức Kitô trong lời nguyện của Ngài lại xem như có vẻ coi thường và nghi ngờ họ: “Lạy Cha là Chúa trời đất, con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu các sự này, không cho kẻ khôn ngoan và thông thái biết và Cha đã chỉ tỏ ra cho các kẻ hèn mọn” (Lc 10,21). Nội dung lời nguyện của Đức Kitô đúng là coi trí thức, thông thái không bằng củ khoai, bằng cớ là Ngài đã mừng vì Chúa Cha không cho đám trí thức này biết sự gì. Không cho ai biết điều gì tức là không tin người ấy hoặc không muốn chia sẻ thông tin với người ấy. Cả hai đều tiêu cực và kín đáo nhắn gửi: không muốn, không tin.

Nhưng tại sao Đức Kitô lại giấu đám thông thái, trí thức mà chỉ nói với những người bé mọn những chân lý về Ngài?

Trí thức là người học nhiều, biết nhiều, nên hay “nhận vơ” biết hết mọi sự. Ảo tưởng biết hết mọi sự, rành rõi hết mọi ngành, nắm bắt mọi điều lẽ trong thế gian là cơn cám dỗ triền miên và kinh hoàng của người có tí chữ. Không ghìm mình đứng vững trước cám dỗ là “tự điển của nhân loại”, người trí thức sẽ rơi vào vực thẳm của nhiều thứ “tự”. Trước hết là tự mình có thể làm tất cả, không cần đến ai khi đời sống sung túc, bổng lộc dư dả, quyền lực trong ngoài. Tiếp đến là tự mãn khi mãn nguyện trước mọi nhu cầu, đòi hỏi. Tự mãn dắt đến tự cao, tự đại khi thấy mình ở trên cao, ngự toà lớn; rồi tự tôn khi thấy mình được nhiều người tôn sùng, ngưỡng mộ. Khi rơi vào vực thẳm của những loại “tự” này, người thông thái sẽ không còn nhận ra mình chỉ là “trí thức một phần” chứ không là “trí thức toàn phần” của kho tàng hiểu biết trong nhân loại. Họ quên mình chỉ biết những gì mình học và vẫn phải tìm tòi, tham vấn, lắng nghe, nhất là luôn cần đến người khác. Họ mù loà trước hào quang xã hội dành cho và đánh mất mình trong ánh sáng chói loà độc hại của hào quang ấy. Không nhận ra mình, không biết sự thật về mình, nhưng lâu ngày ẩn mình trong hào quang, giấu mình trong lời khen, chúc tụng, người thông thái mất thói quen đối diện sự thật và sống thật nên tìm mọi cách để ở lì trong ánh sáng hào quang, cho dù ánh sáng này ngày càng yếu ớt, nhạt nhoà khi sự thật không mấy trong sáng, uyên bác về họ với thời gian bị khám phá, tiết lộ. Cũng vì đã quen tự cao, tự đại, tự tôn, tự mãn, nên bây giờ phải tìm cách tự che, tự dối để còn được tiếp tục tự cao, tự đại, tư tôn, tự mãn. Họ sẽ bắt đầu bằng kỹ thuật dối người, sau đến dối chính lòng mình. Và một khi lòng mình mà còn dối thì ở mình sẽ chẳng còn gì là sự thật và sự thật về mình sẽ còn tìm gặp ở đâu?

Đức Kitô trong Tin Mừng Mátthêu đã rất nghiêm khắc với đám trí thức luật sĩ tự cao, tự đại, tự tôn, tự mãn (Mt 23,1-39). Ngài thẳng thừng gọi họ là bọn gian dối, giả hình chỉ muốn người ta kính cẩn chào hỏi và gọi là Thầy, chỉ áo sống, mũ mão lềnh kềnh, sang trọng để được ngồi mâm cao cỗ đầy, có đầy tớ phục dịch trong khi tâm hồn thì hôi thối, dơ bẩn như hài cốt dưới mồ mả. Ngài lên án các ông trí thức là bọn mù loà, gian ngoa, ăn chặn, ăn cướp từng đồng xu của bà goá và làm chứng gian để nhiều người vô tội bị tố cáo, tù đày. Ngài nặng lời nguyền rủa họ là loài rắn độc giả hình, chỉ phô trương, đóng kịch và lăm le đóng cửa Nước Trời ngăn chặn không cho ai vào. Quả thực Đức Kitô đã lớn tiếng, nặng lời trách móc đám biệt phái trí thức, thông thái đến nỗi các môn đệ phải ái ngại, lo lắng cho Ngài. Cũng chính vì bị Ngài làm mất mặt, “quê xệ” trước đám đông mà đám trí thức luật sĩ này quyết tâm tìm mọi cách để truy diệt Ngài. Họ đã làm và đã thành công...

Sở dĩ những người trí thức Biệt Phái bị Đức Kitô gắt gao lên án là vì họ giả hình, nói dối và thiếu thành thật. Đây là điểm yếu nơi họ và là điểm Đức Kitô cương quyết lật tẩy. Ngài biết sự thiếu thành thật và giả hình của họ đã làm tâm hồn họ ngột ngạt, tăm tối vì không có chỗ cho làn khí sự thật. Giả hình, gian dối còn làm chai cứng trái tim và biến lòng họ thành vô tâm, vô cảm trước những vấn đề của con người. Chính vì vô cảm, chai cứng mà họ đã nhẫn tâm trong quan hệ, đời sống. Cũng vì ngoan cố và mù loà mà họ đã không lắng nghe và chấp nhận chân lý. Càng giả hình, tâm địa càng ác độc, ma mãnh. Càng ác độc, ma mãnh, càng gian dối, giả hình. Để bảo vệ thành trì trí thức và lợi nhuận do cầu chứng trí thức mang lại, những người Biệt Phái thông thái phải sành sỏi trong nghệ thuật nói dối. Nói dối để sống, nói dối như sự sống. Nghệ thuật nói dối, giả hình bắt họ phải khéo léo trong vai kịch, dè dặt khi ăn nói, thủ đoạn trong suy tư, mưu mô trong hành động. Họ không còn nét đơn sơ, trong sáng của người thành thật; không còn dáng dấp thảnh thơi của tâm hồn ngay chính; không có cả nụ cười hào sảng của trái tim không vẩn đục gian tà. Họ mất hết hạnh phúc trong quan hệ vì lời họ không thật. Họ mất hết hứng khởi trước tha nhân vì không còn khả năng nói thật. Họ mất dần niềm hy vọng vì tương lai thiếu sự thật mở lối. Trái lại, họ lo sợ sự thật về họ bị tiết lộ và cuộc sống của họ cứ phập phồng rồi trí trá, lo lắng rồi giả hình, bất ổn rồi dối gian. Họ không chỉ giả hình trước con người, tự đánh lừa lương tâm, mà còn lừa dối cả Thiên Chúa trong khi cầu nguyện: Họ bệ vệ oai phong, dõng dạc lớn tiếng “cám ơn Chúa vì họ không trộm cướp, dâm đãng, tội lỗi như người khác” và liếc mắt khinh thường người thu thuế tội lỗi đang khiêm tốn nép mình đàng xa, cúi đầu cầu nguyện. Họ không biết, chính họ mới là người cần sám hối, ăn năn vì tội giả hình, không thành thật với Chúa, với mình và với anh em của họ. Nhưng tiếc thay, họ có mắt như đui, có tai như điếc, có miệng như câm, có tay chân như bại liệt chỉ vì họ không thành thật, ngay chính, đơn sơ.


Đức Kitô rất thương họ, nhưng không chấp nhận lối sống “giả nhân giả nghĩa” của họ, vì lối sống này biến họ thành những người bất hạnh hơn ai hết, bất hạnh vì tâm hồn không còn thành thật như đất tốt cho hạt giống sự thật nảy mầm, trái tim không còn chân chính như khí lành cho sự thật kết trái đơm bông, tình yêu không còn chân thành như ánh sáng cho bình minh chân lý. Chính vì thế Ngài đã không xin Chúa Cha mạc khải cho họ những sự thật về Ngài; bởi có nói họ cũng không nghe, có mạc khải họ cũng khi ông đón nhận vì thửa đất lòng họ đã nứt khô, cằn cỗi vì nắng hạn giả hình, kiêu căng.

Đối trọng với những người thông thái, khôn ngoan là những người bé mọn mà tâm hồn đơn sơ, thành thật, không gian dối. Họ biết thân phận mình bèo bọt, mọn hèn nên khiêm nhường, đằm thắm; biết mình lúc nào cũng yếu nên cần mọi người; biết mình dốt nát nên lắng nghe và biết ơn. Họ nghèo nên phó thác. Họ thiếu thốn nên cậy trông. Quá khứ, hiện tại, tương lai, họ đặt để tất cả ở Chúa, vì thấy đời mình chẳng có gì đáng giá mà cất giấu, cũng chẳng tham vọng cao xa, nên không mánh lới,thủ đoạn, càng không giả hình, lừa đảo vì chân chất là nếp sống của họ. Họ sống thật với mình, thật với người và với Chúa. Sự thật là niềm vui, hạnh phúc và hy vọng của đời họ. Chính vì thế, Đức Kitô đặc biệt thương và trân trọng họ, đồng thời xin Chúa Cha mạc khải riêng cho họ những mầu nhiệm, chân lý mà người khác không có được. Chỉ trái tim trong sáng của họ mới đủ điều kiện đón nhận những hạt giống chân lý; chỉ tâm hồn đơn thành của họ mới nhận ra giá trị vô cùng của sự thật Thiên Chúa; chỉ cuộc đời ngay thật của họ mới là nhà Thiên Chúa ở. Được Đức Kitô yêu thương và chúc phúc, những người hèn mọn đã trở thành những công nương, hoàng tử của Nước Trời khi họ được Chúa Cha đích thân mạc khải những điều bí ẩn, riêng tư của Thiên Chúa. Và như thế, họ được vào tận cung lòng Thiên Chúa và được chia sẻ tình yêu, hạnh phúc của Ngài.

Mùa Chay là mùa cởi bỏ mũ áo lôm côm, lềnh kềnh, là mùa rửa sạch phấn son, trang điểm, cởi bỏ xiêm y lộng lẫy của diễn viên sân khấu và từ chối khoác lên mình áo bào, vương miện giả tạo. Mùa Chay là mùa tập sống lương thiện với mình, thành thật với người, chân thành với Chúa. Mùa Chay là Mùa của sự thật, sự thật từ đáy lòng, từ sâu thẳm tâm hồn, từ cốt lõi cuộc sống. Giả hình, gian dối không là màu tím của Mùa Chay, nhưng là màu lửa độc hại đốt cháy rừng xanh ơn phúc. Sự thật mới là màu tím dễ thương của Mùa Chay tâm hồn đang rục rịch kéo về màu đỏ Tình Yêu, màu xanh Hy Vọng, màu hồng Hạnh Phúc của mùa Tình Yêu Sống Lại.

Mùa Chay - Mùa Tình Yêu Thinh Lặng


Những ngày mới yêu, người ta thường tránh đám đông và không thích xuất hiện chốn đô hội, huyên náo, vì hai người yêu nhau cần một bầu khí riêng tư, yên tĩnh, thinh lặng. Tình yêu cần thinh lặng để hai trái tim nghe được nhau, hai hơi thở chung nhau thì thầm, to nhỏ. Tình yêu cần không gian yên tĩnh để lắng nghe tiếng lòng nhau đáp trả, nghe những xôn xao bồi hồi của tâm hồn nhau và chia nhau từng giọt hạnh phúc như sương sớm đong đưa cành hồng. Chưa kể ngôn ngữ chính của tình yêu là yên lặng, vì chỉ thinh lặng mới nói được hết tình cho nhau trước cao vời, sâu thẳm của tình yêu; chỉ yên lặng mới hiểu phần nào mầu nhiệm của tình cho nhau; chỉ lặng thinh mới cảm được ngọt ngào của mối tình bao la, thánh thiện. Vì thế, tình yêu cần yên lặng, người yêu cần không gian thanh vắng. Có cuộc tình nào đã không được nuôi lớn bằng những giây phút thinh lặng bên nhau, được thăng hoa bằng những âu yếm yên lặng và trưởng thành, lớn mạnh trong thinh lặng của chịu đựng, hy sinh? Có tình yêu nào đã không mang theo mình kinh nghiệm của thinh lặng, cũng như có thinh lặng nào của tâm hồn đã không mang dấu ấn của tình yêu cho nhau, bởi người ta có thể gặp nhau qua “tình yêu tiếng nói”, nhưng chỉ hiểu nhau bằng “tình yêu thinh lặng”.

     Đức Kitô đã sống tình yêu thinh lặng này với Chúa Cha và các môn đệ bằng thói quen lui về nơi thanh vắng, rút về chỗ vắng vẻ, tìm đến chốn không người mỗi khi cầu nguyện, tâm sự, chia sẻ, trao đổi ân tình: Ngài dắt các ông lên núi, xa khỏi đám đông (Mt 17,1); Ngài rút vào nơi vắng vẻ và cầu nguyện (Lc 5,16); Ngài cầu nguyện ở một nơi thanh vắng với các môn đệ (Lc 9,18). Một vài giờ trước khi vào vườn Cây Dầu cầu nguyện và bị bắt (Lc 22,39-53), Đức Kitô đã chọn một phòng nhỏ kín đáo, yên lặng để trăn trối, tâm sự với các môn đệ yêu dấu của Ngài (Lc 22,1-34).

    Quả thực, suốt cuộc đời trần gian, Đức Kitô đã sống tình yêu cứu độ bằng thinh lặng nhiều hơn lên tiếng: Đêm Noel, chúng ta đã nghe gì về Đức Kitô - Thiên Chúa nhập thể làm người? Ngoài tiếng hát thiên thần xa đưa nhẹ nhàng, chúng ta không nghe gì từ miệng Maria, mẹ Ngài hay từ Giuse, cha Ngài. Ta chỉ thấy một hài nhi bé nhỏ, quấn tã, nằm trên máng cỏ, mắt nhắm và không nói gì. Đó là một con trẻ có đôi môi khép kín, một Thiên Chúa không nói gì. Là Ngôi Lời, nhưng yên lặng, vì yên lặng là cách tuyệt vời nhất để tỏ lòng thương xót của Ngài trên con người tội lụy như sách Khôn Ngoan đã viết: “Thiên Chúa đã khép mắt, khép môi trên tội lỗi của con người để con người thống hối” (Kn 11,23). Hài nhi yên lặng đó là Đức Kitô, Thiên Chúa giàu lòng thương xót, yên lặng trước người đàn bà ngoại tình bị bắt quả tang đang sượng sùng, sợ hãi chết trân trước đám “đàn ông” hung dữ chờ được ném đá giết chị. Thiên Chúa ấy cũng như hài nhi ngày xưa trong máng cỏ đã yên lặng, chẳng nói lời nào, chỉ “cúi xuống, lấy ngón tay viết trên đất” (Ga 8,1-11). Thái độ yên lặng của Ngài đang diễn tả một tình yêu thinh lặng vô cùng bao la. Khi cúi xuống, không nhìn các ông Pharisiêu đang say sưa tố cáo người phụ nữ tội lỗi, Đức Kitô đã không thèm nghe họ nói, nhưng yên lặng để tỏ lòng kính trọng người phụ nữ đau khổ và biểu lộ lòng cảm thông của Ngài với chị; đồng thời nói lên sự bất đồng tình của Ngài với những lời tố cáo của đám đông. “Bởi họ cố riết hỏi Ngài và ép Ngài lên tiếng, thì Ngài ngẩng lên và bảo họ: “Trong các ông, ai vô tội thì hãy ném đá chị này trước đi” (Ga 8,7), Ngài lại cúi xuống, yên lặng lấy tay nguệch ngoạc trên đất. Sự yên lặng yêu thương của Ngài một lần nữa đã không làm người phụ nữ sợ, nhưng làm sợ những người đang gân cổ tố cáo, lên án chị. Ngài đang nhắm mắt, khép môi trước tội lỗi của chị và dùng thinh lặng để cứu chị khỏi bị đám đông ném đá cho đến chết theo luật Môsê. Trong hoàn cảnh này, thinh lặng là cách Ngài thương xót và giải thoát chị. Thinh lặng cũng là cách Ngài lên án những trái tim bằng đá, chai lì của các ông Biệt Phái thiếu từ tâm. Bằng tình yêu thinh lặng và trong cái nhìn đầy nhân hậu, Đức Kitô đã cứu sống đời sống một người phụ nữ yếu đuối, đau khổ, đáng thương; đồng thời đẩy đám đông tự mãn, giả hình về với sự thật của chính họ, một sự thật cũng yếu đuối, tội lỗi tầm thường như người phụ nữ đang bị họ tố cáo, giễu cợt. Chính tình yêu thinh lặng của Ngài đã thay đổi toàn bộ cục diện, xoay chuyển hẳn tình thế bằng thinh lặng bất chấp dư luận quần chúng, thinh lặng vượt khỏi mọi biên giới của lề luật, thinh lặng cảm thông, nhân hậu, tha thứ người đàn bà có tội.

Tình yêu thinh lặng của Đức Kitô còn thể hiện trên hành trình vác thánh giá và tử nạn trên núi Sọ. Suốt đoạn đường thánh giá, Đức Kitô đã không nói nhiều, chỉ thinh lặng hy sinh, yên lặng đau khổ. Trong thinh lặng thập giá, Ngài đang hiến hết tình yêu cho nhân loại và bằng yên lặng thập tự, Ngài đang yêu thương đến cùng. Bởi tình yêu sẽ không còn tiếng nói khi tình yêu đạt đến mức cao vời, tuyệt đối. Tình yêu sẽ không còn diễn tả được bằng lời, khi mầu nhiệm xâm chiếm hết tình yêu. Đức Kitô đã yêu con người bằng tình yêu cao vời, mầu nhiệm ấy, nên chỉ còn yên lặng may ra mới có thể nói lên phần nào độ sâu thẳm khôn cùng của tình Ngài điên cuồng say mê con người tội lỗi và đã vui lòng hiến thân cứu độ.

Tình yêu ấy còn thinh lặng đến độ “đáng sợ” khi Thiên Chúa chấp nhận trở thành “bánh, rượu” và tuyệt đối thinh lặng, “bất động” trong bí tích Thánh Thể. Từ Thiên Chúa thiêng liêng, vô hình xuống làm con người hữu hình, rồi xuống làm “đồ vật” tức bánh, rượu như dấu chỉ “Máu, Thịt”. Thánh Tôma Aquinô đã phải thốt lên khi suy nghĩ về mầu nhiệm Thánh Thể: “Trong Thánh Thể, ta không còn thấy thiên tính, nhân tính, nhưng duy nhất dấu chỉ bánh - rượu là những sự vật”. Ngài muốn nói lên sự khiêm hạ vô cùng thẳm sâu của Thiên Chúa vì yêu con người. Ở đây, lại một lần nữa, ta nhận ra tình yêu thinh lặng vô cùng của Thiên Chúa dưới hình bánh rượu trong bí tích tình yêu tuyệt đối.

     Như thế, Thiên Chúa đã chọn thinh lặng để nói với con người, chọn thinh lặng để xót thương con người, chọn thinh lặng để chạy chữa cho con người, chọn thinh lặng để ở lại với con người, chọn thinh lặng để yêu thương con người. Nhưng đã có nhiều lúc, thinh lặng của Thiên Chúa làm con người hốt hoảng, lo sợ, chao đảo, hoang mang.

Nhiều thánh vịnh đã nói lên sự yên lặng như lánh mặt của Thiên Chúa và lời khẩn khoản: “Lạy Chúa xin đừng lánh mặt con” thường xuyên được cất lên trong lời cầu nguyện của dân Chúa. Trong Tân Ước, câu chuyện các tông đồ hốt hoảng khi biển bỗng nổi gió bão làm thuyền bị ngập đầy nước, mà Đức Kitô “vẫn ngủ”. Tiến lại họ đánh thức Ngài: “Lạy Thầy, xin cứu chúng con, kẻo chúng con chết mất…”. Tường thuật khá chi tiết này đã cho thấy có những lúc Chúa lặng thinh ngủ say và xem như bỏ ta một mình chèo chống (Mt 8,23-24).

Thái độ yên lặng của Chúa đã không ít làm ta hoang mang, bối rối, có khi nản chí, muốn buông xuôi, bỏ cuộc. Không thiếu những ngõ cụt cuộc đời, ở đó ta có cảm tưởng Chúa bỏ ta một mình và không còn thương ta nữa. Có những khúc quanh ngặt nghèo, quẫn bách ở đó Chúa như làm ngơ, lánh mặt để ta một mình lầm lũi, đơn độc. Và cũng đã nhiều lần, Chúa như bỏ mặc ta sống chết, chẳng đoái hoài, che chở. Cũng thế, trước vô số đau khổ, bất công trong cuộc đời, Thiên Chúa như vắng mặt, vô cảm và sự thinh lặng của Ngài ít nhiều đã làm ta hoảng sợ, lo âu.

      Nhưng có thực Thiên Chúa lánh mặt, bỏ rơi ta, vô cảm trước đau khổ của con người hay chỉ là cảm tưởng ta có khi Ngài ở bên ta mà không nói gì, ẵm ta trên vai thay vì để ta đi trên cát nóng, âu yếm yên lặng nhìn từng bước ta đi chập chững trong đời? Tình yêu thinh lặng của Thiên Chúa phong phú, dồi dào và hữu hiệu hơn ta tưởng, như Ngài đã yêu thương, giải cứu người đàn bà ngoại tình bằng thinh lặng, không nói gì. Chỉ trong thinh lặng của tình yêu trao dâng về Ngài, ta mới hiểu được mầu nhiệm và giá trị của tình yêu thinh lặng Ngài dành cho ta, một tình yêu cao độ giữa hai người yêu nhau tha thiết mà giữa họ ngôn từ không còn khả năng diễn đạt. Chỉ còn lại thinh lặng như khả năng sau cùng của tình yêu mới nói được hết điều mà tình yêu muốn nói. Nếu Đức Kitô đã yên lặng trước những người đau khổ Ngài gặp trên đường, yên lặng trước đám tang con bà goá thành Naim, thinh lặng nghe chị em bà Maria khóc lóc, than thở vì em trai các bà là Lazarô mới chết, hay thái độ thinh lặng của Đức Maria dưới chân Thánh Giá là vì Đức Kitô cũng như Đức Mẹ đã hoàn toàn đứng về phía những người đau khổ để cảm thông, tôn trọng và chia sẻ niềm đau, nỗi khổ với họ, đồng thời lên án tác giả gây ra bất công, đau khổ bằng chính thái độ yên lặng phản kháng của mình. Trước dã man của những người đang hành hình con mình là Đức Kitô, Mẹ Maria đã không thể làm gì để ngăn cản những hành động tàn ác của họ, ngoài đứng lặng dưới chân Thánh Giá treo xác con như đồng công cứu chuộc với con và xác định thái độ cương quyết chống lại tội ác của con người gây ra cho con Mẹ. Chính thái độ yên lặng của Mẹ đã làm những người dính máu con mẹ phải hồi tâm, suy nghĩ. Đàng khác, vì đau khổ là hậu quả của tội lỗi, nên đau khổ không thể được nhận diện và cắt nghĩa hoàn toàn trên bình diện tự nhiên, nhưng nó mang dáng dấp siêu nhiên, mầu nhiệm mà chỉ Đức Tin mới là chỗ dựa cho những hiểu biết này.

Đau khổ đã vào thế gian theo tội lỗi, nên bao lâu tội lỗi còn, bấy lâu khổ đau còn hành hạ cuộc sống. Có những khổ đau do thiên nhiên bất toàn, có những khổ đau do chính mình, có nhiều khổ đau do người khác, có cả những đau khổ chẳng do ai, nhưng để vinh danh Thiên Chúa (Ga 11,4). Nhưng đã có khổ là có đau, có đau là có khổ… và không ai tránh được hết khổ đau, đau khổ trong đời. Vấn đề là cái nhìn và thái độ đón nhận đau khổ của mỗi người.

      Phần đông nhìn đau khổ như một tai hoạ và thái độ là bất mãn, nổi loạn trước Thiên Chúa, căm phẫn, thù hận người chung quanh và kiêu căng, mất an bình với chính mình. Một số khác nhìn đau khổ như một phần tất yếu thuộc định mệnh và thái độ là dửng dưng, phó mặc, tiêu cực. Số còn lại nhìn đau khổ như hậu quả của tội lỗi nhưng ở đó sẽ nảy sinh mầm hy vọng và đón nhận đau khổ với thái độ tích cực vì tin rằng đau khổ mang giá trị cứu rỗi. Sở dĩ những người này dám nhìn đau khổ dưới cặp kiếng hy vọng và đón nhận bằng đôi tay phó thác là vì họ chiêm ngắm Đức Kitô, Đấng thánh thiện, trong sạch vô cùng, không tì ố, không lỗi lầm, nhưng đã gánh chịu rất nhiều đau khổ con người dành cho và đã chết nhục nhã, thảm thương với bản án đóng đinh như bao nhiêu thân phận đau khổ, cùng khốn, thương tâm khác. Người có tội chịu đau khổ đã đành, vì tội là hậu quả của tội lỗi, nhưng cả người công chính, thánh thiện như Đức Kitô cũng phải chịu khổ đau thì nhất định đau khổ phải mang một ý nghĩa và có một giá trị. Đức Kitô - Con Thiên Chúa đã trả lời vấn nạn đó khi chọn đau khổ làm phương tiện để cứu độ con người. Vì thế, mầu nhiệm đau khổ của con người sẽ được cắt nghĩa và được hiểu trong mầu nhiệm Thánh Giá của Đức Kitô, Đấng đã tự nguyện chịu đau khổ vì yêu thương và để cứu độ nhân loại. Nói cách khác, trong đau khổ của Đức Kitô - Thiên Chúa, tất cả mọi niềm đau, nỗi khổ của con người được thánh hoá để trở nên giá trị cứu rỗi chính mình và cứu rỗi người khác. Đức Kitô đã biến đổi đau khổ, vốn là tai hoạ, sự dữ thành của lễ hy sinh đem lại ơn cứu độ. Từ nay đau khổ không “vô ích”, nhưng sinh hoa kết trái cho hạnh phúc đời đời của con người, nếu đau khổ ấy chấp nhận đi vào nhiệm cuộc cứu độ của Đức Kitô, Đấng đã đến để chia sẻ tận cùng thân phận người với mọi đau khổ, cơ cực, bẽ bàng của nó; Đấng đã chết đau, sống khổ như những người đau khổ để không một ai đau khổ mà không được Ngài cảm thông, chia sẻ, nâng đỡ (Dt 4,15), để không một ai cơ nhỡ, lỡ làng, yếu đuối mà Ngài không chạnh lòng thương (Dt 5,2); Đấng đã dùng thập giá là hình phạt nặng nề nhất của nhân loại làm phương án cứu độ; Đấng đã mời gọi những người đi theo Ngài “hãy bỏ mình, vác thập giá” (Mc 8,34). Đau khổ với Ngài, nhờ Ngài, trong Ngài bỗng trở thành giá trị siêu nhiên cần thiết cho ơn cứu độ. Thập tự vì Ngài đã vác và bị treo lên bỗng trở thành Thánh Giá, dấu hiệu của người đi theo Ngài.

Tóm lại, đau khổ tự bản chất là sự dữ và mãi mãi là sự dữ. Ta không được phép ao ước sự dữ cho mình cũng như cho bất cứ ai; trái lại, ta phải làm tất cả những gì có thể để xoa dịu, chữa lành, giảm đi đau khổ và làm mọi cách để sự dữ này biến đi. Là môn đệ của Thiên Chúa hạnh phúc, ta được kêu gọi: “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi tranh chấp, đem ánh sáng vào nơi tối tăm, đem niềm vui đến chốn u sầu, đem tin yêu vào nơi nghi nan, chiếu trông cậy vào nơi thất vọng”. Ta còn được xức dầu và sai đi: “loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó, ban bố ân xá cho người tù đầy, cho người đui mù được thấy, kẻ bị áp bức được giải oan và loan báo năm hồng ân của Thiên Chúa” (Lc 4,18), vì đau khổ của con người hoặc đến từ bệnh tật, thù oán, phỉ báng, khinh khi, chiến tranh, nghi ngờ, thất vọng, thiếu hiểu biết…; hoặc đến từ trái tim vắng bóng yêu thương, tâm hồn khai tử hình ảnh Thiên Chúa, xã hội loại trừ Đấng là Tình Yêu, an bình thật. Những người đi theo Đức Kitô không bỏ phiếu cho đau khổ, không tìm kiếm đau khổ, bằng cớ là chính Đức Kitô đã khóc khi thấy Mácta, Maria đau khổ trước cái chết của em trai, đã chạnh lòng trước đám đông đói khát, những người đau bệnh lê lết bên đường, đã cảm thương người đàn bà goá bụa mất con, đã thương xót những người đàn bà thành Giêrusalem gặp Ngài trên đường thánh giá. Theo gương Ngài, ta không bỏ phiếu ủng hộ đau khổ, không tìm kiếm đau khổ, nhưng làm tất cả để chia sẻ, chữa lành những vết thương đau khổ của mình và người khác, đồng thời biến đau khổ thành giá trị cứu rỗi bằng đặt vào đó tình yêu của ta dành cho chính Thiên Chúa. Đây là một mầu nhiệm, một bí mật của lễ hy sinh Thánh Giá nơi Thiên Chúa làm người, mà chỉ những người hiệp thông đau khổ của mình trong mầu nhiệm Thánh Giá của Ngài mới hiểu được giá trị cứu rỗi vô cùng quý giá của đau khổ cho hạnh phúc đời đời của mình và của nhiều người khác. Thánh hoá đau khổ của con người bằng hiến mình chịu đau khổ, ban cho đau khổ của con người giá trị ơn cứu rỗi, tình yêu thinh lặng của Thiên Chúa đau khổ chịu treo trên thập tự đã không dửng dưng, vô cảm hay bỏ rơi con người khổ đau, nhưng tình thinh lặng đó đã nói lên tất cả trái tim Thiên Chúa dành cho con người.

Thinh lặng trên Thánh Giá đã là tình yêu thinh lặng tuyệt vời nhất: tình yêu thấy hết, nghe hết, cảm hết, cho hết. Nhờ tình yêu thinh lặng này mà cả những người hành hạ, làm khổ Thiên Chúa chịu đóng đinh cũng sẽ được tha thứ, nếu trái tim họ biết thinh lặng lắng nghe tiếng Ngài nguyện cầu cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).

Mùa Chay, Mùa tình yêu thỏ thẻ trong thanh vắng, mùa Đức Kitô muốn tâm sự, to nhỏ với trái tim mỗi người, mùa của bình an trong thinh lặng yêu thương. Ước gì thinh lặng của Mùa Chay giúp đổi mới tình yêu trong trái tim và xây dựng tình liên đới với mọi người.

Mùa Chay - Mùa Tình Yêu Quan Tâm

https://www.youtube.com/watch?v=GedTs9l1i-Y
Người ta không thể nói yêu nhau mà không quan tâm đến nhau. Yêu mà không quan tâm là yêu qua đường, yêu qua đêm, yêu kiểu chụp giựt chợ trời; đúng hơn là không yêu ai hết, chỉ yêu riêng mình.

Quan tâm đến nhau là biểu hiệu của một tình yêu chân thực. Càng yêu, càng quan tâm. Quan tâm là để ý đến nhau, chú ý đến nhu cầu của nhau, chú tâm đến đời sống của nhau, để hồn trong hạnh phúc của nhau, đem trái tim vào cuộc sống của nhau. Quan tâm là dán mắt vào đời nhau, chăm chú lắng nghe nhau, thao thức đợi chờ nhau, băn khoăn trước những biến cố, sự kiện, công việc liên quan đến nhau và hăng say làm tất cả những gì có thể làm được vì hạnh phúc của nhau. Quan tâm chính là tình yêu quan phòng, tình yêu che chở, tình yêu chăm sóc, tình yêu dự liệu. Và Mùa Chay chính là mùa của tình yêu quan tâm này.

Đừng hiểu Mùa Chay là mùa thụ động, khép kín; nhưng chính là mùa hoạt động, mùa cởi mở cõi lòng, mùa đến với nhau, mùa lắng nghe, gặp gỡ, chăm sóc, quan


tâm. Trong mùa này, Thiên Chúa đi bước trước trên hành trình tình yêu khi âu yếm quan tâm đến con người.

Các thánh vịnh trong Mùa Chay đều nói lên tình yêu quan tâm của Thiên Chúa đối với con người: khi dân Do Thái bị đày đọa bên Ai Cập, Thiên Chúa Giavê đã quan tâm: “Ta thấy rõ nỗi khổ của dân Ta và tiếng khóc của dân ta đã thấu đến Ta. Ta biết chúng rất khổ đau” (Xh 3,7). Khi dân vất vả 40 năm trong sa mạc, Thiên Chúa đã quan tâm cho ăn uống, bênh đỡ, trợ phù (Xh 16; 17).

Trong Tân Ước, Đức Kitô mạc khải rõ hơn tình yêu quan tâm của Thiên Chúa đối với mỗi người: như người cha ngày đêm trông ngóng đứa con hoang đàng (Lc 15,11-24). Ông ra đầu ngõ mỗi buổi chiều đợi chờ con, dù bặt tin con từ ngày cậu đòi chia của rồi bỏ nhà đi hoang. Tình yêu quan tâm của cha dành cho con không bao giờ mỏi mệt, sút giảm, nhưng ngàn đời bất diệt. Người cha ngóng con, vì quan tâm đến đời con, lo lắng cho sự sống của con, bồn chồn, xao xuyến vì tương lai bấp bênh của con. Ông quan tâm vì ông yêu con tha thiết. Ông quan tâm vì con là tất cả, là hạnh phúc duy nhất của đời ông. Ông không thể làm gì khác hơn ngoài yêu con, vì tình cha của ông lớn hơn tất cả, lớn hơn tội bất hiếu, vô ơn, phản bội nặng nề của con. Tình yêu quan tâm của ông được nuôi trong hy vọng và niềm hy vọng ngày về của con đã thành sự thật chính vì tình yêu ông đã quan tâm.

Quả thực, trước khi lên đường trở về sau tháng năm dài bê tha, sa đọa, người con hoang đàng chắc chắn đã dò dẫm, nghe ngóng tình hình và biết rõ hằng ngày cha đều ra đầu ngõ ngóng trông cậu. Nếu biết ông cụ không còn quan tâm, trông ngóng, chắc cậu đã không dám lên đường trở về. Tình yêu quan tâm của cha đã nâng đỡ chọn lựa đứng dậy, trở về của cậu. Tình cha quan tâm đã cho cậu niềm tin để không sợ bị xua đuổi, từ chối. Tình yêu quan tâm của cha đã giúp cậu vượt qua rào cản của vô số mặc cảm, nhất là mặc cảm tội lỗi đang đè nặng, nghiền nát tâm hồn cậu. Thiếu bóng cha già hằng ngày ra đầu ngõ vì quan tâm đến con, chàng trai phung phá sẽ khó có thể khiêm tốn để chuẩn bị sẵn lời tạ tội khi trở về: “Thưa cha, con đã trót phạm tội với Trời và với cha...”. Tất cả tiến trình trở về của người thanh niên hoang đàng từ hồi tâm nhận ra tình trạng đói khổ, khốn nạn của mình, đến quyết tâm đứng dậy về với cha và những bước chân sau đó trên đường về đều được thai nghén, vun xới và nâng đỡ từ tình yêu quan tâm của cha cậu: vì biết tình cha bao la mà cậu dám trở về; vì biết tình cha bao dung mà cậu không sợ mất mặt; vì biết tình cha vững bền mà cậu can đảm tạ tội và xin cha cho ở lại trong nhà. Tình yêu đã cứu cậu khi cậu biết cha mình vẫn hằng quan tâm, dù cậu “không còn đáng được gọi là con của cha nữa” (Lc 15,19).



Như thế, tình yêu quan tâm không chỉ quan phòng, lo liệu, chăm nom, nhưng còn cứu thoát, chữa lành. Người cha đã quan tâm đến con, nên con của ông đã được cứu thoát khỏi cảnh đói khát “không có cám heo mà ăn”. Tình yêu quan tâm của ông đã cứu cậu khỏi cảnh ô nhục “vô gia cư, vô địa táng” và chữa lành cậu khỏi mọi thứ bệnh do nỗi bất hạnh của bất hiếu, hoang đàng, tan gia bại sản.

Thánh vịnh 139 đã khẳng định tình yêu quan tâm của Thiên Chúa với mỗi người. Thiên Chúa quan tâm từng chút một từ tinh thần đến thể xác con người, từ sinh hoạt bên ngoài đến sinh hoạt nội tâm:



“Thiên Chúa, Ngài quan tâm và Ngài biết lúc tôi ngồi, khi tôi đứng. Từ xa Ngài đã am tường ý nghĩ của tôi. Tôi đi đường, tôi nằm giường. Ngài thấu suốt cả. Ngài quen thuộc mọi lối ngõ tôi đi. Lời tôi chưa thập thò đầu lưỡi, Ngài đã biết. Ngài chặn cho tôi nguy hiểm phía trước, Ngài ngừa cho tôi phía sau và đặt tay Ngài trên vai tôi… Nào tôi có đi đâu xa được Thần Khí của Ngài… Tôi có lên trời thì ở đó đã có Ngài. Tôi có bay đi với đôi cánh rạng đông, tôi có ở biệt nơi chân trời góc biển, thì lại chính tay Ngài dẫn tôi đến…” (Tv 139,1-10).

Chăm nom, lo liệu, quan phòng cho con cái, Thiên Chúa như người chăn chiên âu yếm từng con chiên và hạnh phúc cho chiên nào có Chúa là mục tử: “Thiên Chúa chăn dắt tôi, tôi chẳng còn thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh, Ngài cho tôi nghỉ ngơi. Ngài dắt tôi trên đường nẻo ngay chính… Dẫu phải đi qua thung lũng tối tăm, hiểm nguy, tôi cũng chẳng lo sợ gì vì tôi có Chúa ở cùng” (Tv 23,1-4). Có Chúa ở cùng, ta có tình yêu Chúa quan tâm, có tình yêu Chúa chăm nom, săn sóc, có tình yêu Chúa giữ gìn, phù trợ để “đầu tôi Ngài xức dầu thơm, chén tôi Ngài rót đầy ắp rượu nồng. Và suốt đời tôi đều là hoan lạc, vì ơn phúc sẽ dõi theo tôi mỗi ngày...” (Tv 23,5-6). Và trong nhiều thánh vịnh khác như các Thánh vịnh 10, 32, 33, 36, 45, 77, 120, 144, 146 được hát lên trong Mùa Chay, hình ảnh Thiên Chúa quan tâm đến con người đã được đặc biệt tô đậm như muốn nhắc nhở: Mùa Chay chính là mùa của mầu nhiệm Tình yêu Thiên Chúa, đấng luôn quan tâm đến mọi người.



Tin Mừng Mátthêu cũng ghi lại giáo huấn của Đức Kitô về Thiên Chúa yêu thương quan phòng. Ngài quan tâm đến con người như người cha săn sóc con mình và trách ta đã không đặt trọn niềm tin vào tình thương quan phòng của Cha trên trời: “Chớ quá lo phải ăn gì, mặc gì… Hãy nhìn chim trời. Chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho lẫm, vậy mà Cha trên trời vẫn nuôi nấng chúng. Chúng con không quý hơn đám chim sẻ đó sao?... Hãy nhìn cánh huệ ngoài đồng. Chúng không nhọc nhằn canh cửi, vậy mà vua Salomon trong tất cả vinh hoa đời ông, chắc gì đã ăn vận đẹp bằng đóa huệ đó? Nếu cỏ đồng nội, nay còn mai mất, mà Thiên Chúa còn mặc cho như thế, huống chi chúng con, hỡi những người yếu lòng tin. Vậy chớ quá lo sẽ ăn gì, uống gì, mặc gì, vì Cha ở trên Trời biết rõ chúng còn cần các điều ấy...” (Mt 6,25-34).

Tình yêu quan tâm nơi Thiên Chúa cũng là tình yêu Thiên Chúa muốn chúng ta dành cho nhau. Quan tâm đến người thân yêu gần gũi, quan tâm đến người hàng xóm, đồng hương, quan tâm đến người đau khổ, bất hạnh, quan tâm đến người khách lạ, không quen ngoài ngõ. Quan tâm đến người khác là gửi trao một ánh mắt thông cảm, một nụ cười thân thiện, một lời chào bình an, một xiết tay nồng ấm. Quan tâm đến nhau là tìm dịp làm cho nhau vui như trao tặng một bất ngờ tình nghĩa, tránh cho nhau một nguy hiểm, tiên liệu và chuẩn bị cho nhau một giải pháp tốt đẹp.

Và sau cùng, quan tâm đến người khác là mời họ gặp gỡ một trái tim không biết hờn oán, hận thù, một tấm lòng bao dung, đại lượng, một tâm hồn quả cảm hy


sinh, một cuộc đời như bến đỗ của mọi mảnh đời đen bạc, lỡ làng, một bờ vai cho mọi người khổ đau nương tựa, một tình yêu nhân hậu cho tội nhân được trắng án, một “Thiên Chúa - làm người” vì quá quan tâm đến con người. Trái tim, cuộc đời, bờ vai, tình yêu đó chính là Đức Kitô, Đấng là Tình Yêu nhân hậu luôn quan tâm đến mọi người và từng người.

Ước gì Mùa Chay là mùa vui mừng, hạnh phúc với mỗi người, vì đây là mùa mọi người được Chúa quan tâm và mỗi người được học biết quan tâm đến mọi người.