Chúng
ta vừa mừng lễ các Thánh Nam Nữ, và cầu nguyện đặc biệt chocác linh hồn. Các bài đọc của Chúa Nhật hôm
nay còn ở trong bầu khí của hai ngày lễ lớn Giáo Hội vừa mừng, khi đề cập đến
chính cái chết, và mầu nhiệm của đời sống mới, nhờ sự chết và sống lại của Đức
Giêsu.
Bài
đọc thứ nhất trích từ thư thánh Phaolô gửi giáo đoàn Têxalônica, được coi là bản
văn cổ nhất của Kitô giáo là câu trả lời của thánh nhân, cũng là của Giáo Hội về
vấn đề những người đã chết : “Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn
thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền
như những người khác, là những người không có niềm hy vọng. Vì nếu chúng ta tin
rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người
đã an giấc trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giêsu” (1 Tx 4,13-14).
Nhưng
“những người đã an giấc trong Đức Giêsu” để “được Thiên Chúa đưa về cùng Đức
Giêsu” là ai?
Thưa
là những người khôn ngoan, những người có đức khôn ngoan, vì đức khôn ngoan “bảo
đảm được trường sinh bất tử. Truờng sinh bất tử cho ta được ở bên Thiên Chúa”
(Kn 6,18-19).
Chân
lý này được Đức Giêsu khẳng định trong dụ ngôn “Mười trinh nữ”. Trong số mười
cô, có năm cô khờ dại “mang đèn mà không mang dầu theo. Cònnhững cô khôn ngoan “thì vừa mang đèn vừa
mang chai dầu theo” (Mt 25,2-5). Vì chàng rể đến muộn, “nên các cô thiếp đi, rồi
ngủ cả”. Đến khi chàng rể đến, thì các cô khờ dại tất tả đi mua dầu, nhưng
không ai chờ ai, nên chỉ năm cô khôn ngoan có đèn đốt sáng trong tay “được theo
chàng rể vào dự tiệc cưới” (x. Mt 5-10).
Nghe
dụ ngôn, chắc hẳn chúng ta không khỏi ngạc nhiên trước sự khờ dại của những cô
mang đèn mà không mang dầu. Nhưng rất tiếc, đó là sự khờ dại của chính chúng ta
trong đời sống thiêng liêng.
Chúng
ta khờ dại vì thiếu khôn ngoan khi nghĩ rằng mình bất tử, và sẽ không bao giờ
có ngày phải rời bỏ cuộc đời này ; chúng ta khờ dại khi thả trôi thời gian
cách vô ích mà không chuẩn bị hành trang cho chuyến đi vào đời đời ; chúng
ta khờ dại khi tưởng mình biết hết mọi sự và làm chủ mọi hoàn cảnh, tình huống
để rồi đến giờ Chúa gọi phải ra đi lại cuống quýt thất thần, vì chưa sẵn
sàng ; chúng ta khờ dại khi sống như người không thuộc về Chúa, không cần
đến Chúa, không tương quan với Chúa, để khi hữu sự, chính chúng ta sẽ tự nghi
nan, tuyệt vọng vì không quen bám víu, cậy trông vào Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất.
Thực
vậy, Đức Giêsu trong Tin Mừng hôm nay cảnh báo chúng ta phải khôn ngoan, không
được khờ dại, bởi khờ dại sẽ không được gặp Ngài khi Ngài đến, khờ dại sẽ lỡ
chuyến đò cùng Ngài xuôi dòng Hạnh Phúc, khờ dại sẽ mất cơ hội đi với Ngài vào
Nước vinh quang của Ngài.
Đức
Giêsu cảnh báo nhưng không đe dọa, làm sợ, mặc dù hậu qủa dành cho những cô
trinh nữ khờ dại sẽ là câu trả lời không mấy dễ nghe của chàng rể : “Tôi bảo
thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả!” (Mt 25,12). Ngài chỉ nhắc nhở
chúng ta phải khôn ngoan chuẩn bị hành trang cần thiết cho buổi gặp gỡ đời đời
với Thiên Chúa, khi giờ chết đến.
Chuẩn
bị hành trang bằng trái tim khao khát tìm kiếm Thiên Chúa, bằng tâm hồn khiêm tốn
phụng sự Chúa và phục vụ anh em, bằng cõi lòng luôn mở rộng để đón nhận ơn
thương xót của Chúa và sự tha thứ của anh em.
Hành
trang là “đèn đầy dầu luôn được thắp sáng” trong suốt hành trình dương thế.
Đó chính là Đức Tin được biểu hiện sống động qua đời sống Cầu Nguyện và Bí Tích ;
là Đức Tin được nuôi lớn mỗi ngày bằng việc làm thiết thực của Đức Ái ; là
tình yêu quên mình được thể hiện qua đời sống khiêm hạ phục vụ.
Và
trên tất cả, cũng là khởi điểm của hành trình đi gặp Chúa là lòng khát khao
Thiên Chúa, khát khao được hoàn toàn thuộc về Chúa như lời thánh vịnh 62:
“Lậy Thiên Chúa là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông
con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi
trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước… Con tưởng nhớ Chúa trên giường
ngủ, suốt năm canh thầm thĩ với Ngài. Qủa thật, Ngài đã thương trợ giúp, nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui” (Tv 62,2.7-8).
Trái tim là bộ phận trong yếu nhất trên thân thể con người, vì trái tim là bộ phận bảo toàn sự sống; tim cũng là hình ảnh được nhắc nhiều hơn cả khi nói về tâm hồn, vì tim là biểu tượng của Tình Yêu.
Y Khoa khẳng định khi tim ngừng đập là thân xác không còn sự sống, nên việc đầu tiên phải làm khi nhận một bệnh nhân mới trong bất cứ tình trạng nào là kiểm tra nhịp đập của tim: tim đập loan xạ, dồn dập, hay lười biếng, thờ ơ, không chịu đập. Cả hai đều nguy hiểm và có thể dẫn đến tử vong… Cũng thế, trong sinh hoạt thường ngày, người ta cẩn trọng gìn giữ, chăm sóc sức khỏe của tim hơn các bộ phận khác, vì để “đứng tim” là mọi sinh hoạt đều dừng, để tim ngừng đập là toàn thể sự sống lập tức đình chỉ, kết thúc.
Giữa thời buổi bạo lực, và các cuộc khủng bố ngày càng nhiều, các nhà lãnh đạo cũng như cảnh sát đều phải mặc áo giáp trong khi thi hành công vụ, mà bộ phận được che chở đặc biệt chính là trái tim, bởi bị bắn vào đầu, đâm vào bụng chưa chắc đã chết, nhưng bắn trúng tim, đâm thấu tim thì chỉ còn nước gục đầu tắt thở, không kịp trăn trối.
Tuy là bộ phận rất quan trọng của sự sống, nhưng tim lại rất mềm yếu, mong manh. Bằng chứng là hơi bất bình, nóng giận một chút là tim đập thình thịch; nhận tin vui bất ngờ, hay đi đón người yêu lâu ngày không gặp là tim nôn nao, nhảy nhót muốn vỡ tung, khi tin buồn, tin dữ không may ập về, thì tim quằn quại, se thắt đến rã rời, nghẹt thở, nát tan.
Như thế tim giữ vai trò quan trọng bậc nhất cho sự sống của thân xác con người, nhưng tim lại rất dễ vỡ, mỏng dòn như hơi thở không hình không sắc. Trái lại, với tâm hồn, tim mang một tầm bao la tuyệt đối và sứcvóc mạnh mẽ tuyệt vời.
Thực vậy, tim mang tầm bao la, vì tim nuôi tâm hồn bằng tình yêu thao thức kiếm tìm tự do, công bình, bác ái là những thực tại siêu hình; tim mở toang tâm hồn bằng tình yêu vị tha, quảng đại khi miệt mài, tận tụy xây dựng hạnh phúc của đồng loại; tim nâng đỡ tâm hồn bằng tình yêu phấn đấu, hy sinh, bất chấp gian khổ, nhọc mệt, thiệt thòi, vì tương lai của người khác; tim cất bổng tâm hồn lên cao tận Chân Thiện Mỹ tuyệt đối. Tim còn cao cả tuyệt vời khi cho tâm hồn chạm được những ước mơ vượt thời gian, không gian, và phóng mình vào vô tận, vô cùng .
Và điều đã làm cho tim mang tầm tuyệt đối, mang vóc dáng đời đời, khi từ nhỏ bé trở nên vĩ đại, từ mong manh, dễ vỡ thành bền vững trường tồn, chính là tim đã đón nhận Tình Yêu được Thiên Chúa là Nguồn Tình Yêu đổ vào.
Thực vậy, tất cả những cao cả, bao la, vĩ đại, sâu thẳm, tuyệt vời, kỳ diệu, vô cùng và siêu việt mà trái tim đạt được đều là hồng ân của Thiên Chúa, khi Ngài ban cho con người khả năng hướng tâm hồn lên tới Ngài, mở lòng ra với Ngài, và để trái tim được chạm vào trái tim Ngài hầu được Ngài biến đổi, và trở thành mái ấm của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Vì thế, điều cốt yếu mà mỗi người chúng ta cần ý thức và chân nhận khi luận về trái tim, đó là Thiên Chúa trân qúy trái tim bé bỏng của mỗi người, và vì bé bỏng mà Ngài làm cho nên vĩ đại; Thiên Chúa tìm kiếm trái tim yếu đuối, mỏng dòn của mỗi người, và vì mỏng dòn, yếu đuối, Ngài làm cho nên mạnh mẽ, quả cảm; Thiên Chúa yêu thích trái tim kín đáo, khiêm hạ của mỗi người, và vì khiêm hạ, kín đáo, Ngài làm toả sáng tình yêu của trái tim ấy trước mặt muôn dân; Thiên Chúa thương xót trái tim bị tổn thương, nghiền nát của mỗi người, và vì mang nhiều thương tích tình yêu, Ngài đích thân chữa lành, ban bình an.
Vâng, trái tim con người trở nên bao la, cao cả và tuyệt vời, vì trái tim ấy kết nối với Trái Tim Thiên Chúa, để tình yêu nghèo nàn trong trái tim bé nhỏ của con người được bơi lội trong tình yêu bao la của Trái Tim Thiên Chúa. Và một khi trái tim nhỏ bé, mỏng dòn, yếu đuối ấy đã tìm được nơi ẩn náu an toàn, chốn nương thân bình an, bến bờ hạnh phúc trong Trái Tim Thiên Chúa, nó sẽ không sợ hãi, hoang mang, nghi nan, thất vọng trước bất cứ thử thách, gian nan, đe dọa nào, như thánh Phaolô đã đặt câu hỏi: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8,35), và chính ngài đã trả lời thay cho những người có trái tim đã được chạm đến Trái Tim Thiên Chúa:“Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương, qủy lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).
Xin Chúa thương xót đổi mới con tim mỗi người, để ơn Bình An của Thiên Chúa là Tình Yêu Cứu Độ luôn ở với tất cả chúng ta.
Có
người vừa liếc qua tựa đề liền chép miệng thở dài : Tưởng chuyện gì mới lạ,
chứ Đức Giêsu bị tấn công thì xưa qúa rồi, vì đó là chuyện cũ xẩy ra từ năm thứ
nhấtcông nguyên, khi người Do Thái là đồng
bào, đồng hương của Đức Giêsu ngay từ
thuở ấy đã ghét bỏ, tẩy chay, vu khống, chụp mũ rồi kếtán, đóng đinh Ngài vào thập gía như một phạm
nhân trọng tội.
Thực
vậy, Đức Giêsu đã không chỉ bị tấn công, mà còn bị kết án tử hình cách bất công
ngay trong dòng lịch sử của nhân loại. Hơn thế nữa, ròng rã hai mươi mốt thế kỷ,
tên Ngài luôn bị nguyền rủa, xúc phạm và môn đệ Ngài hàng hàng lớp lớp theo
nhau bị ghét bỏ, nguyền rủa, công kích, cô lập, tiêu diệt, đúng như lời Ngài đã
căn dặn trước khi lên Giêrusalem chịu chết : “Nếu thế gian ghét anh em,
anh em hãy biết rằngnó đã ghét Thầy trước.
Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó.
Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế
gian, nên thế gian ghét anh em. Hãy nhớ lời Thầy nói với anh em : tôi tớ
không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em…” (Ga
15,18-20).
Khi
căn dặn các môn đệ, Đức Giêsu đã cho các ông thấy rõ lý do các ông sẽ bị
ghét bỏ và không ngừng bị đe dọa, truy lùng, tận diệt. Lý do duy nhất đó chính
là các ông không thuộc về thế gian là những kẻ chống lại Đức Giêsu, nhưng các ông
hoàn toàn thuộc về Đức Giêsu.
Vì
thuộc về Đức Giêsu, nên Ngài đã chọn và tách những ai theo Ngài ra khỏi thế
gian ; vì thuộc về Đức Giêsu, nên Ngài đã yêu thương họ vô cùng và đến cùng
(x. Ga 13,1), bằng chứng là Ngài ở lại với những ai thuộc về Ngài cho đến tận
thế (x. Mt 28,20) ; vì thuộc về Đức Giêsu, nên Ngài làm cho họ được trở nên
giống Ngài khi “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và
hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28) ; vì thuộc về Đức
Giêsu, nên Ngài dậy họ “hiền lành và khiêm nhường”, dậy họ yêu thương, và cầu
nguyện cho cả những kẻ thù ghét, bách hại mình, mà không lấy “mắt đền mắt,
răng đền răng”, hay lấy oán báo thù, lấy sự dữ đáp lại điều gian ác (x. Mt
5,38-48) ; vì thuộc về Đức Giêsu, nên Ngài muốn người môn đệ phải như Ngài
khi chấp nhận mọi thiệt thòi vì hạnh phúc của người khác, vui nhận mọi gian
nan, thử thách vì lẽ sống yêu thương, phục vụ con người như con Chúa, vui lòng
gánh chịu mọi đau khổ, tủi nhục để làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu cứu độ, vui
vẻ đồng hành với tất cả mọi người, không trừ ai, vì tất cả là anh em có cùng một
Cha trên trời.
Nhưng
vì thuộc về Đức Giêsu, Thiên Chúa Tình Yêu cứu độ, mà các môn đệ Ngài bịthế gian ghét bỏ, căm phẫn, trả thù, bởi thế
gian gồm thần dữ và những kẻ tình ngyện đi theo chúng. Chúng là kẻ thù của Tình
Yêu, vì bản chất là Ganh Ghét, Hận Thù ; đối thủ của Sự Thật, vì chúng là
Gian Dối, Xảo Trá, Điêu Ngoa ; là kẻkhủng bố, phá hoại, tiêu diệt vì chúng là Bạo Lực, Bóng Tối, và Sự Chết.
Vì
thế, sự khác biệt giữa môn đệ Đức Giêsu và thế gian qủa thực không thể “hoà hợp,
hoà giải”, hay nhượng bộ, thương lượng, vì một bên là ánh sáng, một bên là bóng
tối, vì Đức Giêsu là Tình Yêu (x. 1 Ga 4,8), là “Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga
14,6), Satan và bè lũ là hận thù, lầm lạc, bạo lưc và sự chết, nên hai chiến
tuyến giữa môn đệ Đức Giêsu và thế gian, ma qủy được phân chia rõ rệt, hai chọn
lựa được phân biệt dứt khoát, hai con đường Thiên Chúa và Thế Gian không bao giờ
có giao điểm hay đồng quy.
Do
đó, sự kiện Đức Giêsu bị tấn công, biến cố người Kitô hữu bị bách hại, cảnh tượng
cả làng công giáo bị vây chặt rồi phát lửa thiêu sống, linh mục đang dâng lễ bị
cắt cổ, giáo dân đang cầu nguyện trong thánh đường bị đâm chết, và mới bốn giờ chiều
hôm qua 31.10.2020, một linh mục chính thống 54 tuổi đã bị bắn trọng thương khi
ngài đang đóng cửa nhà thờ ở thành phố Lyon, nước Pháp, và rồi cho đến tận thế Đức Giêsu và các môn đệ
của Ngài sẽ mãi mãi là điểm ngắm của những tấn công, xúc phạm, ức hiếp, hãm hại,
truy lùng, tiêu diệt mà thế gian tìm mọi cách thực hiện cho kỳ được, để rồi lịch
sử của Giáo Hội Chúa Giêsu ngày càng rõ nét đối với mọi người là lịch sử của tử
đạo, lịch sử của những chứng nhân quyết tâm đi theo Đức Giêsu, vua Tình Yêu, Đấng Cứu Độ giầu lòng
thương xót để yêu thương, phục vụ và sẵn sàng đổ máu, hiến mạng sống làm giá cứu
chuộc muôn người.
Vâng,
thế gian vẫn tiếp tục tấn công Đức Giêsu, vẫn đằng đằng sát khí xả súng giết các
giám mục, linh mục, tu sĩ, giáo dân, vẫn rực lửa căm thù Giáo Hội, vàđiên cuồng khát máu người có đạo. Chỉ khác thời
đại càng văn minh, kỹ thuật càng tân tiến thì mưu đồ càng tinh vi, thủ đoạn càng
nham hiểm, kế hoạch càng dã man, hành động sát nhân càng man rợ, do mãnh lực độc
ác của Satan ngày càng đè nặng trên những người vô phúc vướng vào xiềng xích của
hỏa ngục, đến nỗi nhiều người trong chúng ta có lúc đã hoảng hốt lo sợ khi nghĩ
rằng thời đại của Satan đã đến, và ngày tận thế đã gần kề.
Thực
vậy, chúng ta khôngkhỏi hoang mang trước
hiện tượng xúc phạm, tấn công Đức Giêsu, Thiên Chúa chúng ta tôn thờ, và lo âu
trước làn sóng khủng bố, truy diệtngười
Kitô hữu ngày càng nhiều và liên tục trên thế giới. Chúng ta cũng không ngạc
nhiên khi nhiều người thiện chí đang can đảm lên tiếng bênh vực chúng ta bằng đề
nghị những biện pháp cứng rắn nhưng ít nhiều mang tính trả thù, báo oán, đòi nợ
máu ; chúng ta cũng không phủ nhận nỗ lực của chính phủ các nước dân chủ, nhân
quyền đanghuy động mọi khả năng, phương
tiệnđể bảo vệ nhà thờ, và các cơ sở sinh hoạt phụng tự của
Kitô giáo, mà tổ chức hồi giáo qúa khích đang chọn làm mục tiêu, tầm ngắm.
Tuy
thế, Giáo Hội không bao giờ quên mình là Giáo Hội được Đức Giêsu thiết lậpđể yêu thương, phục vụ, một Giáo Hội đến với
muôn dân và làm cho họ trở thành môn đệ (x. Mt 28,19); Giáo Hội không bao giờ
chịu thu mình, co quắp cuộn mình trong pháo đài kiên cố, sau tường thành có lính
canh cẩn mật để được tuyệt đối an toàn ; Giáo Hội cũng không thay đổi đường
lối tha thứ cho kẻ làm khổ mình, yêu thương kẻ thù ghét mình, cầu nguyện cho kẻ
bách hại mình, chúc lành cho kẻ sỉ vả, vu khống cho mình đủ điều xấu xa, và luôn
tìm cách biện hộ cho kẻ ném đá, đóng đinh mình, như Đức Giêsu trên Thánh Giá đã
xin Chúa Cha tha cho tất cả những người đã vu cáo, lên án, tra tấn, đóng đinh
Ngài khi viện cớ “vì họ không biết việc họ làm” (x. Lc 23,34).
Sau
những cuộc khủng bố, đâm chém, cắt cổ, xả súng liên tục và dồn dập nhắm vào người
Kitô hữu, Giáo Hộivẫntha thiết cầu nguyện, vẫn nhẫn nại yêu thương,
vẫn khiêm tốn phục vụ, vẫn hân hoan lên đường loan báo Tin Mừng “Thiên Chúa
yêu thương và cứu chuộc loài người”, vẫn kiên trì làm chứng “Đức Giêsu là dung
mạo đích thực của Thiên Chúa giầu lòng thương xót, chậm bất bình và rất đỗi
khoan dung” ; vẫn miệt mài theo chân Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất đem đến
cho nhân loại ơn cứu sống, hạnh phúc được làm con Thiên Chúa, và ánh sáng Bình
An phục sinh của Ngài.
Ngay
giữa cơn bão lửa của bạo lực, Giáo Hội vẫn kêu gọi con cái hãy biết “mến yêu và
phụng sự Chúa trong mọi người”, mà không phân biệt kỳ thị, không lên án, “không
nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật”
(1 Cr 13,5-6) ; ở tâm điểm của mọi chống đối bất công, Giáo Hội vẫn trung
thành sống đức ái, đểcó thể “tha thứ tất
cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,7), hầusống ơn gọi là Ánh Sáng và Muối cho đời, khi “đem
yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hoà vào nơi
tranh chấp, đem chân lý vào chốnlỗi lầm,
đem niềm tin vào nơi nghi nan, đem hy vọng vào nơi thất vọng, đem ánh sáng vào nơi
tăm tối, đem niềm vui đến chốn sầu buồn”, bởi đó là sứ vụ của người Kitô hữu
khi được sai đi, là hạnh phúc của dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn và chúc lành,
là phần thưởng Thiên Chúa dành cho những
người có tâm hồn nghèo khó, và tấm lòng xót thương.
Xin
Chúa thêm đức tin cho chúng con, để chúng con tín thác vào Chúa trong gian truân,
đe dọa, thử thách, khi bị tấn công, xúc phạm, nhất là để trái tim chúng con luôn
mở cửa cho Chúa Thánh Thần ngự đến và đổ đầy trong chúng con tình yêu hiệp thông,
tình yêu hiệp nhất, tình quên mình, tình yêu tha thứ, tình yêu gánh tội của Ba
Ngôi chí thánh.
Những
ngày này, truyền thông Âu Châu bàn bạc, tranh luận nhiều về hiện tượng bạo lực ở
giới trẻ, sau những cuộc khủng bố đẫm máu liên tiếp xảy ra tại Pháp mà thủ phạm
đều là người trẻ tuổi đời chỉ mười chín, đôi mươi. Brahim cắt cổ hai người, đâm
chết một người trong nhà thờ Notre-Dame de l’Assomption ở Nice sáng ngày
29.10.2020 mới 21 tuổi ; Abdoullakh cắt cổ ông Samuel Paty, giáo sư sử địa
tại Conflans-Ste-Honorine ngày 16.10.2020 cũng chỉ bước vào tuổi 18; ngày 26.07.2016, hai người trẻ hồi giáo qúa khích
Abdel Kermiche và Abdel Malik đã xông lên cung thánh cắt cổ cha Jacques Hamel 86
tuổi khi ngài đang dâng lễ tại nhà thờ giáo xứ St. Etienne-du-Rouvray, có đông
giáo dân tham dự cũng chỉ là những thanh niên chưa qua tuổi hai mươi.
Tâm
trạng chưa thôi bàng hoàng, thì chiều nay, người bạn từ Việt Nam chia sẻ clip bạo
lực ở một nhà trẻ. Tôi bàng hoàng, và không dám tin vào mắt mình khi em bé độ ba tuổi nhiều lần lao tới và thẳng chân
đá vào người một em bé khác chắc chỉ hơn kém một tuổi. Cảnh tượng thật đau lòng
và làm tâm hồn người xem chùng xuống thật sâu.
Chùng
suống thật sâu vì sẽ chẳng còn gì tốt đẹp có thể nổi trội ở tuổi trẻ sau này, nếu
ngay từ nhà trẻ, các bé đã được thoải mái thể hiện quyền thống trị bạo tàn, và
tự do hành hạ đồng loại cách dã man ; sẽ chẳng có gì bảo đảm một tuổi trẻ
của ngày mai được giáo dục nhân cách, được dậy dỗ cách sống làm người tử tế, nhân
ái, được đào tạo thành những người có tâm hồn cao thượng và trách nhiệm, nhờ được
xây dựng từ nền tảng đạo đức nhân bản vững chắc, nếu ngay từ nhà trẻ hôm nay, các
bé đã được sống lối sống ngông cuồng “mạnh được yếu thua” ; sẽ chẳng còn gì
để trông đợi ở tuổi trẻ tương lai như rường cột của đất nước, nếu ngay từ nhà
trẻ, các bé đã không được khai tâm bằng lòng nhân ái, tình huynh đệ, nghiã đồng
bào ; sẽ chẳng còn gì để hy vọng một dân tộc hùng mạnh, bình an, hạnh phúc,
nếu ngay từ nhà trẻ, các bé đã có thể bạọ hành người khác như giữa chốn không
người ; sẽ không bao giờ có một quê hương ấm êm, thanh bình, nếu ngay từ
nhà trẻ, bảo mẫu đã tự nguyện giải giới vô trách nhiệm, bằng giải pháp vắng mặt,
bận rộn việc khác và bỏ mặc bé lớn ăn hiếp bé nhỏ theo nguyên tắc “cá lớn nuốt
cá bé”.
Sẽ
chùng sâu hơn nữa, vì làm sao trong tương lai, trên đất nước này sẽ có được những
đứa con hiếu thảo, những người chồng, người vợ hiền hoà, những anh chị em tương
thân tương ái, những người bạn chân tình, những công dân yêu quê hương, đồng bào,
nếu ngay từ nhà trẻ người ta đã coi nhẹ trách nhiệm giáo dục những em bé, mà không
tập cho các bé biết nhường bạn, biết chơi chung đồ chơi, biết kính sợ bảo mẫu,
biết tôn trọng người lớn, biết việc gì được phép và việc gì không được phép làm ;
sẽ chùng sâu hơn nữa tương lai của gia đình và xã hội, khi không ai, không quyền
bính nào có thể bảo đảm gia đình sẽ không là “mảnh đất mầu mỡ” của các kiểu bạo
hành, xã hội sẽ là đấu trường thi thố bạo lực, nếu ngay từ nhà trẻ, người lớn đã
không dám lên tiếng bênh vực các bé yếu thế, vì cha mẹ nghèo, không dám bảo vệ
các békhông được gửi gắm riêng, không dám
đối xử bình đẳng giữa các bé thuộc diện con cháu đại gia, quan chức và các bé
thuộc diện gia đình có hoàn cảnh, nhưng dồn nỗ lực, thời gian o bế, chiều chuộng,
bao che, chăm sóc những bé có cha mẹ làm lớn, có quyền, nhiều tiền để tìm lợi
nhuận và “bình an” cho cơ sở; sẽ chùng sâu thật sâu, và khó ngoi lên lắm tương
lai của đất nước này, nếu ngay từ nhà trẻ, nạn phân biệt đối xử, kỳ thị giai cấpgiữa các bé đã trở thành bình thường, và chẳng
còn mấy người quan tâm tìm cách ngăn chặn, sửa đổi.
Qủa
thực, giáo dục bắt đầu từ tuổi thơ, nhưng bức tranh giáo dục tuổi thơ trong nhiều
nhà trẻ hôm nay không mang nhiều mầu sắc hy vọng. Bằng chứng là người ta không
ngớt phơi bầy những cảnh bảo mẫu bạo hành, cha mẹ đến lớp bạo hành, và tất nhiên
rất nhiều cảnh bạo hành tương tự giữa các bé với nhau, mà không có sự can thiệp
cấp thờicủa người có trách nhiệm chăm
nom các bé…
Trước
những hiện tượng làm se dạ thắt lòng trong giáo dục, nhất là giáo dục tuổi thơ,
thiết tưởng chúng ta không cần phải lý giải, biện luận, giãi bầy, thanh minh với
đủ thứ lý do linh tinh, và luận chứng nhùng nhằng. Chúng ta cần lương thiện hơn
lúc nào hết để cứu lấy nền giáo dục của hiện tại đang rữa nát, băng hoại, và cứu
lấy tương lai của con cháu không xa vực thẳm bao nhiêu.
Chúng
ta cần lương thiện, mỗi người cần lương thiện, vì chỉ lương thiện trở về với chính
mình, chúng ta mới có cơ may ra khỏi qũy đạo gian dối, thoát khỏi quy trình lừa
đảo mà xã hội thực dụng, tiêu thụ, vật chất đang khống chế, nghiền nát chúng ta
một cách tinh vi, nhưng rất vô nhân đạo.
Và
ngay bây giờ, lương thiện đòi chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, sự thật bạo hành
ngay từ nhà trẻ, bởi không can đảm đối diện sự thật và chấp nhận sự thật, dù sự
thật có thể qúa phũ phàng, và ghê tởm, kinh khiếp, chúng ta vẫn phải lương thiện
đối diện, lương thiện nhìn nhận, lương
thiện sửa sai, đổi mới, vì chỉ sự thật mới thực sự giải phóng chúng ta và cho dân
tộc chúng ta được tự do để thăng tiến.
Không niềm trông đợi nào lại không vương vấn nỗi lo, không hành trình hy vọng nào lại không giăng mắc mây đen thất vọng, bởi tự thân trông đợi là thế, như có khả thể “thất vọng”thì “hy vọng” mới có giá trị và ý nghiã đích thực, cũng như có khả năng và điều kiện để phản bội, thì trung tín, chung thủy mới qúy báu, cao cả.
Cựu Ước cho chúng ta thấy hành trình về Đất Hứa của dân Thiên Chúa ngay từ đầu đã là buổi lên đường giông bão khi “quân Ai Cập, gồm toàn thể chiến mã, chiến xa của Pharaô, kỵ binh và quân lực của vua ấy, đuổi theo và bắt kịp họ, khi họ đóng trại bên bờ biển” (Xh 14, 9). Hành trình ấy tiếp nối với đủ thử thách, gian nan: từ thiếu thốn của ăn, thức uống, nguy hiểm của bệnh tật, rắn độc (x. Ds 21,4-9), đến những cuộc tấn công của các bộ lạc như người Amalếch… (x. Xh 17,8-16), như vua Êđôm không cho mượn đường đi qua, dù sứ giả của Môsê đã hết lời van xin: “Chúng tôi sẽ không băng qua ruộng rẫy, vườn nho, không uống nước giếng, nhưng cứ vương lộ mà đi, không rẽ bên phải hay bên trái, cho tới khi ra khỏi biên giới của ngài…; và nếu chúng tôi và đàn vật của chúng tôi có uống nước của ngài, thì chúng tôi sẽ tính sòng phẳng…”.“nhưng vua Êđôm nói: “Không được”, rồi đưa quân đông đảovà võ trang hùng hậu ra chặn đường” (Ds 20, 17.19.20).
Chính vì phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, vất vả không thể kể hết, mà dân Chúa khó tránh khỏi những lúc tinh thần suy sụp đến nỗi đã “kêu trách Thiên Chúa và ông Môsê: “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai Cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống?” (Ds 21,5).
Qủa thực, trong Cựu Ước, nếu dân Chúa đã sa đi sa lại, ngã lên ngã xuống liên tục trên đường về Đất Hứa, vì Lời Hứa của Thiên Chúa đặt họ trước tự do: Tự do tin tưởng vào Lời Hứa, và tự do không tin vào Lời Hứa, tự do bước đi với Đức Chúa khi Ngài “đi đàng trước họ: ban ngày thì ở trong cột mây để dẫn đường, ban đêm thì ở trong cột lửa để soi sáng, nên họ có thể đi cả ban ngày lẫn ban đêm” (Xh 13, 21), và tự do rẽ lối, bỏ hàng đi theo thần dân ngoại, đơn phương hủy bỏ Giao Ước, thì trong Tân Ước, Đức Giêsu cũng cho những người đi theo Ngài thấy trước những đau khổ họ phải chịu trên đường về vương quốc của Thiên Chúa hằng sống.
1.Đức Giêsu không che giấu, hay nguỵ trang đau khổ bằng những mỹ từ mị dân hay hình ảnh “bánh vẽ”:
Vì đời là bể khổ do tội lỗi, vì đời là thung lũng nước mắt do sự dữ theo tội lỗi đi vào thế gian, nên “Thoát sinh ra thì đà khóc chóe. Trần có vui sao chẳng cười khì?” (Thơ của cụ Nguyễn Công Trứ), nên chẳng ai vào đời mà không đối diện với thử thách, làm người mà thoát khỏi vòng “sinh, lão, bệnh, tử”, sống ở đời mà tránh hết khổ đau, chán ngán, thất vọng. Trái lại, đau khổ là một thực tại hiển nhiên, sừngsững làm khổ con người, làm chao đảo, bấn loạn cuộc sống, mà không ai có thể cắt nghiã, và giải quyết rốt ráo.
Chính Thiên Chúa làm người cũng đi vào thế gian, đến với con người qua con đường đau khổ, con đường “vác thập giá”, con đường “chịu đóng đinh trên thập tự”, và người môn đệ đi theo Ngài cũng chỉ duy nhất một con đường phải đi, đó là con đường “Mến Thánh Giá”, khi “từ bỏ mình, vác thập giá mình” là những trái ý, nghịch lòng, đau đớn, đau khổ trong cuộc đời.
Trước đau khổ của những con người đau đớn thân xác, đau khổ tinh thần mà Ngài gặp suốt cuộc đời làm người, Đức Giêsu đã chia sẻ, ủi an, cứu chữa với một tâm tình cảm thông sâu sa, và lòng tôn trọng chân thành.
2.Đức Giêsu cho chúng ta thấy ý nghiã và giá trị của đau khổ trong nhiệm cuộc cứu độ của Thiên Chúa:
Ngài thương cảm, an ủi, chữa lành, nhưng không hứa lấy đi khỏi loài người mọi đau khổ.
Một lần kia, “Đức Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. Các môn đệ hỏi Người: “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến ngưòi này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?” Đức Giêsu trả lời:“Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh” (Ga 9,1-3).
Qua sự kiện trên, chúng ta thấy Đức Giêsu một cách gián tiếp không phủ nhận đau khổ là do tội lỗi, nhưng cùng lúc Ngài lại qủa quyết : không phải bất cứ đau khổ nào cũng do tội, nhưng có những đau khổ mang sứ mệnh làm vinh danh Thiên Chúa, như đau khổ chịu mù loà của người khiếm thị bẩm sinh mà Ngài đã chữa lành, khi “nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa”.Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được”. (Ga 9, 6-7).
Như thế, có những đau khổ không do tội lỗi, như chúng ta thường suy đoán, hoặc suy diễn, luận tội những người không may mắn bị tật nguyền, đại loai như “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”,“Ác giả, ác báo”. Do đó, thuyết nhân – quả không được coi là nguyên tắc bất di bất dịch trong đau khổ của con người. Bằng chứng là Đức Giêsu đã phủ nhận ý nghĩ của các môn đệ, khi khẳng định ngược lại: “không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội” mà anh ta phải mù lòa. Không những thế, Ngài còn xác quyết:nhưng anh chịu đau khổ “mù loà”là để mọi người “nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”.
Quả thực, các môn đệ Đức Giêsu, cũng như phần lớn trong chúng ta, không ai đã nghĩ “anh mù kia đã chịu đau khổ từ thuở mới sinh để công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh”. Trái lại, thành kiến, thiếu từ tâm, óc duy lý và suy diễn theo kiểu thế gian đã đẩy chúng ta đi đến kết luận đơn giản nhưng vô cùng ác độc, đó là do tội của anh hoặc tội của cha mẹ anh, mà anh đã bị Thiên Chúa phạt mù loà từ thuở mới sinh.
Quảquyết của Đức Giêsu đã mở ra cho chúng ta một “chân trời mới về mầu nhiệm đau khổ”, để từ đây, chúng ta không nhìn đau khổ thuần túy như hình phạt của Thiên Chúa trên người tội lỗi, cũng không dựa trên mức độ bất hạnh để kết án người này nhiều tội, người kia ít tội, nhưng ý thức đau khổ là một mầu nhiệm, đau khổ có sứ mạng của nó, mà chỉ một mình Thiên Chúa biết và định liệu. Như thế, chúng ta sẽ nhìn đau khổ bằng đôi mắt đức tin, và vui lòng đón nhận đau khổ trong tinh thần phó thác tuyệt đối vào mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa.
3.Đức Giêsu đã hứa ban hạnh phúc cho những ai đau khổ:
Trong Bài Giảng trên núi, Đức Giêsu đã công khai chúc phúc cho những người đau khổ trong cuộc sống dương thế. Họ là những người nghèo, vì đã nghèo là khổ, nghèo nên bị đời khinh, bị người cô lập, xa lánh, và Thiên Chúa đã hứa ban hạnh phúc Nước Trời cho họ; họ là những người sầu khổ vì bị phụ tình, phản bội, sầu buồn vì đau ốm, tật nguyền, sầu đau vì thiên tai, nhân tai, sầu nhớ vì xa cách, ly biệt, sầu thương vì phận số hẩm hiu, bế tắc, cùng đường…, và Thiên Chúa đã hứa ủi an họ; họ là những người đau khổ trăm bề, ngàn nỗi khi “bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa”vì khao khát nên người công chính, vì yêu chuộng và xây dựng hoà bình, vì loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ, và Thiên Chúa đã hứa ban cho họ được thoả lòng mong đợi, được có Thiên Chúa làm gia nghiệp, được phần thưởng lớn lao trên trời (x. Mt 5,2-12).
Cũng trong Tin Mừng Matthêu, Đức Giêsu đã kê ra danh sách những người đau khổ gồm những người đói ăn, khát uống, rách rưới, trần truồng, đau ốm, tù đầy, lưu lạc tha hương, và tự đồng hoá mình với họ, đến độ ai làm phúc cho những người đau khổ này chính là làm phúc cho Thiên Chúa, ai khinh khi, nguyền rủa, bóc lột, bạc đãi những người đau khổ này là khinh khi, nguyền rủa, bóc lột, bạc đãi chính Thiên Chúa (x. Mt 25, 31-46). Điều này đã nói lên tình yêu của Thiên Chúa hằng bao bọc những con người đau khổ trên đường trông đợi Lời Hứa.
Vâng, mang thân phận con người, chúng ta không tránh được đau khổ, không chỉ vì đau khổ đã lọt vào thế giới loài người do tội lỗi, nhưng đau khổ còn là dấu ấn của tính hữu hạn, dòn mỏng, yếu đuối của phận người. Vì thế, lên án đau khổ, bất mãn, nổi loạn với Trời, với người và với mình vì đau khổ, hoặc tuyệt vọng, tuyệt mạng vì đau khổ thiết tưởng đều là thái độ tự sát, thái độ tiêu cực nguy hiểm mà người có niềm tin không thể để mình rơi vào.
Bởi Thiên Chúa đã làm người và chịu đau khổ; bởi Ngôi Lời của Thiên Chúa đã chọn đau khổ và cái chết là đau khổ kinh hoàng nhất để cứu chuộc; bởi Đức Giêsu đã mặc khải về sứ mạng mầu nhiệm của đau khổ là “làm cho công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện”; bởi chính Đấng cứu độ loài người đã hứa phần thưởng lớn lao và hạnh phúc đời đời cho những ai đi với Ngài trên đường trông đợi đẵm mồ hôi và nước mắt vì đau khổ; bởi hành trình của Lời Hứa là đường dài có roi đòn, mạo gai, đinh sắt và Thánh Giá; đường đi tới buổi sáng Phục Sinh là đường qua Núi Sọ tang thương và mộ phận hắt hiu, sầu tủi.
Thực vậy, trên đường trông đợi “Ngày Chúa đến”, mỗi người Kitô hữu đều được mời gọi chung phần đau khổ của Thánh Giá Đức Giêsu để sinh ơn cứu rỗi mình, và vì lợi ích chung của Giáo Hội, như thánh Phaolô đã thâm tín:“Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan, thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1,24), với một niềm tin kiên vững: không một đau khổ nào trên đường Thánh Giá mà không đem lại ơn xá tội, thánh hoá ta và người khác, bởi “Nếu ta cùng chết với Đức Kitô, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng đau khổ với Đức Kitô, ta sẽ cùng hiển trị với Người” (2Tm1,11-12).
Xin Chúa ban cho tất cả chúng ta ơn sức mạnh của Chúa Thánh Thần, để trên đường trông đợi Lời Chúa hứa, trước vô vàn đau khổ đủ kích cỡ, độ lượng, chúng ta vẫn một lòng một dạ yêu mến phụng thờ Thiên Chúa và phục vụ anh em, bởi Thiên Chúa là “Đấng luôn một lòng trung tín, vì không thể nào chối bỏ chính mình” (2 Tm 1,13) đã hứa phần thưởng đời đời cho những tâm hồn tan nát vì khổ đau trong cuộc sống trông đợi.
Một
sự thực mà phần đông dân ítraen đã không ngờ là Lời của Thiên Chúa Giavê hứa với
họ : “Ta là Đức Chúa. Ta sẽ cứu các ngươi khỏi làm việc khổ sai cho người
Ai Cập, sẽ cứu các ngươi khỏi làm nô lệ chúng. Ta sẽ giơ cánh tay uy lực mà chuộc
các ngươi lại” (Xh 6,6) đã không là lý do để từ nay họ không phải chiến đấu trước
những thử thách đủ loại, càng không là bảo đảm của một cuộc sống lười biếng,
rong chơi, thụ hưởng, hay không còn phải làm việc “đổ mồ hôi, sôi nước mắt”. Trái
lại, trông đợi không lọai bỏ thử thách, Lời Hứa không triệt tiêu phấn đấu, hy
sinh, và hình ảnh những năm tháng dài Vượt Qua để về Đất Hứa của dân Thiên Chúa
cho chúng ta thấy Trông Đợi và Thử Thách luôn sánh đôi đồng hành .
1.Lời
Hứa của Thiên Chúa và tự do đón nhận Lời Hứa của con người :
Lời
Hứa của Thiên Chúa luôn đòi con người tự do đón nhận hay khước từ, vì Lời Hứa
không áp đặt, tạo áp lực trên người được hưởng Lời Hứa, như ai đó hứa với ta điều
gì, ta luôn có quyền khôngquan tâm đến
việc thực hiện lời hứa ấy, nếu ta không muốn, vì không tin hoăc không yêu mến
người đã mở lời hứa với ta.
Vì
thế, Lời Hứa của Thiên Chúa mang bản chất và sắc thái của một Giao Ước như chính
Ngài đã nói với Môsê : “Này Ta sắp lập một giao ước. Trước mặt toàn dân
của ngươi, Ta sẽ làm những việc lạ lùng chưa hề được thực hiện trong một nước
hay một dân nào. Toàn dân ở chung quanh ngươi sẽ thấy việc Đức Chúa làm, vì điều
Ta sắp dùng ngươi mà làm thì thật dáng sợ” (Xh 34,10).
Và
điều mà Thiên Chúa đòi dân Ngài phải đáp lại Lời Hứa, điều kiện mà Ítraen phải đáp
ứng để Lời Hứa của Thiên Chúa Giavêđược
thực hiện chính là “Hãy giữ kỹ điều Ta truyền cho ngươi hôm nay… Hãy ý tứ, đừng
lập giao ước với dân cư trong xứ nơi ngươi sắp vào, kẻo chúng trở thành cạm bẫy
ở giữa ngươi” (Xh 34,11.12).
2.Lời
Hứa của Thiên Chúa mở ra và kêu gọi lòng trung tín của con người :
Nếu
không có Lời Hứa của Thiên Chúa Giavê, Ítraen không trông đợi ngày giải phóng,
không hy vọng những ngày được sống bình an, thịnh vượng trên “miền đất chảy sữa
và mật”, nhất là không trông đợi có Thiên Chúa đầy uy lực bảo vệ, hướng dẫn, thì
Ítraen không cần phải chu toàn một khế ước, giao kèo với Thiên Chúa Giavê.
Nhưng
vấn đề ở đây là Thiên Chúa đã đi vào lịch sử của dân tộc này, và nhận Ítraen là
dân riêng, thuộc về riêng Ngài, nên đòi hỏi Ngài đưa ra mà Ítraen phải tuân giữ
chính là “Ngươi không được lập giao ước với dân cư trong xứ, kẻo khi chúng đàng
điếm với các thần của chúng và tế họ, chúng sẽ mời người và ngươi sẽ ăn đồ cúng
củachúng, ngươi sẽ kén vợ cho con trai
ngươi trong số con gái của chúng, con gái chúng sẽ đàng điếm với các thần của
chúng và làm cho con trai ngươi đàng điếm với các thần đó” (Xh 34,15-16).
Tất
cả cạm bẫy sẽ đến từ việc “lập giao ước với dân cư trong xứ”, mà Thiên Chúa cảnh
báo Môsê và dân Ngài, bởi Ngài biết dân Ngài sẽ không kiên định giữ Giao Ước đã
ký kết vói Ngài trước những cám dỗ của dân ngoại, để rồi rơi vào tình trạng phản
bội Thiên Chúa, theo dân ngoại đúc tạc và thờ lậy ngẫu thần.
Thiên
Chúa cũng biết mọi tội lỗi sẽ ập về cuốn trôi dân Ngài, khi Ítraen không còn
trung tín với Giao Ước, không còn tin vào Lời Hứa của Ngài.
Thực
vậy, Lời Hứa không là “bánh vẽ”, thuốc phiện cho con người ru ngủ mình trong mộng
vàng ảo tưởng, nhưng là khởi đầu một hành trình Vượt Qua nhiều thử thách, là liều
lĩnh dấn thân trên con đường đầy thách đố, mạo hiểm, do Lời Hứa lôi cuốn, thúc đẩy.
Chính Lời Hứa làm cho hành trình phấn đấu có ý nghiã ; chính Giao Ước ban
cho trái tim nhiệt huyết và đôi chân sức mạnh dẻo dai để vượt qua mọi gian nan,
vất vả.
3.Lời
Hứa của Thiên Chúa thể hiện lòng thương xót và trung tín củaNgài :
Ítraen
đã không nghĩ rằng mình có thể phản bội Thiên Chúa dễ dàng đến thế, và Môsê đã
không thể tưởng tượng dân đã cứng đầu cứng cổ đến như vậy, với không biết bao
nhiêu lần vi phạm Giao Ước, chối bỏ Lời Hứa của Thiên Chúa Giavê.
Không
nói đến những lần kêu ca, trách móc, than thở “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống ?”
(Xh 15,24), “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai Cập, khi còn
ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi
ra khỏi đó mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây !”
(Xh 16,3). Chỉ kể đến lần Ítraen đã làm một tội rất lớn là bỏ Thiên Chúa Giavê
và thay thế Giavê Thiên Chúa bằng Bò Vàng, khi “toàn dân gỡ các khuyên vàng đeo
tai và đem đến cho ông Aharon. Ông lấy vàng từ tay họ trao cho, đem đúc và dùng
dao mà gọt đẽo thành một con bê. Bấy giờ họ nói : “Hỡi Ítraen, đây là thần
của ngươi đã đưa ngươi lên từ đất Ai Cập. Thấy vậy, ông Aharon dựng một bàn thờ
trước tượng con bê …” (Xh 32,3-5).
Thế
là Lời Hứa của Thiên Chúa bị khinh miệt, từ chối bởi toàn dân và cả Aharon, người
thay mặt Môsê lãnh đạo dân trong khi Môsê vắng mặt, lên núi gặp Thiên Chúa ;
Giao Ước ký kết với Thiên Chúa đơn phương bị dân xé bỏ cách tàn nhẫn, phũ phàng ;
tình thương và ân huệ của Thiên Chúa bị chính dân Ngài phủ nhận khi nhận bò
vàng là thần đã giải phóng họ khỏi đất Ai Cập.
Qủa
thực không còn tội ác nào kinh khủng hơn, không còn hành động phản phúc nào nặng
nề hơn, không còn xúc phạm nào đáng nguyền rủa, trừng phạt hơn. Thế mà Thiên Chúa
vẫn nhẫn nại, trung tín với Lời Ngài hứa, và bao dung tha thứ cho dân, khi phán
với ông Môsê : “Ngươi hãy đẽo hai bia đá giống như hai bia trước. Và Ta sẽ
ghi lại trên đó những lời đã ghi trên các bia trước mà ngươi đã đập vỡ. Ngươi hãy
chuẩn bị sẵn sàng cho sáng ngày mai”. Và ngày mai, “Đức Chúa đã ngự xuống trong
đám mây và đứng đó với ông”, và Ngài xưng mình là “Đức Chúa ! Thiên
Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giầu nhân nghiã và thành tín, giữ lòng nhân
nghiã với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi…” (Xh 34, 1-2.5-7).
Trong
Tân Ước, Lời Hứa của Thiên Chúa : “Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2) và “Thiên
Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23) cũng đòi điều kiện : “Anh em hãy sám hối”,
tức “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mt 3,3).
Đây
cũng là thách đố đầy cam go, thử thách đòi nhiều cố gắng, hy sinh để vượt qua,
vì không ai “trốn được cơn thịnh nộ của Thiên Chúa”, nếu không sám hối, cũng như
đừng ai tưởng rằng “chúng ta có tổ phụ Ápraham” (Mt 3,7-9), vì “Thiên Chúa có
thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Ápraham. Cái rìu đã đã đặt sát
gốc cây : bất cứ cây nào không sinh qủa tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa”
(Mt 3,9-10), như Thiên Chúa Giavê đã nói với Môsê về Ítraen cứng đầu : Tuy
là Thiên Chúa nhân hậu và từ bi… nhưng Thiên Chúa “không bỏ qua điều gì, và
trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông” (Xh 34,8).
Vâng,
Trông Đợi không miễn trừ những thách đố, thử thách trước những cám dỗ phản phúc,
bội ước đối với Thiên Chúa và Giao Ước, Lời Hứa của Ngài. Trông đợi cũng không
lấy đi những giới hạn, yếu đuối, mỏng dòn của thân phận làm người nơi chúng ta.
Vì thế, là con cái của Lời Hứa, thuộc giống nòi của Giao Ước, người Kitô hữu được
mời gọi học với Môsê, “con người khiêm nhường nhất trong con cái loài người”
(Ds 12,3) để khiêm hạ phủ phục thờ lậy và thân thưa : “Lậy Chúa, nếu qủa
thực con được nghiã với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một
dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng
con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài” (Xh 34,9).
Với
tâm tình khiêm tốn tín thác trông đợi ấy, Thiên Chúa sẽ không đành lòng ngoảnh
mặt làm ngơ, và thịnh nộ trừng phạt, nhưngthương xót tha tội và cùng đi với chúng ta trên đường Hy Vọng vào Lời Hứa
Cứu Độ và Trông Đợi ngày Chúa đến đón chúng con vào trong vinh quang của Ngài.
Mùa
thu gợi nhớ, gợi tình, và là mùa thai nghén, cưu mang những cuộc tình lãng mạng
cho mùa xuân về đơm hoa kết trái. Nhưng thu năm nay buồn thật buồn. Buồn vì rừng
thu vẫn vàng óng ả dưới nắng nhẹ, nhưng vắng những cặp tình nhân thênh thang dệt
mơ ước ; buồn vì lá thu vẫn rơi theo từng cơn gío, nhưng lòng người đã thay
mênh mang của tình thu bằng hoang vắng của thu bão lụt, thay nhung nhớ của gió
thu yêu thương bằng lo sợ của mùa thu đe dọa chết chóc…
Không
buồn sao được mùa thu năm nay, khi thế giới tan hoang vì đại dịch Covid :
không biết bao nhiêu gia đình rơi vào túng quẫn vì thất nghiệp, người trẻ mất cơ
hội vào đời khi vừa tốt nghiệp ra trường, trẻ em không còn tự do tung tăng chạy
nhảy ở sân trường, trong công viên, trên bãi biển. Biện pháp phong toả ngày càng
chặt chẽ đang làm cho đời sống ngày thêm ngột ngạt, tù túng, và mùa thu tê tái
buồn như mùa thu đau bệnh...
Không
buồn sao được khi bão tố cứ từng cơn kéo về dữ dội hất tung tất cả, phá đổ tất
cả, làm tất cả tiêu tan. Không buồn sao được mùa thu năm nay nhận chìm một phần
ba quê hương chúng ta trong nước lũ, khi lũ giận dữ đổ về tàn phá không thương
tiếc, để lại cho người dân miền Trung một cảnh tang thương không thể tưởng tượng :
tang thương gấp bội cảnh “màn trời chiếu đất”, vì còn màn trời chống muỗi và
chiếu để nằm, đàng này, lũ lụt không cho đất để đứng, cũng chẳng cho trời làm màn,
nhưng trên cao hay duới thấp, ngang hay dọc, trước mặt hay sau lưng, tất cả đều
chỉ là nước và chỉ còn nước.
Nước
cuốn trôi con người, nước nhận chìm gia súc, nước bứng rễ cây cối, bật tung nền
móng cầu đường, dinh thự, nhà cửa, công trình. Nước nổi giận và trả thù, nên chẳng
còn biết phải trái, điều độ, vừa phải với con người… Ngay cả với người chết, nước
cũng chẳng xót thương cho khô cạn để được chôn cất hay thiêu đốt thành tro bụi.
Không
buồn sao được muà thu năm nay, khi liên tiếp chưa đầy nửa tháng, hai thanh niên,
một đến từ Nga, một đến từ Tunisie đã lấy đi bốn mạng người một cách vô cùng
man rợ, trên một đất nước tự do, nhân quyền, dân chủ bậc nhất thế giới. Cả hai
bạn trẻ này đều là người Hồi Giáo, nhưng qúa khích, cuồng tín, một người được nước
Pháp cho tỵ nạn, người kia vừa trốn từ Tunisie và vào nước Pháp bất hợp pháp từ
đầu tháng 10 đã dùng dao đâm chết và cắt cổ dã man bốn công dân Pháp : ngày
16.10. 2020, Abdoullakh Anrozov, 18 tuổi đã cắt cổ ông Samuel Paty, người Pháp
47 tuổi, cha của một bé gái mới 5 tuổi, giáo sư sử địa tại thành phố Conflans-Ste-Hororine,
vì cho rằng giáo sư đã bôi bác đại tiên tri Mahômét, khi dậy về quyền tự do tư
tưởng trong lớp ; và ngày 29.10.2020, sinh nhật của đại tiên tri hồi giáo
Mahômét, khoảng 9 giờ sáng, một thanh niên người Tunisie, 21 tuổi đã vào nhà thờ
Notre-Dame de l’Assomption (Đức Mẹ Mông Triệu) giữa thành phố Nice dùng dao cắt
cổ một phụ nữ 60 tuổi, đâm chết một chị khác 44 tuổi, mẹ của ba connhỏ trong khi cả hai đang qùy cầu nguyện. Ngay lúc
đó, ôngVincent L, 55 tuổi, “ông từ” của
nhà thờ vừa bước vào cũng bị tên khủng bố khống chế bằng dao và cắt cổ tại chỗ.
Cả hai thanh niên hồi giáo qúa khích và giết người đều hô lớn “Đức Alla thật vĩ
đại! Allah Akbar!” trước khi bị cảnh sát bắn gục, một chết tại chỗ, một bị thương
nặng.
Cuộc
thảm sát ba Kitô hữu ở Nice vừa qua đang làm người dân Pháp bàng hoàng, ghê sợ
trước làn sóng khủng bố của “hồi giáo qúa khích”, như toàn thế giới đã kinh hoàng
trước biến cố cha Jacques Hamel 86 tuổi, thuộc giáo xứ Saint Etienne-du-Rouvray
giáo phận Rouen, cách đây bốn năm, vào ngày 26.07.2016 đã bị hai người hồi giáo
qúa khích, cuồng tín, Abdel Kermiche, và Abdel Malik Boukezzoula, cả hai cùng 19
tuổi xông lên cung thánh cắt cổ đang khi Ngài dâng thánh lễ trong nhà thờ giáo
xứ.
Muà
thu năm nay buồn thật, buồn hơn nhiều mùa thu khác đã qua. Trong nỗi buồn pha lẫn
lo sợ, nhiều người cho rằng đã đến thời kỳ cuối, khi Satan được phép xổ lồng hoành
hành, khuynh đảo loài người ; có người bực bội với thiên nhiên và cho rằng
thiên nhiên đang trả thù con người vì con người đã không tôn trọng, gìn giữ thiên
nhiên ; một số không nhỏ trách móc Thiên Chúa đang nhắm mắt làm ngơ trước
sự dữ và đang tâm bỏ rơi con người.
Người
viết tôn trọng quyền đặt vấn nạn, và quyền chọn đáp án của mỗi người, nên chỉ
ghi lại ở đây sắc thái buồn của mùa thu năm nay : một mùa thu rất buồn cho
đất nước vì bão lũ, cho cả địa cầu vì đại dịch Covid, và làn sóng khủng bố nhân
danh tôn giáo, bởi đâu đâu cũng ảm đạm, tiêu điều, nơi nào cũng hốt hoảng, lo sợ,
ở đâu cũng ngộp thở, phập phồng, tưởng chừng hiện tại là kề cận nguy hiểm, và tương
lai là đối mặt rủi ro.
Nhưng
với niềm tin vào Đức Giêsu, Thiên Chúa của lịch sử, Thiên Chúa làm chủ lịch sử,
chúng ta có quyền và có lý do tin vào Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ. Ngài sẽ đến với
Bình An của buổi sáng Phục Sinh, sau những ngày sầu buồn, tang thương chết chóc
của thập giá, núi sọ, mộ phần.
Ước
gì trong những ngày thu buồn, hạnh phúc không thể mất và không chịu để mất trong
trái tim người Kitô hữu vẫn là Đức Giêsu, Nguồn Vui ơn Cứu Độ cho những ai hết
lòng tin tưởng vào Ngài.