Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2020

TRÔNG ĐỢI VÀ ĐAU KHỔ



Không niềm trông đợi nào lại không vương vấn nỗi lo, không hành trình hy vọng nào lại không giăng mắc mây đen thất vọng, bởi tự thân trông đợi là thế, như có khả thể thất vọngthì hy vọng mới có giá trị và ý nghiã đích thực, cũng như có khả năng và điều kiện để phản bội, thì trung tín, chung thủy mới qúy báu, cao cả.  

   Cựu Ước cho chúng ta thấy hành trình về Đất Hứa của dân Thiên Chúa ngay từ đầu đã là buổi lên đường giông bão khi quân Ai Cập, gồm toàn thể chiến mã, chiến xa của Pharaô, kỵ binh và quân lực của vua ấy, đuổi theo và bắt kịp họ, khi họ đóng trại bên bờ biển (Xh 14, 9). Hành trình ấy tiếp nối với đủ thử thách, gian nan: từ thiếu thốn của ăn, thức uống, nguy hiểm của bệnh tật, rắn độc (x. Ds 21,4-9), đến những cuộc tấn công của các bộ lạc như người Amalếch… (x. Xh 17,8-16), như vua Êđôm không cho mượn đường đi qua, dù sứ giả của Môsê đã hết lời van xin: Chúng tôi sẽ không băng qua ruộng rẫy, vườn nho, không uống nước giếng, nhưng cứ vương lộ mà đi, không rẽ bên phải hay bên trái, cho tới khi ra khỏi biên giới của ngài…; và nếu chúng tôi và đàn vật của chúng tôi có uống nước của ngài, thì chúng tôi sẽ tính sòng phẳng…”. nhưng vua Êđôm nói: Không được”, rồi đưa quân đông đảo và võ trang hùng hậu ra chặn đường (Ds 20, 17.19.20). 

   Chính vì phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, vất vả không thể kể hết, mà dân Chúa khó tránh khỏi những lúc tinh thần suy sụp đến nỗi đã kêu trách Thiên Chúa và ông Môsê: Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống?” (Ds 21,5). 

    Qủa thực, trong Cựu Ước, nếu dân Chúa đã sa đi sa lại, ngã lên ngã xuống liên tục trên đường về Đất Hứa, vì Lời Hứa của Thiên Chúa đặt họ trước tự do: Tự do tin tưởng vào Lời Hứa, và tự do không tin vào Lời Hứa, tự do bước đi với Đức Chúa khi Ngài đi đàng trước họ: ban ngày thì ở trong cột mây để dẫn đường, ban đêm thì ở trong cột lửa để soi sáng, nên họ có thể đi cả  ban ngày lẫn ban đêm (Xh 13, 21), và tự do rẽ lối, bỏ hàng đi theo thần dân ngoại, đơn phương hủy bỏ Giao Ước, thì trong Tân Ước, Đức Giêsu cũng cho những người đi theo Ngài thấy trước những đau khổ họ phải chịu trên đường về vương quốc của Thiên Chúa hằng sống.

1.   Đức Giêsu không che giấu, hay nguỵ trang đau khổ bằng những mỹ từ mị dân  hay hình ảnh bánh vẽ

   Vì đời là bể khổ do tội lỗi, vì đời là thung lũng nước mắt do sự dữ theo tội lỗi đi vào thế gian, nên Thoát sinh ra thì đà khóc chóe. Trần  có vui sao chẳng cười khì?” (Thơ của cụ Nguyễn Công Trứ), nên chẳng ai vào đời mà không đối diện với thử thách, làm người mà thoát khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử, sống ở đời mà tránh hết khổ đau, chán ngán, thất vọng. Trái lại, đau khổ là một thực tại hiển nhiên, sừng sững làm khổ con người, làm chao đảo, bấn loạn cuộc sống, mà không ai có thể cắt nghiã, và giải quyết rốt ráo.             

   Chính Thiên Chúa làm người cũng đi vào thế gian, đến với con người qua con đường đau khổ, con đường vác thập giá”, con đường chịu đóng đinh trên thập tự”, và người môn đệ đi theo Ngài cũng chỉ duy nhất một con đường phải đi, đó là con đường Mến Thánh Giá”, khi từ bỏ mình, vác thập giá mình là những trái ý, nghịch lòng, đau đớn, đau khổ trong cuộc đời. 

   Trước đau khổ của những con người đau đớn thân xác, đau khổ tinh thần mà Ngài gặp suốt cuộc đời làm người, Đức Giêsu đã chia sẻ, ủi an, cứu chữa với một tâm tình cảm thông sâu sa, và lòng tôn trọng chân thành. 

2.       Đức Giêsu cho chúng ta thấy ý nghiã và giá trị của đau khổ trong nhiệm cuộc cứu độ của Thiên Chúa:

     Ngài thương cảm, an ủi, chữa lành, nhưng không hứa lấy đi khỏi loài người mọi đau khổ. 

     Một lần kia, Đức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. Các môn đệ hỏi Người: Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến ngưòi này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta? Đức Giêsu trả lời: Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh (Ga 9,1-3). 

    Qua sự kiện trên, chúng ta thấy Đức Giêsu một cách gián tiếp không phủ nhận đau khổ là do tội lỗi, nhưng cùng lúc Ngài lại qủa quyết : không phải bất cứ đau khổ nào cũng do tội, nhưng có những đau khổ mang sứ mệnh làm vinh danh Thiên Chúa, như đau khổ chịu mù loà của người khiếm thị bẩm sinh mà Ngài đã chữa lành, khi nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa”.Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được”. (Ga 9, 6-7). 

    Như thế, có những đau khổ không do tội lỗi, như chúng ta thường suy đoán, hoặc suy diễn, luận tội những người không may mắn bị tật nguyền, đại loai như Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, Ác giả, ác báo”. Do đó, thuyết nhân – quả không được coi là nguyên tắc bất di bất dịch trong đau khổ của con người. Bằng chứng là Đức Giêsu đã phủ nhận ý nghĩ của các môn đệ, khi khẳng định ngược lại: không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội mà anh ta phải mù lòa. Không những thế, Ngài còn xác quyết: nhưng anh chịu đau khổ mù loà là để mọi người nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”.

   Quả thực, các môn đệ Đức Giêsu, cũng như phần lớn trong chúng ta, không ai đã nghĩ anh mù kia đã chịu đau khổ từ thuở mới sinh để công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”. Trái lại, thành kiến, thiếu từ tâm, óc duy lý và suy diễn theo kiểu thế gian đã đẩy chúng ta đi đến kết luận đơn giản nhưng vô cùng ác độc, đó là do tội của anh hoặc tội của cha mẹ anh, mà anh đã bị Thiên Chúa phạt mù loà từ thuở mới sinh.

    Quả quyết của Đức Giêsu đã mở ra cho chúng ta một chân trời mới  về mầu nhiệm đau khổ”, để từ đây, chúng ta không nhìn đau khổ thuần túy như hình phạt của Thiên Chúa trên người tội lỗi, cũng  không dựa trên mức độ bất hạnh để kết án người này nhiều tội, người kia ít tội, nhưng ý thức đau khổ là một mầu nhiệm, đau khổ có sứ mạng của nó, mà chỉ một mình Thiên Chúa biết và định liệu. Như thế, chúng ta sẽ nhìn đau khổ bằng đôi mắt  đức tin, và vui lòng đón nhận đau khổ trong tinh thần phó thác tuyệt đối vào mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa.      

3.   Đức Giêsu đã hứa ban hạnh phúc cho những ai đau khổ:

   Trong Bài Giảng trên núi, Đức Giêsu đã công khai chúc phúc cho những người đau khổ trong cuộc sống dương thế. Họ là những người nghèo, vì đã nghèo là khổ, nghèo nên bị đời khinh, bị người cô lập, xa lánh, và Thiên Chúa đã hứa ban hạnh phúc Nước Trời cho họ; họ là những người sầu khổ vì bị phụ tình, phản bội, sầu buồn vì đau ốm, tật nguyền, sầu đau vì thiên tai, nhân tai, sầu nhớ vì xa cách, ly biệt, sầu thương vì phận số hẩm hiu, bế tắc, cùng đường…, và Thiên Chúa đã hứa ủi an họ; họ là những người đau khổ trăm bề, ngàn nỗi khi bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa vì khao khát nên người công chính, vì yêu chuộng và xây dựng hoà bình, vì loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, và Thiên Chúa đã hứa ban cho họ được thoả lòng mong đợi, được có Thiên Chúa làm gia nghiệp, được phần thưởng lớn lao trên trời (x. Mt 5,2-12).      

   Cũng trong Tin Mừng Matthêu, Đức Giêsu đã kê ra danh sách  những người đau khổ gồm những người đói ăn, khát uống, rách rưới, trần truồng, đau ốm, tù đầy, lưu lạc tha hương, và tự đồng hoá mình với họ, đến độ ai làm phúc cho những người đau khổ này chính là làm phúc cho Thiên Chúa, ai khinh khi, nguyền rủa, bóc lột, bạc đãi những người đau khổ này là khinh khi, nguyền rủa, bóc lột, bạc đãi chính Thiên Chúa (x. Mt 25, 31-46). Điều này đã nói lên tình yêu của Thiên Chúa hằng bao bọc những con người đau khổ trên đường trông đợi Lời Hứa.   

     Vâng, mang thân phận con người, chúng ta không tránh được đau khổ, không chỉ vì đau khổ đã lọt vào thế giới loài người do tội lỗi, nhưng đau khổ còn là dấu ấn của tính hữu hạn, dòn mỏng, yếu đuối của phận người. Vì thế, lên án đau khổ, bất mãn, nổi loạn với Trời, với người và với mình vì đau khổ, hoặc tuyệt vọng, tuyệt mạng vì đau khổ thiết tưởng đều là thái độ tự sát, thái độ tiêu cực nguy hiểm mà người có niềm tin không thể để mình rơi vào. 

   Bởi Thiên Chúa đã làm người và chịu đau khổ; bởi Ngôi Lời của Thiên Chúa đã chọn đau khổ và cái chết là đau khổ kinh hoàng nhất để cứu chuộc; bởi Đức Giêsu đã mặc khải về sứ mạng mầu nhiệm của đau khổ là làm cho công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện; bởi chính Đấng cứu độ loài người đã hứa phần thưởng lớn lao và hạnh phúc đời đời cho những ai đi với Ngài trên đường trông đợi đẵm mồ hôi và nước mắt vì đau khổ; bởi hành trình của Lời Hứa là đường dài có roi đòn, mạo gai, đinh sắt và Thánh Giá; đường đi tới buổi sáng Phục Sinh là đường qua Núi Sọ tang thương và mộ phận hắt hiu, sầu tủi.     

    Thực vậy, trên đường trông đợi Ngày Chúa đến”, mỗi người Kitô hữu đều được mời gọi chung phần đau khổ của Thánh Giá Đức Giêsu để sinh ơn cứu rỗi mình, và vì lợi ích chung của Giáo Hội, như thánh Phaolô đã thâm tín: Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan, thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh (Cl 1,24), với một niềm tin kiên vững: không một đau khổ nào trên đường Thánh Giá mà không đem lại ơn xá tội, thánh hoá ta và người khác, bởi Nếu ta cùng chết với Đức Kitô, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng đau khổ với Đức Kitô, ta sẽ cùng hiển trị với Người (2Tm1,11-12).

   Xin Chúa ban cho tất cả chúng ta ơn sức mạnh của Chúa Thánh Thần, để trên đường trông đợi Lời Chúa hứa, trước vô vàn đau khổ đủ kích cỡ, độ lượng, chúng ta vẫn một lòng một dạ yêu mến phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ anh em, bởi Thiên Chúa là Đấng luôn một lòng trung tín, vì không thể nào chối bỏ chính mình (2 Tm 1,13) đã hứa phần thưởng đời đời cho những tâm hồn tan nát vì khổ đau trong cuộc sống trông đợi.  

Jorathe Nắng Tím   

TRÔNG ĐỢI VÀ THỬ THÁCH

 

Một sự thực mà phần đông dân ítraen đã không ngờ là Lời của Thiên Chúa Giavê hứa với họ : “Ta là Đức Chúa. Ta sẽ cứu các ngươi khỏi làm việc khổ sai cho người Ai Cập, sẽ cứu các ngươi khỏi làm nô lệ chúng. Ta sẽ giơ cánh tay uy lực mà chuộc các ngươi lại” (Xh 6,6) đã không là lý do để từ nay họ không phải chiến đấu trước những thử thách đủ loại, càng không là bảo đảm của một cuộc sống lười biếng, rong chơi, thụ hưởng, hay không còn phải làm việc “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”. Trái lại, trông đợi không lọai bỏ thử thách, Lời Hứa không triệt tiêu phấn đấu, hy sinh, và hình ảnh những năm tháng dài Vượt Qua để về Đất Hứa của dân Thiên Chúa cho chúng ta thấy Trông Đợi và Thử Thách luôn sánh đôi đồng hành .

1.   Lời Hứa của Thiên Chúa và tự do đón nhận Lời Hứa của con người :

Lời Hứa của Thiên Chúa luôn đòi con người tự do đón nhận hay khước từ, vì Lời Hứa không áp đặt, tạo áp lực trên người được hưởng Lời Hứa, như ai đó hứa với ta điều gì, ta luôn có quyền không  quan tâm đến việc thực hiện lời hứa ấy, nếu ta không muốn, vì không tin hoăc không yêu mến người đã mở lời hứa với ta.

Vì thế, Lời Hứa của Thiên Chúa mang bản chất và sắc thái của một Giao Ước như chính Ngài đã nói với Môsê : “Này Ta sắp lập một giao ước. Trước mặt toàn dân của ngươi, Ta sẽ làm những việc lạ lùng chưa hề được thực hiện trong một nước hay một dân nào. Toàn dân ở chung quanh ngươi sẽ thấy việc Đức Chúa làm, vì điều Ta sắp dùng ngươi mà làm thì thật dáng sợ” (Xh 34,10).

Và điều mà Thiên Chúa đòi dân Ngài phải đáp lại Lời Hứa, điều kiện mà Ítraen phải đáp ứng để Lời Hứa của Thiên Chúa Giavê  được thực hiện chính là “Hãy giữ kỹ điều Ta truyền cho ngươi hôm nay… Hãy ý tứ, đừng lập giao ước với dân cư trong xứ nơi ngươi sắp vào, kẻo chúng trở thành cạm bẫy ở giữa ngươi” (Xh 34,11.12).

 

2.   Lời Hứa của Thiên Chúa mở ra và kêu gọi lòng trung tín của con người :

Nếu không có Lời Hứa của Thiên Chúa Giavê, Ítraen không trông đợi ngày giải phóng, không hy vọng những ngày được sống bình an, thịnh vượng trên “miền đất chảy sữa và mật”, nhất là không trông đợi có Thiên Chúa đầy uy lực bảo vệ, hướng dẫn, thì Ítraen không cần phải chu toàn một khế ước, giao kèo với Thiên Chúa Giavê.

Nhưng vấn đề ở đây là Thiên Chúa đã đi vào lịch sử của dân tộc này, và nhận Ítraen là dân riêng, thuộc về riêng Ngài, nên đòi hỏi Ngài đưa ra mà Ítraen phải tuân giữ chính là “Ngươi không được lập giao ước với dân cư trong xứ, kẻo khi chúng đàng điếm với các thần của chúng và tế họ, chúng sẽ mời người và ngươi sẽ ăn đồ cúng của  chúng, ngươi sẽ kén vợ cho con trai ngươi trong số con gái của chúng, con gái chúng sẽ đàng điếm với các thần của chúng và làm cho con trai ngươi đàng điếm với các thần đó” (Xh 34,15-16).

Tất cả cạm bẫy sẽ đến từ việc “lập giao ước với dân cư trong xứ”, mà Thiên Chúa cảnh báo Môsê và dân Ngài, bởi Ngài biết dân Ngài sẽ không kiên định giữ Giao Ước đã ký kết vói Ngài trước những cám dỗ của dân ngoại, để rồi rơi vào tình trạng phản bội Thiên Chúa, theo dân ngoại đúc tạc và thờ lậy ngẫu thần.

Thiên Chúa cũng biết mọi tội lỗi sẽ ập về cuốn trôi dân Ngài, khi Ítraen không còn trung tín với Giao Ước, không còn tin vào Lời Hứa của Ngài. 

Thực vậy, Lời Hứa không là “bánh vẽ”, thuốc phiện cho con người ru ngủ mình trong mộng vàng ảo tưởng, nhưng là khởi đầu một hành trình Vượt Qua nhiều thử thách, là liều lĩnh dấn thân trên con đường đầy thách đố, mạo hiểm, do Lời Hứa lôi cuốn, thúc đẩy. Chính Lời Hứa làm cho hành trình phấn đấu có ý nghiã ; chính Giao Ước ban cho trái tim nhiệt huyết và đôi chân sức mạnh dẻo dai để vượt qua mọi gian nan, vất vả.

3.   Lời Hứa của Thiên Chúa thể hiện lòng thương xót và trung tín của  Ngài :

Ítraen đã không nghĩ rằng mình có thể phản bội Thiên Chúa dễ dàng đến thế, và Môsê đã không thể tưởng tượng dân đã cứng đầu cứng cổ đến như vậy, với không biết bao nhiêu lần vi phạm Giao Ước, chối bỏ Lời Hứa của Thiên Chúa Giavê.

Không nói đến những lần kêu ca, trách móc, than thở “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống ?” (Xh 15,24), “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây !” (Xh 16,3). Chỉ kể đến lần Ítraen đã làm một tội rất lớn là bỏ Thiên Chúa Giavê và thay thế Giavê Thiên Chúa bằng Bò Vàng, khi “toàn dân gỡ các khuyên vàng đeo tai và đem đến cho ông Aharon. Ông lấy vàng từ tay họ trao cho, đem đúc và dùng dao mà gọt đẽo thành một con bê. Bấy giờ họ nói : “Hỡi Ítraen, đây là thần của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai Cập. Thấy vậy, ông Aharon dựng một bàn thờ trước tượng con bê …” (Xh 32,3-5).

Thế là Lời Hứa của Thiên Chúa bị khinh miệt, từ chối bởi toàn dân và cả Aharon, người thay mặt Môsê lãnh đạo dân trong khi Môsê vắng mặt, lên núi gặp Thiên Chúa ; Giao Ước ký kết với Thiên Chúa đơn phương bị dân xé bỏ cách tàn nhẫn, phũ phàng ; tình thương và ân huệ của Thiên Chúa bị chính dân Ngài phủ nhận khi nhận bò vàng là thần đã giải phóng họ khỏi đất Ai Cập.

Qủa thực không còn tội ác nào kinh khủng hơn, không còn hành động phản phúc nào nặng nề hơn, không còn xúc phạm nào đáng nguyền rủa, trừng phạt hơn. Thế mà Thiên Chúa vẫn nhẫn nại, trung tín với Lời Ngài hứa, và bao dung tha thứ cho dân, khi phán với ông Môsê : “Ngươi hãy đẽo hai bia đá giống như hai bia trước. Và Ta sẽ ghi lại trên đó những lời đã ghi trên các bia trước mà ngươi đã đập vỡ. Ngươi hãy chuẩn bị sẵn sàng cho sáng ngày mai”. Và ngày mai, “Đức Chúa đã ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông”, và Ngài xưng mình là “Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giầu nhân nghiã và thành tín, giữ lòng nhân nghiã với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi…” (Xh 34, 1-2.5-7).

Trong Tân Ước, Lời Hứa của Thiên Chúa : “Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2) và “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23) cũng đòi điều kiện : “Anh em hãy sám hối”, tức “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mt 3,3).

Đây cũng là thách đố đầy cam go, thử thách đòi nhiều cố gắng, hy sinh để vượt qua, vì không ai “trốn được cơn thịnh nộ của Thiên Chúa”, nếu không sám hối, cũng như đừng ai tưởng rằng “chúng ta có tổ phụ Ápraham” (Mt 3,7-9), vì “Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham. Cái rìu đã đã đặt sát gốc cây : bất cứ cây nào không sinh qủa tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Mt 3,9-10), như Thiên Chúa Giavê đã nói với Môsê về Ítraen cứng đầu : Tuy là Thiên Chúa nhân hậu và từ bi… nhưng Thiên Chúa “không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông” (Xh 34,8).

Vâng, Trông Đợi không miễn trừ những thách đố, thử thách trước những cám dỗ phản phúc, bội ước đối với Thiên Chúa và Giao Ước, Lời Hứa của Ngài. Trông đợi cũng không lấy đi những giới hạn, yếu đuối, mỏng dòn của thân phận làm người nơi chúng ta. Vì thế, là con cái của Lời Hứa, thuộc giống nòi của Giao Ước, người Kitô hữu được mời gọi học với Môsê, “con người khiêm nhường nhất trong con cái loài người” (Ds 12,3) để khiêm hạ phủ phục thờ lậy và thân thưa : “Lậy Chúa, nếu qủa thực con được nghiã với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài” (Xh 34,9).

Với tâm tình khiêm tốn tín thác trông đợi ấy, Thiên Chúa sẽ không đành lòng ngoảnh mặt làm ngơ, và thịnh nộ trừng phạt, nhưng  thương xót tha tội và cùng đi với chúng ta trên đường Hy Vọng vào Lời Hứa Cứu Độ và Trông Đợi ngày Chúa đến đón chúng con vào trong vinh quang của Ngài.

Jorathe Nắng Tím

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2020

MÙA THU BUỒN

 


Mùa thu gợi nhớ, gợi tình, và là mùa thai nghén, cưu mang những cuộc tình lãng mạng cho mùa xuân về đơm hoa kết trái. Nhưng thu năm nay buồn thật buồn. Buồn vì rừng thu vẫn vàng óng ả dưới nắng nhẹ, nhưng vắng những cặp tình nhân thênh thang dệt mơ ước ; buồn vì lá thu vẫn rơi theo từng cơn gío, nhưng lòng người đã thay mênh mang của tình thu bằng hoang vắng của thu bão lụt, thay nhung nhớ của gió thu yêu thương bằng lo sợ của mùa thu đe dọa chết chóc…

Không buồn sao được mùa thu năm nay, khi thế giới tan hoang vì đại dịch Covid : không biết bao nhiêu gia đình rơi vào túng quẫn vì thất nghiệp, người trẻ mất cơ hội vào đời khi vừa tốt nghiệp ra trường, trẻ em không còn tự do tung tăng chạy nhảy ở sân trường, trong công viên, trên bãi biển. Biện pháp phong toả ngày càng chặt chẽ đang làm cho đời sống ngày thêm ngột ngạt, tù túng, và mùa thu tê tái buồn như mùa thu đau bệnh...

Không buồn sao được khi bão tố cứ từng cơn kéo về dữ dội hất tung tất cả, phá đổ tất cả, làm tất cả tiêu tan. Không buồn sao được mùa thu năm nay nhận chìm một phần ba quê hương chúng ta trong nước lũ, khi lũ giận dữ đổ về tàn phá không thương tiếc, để lại cho người dân miền Trung một cảnh tang thương không thể tưởng tượng : tang thương gấp bội cảnh “màn trời chiếu đất”, vì còn màn trời chống muỗi và chiếu để nằm, đàng này, lũ lụt không cho đất để đứng, cũng chẳng cho trời làm màn, nhưng trên cao hay duới thấp, ngang hay dọc, trước mặt hay sau lưng, tất cả đều chỉ  là nước và chỉ còn nước.

Nước cuốn trôi con người, nước nhận chìm gia súc, nước bứng rễ cây cối, bật tung nền móng cầu đường, dinh thự, nhà cửa, công trình. Nước nổi giận và trả thù, nên chẳng còn biết phải trái, điều độ, vừa phải với con người… Ngay cả với người chết, nước cũng chẳng xót thương cho khô cạn để được chôn cất hay thiêu đốt thành tro bụi.

Không buồn sao được muà thu năm nay, khi liên tiếp chưa đầy nửa tháng, hai thanh niên, một đến từ Nga, một đến từ Tunisie đã lấy đi bốn mạng người một cách vô cùng man rợ, trên một đất nước tự do, nhân quyền, dân chủ bậc nhất thế giới. Cả hai bạn trẻ này đều là người Hồi Giáo, nhưng qúa khích, cuồng tín, một người được nước Pháp cho tỵ nạn, người kia vừa trốn từ Tunisie và vào nước Pháp bất hợp pháp từ đầu tháng 10 đã dùng dao đâm chết và cắt cổ dã man bốn công dân Pháp : ngày 16.10. 2020, Abdoullakh Anrozov, 18 tuổi đã cắt cổ ông Samuel Paty, người Pháp 47 tuổi, cha của một bé gái mới 5 tuổi, giáo sư sử địa tại thành phố Conflans-Ste-Hororine, vì cho rằng giáo sư đã bôi bác đại tiên tri Mahômét, khi dậy về quyền tự do tư tưởng trong lớp ; và ngày 29.10.2020, sinh nhật của đại tiên tri hồi giáo Mahômét, khoảng 9 giờ sáng, một thanh niên người Tunisie, 21 tuổi đã vào nhà thờ Notre-Dame de l’Assomption (Đức Mẹ Mông Triệu) giữa thành phố Nice dùng dao cắt cổ một phụ nữ 60 tuổi, đâm chết một chị khác 44 tuổi, mẹ của ba con  nhỏ  trong khi cả hai đang qùy cầu nguyện. Ngay lúc đó, ông  Vincent L, 55 tuổi, “ông từ” của nhà thờ vừa bước vào cũng bị tên khủng bố khống chế bằng dao và cắt cổ tại chỗ. Cả hai thanh niên hồi giáo qúa khích và giết người đều hô lớn “Đức Alla thật vĩ đại! Allah Akbar!” trước khi bị cảnh sát bắn gục, một chết tại chỗ, một bị thương nặng.   

Cuộc thảm sát ba Kitô hữu ở Nice vừa qua đang làm người dân Pháp bàng hoàng, ghê sợ trước làn sóng khủng bố của “hồi giáo qúa khích”, như toàn thế giới đã kinh hoàng trước biến cố cha Jacques Hamel 86 tuổi, thuộc giáo xứ Saint Etienne-du-Rouvray giáo phận Rouen, cách đây bốn năm, vào ngày 26.07.2016 đã bị hai người hồi giáo qúa khích, cuồng tín, Abdel Kermiche, và Abdel Malik Boukezzoula, cả hai cùng 19 tuổi xông lên cung thánh cắt cổ đang khi Ngài dâng thánh lễ trong nhà thờ giáo xứ.

Muà thu năm nay buồn thật, buồn hơn nhiều mùa thu khác đã qua. Trong nỗi buồn pha lẫn lo sợ, nhiều người cho rằng đã đến thời kỳ cuối, khi Satan được phép xổ lồng hoành hành, khuynh đảo loài người ; có người bực bội với thiên nhiên và cho rằng thiên nhiên đang trả thù con người vì con người đã không tôn trọng, gìn giữ thiên nhiên ; một số không nhỏ trách móc Thiên Chúa đang nhắm mắt làm ngơ trước sự dữ và đang tâm bỏ rơi con người.

Người viết tôn trọng quyền đặt vấn nạn, và quyền chọn đáp án của mỗi người, nên chỉ ghi lại ở đây sắc thái buồn của mùa thu năm nay : một mùa thu rất buồn cho đất nước vì bão lũ, cho cả địa cầu vì đại dịch Covid, và làn sóng khủng bố nhân danh tôn giáo, bởi đâu đâu cũng ảm đạm, tiêu điều, nơi nào cũng hốt hoảng, lo sợ, ở đâu cũng ngộp thở, phập phồng, tưởng chừng hiện tại là kề cận nguy hiểm, và tương lai là đối mặt rủi ro.

Nhưng với niềm tin vào Đức Giêsu, Thiên Chúa của lịch sử, Thiên Chúa làm chủ lịch sử, chúng ta có quyền và có lý do tin vào Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ. Ngài sẽ đến với Bình An của buổi sáng Phục Sinh, sau những ngày sầu buồn, tang thương chết chóc của thập giá, núi sọ, mộ phần.

Ước gì trong những ngày thu buồn, hạnh phúc không thể mất và không chịu để mất trong trái tim người Kitô hữu vẫn là Đức Giêsu, Nguồn Vui ơn Cứu Độ cho những ai hết lòng tin tưởng vào Ngài.

Jorathe Nắng Tím         

Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2020

BÃO LỤT - BÃO LÒNG


 


Nhiều tỉnh miền Trung Việt Nam bị bão lụt, dồn dập hết cơn bão này đến cơn bão khác lấy đi không biết bao nhiêu sinh mạng, nhà cửa, gia sản, hoa mầu ruộng vườn, và để lại một trời thương đau, một miền đất nước thê lương, điêu tàn, một tương lai mịt mờ, ảm đạm cho hàng chục triệu con dân Việt Nam.

Trước cảnh lầm than, khốn khó do bão lụt gây nên, rất nhiều tấm lòng từ khắp nơi, không chỉ trên vùng trời đất nước, mà khắp địa cầu đang thổn thức hướng về miền trung để cùng đau nỗi đau của quê nhà, cùng khổ nỗi khổ của người mất tất cả vì bão lụt.

Những thổn thức, cảm thương ấy không dừng lại ở tình cảm, nhưng biến thành hành động chia sẻ thiết thực, cụ thể, khi cả nước, cả cộng đồng Việt Nam trên toàn thế giới lòng đồng lòng, tay trong tay đóng góp tiền của, vật dụng cần thiết để cứu trợ miền trung bão lụt.

Người ta có dịp được sắn cao ống quần lội nước với các siêu sao, người mẫu, ca sĩ nổi danh, nghệ sĩ tên tuổi đến từng nhà để trao tặng lương thực, tiền bạc ; người ta phấn khởi đi cùng Giám Mục, Linh Mục, tu sĩ, Thượng Tọa, Đại Đức, Ni sư trên những chuyến xe đầy ắp đồ cứu trợ từ miền tây, miền đông ngày đêm nối đuôi tiến thẳng ra miền Trung bão lụt ; người ta được tận mắt nhìn những em bé tự nguyện không ăn qùa để dành tiền giúp bão lụt miền trung ; người ta xúc động trước tuổi trẻ Việt Nam khắp năm châu yêu quê hương, đồng bào đã quyên góp từng đồng, từng đôla, từng euro gửi về đất mẹ để sẻ chia nỗi đau hoang tàn, mất mát của nạn nhân bão lụt ; và người ta có quyền cùng mơ một tuơng lai tốt đẹp hơn khi được chiêm ngắm từng đoàn người gồm đủ thành phần xã hội lên đường cứu trợ các gia đình nửa sống nửa chết trong giông bão, lũ lụt…

Nhưng ngoài nỗi đau của bão lụt, người dân miền trung bất hạnh còn đau thêm nỗi đau của bão lòng, khi đồng tiền ít oi nhận được từ những tấm lòng hảo tâm thình lình bị trấn lột bởi những kẻ tự cho mình cái quyền thu hồi tiền cứu trợ vì “công ích” ; nạn nhân bão lụt bất ngờ gánh thêm nát tan của bão lòng, khi khám phá  không ít người đã lợi dụng bão lụt để ăn chặn, cắt xén qũy cứu trợ, do lòng tham không đáy, lương tâm băng hoại, tình người cạn kiệt ; người dân nghèo xác xơ vì bão lụt, nay bão lòng kéo về cuốn phăng đi niềm tin còn sót lại mà bấy lâu đặt hết vào những người  tưởng là tử tế, “có lòng” bỗng bị bão lụt làm rơi mặt nạ,  hiện nguyên hình là kẻ đã mượn bão để cào cấu xác thân tiều tụy của người dân bị nạn, mượn lụt để hút máu trẻ em nghèo chết đuối trong nước lũ tử thần ; miền trung  đất khổ quằn quại trong thiên tai bão lụt bất ngờ co giật đau đớn khi nhận diện “lòng lang dạ thú” ở những dung mạo từ tâm, đạo hạnh, bởi chính họ đang kinh doanh bão tố, đầu tư lũ lụt để vinh thân phì da, củng cố thế lực,thu gom ảnh hưởng của phe cánh, băng đảng.

Và giữa những cơn bão đang làm đau lòng người dân miền Trung bất hạnh này, cơn bão “độc quyền phân phát cứu trợ” là bão lòng đáng sợ nhất, bởi nó lấy quyền khóa chặt hàng triệu trái tim yêu thương cần được “tự nguyện” hướng về vùng bão lụt, buộc chặt những cánh tay muốn được “tự vươn” đến miền trung chìm trong lũ, trói chặt mọi bàn tay muốn được “tự chia sẻ”, cứu trợ, tái thiết miền trung bị tàn phá, hủy hoại tận cùng.

Tội nghiệp cho dân mình, tội nghiệp người miền trung năm nào cũng phải gánh chịu hết bão tố đến lụt lội, tội nghiệp người dân nghèo vùng đất khổ lắm thiên tai… Và tội nghiệp lắm, tội nghiệp vô cùng, nếu thiên tai bão lụt cứ từng ngày trở nên qúa nặng nề đối với sức người có hạn của người dân miền trung đau khổ, khi những cơn bão lòng do tham lam, ích kỷ, vô cảm, vô tâm cứ đua nhau đổ về nhẫn tâm càn quét.

Jorathe Nắng Tím      

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2020

VẼ NGƯỜI

 


Thế giới càng văn minh, người ta càng thích vẽ : nghệ thuật trang điểm là vẽ cho đẹp mắt mũi, môi miệng ; nghệ thuật xâm mình là vẽ đủ thứ mình thích, mình ước mơ trên da thịt ; nghệ thuật hóa trang là vẽ thế nào cho thiên hạ không còn nhận ra mình. Và càng ngày người ta càng say mê vẽ vời trên mình, để rồi quen tay tô vẽ đủ thứ hình ảnh, mầu sắc trên người khác.

Nếu vẽ trên mình nhằm mục đích che dấu những vết nhăn, vết nứt, vết nhám, vết lồi lõm trên thân thể, thì vẽ trên người khác lại thường có khuynh hướng làm xấu đi những nét đẹp sẵn có trên thân xác tha nhân ; nếu vẽ trên mặt mũi mình với ước muốn làm đẹp mình hơn, thì vẽ trên mặt thiên hạ lại mang ý đồ “bôi tro trát trấu”, làm xấu đi dung nhan vốn không đến nỗi của người chung quanh ; nếu vẽ mình với sắc mầu rực rỡ, tươi thắm, thì vẽ người khác luôn được dùng gam mầu tối đen, ảm đạm, khô héo, tàn úa ; nếu bút mầu dùng để vẽ mình nhẹ như tơ, mềm như nhung, thì cây cọ dùng để vẽ mặt người lại  ngắn dài tua tủa những gai nhọn như bàn chông sắt ; nếu hình ảnh được dùng để vẽ mình thơ mộng, quyến rũ, thì  khi vẽ người sẽ biến thành thô kệch, bỉ ổi,  xấu xa, kinh dị ; nếu nét vẽ thanh tao, trang nhã được dành để vẽ mình, thì bợm trợm, lưu manh, gian ác, bần tiện, điếm đàng sẽ được dành để vẽ người.

Qủa thực, chúng ta không còn nhiều may mắn để biết được sự thật trong xã hội ngập tràn gian dối này : không biết người khác thật, giả đã dành, nhưng không biết cả  mặt mình, thân xác mình, lịch sử  đời mình đã bị thiên hạ vẽ vời ra sao, tô vẽ như thế nào…, nên có khi mình “dốt đặc cán mai”, khờ khạo như cục đất khi cần lại được thiên hạ vẽ thành tên phù thủy quyền năng, gian ngoa, thủ đọan ; có khi chỉ biết dăm ba chữ để kiếm cơm qua ngày, nhưng bất chợt được thiên hạ cần đến đã cho vào sổ phong thần, khi vẽ nên một nhân vật cực kỳ đáng ngại, một siêu  lừa đảo thượng thặng, vô đối…    

Vì thế, sống trong một xã hội mà ai cũng nhăm nhăm cây cọ với thùng sơn, và lấy làm thích thú, hả dạ khi bôi được lên mặt người khác, lên cuộc đời người chung quanh những hình ảnh “rác rưới” dơ bẩn mình muốn, và những ước muốn thấp hèn của bản năng ích kỷ, thì qủa thực chúng ta đang phải sống một cuộc sống không được bình yên, trong một thế giới loài người mất dần “nhân tính”.

Mất dần nhân tính vì người ta không còn lương tri khi tự cho phép mình lấy đi dung mạo “con người” của người khác, bằng biến họ thành dị nhân, ma quái, ác qủy dưới cây cọ phóng đại gian dối ; mất dần nhân tính vì người ta không còn lương tâm, khi cho mình cái quyền đúc tạc, vẽ vời, tạo khuôn, tạo hình cuộc đời người khác, bằng bôi trét nham nhở, trắng trợn bóp méo hình ảnh “con người” của tha nhân ; mất dần nhân tính vì người ta không còn lương thiện để ngượng ngùng khi thêm răng nanh, sừng nhọn, móng vuốt trên con người của người khác ; và đến một lúc nhân tính sẽ không còn khi người ta làm tất cả công việc họa hình, tô vẽ người khác với ý đồ làm nhục, vu khống, chụp mũ, hãm hại, tiêu diệt người khác, cho thoả cơn say ích kỷ hại nhân.

Trước tình trạng đáng ghê tởm “vẽ người” ngày càng rôm rả, ăn khách, được mùa, chúng ta phải làm gì?

Thưa chúng ta chẳng cần quan tâm, vì những hình ảnh xấu xa người khác vẽ lên ta cũng chỉ là đống rác bẩn thỉu của chính con người họ, mà những gì là cặn bã, rác rưới tự nó sẽ bị tiêu hủy, mà chẳng cần chúng ta nhúng tay nổi lửa đốt ; những nét vẽ nham nhở, thô kệch, châm biếm họ vẽ trên người chúng ta cũng chỉ là những tính cách đặc trưng, đặc thù của chính con người họ, nó sẽ trở về với họ, mà không thể ở lâu với ta, vì không có đất sống, cũng không có chỗ trụ lại trên mình chúng ta ; những râu ria, nanh vuốt, đuôi sừng  họ cắm trên thân thể chúng ta cũng chỉ là những phần cốt yếu của chính con người họ, nên dù có xả cảng đi đâu, có cắt bỏ rồi  ném thật xa qua nhà người khác, nó cũng có chân, có cánh mò về với chủ nhân của nó ; những nét vẽ “kinh tởm, kinh hãi, kinh khủng, kinh hoàng, kinh khiếp, kinh dị, kinh thiên động địạ” họ gán cho chúng ta thực chất chỉ là những gì họ đã lâu ngày cưu mang, nuôi lớn, chúng đã mọc sâu, ăn rễ chằng chịt trong tâm hồn họ, nên có cố bứng đi, nó cũng không chịu rời con người, ở đó chúng  đã chiếm cứ, thao túng.

Không quan tâm đồng nghĩa với không chấp những việc của những kẻ “chưa lớn nổi thành người”, vì trí khôn qúa chật hẹp, và trái tim “ao tù” thiên thu ; không quan tâm còn đồng nghiã với tha thứ, bỏ qua cho kẻ kiếm chuyện “vẽ người” , vì qủa thực họ không đủ khả năng để biết và trách nhiệm trên những gì họ vẽ vời, bôi bác trên mặt và cuộc đời người khác.

Và cuối cùng, một lý do mạnh khác để chúng ta không cần quan tâm đến những người chuyên lo “vẽ người” với dã tâm, ác ý, đó là ngay cả Thưọng Đế là Đấng vô hình, vô tượng, mà con người không hề biết, không hề gặp, không hề thấy, không hề nghe bao giờ cũng còn bị  những kẻ “không tâm, không tầm”, phản phúc, vô ơn vẽ vời, đúc tạc thành hình con vật, như dân Do Thái trong sa mạc, trên đường về Đất Hứa năm xưa đã đúc tượng bò vàng và lập bàn thờ bái lậy bò vàng, như thần đã đưa họ ra khỏi đất Ai Cập (x. Xh 32,3-5), huống hồ chúng ta là “con người”, nên chuyện bị “người khác” vẽ vời, thêu dệt, đúc tạc hình tượng theo “tối kiến” của họ với mục tiêu bôi nhọ hình ảnh và làm ô uế cuộc đời chúng ta ắt là điều khó tránh khỏi, nên phải được coi là chuyện “tàm phào, tào lao”, không đáng chúng ta quan tâm.

Ước gì thế giới bớt dần đạo quân “vẽ người” để mọi người được sống những ngày bình yên với sự thật của chính mình.

Jorathe Nắng Tím    

   

 

 

   

 

NIỀM AN ỦI

 

Lễ cầu cho các Linh Hồn, Năm A





Thật là nỗi đau buồn không kể xiết, khi mất ông bà, cha mẹ, anh chị em, bạn hữu trong năm 2020. Đau buồn vì ở xa không về được, mà có ở kề bên cũng không được phép tập trung đông người, nên không lo liệu chu đáo hậu sự cho các vị, cũng  không được tổ chức lễ an táng như lòng mong ước. Tang quyến còn đau buồn khi thấy người thân ra đi cô đơn, nhà thờ trống trải, những ngày quàn xác ít người thăm viếng, cầu nguyện, và người đưa tiễn ra mộ phần thưa thớt, vội vã đến tang thương ngậm ngùi…

Qủa thực, chết buồn lắm, nhưng chết trong mùa Covid còn buồn hơn gấp bội. Nhiều bạn tôi mất cha, mất mẹ trong mùa dịch đã chỉ biết ôm mặt nức nở khóc ở quê người, vì không một phương tiện cho phép những người con đau khổ  được về quê hương chịu tang cha mẹ.

Hôm nay Giáo Hội nhớ đến những người con đã ra đi cũng là dịp Giáo Hội an ủi những người con còn ở lại đang buồn thương, nhung nhớ, luyến tiếc người thân đã qua đời bằng niềm hy vọng vào sự sống lại và tình yêu trung tín của Đức Giêsu :

1.   Đức Giêsu phục sinh là nền tảng của đức tin :

Chính Đức Giêsu đã  xác quyết ở Bêtania ngay trước khi gọi bạn Ladarô đã chôn được bốn ngày ra khỏi mồ : “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25). Thánh Phaolô quảng diễn chân lý này trong thư gửi giáo đoàn Côrinthô : “Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng. Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại” (1 Cr 15,13.20).

2.   Đức Giêsu  muốn tất cả chúng ta được sống lại với Ngài như ý muốn của Chúa Cha :

Đức Giêsu khao khát mọi người được sống lại với Ngài khi nói với người Do Thái về “Bánh bởi trời : Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. Mà ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,37-39).

Như thế ý muốn đời đời của Chúa Cha là tất cả chúng ta được sống lại, vì chúng ta thuộc về Thiên Chúa, và ý muốn thánh thiện đó đã được Đức Giêsu thực hiện bằng chương trình cứu chuộc, để không ai phải chết đời đời, nhưng được sống lại với Đức Giêsu hầu hưởng vinh quang của Thiên Chúa hằng sống.

3.   Đức Giêsu muốn tất cả chúng ta ở với Ngài :

Trong lời cầu nguyện thánh hiến trước khi lên đường Thương Khó, Đức Giêsu đã thân thưa với Chúa Cha : “Lậy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17,24).       

Khi yêu nhau, người ta không muốn và không thể xa nhau, nhưng muốn ở với nhau, ở trong nhau để được chung phần với nhau trong tất cả. Đức Giêsu muốn chúng ta ở với Ngài để chung hưởng vinh quang với Ngài trong tình yêu vô cùng của Cha Ngài. Ngài chia sẻ tất cả vinh quang, hạnh phúc của Ngài cho chúng ta, vì Ngài yêu chúng ta như Chúa Cha yêu thương Ngài. Chẳng thế mà Ngài chỉ ao ước : “Tất cả  nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (Ga 17,21).

Được Đức Giêsu bảo đảm sẽ được sống lại, được ở nơi Ngài ở, được hưởng niềm vui vinh quang Thiên Chúa của Ngài, nỗi buồn của chúng ta, những người đang sống khi nhớ đến thân nhân, ân nhân, bạn hữu, và mọi gười đã qua đời sẽ nguôi ngoai, vì tin tưởng ở lòng thương xót, bao dung vô bờ bến của Thiên Chúa, và ơn cứu độ vô giá, vô cùng của Đức Giêsu, Đấng “đến để phục vụ và hiến dâng  mạng sống làm giá chuộc muôn dân” (Mt 20,28). Chúng ta có cơ sở để hy vọng, một niềm hy vọng không phù phiếm, giả tạo, lừa dối, nhưng là hy vọng của đức tin : tin vào Thiên Chúa yêu thương loài người và không để một ai phải mất đi, nếu tin vào Ngài.

Chúng ta vui mừng trong niềm hy vọng khi tin những người thân yêu, quen biết đã ra đi sẽ được Chúa thương lau sạch nước mắt và mặc cho áo trắng tinh đã  giặt trong Máu của Con Thiên Chúa giầu lòng thương xót. Chúng ta tin lòng thương xót của Chúa vượt xa mọi yếu đuối, tội lụy và có sức xóa hết mọi tỳ vết để làm cho tất cả nên “trắng hơn tuyết”.

Sau cùng, trong sự hiệp thông của Hội Thánh, chúng ta tin vào tình yêu được chia sẻ giữa các chi thể của Thân Thể Giáo Hội, để công phúc của người này bù đắp những thiếu sót của người kia, lời cầu của nguời này kéo ơn phù trợ của Chúa xuống trên người nọ, vì tất  cả chúng ta chỉ là một Thân Thể có Đức Giêsu là Đầu.

Tháng Mười Một với thu buồn, lá vàng đổ! Sự sống nào ở thế gian rồi cũng phải bước qua ngưỡng cửa sự chết để đi vào sự sống đời đời. Xin Chúa cho chúng ta niềm hy vọng ở Đức Giêsu phục sinh, Đấng đến để chúng ta “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10), vì chính Ngài đã phán : “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù có chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26).

Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2020

TRÔNG ĐỢI

 


Trông đợi là tương quan giữa con người với Thiên Chúa. Đó là con người trong điều kiện hữu hạn của mình đã không có gì, không thấy gì, không biết gì,  không hiểu gì khi đi vào tương quan với Thiên Chúa vô biên, vô hạn. Cũng vì thế mà người ta có cớ lên án Kitô giáo là tôn giáo trông ngóng huyền hoặc, đợi chờ viển vông, và người Kitô hữu là những người khờ dại đã bỏ quên sống và hưởng thụ thế giới đời này, để điên cuồng trông đợi một thế giới đời sau chưa chắc đã có.

Qủa thực, khi đi tìm Thiên Chúa, và đi vào tương quan với Ngài, người môn đệ Đức Giêsu trông đợi vào Lời Hứa của Thiên Chúa, như Ápraham đã trông đợi vào Lời Hứa của Thiên Chúa Giavê : “Hãy ngước mắt lên trời, và thử đếm các vì sao, xem có đếm nổi không... Dòng dõi của ngươi sẽ như thế đó!” (St 15,5) và tín  thác lên đường đến nơi Thiên Chúa chỉ ; như Môsê trông đợi vào Lời Hứa giải phóng dân ông khỏi ách nô lệ của Ai Cập : “Ta đã thấy rõ ảnh khổ cực của dân ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than, vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật…” (Xh 3,7-8), đã mạnh dạn đến gặp Pharaô và các trưởng lão của Ítraen, mặc dù ăn nói ngong nghịu, lại chẳng thần thế, ảnh hưởng ; như Đức Maria trông đợi vào Lời Hứa “Đấng Cứu Tinh sẽ đến viếng thăm dân Người” đã qủa cảm trả lời sứ thần Gabrien : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38) ; như các tông đồ trông đợi vào Lời Hứa :“Tên của anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10,20), “phần thưởng của anh em thật lớn lao”  (Mt 5,12), và  “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20) đã liều lĩnh đến hy sinh mạng sống trong sứ vụ “đi khắp tứ phương thiên hạ làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).

Và ròng rã hai mươi mốt thế kỷ, hàng hàng lớp lớp những người đi theo Đức Giêsu đã sống cùng một lòng trông đợi này, khi triệt để tín thác vào Lời Hứa của Thiên Chúa : “Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,2-12)

Sở dĩ Đức Giêsu đã mời gọi những ai đi theo Ngài sống niềm Hy Vọng, vì Thiên Chúa mà chúng ta được đi vào trong tương quan với Ngài không phải là con người hữu hạn như chúng ta, lại càng không phải báu vật vô tri, vô cảm chúng ta có thể chiếm đọat như sở hữu một món đồ, nhưng Thiên Chúa là Nguồn mọi sự Thánh Thiện, sự thánh thiện mà chúng ta được kêu gọi đạt tới, sự thánh thiện mà Thiên Chúa ban cho chúng ta ân huệ được tham dự vào như giọt nước được tan biến vào đại dương bao la.

Chính vì thế, khi một tôn giáo mang tham vọng muốn biết hết Thiên Chúa của mình, tôn giáo ấy sẽ thay thế Thiên Chúa bằng cơ chế cực kỳ độc đóan, độc tài do những con người có quyền trong tôn giáo ấy tạo ra ; khi một tín đồ tự phụ cho rằng mình sở hữu  trọn vẹn Thiên Chúa, người  nghĩ mình có đức tin “chuyển núi dời non” ấy sẽ thay thế Thiên Chúa họ tôn thờ bằng hình ảnh một Thiên Chúa do chính họ vẽ ra, và bằng mọi giá bảo vệ hình ảnh ấy như một sở hữu bất biến và bất khả chuyển nhượng ; khi một người đi tu lầm tưởng rằng mình hiểu rõ Thiên Chúa mồn một như hiểu một bài toán, họ sẽ thay thế Thiên Chúa vô hạn bằng sáng tạo môt thiên chúa theo khuôn mẫu có giới hạn của loài người. Và như thế, Thiên Chúa sẽ không còn là Thiên Chúa như Ngài là nữa, nhưng là thiên chúa như con người muốn, theo khuôn mẫu con người đúc tạc, có dáng dấp, dung mạo, đam mê, tính tình theo sáng kiến phàm tục của con người vẽ ra.

Trái ngược với hiện tượng vừa kể, người môn đệ được Đức Giêsu mời gọi sống trông đợi : sống trông đợi trong một tôn giáo trông đợi khi cầu xin và ước nguyện cho “Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, sống trông đợi với một đức tin trông đợi khi “loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến”.  

Một Giáo Hội trông đợi, khi không tự làm mình khô héo, cằn cỗi vì chỉ chú tâm xây dựng pháo đài “cơ chế”, một nhà thần học trông đợi Thiên Chúa khi không giam mình trong giáo thuyết, một Kitô hữu trông đợi, khi không tự làm mình nghèo nàn vì chỉ tin vào kinh nghiệm của riêng mình, một tâm hồn trông đợi khi luôn mở rộng cửa lòng để đón nhận Ơn Thánh Thần, hơn kiêu hãnh, ngạo mạn lấy làm đủ với những gì mình có.

Tuy thế, trông đợi không là trông ngóng mông lung, đợi chờ vô vọng, nhưng là trông ngóng một Thiên Chúa hiện hữu đích thực, đợi chờ một Đấng không chỉ dựng nên trời đất muôn vật, muôn loài, mà còn làm chủ lịch sử của từng cá nhân cũng như của toàn thể nhân loại, nên Lời Hứa của Đấng Toàn Năng ấy tự nó đã là bảo chứng chắc chắn ; niềm hy vọng đặt vào Đấng Hằng Hữu ấy tự nó đã là sự thật vĩnh cửu, và đó chính là mấu chốt, nền tảng của niềm tin Kitô.

Từ nền tảng vững chắc là Thiên Chúa toàn năng và là Đấng trung tín, không bao giờ lừa dối ai, mà cuộc sống trông đợi ở Lời Hứa trở thành hành động hiện thực Lời Hứa, khao khát hy vọng ở Lời Hứa được biến thành hạnh phúc đạt được Lời Hứa, bởi khi sống niềm trông đợi ở Lời Hứa, chúng ta đã sống niềm an ủi của chính Lời Hứa đang theo thời gian hình thành, và khi khát khao hy vọng ở Lời Hứa, chúng ta được nếm sự ngọt ngào của Lời Hứa. Nói cách khác, trông đợi trong đức tin của người Kitô hữu là cảm nghiệm Lời Hứa đang được thực hiện ngay trong giây phút hiện tại, và sống niềm hy vọng vào Lời Hứa là dự phần ngay ở đây và lúc này vào niềm vui của Lời Thiên Chúa hứa.

Thực vậy, Giáo Hội là Mùa Vọng không bao giờ kết thúc cho đến ngày Chúa trở lại trong vinh quang, là mùa trông đợi “cho tới khi Chúa đến” và muà vọng của Giáo Hội thật rõ nét nơi hình ảnh người lữ hành, hình ảnh mà Đức Giêsu đã chọn cho Giáo Hội của Ngài khi sai Giáo Hội ra đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân : một Giáo Hội nghèo khó, khiêm nhu, tỉnh thức, sẵn sàng với hành trang giản dị, đơn sơ, với trái tim yêu thương, tin tưởng, phó thác, với trí khôn hướng thượng, rộng mở, tích cực.

Và như thế, người lữ hành của Thiên Chúa sẽ phấn khởi đi trên hành trình Mùa Vọng, trên những con đường Trông Đợi Lời Hứa với ơn của Chúa Thánh Thần, Đấng là làn gió Canh Tân sẽ không ngừng thánh hoá, đổi mới các tâm hồn người tín thác vào Lời Thiên Chúa hứa, và hướng dẫn từng bước chân của Giáo Hội lữ hành.      

Jorathe Nắng Tím

MỪNG LỄ CÁC THÁNH (Chúa Nhật 31 Thường Niên, Năm A)

 


Một bầu khí vui mừng, phấn khởi bao trùm Giáo Hội, không chỉ Giáo Hội chiến thắng trên trời với các thánh nam nữ mà chúng ta mừng kính hôm nay, mà cả Giáo Hội lữ hành là chúng ta, và Giáo Hội thanh luyện với những người đã đi trước chúng ta đang chờ được Thiên Chúa cho diện kiến Ngài trong Vương Quốc Nước Trời, khi tất cả đều hiệp lời tung hô : “Chính Thiên Chúa chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và chính Con Chiên đã cứu độ chúng ta” và “xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời! Amen!” (Kh 7,10.12).

Hình ảnh thiên đàng mà sách Khải Huyền mô tả cho chúng ta thấy các thánh không phải là một đám đông “nịnh thần” vây quanh một ông vua lạnh lùng, quyền uy, nhưng các thánh là những vị có một tương quan thân thiết, chí tình với Thiên Chúa : “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao” với Con Thiên Chúa ; “họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7,14),  là Đức Giêsu, “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”.

Như thế họ không xa lạ gì với Ngôi Lời Thiên Chúa, vì đã cùng trải qua cơn thử thách lớn lao với Đức Giêsu, và được tắm gội, thanh tẩy trong chính Máu Ngài, “vì Con Chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh” (Kh 7,17).

Từ hình ảnh đến ngôn từ đều cho chúng ta thấy hạnh phúc làm con Thiên Chúa của các thánh khi các ngài “không còn phải đói, phải khát, không còn bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa”, nhưng được “Thiên Chúa lau sạch nước mắt” (Kh 16-17) và được ở trong vòng tay ấm áp yêu thương của Thiên Chúa là người cha nhân hậu. Như thế, ở thiên đàng, các thánh không phải lấm lét, sợ hãi như những thần dân khốn nạn bị trị run rẩy trước uy nhan đức vua nghiêm khắc, hay thịnh nộ, nhưng các ngài hưởng hạnh phúc của những đứa con được cưng chiều, bởi như thánh Gioan khẳng định : Thiên Chúa yêu chúng ta “đến nỗi cho chúng ta là con Thiên Chúa, mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa” (1 Ga 3,1), nên “chúng ta biết rằng khi Đức Giêsu xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3,2).

Thực vậy, thiên đàng là đích tới của hành trình đi theo Đức Giêsu tiến về hạnh phúc đích thực. Hành trình ấy đã được Đức Giêsu công bố trong Hiến Chương Nước Trời mà  người môn đệ Đức Giêsu phải sống nếu muốn hạnh phúc với Ngài trong nhà của Thiên Chúa, Cha Ngài.

Đó là hạnh phúc của những con người bé nhỏ, nghèo khó, hiền lành, khiêm nhường ; hạnh phúc của những tâm hồn sầu khổ vì yêu thương ; hạnh phúc của những trái tim chịu rạn nứt vì đi tìm công lý, xây dựng hoà bình ; hạnh phúc của  những cõi lòng tan nát vì xót thương đồng loại và dấn thân quên mình, bỏ mình vì anh em ; hạnh phúc của những cuộc đời chịu đủ mọi sỉ vả, bách hại, vu khống, thiệt thòi, mất mát vì Tin Mừng Nước Thiên Chúa (x. Mt 5,3-11).

Trong nước mắt hôm nay của ngưòi lữ hành trên hành trình vất vả, có thể chúng ta chưa biết “chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ” (1 Ga 3,2), nhưng với đôi mắt đức tin, và tâm hồn trong sạch, hồn nhiên, tín thác, Thiên Chúa đã cho chúng ta được “lờ mờ” thấy Ngài để vui mừng hớn hở khi tin vào phần thưởng lớn lao Thiên Chúa dành cho chúng ta ở trên trời (x.Mt 5,12), nơi đó đã có mặt đông đảo các thánh tổ tiên, ông bà, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh chị, bạn hữu của chúng ta.         

Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2020

 

Nước Pháp bàng hoàng, người dân Pháp phẫn nộ, tuổi trẻ Pháp  kinh tởm, toàn thế giới  rùng mình  trước vụ thảm sát xẩy ra  thứ sáu ngày 16.10.2020 tại thành phố Conflans-Sainte-Honorine, thuộc vùng ngoại ô Paris : kẻ thủ ác là anh Abdoullakh Abouyezidvicha, 18 tuổi, sinh qúan Moscou, người Nga, gốc Tchétchène, tỵ nạn chính trị tại Pháp cùng với cha mẹ, và hiện sống tại Evreux.

Anh và gia đình thuộc thành phần tín đồ Hồi Giáo cực đoan. Bức xúc trước những video đăng tải sự kiện tiên tri Mahômét bị “xúc phạm”, anh đã cùng nhiều người trong gia đình đến trước cổng trường trung học truy tìm, áp tải một khoảng xa,  rồi dùng dao đâm chết và chặt đứt đầu thầy giáo Samuel Paty, người Pháp 47 tuổi, có vợ và một con trai 5 tuổi, giáo sư Sử Địa của trường trung học cơ sở Bois d’Aulne.

Nguyên nhân đưa đến thảm sát là trong giờ học, thầy giáo Samuel đã trình bầy quyền tự do tư tưởng và ngôn luận của công dân theo giáo án của lớp Sử Học và đã đưa ra nhiều tài liệu nói lên quyền tự do tư tưởng và diễn đạt tư tưởng, trong đó có bức  hí họa vẽ  Mahômét, vị tiên tri vĩ đại của Hồi Giáo  của tuần báo Charlie Hebdo, một tờ báo có đường lối cứng rắn chống lại các tổ chức khủng bố và Hồi Giáo qúa khích, cực đoan.  

Trước hành động man rợ trên đất của một dân tộc văn minh nổi tiếng tôn trọng nhân quyền và có truyền thống  tranh đấu cho lý tưởng Tự Do, Bình Đẳng, Huynh Đệ rất hào hùng, toàn dân Pháp đồng loạt xuống đường lên án tội ác không thể tha thứ, và quyết tâm không chùn bước trước đe dọa của các thế lực sự dữ, khi cùng thủ tướng Pháp Jean Castex vang dội hô to trong cuộc biểu tình chiều ngày 17 tại Paris : “Các người không làm chúng tôi sợ!” một ngày sau cuộc thảm sát man rợ.

“Không làm chúng tôi sợ!”, vì các người chỉ là những kẻ cuồng tín man rợ đã nhân danh một Thiên Chúa mà chính các người tôn vinh là “xót thương, nhân hậu” để lấy đi sự sống qúy giá của những người không cuồng tín, man rợ như các người !

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì các ngươi rất ngu muội đã không hiểu rằng tôn giáo nào cũng dậy ăn ngay ở lành, sống tử tế, lương thiện và nhân ái, nhân hậu với đồng loại. Chỉ các người mới man rợ đến độ làm nhơ bẩn dung mạo Thiên Chúa của các người, và xóa bỏ giáo lý của tôn giáo các người đi theo.

“Không làm chúng tôi sợ!”, vì chỉ những kẻ ngược ngạo, ngông cuồng, “không còn tính người” như các người mới có thể phủ nhận tiếng nói của lương tâm, khi đánh mất nhân tính và hành xử như ác qủy, vì chỉ ác qủy mới có thể hành động man rợ như các người đã hành động .

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì các người là những kẻ bất nhân, bất nghiã và vô ơn  đến đáng sợ, khi nhuốm máu và triệt hạ không gớm tay cả những người đang mở lòng, đưa tay đón tiếp và giúp đỡ các người trên đất nước, và trong nhà họ.

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì chủ nghiã bạo lực khủng bố mượn danh Thiên Chúa, mượn tiếng tín đồ trung thành với Đức Alla để đổ máu người vô tội của các người chỉ là trò hề rẻ tiền của những tên ngu si đần độn trong một thế giới văn minh, tự do, nhân quyền.

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì những người có lương tri sẽ không bao giờ chấp nhận hành vi man rợ, tàn nhẫn, quái đản, kinh dị của các người, những con người bị nhồi sọ, rửa óc bởi những kẻ lợi dụng đầu óc non nớt, ấu trĩ, khờ dại của các người cho mục đích chính trị.

“Không làm chúng tôi sơ!”, vì chỉ những con người không bình thường, thiếu quân bình tâm lý như các người mới hoang tưởng cho rằng : thiên đàng chỉ dành cho những kẻ cầm dao giết đồng loại để bảo vệ Thiên Chúa, một Thiên Chúa không cần ai bảo vệ, nhưng chính Ngài là Đấng bảo vệ và thương xót “đồng loại” của các người, mà chính các người đã ra tay cắt cổ, chặt đầu khi nhân danh Ngài.

“Không làm chúng tôi sợ!”, vì niềm tin tôn giáo của các người là thứ niềm tin đặt không đúng chỗ, thứ niềm tin dùng bạo lực để khống chế, áp đặt niềm tin của người khác, khi ngu muội không biết rằng : dưỡng khí của niềm tin là tình yêu và tự do. Nhưng rất tiếc, ở các người, không hề có làn khí trong lành cần thiết này để niềm tin đích thực được tồn tại.

“Không làm chúng tôi sợ!”, vì man rợ chặt đầu người khác giữa thời đại văn minh là hành động không ai có thể quan niệm, tưởng tượng, và người ta chỉ có thể xếp các người vào hạng “bị qủy ám”, bởi chỉ có qủy mới đủ sức thổi vào các người lửa của hận thù, sức nóng của bạo lực phi nhân.

 

Tôi lọt vào giữa đám đông các giáo sư từ tiểu học đến đai học trong dòng người xuống đường biểu tình vinh danh giáo sư Samuel Paty, anh hùng của Tự Do Ngôn Luận, người hùng của Tự Do Tư Tưởng, vị tử đạo của tôn giáo nhân ái, bao dung, trái ngược với những kẻ mong được là “thánh tử đạo”, vì đã đâm chém, cắt cổ, xả súng bắn vào con người, khi nhân danh “bảo vệ” một Thiên Chúa giầu lòng thương xót.

Thật không còn gì ghê tởm, hợm hĩnh và lố bịch, ngu xuẩn hơn!

Muà thu Paris năm nay buồn hơn mọi năm, không chỉ buồn vì dịch Covid trở lại đợt hai, đe dọa nhiều rủi ro, nguy hiểm hơn, mà thu Paris còn buồn vì cuộc thảm sát kinh tởm, hãi hùng của kẻ cuồng tín, phi nhân tính đã vô ơn với đất nước đã đón tiếp mình như người tỵ nạn, và man rợ cắt cổ người con ưu tú của dân tộc, một dân tộc không bao giờ biết sợ trước bất cứ thế lực ma quái nào chống lại lý tưởng Tự Do, Bình Đẳng và Huynh Đệ.

Jorathe Nắng Tím    


Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020

MỘT TÌNH YÊU DUY NHẤT

 

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật 30 Thường Niên, Năm A



Nét độc đáo của Tình yêu trong Kitô giáo chính là duy nhất tính của tình yêu khi Mến Chúa và Yêu người là một, điều mà người ta rất khó chấp nhận, nhưng lại là điều Thiên Chúa muốn.

Là điều rất khó chấp nhận, vì ai cũng muốn phân biệt rõ rệt Thiên Chúa là Thiên Chúa và con người là con người : Thiên Chúa chí thánh chí tôn, con người yếu đuối, tội lụy ; Thiên Chúa toàn năng, cao cả, con người bất toàn, bất xứng, và một khi rành rọt phân biệt như thế, người ta sẽ có thể yêu Thiên Chúa mà không phải yêu con người ; có thể tử tế với Thiên Chúa mà không  tử tế với những người không cần phải được đối xử tử tế ; có thể “mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn” (Mt 22,37), mà vẫn bình an tự cho phép ghét những người làm hại mình, và khinh những ai bị coi là đáng khinh ; có thể phụng sự Thiên Chúa bằng hết sức lực, tiền của, mà vẫn không áy náy khi ki bo, bần tiện, keo kiệt với người thân và tham lam, lọc lừa chiếm đọat tài sản của người xa lạ ; có thể hiến mình cho Thiên Chúa, mà chẳng bận tâm, nặng lòng khi cùng lúc “hy sinh” người khác vì vinh quang, quyền lợi của bản thân mình ; có thể chết sống với Nước Trời, nhưng cùng lúc phá họai nước đời, cộng đồng nhân loại ; có thể là con Chúa, nhưng đồng thời là kẻ thù của con người, bởi giữa tình yêu dâng Thiên Chúa và tình yêu cho đồng loại được phân ranh cẩn thận, và hai tình yêu không qua lại, ảnh hưởng trên nhau.

Nhưng đó là phiá con người, về phiá Thiên Chúa thì khác hẳn, và chủ trương Yêu Thương của Thiên Chúa đã bị nhiều người lên án là “huyên thuyên, nhập nhằng, lẫn lộn Thiên Chúa với con người” khi nghe Đức Giêsu đã công bố : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”, khi một người thông luật hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng : “Thưa Thầy, trong sách Luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?” (Mt 22,36-39).

Đây là cốt lõi giáo lý mới của Đức Giêsu, điều mà người Do Thái còn xa lạ và bỡ ngỡ khi nghe Ngài công bố, bởi Luật Môsê chỉ dừng lại ở công bình trong tương quan giữa người với người, mặc dù với Thiên Chúa thì phải “mến yêu hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn”, khi cho phép trong tương quan con người với nhau thì “mắt đền mắt, răng đền răng” (Mt 5,38), yêu người thương mình và ghét kẻ thù mình (x. Mt 5,43), nghiã là “ăn miếng trả miếng, ân oán sòng phẳng”, trong khi Luật mới của Đức Giêsu lại dậy : “Đừng chống cự người ác… Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,39.44).

Đức Giêsu còn đi xa hơn khi “đồng hoá” Thiên Chúa với những con người bé mọn, nghèo hèn, ốm đau, tù đầy, vô gia cư, tha phương cầu thực, và tuyên bố tình yêu cũng như việc làm tốt được thực hiện cho những con người yếu đuối, bần hàn, vô danh tiểu tốt, sa cơ thất thế này là làm cho chính Thiên Chúa (x. Mt 25,31-46). Cũng vậy, Thiên Chúa lấy chính con người làm thước đo tình yêu đối với Ngài và mức độ ân sủng, lòng thương xót của Ngài đối với chúng ta cũng tùy thuộc vào lòng qủang đại và thương xót của chúng ta đối với người khác, như Đức Giêsu đã khẳng định trong Tin Mừng : “Anh em đong cho ai đấu nào, sẽ được Thiên Chúa đong lại đấu đó”, “Xin tha tội chúng con như chúng con cũng tha cho những người mắc lỗi với chúng con” (Mt 6,12), “Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).

Thực vậy, mầu nhiệm tình yêu trong Kitô giáo là chân lý được mặc khải từ Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu (1 Ga 4,16). Mầu nhiệm tình yêu ấy tuy là mầu nhiệm, nhưng là mầu nhiệm nhập thế, nhập thể, nên được biểu hiện sống động và cụ thể trong đời sống thực sự và thường ngày của con người. Mầu nhiệm tình yêu từ Thiên Chúa đến trong thế giới loài người  không mơ hồ, viển vông, mây khói, nhưng có chỗ đứng, bãi đáp hộ khẩu trên da thịt, trong tâm hồn, ngay giữa sinh hoạt của con người, những con người bằng xương bằng thịt, cá vị, độc lập. Mầu nhiệm Tình Yêu ấy đã được Cựu Ước xây dựng nền tảng khi đòi hỏi tín hữu Do Thái : “không được ngược đãi và áp bức người ngoại kiều, không được ức hiếp mẹ goá con côi, không được cho vay nặng lãi người nghèo” (x. Xh 22,20-24) để rồi khi Đức Giêsu đến, Ngài đã kiện toàn Giới Luật duy nhất và đời đời của Thiên Chúa : Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và yêu thương anh em như mình vậy, bởi “Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,40).

Vâng, là người Kitô hữu, chúng ta thuộc về và được tháp nhập vào Đức Giêsu, Thiên Chúa Tình Yêu, và tình yêu Thiên Chúa được thực hiện khi chúng ta yêu thương anh em mình, nhất là những anh em hèn mọn, kém cỏi, yếu đuối, xấu số, bất hạnh nhất, bởi đó là Thánh Ý Thiên Chúa. Ngài muốn chúng ta xác định và làm chứng tình yêu đối với Ngài bằng yêu thương anh em, nếu không chúng ta là những kẻ xảo trá, lừa lọc, như thánh Gioan tông đồ đã viết : Nếu ai nói : “tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20).   

Vẫn biết yêu Thiên Chúa dễ hơn yêu anh em cận kề chung sống với bao nhiêu chuyện không hài lòng, vừa ý, bao nhiêu điều chướng tai gai mắt và yếu đuối, lỗi lầm, trong khi Thiên Chúa vô hình, lại toàn năng, thánh thiện, có quyền sinh tử trên mọi loài, nhưng Chúa muốn tự đồng hoá mình với người anh em hèn yếu ; Chúa muốn lấy người anh em bất xứng, bất toàn làm thước đo tình yêu của ta với Ngài ; Chúa muốn chọn người anh em nghèo khó, cơ bần làm đấu đong ơn phúc ; Chúa muốn ta chuẩn bị hành trang để ra trước tôn nhan Ngài ngày chung thẩm nơi người anh em bị coi là đồ bỏ, vô tích sự, không sinh lợi cho ai, không giúp ích được người nào, có khi còn là gánh nặng của mọi người, nên chúng ta hãy vui vẻ  tập sống mỗi ngày Yêu Chúa trong Anh Em, Yêu Thương anh em vì Yêu Mến Chúa, vì đó là Ý Muốn thánh thiện của Thiên Chúa.

Jorathe Nắng Tím