Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2020

TÌNH ĐAM MÊ


Ngay từ bình minh của nhân loại, tổ tiên loài người đã nếm cái ngọt ngào, đắng đót của đam mê. Câu chuyện tình của Adam và Evà đã bắt đầu bằng đam mê cuồng nhiệt này.
Hai ông bà yêu nhau, yêu bằng tình đam mê, nồng cháy nhất vì quả thực quanh ông bà tất cả đều vun xới, tô điểm cho đam mê này. Cây cỏ, chim trời, cá biển, thú rừng, cả đến bầu khí trong sạch chưa hề bị ô nhiễm, tất cả đều rộn ràng một khúc đam mê. Trong đam mê này, Thiên Chúa đã chúc phúc cho tình của ông bà, và tình ấy đã là tình đẹp nhất trên thế gian khi Adam âu yếm ôm ghì lấy Evà mà nói: "Đây chính là thân thể, máu xương anh". Chắc hẳn Evà cũng sung sướng khôn tả và thỏ thẻ với Adam: "và em gọi anh là Mình ơi".
Đam mê đã hướng dẩn nhân tình vào đường tình, đã thúc đẩy nhân tình đi xa hơn, nhanh hơn, bạo dạn, liều lĩnh hơn trong chuyến phiêu lưu tình ái. Nó cần cho men tình dậy, nó có mặt cho hương tình tỏa bay, nó đóng góp những sáng kiến kỳ diệu, bất hủ cho thế giới tình. Sự có mặt và hoạt động của nó trở thành quan trọng, tưởng như không thể thiếu trong mọi cuộc tình.
Thử tưởng tượng một tình yêu thiếu đam mê, thử nghĩ về một chuyện tình không bị đam mê chi phối. Hiển nhiên ta sẽ có một tình yêu lạnh như băng, nghiêm nghị như quan tòa, cứng cỏi như định luật và ta có những tình nhân ngờ ngệch, dửng dưng, bệnh hoạn.
Trở lại cuộc tình đam mê của tổ tiên, ta thấy các ngài đã sống hết cỡ đam mê này khi "si mê, đắm đuối, quấn quít" lấy nhau từng giây phút. Hạnh phúc của các ngài là có nhau, làm vừa lòng nhau. Sức mạnh nào đã cho phép có nhau hoài, có nhau mãi mà không chán? Động cơ nào thúc đẩy không ngừng làm vui lòng nhau mà không mỏi mệt? Động cơ, sức mạnh đó chính là đam mê. Cả hai si mê nhau, chỉ thấy đối tượng của mình hấp dẫn, thu hút; chỉ gặp nơi đối tượng điều mình mong đợi... và họ đi với nhau không do dự về một chân trời mới.
Biến cố "bất tuân phục" Thiên Chúa của Adam và Evà, dưới cái nhìn tâm lý chỉ là kết quả tất yếu của đam mê. Adam mê Evà, ông khó có thể từ chối lời yêu cầu của Evà khi nàng rủ ông đi hái trái cấm. Adam si Evà nên khó có thể trả lời không khi bà mời ông dùng trái cấm. Trái cấm của cây cấm ấy dù ông đã biết, đã được Thiên Chúa dặn dò nhưng tình yêu của ông dành cho Evà trong lúc đam mê, trong buổi cuồng si này quá lớn, lớn hơn tình ông dành cho Thiên Chúa nên cuối cùng ông đã đi đến cùng cái thuận lý đam mê của mình. Không bàn đến vấn đề thần học qua biến cố này, ta chỉ ghi nhận một điều là tổ tiên đã yêu nhau rất nhiều và sự yếu đuối khi bất tuân điều Thiên Chúa căn dặn đã xẩy ra trong bầu khí đam mê cao độ.
Câu chuyện của tổ tiên cũng là câu chuyện hằng ngày của chúng ta. Không ai trong chúng ta thiếu kinh nghiệm đam mê trong tình yêu, bất cứ là tình yêu dành cho ai. Khi yêu ai, ta mê họ, ta khám phá cái yếu đuối của ta trước họ. Đã có biết bao cảm tử quân, dũng cảm kiên cường trước hàng hàng lớp lớp quân thù nhưng lại "mềm nhũn, ngoan ngùy " trước trái tim bé nhỏ của một thiếu nữ yếu đuối? Đã có bao tướng quân oai hùng, khí phách lại trở nên ngây ngô khờ dại dưới mắt nhìn ngấn lệ của người tình nho nhỏ? Cũng đã nhiều tướng cướp có hạng, khét tiếng nhưng lại sụp quỳ, rưng rưng khóc bên gối người tình. Và nhiều người như ta, đã bỏ quên tất cả, coi thường tất cả, buông xuôi tất cả chỉ vì trót say mê một đối tượng. Trong trường hợp này, tất cả mọi giá trị đều xuống cấp cho vinh quang duy nhất của đối tượng đam mê. Vì thế, đam mê giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt tình yêu. Chối từ chỗ đứng của nó, e rằng ta đã làm một việc nguy hiểm. Nhận rõ diện mạo và vị trí của nó, thiết tưởng là một việc cần thiết phải làm.
Đam mê là một tình cảm mạnh, rất mạnh. Nó như cơn sóng bạc đầu phủ lấp, trấn áp các con sóng lăn tăn, nhỏ bé khác. Nó tạo nên nhiều rung động, nhiều tiếng động, nhiều hoạt động. Nó tạo thành sóng lớn trên mặt đại dương, trong lòng đại dương, tận đáy đại dương. Đại dương cần sóng nhưng nếu đại dương chỉ là sóng, chỉ có sóng thì đại dương sẽ không đón mời ai, dung dưỡng ai vì đại dương quá dữ dội, khủng khiếp. Đại dương cần sóng nhưng cũng cần êm ả, dịu dàng. Sóng lớn cần cho thuyền ra khơi, gió lớn cần cho buồm tung cánh; nhưng thuyền cũng cần đại dương hiền hòa, an bình để được nhẹ trôi và cập bến.
Đam mê như sóng lớn cần cho tình lên ngôi, cần cho tình tung cánh, cần cho tình lên đường; nhưng đam mê không thể trấn giữ mãi cuộc tình, e sẽ đẩy tình đến một ốc đảo cô đơn, cuốn hút tình vào một ngõ bí tuyệt vọng vì đam mê sẽ như sóng dữ không nghe ai, không biết ai, không cần ai, không hợp tác với ai, trong khi cuộc tình là sự sống chỉ sống được trong cuộc sống, chỉ lớn được với đời sống; mà cuộc sống, đời sống luôn có những người sống, những đời sống khác.
Trong đam mê, tổ tiên không chỉ bất tuân lệnh Thiên Chúa mà còn độc tôn nhau, tôn sùng nhau, "thiên chúa hóa" nhau. Vì đam mê, Adam đã thay Evà vào chỗ của Thiên Chúa và Evà đã muốn chiếm chỗ của Thiên Chúa cho Adam. Lôi kéo ông ăn trái "biết lành, biết dữ"; nghe lời bà ăn trái "khôn ngoan", tổ tiên chúng ta đã rơi vào cạm bẫy của đam mê là độc tôn, xông hương, thờ Lạy nhau và tiến cử nhau lên những ngôi bậc không xứng hợp, không thể có và phủ nhận tất cả những gì, những ai không dính líu, liên hệ đến đối tượng đam mê.
Nói chuyện đến tổ tiên cũng là nói đến chuyện mình vì "cha nào, con nấy". Có mấy ai trong chúng ta dám tự hào đã đủ khôn khi si mê, đủ khéo khi cây si đã trồng? Khôn dại là chuyện con người; đam mê rồi mê muội cũng là chuyện con người. Nhưng trong các chuyện con người đó cũng có chuyện "phải biết dừng". Biết dừng đúng lúc, dừng đúng nơi như người tài xế giỏi: lái xe rất nhanh nhưng cũng biết thắng đúng lúc, đúng chỗ để không bao giờ xảy ra tai nạn. Chiếc xe cuộc đời hay chiếc xe cuộc tình cũng nằm trong tay ta như người tài xế giỏi biết làm chủ chiếc xe. Tất nhiên xe có thể trục trặc ngoài dự tính nhưng dù sao biết dừng và can đảm "dừng" cũng ít nguy hiểm hơn.
Viết về đam mê mà tôi thấy hổ thẹn. Hổ thẹn vì đời tôi đã vấp ngã không ít vì đam mê. Từ thửơ mới lớn, mới yêu tôi đã đam mê hơn người. Lớn lên tưởng sẽ khôn hơn, biết dừng hơn ai ngờ cũng vẫn nghiêng ngả, chao đảo vì đam mê. Tuy thế tôi vẫn thấy vui khi viết, viết để chia sẻ cái yếu đuối của mình, viết để cảm thông cho nhau, viết để nhắn gửi ai đó đang đọc những dòng này nên khoan dung hơn khi phê phán, nhân hậu hơn khi xét xử; vì con người giống như những cánh thuyền trên biển, tất cả đều có thể bị cuốn trôi, vùi dập bởi những cơn sóng dữ dội, khủng khiếp, không thể tiên liệu của cuộc tình.

TÌNH TỰ DO


Trước khi tuyên bố hôn nhân thành sự, Giáo hội cũng như xã hội đều yêu cầu cô dâu, chú rể công khai xác quyết sự tự do hoàn toàn của mình trong lựa chọn đời sống chung. Bất cứ một áp lực nào, dù xa hay gần, trực tiếp hay gián tiếp đều cho phép hủy bỏ hôn nhân và đương nhiên hôn phối không thành sự.
Tự do là điều kiện căn bản và tiên quyết trong tình yêu. Không ai ép ta yêu người ta không yêu. Không ai ép ta ăn ở với người ta không thích, không hợp. Nên nếu có phải sống chung vì áp lực gia đình, vì sợ sệt, vì bị đe dọa, ta cũng chỉ sống chung chứ không phải chung sống, chung tình.
Tuy thế, ta vẫn có cảm tưởng khi lấy nhau là mất hết tự do, khi trao nhẫn cưới cho nhau trước bàn thờ hay trước ông thị trưởng, ta đã bỏ lại tất cả sự tự do của ta cho quá khứ để từ nay khép mình, nép bóng. Thế ra tự do mà linh mục hay ông thị trưởng yêu cầu ta minh định lúc kết hôn chỉ còn là một thứ tự do giả hiệu, mang "marque" nhân quyền, chứ thực ra đã biết trước mình mất tự do nhưng dằn lòng tuyên bố có tự do để sau đó ôm một đời nô lệ. Không ít thì nhiều, ta thường nghĩ như thế. Thực sự nghĩ như thế không hẳn đã sai vì trong thực tế, không mấy ai khi lấy vợ lấy chồng rồi còn được tự do như xưa; có khi còn khổ sở, bị đầy đọa thời làm dâu ở rể.
Xã hội đã cho ta quan niệm hôn nhân không giống như căn tính của hôn nhân. Xã hội đã vẽ ra những mô hình gia đình không giống như bản chất của gia đình. Nhiều người nhận ra những sai lầm trong quan niệm và mô hình này, nhưng bánh xe xã hội to lớn và vô hình luôn sẵn sàng đè bẹp những ai muốn ngăn cản nhịp quay của nó. Và thân phận của những nhà "cách mạng" này thường thê thảm như trường hợp của Loan trong tác phẩm "Đọan tuyệt" của Nhất Linh.
Đã đến lúc ta phải đặt lại vấn đề một cách nghiêm chỉnh, không chỉ là vấn đề cho ta nhưng còn là vấn đề cho người ta yêu. Quả thực khi yêu ai, ta luôn có khuynh hướng thống trị và sở hữu hóa họ. Ta không muốn họ thuộc về ai; ta khó tha thứ khi họ chia sẻ với người khác cho dù người khác ấy là ai. Khuynh hướng độc tôn, độc quyền bấy lâu nằm yên trong ta nay trỗi dậy khuynh đảo toàn bộ sinh hoạt. Ta như điên cuồng khi biết mình không là đối tượng duy nhất. Ta lên cơn sốt mê man khi khám phá người ta yêu còn bận bịu với nhiều đối tượng khác. Ta mất hết tinh thần khi nhận ra người tình còn dư khả năng sinh hoạt ngoài vòng ta phủ sóng. Và biện pháp được triệt để áp dụng là thu hồi tất cả phương tiện, cơ hội cho phép tự do của người ta yêu cựa mình. Từ yêu họ vì họ tự do yêu ta, ta chuyển sang tước đoạt hết tự do của người ta yêu để họ chỉ có thể yêu một mình ta. Ta đi từ tình trạng văn minh có nhân quyền sang tình trạng man rợ, độc tài tiêu diệt tự do của người mình yêu, đẩy họ xuống cấp nô lệ của tình yêu. Truy diệt, hạn chế tự do của họ, ta cho mình cảm tưởng chiến thắng trong tình yêu và cứ theo đà đó, ta biến người ta yêu thành một tên nô lệ. Tình yêu đến lúc này không còn tương quan bình đẳng và sự thật sẽ âm thầm rời khỏi tổ ấm yêu thương của ta.
Như ta biết, tình yêu phải được đặt trên tương quan con người với con người và nhân vị là nền tảng cho yêu thương đứng vững. Khi khấu triệt tự do nơi một người, ta mặc nhiên lấy đi nhân vị nơi họ. Họ không còn là người đúng như con người trước mắt ta. Ta không còn yêu họ như họ là, nhưng yêu một sinh vật chỉ vì sinh vật này đáp ứng nhu cầu thống trị, sở hữu của ta để người ta yêu nay hết là người yêu nhưng là vật yêu; bởi thiếu tự do con người không còn là con người nữa. Tương quan giữa ta và họ bị xuống cấp trầm trọng và tình yêu cũng theo đó bay xa.
Bên cạnh nguy cơ xuống cấp tương quan, còn một nguy cơ lớn khác nữa, đó là sự thật không hiện diện. Sự thật là một cây đà rất quan trọng cho ngôi nhà tình yêu. Người ta yêu nhau phần nhiều thường do "thật với nhau", không dấu diếm nhau. Biết bao cuộc tình đã được khai sinh từ sự thật và sống nhờ sự thật. Kinh nghiệm cho thấy, ta không thể yêu mãi một người nếu họ chỉ nói dối, qua mặt, lừa gạt ta. Ta càng không thể chấp nhận một mối tình gian dối, lừa phỉnh. Chính vì thế, tình yêu luôn cần sự thật để sống và tăng trưởng. Nhưng sự thật lại chỉ chịu mọc trên miền đất tự do. Thiếu tự do, sự thật không xuất hiện vì trên bất cứ miền đất nào khác không phải tự do, sự thật đều bị áp bức, chà đạp.
Khi lấy đi tự do nơi người mình yêu, ta lấy đi nhân vị của họ và đồng thời sự thật nơi họ. Không bình đẳng với ta, là nô lệ trong tình yêu, người ta yêu sẽ dần khám phá chỗ đứng thống trị nơi ta. Ta không thể dấu mãi được mưu đồ này vì tự do là phần thiêng liêng, cao quý nhất cho phép con người là con người. Tự do là điểm mạnh duy nhất khác biệt giữa con người với con vật. Tự do chằng chịt như máu, bén nhạy và bao kín con người nên con người cảm nhận được ngay khi bị mất tự do. Và cũng vì có tự do mà con người giống Thượng đế và mang lấy chính hình ảnh Ngài.
Nhưng tự do phải được hiểu như thế nào vì nội dung, ý nghĩa của tự do quá phong phú, trải ra qúa rộng: phong phú hầu như vô cùng và trải rộng đến vô biên. Ta thường cho tự do là một khả năng làm tất cả hay bất cứ điều gì mình muốn. Trong trường hợp này, tự do là "do tự mình". Tự mình đặt cho mình một nguyên tắc, rồi cũng chính tự mình phá bỏ nguyên tắc; tự mình cho là tốt rồi cũng chính mình bảo là xấu; tự mình bắt đầu rồi cũng tự mình bỏ dở. Tự do lúc này quả thực là tự do nhưng là tự do viết trên giấy, không phải là tự do trên da thịt, trong tim óc, nơi nhân vị con người.
Tự do cũng có thể được hiểu là một tình trạng bỏ ngõ, không bị chiếm cứ hay chiếm cứ bất cứ đối tượng nào. Tự do trong trường hợp này là một tự do trống rỗng, tự do không tự do vì tự do không để làm gì, không cho ai, không đi về đâu.
Tự do thực và chính đáng thuộc về con người đúng nghĩa trước hết phải là một tự do có ý thức, thứ tự do có hiểu biết. Tự do có hiểu biết là biết mình có tự do và hiểu giá trị của tự do ấy. Biết mình có tự do là định vị chỗ đứng làm người không thể thay thế của cá nhân mình. Hiểu tự do ấy là thẩm định giá trị vô cùng cao quý và bất khả nhượng của riêng mình. Khi đã định vị và khẳng định nhân vị, ta mới cho tự do cái giá trị phải có của nó. Nói cách khác, tự do không lơ lửng, chung chung cho mọi người, nhưng tự do phải được mỗi người nhận ra và đem vào cho mình, lấy làm yếu tính của đời mình. Vì chỉ khi vào được trong con người, định cư được trong mỗi người, tự do mới thực sự là tự do của con người.
Tự do thực, từ ý thức làm nền, sẽ hướng đến một vùng trời dành riêng cho nó và chỉ trong vùng trời này, tự do mới sung mãn phát triển; vùng trời đó chính là vùng trời trách nhiệm. Quả thực không có trách nhiệm, nếu không có tự do; cũng như sẽ không có tự do nếu thiếu vùng trời trách nhiệm cho tự do sống. Trách nhiệm cho tự do một hướng đi, một đích tới. Tự do khai sinh trách nhiệm nhưng đồng thời cũng nhờ trách nhiệm mà hiện hữu. Cả hai ôm chặt lấy nhau nên thiếu một là cả hai không còn giá trị.
Ta không thể quan niệm tự do không trách nhiệm vì tự do ấy chỉ là một lớp phấn mờ nguyệch ngoạc hai chữ tự do; khi mưa xuống hay gió thổi mạnh, hai chữ tự do sẽ biến đi trong khi trách nhiệm mới là chất sống, chất nhựa thực bền vững cho tự do.
Người có tự do là người biết trách nhiệm trên tự do, dám chịu trách nhiệm trên tất cả hành động tự do của mình. Cùng một lúc trách nhiệm tự do, con người tự do nhờ trách nhiệm.
Trong tình yêu, tự do cũng kêu gọi trách nhiệm để tự do được đứng vững. Ta chỉ có thể tự do yêu một người khi tự do ấy dắt ta đến một vùng trời trách nhiệm. Người mẹ yêu con bằng tình yêu thực vì bà tự mình yêu con không bị bắt buộc, áp bức phải yêu. Và sở dĩ tình yêu của bà đẹp, tự do của bà tràn đầy trong tình mẹ vì bà ý thức trách nhiệm của bà trên đứa con. Tình của bà sẽ hết là tình mẹ khi bà bỏ quên khung trời trách nhiệm này và tình của bà sẽ hết bao la khi trách nhiệm bị đào thải; bởi một tình yêu không trách nhiệm sẽ không thể cưu mang một cuộc tình tự do.
Khi tự do yêu ai, ta mới thấy người đó đáng yêu. Họ đáng yêu vì ta đã chọn lựa họ trong nhiều đối tượng khác. Đáng yêu vì được yêu trong tự do, yêu có chọn lựa. Chính ta, chủ thể yêu, cũng trở nên đáng yêu vì giá trị của trách nhiệm trong tình ta yêu.
Yêu nhau là muốn trách nhiệm trên nhau, trách nhiệm vì nhau, trách nhiệm nhờ có nhau. "Muốn" là tác động của tự do; hạnh phúc là kết quả của ý thức trách nhiệm. Định luật căn bản hay đúng hơn bản chất thật của tình yêu là "ước muốn hạnh phúc cho người mình yêu". Khi ước muốn cho nhau, ta không chỉ muốn mông lung, muốn mơ hồ, muốn có cũng được không có cũng chẳng sao nhưng là muốn với một ý chí mãnh liệt, cho một mục đích rõ rệt được xác định: hạnh phúc cho người mình yêu. Ở trong tình yêu này, tự do cần để "muốn" và trách nhiệm cần để mục đích hạnh phúc được thực hiện. Tự do trong tình yêu hay tình yêu tự do lúc này không rời xa "nhu cầu hạnh phúc của đối tượng yêu". Chúng cần nhau, giữ nhau cho một thế quân bình cần thiết. Thiếu thế quân bình này, tự do sẽ bị thoái hóa thành phóng túng vì trách nhiệm không có mặt khi hạnh phúc của đối tượng yêu không còn được quan tâm.
Tắt một lời, tình yêu đòi tự do. Không có quan tòa cũng như nhà tù cho một tình yêu thực. Khi yêu nhau, ta không trở thành tù nhân của nhau, cũng không nhốt kín đời nhau nhưng thăng tiến tự do và hạnh phúc cho nhau.
Ta có thể sợ tự do vì tự do có thể mang lại những rủi ro trong chọn lựa; nhưng thiếu tự do, ta sẽ mất hết mọi khả thể hứa hẹn, ngay cả một hứa hẹn rủi ro, một khả thể sai lầm. Và đó chính là nét đẹp của tình người tự do; bởi tình đã cho trong tự do và tình đón nhận cũng nhận bởi tự do. Ngay cả Thượng đế cũng không mơ mối tình nào khác có thể đẹp hơn.

TÌNH HY VỌNG

Không thể có tình yêu nếu thiếu hy vọng. Người yêu là người hy vọng. Người có hy vọng, nuôi hy vọng, dám hy vọng là người biết yêu.
Ta không thể yêu một người nếu ta không có những trông chờ: ta trông chờ người ấy yêu ta hơn, yêu ta thật nhiều; trông chờ người ấy thành công, trông chờ một tuơng lai tốt đẹp của cuộc tình.
Trông chờ là điều kiện bắt buộc của kiếp người. Sở dĩ phải trông chờ vì nơi ta nhiều bất toàn, nhiều thiếu sót; những bất toàn đợi chờ hoàn thiện, những thiếu sót trông đợi tròn đầy. Sống từ nay là hướng về phía trước vì thời gian trôi đi trước mặt, vì bánh xe cuộc đời quay theo hướng tương lai, vì cuộc đời dù muốn dù không cũng đã là một hành trình phải đi, phải bước tới. Bước tới gợi một trông chờ, lên đường nhắc một ngày mai. Trông chờ những gì sẽ đến, có thể đến và ngày mai không là hôm nay với những gì đang có. Không ai trông chờ cái đã có, không ai ngóng đợi người đang có mặt mà chỉ trông người chưa đến và đợi điều sắp xảy ra.
Tình yêu cũng là một hành trình, hành trình về một chân trời xa, một miền đất lạ, một tương lai sẽ đến.
Nếu hiểu tình yêu là một tặng phẩm chỉ việc mở ra thưởng lãm rồi giữ mãi nguyên hình, nguyên dạng thì quả thực thứ tình này phải được gọi bằng một danh xưng khác, hoặc là "tình yểu" hoặc là "tình tang". Giữ nguyên si tình yêu là để tang tình yêu. Gói chặt tình yêu trong bao nhựa là cúp hết dưỡng khí nuôi tình yêu. Đóng kín tình yêu trong hộp là bỏ tù tình yêu. Đón nhận tình yêu như món quà bất di bất biến là đày đọa tình yêu. Bởi tình yêu là một sức sống mà sống thì phải động. Không có sự sống bất động, không có người sống im lìm. Tình yêu lại gắn liền với con người sống nên nó động liên tục, động mạnh mẽ, động không mỏi mệt. Và bao lâu con người còn sống thì tình yêu còn động. Nó động với cuộc sống, động trong người sống, động như người sống và động để được sống.
Tình yêu đi vào đời sống, tình yêu làm nên cuộc sống, tình yêu cùng chung sự sống để tình yêu luôn sống động và để sự sống được tác động bởi tình yêu. Như thế "tình" với "sống" là một, nên có sống tình thì tình mới sống.
Sự chết thường lấm lét sợ sệt tình vì tình thường mạnh hơn sự chết. Sự chết còn là kẻ thù của tình vì tình ham sống và luôn muốn có mặt trong cuộc sống, ăn nằm với người sống, chung chạ với đời sống.
Chấp nhận sống, tình phải chấp nhận quy luật của sự sống. Mà quy luật căn bản của sự sống là biến chuyển, đổi dời. Nói đến biến chuyển tất phải nghĩ đến hai chiều của biến, hai đường của chuyển: biến đẹp hơn hoặc xấu hơn; chuyển lên hoặc chuyển xuống. Tình yêu cũng không thể đi ngoài định luật này. Nó sống động nên cũng có thể lớn lên hoặc nhỏ lại; có thể khỏe mạnh, tươi tốt hơn mà cũng có thể gầy gò, héo úa dần. Như nuôi một em bé; nếu khéo nuôi em sẽ chóng lớn khỏe mạnh; nếu bỏ đói em nhiều ngày em sẽ yếu nhược, còm cõi.
Khi đón nhận tình yêu, tình yêu cũng như em bé được ký thác. Ta không thể chỉ nhìn ngắm, trầm trồ khen em bé đẹp, em bé xinh mà không cho em uống sữa, quên thay tã cho em. Ta cũng không thể để em bé tự lớn, tự pha sữa, tự đi lại; nhưng em trông cậy tất cả vào ta; trông cậy vào khả năng nuôi nấng, tình thương, lòng hy sinh tận tụy của ta. Thiếu cố gắng và việc làm của ta, em bé không thể sống và tự lớn được.
Khi mới yêu nhau, ta thường có cảm tưởng tình yêu ta đang có lớn lao vĩ đại lắm, tuyệt vời lắm. Lớn đến mức không cần phải nuôi nữa; vĩ đại đến mức vô cùng và tuyệt vời như chuyện tình của thần thánh nên có làm gì thêm nữa, tình yêu của ta cũng chỉ đến đó là cùng. Nghĩ như vậy ta đã quá ảo tưởng tình yêu, quá đánh bóng mối tình mà không biết rằng ta đã bắt đầu "khai tử" cuộc tình ngay ngày sinh của nó.
Để tang sớm một cuộc tình là rút nó ra khỏi thế giới sống, là cho nó vào viện "bảo tàng những cuộc tình". Mà trong viện bảo tàng người ta chỉ thấy những pho tượng cổ, những bức tranh cũ, những đồ cổ từ hàng ngàn năm... chưa nói đến tình trạng "sứt xát, rạn nứt, cũ kỷ, hết thời" của những món đồ cổ trên.
Không ai trong chúng ta muốn mình trở thành đồ cổ trong bảo tàng này, càng không muốn cuộc tình của mình trở nên vỡ vụn, sứt xát, cụt đầu, thiếu tay. Cuộc tình được trông chờ ở mỗi người là cuộc tình có tiếng cười, có tâm sự, có nồng nàn môi hôn, có nước mắt dỗi hờn, có tháng ngày dệt mộng, có những đêm dài ái ân. Nhưng tình ấy chỉ có thể thực hiện được khi được nuôi sống bằng hy vọng. Hy vọng là dấu chỉ của một người đang sống. Hy vọng là bảo đảm tương lai của tình yêu. Cuộc sống không hy vọng không còn là cuộc sống nhưng là đám tang. Cuộc tình không hy vọng không là cuộc tình mà là đám táng. Thiếu hy vọng, tình yêu không có hướng tới, không có đà để lớn, thiếu hẳn dưỡng chất để tăng trưởng.
Hy vọng trong tình yêu trước hết là hy vọng yêu và được yêu mãi. Từ niềm hy vọng này, tình yêu trổ sinh nhiều hy vọng khác: hy vọng đổi mới người mình yêu bằng yêu họ; hy vọng thăng tiến chính mình vì mình được yêu; hy vọng thực hiện nhiều hoài bão nhờ yêu nhau, có nhau. Tất cả được thai nghén trên hy vọng và tất cả sẽ đơm hoa kết trái nhờ hy vọng.
Nhiều mối tình đầu đẹp như mơ nhưng thành tình mờ sau đó. Nhiều tình hồng thánh thiện như kinh đêm đã thành tình hỏng về sau. Nhiều tình tuyệt vời như trăng sao đã thành tuyệt tình không lâu sau. Ai đã làm hỏng những cuộc tình hồng, tình mơ, tình tuyệt vời này? Thường thì ông Trời phải gánh lấy trách nhiệm và anh chị sẽ buồn tình cất tiếng hát: "Tại Trời sui khiến nên chúng mình xa nhau..." Tội nghiệp cho ông Trời nhưng cũng may cho con người vì ông Trời không nói, thích im lặng để thiên hạ thất tình, bạc tình có chỗ mà đổ tội, có nơi mà trút giận, có người mà xả stress. Nhưng nguyên nhân chính của những đổ vỡ này là do ảo tưởng về tình yêu, xem tình yêu như búp bê không cần phải nuôi dưỡng chăm lo gì trong khi thực chất tình yêu như một cây non rất mong manh, dòn mỏng. Nó cần những tia nắng ấm, những làn gió nhẹ, những hạt mưa lất phất của hy vọng. Nó khao khát được rung rinh, nhún nhảy, nghiêng mình đon đả trước gió xuân hy vọng. Không hy vọng, cây non tình yêu chết rũ, lá xanh tình yêu héo úa, nhựa nồng tình yêu khô cạn.
Tóm lại, ta không thể yêu nếu không nuôi hy vọng. Đường dài không hy vọng sẽ làm ta tuyệt vọng. Chỉ có hy vọng mới cho ta sức mạnh để bước đi, nghị lực để vươn tới, can đảm để đương đầu. Như sự sống, tình yêu là một sinh hoạt; như cuộc đời, tình yêu là một cuộc đấu tranh trường kỳ. Không hy vọng, lữ khách sẽ mệt nhoài, bỏ cuộc.

KINH NGUYỆN CỦA NGƯỜI ĐANG YÊU

Lạy Chúa, con đang yêu và tình con vương đầy yếu đuối, tội lụy như chính con. Con biết mình tội lỗi: lỗi nào cũng lớn, tội nào cũng trọng. Nhưng trong chính những bất toàn, khiếm khuyết đó, con nhận ra tình trọn hảo, bao la của Chúa.
Chúa yêu con, yêu cả đời con bất xứng; nên thay vì xét đoán, luận phạt, Chúa đã nhân từ, tha thứ. Xin cho mầu nhiệm của Tình Chúa giúp con bao dung, quảng đại hơn trước lỗi lầm của người khác và biết chấp nhận họ, yêu họ như họ là.
Có những lúc mải mê vui chơi, con đã quên sự hiện diện của Chúa trong đời con và tưởng lầm hiện tại là vĩnh cửu, để đến khi tình phôi phai, niềm vui chợt tắt, chạm mặt khổ đau, con mới đôn đả van nài Tình Chúa. Xin tha cho những lần con quên Chúa và cho mọi giây phút buồn vui trong cuộc sống, con đều nhớ mời Chúa tham dự. Xin dạy con biết đặt trọn niềm tin nơi Chúa, là chốn tựa nương vững vàng và duy nhất của đời con.
Con dâng Chúa những khúc quanh nguy hiểm, những đường hầm tăm tối, những dốc đá cheo leo, những thung lũng mù sương, những tai nạn khó tránh trên đường tình con đi. Xin Chúa đồng hành và nâng đỡ trái tim con hay yếu đuối, hoảng sợ.
Xin cho tim con giòng máu hy vọng để chỉ biết hy vọng trong tình yêu, dù tình người có đổi thay và tình đời có bạc bẽo đến đâu. Xin dậy con đừng tuyệt vọng khi tình yêu đổ vỡ, đừng nóng giận khi người tình phản bội, đừng oán thù khi tình địch khiêu khích; bởi ở đâu có oán thù, giận dữ, tuyệt vọng, ở đó không có Chúa.
Lạy Chúa, Đấng đã đến, đã sống và chết cho tình yêu; không phải một lần cho một người, nhưng nhiều lần cho nhiều người, ngàn vạn tỷ lần cho cả nhân loại. Xin dậy con nhẫn nại, hy sinh trong yêu thương và quên mình vì hạnh phúc của người khác. Xin cho trái tim con an bình, quả cảm để không hốt hoảng khi bị hiểu lầm, không bỏ cuộc khi bị vô ơn, không buông xuôi khi bị chôn vùi, nghiền nát.
Và sau hết, xin cho con tin Chúa, Đấng là Tình Yêu, có sức phục sinh, Đấng sẽ cho tình con sống mãi.

TÌNH MẸ

Tôi biết chắc một điều là không người mẹ nào quên được ngày sinh của con mình. Mẹ tôi sinh 13 đứa con và mẹ nhớ ngày sinh của từng đứa, nhớ từng chi tiết ngày chào đời của tất cả các con. Càng già càng lẫn lộn, quên nhiều chuyện, nhiều người, nhiều việc, nhưng ngày sinh của các con mẹ vẫn nhớ mồn một.
Mẹ nhớ từng đứa vì mẹ thương. Mẹ không quên đứa nào vì mỗi đứa đều kín ắp hồn mẹ. Tôi tưởng đông con mẹ sẽ không thương chúng tôi nhiều vì tình mẹ phải sẻ chia. Tôi nghĩ vì sinh đẻ nhiều mẹ sẽ ngao ngán, chán chường các con. Nhưng không như tôi nghĩ, mẹ luôn là đại dương của tình yêu mà chúng tôi là đàn cá tha hồ bơi lội.
Đại dương tình mẹ là một đại dương không biên giới; không đón những sóng bạc đầu vùi dập, cũng không nuôi sóng ngầm nguy hiểm. Không sóng ngầm vì tình mẹ luôn trong sáng; "sáng" từ thửơ đầu mang thai con cho đến hơi thở sau cùng; "trong" từ cung lòng cưu mang cho đến khi con bạc đầu già yếu. Không sóng bạc đầu vì tình mẹ là đại dương của ngọt ngào âu yếm. Nước của đại dương tình mẹ không mặn chát làm cay mắt con, nhưng dịu mát cho con đã khát dưới nắng hạ, no thỏa trên đường xa. Trong đại dương ấy, đàn con được yêu thương, bao bọc, vỗ về, ủi an, nâng đỡ. Không có luận phạt, lên án, khai trừ trong đại dương tình mẹ bao la này; cũng không thể thù hận trong nước xanh tình mẹ. Càng không cạm bẫy, vũ khí, hơi ngạt trong tình mẹ tuyệt hảo, trọn vẹn. Mẹ không là tuổi tác cho con, không là khoảng của con. Không gian, thời gian không còn ý niệm trong đại dương vô cùng của tình mẹ này.
Đã có bao nhiêu cuộc đời được có mặt nhờ tình mẹ; bao nhiêu cuộc đời được tái sinh, trỗi dậy nhờ mẹ. Thế giới loài người dù hận thù hung hãn, dù chiến tranh bạo tàn đến đâu và bao nhiêu đi nữa cũng không thể xóa lấp được đại dương tình mẹ, không thể làm mờ phai hình ảnh mẹ trong tâm khảm mỗi người con. Là ai đi nữa, hình ảnh mẹ vẫn luôn là hình ảnh đẹp, thân thương và nhung nhớ sâu xa, lâu dài nhất.
Nhưng tại sao tình mẹ lại bao la tuyệt vời như vậy?
Đi tìm câu trả lời không gì hay hơn, không cách nào chính xác hơn là nhìn vào chính mẹ.
Nhìn mẹ, ta thấy mẹ không mơ ước gì xa xôi, không toan tính lâu dài, không tham vọng cao xa. Nhìn vào đời mẹ, ta cũng không gặp những công trình vĩ đại, những kế hoạch, dự án khổng lồ... Nhưng nơi mẹ, ta chỉ thấy tình mẹ gắn chặt vào con và đời mẹ chỉ muốn được hòa nhập, hiệp nhất trong đời con. Mẹ tìm kết hợp mật thiết với con, mẹ xem đời con là đời mẹ và chỉ thế thôi, không gì khác hơn nữa.
Thế ra cái bao la của tình mẹ lại là cái bé nhỏ của đời con; cái vô cùng của tình mẹ lại là cái hữu hạn của thân xác con trong không gian và thời gian. Càng gắn chặt vào đời con bao nhiêu; càng thu sát đời mình vào đời con bao nhiêu, tình mẹ càng bao la diệu vợi bấy nhiêu. Cái bao la không còn là đơn vị đo lường không thể đếm, mơ hồ, huyền hoặc nhưng là cái bao la thấy được trong ánh mắt mẹ âu yếm nhìn con ngủ; đọc được trong quầng mắt thâm sâu vì tần tảo ngày đêm; cảm nhận được qua đôi vai gầy, tấm lưng còng, bàn chân chai nứt, vất vả vì con. Cái bao la ấy không viển vông, không tưởng nhưng có mặt từng giây phút, trên từng thớ thịt, trong từng tia máu của đời mẹ, những tia máu, thớ thịt từng giây rung nhịp cung lòng yêu con.
Tình ấy diệu vợi và rất đỗi chân thành. Chân thành nên con thấy ngay, thấy rõ không cần bảng chỉ dẩn, người thuyết minh; chân thành vì quá gần, quá sát. Gần sát nên con ôm được, náu ẩn được, gặp gỡ được, yêu thương được.
Tình yêu ngàn đời bất diệt ấy còn là tình tuyệt vời cao cả. Nét cao cả trong tình mẹ là cho đi không tính toán. Mẹ yêu con không vì mẹ nhưng vì hạnh phúc của con. Mẹ lo cho con không phải vì mẹ nhưng vì tương lai của con. Không gì sót lại trong mẹ mà mẹ có thể từ chối con. Không gì có thể trao ban mà mẹ đã giữ lại cho riêng mình. Mẹ cao cả trong tình yêu vì mẹ nhận đời con làm đời mẹ, khổ đau của con là khổ đau của mẹ, thất bại của con là thập giá của mẹ. Có những nét thần thánh, nhiệm mầu trong tình mẹ tuyệt vời, những nét đẹp của một thứ tình tuyệt đối.
Người ta khó có thể lấy những tình khác để tham chiếu với tình tuyệt đối của Thiên Chúa nhưng người ta không ngần ngại nhắc đến tình mẹ vì chỉ tình mẹ mới hội đủ yếu tố bền vững, trọn vẹn, cao cả, bao la, vô điều kiện.
Và mối tình bao la cao cả ấy đã âm thầm, khiêm tốn, tận tụy khai sinh và nuôi lớn không biết bao nhiêu mối tình khác. Tình mẹ đã âm thầm cưu mang tình con. Tình mẹ đã khiêm tốn đỡ dậy tình con. Tình mẹ đã tận tụy xây dựng tình con. Bao nhiêu tình con đã chịu ơn tình mẹ; bao nhiêu tình con đã rút tỉa máu xương, cào cấu da thịt tình mẹ; bao nhiêu thiên đường tình con đã quên khổ đau nơi mái tranh tình mẹ. Kể ra thì ân sâu nghĩa nặng lắm nhưng tình mẹ lại mù lòa, dốt nát, rộng lượng, nên chẳng tính sổ, đòi nợ bao giờ. Cái bao la rất gần, cái tuyệt vời sát đất cộng thêm với những mù lòa, dốt nát, bao dung trong tình yêu ấy đã biến tình mẹ thành biển tình không sóng to, không bến bờ, không biên giới, một thứ tình tuyệt đối mà chỉ có mẹ và thượng đế mới có thể kham nổi.
Khi được đài truyền hình TF1 phỏng vấn ngày 25/5/1996, Pratrick Kennedy, một người tù chung thân đã nói: "Mối hận thiên thu của tôi là quan tòa đã tàn nhẫn không cho phép tôi đến bệnh viện gặp mẹ tôi lần cuối trước khi mẹ tôi qua đời. Vì chỉ duy nhất một mình mẹ đã cho tôi can đảm sống..."
Và tôi tin một điều là bao lâu thế giới còn những người mẹ, nhân loại sẽ còn biết yêu thương và cuộc đời sẽ còn đáng sống.

Thứ Ba, 4 tháng 2, 2020

TÔN VINH MẸ LA VANG - NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM


Suy Niệm 10 : ĐỨC MARIA, MẸ CÁC GIA ĐÌNH
Đời Đức Maria luôn ở trong gia đình và gắn chặt với gia đình:  thời thơ ấu làm con ngoan trong gia đình cha mẹ Gioakim và Anna, lớn lên lấy chồng, làm vợ thánh Giuse dưới mắt người đời, và Mẹ Đức Giêsu trong gia đình thánh ở Nadarét, nên Mẹ yêu mến gia đình, hiểu rõ sứ mệnh và hạnh phúc của từng thành viên trong gia đình, đồng thời nắm vững những thách đố, khó khăn, phức tạp và đau khổ của một gia đình, để chia sẻ, cảm thông những giọt nước mắt vui mừng, hạnh phúc hay  dòng lệ sầu buồn, bất hạnh của  mọi hoàn cảnh, tình huống hạnh thông, hay bế tắc, may mắn hay xui xẻo, huy hoàng hay éo le, rạng ngời hay tăm tối của gia đình.
Thực vậy, thời nào có vấn đề của thời đó, và gia đình ở đâu cũng không tránh được những thử thách cam go, những cây số dốc đá chênh vệnh, nguy hiểm, những giai đọan đầy thách đố căng thẳng, bởi một lý do rất dễ hiểu : gia đình là một đơn vị được hình thành bởi những con người khác nhau ở giới tính, tính tình, tư duy, trình độ, và mỗi người đều có quyền và bổn phận, cũng như có tự do để chọn lựa và thực hiện bổn phận và quyền lợi ấy. Những người này khởi đầu bằng tự nguyện chọn nhau, yêu nhau, sống với nhau và cùng nhau hình thành một gia đình với cha mẹ, con cái …
Do đó, gia đình hạnh phúc, ấm êm hay không phần lớn tùy thuộc tình yêu và thiện chí của tất cả thành viên gia đình, tuy không loại trừ một sự thật, đó là ngay cả khi mọi người đồng tâm nhất trí, thử thách, khổ đau cũng không buông tha gia đình, vì tiên thiên : đời là bể khổ, đời là thung lũng nước mắt, mà đời là nơi gia đình được xây dựng và lớn lên.
Nhiều người lầm tưởng : vì là gia đình thánh, nên thánh gia không có vấn đề như các gia đình khác ; vì là thánh gia, nên gia đình thánh lúc nào cũng may mắn, không như nhiều gia đình lâm cảnh khó khăn, bĩ cực.
Sự thực thì thánh gia có Thánh Giá của thánh gia, có giông bão của Thánh Giá. Thánh Giá ấy có khi còn nặng nề hơn cả Thánh Giá của gia đình chúng ta, và giông bão có thể kinh hoàng hơn gấp bội.  
Cơn giông bão đầu tiên ngay buổi khai trương gia đình mới của thánh Giuse và Đức Maria, chính là biến cố vợ có thai mà chồng chưa hề ăn ở, gần gũi, lại không được vợ chia sẻ, giải thích (x. Mt 1,18).
Đây thực là bom tấn, nếu xẩy ra cho gia đình chúng ta, và chắc chắn ít người có thể giữ bình tĩnh, để rồi sẽ phản ứng bất lợi cho cả hai người, cho gia đình hai bên, khi không  đủ điềm tĩnh và khôn ngoan, đạo đức để chọn phương án giải quyết tốt nhất, như thánh Giuse vì thương và tôn trọng Đức Maria đã định tâm kín đáo ra đi (x. Mt 1,19).
Tiếp đến là những sóng gió vượt biên tỵ nạn qua Ai Cập (x. Mt 2,13-18), biến cố lạc mất con (x. Lc 2, 41-50), rồi chuỗi dài sóng gió cùng con từng bước trên đường Thánh Giá lên đồi Canvê, nơi hành hình đóng đinh (x. Lc 23,26-49).
Một gia đình thánh, gồm ba con người thánh, nhưng không thiếu nước mắt khổ đau, khi cả ba đều chung vai vác cây Thánh Giá trĩu nặng, tuy mỗi người một cách khác nhau tùy theo vai trò, sứ mệnh, bổn phận của mình.
Riêng Đức Maria, là vợ và là Mẹ, ngài đã chu toàn sứ mệnh và bổn phận xây dựng tổ ấm của Tình Yêu, chiếc nôi an toàn của Sự Sống, ngôi trường giáo dục nhân bản và đức tin :
1.   Đức Maria xây dựng thánh gia thành tổ ấm tình yêu :
Bí quyết xây dựng thành công gia đình thành một tổ ấm tình yêu, như Đức Maria đã thực hiện, ở đó, cho dù trăm ngàn thách đố, cho dù thử thách đủ loại nối đuôi nhau hoành hành, mọi nguời vẫn bình an, hạnh phúc trong tình yêu, đó là đời sống nội tâm kết hiệp với Thiên Chúa được củng cố vững chắc bằng liên lỷ cầu nguyện.
Cầu nguyện là sức sống của gia đình thánh, là nguồn tình yêu của thánh gia. Bằng chứng là trong mọi biến cố, thành viên của gia đình thánh đều quy hướng về Thiên Chúa và cầu nguyện để tìm thánh ý Chúa, như thánh Giuse đã nhận ra ý Thiên Chúa trong giấc mộng (x. Mt 1,20-21).
Bên cạnh là bí quyết ít nói, ít lời, nhưng đằm thắm, thâm trầm, kín đáo, tế nhị vì thương yêu, tôn trọng nhau, như Đức Maria luôn giữ trong lòng nhiều điều, nhiều sự (x. Lc 2,51), bởi khi ba hoa, lắm lời, người ta sẽ dễ lột trần, bôi bác, trách móc nhau, vì không còn nội lực để quan tâm đến nhau, hy sinh cho nhau, vì tình yêu cho nhau, tình yêu giữa những người yêu nhau luôn cần bầu khí tĩnh lặng lãng mạn, không gian thinh lặng trìu mến, và thời gian yên lặng cảm thông. 
Thực tế cho chúng ta thấy : nhiều gia đình tan nát, nhiều hôn nhân đổ vỡ chỉ vì vợ hoặc chồng nói nhiều qúa : nói nhiều quá với nhau sẽ dễ sinh sự, lên án nhau về nhiều thiếu sót, lỗi lầm ; nói qúa nhiều với người khác về những chuyện của nhau sẽ nhanh chóng làm rạn nứt hạnh phúc hôn nhân, gia đình, bởi nói qúa nhiều sẽ  dẫn đến nói qúa sự thật, nói qua khỏi giới hạn, lằn ranh sự thật cho phép, và đó chính là nguyên nhân của bất hạnh trong nhiều gia đình.
Đức Maria đã dạy chúng ta bí quyết để ngọn lửa ấm áp của tình yêu không bao giờ lịm tắt giữa tổ ấm gia đình, đó là cầu nguyện và đằm thắm, tế nhị trong ngôn từ. Và nhờ thế, mọi thành viên của gia đình mới có thể quan tâm và hy sinh cho nhau, nhờ không cho những tiêu cực nẩy lầm, và lớn lên như những hạt cỏ lùng gai góc mà ma qủy luôn tìm cách gieo rắc giữa gia đình, do ai nấy đều  biết giữ miệng giữ lời để tránh làm mất lòng nhau do lời ăn tiếng nói ích kỷ, hồ đồ, vô trách nhiệm. Đồng thời, đời sống nội tâm, cầu nguyện được đâm rễ sâu và lớn lên trong nguồn Tình Yêu là chính Thiên Chúa, nhờ bầu khí nhẹ nhàng chia sẻ, đằm thắm quan tâm, và kín đáo, tế nhị hy sinh cho nhau của mọi người trong gia đình. 
2.   Đức Maria xây dựng thánh gia thành chiếc nôi an toàn của sự sống :
Là Evà mới, tức Mẹ của sự sống mới, Đức Maria trân qúy, gìn giữ bằng mọi giá sự sống con người. Là mẹ của Thiên Chúa làm người, Đức Maria cùng với Thiên Chúa gìn giữ kỹ lưỡng, và bảo vệ chắc chắn hơn sự sống vốn tuyệt vời, và là quà tặng vô giá Thiên Chúa ban tặng cho con người.
Sinh Đức Giêsu với chăm chút, ân cần, lo liệu của tình mẹ vô cùng tuyệt vời, Đức Maria đã bằng mọi giá bảo vệ sự sống qúy giá ấy, khi vội vã lên đường đem con trốn sang Ai Cập để con không bị giết chết bởi sự hung ác, tàn bạo của Hêrôđê (x. Mt 2,13-18).
Thực vậy, gia đình thánh là chiếc nôi an toàn của sự sống, ở đó, sự sống con người được tuyệt đối trân qúy và bảo vệ. Vì thế, hơn ai hết, Đức Maria đau lòng trước cảnh gia đình của thời đại duy vật, duy thực dụng hôm nay không còn là thành trì bảo vệ sự sống, khi nhiều gia đình không thực hiện ơn gọi và sứ mệnh trao ban sự sống, chăm sóc và gìn giữ sự sống. Nhiều cha mẹ trẻ không nhận ra giá trị của sự sống và coi sự sống như một phiền phức, nên không ngại từ chối, bỏ đi sự sống, mầm sống ; nhiều gia đình không còn đủ tình yêu để yêu thương những thành viên kém may mắn, đau bệnh, tật nguyền, bằng sẵn sàng chọn giải pháp thực dụng,  và phi nhân.
Là Mẹ của sự sống, Đức Maria chính là mẹ của các bà mẹ gia đình, để cùng với các bà, Mẹ đồng hành nâng đỡ, ủi an khi sự sống trở nên gánh nặng cho bụng dạ cưu mang nó ; chăm sóc, vỗ về khi sự sống khó nuôi, khó giữ  vì hoàn cảnh éo le, ngang trái của người tạo nên nó; chở che, bảo vệ khi sự sống bị thần dữ và ác nhân truy lùng, tiêu diệt, và làm sinh sôi nẩy nở để thế giới  đích thực là vinh quang của Thiên Chúa khi con người đang sống được no thoả hạnh phúc làm người.       
3.   Đức Maria xây dựng gia đình thánh thành nhà trường giáo dục con người, con Chúa :
Tin Mừng khẳng định : Suốt ba mươi năm trong gia đình ở Nadarét Đức Giêsu luôn vâng phục cha mẹ Ngài, và theo thời gian, Đức Giêsu ngày càng thêm khôn ngoan, thêm cao lớn và thêm ân nghĩa đối với Thiên Chúa và người ta (Lc 2,52).
Là con của thánh Giuse và Đức Maria, Đức Giêsu vâng phục những điều cha mẹ dậy bảo, khuyên răn. Ngài đúng là một người con ngoan, người con hiếu thảo, người con trưởng thành. Ngài được đào tạo trong gia đình thánh để trở nên một con người có lòng nhân ái, tốt lành và tử tế với mọi người, đồng thời được đào tạo thành người tín hữu có niềm tin sắt son, có đời sống nội tâm, cầu nguyện, có lòng bác ái và niềm hy vọng, phó thác tuyệt đối ở Thiên Chúa. Nói cách khác, Đức Giêsu được cha mẹ đào tạo toàn diện, cả nhân bản và siêu nhiên: nhân bản để thành người tốt, hữu ích cho xã hội, đất nước ; siêu nhiên để xứng đáng là con Chúa, người tín hữu trung tín, nhiệt thành, hăng say việc nhà Chúa.
Tin Mừng Luca thật sâu sắc khi ghi lại tuy vắn tắt, nhưng rất chi tiết : Đức Giêsu đã được đào tạo thành một con người hoàn hảo : vừa khôn ngoan, khoẻ mạnh, có tình có nghĩa với mọi người, vừa đạo đức, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa.
Gia đình ngày nay đang đứng trước nhiều thử thách cam go trong việc giáo dục con cái sống đức tin, đức ái, đức trông cậy, khi nhiều chủ thuyết vô thần, vật chất, hưởng thụ, tương đối đang quyết tâm hợp đồng tác chiến đánh gục Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài, mà đối tượng thứ nhất và quan trọng nhất là gia đình, bởi đánh gục được gia đình, thì xã hội sẽ tự tan vỡ, hủy diệt, vì gia đình là nền tảng vững chắc của xã hội.
Rất nhiều cha mẹ lo lắng trước hiện tượng con cái bỏ Chúa, xa Giáo Hội, tránh các sinh hoạt giáo xứ, khi đức tin không còn được coi là ưu tiên, vì Thiên Chúa mất chỗ đứng trong cuộc sống ngày càng xô bồ, vội vã do sức hút, lực đẩy đến chóng mặt của vật chất. Không ít gia đình không còn quan tâm đến việc đi lễ Chúa Nhật, con cái không còn học giáo lý, và những sinh hoạt tông đồ của cộng đoàn Kitô hữu mau chóng trở nên lạt lẽo, chán ngán, nặng nề, phiền phức đối với gia đình, để kết thúc bằng các thành viên gia đình quên mình là người có đạo, và không ngượng ngùng đọan tuyệt với đời Kitô hữu.
Nhiều bậc phụ huynh ý thức bổn phận đào tạo đức tin của con cái, nhưng lại đau đớn thấy mình hoàn toàn bất lực, khi con cái không vâng lời, vì không còn tôn trọng quyền giáo dục đức tin của cha mẹ khi cho rằng : tín ngưỡng, tôn giáo là chuyện cá nhân, thuộc quyền riêng của mỗi người, mà ngay cả cha mẹ cũng không có quyền can thiệp, ảnh hưởng.
Vì thế, rất nhiều cha mẹ công giáo mang chung mặc cảm có tội với Thiên Chúa, có lỗi với Giáo Hội, và tổ tiên, ông bà, cha mẹ, bởi đã không thể chu toàn bổn phận đào tạo con cái nên những tín hữu đạo đức, những giáo dân đạo hạnh, những công dân của Nước Trời.      
Tôn vinh Mẹ La Vang, Mẹ của các gia đình Việt Nam, chúng ta nài xin Mẹ ban cho mọi người thân yêu của chúng ta tình yêu gia đình, để quyến luyến tổ ấm gia đình khi phải đi xa, và trân qúy mái ấm gia đình khi có mặt, hầu noi gương bắt chước Mẹ xây dựng gia đình thành tổ ấm tình yêu, nôi an toàn của sự sống, và nhà trường đào tạo những con người trưởng thành nhân bản, và trưởng thành trong đời sống siêu nhiên, xứng danh người tử tế, và người Kitô hữu được Thiên Chúa yêu thương, chúc phúc.     
Jorathe Năng Tím

TÔN VINH MẸ LA VANG - NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM


Suy Niệm 9 : TỪNG BƯỚC CHÂN MẸ ĐI
Đức Tin là lên đường, bởi không có đức tin bất động, nằm lì, ngồi yên, đứng bất động tại chỗ. Kinh Thánh làm chứng : bất kỳ ai được Thiên Chúa kêu gọi đều phải đứng dậy, lên đường, bước đi, như Thiên Chúa phán với Ápraham, tổ phụ của dân được chọn để tin vào Thiên Chúa duy nhất và nhân hậu : Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi (St 12,1) ; hoặc như  Môsê, lãnh tụ của Israel, người  đưa dân ra khỏi đất nô lệ Ai Cập đã  được Thiên Chúa sai đến gặp Pharaô (Xh 3,10) ; và các tông đồ trong Tân Ước đã được Đức Giêsu kêu gọi Hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức các ông bỏ chài lưới mà đi theo Người (Mc 1, 17-18).
Đức Maria là người tín hữu đầu tiên và lý tưởng. Nói cách khác, Mẹ là người thứ nhất tin Đức Giêsu là Thiên Chúa và là người có Đức Giêsu từng giây phút trong suốt cuộc đời. Là gương mẫu của người tin theo Đức Giêsu, là tín hữu lý tưởng mà người Kitô hữu mong đạt tới, Đức Maria đã dạy chúng ta từng bước trên hành trình đức tin, như Mẹ hiền dậy con thơ  từng bước đi chập chững.
1.   Đức Maria dậy chúng ta  đi những bước chân vui khi thành công, thịnh đạt, may mắn :
Trong cuộc sống, chúng ta không thiếu những giây phút vui tươi với thành qủa, những khoảnh khắc ấm áp tình phu thê, gia đình, những lúc hân hoan sau kết qủa thi cử, những ngày hoan lạc khi kế hoạch thành công tốt đẹp, những cây số thành công như diều gặp gió, những giờ phút bên người tình yêu thương, những năm tháng nhẹ trôi an bình, hạnh phúc.
Trên những bước chân khấp khởi vui mừng ấy, chúng ta thường nhớ rất nhiều và cũng quên rất nhiều :
Chúng ta vui nên nhớ đến công lao, công sức của mình, và tự hào vì công trạng, công nghiệp của bản thân, mà dễ quên đi công lao, công sức, công trạng, công nghiệp của những người đã góp công làm nên niềm vui ấy cho ta. Cái tôi trở thành đề tài nổi bật khi ta vui, cái mình trở thành trung tâm, khi ta toại nguyện, và đây là lúc rất nhiều người đã hết tình, hết mình vì ta bị quên lãng.
Qủa thực, khi thành công, ta chỉ nhớ đến ta, nhớ những gì thuộc về ta, và nhớ những người ta còn cần đến, còn nhờ cậy được, hoặc còn phải lệ thuộc, dưới trướng. Họ là những người có thể không hề giúp ta những năm tháng ta còn cơ hàn, túng bấn, nhưng tháng  ngày trước mặt, ta biết : không bám lấy họ, nấc thang danh vọng, sự nghiệp ta mơ sẽ khó đạt được, nếu không o bế, cung phụng, luồn cúi những người đương quyền, đương nhiệm, đương chức này.
Bên cạnh những người phải nhớ, cần nhớ là những người ta bỏ quên. Ta hay quên những người đã hết thời dù đã một thời sống chết vì ta ; ta thanh thản quên những người đã tận tụy lo cho ta, nhưng nay không còn khả năng ; và đặc biệt ta dễ dàng quên những người bé nhỏ, nghèo hèn, đau ốm, không của cải, vật chất, mà chỉ còn lại duy nhất trái tim thương ta, và tình yêu của họ lúc nào cũng muốn bao bọc, nâng đỡ ta. Ta quên nhanh những người ấy, vì bên ngoài xem ra họ không còn  có thể giúp ta trèo cao đến tột đỉnh thành công, danh vọng.
Chính vì thế, thái độ thường gặp khi ta thành công, khi đời ta trúng mùa phấn khởi, nhảy chân sáo chính là kiêu căng, tự mãn, tự phụ, hống hách, trịch thượng, coi Trời, coi người  bằng vung, vì nghĩ mình tài giỏi, toàn năng, một mình ta làm nên tất cả, vì ảo tưởng siêu nhân, siêu sao, siêu đẳng cấp.
Đức Maria thì khác. Mẹ đã chọn hai tâm tình khi đời vui với hai thái độ tuyệt vời của người tín hữu tin vào Thiên Chúa:
Tin Mừng Luca thuật lại chi tiết buổi gặp gỡ giữa hai chị em Êlisabét và Maria : “Bà Êlisabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng : Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ?” (Lc 1, 40-43).
Vừa gặp bà chị họ Êlisabét, Đức Maria đã được khen ngợi hết lời, bởi không lời ngợi khen, chúc tụng nào vinh quang và thánh thiện đối với ngưới tín hữu hơn : “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu của Chúa tôi đến với tôi thế này ?” (Lc 1,43).
Thực vậy, lúc này Đức Maria ở trong trạng thái rất vui mừng vì  “được Thiên Chúa phúc phúc”. Và trong giây phút hạnh phúc ấy, Đức Maria đã phản ứng khác với nhiều người:
Trước hết, Mẹ nhận ra ngay thân phận mọn hèn của mình và tất cả những gì Mẹ nhận được đều là Hồng Ân của Thiên Chúa toàn năng, mà không “giả hình, điệu bộ” từ chối niềm vui của nữ tỳ luôn biết vâng phục và sẵn sàng thực hiện thánh ý của Thiên Chúa, như chính Mẹ đã thốt lên trong kinh Tạ Ơn:  
    “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng, vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới.” (Lc 1,46-48).
Khiêm tốn nhìn nhận thân phận nữ tỳ hèn mọn và chân nhận:  sở dĩ được “diễm phúc” là do “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1,49), Đức Maria còn tỏ lòng kính sợ Thiên Chúa, vì tâm tình kính sợ là tâm tình chính đáng mà bất cứ thụ tạo nào cũng  phải có đối với Đấng Chủ Tạo của mình. Đó cũng là thái độ hợp tình, hợp lý của tôi tớ đối với ông chủ, bởi thụ tạo cũng như tôi tớ luôn cần đến lòng thương xót của Đấng Chủ Tạo, và Ông Chủ để được tồn tại, yêu thương. (x. Lc 1,50).
Bên cạnh tâm tình khiêm tốn biết mình nhỏ bé, mọn hèn, và tâm tình cảm tạ, tri ân Thiên Chúa Toàn Năng giầu lòng thương xót, là tâm tình hướng đến những người bé nhỏ, hèn mọn khác chung quanh mình, vì người tín hữu đích thực, chính danh là người biết cảm thương và chia sẻ với mọi người, nhất là những người đói nghèo, kém cỏi, yếu đuối hơn mình (x. Lc 1,51-53).
Tóm lại, trên những cây số đường đời ngập tràn niềm vui, Đức Maria đã đi những bước Khiêm Tốn, Cảm Tạ, Yêu Thương : khiêm tốn biết mình là nữ tỳ hèn mọn, cảm ta hồng ân cao vời của Thiên Chúa, và hướng trái tim yêu thương đến anh chị em thiếu thốn, nghèo hèn. Nhờ những bước chân Khiêm Tốn, Cảm Tạ và Yêu Thương khi thành công, may mắn ấy, mà Mẹ luôn ở trong Thiên Chúa và đồng hành với mọi người như đòi hỏi của người Kitô hữu.
2.    Đức Maria dậy chúng ta đi những “bước chân buồn”, khi đời không đẹp như mơ:
Nếu đường đời có lúc hạnh thông, thì cũng có những khúc khó khăn, gian truân, hiểm trở, ở đó niềm vui bị thay thế bằng buồn phiền, sầu khổ, lo âu.
Như người mẹ hiền dậy con bước đi, tập cho con bước, Đức Maria cũng dậy chúng ta những bước chân trong hoàn cảnh ngặt nghèo, nguy hiểm, sầu buồn, như đã dậy chúng ta những bước chân vui” trên những con đường tươi đẹp “may mắn”, những con đường rực rỡ hoa lá “thành công”, những con đường thênh thang ngợp nắng gió “thịnh đạt”.
Ta hãy cùng chiêm ngắm Mẹ giây phút phân vân, bối rối khi sứ thần Gabrien truyền tin thụ thai Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa bởi quyền năng Chúa Thánh Thần (x. Lc 1,29) ; chiêm ngưỡng Mẹ đi trong đường hầm đức tin, khi “không hiểu gì đường lối của Thiên Chúa” trên đường từ Nadarét về Bêlem theo lệnh hoàng đế Augúttô truyền kiểm tra dân số, và sinh con đặt “nằm trong máng cỏ” (x. Lc 2,1-14); ngước nhìn Mẹ lo lắng vội vã đem con trốn sang Ai Cập để tránh lệnh truy lùng Hài Nhi Giêsu của vua Hêrôđê (x. Mt 2,13-14), và cùng Mẹ nghe lời tiên tri rất khủng khiếp đe dọa của cụ già ngôn sứ Simêôn : “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Ta cũng dõi theo bóng Mẹ tháng ngày cùng con chia sẻ những thị phi, chống đối, rình rập, truy lùng, rồi bắt bớ, đòn vọt, đóng đinh, tử hình do các thượng tế, luật sĩ bầy mưu, tính kế, sắp xếp, thực hiện, vì ganh ghét và cứng lòng không tin. Và chúng ta nhận ra : Đức Maria luôn giữ hai thái độ : vâng phục thánh ý và thâm trầm, lặng lẽ cầu nguyện.
Khi thánh Giuse toan tính bỏ đi cách kín đáo, vì thấy vợ mình có thai, mặc dù hai người chưa ăn nằm, gần gũi, Đức Maria đã âm thầm chịu đựng, không nói một lời và lặng lẽ cầu nguyện, với niềm phó thác tuyệt đối ở Thiên Chúa (x.Mt 1,18-25) ; khi tìm được Đức Giêsu sau ba ngày lạc mất ở Giêrusalem, Đức Maria đã chỉ lặng lẽ “ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51), dù không hiểu lời Đức Giêsu: “Sao cha mẹ lại tìm con ? Cha mẹ không biết con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2,49), và suốt đường Thánh Giá, và những giờ mắt đẫm lệ đứng nhìn con chết treo thê thảm, rồi ôm chặt xác con khi được tháo xuống từ Thánh Giá, Đức Maria đã luôn vâng phục thánh ý và thâm trầm, lặng lẽ cầu nguyện.
Qủa thực, tâm tình và thái độ của Đức Maria trong những ngày sầu thương, bị thử thách đã không giống chúng ta khi đau khổ vì thất bại. Thường khi không vừa ý, chúng ta bực bội kêu la, than trách đủ kiểu, đủ người; khi không đạt nguyện vọng, uớc mơ, hay kế hoạch đổ vỡ, chúng ta tìm cớ suy đoán nghi ngờ, quy trách, đổ tội cho người khác, và tức tối, căm thù người này người nọ; khi không may mắn, “ăn nên làm ra” như người chung quanh, chúng ta hiềm khích, “ghen ăn tức ở” với họ, mà ít người trong chúng ta nhìn ra thánh ý Thiên Chúa qua những biến cố, hoàn cảnh trái ý để vâng phục. Một điều chúng ta không quen làm nữa, đó là “giữ những sự ấy trong lòng” và âm thầm cầu nguyện, thâm trầm cầu nguyện, lặng lẽ cầu nguyện, đằm thắm cầu nguyện, nhất là khiêm tốn cầu nguyện để nài xin ơn trợ giúp.
Là Mẹ rất nhân lành, Đức Maria dậy chúng ta những bước chân Vâng Phục Thánh Ý và thâm trầm,  lặng lẽ Cầu Nguyện với tâm tình phó thác khi đường đời không an vui, khi cuộc đời  không  hạnh phúc, khi cuộc sống dường như bế tắc, bất hạnh, vì hơn ai hết, Mẹ đã trải qua những bối rối, căng thẳng của đời thiếu nữ sắp lấy chồng,  những lo âu do những biến cố bất ngờ và nguy hiểm của đời sống gia đình, những đắng đót khôn tả của lòng mẹ khi thấy con chịu đòn vọt, tra tấn, và hành hình man rợ cho đến chết, nên hơn mọi người, Mẹ cảm thông sâu sắc niềm đau, nỗi khổ, nước mắt nhục nhằn của người nghèo, người yếu, người kém may mắn, người bất hạnh, người lỗi lầm, người cô thế bị đàn áp, bóc lột. Đồng thời, Mẹ biết những bước chân “phải đi” khi đau khổ, những bước chân “nên đi” khi thất bại, những bước chân “cần đi” khi yếu đuối, để không đạp vào cạm bẫy kiêu căng, không ngã xuống hố ngờ vực, không rơi  xuống vực  sâu bất mãn, tuyệt vọng, và từng ngày Mẹ dậy chúng ta bước đi theo dấu chân Mẹ đã đi  ngày xưa trên hành trình dương thế với Đức Giêsu, Con yêu dấu của Mẹ.
Lậy Mẹ Maria là Sao Mai dẫn đường, xin dậy chúng con đi trong ngày vui, với những bước chân Khiêm Nhường biết mình là tôi tớ, để Cảm Tạ Chúa vì tất cả là Hồng Ân, và quan tâm, yêu thương mọi người là bạn đồng hành, và khi trời nổi giông tố, mây xám  giăng kín trời, và đường đời  dốc đá trơn trượt, xin Mẹ cầm tay chúng con đi từng bước Vâng Phục Thánh Ý và lặng lẽ Cầu Nguyện với niềm Phó Thác, Hy Vọng, vì Mẹ là Mẹ của chúng con, “Đấng làm cho chúng con được sống, được vui, được cậytrên đường đời lữ thứ, giữa thung lung nước mắt, “ở chốn khách đầy” này đang kêu khấn xin Mẹ dủ lòng thương. Amen.
Jorathe Nắng Tím