Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

NGÀY LỄ TÌNH NHÂN 14/02

Không còn ở cái tuổi làm Tình Nhân, có Nhân Tình, nếu hiểu tình nhân, nhân tình là những người trẻ đang yêu nhau thiết tha, đắm đuối. Nhưng nếu mở rộng  biên giới của ngày lễ Tình Nhân, khi hiểu Tình Nhân – Nhân Tình là những người “có tình” cho nhau, những cuộc đời tự nguyện gắn kết nên một trong tình yêu, bất luận tuổi tác, thì tôi cũng còn may mắn được đứng chung hàng ngũ những người đang xôn xao, rạo rực, rộn ràng đón ngày Valentine đang làm nức lòng nhiều người yêu nhau.
Không biết ai là người đầu tiên có sáng kiến về ngày lễ Tình Nhân, nhưng chắc chắn người ấy phải có một trái tim nhậy cảm, và một tâm hồn rất lãng mạn. Tuy thế, nếu thiếu những nhân tình lãng mạn và tình nhân  đa cảm như tôi với bạn đang náo nức, phấn khởi đây, thì chưa chắc  lễ Tình Nhân đã có được vị trí quan trọng và  ảnh hưởng rộng lớn như hôm nay.
Sở dĩ ngày lễ Tình Nhân giữ một vị thế quan trọng trong đời sống, vì ngày ấy, những người yêu nhau không chỉ nói với nhau những điều muốn nói, mà còn nói được với nhau những chuyện khó nói, ngại nói, chưa nói được. Có chuyện rất dễ nói khi yêu nhau, nhưng bên cạnh còn rất nhiều chuyện  khó nói, không thể nói ngoài một thời điểm hiếm hoi thuận lợi.
Trong những chuyện khó nói có chuyện quá khứ của những cuộc tình vắt vai đã rơi theo năm tháng cũ ; có chuyện tương lai tính tới thì khó khăn, tính lui thì tiếc xót, không đành, và dậm chân tại chỗ thì lầy lội, chẳng xong.
Chuyện ngại nói cũng có thể là những tâm sự dở dang không biết chốt lại thế nào cho gọn gàng, đẹp đẽ ; những tính toán ngang dọc rối bời mà càng cố thu dọn, càng bừa bộn thêm.
Cũng có thể chuyện không nói là bí mật của một con người, một đời người, mà một khi bị tiết lộ, thì chẳng còn gì có thể đứng vững.
Thế nên, tình yêu tình nhân dành cho nhân tình không hẳn luôn đơn sơ, ngây thơ, bé bỏng, mà có thể gai góc, gian nan, vất vả trăm chiều, nhiều nỗi ; trái tim tình nhân hướng đến nhân tình không hẳn luôn tròn trịa, kháu khỉnh, nhưng có thể đã mệt nhọc, mòn mỏi, rạn nứt, vì nhiều thách đố đã trải qua.  
Vâng, làm tình nhân yêu nhân tình, hay làm nhân tình yêu tình nhân là đi vào huyền nhiệm của đời nhau, ở đó, không phải tất cả đều lập tức lộ diện nguyên hình, phút chốc bầy ra nguyên trạng. Trái lại đó là hành trình đòi đôi chân kiên trì, từng bước vững chãi trong tình yêu tôn trọng nhau, con đường dài như cuộc đời đòi ý chí kiên cường trong tình yêu biết đối thoại, tương lai hun hút như đường vào tuyệt đối đòi đôi mắt sáng như sao để thấu suốt tình yêu mầu nhiệm, nhất là một trái tim kiên định dám đập đều nhịp với  trái tim của người tình.
Những người tình tuyệt vời, những nhân tình lý tưởng, những tình nhân muôn thưở đều có chung những kinh nghiệm vất vả trên hành trình tình yêu, những cảm nghiệm sâu sắc của tình yêu quên lợi riêng, quên ý riêng, quên cả đời riêng cho hạnh phúc của người mình yêu, bởi tình yêu đòi nhiều thứ lắm, nhất là lương thực hy sinh để tình yêu được sống, và lớn lên, nên có đổ mồ hôi trên đường lầy lội, có rách da, xẻ thịt, rướm máu đôi chân trên những dặm trường gai góc, sỏi đá, có cháy nắng cô đơn trong sa mạc tình buồn, người ta mới hiểu được giá trị của tình yêu trao ban khi là nhân tình, và tình yêu đón nhận khi là tình nhân.
Những người tình tuyệt vời, những nhân tình lý tưởng còn là những người dầy dạn trong thử thách của tình trường, khi hai người phải vượt qua đủ thứ mặc cảm, đủ loại cấm kị để nói được với nhau điều muốn nói, chia sẻ không ngại ngùng  với nhau tâm sự cần được sẻ chia, nhất là chấp nhận cùng nhau vượt núi, vượt rừng, vượt biển, vượt sông, kể cả vượt rào vì một tình yêu “không thể xa nhau”.
Ngày lễ Valentine còn là dịp để trao tặng nhau, bởi tình yêu luôn đòi trao ban và đón nhận, nên cả nhân tình và tình nhân đều phải là người biết Trao Ban và biết Đón Nhận. Chỉ trao ban thôi mà không đón nhận, tình yêu sẽ chết, vì có một bên kiêu căng, tự cho mình “đã đủ, không cần gì ở người yêu” khi từ chối đón nhận ; chỉ đón nhận thôi mà không trao ban, tình yêu cũng sẽ chết, vì có một bên ích kỷ, thụ hưởng, chỉ thủ lợi , “thủ riêng” cho mình, khi khước từ trao ban.  
Tình yêu đòi trao ban - đón nhận, và khi yêu nhau thật tình, hết tình, người ta không còn quan tâm đến giá trị vật chất của tặng vật, nhưng bất cứ tặng vật nào cũng đều mang một giá trị tuyệt đối, vì đó là biểu hiệu của tình yêu, mà tình yêu thì tuyệt đối tự bản chất.
Nhưng tặng vật dễ thương, qúy giá, cao cả, tuyệt vời nhất mà người ta muốn trao cho nhau, và khao khát nhận được ở nhau là chính con người của nhau. Trao tặng người yêu chính con người mình là cho đi tất cả, và chẳng giữ lại gì làm của riêng ; trao tặng người mình thương chính con người mình là hiến dâng trọn vẹn cuộc đời, cuộc sống với thao thức, ước mơ, khắc khoải, hy vọng, niềm vui, hạnh phúc, và cả lo lắng, buồn thương. Chỉ trao ban chính con người mình cho người mình yêu, thì tình yêu mới thực sự có ý nghiã và giá trị tuyệt đối của Tình Yêu, như trái tim khi yêu hằng khao khát, đợi chờ.  
Mừng ngày lễ Tình Nhân của những trái tim đang thổn thức, rạo rực vì yêu thương, người viết mến tặng các bạn đang yêu nhau ba ngọn nến rất đẹp :
·      Ngọn nến Sự Thật, tuy leo lét trước gió, nhưng sẽ không bao giờ tắt trong tim các bạn, dù là cuồng phong thất bại, sợ hãi, hay gánh nặng của thời gian, bởi Sự Thật luôn giải phóng và nối kết.
·      Ngọn nến Thứ Tha, tuy kín đáo, âm thầm, nhưng sẽ không bao giờ tắt trong đời sống yêu thương, dù hiện tại chống phá, dù tương lai đe doạ, bởi Thứ Tha là ánh sáng xua đuổi đêm tối trong cuộc đời những người yêu nhau.
·       Ngọn nến Hiền Lành, tuy bé bỏng, nhẹ nhàng, nhưng sẽ không bao giờ tắt trong ân nghiã, ân tình, bởi Hiền Lành làm cho nhân tình, tình nhân vô cùng  dễ thương, dù đi giữa trời giông bão, hay dưới trời chói chan đổ lửa.
Ước mong các Nhân Tình, Tình Nhân đốt lên ba ngọn nến đẹp buổi tối Valentine lãng mạn, và cưu mang, sinh nở trong Hạnh Phúc những Tình Yêu tuyệt vời cho cuộc đời mãi đẹp, mãi đáng yêu ! 
  Jorathe Nắng Tím

ĐỨC KITÔ, TÌNH YÊU GÁNH TỘI


Nếu biết rõ sẽ có những ngày "mặt chày, mặt thớt", những bữa ăn "cơm không lành, canh không ngọt ", những đêm mất ngủ, lang thang ngoài đường phố sau một trận cãi vả, thì tôi nghĩ chẳng ai dám xâm mình cưới nhau. Nếu nhìn được tỏ tường, hết chiều sâu và trọng lượng của những nết xấu, lỗi lầm, tội lụy trong tương lai và suốt cuộc đời của người mình sắp kết hôn, tôi tưởng không mấy ai dám liều mạng ký vào giao ước hôn nhân. Tình trạng giới trẻ ngày nay không muốn, đúng hơn là không dám dấn thân cưới nhau, mà chỉ sống chung chờ thời, sống chung qua ngày là một trả lời có nhiều xác xuất đúng nhất truớc những băn khoăn, ngao ngán kể trên.
Biết rằng đường tình có muôn lối, nhưng xem ra trên thực tế lối nào cũng hứa hẹn nhiều bất ngờ không mấy vui. Không mấy vui khi thời gian kéo ta ra khỏi giấc mơ thần tượng; khi thần tượng mệt mỏi xuống khỏi tượng đài "huyền hoặc, mơ ước", kéo ta bổ nhào xuống bờ đường cát bụi. Ước mơ không là thực tế và thời gian luôn trả về thực tế những diện mạo rất phũ phàng.
Cái phũ phàng đáng ngại trong tình yêu là tội lỗi của người mình yêu. Khi mới yêu, ta có khuynh hướng chấp hết, xóa hết, muốn "tu sửa, tân trang" tất cả để có một trời mới, đất mới cho con đường tình rất mới của ta. Khi mới yêu, ta thích nhắm mắt hôn nhau, nhắm mắt thì thầm tâm sự; bởi nhắm mắt sẽ hạnh phúc, nhẹ nhàng, thanh thản, lâng lâng hơn; bởi nhắm mắt sẽ không thấy gì ngoài ước mơ, mộng đẹp. Nhắm mắt còn cho ta cảm tưởng ta đẹp, người yêu ta đẹp, thế giới đẹp, đường tình ta đi đẹp. Cái đẹp bao trùm, người đẹp chiếm ngự; ta chỉ còn một khả năng là chiếm hữu, tôn thờ. Nhưng đó chỉ là lý tưởng và ngôn ngữ của trái tim đang sôi xục. Khi củi tàn, than nguội, máu trong tim lạnh ngắt, ta sẽ không thể lặp lại cùng một ngôn ngữ, âm thanh "khuếch đại" ấy bởi sự xuất hiện của yếu đuối tội lụy nơi đối tượng.
Bản chất của tội lỗi là phá hoại, nên khi khám phá và trực diện với tội lỗi của người mình yêu, ta cảm thấy tình yêu ta dành cho họ bị phá hoại; hy vọng ta trông chờ nơi họ bị đổ vỡ; hạnh phúc ta ấp ủ trong họ bị đạp đổ; sức sống ta trao dâng cho họ bị hủy diệt. Tắt một lời, tội lỗi, yếu đuối nơi họ phá vỡ toàn bộ cơ đồ và sự nghiệp yêu thương ta nhọc công xây dựng. Ta thấy mình là chủ thể bị xúc phạm, ta xem mình là nạn nhân của phản bội, ta hận mình non nớt, dại khờ bị phỉnh gạt. Tội lỗi của người ta yêu bỗng dưng biến họ và ta thành thù nghịch và ta xa lạ dần, tránh né dần, khai trừ dần người ta yêu. Khoảng cách từ đó được nối dài, mở lớn; hố sâu ngăn cách bị đào sâu, đục khoét cho đến một lúc ta phải sững sờ thốt lên: "tôi hết chịu nổi; bởi xưa kia em không thế; bởi lúc trước anh không vậy; bởi tự nhiên anh sinh tật; bởi bỗng dưng em dở chứng..." Và như bệnh tật không báo trước, tội lỗi và yếu đuối cũng không định ngày, chọn tuổi. Nó đến bất chợt như kẻ trộm, âm thầm len lỏi phá hoại tất cả sự nghiệp của tình yêu; trong sự nghiệp này, nạn nhân trực tiếp là hai người yêu nhau.
Vì thế, khi chiêm ngắm tình yêu của Đức Kitô, tôi say mê đến điên cuồng hình ảnh "Đức Kitô, chiên gánh tội".
Trong Tin Mừng, Đức Kitô đã xuất hiện lần đầu tiên trước công chúng qua hình ảnh "Chiên gánh tội". Gioan Tiền Hô đã long trọng giới thiệu Đức Kitô khi ông thấy Ngài: "Đây là chiên Thiên Chúa, đấng gánh tội nhân loại" (Ga 1,29).
Hình ảnh đầu tiên về Đức Kitô nhập thể, nhập thế là hình ảnh một con chiên trên vai mang hết tội lụy nặng nề của người khác. Hình ảnh này khiêm hạ, bé nhỏ và tội nghiệp. Hình ảnh này không hấp dẫn mấy người, không lôi kéo được ai. Nó khiêm hạ ở chỗ làm chiên hiền lành, không mưu mô như cáo, không dữ tợn như hổ, không hiểm độc như rắn. Chiên vốn hiền lành, nhịn nhục, đơn sơ. Nhờ đơn sơ, nhịn nhục, hiền lành, chiên luôn bé nhỏ, dễ thương. Cái dễ thương của một trái tim không nuôi thù hận, nét bé nhỏ của một tâm hồn không cao ngạo. Nó còn khiêm hạ ở chỗ cúi đầu cho thiên hạ trút tội trên lưng, trên cổ. Tội mình mình mang đã đành; nay mang cả tội người, tội thiên hạ mà vẫn hiền, vẫn ngoan, vẫn dễ thương, vẫn đằm thắm.
Bên cạnh nét khiêm hạ, chiên gợi lên niềm đau tội nghiệp. Không biết các thầy cả trong đạo cũ khi làm nghi thức đổ tội trên chiên và đuổi chiên chạy xa vào rừng, xa mạc, có cảm thương chiên không; chứ riêng tôi, tôi chạnh lòng trước hình ảnh chú chiên có cặp mắt trong, to tròn ngơ ngác bị đuổi vào xa mạc với gánh nặng tội lỗi người khác, bởi không ai trong sạch hơn nó để có đủ thong dong mà gánh tội đời. Bởi vai ai cũng chồng chất tội mình, nên chỉ những bờ vai trống vắng tội lỗi mới can đảm gánh vác tội người khác. Dưới mắt mọi người, chiên bị đồng hóa với tội lỗi bởi trên mình chiên tội lỗi đầy tràn; nhưng chỉ một mình chiên biết sự trong sạch của mình và sứ mạng anh hùng, qủa cảm, đầy hy sinh khi gánh tội người khác.
Chọn hình ảnh "chiên gánh tội " trong lần đầu tiên ra mắt quần chúng, Đức Kitô dã không mị dân vì vốn dĩ dân đang chờ nơi Ngài một hình ảnh khác, huy hoàng, vinh dự hơn. Không những thế hình ảnh này đã có thể gây thất vọng, nản chí nơi nhiều người.
Khi vào đời, Đức Kitô đã khẳng định chỗ đứng của mình trong đời qua tên gọi "Emmanuel"- Thiên Chúa ở cùng chúng tôi; đồng thời khẳng định vai trò, sứ mạng của Ngài: cứu độ nhân loại bằng yêu thương. Chọn hình ảnh chiên gánh tội, Đức Kitô đã khẳng định thêm môt chân lý nữa: gánh tội người khác là đòi hỏi của tình yêu.
Nếu tình yêu có thể trọn vẹn và hoàn hảo, nếu tình yêu đạt được ý nghĩa tuyệt đối của nó mà không cần đến công việc "gánh tội người mình yêu" thì chắc chắn Đức Kitô đã không chọn hình ảnh "chiên Thiên Chúa" khổ sở này. Nếu yêu mà không phải rạp mình, còng vai vì nặng nề tội lụy, yếu đuối của nhau, thì hình ảnh "chiên Thiên Chúa" sẽ không có nghĩa và giá trị gì. Nhưng vấn đề đã được đặt khác khi chính Đức Kitô vui lòng đến trong đời như một chiên gánh tội, như một của lễ hy sinh, như một thân phận tràn đầy tội lụy. Tình yêu nơi "Thiên Chúa làm người" ấy chắc hẳn phải thâm sâu, tha thiết, tuyệt vời lắm mới có sức biến Ngài thành "người gánh tội" trong khi Ngài là Thiên Chúa và có quyền biểu lộ sự trong sạch tuyệt đối của Ngài.
Nhìn vào tình yêu này, ta thấy thiếu hẳn công lý và bình đẳng. Thiếu công lý bởi người vô tội phải mang tội người khác, người trong sạch phải trở thành ô uế, bị xua đuổi. Đức Kitô đã không tuân theo những lý lẽ của một công lý bình thường khi Ngài chịu nhận phận tội lụy của người khác làm chính thân phận mình. Ngài còn coi thường cả những nguyên tắc bình đẳng trong xã hội khi chịu thiệt thòi đến tận cùng trong tất cả lựa chọn của tình yêu.
Như vậy tình yêu nơi Đức Kitô, trước hết bắt đầu bằng trái tim vui lòng gánh hết tội người mình yêu. Tình yêu này không đổ tội, gán tội, bới tội, vạch tội. Tình yêu này cũng không nhân danh công lý để buộc tội, không nhân danh lề luật để xử tội, hành tội, trị tội. Nhưng tình yêu này lại hiền lành để nhắm mắt che tội, khiêm hạ khi xét tội, can đảm đưa vai gánh tội và nhân ái bao dung xóa tội. Tình yêu ấy chấp nhận chỗ thấp nhất để tình yêu có nền tảng vững chắc nhất là thứ tha; nhờ nền tảng này mà tình yêu không bị sụp đổ. Tình yêu ấy chọn cho mình gánh nặng để tình yêu trở nên nhẹ nhàng với đôi cánh hạnh phúc. Tình yêu ấy vui lòng cúi xuống thật sâu để không một xúc phạm nào có thể làm tình yêu lung lay, chao đảo.
Đức Kitô chọn tình yêu "gánh tội" này vì Ngài biết không một tình yêu nào có thể sống nếu gánh nặng của nó không được những người yêu nhau chia sẻ. Tình yêu có giá trị bởi có trọng lượng: trọng lượng của đời người, của đời riêng mỗi người trong cuộc với tất cả quá khứ, hiện tại, tương lai, với đầy đủ mọi ô nhục, vinh quang, những công đức, tội lỗi rất sâu và rất dài. Vì cái giá trị huyền nhiệm này mà nhiều khi sức người không kham nổi, phải cần đến sức Trời, tình Trời, ơn Trời. Nhờ Trời và nhờ sống tình yêu như Chúa Trời muốn "gánh vác yếu đuối của nhau", tình yêu mới có thể bước đều trên đường tình về vĩnh cửu.
Như anh, như chị, theo gương Đức Kitô, tôi cũng muốn bắt đầu và làm sống lại tình yêu bằng trở nên "chiên gánh tội" trong tình yêu cho nhau mỗi ngày.

ĐẾN GẶP ĐỨC KITÔ LÀ TÌNH YÊU

Có thể bạn đã gặp một tình yêu lý tưởng. Có thể bạn chỉ đi trên những con đường tình đầy hoa. Cũng có thể bạn chưa biết "yêu là đau khổ " bao giờ. Tôi thực tình mừng cho bạn.
 Phần tôi, không may mắn như bạn, nên tình nào đến cũng bềnh bồng, chao đảo.
 Viết để chia sẻ với bạn về tình yêu hôm nay, tôi thấy những điều tôi viết non nớt, thiếu sót và rời rạc quá. Chính vì thế, tôi mời bạn cùng tôi đến gặp và tham khảo với một người tự nhận là Tình yêu, sứ giả của Tình yêu, đã sống trọn vẹn một cuộc đời yêu thương và chết cho yêu thương. Con người ấy hẳn phải hơn tôi, hơn bạn trong hiểu biết và kinh nghiệm tình yêu. Đến với con người ấy, tôi với bạn hy vọng sẽ khám phá diện mạo và bản chất đích thực, tinh ròng nguyên chất của tình yêu, điều mà từ lâu tôi với bạn đều ước mong và vất vả kiếm tìm.
Trong niềm hân hoan của những người ham yêu, đang yêu và muốn được yêu, tôi với bạn cùng đi và thế nào chúng ta cũng sẽ gặp, vì người ấy cũng không mong gì hơn là được gặp chúng ta.

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2020

TÔN VINH MẸ LA VANG - NỮ VƯƠNG CÁC GIÁO HỮU VIỆT NAM

Suy Niệm 11 : ĐỨC MARIA, NỮ TƯỚNG BINH ĐOÀN KITÔ HỮU
Thánh Gioan Tông Đồ trong Khải Huyền chương 12 đã mô tả trận chiến cam go giữa những kẻ thuộc về Thiên Chúa và Satan cùng bè lũ. Trong cuộc chiến ác liệt này, có “một người Phụ Nữ, mình khóac mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1). Người Phụ Nữ ấy tiến lên oai hùng, chỉ huy đoàn quân xếp hàng vào trận, và Bà đã đạp giập đầu Con Rắn Satan như Thiên Chúa đã phán : “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy ; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót chân nó” (St 3,15).
Đức Maria là người Phụ Nữ ấy, là Nữ Tướng oai hùng ấy, bởi chính Mẹ đã cầm đầu cuộc chiến đấu của những người tin theo Đức Giêsu chống lại ma qủy và bè lũ.
1.   Đây là cuộc chiến của toàn thể các thiên thần và loài người :
Khải Huyền cho chúng ta thấy rõ : “Bấy giờ có cuộc giao chiến trên trời : thiên thần Micae và các thiên thần của Người giao chiến với con Mãng Xà cùng các thiên thần của nó cũng giao chiến” (Kh 12,7).
Con Mãng Xà, tức Satan, cũng là Con Rắn xưa đã cám dỗ ông bà nguyên tổ trong vườn địa đàng. Nó là “tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ” (Kh 12,9). Bị xua đuổi khỏi thiên đàng, “nó bị tống xuống đất cùng với các thiên thần của nó” (Kh 12,9), và vì “nổi giận với người Phụ Nữ”, nó “đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà, là những người tuân theo các điều răn của Thiên Chúa và giữ những lời chứng của Đức Giêsu” (Kh 12,17).
Thật chính xác thành phần thuộc binh đoàn của Đức Maria. Binh đoàn này gồm các thiên thần và những người tin theo, làm chứng Đức Giêsu và tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa. Nói cách khác, họ là những môn đệ của Đức Giêsu, những tín hữu của Đức Giêsu, những người yêu mến, tin tưởng, vâng phục, và phụng sự Đức Giêsu.
Sở dĩ cuộc chiến gồm thiên thần và loài người, bao hàm cả các linh hồn nơi luyện ngục, vì ngay từ đời đời, Thiên Chúa đã quan phòng một Giáo Hội hiệp thông, hiệp nhất, một Thân Thể mầu nhiệm duy nhất, không phân ly, chia cắt, nên cuộc chiến chống lại Satan và bè lũ kiêu căng phản loạn chính là cuộc chiến toàn diện, toàn phần của Giáo Hội Đức Giêsu.      
2.   Đây là cuộc chiến rất cam go, gay cấn :
Cam go vì Satan là thần thánh. “Đó là một Con Mãng Xà, đỏ như lửa, có bẩy đầu và mười sừng. Đuôi nó quét hết một phần ba ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất” (Kh 12,3-4). Nó còn “đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà” (Kh 12,4).
Gay cấn, vì Satan quyết chiến với các thiên thần trung thành với Thiên Chúa, và với loài người đang được cứu độ, bằng tấn công trực diện vị Nữ Tướng chỉ huy binh đoàn những người tín hữu, môn đệ Đức Giêsu, do mối thù Thiên Chúa đặt giữa Satan và Đức Maria là mối thù muôn thưở, truyền kiếp, nên mãi đến muôn đời, Satan vẫn hung hăng tìm cách “giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà” (Kh 12,17).
3.   Đây là cuộc chiến có phân thắng - bại :
Cuộc chiến chắc chắn mang về chiến thắng vinh quang cho những ai đầu quân theo Đức Giêsu, nhờ Thiên Chúa tỏ uy quyền cứu độ của Ngài : 
“Thiên Chúa chúng ta thờ giờ đây ban ơn cứu độ, giờ đây biểu dương uy lực với vương quyền, và Đức Kitô của Người giờ đây cũng biểu dương, vì kẻ tố cáo anh em của ta trước toà Thiên Chúa nay bị tống ra ngoài” (Kh 12,10).
Thực vậy, mỗi người Kitô hữu là một quân binh của đạo binh Đức Maria. Chính Mẹ là Nữ Tướng chỉ huy, vì hơn ai hết Mẹ là người Kitô hữu đầu tiên và tuyệt vời, lý tưởng, có tất cả điều kiện để lãnh đạo, điều binh khiển tướng trong trận chiến chống lại Satan, mà ngay từ khi ông bà nguyên tổ bất trung, Thiên Chúa đã chọn Mẹ và tuyên chiến với Satan bằng tên của Mẹ : “Người Phụ Nữ”.
Là quân binh của đạo binh Đức Maria, khi cuộc sống đức tin của người Kitô hữu là một thách đố liên lỷ “đi ngược dòng đời”, vì tự căn tính, người Kitô hữu không được thế gian yêu thích, ủng hộ, như Đức Giêsu đã qủa quyết : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15,18-19).
Vì thế gian được Satan hướng dẫn và trợ giúp, nên sẽ không bao giờ buông tha người môn đệ Đức Giêsu, nhưng rình rập tìm mọi cách tấn công, đánh phá, làm cho người môn đệ thất vọng và từ bỏ Đức Giêsu, thầy mình.
Vì chủ trương tấn công, đánh phá, làm cho thất vọng, nên bất cứ kế họach, dự tính nào, công trình, công việc nào của người Kitô hữu khi “tuân theo các điều răn của Thiên Chúa, và giữ lời chứng của Đức Giêsu” (Kh 12,17), thì thế gian đều nhạo báng, chê cười, chế diễu, chọc gậy bánh xe, kiếm chuyện chống phá ; bất cứ người tín hữu nào hăng say, có tinh thần đức tin, có khả năng phục vụ, có điều kiện xây dựng cộng đồng đều bị thế gian “bắn sẻ”, vu khống, làm cho mất uy tín, danh dự, nhiệt huyết, hầu mọi người thất vọng, mất niềm tin và chính đương sự phải chán nản, buông xuôi, không còn dám dấn thân phục vụ ; bất cứ tổ chức, phong trào nào đem lại lợi ích cho các linh hồn, làm vinh danh Thiên Chúa đều là đích điểm số một của những cao trào bôi bác, hạ nhục, bới lông tìm vết của thế gian, để không người tín hữu nào còn nghị lực lên đường loan báo Tin Mừng, làm chứng Đức Giêsu.
Vốn mang cốt Thần, nên Thần Dữ Satan có đủ mưu chước và khả năng “thần thánh” để “mê hoặc toàn thể thiên hạ”, và gây hoang mang, mất tinh thần, chia rẽ ngay trong nội bộ của những người môn đệ Đức Giêsu, giữa hàng ngũ những quân binh Đức Tin, dưới cờ trận của Đức Mẹ.
Vì thế, khi quên mình là “người không thuộc về thế gian”, người tín hữu sẽ dễ bị thế gian dụ dỗ, để dùng lời thế gian mà rao giảng, dựa vào quyền lực thế gian mà mở mang Nước Chúa, chạy theo lời hứa của thế gian mà làm chứng Tin Mừng, để rồi sập bẫy thế gian, khi Lời Thiên Chúa không đến được với ai, Nước Thiên Chúa không hiện diện nơi nào, và lời chứng Tin Mừng trở thành phản chứng, khi chứng nhân biến thành kẻ phản bội, phản phúc.
Bởi khi mất ý thức : người môn đệ chỉ thắng được thế gian, ma qủy trong trận chiến đức tin, nếu “được giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7,14), vì chỉ duy nhất Con Chiên là Đức Giêsu mới thực sự là Đấng “chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh” (Kh 7,17), và chỉ Lời Thiên Chúa mới ban cho họ sự sống đời đời (Ga 1,4), người tín hữu sẽ khó có thể ở lại trong Đức Giêsu như cành nho gắn liền với cây nho (x. Ga 15,1-6), nhưng sẽ đi hàng hai, hàng ba với thế gian, ma qủy và trở thành kẻ nội tuyến, nội thù.
Bên cạnh sức công phá của thế gian, ma qủy là lực cản của chính “cái tôi” kiêu căng, ganh ghét, tham lam, ích kỷ. Lực cản này tuy bề ngoài không dữ dội, vì được khôn khéo ngụy trang, che dấu, nhưng luôn góp phần quan trọng làm cho cuộc chiến tăng phần cam go, khó khăn, bởi chỉ nguyên một chuyện : “Sự thiện tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19) cũng đã đủ làm mệt và “làm rách” nhiều việc của người Kitô hữu trong trận thư hùng với Thần Dữ.
Do đó, điều người tín hữu, quân binh của đạo binh Đức Maria không thể sao lãng, đó là chúng ta chỉ chiến thắng nhờ Đức Giêsu chịu chết và lời chứng kèm theo hy sinh về Ngài, như thánh Gioan Tông Đồ đã nhìn thấy trong thị kiến về những người đã chiến thắng ma qủy, thế gian, và cả chính bản thân mình : “Họ đã thắng được nó nhờ máu Con Chiên, và nhờ lời họ làm chứng về Đức Kitô : họ coi thường tính mạng, sẵn sàng chịu chết” (Kh 12,11). 
Đây chính là vũ khí, là chiến thuật, là binh pháp mà không một quân binh nào của Đức Giêsu, dưới cờ lệnh của Đức Maria được phép bỏ qua, hay không nhớ nằm lòng và triệt để thực thi, bởi không một vũ khí nào tối tân hơn, không một chiến thuật nào sắc bén hơn, không một binh pháp nào tinh tế, hữu hiệu hơn.
Nhờ máu của Đức Giêsu, Chiên Thiên Chúa, người tín hữu sẽ chiến thắng thế gian, ma qủy và Cái Tôi khi ngước nhìn Thánh Giá của Khiêm Tốn xóa mình, Thánh Giá của thương xót, cứu chữa, Thánh Giá của phó thác, xin vâng và Thánh Giá của thực thi Thánh Ý.
Nhờ máu của Đức Giêsu chịu đóng đinh, người môn đệ sẽ hiểu rằng ơn cứu độ không hệ tại ở lời hay ý đẹp của thế gian, không đến từ khôn ngoan của loài người, không phát sinh từ tính toán, mưu lược, thủ đọan của người thông thái, giầu sang, quyền thế, nhưng từ “Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1 Cr 1,24-25).
Và tinh thần chiến đấu cũng như khả năng tinh nhuệ của quân binh Đức Giêsu được biểu hiện qua đời sống chứng nhân của người môn đệ : làm chứng Đức Giêsu chịu đóng đinh và sẵn sàng hiến dâng mạng sống cho lời chứng ấy.
Vâng, là người đi theo Đức Giêsu, tất cả mọi Kitô hữu đều chung một chiến tuyến, đi chung trên một con đường, hướng đến cùng mục đích, bởi có cùng “một Đức Tin, một Phép Rửa, một Thiên Chúa là Cha”. Trong trận chiến cam go, trên hành trình gian khó, trước mục tiêu khó đạt, chúng ta có Đức Maria cùng chiến đấu, đồng hành và dẫn dắt, phù hộ.
Nếu ngày xưa, tại La Vang này, Đức Maria, Nữ Tướng của đạo binh Kitô hữu đã có mặt với đàn con Việt Nam bị bách hại vì tin Đức Giêsu và làm chứng về Ngài, thì hôm nay, cũng tại La Vang này, Đức Maria đang hiện diện giữa hàng ngũ quân binh của Đức Giêsu, con Mẹ. Nếu ngày xưa nơi rừng thiêng nước độc La Vang, Đức Maria đã hiện ra để che chở đàn con đang bị vua chúa truy lùng, thì nay Mẹ cũng hiện đến với các quân binh đức tin của thời đại mới đang vất vả chiến đấu với cuồng phong của các chủ nghiã chống báng, đối nghịch, phản bác Tin Mừng của Đức Giêsu ; đang nắm chặt tay nhau, chung lòng, chung sức, chung lời cầu xin để chiến thắng Thần Dữ đang phá hoại sự hiệp nhất trong Giáo Hội ; đang ngước mắt nài xin ơn sức mạnh và trung thành để không phản bội trước mãnh lực của quyền thế, tiền bạc, dục vọng đang làm băng hoại niềm tin yêu, phó thác vào sức mạnh bách chiến bách thắng của Bát Phúc ; đang  khao khát xin ơn đổi mới trái tim, hoán cải tâm hồn, trở về với Thiên Chúa của lòng xót thương.
Qủa thế, tại La Vang hôm xưa, hôm nay và mãi mãi, Mẹ sẽ không chỉ có mặt như Nữ Tướng chỉ huy, mà còn như Mẹ hiền băng bó, cứu chữa những đứa con trúng đạn quân thù ; Mẹ còn là Hiền Mẫu âu yếm, ủi an, nâng đỡ tinh thần xuống dốc của con cái, trước đe dọa của thế gian đang làm nghi nan, thất vọng, muốn buông súng đào ngũ, đầu hàng.   
Vâng, lạy Mẹ Maria !
Đường đời còn dài, sóng gió còn dữ dội, trận chiến còn cam go, xin Mẹ thương phù hộ, độ trì chúng con, là con và quân binh của Mẹ, đang gồng mình chiến đấu giữa biển đời hiểm nguy, để sau “cõi đời này, chúng con được thấy Chúa Giêsu, Con lòng Mẹ gồm phúc lạ. Ôi khoan thay, nhân thay ! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen” (trích Kinh Lạy Nữ Vương).
Jorathe Nắng Tím     

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

VŨ HÁN, ĐIỂM DỪNG HỒI TÂM

Hiện tượng dịch Corona từ Vũ Hán đến hôm nay đã làm 717 người chết và 34.000 người bị lây nhiễm kể từ ngày 24. 01.2020. Thế giới xôn xao, hốt hoảng, sợ hãi, vì sức lây nhiễm nhanh mạnh của virus NCOV. Nhiều biện pháp ngăn chặn làn sóng bành trướng của vi khuẩn được triệt để áp dụng, và ai cũng hy vọng các nhà khoa học sớm phát minh thuốc chủng ngừa dịch bệnh tai ác này.
Như nhiều người, những ngày qua, tôi đã đi qua nhiều con đường, đã gặp nhiều người, trải qua nhiều tình cảm :
Tôi đã đi qua nhiều con đường tháng trước còn sầm uất, đông đảo, với những siêu thị, quán ăn Châu Á chật kín, nườm nượp thực khách ra vào, nay vắng tanh, tiêu điều, ế ẩm. Tôi đã gặp nhiều người Trung Hoa cúi đầu lầm lũi vội vã bước đi, như muốn trốn tránh cái nhìn không mấy thiện cảm và thái độ kỳ thị không cần giấu diếm của người Tây phương bản xứ. Tôi đã có những tình cảm tiêu cực đối với nước Trung Hoa do chính sách tham vọng bá chủ, và trách nhiệm đã để nhiều loại dịch bệnh phát sinh và lây lan cho thế giới.
Nhưng sau những bước chân lang thang trên những con đường không còn nhộn nhịp, những gặp gỡ nặng nề mặc cảm, những tình cảm bực bội, coi thường, tôi giật mình nhận ra mình không còn quân bình trong phán đoán.
Trước biến cố Vũ Hán với dịch bệnh Corona, tôi đã không còn bình thường khi “thừa thắng xông lên” không tiếc lời lên án người Tầu với đủ thứ thói hư, tật xấu, từ ăn ở dơ dáy đến huyên náo, ồn ào bất kể sáng đêm, nhà riêng hay nơi cộng cộng, và phía sau “không bình thường ấy” chính là cơn giận từ mối thù truyền kiếp của ngàn năm nô lệ và căm phẫn đối với một dân tộc có máu bành trướng, xâm lăng, lúc nào cũng hung hăng, thủ đọan muốn “ăn tươi nuốt sống” quê hương tôi. 
Vũ Hán làm tôi không còn bình thường khi thích thú cho rằng : Trời đang thịnh nộ và thẳng tay trừng phạt một dân tộc kiêu căng, ngạo mạn dám khinh khi, thách thức cả Trời.
Tôi cũng hết còn bình tĩnh khi Corona từng ngày gia tăng con số nạn nhân, với tốc độ lây nhiễm đáng lo ngại trên toàn cầu. Tất nhiên, phiá sau của tình trạng hết còn bình tĩnh này là ước mong được chứng kiến một Trung Quốc suy yếu, tàn rụi, hoàn toàn bị “knock out”.
Corona Vũ Hán cũng biến tôi thành người không còn sáng suốt để phân định và tách rời chính sách của nhà cầm quyền ra khỏi nhân dân Trung Quốc, mà giữa hai bên là vực thẳm cách biệt : thiểu số hưởng mọi đặc lợi, đặc quyền, và đa số bất hạnh, lầm than, đáng thương, tội nghiệp.
Vũ Hán từng giờ được truyền thông nhắc tên, thống kê số người chết, người lây bệnh, nhưng tôi hoàn toàn vô cảm trước cảnh bị cô lập, bị tẩy chay, bị xa lánh, bị lãng quên, bị cấm vận, bị bỏ rơi trong tình trạng vô vọng chờ chết của hàng chục triệu người dân Trung Hoa vô tội, bất hạnh vì sinh ra đã là người Vũ Hán.
Những tường thuật về Vũ Hán tuy có làm giật mình, rùng mình, nhưng rồi lòng tôi lại cứng cỏi, chai đá ngay, khi mường tượng cơn dịch khủng khiếp đang từng giờ tàn phá này sẽ là vũ khí Trời cho để đánh bại một sức mạnh thô bạo từ phưng Bắc đang đe dọa không chỉ đất nước nhỏ bé của tôi mà còn gây phiền phức cho cả thế giới.
Thế mới biết : người ta chỉ lộ đầy đủ “bộ mặt thật” khi có chuyện, và tôi đây chính là trường hợp điển hình :
Khi có chuyện Vũ Hán, tôi mới lộ bản mặt không nhân ái và công bình của mình, vì chỉ một chuyện “vơ đũa cả nắm” khi lên án và trù dập toàn thể người Trung Quốc đã là bằng chứng tâm hồn hẹp hòi, nhỏ mọn của tôi ; chỉ một thái độ vô cảm trước tai ương, khốn khó của hàng triệu trẻ em, người già, gia đình nhỏ của các bạn trẻ ở Vũ Hán đang lâm cảnh thiếu thốn vật chất và tinh thần suy sụp vì bị cô lập và khinh khi, xa lánh cũng đủ cho thấy trái tim tôi đã già nua, cằn cỗi đến cỡ nào, vì cạn máu yêu thương.
Bởi có biến cố Vũ Hán, tôi mới khám phá ra “cái tôi” ích kỷ vĩ đại đang trầm trọng mọi chuyện có hại cho mình, đang nghiêm khắc với người không đem lợi cho mình, đang khắc nghiệt trừng trị những ai rắp ranh đe dọa sự sống của mình, và đang nhẫn tâm ra tay tiêu diệt những đối tượng rơi vào tầm ngắm của ganh ghét, thù hận.  
Vũ Hán cho tôi nhận ra tôi chỉ lo cho mình, mà không quan tâm đến ai, bằng chứng là cả bạn bè, người thân, tôi cũng không muốn gặp vì sợ lây nhiễm, nên bất cứ ai ghé nhà lúc này, tôi đều lạnh lùng tra hỏi, dò xét : “Có đi Việt Nam mới về không đó ? Nếu mới từ Việt Nam về thì cảm phiền đừng vào nhà mình. Mình sợ Corona lắm !”. Nỗi sợ lây nhiễm thái qúa đã biến tôi thành kẻ vô cảm vì ích kỷ đến đáng khinh, khi đang tâm bán rẻ tình bạn, tình gia đình, điều mà trước đây không bao giờ tôi có thể quan niệm.
Thế là tôi đã đánh mất tôi, khi người Trung Hoa ở Vũ Hán bị đồng hoá với virus Corona. Đánh mất chính mình, vì mình đã làm mất người khác, khi lấy đi quyền làm người có tên tuổi, có nhân vị, có hạnh phúc, ước mơ, và giản lược những con người có lịch sử, mang ơn gọi riêng biệt, sứ mệnh đặc thù, và là huyền nhiệm không thể lột trần vào một con virus có tên Corona ; đánh mất mình, vì mình đã đánh mất người khác là gương soi của chính mình, bởi không có người khác, tôi sẽ chẳng bao giờ biết tôi là ai, nhận ra tôi thế nào, vì một mình đơn độc, tôi có ai để “đong đưa”, đồng hành, so sánh ?  
Thế là tôi đã lạc đường, khi đóng đường sống của người Vũ Hán và đường lên của người dân Trung Hoa, bởi thế giới không còn là những ốc đảo xa lạ, không tương quan, nhưng là một ngôi làng với thôn trên xóm dưới thân thương qua lại. Do đó, đóng đường thiên hạ, tôi e ngại mình đang đóng đường mình.
Vũ Hán hôm nay bi thảm hơn Vũ Hán của tháng trước. Mới chỉ một tháng thôi, mà Vũ Hán đã lầm than, xơ xác, điêu tàn đến đáng thương, đáng sợ.
Và phút chốc trong ngao ngán cơn say bạo lực, trong chán chường ích kỷ hẹp hòi, trong dửng dưng trước cám dỗ hiềm khích, đố kỵ, tôi thấy mình vô duyên, lố bịch khi mọi người xếp lại chuyện xưa bất hoà để cùng đương đầu, đối phó dịch bệnh đang là tai hoạ của cả địa cầu ; thấy mình vô tâm, vô trách nhiệm, khi các quốc gia dồn hết nỗ lực để cứu người Vũ Hán và dân Trung Quốc thoát đại họa Corona ; thấy mình thiếu bác ái, từ bi, hỉ xả khi mọi người đồng lòng bầy tỏ tình liên đới, chia sẻ ; và nhất là thấy mình “chưa lớn nổi thành người” khi tuổi đã cao mà lòng quá thấp, khi thế giới bao la mà tim quá hẹp hòi, khi tình người tha thiết réo gọi, mà hồn vẫn chai đá, dửng dưng, đóng chặt.
 Jorathe Nắng Tím  

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2020

LÊN THIÊN ĐÀNG, VỀ NƯỚC TRỜI, VÀ0 VƯƠNG QUỐC THIÊN CHÚA KHÓ HAY DỄ ?


Thời Đức Giêsu, những người đi theo Chúa đã hỏi Ngài : “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời ?” (Mt 19,16).   
Sự sống đời đời, Vương Quốc của Thiên Chúa, Nước Trời hay Thiên Đàng, tất cả đều chỉ chung một thực tại : Thiên Chúa, nơi có Thiên Chúa ngự, nơi có các thiên thần phụng sự Thiên Chúa, nơi có sự sống và hạnh phúc đời đời dành cho những người đã sống cuộc đời ngay lành được Thiên Chúa yêu thương, chúc phúc (x. Mt 25,31-40).  
Câu hỏi cách đây hơn hai ngàn năm cũng là câu hỏi được viết thành nhạc, mà trong các buổi sinh hoạt, các em thiếu nhi thường hát : “Bé muốn lên Thiên Đàng, nhưng bé biết làm sao ? Bé muốn lên Thiên Đàng, nhưng Bé lên thế nào ?”.
Bởi chưa ai là người đã lên thiên đàng rồi trở lại sống tiếp trên trần gian, nên mọi người đều trăn trở với vấn nạn : Nước Trời ở đâu ? Lên Thiên Đàng cách nào ? Có gì trong Vương Quốc của Thiên Chúa ?
Bởi chưa người nào từ thế gian đi “du lịch” Thiên Đàng, nên trước nguy hiểm có thể mất mạng, giữa hiểm nguy sự sống bị treo lơ lửng, người này ngơ ngác hỏi người kia : Mình sẽ lên Thiên Đàng hay đi đâu ?
Bởi chưa bao giờ có tấm hình chụp, hay thước phim ghi lại cảnh thực của Nước Trời, nên giờ lâm tử thường làm bối rối người đang hấp hối.
Bởi không có tài liệu dưới bất cứ hình thức nào về Vương Quốc của Thiên Chúa, nên nói về Thiên Đàng, ai cũng ngần ngại, không dám khoác lác vẽ vời.
Và bởi ngoài Đức Giêsu là Thiên Chúa từ Nước Trời xuống thế làm người và ở giữa loài người vào một thời điểm, và địa điểm chính xác trong dòng lịch sử nhân loại, nên trừ một mình Ngài, không ai đã có thể nói về Thiên Đàng, trình bày về Vương Quốc của Thiên Chúa.
Qủa thực, chỉ có Đấng đã ở trên Trời xuống thế gian làm người mới biết rõ Thiên Đàng và nói với con người về Thiên Đàng, trả lời những câu hỏi của con người về sinh hoạt trên đó ; chỉ có Đấng biết rõ Nước Trời nay ở với con người mới nói đúng những gì thuộc về quê trời cho con người ; chỉ có Đấng làm chủ Thiên Đàng mới có quyền quyết định những điều kiện con người phải có để được nhận vào Thiên Đàng ; và chỉ có Đấng nắm giữ quyền xét xử trên trời dưới đất mới ban phần thưởng Vương Quốc Thiên Chúa cho người này, người kia.
Và Đấng ấy chính là Đức Giêsu Kitô, như Ngài đã khẳng định với ông Nicôđêmô : “Nếu tôi nói với các ông về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin, thì giả như tôi nói vói các ông về những chuyện trên trời, làm sao các ông tin được ? Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống. Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Ga 3,12-15).
Vậy Thiên Chúa làm người và ở giữa loài người ấy đã nói gì với con người về Thiên Đàng và con đường nào con người phải đi để lên tới Thiên Đàng, để về Nước Trời hằng phúc ?  
1.   Thiên Đàng là địa chỉ con người phải đến :
Đức Giêsu cho chúng ta biết : đích tới của hành trình dương thế sẽ là Nước Trời, điểm hẹn mà tất cả mọi người, không trừ ai đều được Thiên Chúa mời gọi đạt đến, bước vào, như Gioan Tẩy Giả đã rao giảng (x. Mt 3,2), và cũng chính là sứ điệp Đức Giêsu muốn các môn đệ của Ngài lên đường loan báo cho muôn dân : “Nước Trời đã đến gần” (Mt 10,7).
Nước Trời, hay Thiên Đàng là giá trị phải được ưu tiên tìm kiếm : “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ  khác, Người sẽ thêm cho sau” (Mt 6,33), bởi Nước Trời là quê hương đích thực, hạnh phúc trọn vẹn, và sự sống đời đời (x. Tv 144.13) mà con người mơ ước, vì ở đó có Thiên Chúa là Cha nhân từ ngự trị (x. Mt 6,9), Đấng biết rõ con cái ở trần gian cần gì (x.Mt 6,32), và ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người (x. Mt 7,11).  
Nước Trời, Vương Quốc Thiên Chúa hay Thiên Đàng không chỉ là ước mơ của con người, nhưng còn là Lời Hứa của Thiên Chúa :
“Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa. Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì phần thưởng dành cho anh em trên trời thật lớn lao” (Lc 6,20.22).   
Nước Trời được Đức Giêsu diễn tả qua nhiều hình ảnh : “Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là lọai hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng” (Mc 4,31-32).
“Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc” (Mt 20,1-2). Rồi nhiều lần trong ngày, ở những thời điểm khác nhau, ông ra ngoài đường nhận thêm người mới vào làm. Cuối ngày khi phát lương, ông trả đồng đều ai cũng một quan tiền, dù là người mới chỉ làm một giờ, hay người làm cả ngày. Khi có người thắc mắc, khiếu nại, ông đơn sơ trả lời : “Tôi đâu có xử bất công với bạn đâu. Tôi đã chẳng thoả thuận với bạn là một quan tiền đó sao ? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi không có quyền tùy ý định đoạt những gì là của tôi sao ? Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức ?” (Mt 20, 13-15).
Nước Trời còn giống như “Vua kia mở tiệc cưới cho con mình. Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến… (Mt 22,1-3). Vì tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ được mời lại không xứng đáng, Nhà Vua cho đầy tớ ra khắp các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới…” (x. Mt 22,9-10).
Và còn nhiều hình ảnh khác nữa Đức Giêsu đã dùng để nói về Nước Trời như “mười trinh nữ cầm đèn ra đón chàng rể, với năm cô khờ dại và năm cô khôn ngoan” (x. Mt 25,1-13) để diễn tả ngày giờ con người được gọi rời bỏ đời này về đời sau thưòng rất bất ngờ, không  ai được biết trước ; như “chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bãi, rồi ngồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài” (Mt 13,47-48) ; như “kho báu chôn giấu trong ruộng, có người kia gặp được thì chôn giấu lại, rồi vui mừng đi bán tất cả những gì mình có mà mua thửa ruộng ấy” (Mt 13,44) ; hoặc như “nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men” (Mt 13,33).
Như thế, Nước Trời là Vương Quốc của Thiên Chúa luôn thân thiện rộng mở đón tiếp hết mọi người, bất luận giầu nghèo, sang hèn, giỏi dốt, xấu tốt, miễn sao đáp ứng những điều kiện được Thiên Chúa đưa ra. Vương Quốc ấy không khoanh vùng ưu tiên, cũng không phân biệt, kỳ thị bất cứ sắc dân, ngôn ngữ, văn hoá, trình độ, đẳng cấp, vị thế xã hội nào, nhưng tạo mọi điều kiện dễ dàng để mọi người được nhận vào. Và vì là Nước Thiên Chúa, quê hương hạnh phúc đời đời, mà mọi người mơ ước, nên Thiên Đàng là một giá trị vô giá, kho tàng không gì sánh bằng mà bằng mọi giá phải chiếm hữu cho kỳ được.
Nhưng hình ảnh nổi bật hơn tất cả, chính là lòng tốt của Thiên Chúa khi ban phần thưởng Thiên Đàng cho con người, như Đức Giêsu đã khẳng định trong dụ ngôn “thợ làm vườn nho Nước Trời”, mà ở trên người viết đã cố ý ghi lại hầu như toàn phần bản văn Tin Mừng.
2.   Điều Kiện để vào Nước Trời :
Trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã công bố rất rõ ràng những điều kiện phải có để nhận phần thưởng Thiên Đàng, những đòi hỏi phải đáp ứng để được vào Nước Trời, cũng như những bổn phận phải chu toàn để được sống đời đời trong Vương Quốc của Thiên Chúa.
Tin Mừng Mátthêu khẳng định : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thưở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn ; Ta khát, các ngươi đã cho uống ; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước ; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc ; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng ; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25,31-36). Và “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).    
Đoạn Tin Mừng “Cuộc Phán Xét chung” cho chúng ta thấy điều kiện để có sự sống đời đời, “chiếu khán” để vào Nước Trời chỉ là yêu thương, phục vụ những người bé nhỏ, hèn mọn. Điều kiện này có nhiều điểm rất đặc biệt từ phiá Thiên Chúa :
a.   Thiên Chúa ban cho mọi người khả năng yêu thương để ai cũng bình đẳng như nhau trước ngưỡng cửa  Nước Trời :
Người ta có thể khác nhau, cách biệt nhau, hơn thua nhau ở những khả năng khác, nhưng khả năng yêu thương thì ai cũng dư thừa, và Thiên Chúa chỉ đòi con người yêu thương nhau, như điều kiện để vào Nước Trời, Vương Quốc của Ngài.
b.   Thiên Chúa chọn đối tượng yêu thương, phục vụ là  những người thấp kém, hèn mọn, xấu số, kém may mắn, vì họ hồn nhiên, đơn sơ, giản dị, “dễ thương”, dễ gần hơn “khó thươn”, khó gần : 
Yêu người lớn hơn mình, thương người quyền thế hơn mình, phục vụ người danh giá hơn mình có khi lại là việc khó làm, vì người làm lớn, lắm tiền, nhiều quyền thường không mấy dễ gần, dễ thương, dễ chiều, bởi nhu cầu của họ cao nên ta khó thỏa mãn, đòi hỏi của họ khó nên ta đáp ứng rất vất vả, trong khi người bé nhỏ nhất, nghèo khó nhất, dốt nát nhất, bất hạnh nhất, đáng thương, tội nghiệp nhất bên cạnh chúng ta thường đơn sơ, giản dị để chúng ta yêu thương, và hồn nhiên để chúng ta chia sẻ, phục vụ. Chưa kể với người  giầu sang, quyền thế, vì họ không cần ai, cần gì, nên khi ta lân la đến gần, ta có thể bị họ nhìn như kẻ ăn mày đi tìm của bố thí. Trái lại, khi đến với “người  bé nhỏ nhất trong anh em”, chúng ta gặp được con người thật, với qủa tim thật của cuộc đời thật.
c.    Thiên Chúa tự đồng hoá mình với những anh em bé nhỏ, hèn mọn nhất, để hành vi bác ái của chúng ta mang giá trị siêu nhiên, tuyệt đối :
Bởi vi yêu thương con người vô cùng, nên Thiên Chúa đã cho con người là thụ tạo tương đối được qưyền yêu Thiên Chúa là Đấng Chủ Tạo tuyệt đối, để hành vi yêu thương vốn tương đối của con người dành cho con người đuợc trở thành hành vi tuyệt đối hướng thẳng đến Thiên Chúa.
Hơn thế nữa, Thiên Chúa còn tự đồng hoá mình với những người anh em bé nhỏ nhất, để những gì bé nhỏ được trở nên vĩ đại, tầm thường trở nên phi thường, thiếu sót trở nên hoàn hảo, yếu đuối trở nên vững mạnh, nhất là con người tương đối  được tháp nhập vào Thiên Chúa tuyệt đối, nhờ tình yêu có giới hạn của  con người được Thiên Chúa thánh hoá và làm cho trở nên vô hạn, vô biên, vô cùng trong Thiên Chúa, như giọt nước nhỏ bé “con người” được tan biến trong đại dương bao la, vô tận “Thiên Chúa”.
Điều kiện rất đơn sơ : yêu thương và phục vụ những người bé nhỏ, hèn mọn nhất trong anh em còn được Đức Giêsu nhấn mạnh trong dụ ngôn “ông nhà giầu và anh Ladarô nghèo khó” của Tin Mừng Luca : ông nhà giầu đã không được vào Nước Trời chỉ vì đã không thương xót “người nghèo khó tên Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng nhà ông, và thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no” (Lc 16,20-21).
Như thế, chúng ta có thể nói mà không sợ sai : điều kiện để vào Nước Trời không qúa khó, vì khả năng yêu thương thì ai cũng có, đối tượng yêu thương được Thiên Chúa đề nghị không khó tìm, đúng hơn là nhan nhản khắp nơi, kề cận, có mặt quanh ta, dễ thấy dễ gặp ; nhất là có sự bảo đảm của Thiên Chúa để hành vi yêu thương, phục vụ tha nhân mang giá trị cứu rỗi, khi Thiên Chúa tự đồng hoá với những người bé nhỏ, hèn mọn, yếu đuối, kém may mắn nhất. 
3.   Những Lực Cản làm đường lên Thiên Đàng trở nên khó :
Con đường về Nước Trời, lên Thiên Đàng sẽ không khó, không là cửa hẹp, không vất vả, gian truân, nếu không vì những lực cản làm lệch hướng, sai chiều, có khi đắp mô, cắt đường, cấm vận sau đây :
a.   Lực cản người nghèo khó, hèn mọn, đau ốm, thất thế, cô thân :
Đây là lực cản khó thoát, khi mọi người đều mong thân quen kẻ sang giầu, ao ước làm bạn với người quyền thế để có cơ hội theo họ mà tiến thân, nhờ họ mà được cất nhắc, nép bóng họ để được che chở, bảo vệ, đi bên họ để được nể nang, kính trọng. Chẳng thế mà khi “công thành danh toại”, chức tước, quyền bính đầy mình thì không còn giờ tiếp khách, không thiếu kẻ tình nguyện “điếu đóm”, “cơm bưng nước rót”, và không bao giờ phải lủi thủi một mình, vì ở đâu và lúc nào thiên hạ cũng say mê tìm kiếm, cũng điên cuồng tung hô, cũng bạo miệng thề thốt sống chết trung thành…
Sở dĩ chúng ta có khuynh hướng chạy theo người có chức quyền, tiền bạc, ảnh hưởng vì họ mang lại nhiều cơ hội cho chúng ta thành công, và đi với họ, chúng ta có nhiều cơ may, lợi thế hơn giao lưu với người “khố rách áo ôm”, “nghèo rớt mùng tơi”, cơm không có ăn, nói gì đến chuyện làm lợi cho người khác. Chưa kể, đi với người nghèo, ta còn phải tốn kém ; đi với người bệnh Corona, ta dễ bị lây nhiễm ; đi thăm tù nhân, ta có thể bị tình nghi, theo dõi ; đi với người thất thế, sa cơ, ta có thể bị sụp đổ theo họ ; đi với người bị cô lập, tẩy chay, ta có thể bị chụp mũ te tua ; đi với người đang bị tổ chức, cơ chế, bề trên kỷ luật, trừng phạt, có thể ta cũng sẽ bị “ăn đòn”, “lãnh đủ” như họ.
Thế nên mấy ai dám xả thân vì người nghèo, dám quên mình vì người cô thân thất thế, dám dấn thân vì người bị vu khống, đàn áp bất công, bởi nguy hiểm luôn rình rập, tai tiếng luôn chực chờ những con người dám hy sinh vì người anh em bé nhỏ nhất.
b.  Lực cản “Cái Tôi” :
Nói gì thì nói, “Cái Tôi” với tôi vẫn luôn là cái đẹp nhất, qúy nhất, giỏi nhất, đạo đức nhất, ngon lành nhất, tuyệt vời nhất, nên khi Cái Tôi bị sứt sát, thiệt thòi, thua lỗ, tổn thương thì tim tôi xót xa, hồn tôi bối rối, chân tay tôi bủn rủn, toàn thân tôi rã rời, vì tôi thương Cái Tôi hơn tất cả những cái khác.
Vì thế, quá lo lắng cho mình, ta sẽ không lo được cho ai ; qúa chăm chút mình, ta sẽ chẳng quan tâm đến người nào ; qúa tin ở mình, ta sẽ nghi ngờ mọi người, và qúa yêu mình, không ai sẽ còn là đối tượng để ta yêu thương.
Do đó, khi đến với người khác, ta luôn tính toán mối lợi sẽ thu về cho Cái Tôi ; khi làm việc gì cho tha nhân, ta luôn hoạch tính thế nào để không thiệt thòi cho mình, nên bất cứ ai không có lợi, hay không đem lại cơ hội cho ta tiến thân, tiến chức, tiến nhanh tiến mạnh, ta đều xa tránh họ. Và đó chính là lý do Cái Tôi luôn dị ứng với người nghèo, người yếu, người hết thời, người thất thế, người bị đời bỏ rơi. Đó cũng là lý do Đức Giêsu đã nói với các tông đồ : “Thầy bảo thật anh em, người giầu có khó vào Nước Trời. Thầy còn nói cho anh em biết : con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Chúa” (Mt 19,23-24), bởi hầu hết người giầu cho đi để có lợi  hơn gấp nhiều lần, bỏ ra một đồng để thu về mười đồng, do lòng tham và chủ nghiã “Cái Tôi” chế ngự, nên họ khó có thể chia sẻ tấm lòng bác ái đích thực với những người chẳng có gì để họ có thể đầu tư, trục lợi.   
c.    Lực cản thiếu niềm tin :
Không ai có thể chối cãi một sự thật, đó là không mấy hứng thú khi hết ngày này qua tháng nọ phải phục vụ một số đối tượng không quyến rũ, hấp dẫn như trẻ mồ côi, người già neo đơn, người bệnh bị cách ly, người tàn tật, người tỵ nan trong các cô nhi viện, nhà thương, trung tâm xã hội không luôn sạch sẽ, khang trang, ngăn nắp, trật tự. Những đối tượng này, phần vì nghèo, phần vì không được đào tạo, chăm sóc đầy đủ, nên hay ăn nói linh tinh, ăn ở bừa bãi, ăn mặc xốc xếch, luộm thuộm, và hay gây nhiều phức tạp, phiền phức. Vì thế, ở gần họ, không luôn thích thú, và phục vụ họ, không luôn dễ dàng.
Trong Tin Mừng Mátthêu, cả người lành và người dữ trước toà Thiên Chúa phán xét đã cùng một thái độ sửng sốt, ngạc nhiên, và cùng thưa lại với Thiên Chúa : “Lậy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống ; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước ; hoặc trần truồng mà cho mặc ? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu ?” (Mt 25,37-39 ; x. Mt 25,44).
Tất cả người lành và người dữ, người được chúc phúc và không được chúc phúc đều đã không nghĩ rằng : Thiên Chúa lại ở ngay trong những người nghèo đói, rách rưới, đau ốm, tù đầy, tỵ nan ; không ai trong những người được lên Thiên Đàng và phải xuống hoả ngục đã có thể đoán trước câu trả lời vượt sức tưởng tượng của con người : “Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40), và “mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,45).
Đức tin hệ tại ở nhận ra Đấng Vô Hình qua những thực tại hữu hình ; nhận ra Đấng Toàn Năng, phi thường ở những hữu hạn, tầm thường ; nhận ra Sức Mạnh siêu nhiên trong yếu đuối tự nhiên ; nhận ra Thiên Chúa trong những con người “không ra gì, không giá trị, thành tích gì, không quyền thế, vinh dự gì”, những người bé nhỏ nhất, nhưng lại được Thiên Chúa yêu thương ở với, được Thiên Chúa cưng chiều và đồng hành, được Thiên Chúa tuyển chọn để với họ Thiên Chúa tự đồng hoá.  
Qủa thực, với con mắt nhân loại, do thúc đẩy của xã hội vật chất, thực dụng, vô thần, với khuynh hướng làm nổi bật “cái Tôi” vĩ đại, áp lực bởi cám dỗ của ganh ghét, đố kỵ, và não trạng, thói xấu “trên đội dưới đạp”, đôi mắt đức tin của chúng ta dễ bị lu mờ, có khi đui mù toàn phần, để không còn thấy và tin có Thiên Chúa hiện diện qua dáng gầy liêu xiêu của người mẹ già cô qủa ; có Thiên Chúa ở bên đám trẻ mắt sâu hoẵm, chân tay khẳng khiu, gầy guộc, nhem nhuốc kiếm ăn ở bãi rác thành phố ; có Thiên Chúa trong cô đơn, sầu muộn của người con gái lầm lỡ, bị gia đình ruồng bỏ, trừng phạt ; có Thiên Chúa trong trại giam bi thảm ; có Thiên Chúa trong những con người mang đầy mặc cảm, vì bị chính anh em mình hiểu lầm, nguyền rủa, tẩy chay, khai trừ.    
Vâng, đường về Nước Trời dễ hay khó, đường lên Thiên Đàng khả thi hay không thể thực hiện hoàn toàn tùy thuộc vào tinh thần và thái độ đón nhận của mỗi người. Tinh thần và thái độ ấy đã được Đức Giêsu khẳng định : “Thời kỳ đã mãn, và Vương Quốc của Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).
Sám hối tức trở về, và tin vào Tin Mừng là tin vào Đức Giêsu. Trở về từ những kiêu căng, gian tham, ích kỷ, ganh ghét, hận thù, và tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ duy nhất. Ngài đến để mở đường lên Thiên Đàng cho tất cả những ai thiện tâm sẵn sàng đi theo Ngài ; Ngài có mặt trong thế giới để Nước Trời hiện diện giữa lòng cuộc sống ; Ngài ở giữa mọi người để đồng hành với mọi người “thành tâm thiện chí” trên đường về Nước Trời ; Ngài giang tay trên Thánh Giá để đón vào Vương Quốc của Ngài tất cả những ai có lòng nhân ái, biết xót thương người đáng thương hơn mình.
Và lời Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ bên biển hồ Galilê năm xưa : “Các anh hãy theo tôi !” (Mc 1,17) vẫn mãi vang vọng trên đường tìm kiếm Thiên Đàng, Nước Trời, Vương Quốc Thiên Chúa của mỗi người chúng ta.
Jorathe Nắng Tím