Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2020

I. NHẬN DIỆN NGHÈO


Nghèo là một sự thực không thể chối cãi trong xã hội loài người. Ở đâu có con người, ở đó có tất cả mọi vấn đề nhân loại và một trong những vấn đề nhiêu khê của cộng đồng nhân loại là tình trạng bất bình đẳng giữa con người. Do nhiều nguyên nhân, đặc biệt sự phân phối thiếu công bằng và không hợp lý, xã hội loài người luôn căng thẳng vì mức độ chênh lệch, khác biệt về dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục. Ba nhu cầu căn bản của con người một khi không được đáp ứng đúng mức, xứng hợp  thường đem lại nhiều hậu qủa xấu làm băng hoại xã hội và bầu khí, ở đó con người sống.
Các nhà xã hội thường nhấn mạnh sự phân phối không công bằng và cho đó là nguyên nhân chính làm phát sinh tình trạng nghèo trong một quốc gia. Theo nghiên cứu mới nhất của Chương Trình phát triển Liên Hiệp Quốc : 20% nhân loại chiếm  82,7% tài nguyên thế giới ; 20% khác  với 11,7%  ; 60% nhân loại còn lại thoi thóp, nghèo nàn với 5,6%. Thống kê cho ta thấy độ chênh lệch vật chất đáng sợ giữa người giầu và người nghèo trên thế giới. Độ chênh lệch càng cao, càng nhiều người nghèo. Đó là cách xếp hạng các quốc gia phát triển hay không phát triển. Bên cạnh sự phân phối lương thực, tài nguyên không công bằng, hợp lý là các cuộc chiến tranh và thiên tài mà  số nạn nhân lên đến hàng triệu người.     
Nghèo là một thực trạng xuất hiện dưới nhiều khuôn mặt, khiá cạnh, bình diện. Nó xâm lấn  và đe doạ an ninh cá nhân và trật tự xã hội. Nó làm đảo lộn kỷ cương, tổn thương luân lý bằng những phản ứng bạo động có tính cá nhân hay tập thể. Nó cũng là mối nguy hiểm cho các nền văn hoá và là thách đố đáng lo ngại đối với tôn giáo. Sở dĩ nghèo đáng ngại và đáng sợ là vì nghèo không cho con người nhận ra căn tính làm người của mình khi những quyền căn bản như được nuôi dưỡng, được chăm sóc khi đau bệnh, được giáo dục, đào tạo và được hành động với tự do bị lấy đi, hay ít ra bị xén bớt, giảm thiểu khi cảnh nghèo ập tới khống chế.
Nghèo là một tội, có khi là tội ác khi nghèo không cho con người được sống mức sống tối thiểu của con người, mức sống tối thiểu để con người không bị đồng hoá với súc vật. Nỗi khổ của con người là không thể làm người  khi mức sống tối thiểu làm người của mình không được đáp ứng. Khác con vật ở điểm này khi con vật không nhận ra mức sống tối thiểu của mình... để không phải khổ đau, khốn nạn như con người. 
Nghèo là một cạm bẫy xô đẩy con người xuống tận bùn đen khi không còn gì bào đảm, bám víu khi rơi vào cảnh túng quẫn, bần cùng : 3,2% trẻ em nghèo Brésil đi làm từ 5 tuổi để giúp gia đình ; 24% các em 10 tuổi phải làm việc 40 giờ một tuần. Tình trạng cướp bóc, trấn lột, giết người xẩy ra nhiều trong những khu phố nghèo, quốc gia nghèo và sĩ số tội phạm ở người nghèo luôn cao so với giới giầu và trung lưu. Gái điếm cũng là hệ quả của nghèo khi không còn biết làm gì để sống đành phải “bán trôn nuôi miệng”.
Như thế, nghèo không phải là một hiện trạng cá nhân, riêng lẻ; nó là vấn đề lớn mang ảnh hưởng lớn đến phần lớn nhân loại. Nghèo trở thành vấn đề, có khi là nan đề cho các nhà chính trị, xã hội, luân lý và tôn giáo; vì nghèo gắn chặt vào thân phận người, bám vào nhiều người, kềm kẹp số đông người, làm khổ hàng triệu người nên tất yếu phải là đối tượng và vấn đề  cần được quan tâm, giải quyết bởi các nhà lãnh đạo dân sự cũng như tôn giáo. Tránh né vấn đề, thu nhỏ vấn đề, phủ nhận vấn đề đều là những thái độ không thể chấp nhận. Bởi tự thân, nghèo không chỉ  “tội nghiệp” cho cá nhân người nghèo mà còn “tội nghiệp “ cho an sinh xã hội, cho sự trường tồn, phát triển của quốc gia, cho sức bật kinh tế cần thiết của cả dân tộc, cho giá trị con người và quyền hưởng hạnh phúc của đời người. Trong ý thức đó, nghèo không còn là một tội đáng “tội nghiệp” mà còn là một “trọng tội “ cần được mọi người tiếp tay, hỗ trợ để mọi người có thể xa tránh.
Cộng đồng nhân loại lo ngại về con số nạn nhân của đói khát, bệnh tật, thất học ngày càng gia tăng khắp nơi trên thế giới và không ngừng thực hiện những nỗ lực nhân đạo: cung cấp lương thực, săn sóc bệnh nhân, tạo cơ hội cho mọi người được đi học. Những nỗ lực quốc tế này được gọi chung là những hoạt động nhân đạo mà mục đích là cứu sống, xoa dịu những đau khổ của nạn nhân, tìm cách ngăn chặn những thảm hoạ và giúp các nạn nhân có một đời sống bình thường, xứng hợp với nhân phẩm. Các tổ chức nhân đạo có tầm vóc quốc tế này đã đóng góp rất nhiều trong công tác cứu trợ khẩn cấp và tìm những giải pháp lâu dài giúp đỡ các nạn nhân. Các tổ chức này được xây dựng trên những nguyên tắc chung như :
a.   Nhân loại : Mục tiêu của hoạt động nhân đạo là con người : cứu người, giúp người, và sự sống con người là trung tâm của mọi sinh hoạt nhân đạo.
b.   Vô tư : Hoạt động nhân đạo nhắm đến lợi ích của con người bất kể họ là ai, thuộc chính kiến, tôn giáo, sắc tộc, giai cấp nào. Không đặt bất cứ một điều kiện nào trong cứu trợ, vì chủ đích duy nhất của mọi hoạt động nhân đạo là cứu sống và trợ giúp nạn nhân là con người.
c.    Trung lập : Vì chỉ nhắm lợi ích của con người trong khó khăn, hoạn nạn, nên các hoạt động nhân đạo không được phép xếp mình vào  một chiến tuyến, một phe nhóm, một đảng phái chính trị nào để được hoàn toàn tự do trong công tác phục vụ nhân đạo, vô vị lợi các nạn nhân.
d.   Độc lập : Hoạt động nhân đạo chỉ nhắm một mục đích duy nhất : cứu người, giúp người, nên phải từ chối giây mình vào bất cứ một mục tiêu chính trị, quân sự, kinh tế hay tôn giáo nào.       
Với những nguyên tắc “vàng”  vừa kể, các tổ chức nhân đạo thế giới phần lớn đã đảm bảo được  tính hữu hiệu và trong sáng trong các hoạt động nhân đạo của mình. Tuy thế, nhiều vấn đề vẫn  được đặt ra với những người làm từ thiện, nhân đạo:
a.   “Chỉ như hạt muối bỏ bể ”  
Đó là tâm sự của nhiều người làm công tác nhân đạo khi đứng trước đám đông đói khát, bệnh hoạn, thất học không thể đếm được. Người ta cảm thấy hoàn toàn bất lực trước khổ đau của đồng loại. Những gì cho được lúc này thật qúa nhỏ bé, chẳng thấm tháp gì trước nhu cầu cao như núi, sâu như biển của những thân phận đang cố giành sự sống khỏi tay thần chết. Không mấy người làm từ thiện đã trở về nhà mình với tâm trạng “thoải mái, mãn nguyện”, nhưng thường nặng trĩu một nỗi buồn quay quắt và mặc cảm bất lực trước khổ đau vời vợi của đồng loại. Trước mắt họ còn một đại dương nghèo đói, bệnh tật, thất học trong khi  khả năng trợ giúp chỉ bé nhỏ như một giọt nước trong đại dương.
Nếu chỉ là “hạt muối bỏ bể, hay giọt nước trong đại dương” thì ý nghiã của hoạt động nhân đạo ở đâu ? Đúng thế, nếu chỉ tìm kết qủa đo lường, đong đếm được trong hoạt động nhân đạo thì ý nghiã khó được tìm thấy khi con số được cứu sống, được trợ giúp luôn “chẳng bõ bèn gì”... Và tự nhiên người ta sẽ nản chí buông xuôi và không dấn thân làm từ thiện nữa.  
Không ít người đã rơi vào tâm trạng chán nản, bi quan này. Nhưng vấn đề cần được đặt một cách khác: nếu không ai làm nhân đạo , không còn những tổ chức từ thiện nữa, thì thế giới loài người này sẽ ra sao ?  Người ta có còn nhìn nhau như đồng loại ? Chúng ta sẽ ăn nói gì với con cháu khi dậy chúng tôn trọng phẩm giá con người ? 
Điều quan trọng và căn bản ở đây trong các hoạt động từ thiện, nhân đạo là thái độ cương quyết  từ chối tính vô cảm, dửng dưng trước khổ đau của đồng loại. Tính vô cảm trong xã hội loài người là sự dữ tuyệt đối cần phải tránh. Người ta có thể yếu đuối khi xúc phạm nhau và điều ấy vẫn luôn đáng tha thứ; nhưng vô cảm trước nhu cầu cấp bách của nhau là sự vắng bóng tòan phần của nhân tính mà không tìm được lý do để  thứ tha.
Trong hôn nhân, nếu vô cảm giết chết tình yêu,  thì trong xã hội, vô cảm giết hết mọi người; bởi vô cảm là nguồn cội của mọi thù hận, ghen ghét, kỳ  thị, bạo hành và cuối đường của vô cảm, con người sẽ không còn là người . Trước bất hạnh của người khác, ta có thể lôi ra hàng trăm lý do để thoái thác, trốn chạy; ta có thể viện hàng ngàn cớ để vắng mặt để khỏi phải dấn thân. Tránh mặt ở nơi mà đồng loại khổ đau đang cần đến chính là chối bỏ một trách nhiệm luân lý. Luân lý “làm người “đòi ta phải có mặt tại hiện trường tang thương của đồng loại. Chỉ sự hiện diện đã đủ làm ta xứng đáng là người và đem lại “hạnh phúc”  cho  nạn nhân; bởi  người ta chết nhiều vì sự vô cảm của đồng loại hơn là chết vì bệnh tật, thiếu ăn.
Bên cạnh sự từ chối vô cảm, hoạt động nhân đạo, tuy không giải quyết hết những vấn đề của nạn nhân, không đem lại thiên đàng tại thế cho những thân phận khốn cùng; nhưng  là một tiếng nói, là còi hụ báo động những thiếu sót, tố cáo những lạm dụng, điểm mặt những bất công, vạch trần những tiêu cực gây tai ương cho con người.
b.   Như bao nhiêu tổ chức khác, tổ chức nhân đạo không tránh được những lạm dụng, tiêu cực.  
Có những nhân viên lợi dụng mục đích nhân đạo để thực hiện những mưu đồ trục lợi cá nhân. Có những toan tính thiếu lương thiện trong sinh hoạt nhân đạo vì mục tiêu chính trị, đảng phái... Với ý thức và phương tiện kiểm soát ngày càng hữu hiệu, các tổ chức nhân đạo quốc tế những năm gần đây đã thực sự nắm lại những nguyên tắc căn bản và đường lối hoạt động chính đáng của mình.
Như thế, hoạt động nhân đạo, tuy còn  thiếu sót trong điều hành vẫn là hoạt động không thể thiếu trong xã hội loài người vì tính khẩn thiết và ý nghiã sâu sa của nó. Bao lâu con người còn khổ đau, bao lâu con người còn đối đầu với bất công, bạo lực, chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật; bấy lâu hoạt động nhân đạo còn cần thiết và đáng mọi người cộng tác, tiếp tay xây dựng.   
“Nhìn người lại nghĩ đến ta” để thấy đất nước ta hôm nay cũng còn là một nước nghèo.
Nhận mình nghèo không có gì là tủi nhục hay xúc phạm phẩm giá. Nhận mình nghèo không làm giảm giá trị, vị thế, tự hào của dân tộc, càng không xâm phạm “quốc hồn, quốc túy”. Trái lại, hành động nhận mình nghèo nói lên nét hào hùng, trung trực, lương thiện và nhân bản của mình. Không ai khinh người chân thật, chính trực; người ta chỉ khinh những phường gian dối, điêu ngoa, phét lác.
Đất nước nghèo là một hiện trạng, một hiện trạng được coi như hậu qủa của nhiều nguyên nhân : nhiều năm chiến tranh, tái thiết hậu chiến,  khủng hoảng kinh tế, cộng thêm những tiêu cực chưa khắc phục như tham nhũng, bệnh thành tích, óc cục bộ, trục lợi...
Đất nước nghèo khi tỷ lệ trung lưu và thượng lưu chỉ  chiếm 8% dân số, còn lại  92% dân nghèo. Tỷ lệ quá chênh lệch ít nhiều phải làm chúng ta nhức đầu, băn khoăn, thắc mắc.
Đất nước nghèo là điều đáng buồn, nhưng không đáng phải nản lòng, nhụt chí. Tình trạng nghèo của người dân là thách đố đối với những người có  tấm lòng. Không có gì là quá khó và bất khả thi, nếu có một tấm lòng. Với niềm tin vào tương lai và nỗ lực ở hiện tại, một ngày không xa, đất nước sẽ giầu mạnh và mọi người sẽ thoát khỏi cảnh nghèo. Tôi dám tin như vậy khi viết những giòng này.
Nhiều kiểu nghèo, nhiều cảnh nghèo
1.   Nghèo Tiền Của:
Thường người ta chỉ chú ý đến  cái nghèo vật chất: không của ăn, không nhà ở. Nghèo vật chất, vì dễ thấy, nên dễ  lôi kéo chú ý của đám đông. Nhìn người ăn xin, ta biết họ nghèo, vì nghèo không có gì ăn nên mới nhục nhằn đi ăn xin. Thấy em bé đánh giầy, bán vé số, ta biết em nghèo. Nghèo nên mới lang thang đầu đường xó chợ kiếm sống qua ngày. Nhìn những người co quắp ngủ bên vệ đường, ta biết họ nghèo, vì không ai cho ở, không tiền thuê nhà, mướn khách sạn.
Như đã trình bầy ở những giòng trên: có nhiều thứ nghèo, nhưng tựu trung vào 3 thứ nghèo căn bản : nghèo vì không của ăn, nhà ở, nghèo vì không được săn sóc chữa trị khi đau ốm, nghèo vì không được học hành, đào tạo. Cả ba thứ nghèo dính dáng, ảnh hưởng, có họ hàng với nhau, nên lôi kéo, chằng chéo, đánh đu với nhau rất “kỳ cục”: không có tiền ăn làm sao đi học; không đi học làm sao đi làm có tiền; không đi làm có tiền lấy đâu trả tiền bệnh viện ? Vì thế đã nghèo một là nghèo luôn ba; lỡ nghèo một thứ là dễ nghèo luôn những thứ còn lại, khác gì bệnh ung thư : đã di căn  rồi thì chỗ nào cũng đau,  bộ phận nào cũng tanh bành, nát bấy.
Nhưng nghèo vật chất là cái nghèo thường đi tiên phong và có sức mạnh tàn phá  hơn cả. Nó tàn phá vì của ăn, thức uống, áo mặc là những nhu cầu căn bản, tối thiểu để sinh tồn. Thiếu học có thể sống 50, 70 năm; nhưng thiếu ăn, thiếu uống làm sao sống được nhiều tháng, nhiều tuần ?
Những nạn đói khủng khiếp trên thế giới  như ở Biafra  đã tiêu diệt trong vài tuần lễ hàng triệu người. Nạn đói năm 1945 tại Việt Nam với 1 triệu đồng bào chết đã cực tả sức mạnh tàn phá của cái nghèo “ăn uống”. Chưa đủ, nghèo vật chất, vì dễ thấy, dễ nhận ra khi cảnh đói khát, rách rưới như đập vào mắt mọi người đã thường làm xụp đổ nhanh chóng nhân cách, làm tổn thương trầm trọng danh dự gia đình và kéo đổ không tiếc thương vị thế xã hội của người lâm cảnh nghèo vật chất. Người ta sống nhiều dưới cái nhìn của người khác và tư cách của cá nhân luôn lệ thuộc con mắt của tha nhân, nên khi nghèo, người nghèo bị hạ giá, bị người khác bán rẻ, hay ít nhất chính người nghèo không chịu nổi cái nhìn của người khác vì “ảo tưởng sĩ diện” và mặc cảm sẵn có nơi mình. Cái khổ và nỗi đau của người nghèo là thấy mình không còn được là mình dưới cái nhìn của tha nhân và trong chính phản tỉnh của mình. Sự sụp đổ nhân cách, danh dự gia đình và vị thế xã hội là nguy cơ thường gặp nơi những thân phận nghèo vật chất. Một khi rơi vào tình thế nguy hiểm này rồi thì ý chí vơi cạn, ước mơ tiêu tan, nhường chỗ cho sầu đời, tủi phận.
2.   Nghèo sức khoẻ.
“Sinh, Lão, Bệnh, Tử”. Nhà Phật nêu ra 4 cái khổ của kiếp người, trong đó có Bệnh Tật. Có thời giờ, mời bạn đi thăm các bệnh viện ở thành phố Saìgòn vào sáng sớm để thấy cảnh quá tải của các bệnh viện. Bệnh nhân xếp những hàng dài, thật dài hoặc đứng ngồi la liệt khắp nơi chờ lấy vé, được gọi tên khám bệnh. Có những người bệnh chờ chực từ 3 giờ sáng với hy vọng được khám trong ngày. Có những người bệnh đến từ những tỉnh miền Tây, miền Trung xa xôi. Họ thực sự đang giành giật sự sống với bệnh tật, dù khả năng vật chất vô cùng giới hạn.
Đi thăm các em bé bị ung thư, tôi không thể tưởng tượng các em có thể sống được trong  những căn phòng chật chội, đông đúc, ngột ngạt và thiếu vệ sinh như vậy. Nhưng rồi tôi cũng phải hiểu khi nhận ra đất nước còn nghèo và người nghèo vẫn còn chiếm đa số.
Nghèo sức khoẻ có thể là mối nguy cơ không nhỏ của đất nước hôm nay. Nghèo sức khoẻ là hậu qủa tất yếu của nghèo vật chất. Thiếu ăn thiếu mặc hoặc ăn uống bừa bãi, bữa đói bữa no, chưa kể thực phẩm ngày càng bị ô nhiễm, pha trộn hoá chất độc hại đã là nguyên nhân làm nghèo sức khoẻ của người dân.
Có bao nhiêu người bệnh đã đến được bệnh viện? Và còn bao nhiêu người đã không có phương tiện vật chất để được kiểm tra sức khoẻ một lần trong đời?  Với những người nghèo này, đau bệnh là tận số nên chỉ còn biết đổ lỗi cho số phận và cắn răng ngậm ngùi chờ được cái chết gọi đi.
3.   Nghèo kiến thức.
Con người có nhu cầu biết, vì con người có trí khôn và khả năng làm chủ vận mệnh của mình qua ý thức và hành động làm chủ vũ trụ. Không biết hay không được biết là một cảnh nghèo của kiếp người bên cạnh cảnh nghèo vật chất và nghèo sức khoẻ.
Để biết, con người phải được học. Để có khả năng làm chủ vận mệnh đời mình, con người phải có kiến thức về đời người, người đời và xã hội trong đó con người sống. Để thành công trong đời, con người phải được học những kỹ thuật điều hành sinh hoạt cộng đồng nhân loại, nắm bắt những phát minh khoa học như chià khoá để đi vào thành công. Thiếu học, con người không thể theo kịp trào lưu tiến hoá  và không thể đáp ứng những đòi hỏi của một thế giới ngày càng tiến nhanh với tốc độ chóng mặt.  Học giúp con người lý luận đúng. Học giúp con người nhận định chính xác. Học giúp con người đón nhận chân lý một cách lương thiện. Học giúp con người hành xử  nhân đạo, nhân ái. Học giúp con người sáng suốt chọn lựa. Học giúp con người sống đúng nhân vị, có nhân cách và nhân bản.
Vì thế không được học, không được giáo dục đào tạo, con người sẽ mất dáng đứng “người “ như phải có, vì bên cạnh những nhu cầu thể lý, con người còn nhu cầu trí thức, nhu cầu tinh thần cũng quan trọng và thiết yếu không kém. Cố tình lấy đi quyền được học hành là vi phạm nhân quyền; đồng thời tiếp tay làm cho nhân loại nghèo nàn, khốn khổ, bần cùng hơn.
Và từ nay, danh từ “người nghèo” sẽ được người viết dùng để chỉ chung: người nghèo vật chất, người bệnh không được chăm sóc, người thất học không được đến trường.

II. LÀM TỪ THIỆN


Làm từ thiện thường được hiểu là một hành động nhân đạo, một công tác thiện nguyện, một hành vi đạo đức muốn đem lại cho người khác khốn khổ, bất hạnh, xấu số hơn mình một món quà vật chất, một trợ giúp hữu hiệu, một an ủi, nâng đỡ tinh thần. Từ thiện hiểu như một việc tốt lành, đáng trân trọng và mang lại công phúc, ơn đức cho người thực hiện. Tôn giáo nào cũng đề cao và khuyến khích việc từ thiện. Hồi Giáo đặt việc từ thiện, bố thí là một luật buộc quan trọng. Thiên Chúa giáo đặt việc bác ái, giúp đỡ người khác như một giới răn ngang với giới răn thờ phượng, yêu mến Thiên Chúa. Phật giáo kêu gọi, khuyến khích con Phật làm từ thiện, cứu giúp người. Các tôn giáo khác như Cao Đài, Hoà Hảo cũng không đi ngoài hướng đi nhân ái, vị tha, bác ái này.
Như thế làm từ thiện trước hết là đối diện với người nghèo, là đến với người kém may mắn, là tiếp cận với người xấu số, cực khổ hơn mình với mục đích làm nguôi ngoai nỗi đau, làm giảm nhẹ khốn khổ, cơ cực của họ.  
1.   Đối diện với người nghèo:
Người nghèo ở đây không phải là người nghèo được vẽ trên giấy, người nghèo trong tranh được lồng kính và treo trên tường ; người nghèo ở đây cũng không là một quan niệm, một danh xưng rỗng tuyếch để chỉ một thành phần, một số đông, một tập thể nghèo; người nghèo ở đây càng không là những con số không hồn, lạnh lẽo, vô cảm trên biểu đồ trong phòng làm việc của nhà xã hội hoặc trên máy tính của ủy ban dân số. Người nghèo, đối tượng của từ thiện là người nghèo bằng xương bằng thịt, những người nghèo chỉ còn da bọc xương, gầy gò, lem luốc, tật nguyền, đau bệnh. Người nghèo có thật bằng những vết thương sâu hoắm trên đùi, lở loét ngang bụng cho mùi hôi thối đến nôn mửa. Người nghèo “bụng ỏng da chì”, nhợt nhạt, xanh mướt vì bệnh sốt rét, hoặc  bàn tay không ngón vì phong cùi. Người nghèo có thực: thực trong dáng đứng, thực trong hơi thở yếu đuối, thực trong cơn đói cồn cào, thực trong manh áo tả tơi, thực trong ngơ ngẩn đáng thương vì mất trí, thực trong lơ đãng, kỳ cục phải kiên nhẫn lắm mới chịu đựng được. Ngừơi nghèo ở đây không biết tên mình là người nghèo, cũng không biết tuổi mình đã bao năm làm người nghèo, càng không  biết mình đang ở đâu, chỗ nào trong xã hội. Người nghèo ở đây nghèo đến độ không  cần phân biệt ngày mai - hôm nay, trước - sau, phải - trái ; vì với họ không ai là điểm tựa, không gì là hải đăng,  không đâu là địa bàn. Người nghèo ở đây cũng  chẳng quan tâm đến chính sự sống của mình, vì có hiểu tại sao mình sống đâu.
Đối diện với một người mà ta chưa biết họ là ai và ta cũng chưa nhận ra ta là ai, thì làm sao có được buổi hội ngộ có ý nghiã? Giáp mặt nhau mà không nhận ra nhau, thì còn gì là gặp gỡ, còn gì là thân cận,ncòn gì là thân tình? Vì thế, để cuộc gặp gỡ giữa ta và người nghèo mang một ý nghiã nhân bản, ta phải tìm biết người nghèo là ai:
a.   Trước hết, người nghèo là con người:  
Họ là một con người có hồn và xác, có quyền làm người, có nghiã vụ của con người trong xã hội, có giá trị, khả năng và vị trí con người như tất cả mọi người khác.
b.  Người nghèo là người có lịch sử:
Người nghèo là người nên có lịch sử, gia thế, cũng như  hoàn cảnh và đời riêng cần được mọi người tôn trọng.
c.    Người nghèo được sinh ra là người:
Nghèo chỉ là một tình trạng có thể thay đổi, trong khi bản tính “người” nơi người  nghèo thì bất biến, bất khả nhượng. 
Như thế người nghèo khác người giầu ở tình trạng sống, nhưng giống người giầu ở chất người, chỗ đứng người, tư cách người, giá trị người; nói tắt là nhân vị. Không khác nhau ở căn tính, chỉ khác nhau ở tình trạng nên cùng chung một vị thế, đứng chung một hàng, cùng chia sẻ một thân phận, cùng đồng hành trên một hành trình làm người và gánh chung một định mệnh là  người. Từ điểm then chốt này, ta hình dung cuộc gặp gỡ, đối diện giữa người làm từ thiện, tạm gọi là người không nghèo và người được trợ giúp thường có tên là người nghèo. Đó là cuộc gặp gỡ sẽ không mang tính đối đầu giữa ông chủ và tên nô lệ, cũng không  là cảnh người giầu bố thí  “cơm thừa canh cặn” cho người ăn xin nghèo khổ ; nhưng là gặp gỡ giữa hai con người, hai nhân vị, hai chủ thể bình đẳng có khả năng đồng cảm, đồng thuận, đồng hành. Đó là cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn, hai cuộc đời cần có nhau, cần đến nhau.
Người cho cần có người nhận ; bởi khi cho đi người ta soi được bóng dáng và diện mạo thật của mình trong người khác ; bởi khi cho đi hiện hữu của người cho được cắm sâu hơn, trải rộng hơn trong người khác ; bởi khi cho đi chất người nơi người cho phong phú, dồi dào hơn và nhất là hạnh phúc được tràn đầy và sâu lắng nhờ có mặt trong trái tim tha nhân.
2.   Đối thoại với người nghèo.
Đối diện với người nghèo là nhận ra họ là người như ta. Đối thoại với họ đòi người làm từ thiện tự lột bỏ ngôn ngữ giai cấp để mang vào một ngôn ngữ mới của một người đang làm bổn phận chia sẻ. Nói đến bổn phận là nói đến việc phải làm, trách nhiệm phải chu toàn, nghiã vụ phải thực thi. Người làm từ thiện không làm từ thiện với tinh thần “thi ân, bố thí”, làm từ thiện như một hobby, một môn giải trí lành mạnh, một hành động thu góp công đức thiêng liêng hay tìm danh thơm để đời.  Làm từ thiện phải mang một lớp áo của nghiã vụ làm người, một ý nghĩa của bổn phận  người với người. Trong nghiã vụ, bổn phận, con người nhận ra tính tương trợ và trách nhiệm của mỗi người trên toàn thể nhân loại và  sự đóng góp cần thiết của toàn thể nhân loại trên mỗi người. Trách nhiệm chung ấy đòi mỗi người có bổn phận làm cho đời người khác tốt hơn, hạnh phúc hơn, giầu có hơn, xứng đáng hơn. Trách nhiệm chung đó cũng lôi kéo mỗi người ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của mình vì hạnh phúc của tha nhân. Như thế, ngôn ngữ trong cuộc đối thoại giữa người làm từ thiện và người nghèo sẽ không mang cung giọng trịch thượng, khinh miệt hay diễu cợt, bông đùa. Trái lại, ngôn ngữ sẽ mang lòng nhân ái, chuyển tải tâm tình thông cảm và diễn tả lòng kính trọng, yêu thương.
3.   Đồng hành với ngừơi nghèo.
Đồng hành là cùng đi, không đi cùng người chết, nhưng đi với người sống mặc dù người sống ấy  nghèo. Đi chưa đủ, còn phải đi về một mục đích đã chọn sẵn. Như thế, dấn thân đồng hành với người nghèo, người làm từ thiện phải ý thức mình đang đi với người nghèo, tuy nghèo nhưng vẫn đang sống.
Sở dĩ phải nhấn mạnh điểm này vì khuynh hướng tự nhiên nơi người làm từ thiện là  hay quên người nghèo là người đang sống, cũng ham sống, muốn sống như mình. Khi vực dậy người nghèo đói, bệnh tật, ta hay quên sự sống nơi họ bằng giảm thiểu một cách rất vô tình khả năng sống và quỹ sống của họ, làm như họ không được phép sống khoẻ, sống mạnh, sống sung sức như ta. Cũng có lúc coi nhẹ sự sống nơi những thân phận hẩm hiu, bất hạnh khi đồng hoá họ vào những con số.
Đồng hành với người nghèo hệ tại ở ý thức tôn trọng sự sống, đời sống của họ. Đồng hành với ai là cốt nâng đỡ họ để được cùng họ đi đến cuối đường, đạt được mục tiêu. Đồng hành mà chỉ mong sớm được “đơn thân độc mã” trên đường thì còn gì ý nghiã của đồng hành. Làm từ thiện là cứu sự sống, nâng đỡ sự sống, đấu tranh để giành sự sống cho những người sắp mất sự sống. Khi cho người đói ăn, ta mong họ sống. Khi cho người bệnh thuốc, ta mơ họ được hồi sinh. Khi giúp một người đi học, ta đợi chờ một cuộc sống viên mãn, dồi dào, phong phú nơi họ. Tôn trọng sự sống, trân qúy sự sống, khát khao sự sống, hết mình vì sự sống của người nghèo, đó là điều kiện không thể thiếu để đồng hành với họ. Thiếu điều kiện này, ta sẽ chỉ làm người nghèo tủi thân hơn khi họ phát hiện thái độ coi thường sự sống  của họ nơi ta.
4.   Đóng góp cho kế hoạch phát triển.
Mục đích phải đến của công tác từ thiện là giúp người nghèo thoát khỏi cảnh nghèo. Người nghèo chỉ thoát nghèo khi chính họ tự thoát. Nhưng đã có nhiều trường hợp muốn tự thoát nhưng thoát không xong ... Đó là những trường hợp khả năng chưa đủ còn cần nhiều trợ giúp.
Làm từ thiện đòi một cái nhìn xa, một  tầm phóng lớn để thấy trước những gì cần phải làm. Hời hợt, nóng nẩy, vội vã trong từ thiện sẽ không mang lại kết qủa như ý, vì  bất cứ kế hoạch từ thiện nào cũng đòi hỏi thời gian, mà  thời gian vẫn luôn thích níu kéo lòng kiên trì, tính nhẫn nại.
Vật chất trong từ thiện đôi khi cũng làm nóng ruột người cho, nhưng kết qủa trong công cuộc cứu sống con người thường ẩn khuất, kín đáo, không ồn ào, nên phải có độ nhậy của óc thông minh và tinh tế của tâm hồn nhân ái mới thấy được tất cả giá trị và mầu nhiệm của nó.

III. Ý NGHIÃ PHỤC VỤ TRONG TỪ THIỆN


Có nhiều người quan niệm: làm từ thiện là bố thí của cải dư thừa, cho người nghèo những gì mình không còn dùng, hay khá hơn là làm phúc cho người xấu số một số tiền như chút qùa nhân đạo. Cũng có người cho rằng: làm từ thiện là để chuộc tội riêng, tích lũy ơn phúc cho mình và gia đình hay đền trả những bất công, tai họa mình đã gây nên cho đời. Và quan niệm chung của đại đa số thường xoay  quanh hai trục: làm từ thiện là cho đi một phần của cải và việc làm từ thiện đem lại phúc đức, ơn lộc cho mình, cho người thân của mình.
Nếu chỉ quan niệm làm từ thiện như thế, thì yếu tính của việc làm từ thiện đã bị bỏ quên. Yếu tính đó là tinh thần phục vụ.
Đi làm từ thiện mà không mang theo tinh thần phục vụ thì việc từ thiện chẳng qua chỉ là một đổi chác, một câu chuyện bán buôn, thương mại: người nghèo như món hàng mang lợi nhuận là ơn phúc và tôi bỏ tiền mua lấy món hàng này. Người nghèo là mối lợi tinh thần mà chỉ nơi họ, tôi mới mua được trạng thái an ổn, thoải mái cho lương tâm và sắm sẵn cho mình phần phúc mai hậu. Việc từ thiện lúc đó trở thành chuyện đầu tư mà người thu lời chính là người bỏ vốn như quy trình tự nhiên của kinh doanh.
Qủa thực, nếu không cảnh giác đủ, ta sẽ dễ dàng rơi vào tình trạng làm từ thiện vì mình, và từ thiện sẽ không còn mang ý nghiã nguyên thủy và phải có của nó.
Các nhà xã hội, luân lý, đạo đức đều đồng ý: yếu tính cuả từ thiện là tinh thần phục vụ. Phục vụ là hành động phát xuất từ tình yêu, nên không yêu không thể phục vụ. Phục vụ  nhắm thẳng đối tượng được phục vụ và chỉ duy nhất đối tượng này. Chệch đường phục vụ, sẽ tiếp ngay một khúc quặt nguy hiểm, đó là ích kỷ, trục lợi.   
Phát xuất từ tình yêu, phục vụ được nuôi dưỡng cũng bằng tình yêu và hướng đến tình yêu như mục đích. Khi làm từ thiện, ta làm vì yêu người cơ nhỡ, thiếu thốn, đau khổ và  giúp đỡ, chia sẻ với họ bằng chính tình yêu dành cho họ. Như thế người được giúp đỡ là nhân vật chính, đối tượng chính, người duy nhất hưởng phúc lợi. Phục vụ cho phép người cho - kẻ nhận bình đẳng, ngang hàng. Phục vụ nối nhịp cầu cảm thông, tin yêu giữa người nhận - kẻ cho. Phục vụ lấp kín hố sâu giai cấp và vô hiệu hoá chủ trương tranh đấu, bóc lột chủ - nô. Phục vụ tạo điều kiện cho một cuộc sống văn minh tình người và một xã hội kinh tế quân bình, hợp lý.
1.    Phục Vụ không dễ
Phục vụ khó như tha thứ, vì tự nó là một thách đố của tình yêu.
a.   Là thách đố của tình yêu:
Phục vụ đòi ta phải đặt mình ở nhịp độ của người ta phục vụ, thay vì bắt họ hoà vào nhịp độ sẵn có của ta. Phục vụ ai  là đáp ứng nhu cầu của họ khi họ cần, chứ không nhằm đáp ứng nhu cầu  của ta, dù nhu cầu ấy có chính đáng đến đâu đi nữa; vì thế  phục vụ không là hoạt động nhắm tìm thoải mái , niềm vui  riêng, nhưng nhắm hạnh phúc, niềm vui của đối tượng.
Khó khăn đầu tiên trong phục vụ là ta dễ dàng hăng say, nhiệt thành  hiến thân cho người  khác, nhưng cùng lúc ta không  chấp nhận họ làm trái  ý  ta, hay làm lệch lạc thời khoá biểu của ta.  Thí dụ : ta chỉ  muốn gặp người nghèo, khi ta khỏe mạnh, thành công, phấn khởi... nhưng ngược đời thay, người khốn khổ lại hay cần ta, tìm ta khi ta mệt mỏi, bận bịu, chao đảo, chênh vênh... Ta chỉ thích làm từ thiện đúng giờ, đúng giấc; nhưng oái oăm thay, người nghèo lại cần ta ở những giờ ta không hoạch định. Chính vì nhịp sống của ta không cùng nhịp sống của người ta giúp, nên để phục vụ họ, ta phải từ chối nhịp sống của mình để hoà vào nhịp sống của  họ; nhờ vậy phục vụ của ta mang giá trị lớn vì ta dám quên mình, bỏ mình vì yêu thương. Nói cách khác, phục vụ mang lại hoa trái của một tình yêu lớn khi tự đặt mình bé nhỏ và luôn sẵn sàng truớc nhu cầu của người khác. Bé nhỏ trước người yếu đuối là để nỗi đau của họ trong trí óc, tận trái tim, trên môi miệng, bên khóe mắt  của ta để có thể mau mắn đáp ứng nhu cầu khẩn thiết của họ. Sẵn sàng trước nhu cầu của người “thấp cổ bé miệng ” là ra khỏi “cái tôi chật chội, khép kín” để hoà vào nhịp sống của người đang cần ta chia sẻ . Trong bé nhỏ và sẵn sàng, ta đã vào cuộc đời người khác khi phục vụ họ để cùng chung nhịp  bước hạnh phúc của những người  đang cần “yêu và được yêu”.     

b.  Phục vụ khó, vì đòi  trung thành:
Tại sao phải trung thành khi làm từ thiện ?
Có hai nguyên nhân làm ta chóng chán và dễ buông xuôi khi làm từ thiện là yếu đuối trong ta và lỗi lầm nơi người được giúp:
· Trong con người ta luôn có hai yếu đuối làm cản trở bước chân bác ái, từ thiện. Đó là sự sợ hãi và tính lười biếng. Ta có thể thấy người khác đau khổ, nghèo đói, bệnh hoạn và biết họ rất cần ta; nhưng ta không muốn đến gần họ và  tìm giải pháp giúp họ. Thấy, biết và làm là một khoảng cách còn khá xa, một hành trình dài cần nhiều cố gắng, nỗ lực để vượt qua. Yếu đuối trong con người  ta là yếu đuối muôn thưở của quan chức vị vọng, giáo sĩ có  thần thế đã lạnh lùng liếc nhìn người bị bọn cướp đánh nhừ tử,  đang quằn quại “nửa sống nửa chết” bên đường, rồi thản nhiên bỏ đi, không một lời ủi an, một việc làm chia sẻ như  câu chuyện người Samaritanô nhân hậu trong Kinh Thánh (Lc 10, 29-37). Những người này đã bỏ đi, vì lịch làm việc của họ đầy kín, thời giờ của họ qúy báu, ít ỏi và nỗi đau của đồng loại không là ưu tiên trong sinh hoạt.
Câu chuyện người Samaritanô bác ái là hình ảnh người làm từ thiện chân chính, khi sẵn sàng bỏ thời giờ, tiền bạc vì người anh em bị nạn không hề quen biết. Cũng cùng tuyến đường với quan chức và giáo sĩ, ông thấy có người bị thương nặng đang rên rỉ một mình. Với tất cả tình nhân loại, ông đã xuống ngựa để yêu thương,  chia sẻ, cứu giúp với  thái độ tế nhị, ân cần, kín đáo. Ông đã vượt qua  khuynh hướng sợ “dây vào những việc thiên hạ làm gì cho rách việc” và tính lười biếng, “không muốn cái thân phải nhọc mệt vì những chuyện bao đồng” để thực hiện một việc từ thiện anh hùng: cứu sống một nạn nhân không hề quen biết. Vượt qua  sợ hãi và lười biếng là một hành vi anh hùng đã cho ông nhiệt tình dừng chân đến tận nơi, ẵm người bị nạn lên và tận tình đưa đến quán trọ để nạn nhân được băng bó, cấp cứu. Trước khi phải rời nạn nhân để tiếp tục hành trình, ông đã không quên thanh toán chi phí và gửi chủ quán thêm tiền chi phí ăn ở, thuốc men và dặn dò chủ quán chăm sóc cẩn thận.
Câu chuyện  người Samaritanô nhân lành thật cảm động và không lỗi thời, vẫn nhan nhản xẩy ra hôm nay, ở ngay nơi chúng ta đang sống.  
· Đó là về phiá người làm từ thiện. Về phiá  người nhận sự giúp đỡ cũng không thiếu lỗi lầm. Lỗi lầm thường gặp nơi họ là tính bất nhất, mâu thuẫn :  hôm qua họ vừa rối rít yêu cầu ta giúp đỡ chuyện này, sáng nay đã than thở đòi giúp chuyện khác và oái oăm thay, hai chuyện của hai ngày có khi lại hoàn toàn đối chọi, trái ngược nhau. Hơn thế nữa, vì nghèo, thất học nên họ không biết cư xử “ dễ thương, hợp lý” nhưng thường thô kệch, thiếu sót, đôi khi vô duyên, sống sượng  đến lố bịch, côn đồ. Giúp đỡ những con người nhiều thiếu sót, lầm lỗi này không dễ vì ta sẽ bị cám dỗ nói với họ : “Được, anh chị về đi và khi nào sống đàng hoàng, tử tế hơn, tôi sẽ trở lại giúp”.
Thế là từ thiện trở thành “tự biến”  khi cả  bên nhận, bên cho đều không chịu được nhau, nên cả hai cùng tự biến khỏi đời nhau, kết thúc chuyện làm từ thiện.
Trước khó khăn thứ hai này, chỉ có lòng trung thành mới giúp người làm từ thiện vượt rào cản trở.  Chỉ lòng trung thành mới  cho ta sức mạnh để chấp nhận những  thử thách và khó khăn do lỗi lầm của người khác và yếu đuối của chính ta. 
Lòng trung thành được xây trên kiên nhẫn và hy vọng. Cả hai được nuôi dưỡng bởi tình yêu. Khi trái tim rạo rực lửa yêu thương rồi thì bất cứ cơn gió tội lụy, yếu đuối, lầm lỡ nào cũng không dập tắt được.
Như thế, ngoài tình yêu dành cho những người anh em đau khổ, bất hạnh, ta không thể  tìm ra công thức nào khác  tốt hơn giúp ta trung thành mãi với lòng nhân ái qua việc làm từ thiện.
c.                       Phục vụ khó vì cần một thái độ trong sáng khi biết đón nhận những người khác cũng đang phục vụ như mình.  Tại sao có khó khăn này?
Khó khăn phát sinh do ảo tưởng: mình toàn năng và có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ. Chính ảo tưởng này gây nên ghen tuông, cạnh tranh, so sánh giữa những người cùng làm từ thiện. Khi làm từ thiện, ta không làm một mình, nhưng chung quanh có những người khác cũng làm từ thiện như ta. Đối diện và cùng làm với những người khác, ta sẽ thấy có khi họ giỏi hơn mình, làm được nhiều chuyện hơn mình, có ảnh hưởng hơn mình, hy sinh hơn mình...Từ đó ta thấy mình hụt hẫng khi khám phá mình không toàn năng và không làm được tất cả mọi sự. Bao lâu  chưa nhận ra căn tính của việc làm từ thiện là cởi mở cõi lòng, trải rộng tình yêu,  bấy lâu người ta dễ rơi vào tình trạng căng thẳng vì so sánh thành - bại của công việc, hơn thua trong ảnh hưởng, nặng nhẹ của số lượng trên bàn cân. Cốt lõi của vấn đề là tấm lòng cởi mở trong sáng cho nhau. Từ cõi lòng tràn đầy tình yêu ấy, mỗi người được mời gọi phục vụ tha nhân theo như khả năng và ơn gọi riêng của mình, nhưng tất cả quy về một mục đích là hạnh phúc của những người anh em đáng thương đang cần được chia sẻ, giúp đỡ.
Phục vụ là một thách đố của tình yêu thật. Nhờ phục vụ, bình an cư ngụ trong lắng đọng của tâm hồn. Qua phục vụ, con người gặp được nhau không chỉ với hình thức xã giao, nhưng với trọn vẹn hiện sinh chân thực của mình và đây chính là hạnh phúc tuyệt vời của đời một người đáng sống.   

IV. NHỮNG ĐỨC TÍNH CẦN THIẾT ĐỂ LÀM TỪ THIỆN


1.   Thương người :
Làm từ thiện phải hiểu là công việc dành cho những tâm hồn biết nghĩ đến người khác. Ích kỷ, tham lam không có chỗ trong khung trời từ thiện. Người làm từ thiện nhìn người khác mà thấy chính mình; nói khác đi : tha nhân là tấm gương phản chiếu hình ảnh của chính mình để rồi phải “thương người như thể thương thân”.
Thương người là muốn cho người bớt khổ, bớt đói, bớt lạnh, bớt đau, bớt dốt. Thương người là mong cho người no ấm, thành công, hạnh phúc. Thương người là mơ một thế giới người đói được ăn no, bệnh nhân được chữa trị, mọi người được học hành, hiểu biết. Thương người hệ tại lấy con người làm đối tượng, chọn con người làm mục đích phục vụ và không xem con người như phương tiện, công cụ cho bất cứ mục tiêu nào. Thương người  đặt con người  làm trung tâm để tất cả hoạt động phải được xoay quanh hạnh phúc của chính con người. Mất con người như trọng tâm, mất con người như cứu cánh, lòng thương người không giữ được căn tính vị tha của mình và không còn được coi là một đức tính nhân bản.  
2.   Khiêm tốn :
 Làm từ thiện mà tự kiêu, tự mãn, tự phụ thì không tránh được thái độ coi thường đối tượng của từ thiện là chính con người. Người kiêu căng không đến với người nghèo khổ, dốt nát bằng tấm lòng và thiện tâm. Họ chỉ đến vì lợi dụng và vì uy tín, danh dự của riêng mình. Người nghèo rốt cuộc chỉ là phương tiện phục vụ ý đồ vụ lợi của những người kiêu căng. Hơn thế nữa, người kiêu căng khó chấp nhận tính bình đẳng, nhân vị và những giá trị của người nghèo khi tự thấy mình giầu sang, quyền lực và ở vị thế kẻ cả, người ban ơn. Từ thiện khi đó sẽ mất hết ý nghiã của chia sẻ, đồng hành giữa con người với con người và chỉ còn lại tương quan “chủ - tớ, kẻ xin - người cho” kệch cỡm.
3.   Hy sinh:
Quên mình là điều kiện để thương được người khác. Thương ai mà không quên một chút “mình” và hy sinh cho hạnh phúc của người mình thương là một điều không thể thực hiện.
Vì thế, thiếu hy sinh trong hoạt động bác ái từ thiện là một điều khó quan niệm được. Làm từ thiện là thực hiện hành động xả thân vì người khác, quên mình vì tha nhân. Hy sinh là máu cho tình yêu sống. Hy sinh là nhịp thở của trái tim yêu thương. Nhìn những người làm từ thiện, ta thấy nét hy sinh rực sáng trên họ. Họ chấp nhận nhiều thiệt thòi, mất mát, kể cả những mất mát rất lớn như danh dự, uy tín khi bị hiểu lầm  vì thương những phận người kém may mắn hơn họ. Họ chịu đựng nhiều gánh nặng vật chất, tinh thần vì hạnh phúc và tương lai của những người cần đến họ. Giá trị của những người này chính là những hy sinh vì tình yêu họ đang trao tặng người khác. Cao qúy của những cuộc đời này chính là những giọt mồ hôi, những trăn trở thầm kín, những nhức nhối câm lặng vì dấn thân phục vụ những mảnh đời  bị ngược đãi, bỏ rơi, không tên tuổi. Hy sinh cho người khác, nhất là khi người khác nghèo khó, bệnh hoạn, không có cơ hội để trả ơn là hành động anh hùng của những  tình yêu vĩ đại; vì chỉ với tình yêu vĩ đại, người ta mới sẵn sàng xuống thật thấp, thật sâu để đến với những con người bị nhận chìm tận đáy sâu bất hạnh.  
4.   Biết hợp tác với mọi người:
Nhiều người có kinh nghiệm lâu năm trong hoạt động từ thiện đã chia sẻ: “cái khó nhất  là biết nghe nhau”. Tại sao phải biết nghe nhau ? Bởi không chỉ một mình ta làm từ thiện, nhưng còn nhiều người khác cùng làm với ta. Cùng làm nên đòi một tinh thần cộng tác ngay thẳng, cởi mở, chân thành. Nhiều người, nhiều ý, nhất là trong từ thiện : ý ai cũng tốt, nên dễ đi đến chỗ độc tôn, độc đoán, độc tài, độc quyền, có khi độc ác nữa. Vì từ thiện là làm việc tốt, nên tôi khó thay đổi hay từ bỏ những ý kiến, đề nghị hoặc quyết định của tôi, vì tất cả  đều tốt, đều là việc tốt và nếu tốt thì phải được thực hiện.
Đàng khác, những ý kiến, đề nghị, quyết định ấy không nhằm phục vụ tôi, nhưng phục vụ người nghèo nên được coi là những  điều tốt phải được mọi người ủng hộ. Chính vì tốt mà tôi ngoan cố đòi mọi người phải theo tôi, phải nghe tôi  thực hiện cho bằng được những sáng kiến của tôi. Cứ thử tưởng tượng : một nhóm  10 người làm công tác từ thiện và cả 10 người đều cương quyết bảo vệ bằng mọi giá sáng kiến từ thiện của mình.Và đây chính là nguy cơ phá vỡ nhiều công trình cần được mọi người hợp tác.
Thế nên tình thần hợp tác: biết nhún nhường để hợp tác, biết lắng nghe để hợp tác, biết xoá mình để hợp tác, biết nhượng bộ để hợp tác, biết hiền lành để hợp tác, biết quảng đại để hợp tác là điều kiện không thể thiếu khi cùng người khác làm từ thiện. Tinh thần hợp tác cũng nói lên đức tính cao qúy của người làm từ thiện là trân trọng và qúy mến những người cùng làm từ thiện như mình và công việc từ thiện của họ. Trong bầu khí lành mạnh này, ghen tuông, chỉ trích, so đo sẽ không có cơ hội phát sinh. 
5.   Không xét đoán động lực từ thiện của người khác:
Rất nhiều người hay đánh giá việc từ thiện của người khác, nhóm khác dưới cặp kiếng tiêu cực, nghi ngờ. Điều dễ nghi ngờ và dễ chụp mũ nhất, đó là động cơ, động lực của công việc từ thiện.
 Ghét ai, không ưa ai khi thấy họ làm  từ thiện là gán ngay cho nhãn hiệu: làm từ thiện vì muốn nổi tiếng, đi từ thiện để dễ lấy chồng, hăng say làm từ thiện vì cần được người khác tuyên dương công trạng, thành tích. Tính ghen ghét, ganh tỵ dễ làm những người cùng làm từ thiện xa nhau, tránh nhau, đố kỵ, chê bai nhau. Và đó là bi kịch của lòng nhân ái.
Đừng vừa làm từ thiện vừa châm biếm người làm từ thiện; vì như thế là làm giảm giá trị đạo đức trong công việc từ thiện mình đang làm. Cho dù biết rõ người khác làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo chỉ vì muốn nổi danh, hay tìm thanh thế, ảnh hưởng. Cứ bình an nghĩ rằng: thêm một bàn tay từ thiện là thêm được nhiều người bớt đói bớt khổ; vì dù mục đích của họ xấu hay tốt, họ vẫn là người có lòng; vì dám cho cái họ đang có; còn hơn nhiều người chẳng bao giờ dám chia sẻ, dùng tiền của mình giúp đỡ người khác túng bấn, nghèo nàn.

V. NHỮNG KHÓ KHĂN KHI LÀM TỪ THIỆN


1.   Dị nghị :
Làm từ thiện thường dính đến tiền bạc, có thể là tiền của bá tánh đóng góp, có thể là tiền của cơ quan, tổ chức ở xa... nhưng đã có mùi tiền là có dị nghị, lời ra tiếng vào. Tiền bạc cần thiết cho công tác từ thiện, nhưng cũng là nguyên cớ của nhiều thất bại trong từ thiện khi tiền không được kế toán minh bạch và xử dụng không đúng mục tiêu. Không thiếu những tổ chức từ thiện phải đóng cửa, tan hàng vì không chứng minh được chi thu. Không thiếu  những tâm hồn thiện chí phải buông tay, giã từ công tác từ thiện vì bị mang tiếng “biển thủ, lợi dụng tiền của người nghèo”.
Minh bạch trong chi thu là hoạch định ngay từ đầu lối vào, đường ra của tiền. Nếu chủ trương dùng hết tiền cho cứu trợ thì không cần nghĩ đến chuyện “tiền đẻ ra tiền”  bằng cách trích ra một phần tiền để đầu tư ngắn hạn, dài hạn. Nếu  rạch ròi ngay từ đầu nguyên tắc chi thu và công khai hoá tài chính thì không phải lấn cấn vì tham lạm, sai lầm hạch toán. Nếu cương quyết định rõ ranh giới quyền hạn của người trách nhiệm tiền bạc thì chẳng bao giờ phải đặt lại vấn đề tín nhiệm hay không tín nhiệm vì nghi ngờ, thắc mắc. Nếu tiền bạc từ thiện được xử dụng hợp lý thì chẳng sợ gì những “lời ong tiếng ve” của những người cố tình tấn công vì ác ý.
Trong một xã hội mà niềm tin không còn là một giá trị lớn, thì chuyện dị nghị, nghi ngờ là những chuyện thường ngày trong nhà, ngoài ngõ. Vì thế đôi khi cũng phải “phớt tỉnh Ăng Lê “để bình tâm làm việc từ thiện.          
2.   Khủng hoảng niềm tin :
Trong khi viết những giòng này, tôi đọc trên mạng rất nhiều  bài viết về chuyện làm từ thiện ở Việt Nam hôm nay. Các bài viết có ba khuynh hướng rõ rệt: Khuynh hướng thứ nhất chống triệt để việc Việt Kiều về nước làm từ thiện và giúp đỡ những tổ chức từ thiện ở quê nhà. Lý do được trưng dẫn là hầu hết các trung tâm từ thiện ở Việt Nam đều do những tay bịp bợm khai thác và tiền bạc thu được đều đổ vào túi những con buôn từ thiện này. Nhiều bài đã công khai nêu đích danh người sáng lập và điạ chỉ của trung tâm bị chỉ trích. Khuynh hướng thứ hai là không chống việc làm từ thiện ở Việt Nam, nhưng đề nghị không giao chuyển  tiền bạc cho bất cứ tổ chức hay cá nhân nào, mà phải tự mình trao tận tay người được trợ giúp. Lý do cũng như trên; vì không tin tưởng những người trung gian. Còn lại khuynh hướng cuối cùng là chấp nhận làm từ  thiện “hên xui may rủi”; nghiã là đành lòng gửi tiền giúp các trung tâm từ thiện nhưng xác xuất tin tưởng “toàn phần số tiền đến tay người cần được giúp đỡ ” rất thấp, nhưng vẫn chấp nhận.
Những bài viết trên mạng với ba khuynh hướng vừa kể phần nào đã nói lên tình trạng niềm tin bị khủng hoảng. Người ta không còn tin vào nhau nữa. Có thể vì kinh nghiệm chua cay, bẽ bàng làm người ta không dám đặt niềm tin vào người khác; có thể họat cảnh xã hội ngày nay bị ô nhiễm quá trầm trọng đến độ niềm tin trở thành một điều gì đó rất xa lạ, tưởng như không có. Không có niềm tin, con người khó gửi gắm nhau tâm sự, ước mơ, tiền bạc. Vắng bóng niềm tin, người ta cũng mất đi nhiều cơ hội xây dựng hạnh phúc cho nhau và dễ mất nhau trong dửng dưng, xa lạ. Hiện tượng mất niềm tin nơi những người làm từ thiện, dù đến từ đâu và dưới góc cạnh nào, ít nhiều cũng gây ra hậu qủa rất tiêu cực cho những nỗ lực phục vụ đồng bào xấu số của nhiều người thành tâm, thiện chí luôn cần bàn tay đóng góp của mọi người. 
3.   Cám dỗ : “tìm mình, chỉ có mình” :
Bản chất của công việc từ thiện là cao qúy, nên có thể gây cho người làm từ thiện ảo tưởng “mình là người hùng, thánh nhân, ân nhân của nhân loại”. Không thiếu những phô trương lố bịch nơi một số người làm từ thiện và không thiếu những cạnh tranh ấu trĩ giữa những người cùng làm từ thiện, giữa những tổ chức từ thiện vì những tước vị ảo, danh dự hão.
Như đã trình bầy ở trên: làm từ thiện là phải quên mình và chỉ  tìm kiếm hạnh phúc của người được giúp đỡ, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Tìm mình, vinh danh mình trong khi giúp người thiếu thốn hơn mình là thiếu sòng phẳng, công bằng. Dùng việc  từ thiện là phương tiện để tiến thân là không lương thiện ; bởi  lợi dụng sự có mặt khổ đau của người nghèo cho lợi ích cá nhân cũng đáng trách như hành vi  tham lạm, chiếm đoạt, riả rói tiền bạc của người nghèo.
Ý thức cơn cám dỗ “tìm mình, chỉ vì mình ” để tránh tìm danh, tìm ảnh hưởng xã hội  cho riêng mình khi làm từ thiện  là nhắc nhở cần thiết cho người làm từ thiện. Rất ít người  lợi dụng tiền bạc của người nghèo khi làm từ thiện, nhưng một số không nhỏ có thể dùng  người nghèo như những nấc thang cho địa vị và danh thơm của họ trong xã hội.
Xoá mình khi phục vụ người cô thân, yếu thế, phận nhỏ hẩm hiu đòi quên mình triệt để; bởi không quên mình, cơn cám dỗ danh vọng, quyền lực sẽ khó buông tha khuynh hướng vị kỷ vốn tiềm tàng nơi mỗi người, nhất là khi họ đang đóng vai “người thi ơn, kẻ ban phát”.  
Bên cạnh cám dỗ “tìm mình” là cám dỗ “chỉ có mình”  khi thành qủa của từ thiện được nhiều người biết đến, khi công tác từ thiện tạo được tiếng vang, bùng lên ngọn lửa phong trào.
“Chỉ có mình” là thái độ tự mãn đưa đến độc tôn khi coi thường hay phủ nhận thành công, đóng góp của những tổ chức từ thiện “bạn bè, láng diềng, lân cận”. Thái độ ấy càng nguy hiểm khi biến chất thành đối đầu, đối kháng, đối nghịch với chính những người cùng một chí hướng, theo đuổi cùng một lý tưởng phục vụ người nghèo, người bệnh, người thất học.
Như thế mới biết: làm từ thiện không dễ vì đòi nhiều điều kiện; bởi  từ thiện là một nghề: nghề yêu thương, nghề phục vụ, một nghề cao qúy và khó nên cần được quan tâm đào tạo và trui rèn qua luyện tập, thử thách.      

4.   Tính bi quan, cầu toàn :
Ước vọng chung của tất cả những ai dấn thân làm từ thiện là hạnh phúc của nhân loại. Giấc mơ của những tâm hồn thiện nguyện này là thế giới không còn người đói, người bệnh, người thất học. Chính vì thế, hơn ai hết, họ dễ rơi vào tình trạng tâm lý cầu tòan; nghiã là muốn công việc từ thiện của họ mang lại kết qủa không những nhiều, lớn mà còn “ tuyệt diệu và ngay lập tức”. Họ cảm thấy bực bội khi  những người nhận sự giúp đỡ từ họ cứ “ tỉnh bơ, nhẩn nha, thong thả, hay ù lì ” trong ngõ bí cuộc đời. Đôi khi họ giận dỗi những  người nghèo khi những người  này không tỏ ra mau mắn, sốt sắng tìm đường thoát thân khỏi cảnh nghèo. Đến một lúc, họ chán nản vì cho rằng: công sức và tiền bạc của họ đổ vào đều vô ích.  Kết qủa là họ bi quan, không hứng thú làm từ thiện nữa.
Tâm trạng cầu tòan và bi quan trên không thiếu nơi những người làm từ thiện; nếu họ không chấp nhận từ đầu: làm từ thiện đòi một tầm nhìn xa, không đợi kết qủa trước mắt nhưng nhẫn nại chờ ngày muà, như hạt lúa cần thời gian để thối đi, nẩy mầm, lớn lên và trổ bông, đơm hạt.
Một điểm quan trọng khác cần phải xác định  là “ưu tiên số một” của từ thiện không là thành quả nắm bắt ngay, thấy được ngay, kiểm chứng được liền tại chỗ;  nhưng chính là sự có mặt “cảm thông, chia sẻ”  của con người bên những con người khác trong cơn túng quẫn, thất thế, sa cơ để làm nổi bật giá trị của tình người . Ưu tiên số một ấy cho thấy đâu là đất người, đâu là đất lành, đâu là nơi con người sống. “Nơì nào, ở đâu” đó chính là nơi có những con người đang yêu thương, chia sẻ, đùm bọc, nâng đỡ, dắt dìu nhau.
Ưu tiên số một này còn là dấu ấn không thể phai của một cộng đồng nhân loại được thành hình, sinh hoạt và mãi mãi trường tồn bởi những con người đã dám yêu thương bằng hành động hiến dâng, chia sẻ. Ưu tiên số một ấy còn  là dấu chứng không thể chối cãi của một thế giới loài người luôn ý thức điều kiện căn bản của cuộc sống con người là một cuộc “sống chung, sống với”, ở đó không ai là một hòn đảo và mọi người đều liên đới, gắn bó, cột chặt vào nhau bằng giây ân tình như “giây mơ rễ má” để  cùng sống và cùng phát triển.
Khi sự hiện diện có “tình người” được coi là “ưu tiên một” khi làm từ thiện, ta sẽ an tâm khi biết sự có mặt bằng xương bằng thịt, bằng mồ hôi nhọc mệt, bằng nụ cười yêu thương, bằng thái độ vui vẻ, lịch thiệp, bằng cung cách tương kính, nhã nhặn mà  ta đang cố gắng có sẽ tạo điều kiện cho  nhiều phép lạ của tình người được thực hiện. Phép lạ lớn nhất của việc làm từ thiện là sưởi ấm  trái tim giá lạnh cô đơn của người bất hạnh  Phép lạ vĩ đại nhất của công tác từ thiện là mạc khải cho người xấu số một chân lý: vẫn có người thương họ trong cuộc đời. Phép lạ thường xuyên nhất khi dấn thân làm từ thiện là khám phá hạnh phúc lớn lao, sâu sa, lắng đọng nhất ở con người là biết mình còn có chỗ trong tim người khác. Từ thiện khi đó mang một chiều kích siêu hình vì chạm tới sâu thẳm mầu nhiệm của Tuyệt Đối : Thượng Đế.

VI. TUỔI TRẺ VIỆT NAM HÔM NAY VÀ “LÀM TỪ THIỆN”


Những ngày dong duổi trên khắp nẻo đường quê hương từ thành phố xa hoa, “ăn chơi lút cán” đến thôn xóm nghèo “chưa từng thấy”, tôi đã chứng kiến, gần gũi và trải nghiệm một tuổi trẻ rất đa dạng. Đa dạng ở sức sống, đa dạng ở sinh hoạt, đa dạng ở góc nhìn, tầm ngắm. Có những bạn trẻ miệt mài, nhưng cũng không thiếu những bạn trẻ sa đoạ. Có những bàn chân luôn cố bước tới, nhưng cũng còn đó nhiều biếng lười, dựa dẫm, ỷ lại. Có những giọt mồ hôi mặn  nồng hy sinh, nhưng cũng có những bàn tay nhẫn tâm phá hoại. Có những tận tụy ân cần và cũng có những lạnh lùng, dửng dưng.
 Những đa dạng này xem ra muốn báo động một tuổi trẻ đang bị khủng hoảng trầm trọng. Tuổi trẻ khủng hoảng trong căn tính, trong suy tư, ngay trong môi trường sống. Nét đa dạng cũng cảnh giác một khủng hoảng niềm tin, khủng hoảng bậc thang giá trị. Nét đa dạng ấy cũng kín đáo mời gọi người lớn cần tín nhiệm tuổi trẻ hơn và trở nên một tấm gương, một  mẫu mực cho họ
Trước những bế tắc của hiện tại, đe doạ của tương lai, tuổi trẻ dễ rơi vào tình trạng mất hướng, mất điểm tựa, mất thăng bằng. Tất cả đều không xa và nhanh chóng dẫn đến “cái mất chính mình”.
Trên đây là bức tranh về tuổi trẻ Việt Nam hôm nay do tôi tự vẽ ra  từ những gì tôi thấy và cảm nhận trên quê hương tôi. Nó có thể mang tính chủ quan và  phiếm diện ; nhưng bức tranh ấy  giúp tôi can đảm nhìn sự thật và  khiêm tốn đón nhận thực tế để không một kiêu hãnh, tự hào qúa đáng nào, dù là tự hào dân tộc có cơ may lấn lướt công tác nhận định rất tế nhị tôi đang làm. Cũng nhờ vậy mà  tôi không bi quan, hay trầm trọng hoá bất cứ vấn đề nào tôi gặp nơi người trẻ. Tôi luôn mến thương và đặt niềm tin nơi họ vì ở đâu, bất cứ điểm dừng chân, buổi gặp gỡ, trao đổi nào, tôi cũng nhận ra ở người trẻ Việt Nam  một mẫu số chung. Đó là thao thức đi tìm, băn khoăn muốn biết và liều lĩnh muốn mạo hiểm. Với tôi, đó là ba chân kiềng cần thiết làm thành ước mơ và giá trị của tuổi trẻ. Đó cũng là những điều làm cho bức tranh tuổi trẻ có giá trị vì mang tính thách đố hiện thực. Ở đây, tôi chỉ có thể đề cập về mẫu số chung này trong phạm vi “làm từ thiện” , đề tài được chọn để chúng ta cùng chia sẻ.
Thực vậy, nếu nghiên cứu sinh hoạt làm từ thiện ở Việt Nam, ta sẽ bỡ ngỡ và vui mừng khi thấy thành phần trẻ chiếm đa số. Ở trung tâm nuôi trẻ khuyết tật Di An, không ngày nào văng bóng các bạn sinh viên, học sinh từ thành phố đến thăm và sinh hoạt với các em bé mồ côi, khuyết tật. Những chuyến công tác  cuối tuần gồm toàn bạn trẻ hăng say phục vụ người nghèo, người bệnh ở các vùng  thôn quê, hẻo lánh, nghèo nàn. Các chương trình khám bệnh từ thiện của các bác sĩ trẻ, xây dựng nhà cho dân nghèo của các sinh viên Kiến Trúc, hướng dẫn y tế thường thức của sinh viên các trường Y Khoa ... và nhiều tổ chức, sinh hoạt từ thiện được khởi xướng và sinh hoạt do các bạn trẻ đã nói lên tinh thần trẻ: nhập cuộc và phục vụ  của tuổi trẻ Việt nam hôm nay. Đây là niềm tự hào của giới trẻ và cũng là niềm hãnh diện của mọi  người Việt Nam; bởi bao lâu người trẻ còn  dám dấn thân hy sinh phục vụ, bấy lâu đất nước và nhân loại còn  tràn đầy niềm hy vọng thăng tiến. Cái đáng lo của một dân tộc là khi tuổi trẻ của dân tộc ấy không còn biết băn khoăn, thao thức và dám liều lĩnh mạo hiểm. Rất may, tuổi trẻ Việt Nam còn rất đông những người có đủ ba chân kiềng Băn Khoăn, Thao Thức, Liều Lĩnh này.
Người trẻ đã học được gì trong công việc từ thiện ? Nói cách khác, người trẻ đã gặt hái được những gì cho chính mình khi chấp nhận “tự đào tạo” qua các công tác nhân đạo, từ thiện ? .
1.   Trước hết, họ ra khỏi vỏ ốc kiêu căng, háo thắng thường gặp nơi những người trẻ thành công trong học vấn, hoặc thuộc gia đình  sang giầu, bề thế. Tham gia công tác từ thiện giúp bạn trẻ nhận ra tính tương đối của kiếp người khi đối diện với những mảnh đời bất hạnh, xấu số hơn mình. Họ sẽ nhờ những lần gặp gỡ cận kề người đau bệnh, tàn tật để hiểu ra rằng  những gì họ có đều là hồng ân, những gì họ hưởng phần lớn không do họ làm ra, tự tạo, nhưng do tình yêu, lòng tốt, tận tụy hy sinh của nhiều người, khởi đầu danh sách những ân nhân này là cha mẹ, gia đình, thầy cô...Tính kiêu căng, ngạo mạn, khinh người hay các kiểu “chảnh ”, “nhìn đời bằng nửa con mắt”  sẽ bớt dần khi những khổ đau thân xác và tinh thần của những người họ phục vụ đánh thức và nhắc nhở họ về tính vô thường của đời sống và những giới hạn rất đáng thương của kiếp người.
2.   Người trẻ sẽ tránh được căn bệnh thời đại rất nguy hiểm là Vô Cảm. Vô cảm là dửng dưng trước sự có mặt, đời sống và hoàn cảnh của người khác. Người vô cảm không quan tâm đến ai, nói chi đến khổ đau, hạnh phúc, vui  buồn, thành công, thất bại của người chung quanh. Họ không biết “vui với ai mừng vui, khóc với ai đang khổ sầu”. Trái tim sơ cứng, trí khôn đặc sệt một chất vô cảm có sức tàn phá  kinh khủng biến họ thành vô tâm, vô tình đối với tha nhân và vô phương, vô vọng, vô phúc cho chính bản thân họ.
 Bệnh Vô Cảm làm xã hội loài người bị đóng băng, biến gia đình thành địa ngục và khai tử tâm hồn bằng gieo hạt độc “trống vắng”. Không trống vắng sao được khi vô cảm làm họ chẳng giữ được dù là một chút tình cảm của người khác trong trái tim. Trái tim không rung cảm, không mang ân tình, không lưu trữ hình ảnh yêu thương, dấu ái làm sao được gọi là trái tim hạnh phúc, yêu thương ? Trái tim không còn nhậy bén trước một mời gọi, không còn trăn trở cho hạnh phúc, không còn rạo rực,  bâng khuâng khi mới yêu,  không còn xót xa, xao xuyến khi chia lià, không còn ngây ngất, đam mê khi trao dâng - đón nhận thì làm sao còn được gọi là tổng hành dinh của sự sống ? Trái tim ấy chỉ còn là một lỗ hổng vô vị, một cục thịt thừa thãi tai ương, một trống rỗng đáng nôn mửa mà sự sống của nó không hơn “cái chết lâm sàng”.
3.   Sự hiện diện của người thiếu thốn, nghèo khổ, bệnh tật cũng sẽ giúp người trẻ phản tỉnh để rồi tự hổ thẹn về lối sống thực dụng nếu có của mình và  nhìn ra những lố bịch của một đời sống hoang phí, ích kỷ, hưởng thụ, không có ích cho ai . Bên cạnh căn bệnh vô cảm là hiểm hoạ thực dụng. Cả hai là những bệnh nan y khó chữa cần được đề phòng và chích ngừa thường xuyên bởi một thứ thuốc rất rẻ, có sẵn trong trái tim mỗi người. Tên loại thần dược ấy  là Yêu Thương.
4.   Người trẻ khi làm từ thiện không những thấy được sự thật về con người qua hoàn cảnh “tội nghiệp”, mà còn khám phá tính mầu nhiệm của sự sống con người.
Họ sẽ cảm nghiệm sự sống rất  huyền bí, mầu nhiệm. Sự sống ấy mong manh, dễ mất, dễ tan, nhưng rất cao qúy và tuyệt vời. Mầu nhiệm sự sống của con người ở ngay chính trong những khổ đau, trần trụi, giới hạn rất thảm thương của con người. Nó hiện diện trong chính thân phận mỏng dòn của con người. Nó mặc nguyên hình con người trong bé nhỏ, yếu đuối của con người; nhưng đằng sau tất cả những giới hạn, sự sống con người nổi bật lên tính mầu nhiệm, huyền bí.
Dường như Thượng Đế đã đích thân can thiệp để con người được thông phần tuyệt đối xuyên qua mầu nhiệm sự sống. Nhờ cảm nghiệm  mầu nhiệm sự sống, người trẻ sẽ biết trân trọng sự sống mà khi đứng trước nó, trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người chỉ còn một chọn lựa duy nhất là phải cứu lấy sự sống với bất cứ giá nào. Như thế, sự sống sẽ không còn bị xếp vào những hàng số và gọi tên bằng các số thứ tự để thêm bớt, lên xuống tùy tiện kể cả  vì một lý do không chính đáng và bằng những phương thế phi nhân, phản lại chính sự sống.
Sự sống nhờ được tôn trọng sẽ giữ được phẩm giá của mình và không ai có thể ngang ngược coi thường, huỷ hoại sự sống. Trong nền văn minh của sự sống mà người trẻ vẫn tự hào là tác viên, sự sống phải được tuyệt đối tôn trọng, tôn trọng đến cùng cho dù sự sống ấy chỉ còn là một hơi thở thoi thóp, một thân thể  gầy giơ xương, một dáng dấp tàn phế vô dụng.
Học biết tôn trọng giá trị sự sống là nét đẹp của người trẻ, sức bật của nền văn minh sự sống, một nền văn minh mà người trẻ đã chọn như lý tưởng, đối nghịch với  nền văn minh sự chết là những gì đe doạ, ngăn cản, phá hủy sự sống của con người.
Làm từ thiện như thế đã trở thành một trường đào tạo mà người trẻ tự nguyện gia nhập để tự đào tạo mình: đào tạo thành  một con người mới với cái nhìn vị tha, xây dựng một nhân cách mới với thái độ hướng đến cộng đồng, thay đổi một qủa tim mới bằng thịt để bớt chai đá, nhưng nhân ái, hiền lành hơn. Tất cả là một chương trình tự đào tạo tuyệt vời mà việc làm từ thiện đề nghị.
Không gì tốt hơn là học sống làm người bằng sống với người, tập yêu thương con người bằng yêu thương người chung quanh,  học chia sẻ với đồng loại bằng chính hành động sẻ chia  trong đời thường với những người kém may mắn. Như thế, tương lai một quốc gia, hạnh phúc của một dân tộc chắc chắn sẽ được bảo đảm nhờ xác tín vững chắc và dấn thân qủa cảm của những người sẽ nắm vận mệnh nhân loại sau này là tuổi trẻ hôm nay, khi họ biết thao thức, băn khoăn và liều lĩnh lên đường phục vụ vì hạnh phúc của những người  đang cần đến lòng tốt và hy sinh của họ.
 Hôm qua tôi nhận Email của Quỳnh, cô cháu tôi viết : “ Chú ơi, con mới đi thăm Lều Cỏ về, nghe thầy Ngọc bảo người chủ đất muốn bán đất cho một công ty ngoại quốc nên xin thầy dời anh chị em Sida đi nơi khác. Thầy không biết sẽ đi đâu với 22  người con Sida của thầy... Cháu thấy tội quá. Chị Dung nói ở Bình Dương có một miếng đất khá rộng, dời Lều Cỏ lên đó thì tuyệt, nhưng giá trên 6 tỷ cơ ... Trên đường về, hai đứa đã mua 10 vé số với hy vọng trúng to để có tiền mua đất cho thầy Ngọc làm Lều Cỏ. Chú cầu nguyện nhé !”.
Tôi không hy vọng Dung và Quỳnh sẽ trúng số để có tiền mua đất cho thầy Ngọc giúp bệnh nhân Sida ở thời kỳ cuối, nhưng tôi thấy mình đã trúng lớn khi Email của cháu Quỳnh làm chứng cho những gì tôi viết ở trên về tuổi trẻ Việt Nam hôm nay giữa một xã hội “thực dụng, tiêu thụ - hưởng thụ” tưởng không còn gì đáng nói, để nói nữa.
Và cứ thế, người trẻ Việt Nam vẫn mãi miệt mài, hăng say trong công tác từ thiện dưới nhiều hình thức. Có bạn thích lo cho trẻ em khuyết tật, có bạn chăm lo người già, có bạn dành nhiệt tình cho người nghèo dân tộc, có bạn chuyên chăm dậy các em bé thất học, bụi đời... Như Quỳnh, tuổi trẻ Việt Nam  đằm thắm, dễ thương, ân cần, tế nhị, nhẹ nhàng, kín đáo. Như Hạnh, người trẻ Việt Nam  nhẫn nại, hy sinh, kiên cường, nhiệt thành, nhiều sáng kiến và chịu chơi vô cùng...Và như tất cả bạn trẻ Việt Nam,  chúng ta hãy cùng nhau tận tụy  gieo mỗi ngày những hạt giống tâm hồn “Tình người”,  chờ  ngày mùa sẽ đến, cho người đói rét được no ấm, bệnh nhân được chữa lành, thất học được đến trường và cõi lòng tan nát được san sẻ, ủi an. 

LỜI KẾT (Tác phẩm : Người Nghèo Và Từ Thiện, Tác giả Jorathe Nắng Tím)


Viết về từ thiện là hướng lòng về người nghèo, người nghèo có thể là bác xe ôm hàng xóm với năm đứa con nhỏ bụng ỏng da chì, hay cụ già cuối thôn cô qủa, mà cũng có thể là chính tôi, người đang viết những dòng này; bởi nghèo không chỉ tóm gọn trong thiếu thốn vật chất, mà có thể nghèo ở tinh thần như nghèo kiến thức, nghèo đạo đức, nghèo tư duy.
Nếu tuổi thơ có tâm lý tuổi thơ, tuổi già có tâm lý tuổi già, người giầu có tâm lý người giầu, thì người nghèo cũng có những đặc tính riêng, những vấn đề riêng, những suy tư, chọn lựa riêng không giống những người thuộc các thành phần xã hội khác.
Trước hết, người nghèo là người mang nhiều mặc cảm: mặc cảm nghèo, mặc cảm thua thiệt, mặc cảm bị Trời đoạ đầy, mặc cảm bị người đời bỏ rơi, mặc cảm không được lắng nghe, mặc cảm là người “không tiếng nói”, mặc cảm không được tham dự, góp phần, mặc cảm bị cô lập, khoanh vùng, mặc cảm vô tích sự, gánh nặng của cộng đoàn, mặc cảm thừa thãi, vô dụng, mặc cảm vô tài, bất lực, mặc cảm ăn bám ở nhờ, mặc cảm tầm gửi, lệ thuộc… và vô số những mặc cảm  không tên khác.
Vì mang qúa nhiều mặc cảm, người nghèo rất nhậy cảm trước cái nhìn, lời nói, thái độ của người khác, nhất là của những người thân cận, quen biết, hay những người giúp đỡ họ. Họ dễ hiểu lầm cái nhìn của người khác, dễ tủi thân khi nghe những lời không êm tai, dễ đau khổ trước thái độ thiếu tôn trọng và ân cần. Tâm hồn người nghèo như sợi giây đàn qúa căng, nên chỉ cần chạm nhẹ cũng đủ  rung lên tiếng lòng bi thương, ai oán.
Sẵn căng thẳng vì cảnh nghèo,  trái tim người nghèo như liên lỷ lên cơn sốt, động một tý là nhiễm độc, sơ sẩy một chút là  bị tổn thương, nên những sơ ý của người khác dễ trở thành  niềm đau, nỗi nhục của họ. 
Vì thế, đến với người nghèo bằng thái độ kẻ cả, trịch thượng là xúc phạm họ; giúp đỡ họ mà kể công, tạo áp lực là chà đạp họ; cho họ cơm ăn, áo mặc mà  nạt nộ họ là xỉ nhục họ; giúp họ “xoá đói giảm nghèo” mà chì chiết, mặt nặng mặt nhẹ với họ là vùi dập họ chìm sâu hơn; chia sẻ, bàn bạc với họ để giúp họ ra khỏi cảnh nghèo mà lên lớp dậy dỗ  là đẩy họ vào chân tường thất bại.
Bởi người nghèo sẵn “nghèo” nên sẵn sàng liều lĩnh phí đời, buông đời khi bị xỉ nhục. Bởi người nghèo sẵn không có gì, nên chẳng có gì được coi là quan trọng cần phải cất giữ với họ, kể cả sự sống, khi bị người khác coi thường, khinh khi. Và đó chính là lý do khiến những người làm từ thiện phải đặc biệt lưu ý, hầu tránh gây thêm khổ đau, buồn tủi cho người nghèo đang khi mình thực lòng muốn chia sẻ, ủi an, nâng đỡ họ.
Để tâm hồn người làm từ thiện luôn nồng nàn tình yêu người nghèo và cái nhìn, lời nói, thái độ của họ mãi là những hạt giống Hy Vọng, Tin Yêu, tưởng  không gì hay hơn là thắp sáng trong tim  tâm tình biết ơn người nghèo.
Qủa thực, không gì phi lý hơn khi mang của đi cho mà còn phải biết ơn. Nhưng đó là suy nghĩ bình thường, dễ đưa đến thái độ coi người nhận sự giúp đỡ “thấp cơ, dưới trướng, không cùng đẳng cấp” với mình. Đó cũng là lý do dễ biến những người làm từ thiện trở thành những người đạo đức “tự mãn, tự hào” với công trạng của mình.
Khác với ý nghĩ trên là tâm tình biết ơn người nghèo; vì chính  nhờ người nghèo mà ta nhận ra ta cũng nghèo như họ, nếu có khác là khác ở phạm trù nghèo, và mức độ nghèo. Biết ơn người nghèo  cũng giúp ta tránh kiêu căng, ngạo mạn khi nghĩ mình chẳng bao giờ nghèo, vì ai biết hết được ngày mai? Nhưng quan trọng hơn là người nghèo cho ta cơ hội chia sẻ, phục vụ và nhờ đó, ta biết sống tình người; và nhờ có tình người, đời ta được coi là  một đời người đáng sống, có giá trị.
Tâm tình biết ơn người nghèo rất cần thiết, vì người nghèo mang lại cho đời ta phúc lộc. Sở dĩ họ mang lại ơn phúc, vì người nghèo là người của Trời, Phật, người được Trời yêu thương, được Phật che chở, và ai phục vụ người nghèo, người ấy được Trời thương, Phật phù hộ. Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo đã khẳng định người nghèo được Thiên Chúa yêu thương và ai làm phúc cho người nghèo là “làm phúc” cho chính Thiên Chúa: “Việc gì con làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất, chính là làm cho Ta” (Mt 25,40).
Thiên Chúa đã chọn người nghèo làm đối tượng tình yêu của Ngài và là đường cho con người đến gặp Thiên Chúa. Qua người nghèo, chúng ta đến với Thiên Chúa và với người nghèo, chúng ta bước vào thiên đàng.  
Gửi gắm bạn  những chia sẻ về “người nghèo và làm từ thiện”, người viết không mong gì hơn là được cùng bạn tập yêu thương hơn mỗi ngày, không chỉ yêu mẹ cha, anh em, vợ con, gia đình, bạn hữu, mà còn yêu nhiều, yêu hơn nữa những người nghèo còn vất vưởng, cơ cực ở gần nhà, trong xóm ngõ, giữa công viên, trên hè phố… Họ là những người đáng yêu, tuy dung mạo đáng buồn vì nghèo. Họ là những người dễ thương, nhưng đáng thương vì túng quẫn. Nhưng trên hết và trước hết, họ là những con người như bạn, như tôi và đang cần bàn tay của tôi, của bạn.    
Viết xong tại Paris ngày 27/9/2013,
Lễ thánh Vincent de Paul, Tông Đồ Người Nghèo.
Jorathe Nắng Tím