Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2020

YÊN LẶNG TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ


Trong các đoạn Tin Mừng, tôi thích nhất câu chuyện Đức Kitô và người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình bị các ký lục và nhóm biệt phái áp giải đến hỏi ý kiến của Đức Kitô (Ga 8,3-11).
Tôi không biết bằng cách nào họ đã chụp được chị “nguyên con, ngon lành và trọn ổ” như vậy. Chị bị bể mánh thảm thương chưa từng thấy. Cứ tưởng tượng cảnh chị bị bắt tại trận đang ăn nằm với người tình mà tội cho chị. Tôi mường tượng những cặp mắt phẫn nộ, quyền lực của các ông cảnh sát tôn giáo đang bóc trần thân thể vốn đã trần truồng, co rúm vì sợ hãi, thẹn thùng của chị. Tôi nghe đâu đó những tiếng hét mạ lỵ, lên án, khinh khi. Các ông đang nhân danh luật pháp, nhân danh Thiên Chúa Giavê để lột da, xẻ thịt một người đàn bà yếu đuối, rất yếu vì tình, rất đuối vì bẽ bàng. Tôi cũng hình dung những nụ cười cao ngạo, đắc chí của một số người trong họ đang lớn tiếng khoe khoang công trạng trước khuôn mặt mếu máo đẫm lệ của chị. Và tôi thực sự hãi hùng trước cảnh tượng những chức sắc trong đạo đang nhân danh Thiên Chúa để bảo vệ luật Chúa bằng phân thây xẻ thịt một người đàn bà yếu đuối, đáng thương hơn đáng trách.
Chị bị bắt quả tang nên không biện minh lấp liếm được gì. Người ta thành công vì đã nắm được chị “nguyên con” đang làm tình, với đầy đủ nhân chứng, vật chứng. Và con đường phải tới của chị là bản án bị ném đá. Nhưng tại sao họ lại đưa chị đến gặp Đức Kitô, trong khi quyền đang ở trong tay họ? Đức Kitô có là gì đâu để có thể can thiệp trong vụ này?
Đúng thế, họ có toàn quyền; nhưng khi đưa người đàn bà đến gặp Đức Kitô, họ muốn đặt chính Ngài vào bẫy của họ; vì từ lâu Ngài đã chỉ loan báo Tin Mừng cứu độ, thứ Tin Mừng đi ngược luật lệ của cha ông, thứ Tin Mừng bênh vực những người có tội, phường đói rách, đám phung hủi, cánh “chị em ta, gái đứng đường”, thứ Tin Mừng kỳ lạ kêu gọi bình đẳng nam nữ, xây dựng bác ái, thứ tha. Đặt Đức Kitô vào bẫy, họ đã nắm chắc trăm phần thắng; bởi theo họ, Ngài sẽ không thể bênh vực người đàn bà ngoại tình bị túm quả tang này, nếu không phủ nhận luật Maisen. Họ tin tưởng phần thắng sẽ về họ với kết quả kẻ dâm phụ bị ném đá và ông Giêsu, người tự nhận là Đấng Cứu Thế, sẽ bị ê mặt vì không bênh vực đuợc giáo lý mới của ông. Câu hỏi hóc búa như chiếc bẫy cực kỳ nguy hiểm đã được họ giăng sẳn: “Theo luật Maisen thì mụ này phải bị ném đá chết, còn ông, ông nghĩ sao?”.
Trước ác ý và âm mưu của họ, Đức Kitô đã không cãi cọ, đấu lý. Ngài không nói gì, cũng chẳng nhìn ai, lại càng không châm chọc, khiêu khích. Ngài bình thản ngồi xuống, nguệch ngoạc mấy chữ trên cát, chữ gì thì không ai biết, có khi cũng chẳng thành chữ mà chỉ là những nét ngoằn ngoèo, vô nghiã. Không nhìn họ, Ngài cũng chẳng nhìn người đàn bà ngoại tình đang ôm mặt thẹn thùng, chua xót. Để cho họ huyênh hoang, ngạo nghễ hồi lâu, Ngài mới ngước mắt nhìn họ và nghiêm nghị đề nghị: “ Ai trong các người vô tội, hãy ném đá chị ta đi ”. Nghe chưa hết câu, các ông đã giật mình tìm lối thoát, chuồn êm vì có ông nào vô tội đâu, nhất là tội lợi dụng thân xác đàn bà, tội ngoại tình, tội ngồi bia ôm, tội đi chơi điếm…
Kết quả hoàn toàn trái ngược âm mưu và kế hoạch dự liệu. Đức Kitô đã cứu sống một người tội lỗi. Không chỉ cứu sống đời chị, Ngài còn truyền sang tim chị một giòng máu mới tinh nguyên, nồng nàn: giòng máu yêu thương từ trái tim Ngài.
Tôi yêu cung cách tế nhị, nhân bản và rất tình của Đức Kitô.
Trong tình yêu, trước yếu đuối của người khác, Đức Kitô đã dùng thinh lặng, thinh lặng của ngôn ngữ và ánh mắt. Thái độ yên lặng không đưa mắt nhìn láo lien, soi mói, không nói gì trước người tình yếu đuối tội lỗi là thái độ yêu thương sâu thẳm, tuyệt vời và cao thượng. Nói với nhau là điều tốt, nhưng trong những trường hợp nhiêu khê, bẽ bàng, thì yên lặng lại trở thành ngôn từ, tâm sự cần thiết và tha thiết nhất.
Không nói gì, nhưng Ngài đã nói quá nhiều. Nói với các ông ký lục và biệt phái về thân phận yếu đuối, tội lỗi của các ông; không phải để lên án hay dùng tội của các ông mà chạy tội cho người đàn bà bị các ông tố cáo, nhưng để giúp các ông nhận ra sự thực của chính đời mình. Nhờ nhận ra sự thực này, các ông sẽ khiêm tốn hơn và từ tâm hơn. Không nói nhiều với các ông, Đức Kitô muốn tỏ cho các ông thấy Ngài rất trân trọng công tác bảo vệ luật pháp của các ông và tôn trọng chính các ông nữa và Ngài cũng muốn các ông cần nhìn xa hơn, đừng để con người bị chà đạp, nghiền nát, tiêu diệt bởi chính luật lệ đã được đặt ra để bảo vệ con người. Luật lệ được làm cho con người, đó là điều Đức Kitô muốn và không bao giờ con người được phép tự biến thành nạn nhân của luật lệ. Con người phải là mục đích của luật lệ và khi cần, tất cả mọi khoản ngoại lệ của luật đều phải được sáng tạo và xử dụng để bảo vệ tối đa con người. Ở đây, Đức Kitô đã tự mình tìm một luật trừ ở giờ chót để bảo vệ người đàn bà ngoại téinh bị bắt qủa tang.
Không nói gì, nhưng Ngài đã nói tất cả với người đàn bà ngoại tình. Chị không dám nhìn Chúa vì sợ, vì nghe Ngài là một đại tiên tri, là Đấng Cứu Thế. Chị càng không dám lên tiếng nài nỉ, van lơn Ngài vì không ai cho chị nói vì chị là tội nhân; không ai nghe chị vì chị không còn nhân phẩm; không ai giải quyết cho chị vì luật lệ đã ghi chú đầy đủ biện pháp và chi tiết xử lý. Nhưng chị đã suy đoán sai thái độ và tâm tình của Đức Kitô và chị chỉ hiểu hết khi Ngài hỏi: “Những người tố cáo con đâu cả rồi? Không ai ném đá con sao? Thầy cũng vậy” và Ngài ân cần căn dặn: “Con đi bình an và đừng phạm tội nữa ”.
 Không nói nhiều, Đức Kitô đã tỏ ra một tình yêu rất sâu xa đối với chị. Ngài biết, chị ngại nói về tội mình, ngại khai lý lịch đời mình, ngại lặp lại một lần nữa câu chuyện ngoại tình rất xấu hổ. Cảnh tượng nhốn nháo truy lùng, bắt bớ, hạch hỏi của các ông cảnh sát tôn giáo vừa xảy ra đã quá kinh hoàng và làm chị còn run rẩy. Sự yên lặng của Đức Kitô đã gỡ chị ra khỏi bói rối, nhấc chị ra khỏi cơn bàng hoàng và ban cho chị sự bình an thật. Chị sững sờ chiêm ngắm người vừa cứu chị, chị chẳng nghe hết những điều Ngài nói vì mải say mê Ngài. Đức Kitô hiểu nỗi đau của chị và muốn xoa dịu, băng bó vết thương lòng ấy bằng yên lặng chia sẻ, yên lặng cảm thông, yên lặng nâng đỡ, yên lặng đồng hành, yên lặng trao ban. Trong yên lặng, tình yêu được chữa lành, chăm sóc. Yên lặng trong tình yêu cũng cần như giấc ngủ mỗi đêm. Nó cho tình yêu chiều sâu và tính bén nhậy, tinh tế.
Yêu như Đức Kitô, ta phải tập yên lặng khi tình yêu đòi hỏi. Khuynh hướng bình thường là biện bạch, trình bày, cắt nghĩa, nhưng có những lúc và những hoàn cảnh ở đó ta càng nói, càng không hiểu nhau; càng lý luận, ta càng sớm xa nhau; càng thao thao bất tuyệt, tình yêu càng xuống cấp; càng hỏi han tìm tòi, càng cầy sâu vết thương trong nhau. Bởi nỗi khổ và giới hạn của con người là không thể hiểu hết nhau, không thể khám phá trọn vẹn vũ trụ của nhau, không thể sống thay nhau nên không thiếu những tai nạn trong tình yêu như hiểu lầm nhau, hiểu sai ý nhau, hiểu chưa thấu hay hiểu hoàn toàn ngược, chưa kể đến những hoàn cảnh bi đát ở đó ta hoàn toàn không hiểu gì về nhau. Sự yên lặng lúc đó sẽ là điều kiện cần thiết để cứu sống tình yêu.
Hỡi Đức Kitô dấu yêu của những mảnh đời tội lỗi! Nếu Chúa đã bất chấp luật lệ để cứu người đàn bà tội lỗi khỏi chết dưới làn mưa đá; nếu Chúa đã can đảm đương đầu với cả thành trì luật pháp kiên cố để tránh tai ương cho một phụ nữ nhỏ bé, vô danh, dâm đãng tội lụy; nếu Chúa đã công khai đặt vấn đề trong sạch với những người quyền thế để bênh vực người đàn bà vô tích sự trước mặt xã hội; nếu Chúa đã nhắm mắt không nhìn vào bộ luật của cha ông vì yêu thương một con người hư hỏng thì Lạy Chúa, con đây, con có tất cả các điu kiện trên: tội lỗi, vô tích sự, dâm đãng, vô danh để đựợc Chúa cứu vớt. Xin cho con tin tưởng vào Tình yêu Chúa và trở thành niềm tin tưởng cho những người con yêu.

Thứ Năm, 13 tháng 2, 2020

NGÔN NGỮ TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ


Khi bắt đầu yêu ai, ta làm tất cả để họ yêu ta. Nếu một mình làm không xong, ta nhờ bạn bè, gia đình sắp xếp, đẩy đưa thêm. Công việc quả không dễ, nhất là khi đối tượng lại đẹp, có nhiều khả năng và thuận lợi hơn ta.
Một trong số những chiến thuật thường được số đông xử dụng là nói về mình, nói về những cái mình có, cốt để tạo một niềm tin, đưa ra một bảo đảm với hy vọng đối tượng sẽ yêu ta, theo ta, sống với ta vì thấy ta cũng có “cửa”, có “số má”.
Khi nói về mình ta phải liệu lời cho khéo, cho hay, cho thuận tai. Để được như vậy, tiên vàn phải tránh những khuyết điểm, những thiếu thốn và phải che đậy những điểm tiêu cực, phải xoá bớt những vết nhăn, vết nám, vết sần sùi trên thân xác, gia thế, cuộc đời.
Đức Kitô cũng bắt đầu biểu lộ tình của Ngài bằng nói, bằng tâm sự; nhưng nội dung và cách vào chuyện của ngài có phần khác chúng ta.
Hôm ấy Ngài đi vào một làng thuộc miền Samaria. Trong khi các môn đệ đi mua bán ngoài chợ, Đức Kitô lân la lại gần bờ giếng và chuyện trò với một người đàn bà đang kín nước. Ngài vào đề bằng cách xin chị ta cho Ngài chút nước. Xin ai điều gì tức là cần đến họ. Cần đến người khác vì mình còn thiếu, chưa đủ. Đức Kitô đang khát và Ngài cần có nuớc để đỡ khát. Tuy ở ngay bờ giếng nhưng Ngài không có gầu, không có dây kéo nước trong khi giếng quá sâu. Để có nước, Ngài phải cần đến người đàn bà đang kín nước vì chị đang có tất cả mọi phương tiện và điều kiện.
Khi khiêm tốn ngỏ lời: "Chị ơi, cho tôi xin tí nước", Đức Kitô đã tế nhị nhập đề câu chuyện giữa Ngài và người đàn bà đang nhiều ray rứt vì đã qua năm đời chồng. Và từ đó Ngài đã đi vào đời chị.
Hơn ai hết, Ngài có quyền và có khả năng đi thẳng vào đề cho chị ta biết "Tôi là Đấng Thiên Chúa sai đến"; Ngài cũng không bị ngăn cấm để làm một "phép lạ nho nhỏ"; hoặc ít nhất Ngài cũng có thể "huỵch toẹt" cho chị ta biết Ngài là một tiên tri biết tất cả bí ẩn của đời chị.
Quả thật nếu là ta trong trường hợp này, chắc chắn ta đã lên lớp, thuyết trình một hồi lâu về "lý lịch huy hoàng, thân thế tuyệt vời, thành tích hoành tráng" của đời ta và người đàn bà kia chỉ còn biết phục lăn, tấm tắc khen ngợi và theo ta suốt đời.
 Ngỏ lời xin nước, Đức Kitô đã muốn đi vào đời chị, vào đời mỗi người bằng chia sẻ chân thành về nhu cầu của chính mình. Là Thiên Chúa, Ngài không cần ta, nhưng vì là "Thiên Chúa làm người" nên Ngài muốn trở thành như chúng ta với tất cả mọi nhu cầu của một con người, một đời người, từ nhu cầu sinh tồn như ăn uống, ngủ nghỉ, nhu cầu tình cảm cần yêu và được yêu đến những nhu cầu thiêng liêng như đi tìm Tuyệt đối nên Ngài cần ta và xin ta.
 Như đã chia sẻ ở trên, nhìn vào nhu cầu của người mình yêu là yêu họ thật, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Tình yêu thật còn đòi hỏi một điều kiện bên cạnh là nói với người yêu những nhu cầu của mình. Có như thế ta mới có thể giữ mãi được nét đẹp của tình nhân loại. Bởi khó có thể cảm thông với người khác nếu tôi chẳng có nhu cầu gì để trông chờ, chẳng có gì tìm kiếm, đợi chờ nơi người tôi yêu. Bởi không thể chia sẻ bình đẳng nếu tôi chỉ cho đi mà không bao giờ nhận lãnh. Không có nhu cầu trong cuộc sống hay không đợi chờ gì nơi người mình yêu, ta sẽ quên đi thân phận bất toàn của đời mình và sẽ kiêu ngạo tự phong mình làm thủ lãnh trong tình yêu, độc tài trong đời sống trong khi tình yêu lại không bao giờ chấp nhận chung sống với khuynh đảo, chung chăn với đàn áp kiểu chồng chúa vợ tôi, gia trưởng độc tài.
 Nhìn thẳng vào nhu cầu của người yêu và khiêm tốn nói về nhu cầu của mình, tình yêu sẽ giữ được thăng bằng cần thiết nhờ thao thức dâng hiến, xây dựng đối tượng cùng với lòng khiêm hạ cần được nâng đỡ của chủ thể. Và khi đó, yêu sẽ là cho đi hết mình và yêu cũng là đón nhận hết tình. Hai người yêu nhau cùng thấy nhu cầu của nhau để chính những nhu cầu đó sẽ được đáp ứng bởi nhau, nhờ nhau và cho nhau. Tình yêu quân bình và đích thực trong ý nghĩa này sẽ biến cái tôi, cái anh thành "nhau", một cái "nhau" tròn đầy, viên mãn bởi "tình yêu nhau" này có sức mạnh thăng tiến và kiện toàn cả hai người yêu nhau.
 Đức Kitô đã xin nước uống, người phụ nữ đã không từ chối lời xin chân tình khiêm tốn của Ngài. Tình yêu chớm nở trong hồn chị khi chị ân cần mời Ngài uống nước. Chị đâu ngờ rằng, ngay khi ngỏ lời xin chị nước, Đức Kitô đã nhìn vào nhu cầu của đời chị. Ngài lân la đến chuyện trò với chị là vì chị, vì thương chị, vì muốn chia sẻ tâm sự hằn sâu, trĩu nặng của chị. Gầu nước chị cho đã giải quyết nhu cầu uống của Ngài, đã làm dịu cơn khát rát bỏng trong cổ họng Ngài. Nhưng cùng một lúc, trái tim Ngài đã cho chị một thứ nước khác mầu nhiệm, trường cửu hơn: nước hằng sống. Chính nước này từ tình yêu cảm thông chia sẻ trong tim Ngài đã đem chị ra khỏi mọi lo âu, mặc cảm từ lâu vốn rối bời, cắn rứt tâm can, đời sống chị. Nhờ Ngài, chị trút được nhiều gánh nặng, gánh nặng mặc cảm tôn giáo, khi Đức Kitô căn dặn chị: "Đã đến lúc không còn thờ Thiên Chúa hoặc trên núi này hoặc trong thành thánh kia; nhưng tôn thờ Ngài trong tâm hồn và chân lý" (Ga 4,23 ); thứ đến là gánh nặng luân lý khi Ngài giải tỏa ẩn ức về cuộc đời nhiều chồng của chị. Nhưng điều quan trọng mà Ngài đã làm nơi chị là yêu thương chị. Ngài đã cho chị biết tình yêu không có biên giới, và không một lề luật, định chế nào có quyền hay có thể cấm cản sự sống của tình yêu. Chính chị đã ngạc nhiên hỏi Ngài: "Tại sao ông là người Do Thái lại đến xin tôi nước, trong khi tôi là người Samaria? Ông không biết giữa chúng ta có một mối thù truyền kiếp lâu đời sau?” (Ga 4,9 ).
 Với Đức Kitô, không có mối thù nào có thể đứng vững trước thổn thức của trái tim và ngài đã minh chứng điều đó bằng tìm đến yêu thương chị.
 Lạy Đức Kitô, con xin gửi ghắm tình con trong tim Chúa. Xin cho tình con luôn là tình người để luôn sống với nhu cầu của đời người. Như Chúa, con học can đảm chia sẻ nhu cầu của người và khiêm tốn nói lên nhu cầu của chính con. Bởi trong tình yêu không có "ân nhân người chịu ơn " mà chỉ có một thứ tình duy nhất và trong tình yêu này, con cần yêu và muốn được yêu. Xin cho tình con luôn "người " như tình Chúa, tình của một "Thiên Chúa làm người” đã yêu con.

CÁI NHÌN TÌNH YÊU CỦA ĐỨC KITÔ


Mắt để nhìn, nhưng có nhiều cách nhìn và mục đích khác nhau. Có cái nhìn đe dọa mục đích làm người khác sợ; có cái nhìn soi mói với mục đích khám phá, lột trần; có cái nhìn âu yếm để tỏ tình; có cái nhìn nhân hậu mang ý nghĩa thứ tha. Đại loại ta có thể xếp thành hai thứ nhìn: nhìn vì mình và nhìn vì người.
Nhìn vì mình là cái nhìn tìm lợi, cái nhìn có tính toán thủ đoạn, cái nhìn chiếm doạt, cưỡng bức người, cái nhìn khấu trừ quyền sống, giảm bớt quyền lợi của người, cái nhìn thu hẹp không gian có mặt của người. Cái nhìn ấy là cái nhìn có chiều đi và lập tức có chiều về: nhìn người để thu lợi về mình.
Cái nhìn vì mình là cái nhìn của người ích kỷ, người không có thói quen nhìn người khác vì người khác, không có khả năng vượt ra khỏi tầm "riêng tư, hạn hẹp". Họ nhìn gần vì chưa nhìn ra đã vội nhìn vào, chưa kịp mở đã vội khép và khi mí mắt họ khép cũng chính là lúc cửa lòng họ đóng lại.
Bên cạnh và ngược với cái nhìn vì mình là cái nhìn vì người. Cái nhìn theo đúng hướng đi, tầm mắt của nó: đến với người khác. Nhìn ai là muốn trao gửi nơi họ một điều gì; nhìn ai là muốn nói với họ một tâm tư, một ý nghĩ, một sứ điệp. Sứ điệp, ý nghĩ, tâm tư ấy chọn địa chỉ đến là người khác, không quay về người gửi như cái nhìn ích kỷ ở trên. Trong cái nhìn này, người khác là một chủ thể không bị đe dọa, triệt khấu nhưng nằm trên cùng một tương quan "người" với tất cả giá trị của con người.
Trong tình yêu, cái nhìn đóng một vai trò quan trọng. Hầu hết những cuộc tình đều thai nghén từ những cái nhìn, những làn mi, những thiết tha mời gọi, trao gửi của đôi mắt. Mắt ghi nhận những bẽn lẽn của tình yêu vừa chớm nở. Mắt chuyển vào tim những ngây thơ, diệu vợi của tình đầu trong trắng. Mắt gửi vào ký ức từng vết chân những cây số đầu của đường tình dịu ngọt. Mắt có giá, mắt được trân trọng, nâng niu, gìn giữ bởi mắt làm công việc đầu tiên và khó nhất của tình yêu, đó là tạo nhịp cầu. Nhờ đôi mắt, bến bờ của tình yêu ngắn lại. Cũng nhờ mắt, ta cho nhau nhiều hơn những gì ta có, nói với nhau nhiều hơn những gì ta muốn nói, thông cảm nhau hơn mức độ ta trông chờ.
Nhưng tình yêu đòi cái nhìn nào và đợi chờ đôi mắt nào? Tất không thể là những cái nhìn xua đuổi, khai trừ, thách thức, chiếm đoạt. Hẳn cũng không thể là đôi mắt cú vọ canh chừng, đe dọa. Càng không phải những tia mắt căm hờn muốn ăn tươi nuốt sống. Tình yêu đợi chờ một đôi mắt tình, một cái nhìn chất chứa yêu thương và yêu thương ấy chỉ có thể có trong những cái nhìn vì người khác.
Nhìn vì người là nhìn vì yêu người. Cái nhìn yêu người mà Đức Kitô đã nhìn là cái nhìn vào chính nhu cầu của họ. Khi nhìn vào nhu cầu của người khác, Đức Kitô đã biến cái nhìn của Ngài trở thành một quà tặng, một dâng hiến. Thấy nhu cầu của người mình yêu, nhìn vào nhu cầu của người mình yêu là yêu họ. Không yêu, cái nhìn sẽ không đủ tinh tế, bén nhạy để nhận ra nhu cầu của người tình, nhất là khi nhu cầu ấy lại là những nhu cầu tình cảm vốn rất thầm kín, tế nhị. Tình yêu cho cái nhìn một ánh sáng đặc biệt để cả những nếp gấp thầm kín nhất cũng phải lộ ra dưới cái nhìn. Nên khi yêu, đôi mắt sẽ rất sáng nhờ có tình, tầm nhìn sẽ rất xa nhờ có yêu thương. Đức Kitô đã nhìn con người bằng đôi mắt chất chứa tình này.
Khi bắt gặp cái nhìn khẩn khoản của mẹ Ngài trong tiệc cưới Cana (Ga 2,1-10), Đức Kitô đã hiểu ngay điều Ngài phải làm: cứu đôi tân hôn và gia đình hai họ ra khỏi cơn bế tắc vì không còn rượu. Làm phép lạ cho nước hóa thành rượu, Đức Kitô đã cùng mẹ Ngài nhìn thẳng vào nhu cầu cấp bách của hai họ, đã đọc hết nỗi lo sợ mất mặt của cô dâu chú rể, đã nhận ra cảnh huống lúng túng bất lực của ban tổ chức. Nhìn vào nhu cầu của họ và can thiệp cứu họ bằng phép lạ, Đức Kitô đã gửi đến đôi tân hôn, đến gia đình hai họ, đến từng người khách dự tiệc quà tặng lớn nhất, giá trị nhất: tình yêu của Ngài. Tình yêu ấy không khách sáo, bôi bác, không lớn tiếng ồn ào, không phô trương, đòi ghi sổ; nhưng thâm trầm, kín đáo, nhẹ nhàng, trân trọng.
Từ lúc nhìn vào nhu cầu của hai họ, Đức Kitô đã không nói gì, không tuyên bố hay đòi hỏi gì. Chỉ có những trao đổi thân thương giữa Ngài và mẹ Ngài, giữa mẹ Ngài và gia nhân, giữa trái tim Ngài và trái tim những người có mặt. Ánh mắt không nhiều lời nhưng nói hết, ánh mắt không có tài biện bạch, diễn giải nhưng biểu lộ được tất cả. Chính tình yêu đã biến đổi cái nhìn, đã đem đến cho đôi mắt sức mạnh canh tân và phục sinh. Cũng là đôi mắt, cũng những cái nhìn, nhưng đôi mắt mang cái nhìn của tình yêu thì hoàn toàn khác những đôi mắt sôi sục hận thù, chiếm đoạt.
Kinh nghiệm cho thấy, khi mới quen, người ta thích nhìn nhau, chiêm ngưỡng nhau; nhưng chỉ mới nhìn nhau, thấy nhau; còn nhu cầu của nhau chưa hẳn đã được nhìn ra. Càng sống lâu bên nhau, ta càng mất thói quen nhìn nhau, chưa nói đến tình trạng dửng dưng, nhắm mắt trước nhu cầu của nhau.
Yêu như Đức Kitô, với nghệ thuật yêu của chính Đức Kitô, ta phải tập nhìn nhau, nhìn vào chính nhu cầu của nhau mỗi ngày. Những nhu cầu ấy có thể dễ thấy nhưng cũng có thể rất khó nhận ra. Với những nhu cầu thầm kín, khó thấy, ta chỉ có thể nhận ra bằng đôi mắt của tình yêu. Thiếu đôi mắt tình này, ta sẽ chẳng thấy gì, kể cả thấy nhau.

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

NGÀY LỄ TÌNH NHÂN 14/02

Không còn ở cái tuổi làm Tình Nhân, có Nhân Tình, nếu hiểu tình nhân, nhân tình là những người trẻ đang yêu nhau thiết tha, đắm đuối. Nhưng nếu mở rộng  biên giới của ngày lễ Tình Nhân, khi hiểu Tình Nhân – Nhân Tình là những người có tình cho nhau, những cuộc đời tự nguyện gắn kết nên một trong tình yêu, bất luận tuổi tác, thì tôi cũng còn may mắn được đứng chung hàng ngũ những người đang xôn xao, rạo rực, rộn ràng đón ngày Valentine đang làm nức lòng nhiều người yêu nhau.
Không biết ai là người đầu tiên có sáng kiến về ngày lễ Tình Nhân, nhưng chắc chắn người ấy phải có một trái tim nhậy cảm, và một tâm hồn rất lãng mạn. Tuy thế, nếu thiếu những nhân tình lãng mạn và tình nhân  đa cảm như tôi với bạn đang náo nức, phấn khởi đây, thì chưa chắc  lễ Tình Nhân đã có được vị trí quan trọng và  ảnh hưởng rộng lớn như hôm nay.
Sở dĩ ngày lễ Tình Nhân giữ một vị thế quan trọng trong đời sống, vì ngày ấy, những người yêu nhau không chỉ nói với nhau những điều muốn nói, mà còn nói được với nhau những chuyện khó nói, ngại nói, chưa nói được. Có chuyện rất dễ nói khi yêu nhau, nhưng bên cạnh còn rất nhiều chuyện  khó nói, không thể nói ngoài một thời điểm hiếm hoi thuận lợi.
Trong những chuyện khó nói có chuyện quá khứ của những cuộc tình vắt vai đã rơi theo năm tháng cũ ; có chuyện tương lai tính tới thì khó khăn, tính lui thì tiếc xót, không đành, và dậm chân tại chỗ thì lầy lội, chẳng xong.
Chuyện ngại nói cũng có thể là những tâm sự dở dang không biết chốt lại thế nào cho gọn gàng, đẹp đẽ ; những tính toán ngang dọc rối bời mà càng cố thu dọn, càng bừa bộn thêm.
Cũng có thể chuyện không nói là bí mật của một con người, một đời người, mà một khi bị tiết lộ, thì chẳng còn gì có thể đứng vững.
Thế nên, tình yêu tình nhân dành cho nhân tình không hẳn luôn đơn sơ, ngây thơ, bé bỏng, mà có thể gai góc, gian nan, vất vả trăm chiều, nhiều nỗi ; trái tim tình nhân hướng đến nhân tình không hẳn luôn tròn trịa, kháu khỉnh, nhưng có thể đã mệt nhọc, mòn mỏi, rạn nứt, vì nhiều thách đố đã trải qua.  
Vâng, làm tình nhân yêu nhân tình, hay làm nhân tình yêu tình nhân là đi vào huyền nhiệm của đời nhau, ở đó, không phải tất cả đều lập tức lộ diện nguyên hình, phút chốc bầy ra nguyên trạng. Trái lại đó là hành trình đòi đôi chân kiên trì, từng bước vững chãi trong tình yêu tôn trọng nhau, con đường dài như cuộc đời đòi ý chí kiên cường trong tình yêu biết đối thoại, tương lai hun hút như đường vào tuyệt đối đòi đôi mắt sáng như sao để thấu suốt tình yêu mầu nhiệm, nhất là một trái tim kiên định dám đập đều nhịp với  trái tim của người tình.
Những người tình tuyệt vời, những nhân tình lý tưởng, những tình nhân muôn thưở đều có chung những kinh nghiệm vất vả trên hành trình tình yêu, những cảm nghiệm sâu sắc của tình yêu quên lợi riêng, quên ý riêng, quên cả đời riêng cho hạnh phúc của người mình yêu, bởi tình yêu đòi nhiều thứ lắm, nhất là lương thực hy sinh để tình yêu được sống, và lớn lên, nên có đổ mồ hôi trên đường lầy lội, có rách da, xẻ thịt, rướm máu đôi chân trên những dặm trường gai góc, sỏi đá, có cháy nắng cô đơn trong sa mạc tình buồn, người ta mới hiểu được giá trị của tình yêu trao ban khi là nhân tình, và tình yêu đón nhận khi là tình nhân.
Những người tình tuyệt vời, những nhân tình lý tưởng còn là những người dầy dạn trong thử thách của tình trường, khi hai người phải vượt qua đủ thứ mặc cảm, đủ loại cấm kị để nói được với nhau điều muốn nói, chia sẻ không ngại ngùng  với nhau tâm sự cần được sẻ chia, nhất là chấp nhận cùng nhau vượt núi, vượt rừng, vượt biển, vượt sông, kể cả vượt rào vì một tình yêu không thể xa nhau.
Ngày lễ Valentine còn là dịp để trao tặng nhau, bởi tình yêu luôn đòi trao ban và đón nhận, nên cả nhân tình và tình nhân đều phải là người biết Trao Ban và biết Đón Nhận. Chỉ trao ban thôi mà không đón nhận, tình yêu sẽ chết, vì có một bên kiêu căng, tự cho mình đã đủ, không cần gì ở người yêu khi từ chối đón nhận ; chỉ đón nhận thôi mà không trao ban, tình yêu cũng sẽ chết, vì có một bên ích kỷ, thụ hưởng, chỉ thủ lợi , thủ riêng cho mình, khi khước từ trao ban.  
Tình yêu đòi trao ban - đón nhận, và khi yêu nhau thật tình, hết tình, người ta không còn quan tâm đến giá trị vật chất của tặng vật, nhưng bất cứ tặng vật nào cũng đều mang một giá trị tuyệt đối, vì đó là biểu hiệu của tình yêu, mà tình yêu thì tuyệt đối tự bản chất.
Nhưng tặng vật dễ thương, qúy giá, cao cả, tuyệt vời nhất mà người ta muốn trao cho nhau, và khao khát nhận được ở nhau là chính con người của nhau. Trao tặng người yêu chính con người mình là cho đi tất cả, và chẳng giữ lại gì làm của riêng ; trao tặng người mình thương chính con người mình là hiến dâng trọn vẹn cuộc đời, cuộc sống với thao thức, ước mơ, khắc khoải, hy vọng, niềm vui, hạnh phúc, và cả lo lắng, buồn thương. Chỉ trao ban chính con người mình cho người mình yêu, thì tình yêu mới thực sự có ý nghiã và giá trị tuyệt đối của Tình Yêu, như trái tim khi yêu hằng khao khát, đợi chờ.  
Mừng ngày lễ Tình Nhân của những trái tim đang thổn thức, rạo rực vì yêu thương, người viết mến tặng các bạn đang yêu nhau ba ngọn nến rất đẹp :
·      Ngọn nến Sự Thật, tuy leo lét trước gió, nhưng sẽ không bao giờ tắt trong tim các bạn, dù là cuồng phong thất bại, sợ hãi, hay gánh nặng của thời gian, bởi Sự Thật luôn giải phóng và nối kết.
·      Ngọn nến Thứ Tha, tuy kín đáo, âm thầm, nhưng sẽ không bao giờ tắt trong đời sống yêu thương, dù hiện tại chống phá, dù tương lai đe doạ, bởi Thứ Tha là ánh sáng xua đuổi đêm tối trong cuộc đời những người yêu nhau.
·       Ngọn nến Hiền Lành, tuy bé bỏng, nhẹ nhàng, nhưng sẽ không bao giờ tắt trong ân nghiã, ân tình, bởi Hiền Lành làm cho nhân tình, tình nhân vô cùng  dễ thương, dù đi giữa trời giông bão, hay dưới trời chói chan đổ lửa.
Ước mong các Nhân Tình, Tình Nhân đốt lên ba ngọn nến đẹp buổi tối Valentine lãng mạn, và cưu mang, sinh nở trong Hạnh Phúc những Tình Yêu tuyệt vời cho cuộc đời mãi đẹp, mãi đáng yêu ! 
  Jorathe Nắng Tím

ĐỨC KITÔ, TÌNH YÊU GÁNH TỘI


Nếu biết rõ sẽ có những ngày "mặt chày, mặt thớt", những bữa ăn "cơm không lành, canh không ngọt ", những đêm mất ngủ, lang thang ngoài đường phố sau một trận cãi vả, thì tôi nghĩ chẳng ai dám xâm mình cưới nhau. Nếu nhìn được tỏ tường, hết chiều sâu và trọng lượng của những nết xấu, lỗi lầm, tội lụy trong tương lai và suốt cuộc đời của người mình sắp kết hôn, tôi tưởng không mấy ai dám liều mạng ký vào giao ước hôn nhân. Tình trạng giới trẻ ngày nay không muốn, đúng hơn là không dám dấn thân cưới nhau, mà chỉ sống chung chờ thời, sống chung qua ngày là một trả lời có nhiều xác xuất đúng nhất truớc những băn khoăn, ngao ngán kể trên.
Biết rằng đường tình có muôn lối, nhưng xem ra trên thực tế lối nào cũng hứa hẹn nhiều bất ngờ không mấy vui. Không mấy vui khi thời gian kéo ta ra khỏi giấc mơ thần tượng; khi thần tượng mệt mỏi xuống khỏi tượng đài "huyền hoặc, mơ ước", kéo ta bổ nhào xuống bờ đường cát bụi. Ước mơ không là thực tế và thời gian luôn trả về thực tế những diện mạo rất phũ phàng.
Cái phũ phàng đáng ngại trong tình yêu là tội lỗi của người mình yêu. Khi mới yêu, ta có khuynh hướng chấp hết, xóa hết, muốn "tu sửa, tân trang" tất cả để có một trời mới, đất mới cho con đường tình rất mới của ta. Khi mới yêu, ta thích nhắm mắt hôn nhau, nhắm mắt thì thầm tâm sự; bởi nhắm mắt sẽ hạnh phúc, nhẹ nhàng, thanh thản, lâng lâng hơn; bởi nhắm mắt sẽ không thấy gì ngoài ước mơ, mộng đẹp. Nhắm mắt còn cho ta cảm tưởng ta đẹp, người yêu ta đẹp, thế giới đẹp, đường tình ta đi đẹp. Cái đẹp bao trùm, người đẹp chiếm ngự; ta chỉ còn một khả năng là chiếm hữu, tôn thờ. Nhưng đó chỉ là lý tưởng và ngôn ngữ của trái tim đang sôi xục. Khi củi tàn, than nguội, máu trong tim lạnh ngắt, ta sẽ không thể lặp lại cùng một ngôn ngữ, âm thanh "khuếch đại" ấy bởi sự xuất hiện của yếu đuối tội lụy nơi đối tượng.
Bản chất của tội lỗi là phá hoại, nên khi khám phá và trực diện với tội lỗi của người mình yêu, ta cảm thấy tình yêu ta dành cho họ bị phá hoại; hy vọng ta trông chờ nơi họ bị đổ vỡ; hạnh phúc ta ấp ủ trong họ bị đạp đổ; sức sống ta trao dâng cho họ bị hủy diệt. Tắt một lời, tội lỗi, yếu đuối nơi họ phá vỡ toàn bộ cơ đồ và sự nghiệp yêu thương ta nhọc công xây dựng. Ta thấy mình là chủ thể bị xúc phạm, ta xem mình là nạn nhân của phản bội, ta hận mình non nớt, dại khờ bị phỉnh gạt. Tội lỗi của người ta yêu bỗng dưng biến họ và ta thành thù nghịch và ta xa lạ dần, tránh né dần, khai trừ dần người ta yêu. Khoảng cách từ đó được nối dài, mở lớn; hố sâu ngăn cách bị đào sâu, đục khoét cho đến một lúc ta phải sững sờ thốt lên: "tôi hết chịu nổi; bởi xưa kia em không thế; bởi lúc trước anh không vậy; bởi tự nhiên anh sinh tật; bởi bỗng dưng em dở chứng..." Và như bệnh tật không báo trước, tội lỗi và yếu đuối cũng không định ngày, chọn tuổi. Nó đến bất chợt như kẻ trộm, âm thầm len lỏi phá hoại tất cả sự nghiệp của tình yêu; trong sự nghiệp này, nạn nhân trực tiếp là hai người yêu nhau.
Vì thế, khi chiêm ngắm tình yêu của Đức Kitô, tôi say mê đến điên cuồng hình ảnh "Đức Kitô, chiên gánh tội".
Trong Tin Mừng, Đức Kitô đã xuất hiện lần đầu tiên trước công chúng qua hình ảnh "Chiên gánh tội". Gioan Tiền Hô đã long trọng giới thiệu Đức Kitô khi ông thấy Ngài: "Đây là chiên Thiên Chúa, đấng gánh tội nhân loại" (Ga 1,29).
Hình ảnh đầu tiên về Đức Kitô nhập thể, nhập thế là hình ảnh một con chiên trên vai mang hết tội lụy nặng nề của người khác. Hình ảnh này khiêm hạ, bé nhỏ và tội nghiệp. Hình ảnh này không hấp dẫn mấy người, không lôi kéo được ai. Nó khiêm hạ ở chỗ làm chiên hiền lành, không mưu mô như cáo, không dữ tợn như hổ, không hiểm độc như rắn. Chiên vốn hiền lành, nhịn nhục, đơn sơ. Nhờ đơn sơ, nhịn nhục, hiền lành, chiên luôn bé nhỏ, dễ thương. Cái dễ thương của một trái tim không nuôi thù hận, nét bé nhỏ của một tâm hồn không cao ngạo. Nó còn khiêm hạ ở chỗ cúi đầu cho thiên hạ trút tội trên lưng, trên cổ. Tội mình mình mang đã đành; nay mang cả tội người, tội thiên hạ mà vẫn hiền, vẫn ngoan, vẫn dễ thương, vẫn đằm thắm.
Bên cạnh nét khiêm hạ, chiên gợi lên niềm đau tội nghiệp. Không biết các thầy cả trong đạo cũ khi làm nghi thức đổ tội trên chiên và đuổi chiên chạy xa vào rừng, xa mạc, có cảm thương chiên không; chứ riêng tôi, tôi chạnh lòng trước hình ảnh chú chiên có cặp mắt trong, to tròn ngơ ngác bị đuổi vào xa mạc với gánh nặng tội lỗi người khác, bởi không ai trong sạch hơn nó để có đủ thong dong mà gánh tội đời. Bởi vai ai cũng chồng chất tội mình, nên chỉ những bờ vai trống vắng tội lỗi mới can đảm gánh vác tội người khác. Dưới mắt mọi người, chiên bị đồng hóa với tội lỗi bởi trên mình chiên tội lỗi đầy tràn; nhưng chỉ một mình chiên biết sự trong sạch của mình và sứ mạng anh hùng, qủa cảm, đầy hy sinh khi gánh tội người khác.
Chọn hình ảnh "chiên gánh tội " trong lần đầu tiên ra mắt quần chúng, Đức Kitô dã không mị dân vì vốn dĩ dân đang chờ nơi Ngài một hình ảnh khác, huy hoàng, vinh dự hơn. Không những thế hình ảnh này đã có thể gây thất vọng, nản chí nơi nhiều người.
Khi vào đời, Đức Kitô đã khẳng định chỗ đứng của mình trong đời qua tên gọi "Emmanuel"- Thiên Chúa ở cùng chúng tôi; đồng thời khẳng định vai trò, sứ mạng của Ngài: cứu độ nhân loại bằng yêu thương. Chọn hình ảnh chiên gánh tội, Đức Kitô đã khẳng định thêm môt chân lý nữa: gánh tội người khác là đòi hỏi của tình yêu.
Nếu tình yêu có thể trọn vẹn và hoàn hảo, nếu tình yêu đạt được ý nghĩa tuyệt đối của nó mà không cần đến công việc "gánh tội người mình yêu" thì chắc chắn Đức Kitô đã không chọn hình ảnh "chiên Thiên Chúa" khổ sở này. Nếu yêu mà không phải rạp mình, còng vai vì nặng nề tội lụy, yếu đuối của nhau, thì hình ảnh "chiên Thiên Chúa" sẽ không có nghĩa và giá trị gì. Nhưng vấn đề đã được đặt khác khi chính Đức Kitô vui lòng đến trong đời như một chiên gánh tội, như một của lễ hy sinh, như một thân phận tràn đầy tội lụy. Tình yêu nơi "Thiên Chúa làm người" ấy chắc hẳn phải thâm sâu, tha thiết, tuyệt vời lắm mới có sức biến Ngài thành "người gánh tội" trong khi Ngài là Thiên Chúa và có quyền biểu lộ sự trong sạch tuyệt đối của Ngài.
Nhìn vào tình yêu này, ta thấy thiếu hẳn công lý và bình đẳng. Thiếu công lý bởi người vô tội phải mang tội người khác, người trong sạch phải trở thành ô uế, bị xua đuổi. Đức Kitô đã không tuân theo những lý lẽ của một công lý bình thường khi Ngài chịu nhận phận tội lụy của người khác làm chính thân phận mình. Ngài còn coi thường cả những nguyên tắc bình đẳng trong xã hội khi chịu thiệt thòi đến tận cùng trong tất cả lựa chọn của tình yêu.
Như vậy tình yêu nơi Đức Kitô, trước hết bắt đầu bằng trái tim vui lòng gánh hết tội người mình yêu. Tình yêu này không đổ tội, gán tội, bới tội, vạch tội. Tình yêu này cũng không nhân danh công lý để buộc tội, không nhân danh lề luật để xử tội, hành tội, trị tội. Nhưng tình yêu này lại hiền lành để nhắm mắt che tội, khiêm hạ khi xét tội, can đảm đưa vai gánh tội và nhân ái bao dung xóa tội. Tình yêu ấy chấp nhận chỗ thấp nhất để tình yêu có nền tảng vững chắc nhất là thứ tha; nhờ nền tảng này mà tình yêu không bị sụp đổ. Tình yêu ấy chọn cho mình gánh nặng để tình yêu trở nên nhẹ nhàng với đôi cánh hạnh phúc. Tình yêu ấy vui lòng cúi xuống thật sâu để không một xúc phạm nào có thể làm tình yêu lung lay, chao đảo.
Đức Kitô chọn tình yêu "gánh tội" này vì Ngài biết không một tình yêu nào có thể sống nếu gánh nặng của nó không được những người yêu nhau chia sẻ. Tình yêu có giá trị bởi có trọng lượng: trọng lượng của đời người, của đời riêng mỗi người trong cuộc với tất cả quá khứ, hiện tại, tương lai, với đầy đủ mọi ô nhục, vinh quang, những công đức, tội lỗi rất sâu và rất dài. Vì cái giá trị huyền nhiệm này mà nhiều khi sức người không kham nổi, phải cần đến sức Trời, tình Trời, ơn Trời. Nhờ Trời và nhờ sống tình yêu như Chúa Trời muốn "gánh vác yếu đuối của nhau", tình yêu mới có thể bước đều trên đường tình về vĩnh cửu.
Như anh, như chị, theo gương Đức Kitô, tôi cũng muốn bắt đầu và làm sống lại tình yêu bằng trở nên "chiên gánh tội" trong tình yêu cho nhau mỗi ngày.

ĐẾN GẶP ĐỨC KITÔ LÀ TÌNH YÊU

Có thể bạn đã gặp một tình yêu lý tưởng. Có thể bạn chỉ đi trên những con đường tình đầy hoa. Cũng có thể bạn chưa biết "yêu là đau khổ " bao giờ. Tôi thực tình mừng cho bạn.
 Phần tôi, không may mắn như bạn, nên tình nào đến cũng bềnh bồng, chao đảo.
 Viết để chia sẻ với bạn về tình yêu hôm nay, tôi thấy những điều tôi viết non nớt, thiếu sót và rời rạc quá. Chính vì thế, tôi mời bạn cùng tôi đến gặp và tham khảo với một người tự nhận là Tình yêu, sứ giả của Tình yêu, đã sống trọn vẹn một cuộc đời yêu thương và chết cho yêu thương. Con người ấy hẳn phải hơn tôi, hơn bạn trong hiểu biết và kinh nghiệm tình yêu. Đến với con người ấy, tôi với bạn hy vọng sẽ khám phá diện mạo và bản chất đích thực, tinh ròng nguyên chất của tình yêu, điều mà từ lâu tôi với bạn đều ước mong và vất vả kiếm tìm.
Trong niềm hân hoan của những người ham yêu, đang yêu và muốn được yêu, tôi với bạn cùng đi và thế nào chúng ta cũng sẽ gặp, vì người ấy cũng không mong gì hơn là được gặp chúng ta.

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2020

TÔN VINH MẸ LA VANG - NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM

Suy Niệm 11 : ĐỨC MARIA, NỮ TƯỚNG BINH ĐOÀN KITÔ HỮU
Thánh Gioan Tông Đồ trong Khải Huyền chương 12 đã mô tả trận chiến cam go giữa những kẻ thuộc về Thiên Chúa và Satan cùng bè lũ. Trong cuộc chiến ác liệt này, có “một người Phụ Nữ, mình khóac mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). Người Phụ Nữ ấy tiến lên oai hùng, chỉ huy đoàn quân xếp hàng vào trận, và Bà đã đạp giập đầu Con Rắn Satan như Thiên Chúa đã phán : “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy ; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót chân nó” (St 3,15).
Đức Maria là người Phụ Nữ ấy, là Nữ Tướng oai hùng ấy, bởi chính Mẹ đã cầm đầu cuộc chiến đấu của những người tin theo Đức Giêsu chống lại ma qủy và bè lũ.
1.   Đây là cuộc chiến của toàn thể các thiên thần và loài người :
Khải Huyền cho chúng ta thấy rõ : “Bấy giờ có cuộc giao chiến trên trời : thiên thần Micae và các thiên thần của Người giao chiến với con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến” (Kh 12,7).
Con Mãng Xà, tức Satan, cũng là Con Rắn xưa đã cám dỗ ông bà nguyên tổ trong vườn địa đàng. Nó là “tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ” (Kh 12,9). Bị xua đuổi khỏi thiên đàng, “nó bị tống xuống đất cùng với các thiên thần của nó” (Kh 12,9), và vì “nổi giận với người Phụ Nữ”, nó “đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà, là những người tuân theo các điều răn của Thiên Chúa và giữ những lời chứng của Đức Giêsu” (Kh 12,17).
Thật chính xác thành phần thuộc binh đoàn của Đức Maria. Binh đoàn này gồm các thiên thần và những người tin theo, làm chứng Đức Giêsu và tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa. Nói cách khác, họ là những môn đệ của Đức Giêsu, những tín hữu của Đức Giêsu, những người yêu mến, tin tưởng, vâng phục, và phụng sự Đức Giêsu.
Sở dĩ cuộc chiến gồm thiên thần và loài người, bao hàm cả các linh hồn nơi luyện ngục, vì ngay từ đời đời, Thiên Chúa đã quan phòng một Giáo Hội hiệp thông, hiệp nhất, một Thân Thể mầu nhiệm duy nhất, không phân ly, chia cắt, nên cuộc chiến chống lại Satan và bè lũ kiêu căng phản loạn chính là cuộc chiến toàn diện, toàn phần của Giáo Hội Đức Giêsu.      
2.   Đây là cuộc chiến rất cam go, gay cấn :
Cam go vì Satan là thần thánh. “Đó là một Con Mãng Xà, đỏ như lửa, có bẩy đầu và mười sừng. Đuôi nó quét hết một phần ba ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất” (Kh 12,3-4). Nó còn “đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà” (Kh 12,4).
Gay cấn, vì Satan quyết chiến với các thiên thần trung thành với Thiên Chúa, và với loài người đang được cứu độ, bằng tấn công trực diện vị Nữ Tướng chỉ huy binh đoàn những người tín hữu, môn đệ Đức Giêsu, do mối thù Thiên Chúa đặt giữa Satan và Đức Maria là mối thù muôn thưở, truyền kiếp, nên mãi đến muôn đời, Satan vẫn hung hăng tìm cách “giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà” (Kh 12,17).
3.   Đây là cuộc chiến có phân thắng - bại :
Cuộc chiến chắc chắn mang về chiến thắng vinh quang cho những ai đầu quân theo Đức Giêsu, nhờ Thiên Chúa tỏ uy quyền cứu độ của Ngài : 
“Thiên Chúa chúng ta thờ giờ đây ban ơn cứu độ, giờ đây biểu dương uy lực với vương quyền, và Đức Kitô của Người giờ đây cũng biểu dương, vì kẻ tố cáo anh em của ta trước toà Thiên Chúa nay bị tống ra ngoài” (Kh 12,10).
Thực vậy, mỗi người Kitô hữu là một quân binh của đạo binh Đức Maria. Chính Mẹ là Nữ Tướng chỉ huy, vì hơn ai hết Mẹ là người Kitô hữu đầu tiên và tuyệt vời, lý tưởng, có tất cả điều kiện để lãnh đạo, điều binh khiển tướng trong trận chiến chống lại Satan, mà ngay từ khi ông bà nguyên tổ bất trung, Thiên Chúa đã chọn Mẹ và tuyên chiến với Satan bằng tên của Mẹ : “Người Phụ Nữ”.
Là quân binh của đạo binh Đức Maria, khi cuộc sống đức tin của người Kitô hữu là một thách đố liên lỷ “đi ngược dòng đời”, vì tự căn tính, người Kitô hữu không được thế gian yêu thích, ủng hộ, như Đức Giêsu đã qủa quyết : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15,18-19).
Vì thế gian được Satan hướng dẫn và trợ giúp, nên sẽ không bao giờ buông tha người môn đệ Đức Giêsu, nhưng rình rập tìm mọi cách tấn công, đánh phá, làm cho người môn đệ thất vọng và từ bỏ Đức Giêsu, thầy mình.
Vì chủ trương tấn công, đánh phá, làm cho thất vọng, nên bất cứ kế họach, dự tính nào, công trình, công việc nào của người Kitô hữu khi “tuân theo các điều răn của Thiên Chúa, và giữ lời chứng của Đức Giêsu” (Kh 12,17), thì thế gian đều nhạo báng, chê cười, chế diễu, chọc gậy bánh xe, kiếm chuyện chống phá ; bất cứ người tín hữu nào hăng say, có tinh thần đức tin, có khả năng phục vụ, có điều kiện xây dựng cộng đồng đều bị thế gian “bắn sẻ”, vu khống, làm cho mất uy tín, danh dự, nhiệt huyết, hầu mọi người thất vọng, mất niềm tin và chính đương sự phải chán nản, buông xuôi, không còn dám dấn thân phục vụ ; bất cứ tổ chức, phong trào nào đem lại lợi ích cho các linh hồn, làm vinh danh Thiên Chúa đều là đích điểm số một của những cao trào bôi bác, hạ nhục, bới lông tìm vết của thế gian, để không người tín hữu nào còn nghị lực lên đường loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu.
Vốn mang cốt Thần, nên Thần Dữ Satan có đủ mưu chước và khả năng “thần thánh” để “mê hoặc toàn thể thiên hạ”, và gây hoang mang, mất tinh thần, chia rẽ ngay trong nội bộ của những người môn đệ Đức Giêsu, giữa hàng ngũ những quân binh Đức Tin, dưới cờ trận của Đức Mẹ.
Vì thế, khi quên mình là “người không thuộc về thế gian”, người tín hữu sẽ dễ bị thế gian dụ dỗ, để dùng lời thế gian mà rao giảng, dựa vào quyền lực thế gian mà mở mang Nước Chúa, chạy theo lời hứa của thế gian mà làm chứng Tin Mừng, để rồi sập bẫy thế gian, khi Lời Thiên Chúa không đến được với ai, Nước Thiên Chúa không hiện diện nơi nào, và lời chứng Tin Mừng trở thành phản chứng, khi chứng nhân biến thành kẻ phản bội, phản phúc.
Bởi khi mất ý thức : người môn đệ chỉ thắng được thế gian, ma qủy trong trận chiến đức tin, nếu “được giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7,14), vì chỉ duy nhất Con Chiên là Đức Giêsu mới thực sự là Đấng “chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh” (Kh 7,17), và chỉ Lời Thiên Chúa mới ban cho họ sự sống đời đời (Ga 1,4), người tín hữu sẽ khó có thể ở lại trong Đức Giêsu như cành nho gắn liền với cây nho (x. Ga 15,1-6), nhưng sẽ đi hàng hai, hàng ba với thế gian, ma qủy và trở thành kẻ nội tuyến, nội thù.
Bên cạnh sức công phá của thế gian, ma qủy là lực cản của chính “cái tôi” kiêu căng, ganh ghét, tham lam, ích kỷ. Lực cản này tuy bề ngoài không dữ dội, vì được khôn khéo ngụy trang, che dấu, nhưng luôn góp phần quan trọng làm cho cuộc chiến tăng phần cam go, khó khăn, bởi chỉ nguyên một chuyện : “Sự thiện tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19) cũng đã đủ làm mệt và “làm rách” nhiều việc của người Kitô hữu trong trận thư hùng với Thần Dữ.
Do đó, điều người tín hữu, quân binh của đạo binh Đức Maria không thể sao lãng, đó là chúng ta chỉ chiến thắng nhờ Đức Giêsu chịu chết và lời chứng kèm theo hy sinh về Ngài, như thánh Gioan Tông Đồ đã nhìn thấy trong thị kiến về những người đã chiến thắng ma qủy, thế gian, và cả chính bản thân mình : “Họ đã thắng được nó nhờ máu Con Chiên, và nhờ lời họ làm chứng về Đức Kitô : họ coi thường tính mạng, sẵn sàng chịu chết” (Kh 12,11). 
Đây chính là vũ khí, là chiến thuật, là binh pháp mà không một quân binh nào của Đức Giêsu, dưới cờ lệnh của Đức Maria được phép bỏ qua, hay không nhớ nằm lòng và triệt để thực thi, bởi không một vũ khí nào tối tân hơn, không một chiến thuật nào sắc bén hơn, không một binh pháp nào tinh tế, hữu hiệu hơn.
Nhờ máu của Đức Giêsu, Chiên Thiên Chúa, người tín hữu sẽ chiến thắng thế gian, ma qủy và Cái Tôi khi ngước nhìn Thánh Giá của Khiêm Tốn xóa mình, Thánh Giá của thương xót, cứu chữa, Thánh Giá của phó thác, xin vâng và Thánh Giá của thực thi Thánh Ý.
Nhờ máu của Đức Giêsu chịu đóng đinh, người môn đệ sẽ hiểu rằng ơn cứu độ không hệ tại ở lời hay ý đẹp của thế gian, không đến từ khôn ngoan của loài người, không phát sinh từ tính toán, mưu lược, thủ đọan của người thông thái, giầu sang, quyền thế, nhưng từ “Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1,24-25).
Và tinh thần chiến đấu cũng như khả năng tinh nhuệ của quân binh Đức Giêsu được biểu hiện qua đời sống chứng nhân của người môn đệ : làm chứng Đức Giêsu chịu đóng đinh và sẵn sàng hiến dâng mạng sống cho lời chứng ấy.
Vâng, là người đi theo Đức Giêsu, tất cả mọi Kitô hữu đều chung một chiến tuyến, đi chung trên một con đường, hướng đến cùng mục đích, bởi có cùng “một Đức Tin, một Phép Rửa, một Thiên Chúa là Cha”. Trong trận chiến cam go, trên hành trình gian khó, trước mục tiêu khó đạt, chúng ta có Đức Maria cùng chiến đấu, đồng hành và dẫn dắt, phù hộ.
Nếu ngày xưa, tại La Vang này, Đức Maria, Nữ Tướng của đạo binh Kitô hữu đã có mặt với đàn con Việt Nam bị bách hại vì tin Đức Giêsu và làm chứng về Ngài, thì hôm nay, cũng tại La Vang này, Đức Maria đang hiện diện giữa hàng ngũ quân binh của Đức Giêsu, con Mẹ. Nếu ngày xưa nơi rừng thiêng nước độc La Vang, Đức Maria đã hiện ra để che chở đàn con đang bị vua chúa truy lùng, thì nay Mẹ cũng hiện đến với các quân binh đức tin của thời đại mới đang vất vả chiến đấu với cuồng phong của các chủ nghiã chống báng, đối nghịch, phản bác Tin Mừng của Đức Giêsu ; đang nắm chặt tay nhau, chung lòng, chung sức, chung lời cầu xin để chiến thắng Thần Dữ đang phá hoại sự hiệp nhất trong Giáo Hội ; đang ngước mắt nài xin ơn sức mạnh và trung thành để không phản bội trước mãnh lực của quyền thế, tiền bạc, dục vọng đang làm băng hoại niềm tin yêu, phó thác vào sức mạnh bách chiến bách thắng của Bát Phúc ; đang  khao khát xin ơn đổi mới trái tim, hoán cải tâm hồn, trở về với Thiên Chúa của lòng xót thương.
Qủa thế, tại La Vang hôm xưa, hôm nay và mãi mãi, Mẹ sẽ không chỉ có mặt như Nữ Tướng chỉ huy, mà còn như Mẹ hiền băng bó, cứu chữa những đứa con trúng đạn quân thù ; Mẹ còn là Hiền Mẫu âu yếm, ủi an, nâng đỡ tinh thần xuống dốc của con cái, trước đe dọa của thế gian đang làm nghi nan, thất vọng, muốn buông súng đào ngũ, đầu hàng.   
Vâng, lạy Mẹ Maria !
Đường đời còn dài, sóng gió còn dữ dội, trận chiến còn cam go, xin Mẹ thương phù hộ, độ trì chúng con, là con và quân binh của Mẹ, đang gồng mình chiến đấu giữa biển đời hiểm nguy, để sau “cõi đời này, chúng con được thấy Chúa Giêsu, Con lòng Mẹ gồm phúc lạ. Ôi khoan thay, nhân thay ! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen” (trích Kinh Lạy Nữ Vương).
Jorathe Nắng Tím     

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

VŨ HÁN, ĐIỂM DỪNG HỒI TÂM

Hiện tượng dịch Corona từ Vũ Hán đến hôm nay đã làm 717 người chết và 34.000 người bị lây nhiễm kể từ ngày 24. 01.2020. Thế giới xôn xao, hốt hoảng, sợ hãi, vì sức lây nhiễm nhanh mạnh của virus NCOV. Nhiều biện pháp ngăn chặn làn sóng bành trướng của vi khuẩn được triệt để áp dụng, và ai cũng hy vọng các nhà khoa học sớm phát minh thuốc chủng ngừa dịch bệnh tai ác này.
Như nhiều người, những ngày qua, tôi đã đi qua nhiều con đường, đã gặp nhiều người, trải qua nhiều tình cảm :
Tôi đã đi qua nhiều con đường tháng trước còn sầm uất, đông đảo, với những siêu thị, quán ăn Châu Á chật kín, nườm nượp thực khách ra vào, nay vắng tanh, tiêu điều, ế ẩm. Tôi đã gặp nhiều người Trung Hoa cúi đầu lầm lũi vội vã bước đi, như muốn trốn tránh cái nhìn không mấy thiện cảm và thái độ kỳ thị không cần giấu diếm của người Tây phương bản xứ. Tôi đã có những tình cảm tiêu cực đối với nước Trung Hoa do chính sách tham vọng bá chủ, và trách nhiệm đã để nhiều loại dịch bệnh phát sinh và lây lan cho thế giới.
Nhưng sau những bước chân lang thang trên những con đường không còn nhộn nhịp, những gặp gỡ nặng nề mặc cảm, những tình cảm bực bội, coi thường, tôi giật mình nhận ra mình không còn quân bình trong phán đoán.
Trước biến cố Vũ Hán với dịch bệnh Corona, tôi đã không còn bình thường khi thừa thắng xông lên không tiếc lời lên án người Tầu với đủ thứ thói hư, tật xấu, từ ăn ở dơ dáy đến huyên náo, ồn ào bất kể sáng đêm, nhà riêng hay nơi cộng cộng, và phía sau không bình thường ấy chính là cơn giận từ mối thù truyền kiếp của ngàn năm nô lệ và căm phẫn đối với một dân tộc có máu bành trướng, xâm lăng, lúc nào cũng hung hăng, thủ đọan muốn ăn tươi nuốt sống quê hương tôi. 
Vũ Hán làm tôi không còn bình thường khi thích thú cho rằng : Trời đang thịnh nộ và thẳng tay trừng phạt một dân tộc kiêu căng, ngạo mạn dám khinh khi, thách thức cả Trời.
Tôi cũng hết còn bình tĩnh khi Corona từng ngày gia tăng con số nạn nhân, với tốc độ lây nhiễm đáng lo ngại trên toàn cầu. Tất nhiên, phiá sau của tình trạng hết còn bình tĩnh này là ước mong được chứng kiến một Trung Quốc suy yếu, tàn rụi, hoàn toàn bị knock out.
Corona Vũ Hán cũng biến tôi thành người không còn sáng suốt để phân định và tách rời chính sách của nhà cầm quyền ra khỏi nhân dân Trung Quốc, mà giữa hai bên là vực thẳm cách biệt : thiểu số hưởng mọi đặc lợi, đặc quyền, và đa số bất hạnh, lầm than, đáng thương, tội nghiệp.
Vũ Hán từng giờ được truyền thông nhắc tên, thống kê số người chết, người lây bệnh, nhưng tôi hoàn toàn vô cảm trước cảnh bị cô lập, bị tẩy chay, bị xa lánh, bị lãng quên, bị cấm vận, bị bỏ rơi trong tình trạng vô vọng chờ chết của hàng chục triệu người dân Trung Hoa vô tội, bất hạnh vì sinh ra đã là người Vũ Hán.
Những tường thuật về Vũ Hán tuy có làm giật mình, rùng mình, nhưng rồi lòng tôi lại cứng cỏi, chai đá ngay, khi mường tượng cơn dịch khủng khiếp đang từng giờ tàn phá này sẽ là vũ khí Trời cho để đánh bại một sức mạnh thô bạo từ phưng Bắc đang đe dọa không chỉ đất nước nhỏ bé của tôi mà còn gây phiền phức cho cả thế giới.
Thế mới biết : người ta chỉ lộ đầy đủ bộ mặt thật khi có chuyện, và tôi đây chính là trường hợp điển hình :
Khi có chuyện Vũ Hán, tôi mới lộ bản mặt không nhân ái và công bình của mình, vì chỉ một chuyện vơ đũa cả nắm khi lên án và trù dập toàn thể người Trung Quốc đã là bằng chứng tâm hồn hẹp hòi, nhỏ mọn của tôi ; chỉ một thái độ vô cảm trước tai ương, khốn khó của hàng triệu trẻ em, người già, gia đình nhỏ của các bạn trẻ ở Vũ Hán đang lâm cảnh thiếu thốn vật chất và tinh thần suy sụp vì bị cô lập và khinh khi, xa lánh cũng đủ cho thấy trái tim tôi đã già nua, cằn cỗi đến cỡ nào, vì cạn máu yêu thương.
Bởi có biến cố Vũ Hán, tôi mới khám phá ra cái tôi ích kỷ vĩ đại đang trầm trọng mọi chuyện có hại cho mình, đang nghiêm khắc với người không đem lợi cho mình, đang khắc nghiệt trừng trị những ai rắp ranh đe dọa sự sống của mình, và đang nhẫn tâm ra tay tiêu diệt những đối tượng rơi vào tầm ngắm của ganh ghét, thù hận.  
Vũ Hán cho tôi nhận ra tôi chỉ lo cho mình, mà không quan tâm đến ai, bằng chứng là cả bạn bè, người thân, tôi cũng không muốn gặp vì sợ lây nhiễm, nên bất cứ ai ghé nhà lúc này, tôi đều lạnh lùng tra hỏi, dò xét : Có đi Việt Nam mới về không đó ? Nếu mới từ Việt Nam về thì cảm phiền đừng vào nhà mình. Mình sợ Corona lắm !. Nỗi sợ lây nhiễm thái qúa đã biến tôi thành kẻ vô cảm vì ích kỷ đến đáng khinh, khi đang tâm bán rẻ tình bạn, tình gia đình, điều mà trước đây không bao giờ tôi có thể quan niệm.
Thế là tôi đã đánh mất tôi, khi người Trung Hoa ở Vũ Hán bị đồng hoá với virus Corona. Đánh mất chính mình, vì mình đã làm mất người khác, khi lấy đi quyền làm người có tên tuổi, có nhân vị, có hạnh phúc, ước mơ, và giản lược những con người có lịch sử, mang ơn gọi riêng biệt, sứ mệnh đặc thù, và là huyền nhiệm không thể lột trần vào một con virus có tên Corona ; đánh mất mình, vì mình đã đánh mất người khác là gương soi của chính mình, bởi không có người khác, tôi sẽ chẳng bao giờ biết tôi là ai, nhận ra tôi thế nào, vì một mình đơn độc, tôi có ai để đong đưa, đồng hành, so sánh ?  
Thế là tôi đã lạc đường, khi đóng đường sống của người Vũ Hán và đường lên của người dân Trung Hoa, bởi thế giới không còn là những ốc đảo xa lạ, không tương quan, nhưng là một ngôi làng với thôn trên xóm dưới thân thương qua lại. Do đó, đóng đường thiên hạ, tôi e ngại mình đang đóng đường mình.
Vũ Hán hôm nay bi thảm hơn Vũ Hán của tháng trước. Mới chỉ một tháng thôi, mà Vũ Hán đã lầm than, xơ xác, điêu tàn đến đáng thương, đáng sợ.
Và phút chốc trong ngao ngán cơn say bạo lực, trong chán chường ích kỷ hẹp hòi, trong dửng dưng trước cám dỗ hiềm khích, đố kỵ, tôi thấy mình vô duyên, lố bịch khi mọi người xếp lại chuyện xưa bất hoà để cùng đương đầu, đối phó dịch bệnh đang là tai hoạ của cả địa cầu ; thấy mình vô tâm, vô trách nhiệm, khi các quốc gia dồn hết nỗ lực để cứu người Vũ Hán và dân Trung Quốc thoát đại họa Corona ; thấy mình thiếu bác ái, từ bi, hỉ xả khi mọi người đồng lòng bầy tỏ tình liên đới, chia sẻ ; và nhất là thấy mình chưa lớn nổi thành người khi tuổi đã cao mà lòng quá thấp, khi thế giới bao la mà tim quá hẹp hòi, khi tình người tha thiết réo gọi, mà hồn vẫn chai đá, dửng dưng, đóng chặt.
 Jorathe Nắng Tím