Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2020

III. Ý NGHIÃ PHỤC VỤ TRONG TỪ THIỆN


Có nhiều người quan niệm: làm từ thiện là bố thí của cải dư thừa, cho người nghèo những gì mình không còn dùng, hay khá hơn là làm phúc cho người xấu số một số tiền như chút qùa nhân đạo. Cũng có người cho rằng: làm từ thiện là để chuộc tội riêng, tích lũy ơn phúc cho mình và gia đình hay đền trả những bất công, tai họa mình đã gây nên cho đời. Và quan niệm chung của đại đa số thường xoay  quanh hai trục: làm từ thiện là cho đi một phần của cải và việc làm từ thiện đem lại phúc đức, ơn lộc cho mình, cho người thân của mình.
Nếu chỉ quan niệm làm từ thiện như thế, thì yếu tính của việc làm từ thiện đã bị bỏ quên. Yếu tính đó là tinh thần phục vụ.
Đi làm từ thiện mà không mang theo tinh thần phục vụ thì việc từ thiện chẳng qua chỉ là một đổi chác, một câu chuyện bán buôn, thương mại: người nghèo như món hàng mang lợi nhuận là ơn phúc và tôi bỏ tiền mua lấy món hàng này. Người nghèo là mối lợi tinh thần mà chỉ nơi họ, tôi mới mua được trạng thái an ổn, thoải mái cho lương tâm và sắm sẵn cho mình phần phúc mai hậu. Việc từ thiện lúc đó trở thành chuyện đầu tư mà người thu lời chính là người bỏ vốn như quy trình tự nhiên của kinh doanh.
Qủa thực, nếu không cảnh giác đủ, ta sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng làm từ thiện vì mình, và từ thiện sẽ không còn mang ý nghiã nguyên thủy và phải có của nó.
Các nhà xã hội, luân lý, đạo đức đều đồng ý: yếu tính cuả từ thiện là tinh thần phục vụ. Phục vụ là hành động phát xuất từ tình yêu, nên không yêu không thể phục vụ. Phục vụ  nhắm thẳng đối tượng được phục vụ và chỉ duy nhất đối tượng này. Chệch đường phục vụ, sẽ tiếp ngay một khúc quặt nguy hiểm, đó là ích kỷ, trục lợi.   
Phát xuất từ tình yêu, phục vụ được nuôi dưỡng cũng bằng tình yêu và hướng đến tình yêu như mục đích. Khi làm từ thiện, ta làm vì yêu người cơ nhỡ, thiếu thốn, đau khổ và  giúp đỡ, chia sẻ với họ bằng chính tình yêu dành cho họ. Như thế người được giúp đỡ là nhân vật chính, đối tượng chính, người duy nhất hưởng phúc lợi. Phục vụ cho phép người cho - kẻ nhận bình đẳng, ngang hàng. Phục vụ nối nhịp cầu cảm thông, tin yêu giữa người nhận - kẻ cho. Phục vụ lấp kín hố sâu giai cấp và vô hiệu hoá chủ trương tranh đấu, bóc lột chủ - nô. Phục vụ tạo điều kiện cho một cuộc sống văn minh tình người và một xã hội kinh tế quân bình, hợp lý.
1.    Phục Vụ không dễ
Phục vụ khó như tha thứ, vì tự nó là một thách đố của tình yêu.
a.   Là thách đố của tình yêu:
Phục vụ đòi ta phải đặt mình ở nhịp độ của người ta phục vụ, thay vì bắt họ hoà vào nhịp độ sẵn có của ta. Phục vụ ai  là đáp ứng nhu cầu của họ khi họ cần, chứ không nhằm đáp ứng nhu cầu  của ta, dù nhu cầu ấy có chính đáng đến đâu đi nữa; vì thế  phục vụ không là hoạt động nhắm tìm thoải mái , niềm vui  riêng, nhưng nhắm hạnh phúc, niềm vui của đối tượng.
Khó khăn đầu tiên trong phục vụ là ta dễ dàng hăng say, nhiệt thành  hiến thân cho người  khác, nhưng cùng lúc ta không  chấp nhận họ làm trái  ý  ta, hay làm lệch lạc thời khoá biểu của ta.  Thí dụ : ta chỉ  muốn gặp người nghèo, khi ta khỏe mạnh, thành công, phấn khởi... nhưng ngược đời thay, người khốn khổ lại hay cần ta, tìm ta khi ta mệt mỏi, bận bịu, chao đảo, chênh vênh... Ta chỉ thích làm từ thiện đúng giờ, đúng giấc; nhưng oái oăm thay, người nghèo lại cần ta ở những giờ ta không hoạch định. Chính vì nhịp sống của ta không cùng nhịp sống của người ta giúp, nên để phục vụ họ, ta phải từ chối nhịp sống của mình để hoà vào nhịp sống của  họ; nhờ vậy phục vụ của ta mang giá trị lớn vì ta dám quên mình, bỏ mình vì yêu thương. Nói cách khác, phục vụ mang lại hoa trái của một tình yêu lớn khi tự đặt mình bé nhỏ và luôn sẵn sàng truớc nhu cầu của người khác. Bé nhỏ trước người yếu đuối là để nỗi đau của họ trong trí óc, tận trái tim, trên môi miệng, bên khóe mắt  của ta để có thể mau mắn đáp ứng nhu cầu khẩn thiết của họ. Sẵn sàng trước nhu cầu của người “thấp cổ bé miệng ” là ra khỏi “cái tôi chật chội, khép kín” để hoà vào nhịp sống của người đang cần ta chia sẻ . Trong bé nhỏ và sẵn sàng, ta đã vào cuộc đời người khác khi phục vụ họ để cùng chung nhịp  bước hạnh phúc của những người  đang cần “yêu và được yêu”.     

b.  Phục vụ khó, vì đòi  trung thành:
Tại sao phải trung thành khi làm từ thiện ?
Có hai nguyên nhân làm ta chóng chán và dễ buông xuôi khi làm từ thiện là yếu đuối trong ta và lỗi lầm nơi người được giúp:
· Trong con người ta luôn có hai yếu đuối làm cản trở bước chân bác ái, từ thiện. Đó là sự sợ hãi và tính lười biếng. Ta có thể thấy người khác đau khổ, nghèo đói, bệnh hoạn và biết họ rất cần ta; nhưng ta không muốn đến gần họ và  tìm giải pháp giúp họ. Thấy, biết và làm là một khoảng cách còn khá xa, một hành trình dài cần nhiều cố gắng, nỗ lực để vượt qua. Yếu đuối trong con người  ta là yếu đuối muôn thưở của quan chức vị vọng, giáo sĩ có  thần thế đã lạnh lùng liếc nhìn người bị bọn cướp đánh nhừ tử,  đang quằn quại “nửa sống nửa chết” bên đường, rồi thản nhiên bỏ đi, không một lời ủi an, một việc làm chia sẻ như  câu chuyện người Samaritanô nhân hậu trong Kinh Thánh (Lc 10, 29-37). Những người này đã bỏ đi, vì lịch làm việc của họ đầy kín, thời giờ của họ qúy báu, ít ỏi và nỗi đau của đồng loại không là ưu tiên trong sinh hoạt.
Câu chuyện người Samaritanô bác ái là hình ảnh người làm từ thiện chân chính, khi sẵn sàng bỏ thời giờ, tiền bạc vì người anh em bị nạn không hề quen biết. Cũng cùng tuyến đường với quan chức và giáo sĩ, ông thấy có người bị thương nặng đang rên rỉ một mình. Với tất cả tình nhân loại, ông đã xuống ngựa để yêu thương,  chia sẻ, cứu giúp với  thái độ tế nhị, ân cần, kín đáo. Ông đã vượt qua  khuynh hướng sợ “dây vào những việc thiên hạ làm gì cho rách việc” và tính lười biếng, “không muốn cái thân phải nhọc mệt vì những chuyện bao đồng” để thực hiện một việc từ thiện anh hùng: cứu sống một nạn nhân không hề quen biết. Vượt qua  sợ hãi và lười biếng là một hành vi anh hùng đã cho ông nhiệt tình dừng chân đến tận nơi, ẵm người bị nạn lên và tận tình đưa đến quán trọ để nạn nhân được băng bó, cấp cứu. Trước khi phải rời nạn nhân để tiếp tục hành trình, ông đã không quên thanh toán chi phí và gửi chủ quán thêm tiền chi phí ăn ở, thuốc men và dặn dò chủ quán chăm sóc cẩn thận.
Câu chuyện  người Samaritanô nhân lành thật cảm động và không lỗi thời, vẫn nhan nhản xẩy ra hôm nay, ở ngay nơi chúng ta đang sống.  
· Đó là về phiá người làm từ thiện. Về phiá  người nhận sự giúp đỡ cũng không thiếu lỗi lầm. Lỗi lầm thường gặp nơi họ là tính bất nhất, mâu thuẫn :  hôm qua họ vừa rối rít yêu cầu ta giúp đỡ chuyện này, sáng nay đã than thở đòi giúp chuyện khác và oái oăm thay, hai chuyện của hai ngày có khi lại hoàn toàn đối chọi, trái ngược nhau. Hơn thế nữa, vì nghèo, thất học nên họ không biết cư xử “ dễ thương, hợp lý” nhưng thường thô kệch, thiếu sót, đôi khi vô duyên, sống sượng  đến lố bịch, côn đồ. Giúp đỡ những con người nhiều thiếu sót, lầm lỗi này không dễ vì ta sẽ bị cám dỗ nói với họ : “Được, anh chị về đi và khi nào sống đàng hoàng, tử tế hơn, tôi sẽ trở lại giúp”.
Thế là từ thiện trở thành “tự biến”  khi cả  bên nhận, bên cho đều không chịu được nhau, nên cả hai cùng tự biến khỏi đời nhau, kết thúc chuyện làm từ thiện.
Trước khó khăn thứ hai này, chỉ có lòng trung thành mới giúp người làm từ thiện vượt rào cản trở.  Chỉ lòng trung thành mới  cho ta sức mạnh để chấp nhận những  thử thách và khó khăn do lỗi lầm của người khác và yếu đuối của chính ta. 
Lòng trung thành được xây trên kiên nhẫn và hy vọng. Cả hai được nuôi dưỡng bởi tình yêu. Khi trái tim rạo rực lửa yêu thương rồi thì bất cứ cơn gió tội lụy, yếu đuối, lầm lỡ nào cũng không dập tắt được.
Như thế, ngoài tình yêu dành cho những người anh em đau khổ, bất hạnh, ta không thể  tìm ra công thức nào khác  tốt hơn giúp ta trung thành mãi với lòng nhân ái qua việc làm từ thiện.
c.                       Phục vụ khó vì cần một thái độ trong sáng khi biết đón nhận những người khác cũng đang phục vụ như mình.  Tại sao có khó khăn này?
Khó khăn phát sinh do ảo tưởng: mình toàn năng và có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ. Chính ảo tưởng này gây nên ghen tuông, cạnh tranh, so sánh giữa những người cùng làm từ thiện. Khi làm từ thiện, ta không làm một mình, nhưng chung quanh có những người khác cũng làm từ thiện như ta. Đối diện và cùng làm với những người khác, ta sẽ thấy có khi họ giỏi hơn mình, làm được nhiều chuyện hơn mình, có ảnh hưởng hơn mình, hy sinh hơn mình...Từ đó ta thấy mình hụt hẫng khi khám phá mình không toàn năng và không làm được tất cả mọi sự. Bao lâu  chưa nhận ra căn tính của việc làm từ thiện là cởi mở cõi lòng, trải rộng tình yêu,  bấy lâu người ta dễ rơi vào tình trạng căng thẳng vì so sánh thành - bại của công việc, hơn thua trong ảnh hưởng, nặng nhẹ của số lượng trên bàn cân. Cốt lõi của vấn đề là tấm lòng cởi mở trong sáng cho nhau. Từ cõi lòng tràn đầy tình yêu ấy, mỗi người được mời gọi phục vụ tha nhân theo như khả năng và ơn gọi riêng của mình, nhưng tất cả quy về một mục đích là hạnh phúc của những người anh em đáng thương đang cần được chia sẻ, giúp đỡ.
Phục vụ là một thách đố của tình yêu thật. Nhờ phục vụ, bình an cư ngụ trong lắng đọng của tâm hồn. Qua phục vụ, con người gặp được nhau không chỉ với hình thức xã giao, nhưng với trọn vẹn hiện sinh chân thực của mình và đây chính là hạnh phúc tuyệt vời của đời một người đáng sống.   

IV. NHỮNG ĐỨC TÍNH CẦN THIẾT ĐỂ LÀM TỪ THIỆN


1.   Thương người :
Làm từ thiện phải hiểu là công việc dành cho những tâm hồn biết nghĩ đến người khác. Ích kỷ, tham lam không có chỗ trong khung trời từ thiện. Người làm từ thiện nhìn người khác mà thấy chính mình; nói khác đi : tha nhân là tấm gương phản chiếu hình ảnh của chính mình để rồi phải “thương người như thể thương thân”.
Thương người là muốn cho người bớt khổ, bớt đói, bớt lạnh, bớt đau, bớt dốt. Thương người là mong cho người no ấm, thành công, hạnh phúc. Thương người là mơ một thế giới người đói được ăn no, bệnh nhân được chữa trị, mọi người được học hành, hiểu biết. Thương người hệ tại lấy con người làm đối tượng, chọn con người làm mục đích phục vụ và không xem con người như phương tiện, công cụ cho bất cứ mục tiêu nào. Thương người  đặt con người  làm trung tâm để tất cả hoạt động phải được xoay quanh hạnh phúc của chính con người. Mất con người như trọng tâm, mất con người như cứu cánh, lòng thương người không giữ được căn tính vị tha của mình và không còn được coi là một đức tính nhân bản.  
2.   Khiêm tốn :
 Làm từ thiện mà tự kiêu, tự mãn, tự phụ thì không tránh được thái độ coi thường đối tượng của từ thiện là chính con người. Người kiêu căng không đến với người nghèo khổ, dốt nát bằng tấm lòng và thiện tâm. Họ chỉ đến vì lợi dụng và vì uy tín, danh dự của riêng mình. Người nghèo rốt cuộc chỉ là phương tiện phục vụ ý đồ vụ lợi của những người kiêu căng. Hơn thế nữa, người kiêu căng khó chấp nhận tính bình đẳng, nhân vị và những giá trị của người nghèo khi tự thấy mình giầu sang, quyền lực và ở vị thế kẻ cả, người ban ơn. Từ thiện khi đó sẽ mất hết ý nghiã của chia sẻ, đồng hành giữa con người với con người và chỉ còn lại tương quan “chủ - tớ, kẻ xin - người cho” kệch cỡm.
3.   Hy sinh:
Quên mình là điều kiện để thương được người khác. Thương ai mà không quên một chút “mình” và hy sinh cho hạnh phúc của người mình thương là một điều không thể thực hiện.
Vì thế, thiếu hy sinh trong hoạt động bác ái từ thiện là một điều khó quan niệm được. Làm từ thiện là thực hiện hành động xả thân vì người khác, quên mình vì tha nhân. Hy sinh là máu cho tình yêu sống. Hy sinh là nhịp thở của trái tim yêu thương. Nhìn những người làm từ thiện, ta thấy nét hy sinh rực sáng trên họ. Họ chấp nhận nhiều thiệt thòi, mất mát, kể cả những mất mát rất lớn như danh dự, uy tín khi bị hiểu lầm  vì thương những phận người kém may mắn hơn họ. Họ chịu đựng nhiều gánh nặng vật chất, tinh thần vì hạnh phúc và tương lai của những người cần đến họ. Giá trị của những người này chính là những hy sinh vì tình yêu họ đang trao tặng người khác. Cao qúy của những cuộc đời này chính là những giọt mồ hôi, những trăn trở thầm kín, những nhức nhối câm lặng vì dấn thân phục vụ những mảnh đời  bị ngược đãi, bỏ rơi, không tên tuổi. Hy sinh cho người khác, nhất là khi người khác nghèo khó, bệnh hoạn, không có cơ hội để trả ơn là hành động anh hùng của những  tình yêu vĩ đại; vì chỉ với tình yêu vĩ đại, người ta mới sẵn sàng xuống thật thấp, thật sâu để đến với những con người bị nhận chìm tận đáy sâu bất hạnh.  
4.   Biết hợp tác với mọi người:
Nhiều người có kinh nghiệm lâu năm trong hoạt động từ thiện đã chia sẻ: “cái khó nhất  là biết nghe nhau”. Tại sao phải biết nghe nhau ? Bởi không chỉ một mình ta làm từ thiện, nhưng còn nhiều người khác cùng làm với ta. Cùng làm nên đòi một tinh thần cộng tác ngay thẳng, cởi mở, chân thành. Nhiều người, nhiều ý, nhất là trong từ thiện : ý ai cũng tốt, nên dễ đi đến chỗ độc tôn, độc đoán, độc tài, độc quyền, có khi độc ác nữa. Vì từ thiện là làm việc tốt, nên tôi khó thay đổi hay từ bỏ những ý kiến, đề nghị hoặc quyết định của tôi, vì tất cả  đều tốt, đều là việc tốt và nếu tốt thì phải được thực hiện.
Đàng khác, những ý kiến, đề nghị, quyết định ấy không nhằm phục vụ tôi, nhưng phục vụ người nghèo nên được coi là những  điều tốt phải được mọi người ủng hộ. Chính vì tốt mà tôi ngoan cố đòi mọi người phải theo tôi, phải nghe tôi  thực hiện cho bằng được những sáng kiến của tôi. Cứ thử tưởng tượng : một nhóm  10 người làm công tác từ thiện và cả 10 người đều cương quyết bảo vệ bằng mọi giá sáng kiến từ thiện của mình.Và đây chính là nguy cơ phá vỡ nhiều công trình cần được mọi người hợp tác.
Thế nên tình thần hợp tác: biết nhún nhường để hợp tác, biết lắng nghe để hợp tác, biết xoá mình để hợp tác, biết nhượng bộ để hợp tác, biết hiền lành để hợp tác, biết quảng đại để hợp tác là điều kiện không thể thiếu khi cùng người khác làm từ thiện. Tinh thần hợp tác cũng nói lên đức tính cao qúy của người làm từ thiện là trân trọng và qúy mến những người cùng làm từ thiện như mình và công việc từ thiện của họ. Trong bầu khí lành mạnh này, ghen tuông, chỉ trích, so đo sẽ không có cơ hội phát sinh. 
5.   Không xét đoán động lực từ thiện của người khác:
Rất nhiều người hay đánh giá việc từ thiện của người khác, nhóm khác dưới cặp kiếng tiêu cực, nghi ngờ. Điều dễ nghi ngờ và dễ chụp mũ nhất, đó là động cơ, động lực của công việc từ thiện.
 Ghét ai, không ưa ai khi thấy họ làm  từ thiện là gán ngay cho nhãn hiệu: làm từ thiện vì muốn nổi tiếng, đi từ thiện để dễ lấy chồng, hăng say làm từ thiện vì cần được người khác tuyên dương công trạng, thành tích. Tính ghen ghét, ganh tỵ dễ làm những người cùng làm từ thiện xa nhau, tránh nhau, đố kỵ, chê bai nhau. Và đó là bi kịch của lòng nhân ái.
Đừng vừa làm từ thiện vừa châm biếm người làm từ thiện; vì như thế là làm giảm giá trị đạo đức trong công việc từ thiện mình đang làm. Cho dù biết rõ người khác làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo chỉ vì muốn nổi danh, hay tìm thanh thế, ảnh hưởng. Cứ bình an nghĩ rằng: thêm một bàn tay từ thiện là thêm được nhiều người bớt đói bớt khổ; vì dù mục đích của họ xấu hay tốt, họ vẫn là người có lòng; vì dám cho cái họ đang có; còn hơn nhiều người chẳng bao giờ dám chia sẻ, dùng tiền của mình giúp đỡ người khác túng bấn, nghèo nàn.

V. NHỮNG KHÓ KHĂN KHI LÀM TỪ THIỆN


1.   Dị nghị :
Làm từ thiện thường dính đến tiền bạc, có thể là tiền của bá tánh đóng góp, có thể là tiền của cơ quan, tổ chức ở xa... nhưng đã có mùi tiền là có dị nghị, lời ra tiếng vào. Tiền bạc cần thiết cho công tác từ thiện, nhưng cũng là nguyên cớ của nhiều thất bại trong từ thiện khi tiền không được kế toán minh bạch và xử dụng không đúng mục tiêu. Không thiếu những tổ chức từ thiện phải đóng cửa, tan hàng vì không chứng minh được chi thu. Không thiếu  những tâm hồn thiện chí phải buông tay, giã từ công tác từ thiện vì bị mang tiếng “biển thủ, lợi dụng tiền của người nghèo”.
Minh bạch trong chi thu là hoạch định ngay từ đầu lối vào, đường ra của tiền. Nếu chủ trương dùng hết tiền cho cứu trợ thì không cần nghĩ đến chuyện “tiền đẻ ra tiền”  bằng cách trích ra một phần tiền để đầu tư ngắn hạn, dài hạn. Nếu  rạch ròi ngay từ đầu nguyên tắc chi thu và công khai hoá tài chính thì không phải lấn cấn vì tham lạm, sai lầm hạch toán. Nếu cương quyết định rõ ranh giới quyền hạn của người trách nhiệm tiền bạc thì chẳng bao giờ phải đặt lại vấn đề tín nhiệm hay không tín nhiệm vì nghi ngờ, thắc mắc. Nếu tiền bạc từ thiện được xử dụng hợp lý thì chẳng sợ gì những “lời ong tiếng ve” của những người cố tình tấn công vì ác ý.
Trong một xã hội mà niềm tin không còn là một giá trị lớn, thì chuyện dị nghị, nghi ngờ là những chuyện thường ngày trong nhà, ngoài ngõ. Vì thế đôi khi cũng phải “phớt tỉnh Ăng Lê “để bình tâm làm việc từ thiện.          
2.   Khủng hoảng niềm tin :
Trong khi viết những giòng này, tôi đọc trên mạng rất nhiều  bài viết về chuyện làm từ thiện ở Việt Nam hôm nay. Các bài viết có ba khuynh hướng rõ rệt: Khuynh hướng thứ nhất chống triệt để việc Việt Kiều về nước làm từ thiện và giúp đỡ những tổ chức từ thiện ở quê nhà. Lý do được trưng dẫn là hầu hết các trung tâm từ thiện ở Việt Nam đều do những tay bịp bợm khai thác và tiền bạc thu được đều đổ vào túi những con buôn từ thiện này. Nhiều bài đã công khai nêu đích danh người sáng lập và điạ chỉ của trung tâm bị chỉ trích. Khuynh hướng thứ hai là không chống việc làm từ thiện ở Việt Nam, nhưng đề nghị không giao chuyển  tiền bạc cho bất cứ tổ chức hay cá nhân nào, mà phải tự mình trao tận tay người được trợ giúp. Lý do cũng như trên; vì không tin tưởng những người trung gian. Còn lại khuynh hướng cuối cùng là chấp nhận làm từ  thiện “hên xui may rủi”; nghiã là đành lòng gửi tiền giúp các trung tâm từ thiện nhưng xác xuất tin tưởng “toàn phần số tiền đến tay người cần được giúp đỡ ” rất thấp, nhưng vẫn chấp nhận.
Những bài viết trên mạng với ba khuynh hướng vừa kể phần nào đã nói lên tình trạng niềm tin bị khủng hoảng. Người ta không còn tin vào nhau nữa. Có thể vì kinh nghiệm chua cay, bẽ bàng làm người ta không dám đặt niềm tin vào người khác; có thể họat cảnh xã hội ngày nay bị ô nhiễm quá trầm trọng đến độ niềm tin trở thành một điều gì đó rất xa lạ, tưởng như không có. Không có niềm tin, con người khó gửi gắm nhau tâm sự, ước mơ, tiền bạc. Vắng bóng niềm tin, người ta cũng mất đi nhiều cơ hội xây dựng hạnh phúc cho nhau và dễ mất nhau trong dửng dưng, xa lạ. Hiện tượng mất niềm tin nơi những người làm từ thiện, dù đến từ đâu và dưới góc cạnh nào, ít nhiều cũng gây ra hậu qủa rất tiêu cực cho những nỗ lực phục vụ đồng bào xấu số của nhiều người thành tâm, thiện chí luôn cần bàn tay đóng góp của mọi người. 
3.   Cám dỗ : “tìm mình, chỉ có mình:
Bản chất của công việc từ thiện là cao qúy, nên có thể gây cho người làm từ thiện ảo tưởng “mình là người hùng, thánh nhân, ân nhân của nhân loại”. Không thiếu những phô trương lố bịch nơi một số người làm từ thiện và không thiếu những cạnh tranh ấu trĩ giữa những người cùng làm từ thiện, giữa những tổ chức từ thiện vì những tước vị ảo, danh dự hão.
Như đã trình bầy ở trên: làm từ thiện là phải quên mình và chỉ  tìm kiếm hạnh phúc của người được giúp đỡ, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Tìm mình, vinh danh mình trong khi giúp người thiếu thốn hơn mình là thiếu sòng phẳng, công bằng. Dùng việc  từ thiện là phương tiện để tiến thân là không lương thiện ; bởi  lợi dụng sự có mặt khổ đau của người nghèo cho lợi ích cá nhân cũng đáng trách như hành vi  tham lạm, chiếm đoạt, riả rói tiền bạc của người nghèo.
Ý thức cơn cám dỗ “tìm mình, chỉ vì mình ” để tránh tìm danh, tìm ảnh hưởng xã hội  cho riêng mình khi làm từ thiện  là nhắc nhở cần thiết cho người làm từ thiện. Rất ít người  lợi dụng tiền bạc của người nghèo khi làm từ thiện, nhưng một số không nhỏ có thể dùng  người nghèo như những nấc thang cho địa vị và danh thơm của họ trong xã hội.
Xoá mình khi phục vụ người cô thân, yếu thế, phận nhỏ hẩm hiu đòi quên mình triệt để; bởi không quên mình, cơn cám dỗ danh vọng, quyền lực sẽ khó buông tha khuynh hướng vị kỷ vốn tiềm tàng nơi mỗi người, nhất là khi họ đang đóng vai “người thi ơn, kẻ ban phát”.  
Bên cạnh cám dỗ “tìm mình” là cám dỗ “chỉ có mình”  khi thành qủa của từ thiện được nhiều người biết đến, khi công tác từ thiện tạo được tiếng vang, bùng lên ngọn lửa phong trào.
“Chỉ có mình” là thái độ tự mãn đưa đến độc tôn khi coi thường hay phủ nhận thành công, đóng góp của những tổ chức từ thiện “bạn bè, láng diềng, lân cận”. Thái độ ấy càng nguy hiểm khi biến chất thành đối đầu, đối kháng, đối nghịch với chính những người cùng một chí hướng, theo đuổi cùng một lý tưởng phục vụ người nghèo, người bệnh, người thất học.
Như thế mới biết: làm từ thiện không dễ vì đòi nhiều điều kiện; bởi  từ thiện là một nghề: nghề yêu thương, nghề phục vụ, một nghề cao qúy và khó nên cần được quan tâm đào tạo và trui rèn qua luyện tập, thử thách.      

4.   Tính bi quan, cầu toàn :
Ước vọng chung của tất cả những ai dấn thân làm từ thiện là hạnh phúc của nhân loại. Giấc mơ của những tâm hồn thiện nguyện này là thế giới không còn người đói, người bệnh, người thất học. Chính vì thế, hơn ai hết, họ dễ rơi vào tình trạng tâm lý cầu tòan; nghiã là muốn công việc từ thiện của họ mang lại kết qủa không những nhiều, lớn mà còn “ tuyệt diệu và ngay lập tức”. Họ cảm thấy bực bội khi  những người nhận sự giúp đỡ từ họ cứ “ tỉnh bơ, nhẩn nha, thong thả, hay ù lì ” trong ngõ bí cuộc đời. Đôi khi họ giận dỗi những  người nghèo khi những người  này không tỏ ra mau mắn, sốt sắng tìm đường thoát thân khỏi cảnh nghèo. Đến một lúc, họ chán nản vì cho rằng: công sức và tiền bạc của họ đổ vào đều vô ích.  Kết qủa là họ bi quan, không hứng thú làm từ thiện nữa.
Tâm trạng cầu tòan và bi quan trên không thiếu nơi những người làm từ thiện; nếu họ không chấp nhận từ đầu: làm từ thiện đòi một tầm nhìn xa, không đợi kết qủa trước mắt nhưng nhẫn nại chờ ngày muà, như hạt lúa cần thời gian để thối đi, nẩy mầm, lớn lên và trổ bông, đơm hạt.
Một điểm quan trọng khác cần phải xác định  là “ưu tiên số một” của từ thiện không là thành quả nắm bắt ngay, thấy được ngay, kiểm chứng được liền tại chỗ;  nhưng chính là sự có mặt “cảm thông, chia sẻ”  của con người bên những con người khác trong cơn túng quẫn, thất thế, sa cơ để làm nổi bật giá trị của tình người . Ưu tiên số một ấy cho thấy đâu là đất người, đâu là đất lành, đâu là nơi con người sống. “Nơì nào, ở đâu” đó chính là nơi có những con người đang yêu thương, chia sẻ, đùm bọc, nâng đỡ, dắt dìu nhau.
Ưu tiên số một này còn là dấu ấn không thể phai của một cộng đồng nhân loại được thành hình, sinh hoạt và mãi mãi trường tồn bởi những con người đã dám yêu thương bằng hành động hiến dâng, chia sẻ. Ưu tiên số một ấy còn  là dấu chứng không thể chối cãi của một thế giới loài người luôn ý thức điều kiện căn bản của cuộc sống con người là một cuộc “sống chung, sống với”, ở đó không ai là một hòn đảo và mọi người đều liên đới, gắn bó, cột chặt vào nhau bằng giây ân tình như “giây mơ rễ má” để  cùng sống và cùng phát triển.
Khi sự hiện diện có “tình người” được coi là “ưu tiên một” khi làm từ thiện, ta sẽ an tâm khi biết sự có mặt bằng xương bằng thịt, bằng mồ hôi nhọc mệt, bằng nụ cười yêu thương, bằng thái độ vui vẻ, lịch thiệp, bằng cung cách tương kính, nhã nhặn mà  ta đang cố gắng có sẽ tạo điều kiện cho  nhiều phép lạ của tình người được thực hiện. Phép lạ lớn nhất của việc làm từ thiện là sưởi ấm  trái tim giá lạnh cô đơn của người bất hạnh  Phép lạ vĩ đại nhất của công tác từ thiện là mạc khải cho người xấu số một chân lý: vẫn có người thương họ trong cuộc đời. Phép lạ thường xuyên nhất khi dấn thân làm từ thiện là khám phá hạnh phúc lớn lao, sâu sa, lắng đọng nhất ở con người là biết mình còn có chỗ trong tim người khác. Từ thiện khi đó mang một chiều kích siêu hình vì chạm tới sâu thẳm mầu nhiệm của Tuyệt Đối : Thượng Đế.

VI. TUỔI TRẺ VIỆT NAM HÔM NAY VÀ “LÀM TỪ THIỆN”


Những ngày dong duổi trên khắp nẻo đường quê hương từ thành phố xa hoa, “ăn chơi lút cán” đến thôn xóm nghèo “chưa từng thấy”, tôi đã chứng kiến, gần gũi và trải nghiệm một tuổi trẻ rất đa dạng. Đa dạng ở sức sống, đa dạng ở sinh hoạt, đa dạng ở góc nhìn, tầm ngắm. Có những bạn trẻ miệt mài, nhưng cũng không thiếu những bạn trẻ sa đoạ. Có những bàn chân luôn cố bước tới, nhưng cũng còn đó nhiều biếng lười, dựa dẫm, ỷ lại. Có những giọt mồ hôi mặn  nồng hy sinh, nhưng cũng có những bàn tay nhẫn tâm phá hoại. Có những tận tụy ân cần và cũng có những lạnh lùng, dửng dưng.
 Những đa dạng này xem ra muốn báo động một tuổi trẻ đang bị khủng hoảng trầm trọng. Tuổi trẻ khủng hoảng trong căn tính, trong suy tư, ngay trong môi trường sống. Nét đa dạng cũng cảnh giác một khủng hoảng niềm tin, khủng hoảng bậc thang giá trị. Nét đa dạng ấy cũng kín đáo mời gọi người lớn cần tín nhiệm tuổi trẻ hơn và trở nên một tấm gương, một  mẫu mực cho họ
Trước những bế tắc của hiện tại, đe doạ của tương lai, tuổi trẻ dễ rơi vào tình trạng mất hướng, mất điểm tựa, mất thăng bằng. Tất cả đều không xa và nhanh chóng dẫn đến “cái mất chính mình”.
Trên đây là bức tranh về tuổi trẻ Việt Nam hôm nay do tôi tự vẽ ra  từ những gì tôi thấy và cảm nhận trên quê hương tôi. Nó có thể mang tính chủ quan và  phiếm diện ; nhưng bức tranh ấy  giúp tôi can đảm nhìn sự thật và  khiêm tốn đón nhận thực tế để không một kiêu hãnh, tự hào qúa đáng nào, dù là tự hào dân tộc có cơ may lấn lướt công tác nhận định rất tế nhị tôi đang làm. Cũng nhờ vậy mà  tôi không bi quan, hay trầm trọng hoá bất cứ vấn đề nào tôi gặp nơi người trẻ. Tôi luôn mến thương và đặt niềm tin nơi họ vì ở đâu, bất cứ điểm dừng chân, buổi gặp gỡ, trao đổi nào, tôi cũng nhận ra ở người trẻ Việt Nam  một mẫu số chung. Đó là thao thức đi tìm, băn khoăn muốn biết và liều lĩnh muốn mạo hiểm. Với tôi, đó là ba chân kiềng cần thiết làm thành ước mơ và giá trị của tuổi trẻ. Đó cũng là những điều làm cho bức tranh tuổi trẻ có giá trị vì mang tính thách đố hiện thực. Ở đây, tôi chỉ có thể đề cập về mẫu số chung này trong phạm vi “làm từ thiện” , đề tài được chọn để chúng ta cùng chia sẻ.
Thực vậy, nếu nghiên cứu sinh hoạt làm từ thiện ở Việt Nam, ta sẽ bỡ ngỡ và vui mừng khi thấy thành phần trẻ chiếm đa số. Ở trung tâm nuôi trẻ khuyết tật Di An, không ngày nào văng bóng các bạn sinh viên, học sinh từ thành phố đến thăm và sinh hoạt với các em bé mồ côi, khuyết tật. Những chuyến công tác  cuối tuần gồm toàn bạn trẻ hăng say phục vụ người nghèo, người bệnh ở các vùng  thôn quê, hẻo lánh, nghèo nàn. Các chương trình khám bệnh từ thiện của các bác sĩ trẻ, xây dựng nhà cho dân nghèo của các sinh viên Kiến Trúc, hướng dẫn y tế thường thức của sinh viên các trường Y Khoa ... và nhiều tổ chức, sinh hoạt từ thiện được khởi xướng và sinh hoạt do các bạn trẻ đã nói lên tinh thần trẻ: nhập cuộc và phục vụ  của tuổi trẻ Việt nam hôm nay. Đây là niềm tự hào của giới trẻ và cũng là niềm hãnh diện của mọi  người Việt Nam; bởi bao lâu người trẻ còn  dám dấn thân hy sinh phục vụ, bấy lâu đất nước và nhân loại còn  tràn đầy niềm hy vọng thăng tiến. Cái đáng lo của một dân tộc là khi tuổi trẻ của dân tộc ấy không còn biết băn khoăn, thao thức và dám liều lĩnh mạo hiểm. Rất may, tuổi trẻ Việt Nam còn rất đông những người có đủ ba chân kiềng Băn Khoăn, Thao Thức, Liều Lĩnh này.
Người trẻ đã học được gì trong công việc từ thiện ? Nói cách khác, người trẻ đã gặt hái được những gì cho chính mình khi chấp nhận “tự đào tạo” qua các công tác nhân đạo, từ thiện ? .
1.   Trước hết, họ ra khỏi vỏ ốc kiêu căng, háo thắng thường gặp nơi những người trẻ thành công trong học vấn, hoặc thuộc gia đình  sang giầu, bề thế. Tham gia công tác từ thiện giúp bạn trẻ nhận ra tính tương đối của kiếp người khi đối diện với những mảnh đời bất hạnh, xấu số hơn mình. Họ sẽ nhờ những lần gặp gỡ cận kề người đau bệnh, tàn tật để hiểu ra rằng  những gì họ có đều là hồng ân, những gì họ hưởng phần lớn không do họ làm ra, tự tạo, nhưng do tình yêu, lòng tốt, tận tụy hy sinh của nhiều người, khởi đầu danh sách những ân nhân này là cha mẹ, gia đình, thầy cô...Tính kiêu căng, ngạo mạn, khinh người hay các kiểu “chảnh ”, “nhìn đời bằng nửa con mắt”  sẽ bớt dần khi những khổ đau thân xác và tinh thần của những người họ phục vụ đánh thức và nhắc nhở họ về tính vô thường của đời sống và những giới hạn rất đáng thương của kiếp người.
2.   Người trẻ sẽ tránh được căn bệnh thời đại rất nguy hiểm là Vô Cảm. Vô cảm là dửng dưng trước sự có mặt, đời sống và hoàn cảnh của người khác. Người vô cảm không quan tâm đến ai, nói chi đến khổ đau, hạnh phúc, vui  buồn, thành công, thất bại của người chung quanh. Họ không biết “vui với ai mừng vui, khóc với ai đang khổ sầu”. Trái tim sơ cứng, trí khôn đặc sệt một chất vô cảm có sức tàn phá  kinh khủng biến họ thành vô tâm, vô tình đối với tha nhân và vô phương, vô vọng, vô phúc cho chính bản thân họ.
 Bệnh Vô Cảm làm xã hội loài người bị đóng băng, biến gia đình thành địa ngục và khai tử tâm hồn bằng gieo hạt độc “trống vắng”. Không trống vắng sao được khi vô cảm làm họ chẳng giữ được dù là một chút tình cảm của người khác trong trái tim. Trái tim không rung cảm, không mang ân tình, không lưu trữ hình ảnh yêu thương, dấu ái làm sao được gọi là trái tim hạnh phúc, yêu thương ? Trái tim không còn nhậy bén trước một mời gọi, không còn trăn trở cho hạnh phúc, không còn rạo rực,  bâng khuâng khi mới yêu,  không còn xót xa, xao xuyến khi chia lià, không còn ngây ngất, đam mê khi trao dâng - đón nhận thì làm sao còn được gọi là tổng hành dinh của sự sống ? Trái tim ấy chỉ còn là một lỗ hổng vô vị, một cục thịt thừa thãi tai ương, một trống rỗng đáng nôn mửa mà sự sống của nó không hơn “cái chết lâm sàng”.
3.   Sự hiện diện của người thiếu thốn, nghèo khổ, bệnh tật cũng sẽ giúp người trẻ phản tỉnh để rồi tự hổ thẹn về lối sống thực dụng nếu có của mình và  nhìn ra những lố bịch của một đời sống hoang phí, ích kỷ, hưởng thụ, không có ích cho ai . Bên cạnh căn bệnh vô cảm là hiểm hoạ thực dụng. Cả hai là những bệnh nan y khó chữa cần được đề phòng và chích ngừa thường xuyên bởi một thứ thuốc rất rẻ, có sẵn trong trái tim mỗi người. Tên loại thần dược ấy  là Yêu Thương.
4.   Người trẻ khi làm từ thiện không những thấy được sự thật về con người qua hoàn cảnh “tội nghiệp”, mà còn khám phá tính mầu nhiệm của sự sống con người.
Họ sẽ cảm nghiệm sự sống rất  huyền bí, mầu nhiệm. Sự sống ấy mong manh, dễ mất, dễ tan, nhưng rất cao qúy và tuyệt vời. Mầu nhiệm sự sống của con người ở ngay chính trong những khổ đau, trần trụi, giới hạn rất thảm thương của con người. Nó hiện diện trong chính thân phận mỏng dòn của con người. Nó mặc nguyên hình con người trong bé nhỏ, yếu đuối của con người; nhưng đằng sau tất cả những giới hạn, sự sống con người nổi bật lên tính mầu nhiệm, huyền bí.
Dường như Thượng Đế đã đích thân can thiệp để con người được thông phần tuyệt đối xuyên qua mầu nhiệm sự sống. Nhờ cảm nghiệm  mầu nhiệm sự sống, người trẻ sẽ biết trân trọng sự sống mà khi đứng trước nó, trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người chỉ còn một chọn lựa duy nhất là phải cứu lấy sự sống với bất cứ giá nào. Như thế, sự sống sẽ không còn bị xếp vào những hàng số và gọi tên bằng các số thứ tự để thêm bớt, lên xuống tùy tiện kể cả  vì một lý do không chính đáng và bằng những phương thế phi nhân, phản lại chính sự sống.
Sự sống nhờ được tôn trọng sẽ giữ được phẩm giá của mình và không ai có thể ngang ngược coi thường, huỷ hoại sự sống. Trong nền văn minh của sự sống mà người trẻ vẫn tự hào là tác viên, sự sống phải được tuyệt đối tôn trọng, tôn trọng đến cùng cho dù sự sống ấy chỉ còn là một hơi thở thoi thóp, một thân thể  gầy giơ xương, một dáng dấp tàn phế vô dụng.
Học biết tôn trọng giá trị sự sống là nét đẹp của người trẻ, sức bật của nền văn minh sự sống, một nền văn minh mà người trẻ đã chọn như lý tưởng, đối nghịch với  nền văn minh sự chết là những gì đe doạ, ngăn cản, phá hủy sự sống của con người.
Làm từ thiện như thế đã trở thành một trường đào tạo mà người trẻ tự nguyện gia nhập để tự đào tạo mình: đào tạo thành  một con người mới với cái nhìn vị tha, xây dựng một nhân cách mới với thái độ hướng đến cộng đồng, thay đổi một qủa tim mới bằng thịt để bớt chai đá, nhưng nhân ái, hiền lành hơn. Tất cả là một chương trình tự đào tạo tuyệt vời mà việc làm từ thiện đề nghị.
Không gì tốt hơn là học sống làm người bằng sống với người, tập yêu thương con người bằng yêu thương người chung quanh,  học chia sẻ với đồng loại bằng chính hành động sẻ chia  trong đời thường với những người kém may mắn. Như thế, tương lai một quốc gia, hạnh phúc của một dân tộc chắc chắn sẽ được bảo đảm nhờ xác tín vững chắc và dấn thân qủa cảm của những người sẽ nắm vận mệnh nhân loại sau này là tuổi trẻ hôm nay, khi họ biết thao thức, băn khoăn và liều lĩnh lên đường phục vụ vì hạnh phúc của những người  đang cần đến lòng tốt và hy sinh của họ.
 Hôm qua tôi nhận Email của Quỳnh, cô cháu tôi viết : “ Chú ơi, con mới đi thăm Lều Cỏ về, nghe thầy Ngọc bảo người chủ đất muốn bán đất cho một công ty ngoại quốc nên xin thầy dời anh chị em Sida đi nơi khác. Thầy không biết sẽ đi đâu với 22  người con Sida của thầy... Cháu thấy tội quá. Chị Dung nói ở Bình Dương có một miếng đất khá rộng, dời Lều Cỏ lên đó thì tuyệt, nhưng giá trên 6 tỷ cơ ... Trên đường về, hai đứa đã mua 10 vé số với hy vọng trúng to để có tiền mua đất cho thầy Ngọc làm Lều Cỏ. Chú cầu nguyện nhé !”.
Tôi không hy vọng Dung và Quỳnh sẽ trúng số để có tiền mua đất cho thầy Ngọc giúp bệnh nhân Sida ở thời kỳ cuối, nhưng tôi thấy mình đã trúng lớn khi Email của cháu Quỳnh làm chứng cho những gì tôi viết ở trên về tuổi trẻ Việt Nam hôm nay giữa một xã hội “thực dụng, tiêu thụ - hưởng thụ” tưởng không còn gì đáng nói, để nói nữa.
Và cứ thế, người trẻ Việt Nam vẫn mãi miệt mài, hăng say trong công tác từ thiện dưới nhiều hình thức. Có bạn thích lo cho trẻ em khuyết tật, có bạn chăm lo người già, có bạn dành nhiệt tình cho người nghèo dân tộc, có bạn chuyên chăm dậy các em bé thất học, bụi đời... Như Quỳnh, tuổi trẻ Việt Nam  đằm thắm, dễ thương, ân cần, tế nhị, nhẹ nhàng, kín đáo. Như Hạnh, người trẻ Việt Nam  nhẫn nại, hy sinh, kiên cường, nhiệt thành, nhiều sáng kiến và chịu chơi vô cùng...Và như tất cả bạn trẻ Việt Nam,  chúng ta hãy cùng nhau tận tụy  gieo mỗi ngày những hạt giống tâm hồn “Tình người”,  chờ  ngày mùa sẽ đến, cho người đói rét được no ấm, bệnh nhân được chữa lành, thất học được đến trường và cõi lòng tan nát được san sẻ, ủi an. 

LỜI KẾT (Tác phẩm : Người Nghèo Và Từ Thiện, Tác giả Jorathe Nắng Tím)


Viết về từ thiện là hướng lòng về người nghèo, người nghèo có thể là bác xe ôm hàng xóm với năm đứa con nhỏ bụng ỏng da chì, hay cụ già cuối thôn cô qủa, mà cũng có thể là chính tôi, người đang viết những dòng này; bởi nghèo không chỉ tóm gọn trong thiếu thốn vật chất, mà có thể nghèo ở tinh thần như nghèo kiến thức, nghèo đạo đức, nghèo tư duy.
Nếu tuổi thơ có tâm lý tuổi thơ, tuổi già có tâm lý tuổi già, người giầu có tâm lý người giầu, thì người nghèo cũng có những đặc tính riêng, những vấn đề riêng, những suy tư, chọn lựa riêng không giống những người thuộc các thành phần xã hội khác.
Trước hết, người nghèo là người mang nhiều mặc cảm: mặc cảm nghèo, mặc cảm thua thiệt, mặc cảm bị Trời đoạ đầy, mặc cảm bị người đời bỏ rơi, mặc cảm không được lắng nghe, mặc cảm là người “không tiếng nói”, mặc cảm không được tham dự, góp phần, mặc cảm bị cô lập, khoanh vùng, mặc cảm vô tích sự, gánh nặng của cộng đoàn, mặc cảm thừa thãi, vô dụng, mặc cảm vô tài, bất lực, mặc cảm ăn bám ở nhờ, mặc cảm tầm gửi, lệ thuộc… và vô số những mặc cảm  không tên khác.
Vì mang qúa nhiều mặc cảm, người nghèo rất nhậy cảm trước cái nhìn, lời nói, thái độ của người khác, nhất là của những người thân cận, quen biết, hay những người giúp đỡ họ. Họ dễ hiểu lầm cái nhìn của người khác, dễ tủi thân khi nghe những lời không êm tai, dễ đau khổ trước thái độ thiếu tôn trọng và ân cần. Tâm hồn người nghèo như sợi giây đàn qúa căng, nên chỉ cần chạm nhẹ cũng đủ  rung lên tiếng lòng bi thương, ai oán.
Sẵn căng thẳng vì cảnh nghèo,  trái tim người nghèo như liên lỷ lên cơn sốt, động một tý là nhiễm độc, sơ sẩy một chút là  bị tổn thương, nên những sơ ý của người khác dễ trở thành  niềm đau, nỗi nhục của họ. 
Vì thế, đến với người nghèo bằng thái độ kẻ cả, trịch thượng là xúc phạm họ; giúp đỡ họ mà kể công, tạo áp lực là chà đạp họ; cho họ cơm ăn, áo mặc mà  nạt nộ họ là xỉ nhục họ; giúp họ “xoá đói giảm nghèo” mà chì chiết, mặt nặng mặt nhẹ với họ là vùi dập họ chìm sâu hơn; chia sẻ, bàn bạc với họ để giúp họ ra khỏi cảnh nghèo mà lên lớp dậy dỗ  là đẩy họ vào chân tường thất bại.
Bởi người nghèo sẵn “nghèo” nên sẵn sàng liều lĩnh phí đời, buông đời khi bị xỉ nhục. Bởi người nghèo sẵn không có gì, nên chẳng có gì được coi là quan trọng cần phải cất giữ với họ, kể cả sự sống, khi bị người khác coi thường, khinh khi. Và đó chính là lý do khiến những người làm từ thiện phải đặc biệt lưu ý, hầu tránh gây thêm khổ đau, buồn tủi cho người nghèo đang khi mình thực lòng muốn chia sẻ, ủi an, nâng đỡ họ.
Để tâm hồn người làm từ thiện luôn nồng nàn tình yêu người nghèo và cái nhìn, lời nói, thái độ của họ mãi là những hạt giống Hy Vọng, Tin Yêu, tưởng  không gì hay hơn là thắp sáng trong tim  tâm tình biết ơn người nghèo.
Qủa thực, không gì phi lý hơn khi mang của đi cho mà còn phải biết ơn. Nhưng đó là suy nghĩ bình thường, dễ đưa đến thái độ coi người nhận sự giúp đỡ “thấp cơ, dưới trướng, không cùng đẳng cấp” với mình. Đó cũng là lý do dễ biến những người làm từ thiện trở thành những người đạo đức “tự mãn, tự hào” với công trạng của mình.
Khác với ý nghĩ trên là tâm tình biết ơn người nghèo; vì chính  nhờ người nghèo mà ta nhận ra ta cũng nghèo như họ, nếu có khác là khác ở phạm trù nghèo, và mức độ nghèo. Biết ơn người nghèo  cũng giúp ta tránh kiêu căng, ngạo mạn khi nghĩ mình chẳng bao giờ nghèo, vì ai biết hết được ngày mai? Nhưng quan trọng hơn là người nghèo cho ta cơ hội chia sẻ, phục vụ và nhờ đó, ta biết sống tình người; và nhờ có tình người, đời ta được coi là  một đời người đáng sống, có giá trị.
Tâm tình biết ơn người nghèo rất cần thiết, vì người nghèo mang lại cho đời ta phúc lộc. Sở dĩ họ mang lại ơn phúc, vì người nghèo là người của Trời, Phật, người được Trời yêu thương, được Phật che chở, và ai phục vụ người nghèo, người ấy được Trời thương, Phật phù hộ. Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo đã khẳng định người nghèo được Thiên Chúa yêu thương và ai làm phúc cho người nghèo là “làm phúc” cho chính Thiên Chúa: “Việc gì con làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất, chính là làm cho Ta” (Mt 25,40).
Thiên Chúa đã chọn người nghèo làm đối tượng tình yêu của Ngài và là đường cho con người đến gặp Thiên Chúa. Qua người nghèo, chúng ta đến với Thiên Chúa và với người nghèo, chúng ta bước vào thiên đàng.  
Gửi gắm bạn  những chia sẻ về “người nghèo và làm từ thiện”, người viết không mong gì hơn là được cùng bạn tập yêu thương hơn mỗi ngày, không chỉ yêu mẹ cha, anh em, vợ con, gia đình, bạn hữu, mà còn yêu nhiều, yêu hơn nữa những người nghèo còn vất vưởng, cơ cực ở gần nhà, trong xóm ngõ, giữa công viên, trên hè phố… Họ là những người đáng yêu, tuy dung mạo đáng buồn vì nghèo. Họ là những người dễ thương, nhưng đáng thương vì túng quẫn. Nhưng trên hết và trước hết, họ là những con người như bạn, như tôi và đang cần bàn tay của tôi, của bạn.    
Viết xong tại Paris ngày 27/9/2013,
Lễ thánh Vincent de Paul, Tông Đồ Người Nghèo.
Jorathe Nắng Tím

VII. TÌNH YÊU NGƯỜI NGHÈO

Tất cả những chia sẻ ở trên không thay thế được tấm lòng yêu thương người nghèo như điều kiện phải có ở người làm từ thiện. Kỹ thuật từ thiện, phương án từ thiện, kế hoạch từ thiện, phương tiện từ thiện, tổ chức từ thiện ... ngay cả  con người từ thiện dù tuyệt vời, tài giỏi đến đâu cũng không thể thiếu tấm lòng yêu thương như động cơ làm chạy bánh xe từ thiện.
Thiếu tình yêu dành cho người cơ nhỡ, công trình dù hay đến đâu rồi cũng sẽ chấm dứt. Thiếu một tấm lòng thương người nghèo thật, cố gắng mấy rồi cũng ngã gục, bỏ dở, buông tay. Thiếu tình thương cho người khốn khổ, khó khăn đủ loại, đủ phiá sẽ nhanh chóng đánh gục lý tưởng  từ thiện. Tình thương thật dành cho người nghèo là nền móng vững chắc cho lý tưởng từ thiện, là đôi cánh cho thiện chí từ thiện bay cao, là nguồn sức mạnh cho mọi hoạt động từ thiện, là hy vọng cho mọi ý hướng từ thiện, là  bảo đảm cho mọi ước mơ từ thiện và sau hết là thuẫn đỡ bảo vệ người làm từ thiện trước mọi cám dỗ đầu hàng, buông xuôi; vì những tấn công phi lý và vô trách nhiệm từ nhiều phiá, bởi nhiều nguyên do rất đa dạng và rất khó nhận diện.
Tình yêu thật dành cho người nghèo phải là tuyên ngôn hùng hồn của người làm từ thiện trước những vô ơn, phản trắc. Tình yêu thật dành cho người đau khổ phải là kinh tin kính trước những nghi nan, ngờ vực. Tình yêu thật dành cho người cơ nhỡ phải là  kinh cầu khiêm tốn, đầy xót thương trước những khiêu khích thách thức lòng tự ái, háo thắng, kiêu căng. Tình yêu thật dành cho người yếu đuối, bệnh tật phải là lời hứa cam kết trước những thách đố của nội tâm và áp lực bên ngoài. Tình yêu thật ấy cũng phải là niềm tin, lòng tự hào và niềm vui nơi người làm từ thiện. Và cũng chính tình yêu ấy sẽ  làm cuộc đời từ thiện rực rỡ hạnh phúc, một trời hạnh phúc bao la chỉ có thể nhận và  cảm nghiệm  khi đã hết tình, hết mình cho đi.
Một vài bí quyết ghi nhận được nơi những người lâu năm làm từ thiện:
1.   Bình tĩnh khi bị tấn công:
Câu chuyện có thật “tô bay, điã bay “sau đây ít nhiều nói lên cái khó của từ thiện và sức mạnh của tình yêu; bởi “làm từ thiện không lãnh lương, không lãnh thưởng, nhưng không vì thế mà thỉnh thoảng đã không lãnh tô bay, điã bay vào mặt”.
Chị Dung vừa cười vừa tiếp tục kể câu chuyện xẩy ra cho chính chị ở  khu Xạ Trị thuộc bệnh viện Ung Bướu, Gia Định vào trung tuần tháng 11 năm 2011.
“Một ngày như mọi ngày, 4 giờ sáng tôi đã có mặt để chuẩn bị bữa cháo từ thiện cho bà con bệnh nhân trong khu Xạ Trị. Để tránh tình trạng mất trật tự và khỏi mất thời giờ của mọi người, nhất là để kịp xong trước giờ giao ban của các bác sĩ và y tá, chúng tôi yêu cầu bà con nhận cháo theo thứ tự từng giường. Sáng nay, khi vừa đẩy xe cháo vào phòng 3, tôi đã bị chặn lại bởi một chị bệnh nhân, tay đeo đầy nữ trang, vừa xấn xổ đòi nhận cháo trước mọi người vừa huyênh hoang tự đắc: “Tôi quen nhiều cha,  nhiều sơ lắm... Ông cha L. mới gọi điện thoại thăm tôi đây nè”. Tôi bình tĩnh trả lời : “Em chỉ biết phục vụ bệnh nhân, chứ không biết ai quen cha, quen sơ, quen thầy” và ôn tồn mời chị  trở về giường.
Chưa đến phiên chị nhận cháo, bất ngờ chị nổi sùng ném nguyên cái tô  để đựng cháo vào mặt tôi và oang oang chửi rủa. Chờ cho chị bớt nóng, tôi  vắn tắt nói với chị : “Cháo này là cháo không mất tiền, chúng tôi vất vả tự nguyện đến đây chuẩn bị từ 4 giờ sáng và đem đến mời chị dùng . Không mất tiền  mà chị còn đối xử như vậy, huống hồ  đi ăn tiệm, phải trả tiền, chắc chị còn hống hách, dữ tợn hơn nhiều ”. Và tôi mời chị một lần nữa nhận cháo, nhưng chị tự ái hất phăng tay tôi ra”.
Hai ngày sau, chị xin gặp  và chị đã xin lỗi vì thái độ không đẹp của chị khi cho tôi lãnh “nguyên con” cái tô đựng cháo”.
Hai mươi năm làm từ thiện trong bệnh viện Ung Bướu, chị Dung đã có nhiều kinh nghiệm ứng xử trước những thái độ “không giống ai” của bệnh nhân. Hỏi chị có buồn và nản không ? Chị cười trả lời : “Đôi khi cũng buồn, nhưng tình yêu dành cho bệnh nhân lớn hơn tất cả, nên tôi vẫn vui và tiếp tục phục vụ”.  
2.   Để mình khỏi buồn”:
Đó là lời căn dặn của Đức mà tôi luôn nằm lòng suốt bao nhiêu năm làm việc từ thiện. Em bảo tôi : “Anh phải tập quên ngay người anh giúp và đừng bao giờ nghĩ mình sẽ có ngày nhờ họ hay họ sẽ trở lại thăm hay trả ơn mình. Hầu như tất cả sẽ quên anh, có thể sẽ ngang ngược, phụ lòng tốt của anh hay tệ hơn  nữa là phản bội anh... Khi đó, anh sẽ không qúa buồn và thất vọng vì mình đã không nuôi bất cứ một hy vọng nào”.
Lời khuyên đó tôi đã triệt để áp dụng và đã cho tôi nghị lực, thanh thản và an bình để mải mê làm từ thiện cho đến hôm nay và sẽ mãi cố gắng tiếp tục cho đến hết đời.
Đã có những cơn cám dỗ gìữ người mình giúp đỡ ở lại với mình, có thể vì quá thương họ, hơn là đợi chờ, tìm kiếm điều gì đó nơi họ ; nhưng  lời khuyên của em và hình ảnh chiếc cầu đã luôn giúp tôi tỉnh thức.
Này nhé, nếu khi làm từ thiện, giúp đỡ người khác, tôi tự nhận mình là nhịp cầu tre, cầu gỗ hay cầu sắt đưa khách qua sông, qua đèo hay qua thung lũng thì tôi không thể giữ mãi ngườì qua cầu ở lại trên cầu, cũng không nên cầm giữ bước chân những khách bộ hành đi qua; vì nhịp cầu là “tôi”  bé quá sẽ bị chiếm đóng, cắm lều và không còn chỗ trống đón những bước chân sắp đi tới, đang cần nhịp cầu để vượt qua khó khăn; vì nhịp cầu là “tôi” yếu đuối sẽ sụp đổ thảm thương nếu hàng trăm người chen chúc ở lại trên cầu; vì nhịp cầu là “tôi” chật hẹp quá sẽ không cho không gian, dưỡng khí và điều kiện sống cần thiết; vì nhịp cầu là “tôi” ngắn ngủi quá sẽ không mở ra cho ai đường đi tới, về một tương lai sáng lạn; vì nhịp cầu là “tôi” tầm thường qúa sẽ không thăng tiến được ai, không hướng cho ai đến một lý tưởng thích hợp; vì nhịp cầu là “tôi” mong manh qúa sẽ không bảo đảm được ngày mai của người đến với tôi; vì nhịp cầu là “tôi” nghèo nàn quá sẽ không làm giàu được đời sống của những người muốn ở mãi với tôi trên cầu.  Là nhịp cầu, tôi phải đón những bước chân người đi, nhưng đi qua thôi, không được dừng lại trên cầu và nhất là không được ở lì mãi trên đó. Là cây cầu, tôi đón khách, rồi tiễn chân khách ngay sau đó, không chần chừ, tiếc nuối, bịn rịn, đòi hỏi; vì nhịp cầu chỉ là nhịp cầu và có giá trị khi sống đúng bản chất là “phương tiện cho người đi qua, vượt qua” và sống đúng sứ mạng “nối hai bến bờ” của nó. Nối hai bến bờ chứ không bao giờ được tự biến chất hay thay đổi sứ mạng để trở thành “bến, bờ”. Bởi khi đòi làm bến, làm bờ, làm đích đến, cây cầu sẽ đánh mất ý nghiã đời mình là “nối kết, giao liên”.
Làm cây cầu cho đàn em, làm nhịp cầu cho đàn con, đàn cháu qua đó mà đi tiếp, qua đó mà đi lên, qua đó mà đạt đích tới là nét đẹp không gì so sánh được của người làm từ thiện. Họ đã  khiêm tốn, hy sinh, thinh lặng, âm thầm nằm xuống làm nhịp cầu cho mọi người buớc qua, đạp lên không vì  quyền lợi của họ, nhưng vì hạnh phúc của những vị khách qua cầu này hoặc nhẹ nhàng,  hoặc tế nhị,  hoặc hùng hổ, hoặc vô tình, hoặc lạnh lùng, hoặc vô cảm, hoặc ung dung, hoặc tỉnh bơ không thắc mắc  đang bước qua đời họ để đi lên, đi tới..
Hình ảnh nhịp cầu cũng là hình ảnh ông lái đò. Ông lái đò đã đưa bao nhiêu khách qua sông từ năm này sang năm nọ. Bao nhiêu khuôn mặt, bao nhiêu tâm tình, bao nhiêu kỷ niệm của khách qua sông đã ở trong ông và làm nên đời ông, nhưng tuyệt nhiên ông không giữ ai lại mãi trên đò. Ông chỉ mong chèo chống cho nhanh, cho khéo, cho an toàn để khách còn tiếp tục hành trình trước mặt, và ông còn kịp quay lại bờ bên kia đón khách. Công việc của ông là đưa khách qua sông, chứ không giữ khách mãi trên sông, vì sông là nơi phải vượt qua và con thuyền là phương tiện để vượt qua không gian khó khăn đó. Ông mãi vui với nghề đưa khách qua sông đã bao nhiêu năm, mà ông không  hề để ý đã có bao nhiêu khách đã nhờ đò ông mà thành công, thành đạt. Thực ra chính cái ông “không để ý” đã cho ông niềm vui và hạnh phúc được mãi là ông lái đò đưa khách qua sông.
Nhịp cầu và con đò là hai hình ảnh nâng đỡ, hai hình ảnh trợ lực, hai hình ảnh biểu tượng lý tưởng đã giúp ta không buồn, hay đúng hơn là không biết buồn như ông lái đò đã “không để ý “ trước những vô tình, vô ý, vô ơn của những người nhận từ ta sự giúp đỡ. Hai hình ảnh đã trở thành kim chỉ nam cho đời làm việc. Và ta sẽ thấy mình là người hạnh phúc khi dấn thân phục vụ  người khác. 
3.   “Cứ gieo hào phóng”:
Nhạc sĩ Giám Mục Thông Vi Vu nhắn nhủ tôi như vậy khi Ngài viết nhạc bài “Gieo và Gặt “. Thế ra “làm từ thiện “ không chỉ đóng khung trong quan niệm cổ điển là “cho  người nghèo tiền bạc, của ăn, áo mặc”, mà còn là gieo, gieo những hạt giống tốt trong cuộc đời, gieo những hạt giống nhân ái trong trái tim mọi người, gieo những hạt hạnh phúc trong đời sống từng người. Làm từ thiện là thực hiện công tác từ ái, thiện hảo, nên bất cứ công việc tốt lành, nhân bản, hành động tử tế, dễ thương, công tác xây dựng, thăng tiến nào cũng đều nằm trong vùng phủ sóng của “làm từ thiện”. Từ thiện là bác ái, từ bi; là đồng tâm, đồng hành; là chia sẻ, đùm bọc; là kết nối, yêu thương.
Từ thiện không chỉ còn là cho đi , nhưng còn là nhận lãnh; bởi đã có gieo, ắt sẽ được gặt; có những ngày gieo trong nước mắt thì cũng có ngày gặt giữa tiếng ca; có ngày vất vả chân lấm tay bùn thì cũng có ngày mùa mừng vui.
Cho đi và nhận lãnh là hai mặt của đồng bạc như gieo và gặt, như sẽ gặt những gì đã gieo. Tóm lại, từ thiện là công việc của con người làm cho con người mà mục đích là nâng đỡ, xây dựng nhau. Trong từ thiện, bản tính “người” của con người được biểu lộ và giá trị “người” của con người được biểu dương.
Từ thiện như thế không còn là việc của một vài người, một số đoàn thể, nhưng là việc chung, việc tự nhiên phải làm của mọi nguời. Mỗi cá nhân đều mang sứ mạng làm từ thiện, vì mỗi người đều được gọi vào đời để sống với người khác, và khi sống với,  nhu cầu chia sẻ, đùm bọc, yêu thương sẽ thúc bách mọi người nghĩ đến nhau. Như thế chương trình “làm từ thiện” sẽ là công việc không biên giới và người gieo sẽ vui tươi, hào phóng tung hạt như Thông Vi Vu diễn tả trong bài “Gieo và Gặt” :  
“Gieo Thành Thật, gặt  được Niềm Tin
Gieo Lòng Tốt, gặt được Thân Tình
Gieo Kiên Nhẫn sẽ gặt Quang Vinh
Gieo Tha Thứ sẽ gặt được An Bình”.

4.   Cùng tìm giải pháp:
Emmaus là tổ chức từ thiện do cha Pierre (5/8/1912- 22/1/2007), người Pháp thành lập lấy tên con đường ngày xưa trên đó hai môn đệ của chúa Giêsu đã đồng hành trong đau buồn, thất vọng sau khi Thầy bị đóng đinh. Cũng trên con đường chất ngất đau buồn, tuyệt vọng này, chúa Giêsu đã hiện ra với hai ông. Ý nghiã của con đường Emmaus là Chúa luôn có mặt, khi chúng ta đồng hành và chia sẻ với nhau từ cơm bánh, nhà ở đến niềm vui, nỗi buồn...
Năm 1949, một người tù vừa được trả tự do, sau khi tự tử hụt vì không có gì để sống đến gặp cha Pierre. Đối diện với anh, cha Pierre đã nói: “Tôi chẳng có gì cho anh và anh cũng chẳng có gì. Thôi, thay vì bó tay chịu chết, anh đến giúp tôi đi để tôi có thể giúp anh”. Và ông bạn tù tự tử hụt vì túng bấn ấy đã là thành viên thứ nhất của  tổ chức Emmaus.
Chủ trương của Emmaus là giúp những người nghèo đuợc sống xứng đáng bằng chính việc làm của mình và độc lập là nguyên tắc vàng của Emmaus. Những người nghèo, cơ nhỡ, không nhà cửa, bệnh tật, cô thân làm thành những nhóm nam - nữ riêng, nhưng sống chung như gia đình. Công việc hằng ngày là thu gom tất cả đồ cũ như sách vở, quần áo, chén diã, giường tủ, tivi, máy giặt, tủ lạnh, xe đạp, vi tính,... và bất cứ đồ gì còn có thể dùng được. Những đồ cũ này được đưa về để anh em cùng nhau sửa chữa, tu bổ, tân trang, rồi được bán lại với một giá rất rẻ cho mọi người mà phần lớn cũng là những người nghèo.
Mục đích là tạo cho người nghèo việc làm và cho những người nghèo khác cơ hội được dùng những phương tiện vật chất mà cứ sự thường họ không bao giờ có đuợc, vì không có tiền mua đồ mới  trong siêu thị, cửa hàng. Mua với giá rẻ những đồ đã dùng rồi, người nghèo sẽ sắm được những món đồ vừa cần thiết vừa  dần dà nâng cao đời sống của họ.
Trung bình mỗi huynh đoàn gồm 50 đến 60 người. Điều kiện để được nhận vào huynh đoàn rất đơn sơ, được tóm gọn trong câu nói bất hủ của người sáng lập : “Bất kể anh, chị là ai, nhưng nếu anh chi đau khổ, hãy đến đây ở, ăn, ngủ và tìm lại niềm Hy Vọng, vì ở đây anh, chị được yêu thương”.
Đau khổ là điều kiện duy nhất để được nhận vào huynh đòan, nên huynh đòan Emmaus hầu như không thiếu một bộ mặt nhân loại đau khổ nào: người nghèo, người thất nghiệp, người ngoại quốc không giấy tờ, người mới ở tù ra, người bị gia đình xua đuổi. Họ giống nhau vì cùng đau khổ và cùng muốn làm lại cuộc đời từ niềm Hy Vọng tìm thấy dưới mái ấm Emmaus.  Hiện trên nước Pháp có 117 huynh đoàn Emmaus với 6899 thành viên. Số thiện nguyện đến giúp Emmaus là 3262, chưa kể các huynh đoàn Emmaus đã có mặt trên 36 quốc gia  khác ở Phi Châu, Á Châu và Nam Mỹ.
Mỗi huynh đoàn có một giám đốc phụ trách điều hành sinh hoạt đời sống, tổ chức công việc, chuẩn bị tương lai cho từng thành viên. Mỗi thành viên đều làm việc và một phần lợi nhuận do công việc sẽ được giữ lại với mục đích chuẩn bị tương lai cho thành viên này, vì mục tiêu sau cùng của Emmaus vẫn là tạo cho mỗi người một đời sống riêng, độc lập, có công ăn việc làm, có gia đình và đời sống hạnh phúc như mọi người bình thường khác.
Chọn gia đình là khuôn mẫu, nên mỗi thành viên là thành phần của gia đình. Mỗi người có quyền lợi và bổn phận của một người anh, người em, người chị trong gia đình là yêu thương, tương trợ, nâng đỡ và thăng tiến nhau. Không có giới hạn thời gian cho thành viên được ở trong huynh đoàn, và thành viên chỉ rời tổ ấm khi đủ khả năng độc lập như con lớn khôn, trưởng thành rời mái nhà cha mẹ đi ở riêng, xây tổ ấm mới.
Cùng tìm giải pháp là cách giúp đỡ tốt nhất đối với người cần được giúp đỡ; vì hơn ai hết, họ biết họ có thể làm được gì và cần gì ở người khác. Giúp đỡ mà không lắng nghe cũng như yêu thương mà không đối thoại. Thiếu lắng nghe, đối thoại, tất cả sẽ bế tắc, bắt đầu từ bế tắc thông tin, đến bế tắc tình cảm, sau cùng là bế tắc chọn lựa, hành động.
Khi ai đến với ta, hay ta đến với người nào đó, việc cần làm trước hết là tìm xem đâu là nhu cầu của họ và đâu là khả năng của ta. Phải biết ta, biết người mới có thể thành công. Cũng có khi ta hoàn toàn bất lực trước những nhu cầu của người đối diện; khi đó, việc duy nhất phải làm chính là ngồi với họ và cùng  họ tìm một giải pháp đơn giản nhất, có thể thực hiện ngay, và rất cụ thể để ta với họ cùng giúp nhau ra khỏi bế tắc. Không cần nhiều lời, không nên toan tính xa xôi, phức tạp, nhưng nên nhắm những gì thực tế và ích lợi trước mắt dù rất nhỏ,  như cha Pierre đã làm với người bạn nghèo khi anh đến tìm cha, sau khi tự tử hụt. Cha không có sẵn giải pháp, nhưng ngồi với anh, cả hai đã  cùng khai sinh chương trình bác ái Emmaus. Nhờ ngồi với nhau và cùng tìm giải quyết bế tắc, cha Pierre đã thực hiện một phép lạ yêu thương vĩ đại mà chính Ngài đã không ngờ.
Thực vậy, chúng ta có thể nói mà không sợ đại ngôn: phép lạ tình yêu là do chính chúng ta làm cho nhau, vì Thượng Đế  tràn ngập Tình Yêu tuyệt vời của Ngài trong mỗi người, đến nỗi chỉ cần  một chút thiện chí “ngồi với nhau”, người ta có thể làm cho nhau nhiều điều kỳ lạ, nhờ sức mạnh nhiệm lạ của Tình Yêu mà Thượng Đế đã quảng đại ban cho con người.
Ý thức ơn huệ và khả năng yêu thương, ta sẽ trân qúy những gì là yêu thương, những gì thuộc về yêu thương, những gì dẫn đến yêu thương. Khi trân qúy những giá trị của tình yêu, ta sẽ không ngại tìm kiếm, xây dựng những giá trị này và nhờ thế, cuộc sống nhân loại ngày càng tươi đẹp, bình an khi tình yêu ngự trị; vì con người không thể hạnh phúc nếu không yêu thương nhau; bởi mọi người đều đã được sinh ra từ một cội nguồn Tình Yêu.
5.   Ở đây và ngay bây giờ  “Hic et nunc”:          
Với Tình Yêu và niềm Hy Vọng, chúng ta cứ bắt đầu bước chân thứ nhất ... còn đường dài  ngày mai đã có Trời và nhiều người thiện chí, nhiều tâm hồn quảng đại, nhiều bước chân dấn thân khác sẽ tiếp nối kiện toàn. Việc của chúng ta là “ở đây, và ngay bây giờ”.
Có những người nghèo chỉ chờ ở ta một bàn tay nắm chặt, một nụ cười cảm thông, một chiếc khăn, một miếng bánh, một ly nước, vài chục ngàn; nhưng ta không làm. Không làm không phải không làm được hay không được làm; nhưng không làm vì:
a.   Ta nấn ná, chần chừ để việc đó cho ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm tới. Khi không làm liền ngay điều có thể làm, chia sẻ ngay những gì đang có, ta đã đánh mất cơ hộiyêu thương người nghèo trong khi họ đang cần ta thương, rất cần ta giúp. Rất có thể họ chỉ cần ta lúc này và ở đây, còn ngày mai, họ không  cần ta nữa; nhưng  vì tình yêu dành cho  người nghèo không đủ lớn, nên ta đã không mau mắn ra tay giúp đỡ, nhưng trễ nải, triển hạn, kể cả nhẫn tâm “xù” luôn cuộc hẹn với họ những ngày sau đó; bởi họ nghèo và không mang lại lợi lộc, vinh dự gì cho ta.

 b.   Cũng có thể ta không làm ngay, giúp ngay vì ta ngại những gì mình giúp ít ỏi, nhỏ bé qúa. Ta nghĩ: đã làm thì phải làm cho ra trò, đã giúp thì phải giúp cho đáng; cũng có thể, người nghèo khó tính có thể cự lại ta, nếu tặng phẩm ta cho họ không đúng mức họ cần, không như họ đợi chờ, ước mơ. Chính những lý do này đã làm ta ngại và dễ dàng bỏ nhiều cơ hội làm từ thiện.  
Thế mới biết: làm từ thiện không dễ, không dễ vì người cho có nhiều khó khăn tâm lý, khó khăn vật chất; mà còn khó vì người nhận không dễ “chịu nhận” những gì người khác chia sẻ, trao tặng; cũng vì nhiều lý do tâm lý phức tạp.
Tuy thế, người làm từ thiện nên nhủ lòng: không để người nghèo trở về tay không, khi làm ngay những gì có thể làm, giúp liền những gì có thể giúp, dù rất ít, rất nhỏ. Đừng quên một đồng “ngay bây giờ và ở đây” nếu được cho với cả tấm lòng sẽ lớn hơn bạc triệu ở một nơi, một thời điểm khác…
 
6.   Yêu và ở lại:
Người ta có thể làm từ thiện  kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, nghiã là đi nhanh qua, thoáng qua, nhưng không bao giờ dừng lại, chưa nói đến ở lại; trong khi yêu thương luôn đòi ở lại.
Có nhiều cách làm từ thiện và mỗi cách mang lại hiệu qủa khác nhau; nhưng cách nào đi nữa, người làm từ thiện cũng được mời gọi “ở lại” với người nghèo được giúp đỡ. Ở lại bằng nhiều cách, dưới nhiều dạng để người nghèo không tủi thân vì nghĩ mình chẳng giá trị hơn một đàn heo đói meo chờ cám.
Hình ảnh “người Samaritanô nhân hậu, bác ái” trong Kinh Thánh là hình ảnh người làm từ thiện với tình yêu biết  “ở lại” với người được giúp đỡ. Tình yêu “ở lại” mới thực là tình yêu quan tâm hết tình, và phục vụ hết mình.