Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

“SAY NẮNG” ĐỨC GIÊSU

Say nắng Đức Giêsu là tâm tình của những trái tim đã “phải lòng” Thiên Chúa làm người, là ký ức không bao giờ phai nhạt về buổi đầu gặp gỡ Con Người Thiên Chúa dong duổi giữa nhân loại, là tình tự sâu lắng của tâm hồn “bị” tình yêu Đức Giêsu xâm lấn, chiếm đọat, là mối tình đầu thiêng liêng giữa  con người cụ thể và Thiên Chúa “bằng xương bằng thịt”, là câu chuyện không hồi kết trong thiên tình sử đời đời mà Thiên Chúa và con người cùng viết mỗi ngày…
1.   Đức Giêsu, người Cha nhân hậu  (Lc 15,11-32)
Là con gái út nên tôi được Ba cưng chiều đặc biệt. Ngày Ba mất, tôi đã khóc và ngất lên ngất xuống đến nỗi phải đưa vào bệnh viện cấp cứu. Những năm sau ngày Ba mất, tôi sống rất buồn và khép kín, cho đến một ngày, tôi tình cờ theo người bạn công giáo đi lễ, và “người Cha nhân hậu” trong Tin Mừng Luca đã hút hồn tôi.
Tôi thực sự bị người cha nhân hậu của Đức Giêsu hút hồn, vì hình ảnh người cha ấy không khác hình ảnh cha tôi đã mất. Cũng người cha nâng niu, chiều chuộng con: con muốn gì cũng có, con xin gì cũng được, con chưa nói hết câu, cha đã hiểu con mơ ước, tìm kiếm gì; cũng người cha tôn trọng từng bước chân vào đời làm người lớn của con, nên khi con đòi chia gia tài, bỏ nhà, đi xa lập nghiệp, Cha cũng không ngần ngại làm vui lòng con; cũng người cha yêu thương con vô cùng, nên khi con “ăn tiêu hết sạch tiền bạc, bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ, ngày ngày ra đồng chăn heo, và ao ước có được cám heo để nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho” (Lc 15,14-16), người cha ở nhà vẫn chiều chiều ra đầu ngõ ngóng trông bước chân con trở về; cũng người cha yêu thương đến cùng, nên ngày con “bất đắc dĩ” trở về vì sợ chết đói với “thân tàn ma dại” đã không bận tâm nghe con nói lời xin lỗi về tội xưa rất nặng, tạ tội vì lỗi xưa rất đáng trừng phạt, nhưng đã làm ngược những gì con mường tượng, trái những gì con dự đoán khi mặc cho con áo đẹp, đeo cho con nhẫn qúy và mở tiệc ăn mừng “con tôi đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy” (Lc 15,24).
Qủa thực, khởi điểm của con đường đến với Thiên Chúa chính là Ba tôi, người con Phật thuần thành, vì Ba đã dậy cho tôi hiểu thế nào là ơn cha, thế nào là hạnh phúc được bơi lội trong đại dương tình cha nhân hậu. Ba tôi đã là hình ảnh sống động và thực tế của Thiên Chúa, và qua hình ảnh Ba, tôi đã khám phá và tìm gặp Thiên Chúa, người Cha nhân hậu của Đức Giêsu. Và cho đến hôm nay, sau 30 năm làm người Kitô hữu, đức tin của tôi được nâng đỡ và lớn lên từng ngày trong tình Cha của Thiên Chuá luôn yêu thương và ân cần chăm sóc, bảo vệ con mình như gà mẹ ủ ấp đàn con.
2.   Đức Giêsu, Thiên Chúa của người nghèo (Lc 21,1-4)
Gia đình tôi rất nghèo, không chỉ ba đời nghèo “rớt mùng tơi”, nhưng “ba lần ba” những kiếp người dính chặt lấy nhau lê thê nối dài đời nghèo “cơm lo từng bữa”, quanh năm bốn mùa “khố rách áo ôm”. Nghèo nên bị mọi người khinh khi, coi thường, từ dòng họ hai bên nội ngoại đến hàng xóm, dân làng, và mặc cảm tự ty biến chúng tôi thành những con người khép kín, nhát sợ, tự cô lập, trốn tránh mọi người.
Cũng vì nghèo, nên tôi thù Thượng Đế và coi tôn giáo mà ông bà để lại chỉ là hủ tục mê tín, hoàn toàn vô nghiã, ở đó, giai cấp giầu tụ tập tung hô, nịnh hót, xông hương nhau.
Cho đến một ngày, tôi bị choáng vì say nắng Đức Giêsu, con người của người nghèo thực sự, Thiên Chúa yêu thương người nghèo thực sự, chứ không chỉ yêu người nghèo, bênh vực người nghèo trên chữ nghiã, sách vở, loa phóng thanh, đài truyền hình như bao nhiêu người tôi gặp đã chẳng một chút yêu thương người nghèo, chia sẻ với người túng thiếu, neo đơn.  
Ngài làm tôi say nắng tình Ngài, khi người nghèo mù loà ngồi ăn xin bên vệ đường ở Giêrikhô khi nghe biết Ngài đang đi qua đó đã lớn tiếng kêu lên: “Lậy ông Giêsu, Con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi!”.
Ôi tiếng kêu của người nghèo lại bị trời bắt tội phải mù loà nghe xót xa, thảm não, thống thiết làm sao! Thế mà nhiều người đã nặng lời chửi rủa, “quát nạt, bảo anh im đi” (Lc 18,39), chẳng khác những người hàng xóm có tiền có của đã xỉ vả, mắng nhiếc và bắt nạt cha mẹ và anh em chúng tôi suốt bao năm tháng dài nghèo khổ; lại có người tình nguyện làm hàng rào “cản trở” Đức Giêsu để Ngài không  nhìn thấy anh. Nhưng Đức Giêsu “đã dừng lại, bảo dẫn anh đến với Ngài » và âu yếm hỏi anh: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?”. Anh thưa: “Lậy Ngài, xin cho tôi được nhìn thấy”. Đức Giêsu nói: “Anh nhìn thấy đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh. Lập tức, anh ta nhìn thấy được và theo Người” (Lc 18,40-43).
Tôi say nắng con nguời Giêsu thương người nghèo khổ, tật nguyền, lê lết bên vệ đường ăn xin kiếm sống; tôi yêu Đức Giêsu, Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ ở với và gần gũi dân Ngài; tôi kính mến Đức Giêsu vì trái tim Ngài luôn dành chỗ ưu tiên cho những người bé mọn bị đời khinh miệt chỉ vì nghèo nàn, dốt nát,  không danh gia vọng tộc, cơ ngơi bề thế, như thái độ quan tâm của Ngài đến đồng xu bé nhỏ của  bà goá túng thiếu đã bỏ vào thùng dâng cúng của Đền Thờ và tuyên dương bà: “Thầy bảo thật anh em: bà goá này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Qủa thật, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình” (Lc 21,3-4).
Với tôi, Đức Giêsu đích thực là Thiên Chúa  của người nghèo khổ bất hạnh, vì Ngài quan tâm, yêu thương, bênh vực người nghèo “thấp cổ bé miệng », khác xa nhiều người giầu  hãnh tiến, kênh kiệu miệng thì liên hồi kinh kệ, nhưng lòng thì độc ác, gian tham, khinh khi, bóc lột, lợi dụng người nghèo đến tận xương tủy.   
3.   Đức Giêsu, người bênh vực, chở che, giải phóng phụ nữ (Ga 8,1-11)
Có lẽ không người con gái nào có thể “qua mặt” tôi về tuổi thơ và tuổi thiếu nữ bất hạnh, vì tôi là đứa con đã phải sống  suốt mười bảy năm trong hoả ngục của bạo hành gia đình: cha tôi là người đàn ông vũ phu, bất cứ chuyện gì, và bất cứ lúc nào cũng có thể đánh vợ, đánh con. Tôi đã chứng kiến những trận đòn chí tử mẹ phải chịu, và tôi cũng là nạn nhân trực tiếp của cha khi ông say xỉn, hay không vừa ý. Những lúc đó, ông chửi rủa um trời rồi bạ đâu đánh đó, ném vào mặt tôi và mẹ bất cứ vật gì ông nắm được làm hai mẹ con co rúm, ôm chặt lấy nhau mà la khóc, năn nỉ, chịu trận.
Bầu khí bạo hành gia đình làm tôi trở nên nhút nhát và căm ghét đàn ông. Năm mười bảy tuổi, tôi bỏ nhà đi bụi, vì không còn chịu được người cha ích kỷ, vô trách nhiệm, bạo lực, sau khi mẹ tôi mất vì ung thư.
Mười năm với đường phố và băng đảng, tôi vẫn giữ một mối căm thù và khinh ghét đám đàn ông. Tôi mất hết những tình cảm tốt đẹp với phái nam, vì hình ảnh hung bạo của cha tôi làm lu mờ những gì tốt đẹp ở người khác phái; tôi không còn cảm xúc của một người con gái trước bạn trai, vì những lời chửi bới thô tục của cha tôi không cho tôi nghị lực để có thể tin bất cứ lời nào đàn ông nói. Qủa thực, tôi không ngờ cha tôi đã hủy hoại toàn thể con người tôi, đã tàn phá tất cả nghị lực tinh thần của tôi bằng những thô bạo của ông, và để lại trong tôi nỗi chán chường tưởng như lúc nào cũng muốn nôn mửa tất cả những gì dính dáng đến đàn ông ra khỏi cuộc đời tôi.
Tôi thật là đứa con gái bất hạnh giữa bao người con gái bất hạnh khác, vì những người đàn ông bạo lực không những không là bờ vai cho phái yếu nương tựa, mà còn là tai ương, hoả ngục của những  phụ nữ vô phúc phải làm vợ làm con. Ý nghĩ ấy khóa chặt tôi trong pháo đài cố thủ và không mở lòng cho bất cứ người bạn khác phái nào cho đến một ngày, có người mời tôi vào đạo…
Vị linh mục niềm nở đón tiếp tôi buổi đầu theo người bạn đến gặp. Không để linh mục mở lời, tôi bắt đầu bằng câu hỏi: “Đạo công giáo có chủ trương trọng nam khinh nữ như đạo Khổng không cha?”. Vị linh mục trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên. Tôi dấn thêm: “Nếu giáo lý công giáo dậy nam nữ bình đẳng, có quyền lợi và bổn phận như nhau thì con đi tới, nếu không thì con xin cáo biệt cha ở đây”.
Từ hôm ấy với  Tin Mừng thánh Gioan về biến cố Đức Giêsu một mình bênh vực và cứu sống người đàn bà bị bắt qủa tang phạm tội ngoại tình khi mọi người đang lên án và lăm le ném đá chị cho đến chết theo luật Môsê là luật đạo Do Thái thời đó đã đổi mới tận gốc và toàn thể trái tim, cái nhìn và cuộc sống của tôi.
Thực vậy, Đức Giêsu đã lôi cuốn và đổi mới trái tim tôi, khi tôi nhận ra Ngài là người đã giải phóng phụ nữ khỏi ách “thống trị” của đàn ông, khi lên án chủ  trương “phân biệt, kỳ thị giới tính”. Thái độ qủa cảm khi công khai bênh vực người đàn bà bị bắt qủa tang đang phạm tội ngoại tình là một liều lĩnh vô cùng nguy hiểm, vì Ngài đang bị bao vây bởi những gã đàn ông hung hăng như đám diều hâu chờ xác chết: “Thưa Thầy, người đàn bà này bị bắt qủa tang đang ngoại tình. Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao? Họ nói thế nhằm thử Người, để có bằng cớ tố cáo Người” (Ga 8,4-6).
Đức Giêsu đã hút hồn và thay đổi cái nhìn của tôi, làm tôi sửng sốt trước thái độ tế nhị, rất đáng yêu của Ngài đối với một người đàn bà bị mọi người coi là lăng loàn, mất nết, khi tế nhị “cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất” (Ga 8,6), và không ngước mắt nhìn, để chị khỏi phải thêm một lần nữa mắc cở, ngượng ngùng, nhục nhã vì đã bị thiên hạ lườm nguýt, xoi mói “qúa kỹ, qúa lâu”. Ngài còn rất đáng yêu khi chẳng hỏi han, tra vấn gì về nhân thân, sự việc để không khoét sâu hơn nỗi đau của người có tội “qủa tang, công khai, trống trải” trước bàn dân thiên hạ.   
Đức Giêsu đã làm tôi say mê và biến đổi hoàn toàn cuộc sống của tôi, khi làm tôi ngất ngây hạnh phúc qua câu hỏi của Ngài dành cho đám đàn ông nhỏ nhen, hung bạo, chung hàng ngũ với những ông chồng “gia trưởng, vũ phu, kiêu căng, hưởng thụ, khinh thường phụ nữ”: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7).
Và tôi tha thiết yêu Ngài và đi theo Ngài từ dạo ấy, Đức Giêsu, nhà giải phóng vĩ đại và Đấng Cứu Độ giầu lòng thương xót của cánh “đàn bà chúng tôi”.
4.   Đức Giêsu, người bạn tình nghiã (Ga 11,1-44)
Xã hội càng nhố nhăng, con người càng điên đảo thì tình nghiã càng thảm hại xuống cấp. Người ta không còn dễ gặp những tình bạn tri âm tri kỷ, huynh đệ sống chết có nhau, anh em thà khổ sở, thiệt thòi, chứ không chịu làm “cá heo bỏ bạn”.
“Trầy da tróc vẩy” giữa cuộc đời đầy lọc lừa, gian dối, chung quanh là những người lòng dạ đổi trắng thay đen tùy cơ hội, lợi nhuận, tiện ích, tôi như con vụ chóng mặt với tình đời, người đời, và cuộc sống ngày càng trở nên nặng nề, vô vị.
Tìm về nhiều tôn giáo, tôi cũng chỉ gặp những thiên chúa toàn năng nhưng rất  xa con người, những thượng đế thánh thiện nhưng con người không thể đến gần, chạm tới. Nhưng riêng ở Đức Giêsu, tôi gặp được Đấng vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Và con người tình nghiã của  Đức Giêsu đã đốn đổ tim tôi, và tôi muốn suốt đời  thuộc về Ngài.
Ngài đến với tôi cũng như những lần đã đến với gia đình hai cô Mácta, Maria và anh Ladarô ở làng Bêtania năm xưa ấy, và gia đình này đã trở nên gia đình thứ hai của Ngài suốt những năm tháng dong duổi truyền giáo.
Nhưng có lẽ lần cuối cùng trở về Bêtania khi nghe tin Ladarô đau nặng và qua đời là lần về đánh dấu tình nghiã sâu sắc nhất của Ngài dành cho gia đình, khi làm phép lạ cho Ladarô đã chết bốn ngày được sống lại.
Qủa thực, thái độ của Đức Giêsu đã biểu lộ một tình bạn vô cùng nghiã thiết. Nghiã thiết vì không bỏ bạn hữu trong thử thách, gian truân; không tỉnh bơ, phớt lờ, giả làm người xa lạ khi bạn sa cơ thất thế; không lạnh lùng làm như không quen thân, chưa từng gặp gỡ khi bạn bị nhiều người cô lập, tấn công; không tráo trở lật lọng hàm oan cho bạn để gỡ tội mình; càng không tàn nhẫn bán đứng bạn cho kẻ thù để kiếm lợi lộc riêng. Trái lại, tất cả những người Do Thái có mặt hôm ấy đều thấy Đức Giêsu khóc vì “thổn thức trong lòng và xao xuyến” (Ga 11,33), và họ nói với nhau: “Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!”.
Phải tình nghiã lắm mới có thể thương nhau đến cùng ở “đường cùng » cuộc sống, bởi ở cây số “cùng đường” bế tắc này, người ta không còn mối lợi nào để chờ đợi ở nhau, mà chỉ còn khó khăn, nhiêu khê, phiền lụy; phải tình nghiã sâu đậm lắm mới có thể khóc, bởi chẳng mấy ai muốn khóc vì bồi hồi trước khổ đau của người khác, nhất là khi “người khác” hết thời, và vì lo lắng cho hiện tại đổ vỡ, tương lai đen tối của họ, như Đức Giêsu, con người tình nghiã đã khóc vì “bồi hồi” thương tiếc Ladarô và “lo lắng” cho cuộc sống sẽ khó khăn hơn rất nhiều của hai chị em Mácta, Maria, khi nhà vắng bóng trụ cột “đàn ông”.
Chiêm ngưỡng Đức Giêsu, con người tình nghiã, tôi nghe tim mình rộn ràng niềm vui, vì có Ngài là núi đá bền vững ân tình cho tôi nương náu khi đời bạc bẽo, xử tệ; có Ngài là bến bờ hy vọng, nguồn ủi an cho tôi nghị lực theo Ngài đi hết hành trình yêu thương.
5.   Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ bao dung, thương xót (Lc 23,39-43)
Tôi sợ lắm khi nghe dậy về hình phạt ngày sau trong hoả ngục, và run rẩy tưởng tượng cảnh phải ở với ma qủy đời đời trong một tình trạng chỉ toàn là ghen ghét, hận thù, bạo lực, mà nguời có tội “đêm ngày và miên trường vĩnh cửu” phải “khóc lóc, nghiến răng”.
Cũng vì sợ hình phạt hoả ngục dành cho người có tội, mà tôi đã tránh xa Giáo Hội, bỏ đức tin công giáo một thời gian rất dài, vì không chịu nổi những bài giáo lý sặc mùi đe doạ.
Để giải toả tâm lý khỏi mầu đen hoả ngục và án phạt đời đời dành cho người tội lỗi, tôi tìm đến một tôn giáo khác tuy có hình phạt theo nhân qủa, nhưng nhất định không kinh hoàng, khủng khiếp như hình phạt hỏa ngục đời đời của Kitô giáo, để rồi sau đó bước vào và ở lại với chủ thuyết duy vật vô thần: con người chỉ là vật chất, nên chết là hết, sẽ không có gì là tôi, của tôi tồn tại sau khi tôi chết. Dấu chấm hết gọn nhẹ, dễ thở, dễ chịu, vì không hứa hẹn hay đe dọa, không thiên đàng hay hoả ngục, không khen thưởng hay trừng phạt, cũng không nhân hay qủa gì sau khi tấm thân này trở về cát bụi.
Thế là tâm lý tôi ổn, tâm trí tôi yên, không còn bối rối, lo âu chuyện chết rồi đi đâu, lên thiên đàng hay xuống hoả ngục…
Cho đến một ngày, tôi khám phá mình đang lừa mình, đang cố tự đánh lạc hướng, đang tự phỉnh gạt, khi lương tri ngày càng dồn dập mách bảo: con người không chỉ là vật chất, nhưng còn có linh hồn bất tử, nên chết không hết, chết không là dấu chấm hết vô lý, vô duyên, vô nghiã, vô vị, bởi con người không thể vào đời một cách ngẫu nhiên, vô tình, vô tích sự, cũng như tiếng lòng hằng đêm trăn trở: con người không thể bị hủy hoại thành hư vô, bởi tâm hồn vẫn khắc khoải  hướng về một Đấng Thiêng Liêng là Cội Nguồn, Cùng Đích và sau cuộc sống này chắc sẽ có một cuộc sống khác.
Mùa Thương Khó cách đây bốn năm, tôi tìm lại đức tin đã bỏ quên hàng chục năm, khi nhận ra Đức Giêsu đã chết và sống lại để bảo đảm cho đời sống mai hậu của loài người. Nhưng điều quan trọng an ủi hơn cả chính là Ngài đã chết để xóa tội cho mọi người như Đấng Cứu Độ nhân hậu, từ bi, luôn thương xót, và đã sống lại như Thiên Chúa toàn năng đời đời vinh hiển.
Qua sự chết của Ngài, tôi an tâm chết mà không sợ bị nghiêm khắc luận tội, và nghiêm minh trừng phạt, vì Ngài đã sống và chết cho tôi, sống và chết vì tôi, sống và chết với tôi, không lẽ nào Ngài chịu thua “những yếu đuối, sai sót” của thân phận tôi bèo bọt, miễn tôi khiêm tốn xin Ngài dủ lòng thương xót tha thứ lỗi lầm, tội lụy và xin được cùng Ngài vào thiên đàng, như người gian phi bị đóng đinh với Ngài đã khẩn khoản nài xin: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23,42). Và chính anh gian phi đã không ngờ Đức Giêsu đã nghe và trả lời anh: “Tôi bảo thật anh, ngay hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43), cho dù trước đó không lâu, cũng từ Thập Giá loang máu, Ngài đã cầu xin Chúa Cha tha thứ cho tất cả mọi người: “Lậy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34).
Và từ ngày đó, Đức Giêsu ban cho tâm hồn tôi ơn Bình An phục sinh, như đã ban cho các Tông Đồ sau khi sống lại, và dậy tôi sống ơn Bình An của Ngài bằng thương xót anh em, nhất là những anh em bé mọn, nghèo hèn, và cả những người ganh ghét, vu khống, tìm cách hãm hại, làm khổ mình, vì điều làm đẹp lòng Thiên Chúa hơn tất cả chính là thương xót anh em như đời tôi hôm qua, hôm nay, ngày mai, cũng như đời sau sắp tới luôn được Thiên Chúa và anh em chạnh lòng thương xót (x. Mt 18,23-35), bởi chính Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa đã hứa Hạnh Phúc được Thiên Chúa xót thương cho những ai có lòng thương xót anh em mình (x. Mt 5,7).  
6.   Trái Tim rộng mở yêu thương của Thiên Chúa (Mt 20,1-16)
Tôi rất dị ứng khi ai đó gọi tôi là “đạo mới, đạo theo” để phân biệt người mới được rửa tội, mới theo đạo, mới gia nhập Giáo Hội với người đạo gốc, đạo dòng, đạo “cha truyền con nối”.
Nhớ những ngày đi xin học giáo lý tân tòng, đến đâu, gặp ai, tôi cũng bị “tra tấn” bởi những câu hỏi chẳng dễ nghe và không khuyến khích, động viên chút nào, như “Học đạo để lấy chồng hả? Chắc đi đạo vì quen mấy cha, mấy sơ?”, mà tuyệt nhiên không ai, kể cả những người dậy giáo lý đã hiểu khác hơn, đúng hơn lý do tôi xin đi đạo.
Tôi đi đạo vì một lý do duy nhất: Tôi “say nắng” Đức Giêsu, con người rất nhân bản, thân thiện, thương yêu, và Mái Nhà Thiên Chúa của Ngài luôn mở cửa đón hết mọi người. 
Những ngày học đạo, tôi thích nhất dụ ngôn “thợ làm vườn nho” (Mt 20,1-11), một hình ảnh Nước Trời, Nhà Thiên Chúa luôn rộng mở đón tiếp hết mọi người, và Thiên Chúa, ông chủ dễ thương lúc nào cũng vui vẻ mời gọi, năng nổ đi tìm và trân qúy, niềm nở đón tiếp từng người vào làm việc trong vườn nho của ông.
Nhưng điều thú vị, độc đáo nhất không ai ngờ ở ông chủ chính là với tất cả mọi người, ông đều ký một hợp đồng trả lương trọn ngày, nghiã là mức lương cao nhất, cho dù có người đã làm suốt ngày từ sáng sớm đến giờ đóng cửa vườn, có người từ mười hai giờ trưa, có người từ hai giờ chiều, lại có người chỉ mới vào làm chưa được một giờ. 
Chẳng thế mà cuối ngày, đến giờ trả lương, những người vào làm trước nhất tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, khi thấy những người vào làm sau chót được trả đầy đủ lương của một ngày làm. Nhưng rất tiếc, khi đến phiên, họ cũng chỉ lãnh như những người vào làm ở giờ chót lương của một ngày làm như hợp đồng đã thoả thuận. Thế là những người vào làm trước nhất này đã bất mãn phân bì và cằn nhằn ông chủ: “Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt” (Mt 20,12).
Và Thiên Chúa là ông chủ vườn nho đã trả lời: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền đó sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuy ý định đọat về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” (Mt 20,13-15).
Thiên Chúa của Đức Giêsu thật vô cùng quảng đại và Ngài đã không phân biệt, kỳ thị người đến trước, kẻ vào sau, đạo cũ, đạo mới, nhưng “tốt bụng” với tất cả mọi người và làm tràn đầy hạnh phúc tất cả những ai tin và đi theo Ngài.
        
Ước gì những tâm tình “say nắng” Đức Giêsu được ghi lại từ những chia sẻ chân thành trên biến thành tia nắng nhỏ luồn qua khe cửa những trái tim còn e ngại, rụt rè, những trái tim đã mệt mỏi vì thất vọng, những trái tim chưa sống đã vội già vì nhiều oan khiên để Tình Yêu Đức Giêsu có cơ hội sưởi ấm tim anh đã lạnh lùng, chữa lành tim em đầy thương tích, biến đổi chai đá tim tôi thành thịt, và cho tất cả chúng ta được chung nhịp đập của Trái Tim Đức Giêsu là Tình Yêu vô cùng và đến cùng, Trái Tim đã làm chúng ta say nắng Ngài là Tình Yêu. 
Jorathe Nắng Tím

THIÊN CHÚA BAN SỨC MẠNH

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 12, Thường Niên, Năm A  
Tin vào Chúa là tin vào tình yêu và sức mạnh của Chúa, bởi kinh nghiệm sống đức tin cho chúng ta biết mình rất yếu, và dễ “đuối” trước nhiều thứ mãnh lực  của người đời và của thần dữ.
Ngôn sứ Giêrêmia đã không ngại cho mọi người biết: đời ngôn sứ không êm ả như giòng sông hiền hoà, nhưng sứ vụ “nói với đời Lời Thiên Chúa” luôn đặt ngôn sứ vào tình trạng khó khăn, tình huống không thuận lợi, và tình hình dường như lúc nào cũng nghiêm trọng, căng thẳng, như ở đây, trong bài đọc một, Giêrêmia đã vâng lời Thiên Chúa loan báo sự tàn phá sắp tới của vương quốc Giuđa, nhưng dân chúng, cũng như những người lãnh đạo, tất cả đều không tin, đúng hơn là không muốn tin lời tiên báo xui xẻo. Và Giêrêmia đã than thở với Thiên Chúa về nỗi đau bị loại trừ, cô lập, và nỗi buồn cô đơn của mình: “Con nghe biết bao người vu cáo… và bạn bè thân thích đều rình rập xem con vấp ngã”  (Gr 20,10).
Đó cũng là số phận của người môn đệ Đức Giêsu, số phận bị người đời ghét bỏ, vu oan, truy lùng, tiêu diệt vì đi theo Đức Giêsu và làm chứng về Ngài: “Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy để làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết » (Mt 10,17-18).
Vì thế, Đức Giêsu trong Tin Mừng đã trấn an các môn đệ, như người Thầy trấn an môn sinh, như người cha củng cố niềm tin của con cái mình: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục” (Mt 10,28), bằng cho thấy giá trị cao qúy của con người được Thiên Chúa dựng nên, cũng như vinh dự vô cùng lớn lao được làm con Thiên Chúa, khi so sánh: “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào, thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý muốn của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi” (Mt 10,29). Và Ngài kết luận: “Vậy anh em đừng sợ, anh em còn qúy giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,31).   
Sở dĩ thế gian trở nên bãi chiến trường, ở đó sự dữ, sự ác làm con người đau khổ, vì tội lỗi và sự chết đã “xâm nhập vào trần gian và lan tràn tới mọi người” do một người là nguyên tổ loài người đã bất tuân lệnh truyền của Thiên Chúa. Cũng chính vì sự chết đã thống trị toàn thể nhân loại do tội của Ađam, mà hậu qủa là con người không còn thuần thảo trước Thiên Chúa, Đấng Chủ Tạo của mình. Đó cũng là lý do thế gian thù nghịch chính Đấng thương yêu, tạo dựng, gìn giữ mình, và không mệt mỏi chống báng, tiêu diệt những kẻ thuộc về Ngài, phụng sự Ngài và làm chứng cho Ngài.
Đứng trước thảm cảnh của nhân loại không còn ân phúc, tức mất hết ơn nghiã với Thiên Chúa, Đức Giêsu đã tự nguyện trở nên “Ađam mới” để “nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô, còn dồi dào hơn biết máy cho muôn người” (Rm 5,15). Đó là then chốt sứ vụ Cứu Thế của Đức Giêsu mà thánh Phaolô đã trình bầy trong thư của ngài gửi giáo đoàn Rôma.
Thực vậy, được chọn làm ngôn sứ của Thiên Chúa, cũng như được kêu gọi làm môn đệ của Đức Giêsu, tất cả đều chung số phận bị thế gian ghét bỏ, vu khống, hãm hại, bởi sứ vụ của những người được tuyển chọn này là tiếp tay với Đức Giêsu để lan toả ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với nhân loại bị tội lỗi và sự chết thống trị. 
Để thực hiện sứ vụ được Thiên Chúa trao phó trong những hoàn cảnh thường không thuận lợi, thiết tưởng người môn đệ Đức Giêsu sẽ phải học với ngôn sứ Giêrêmia để luôn nằm lòng niềm xác tín: “Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng. Vì thế những kẻ từng hại con sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con” (Gr 20,11), cũng như tín thác tuyệt đối vào Lời Đức Giêsu: “Anh em đừng sợ…” (Mt 10,28), “Vì Danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng ai bền chí đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 10,22).
Jorathe Nắng Tím

BÚP BÊ NHỒI BÔNG CỦA BÉ


Mỗi dịp Noel, các học sinh thành phố có thói quen chuẩn bị những món quà Giáng Sinh để gửi cho các em bé nghèo ở vùng sâu vùng xa. Nhìn những gói qùa do chính tay các em gói, đóng thùng gửi đi với tình yêu chia sẻ, tôi thấy dậy lên  nỗi xúc động khôn tả và niềm vui tràn đầy hy vọng ở tương lai.
Tôi cũng tò mò quan sát những gói quà dễ thương, ăm ắp tình người và nhận thấy : không gói nào vắng bóng một búp bê xinh xinh hay một chú chó, chú mèo, chú gấu nhồi bông.
Tôi  tạm gọi chung là “búp bê” tất cả những người bạn “nhồi bông” khó rời của tuổi thơ, những anh Gấu, chị Mèo, em Beo trung thành luôn có mặt, không mấy khi chịu rời xa bé. Từ Á sang Âu, từ Pháp qua Mỹ, từ New York đến Sydney, đâu đâu tuổi thơ cũng ôm một chú Gấu, một búp bê  trừ những em bé sinh ra trong hoàn cảnh nghèo nàn, túng quẫn mà ngay cả nước gạo cũng không có để uống thay sữa, nói chi đến những Gấu, Chó, Búp Bê đưọc xếp vào hàng “xách tay” xa xỉ.
Búp Bê với bé là một người bạn thân tình, tri âm tri kỷ. Người bạn ấy :
1.   Biết tất cả về bé :
Với bé, không ai biết bé muốn gì, thích gì, buồn gì, nghĩ gì bằng Búp Bê, vì không ai ở gần bé bằng Búp Bê. Đàng khác, bé không kể cho ai, ngay cả cha mẹ tất cả những gì thuộc về bé. Đời sống của bé, Búp Bê biết hết rồi. Ngay cả bé mơ gì trong giấc ngủ, bé tin rằng Búp Bê cũng biết hết, vì Búp Bê ngủ sát bên bé mỗi đêm. Với bé, Búp Bê là  người biết hết mọi sự và bé có thể hỏi ý kiến Búp Bê về mọi vấn đề.

2.   Chăm chú lắng nghe bé:
Lắm lúc bé nói mà chẳng ai nghe, kể cả mẹ, vì mọi người mải mê lo chuyện riêng của họ; chưa kể nhiều lúc người lớn bỏ bé nằm một mình. Bé có cảm tưởng chuyện bé nói, điều bé kể không hấp dẫn, không lôi kéo chú ý của người lớn, bằng chứng là chẳng mấy người quan tâm. Chỉ có Búp Bê là dễ thương quan tâm lắng nghe bé. Không chỉ quan tâm thôi, mà còn yên lặng để bé nói cho đến hết những gì bé muốn nói. Bé biết không ai dễ thương bằng Búp Bê, vì Búp Bê luôn  nghe bé.

3.   Không bao giờ nóng giận, khó chịu với bé:
Mấy sáng nay, bé liên tục bị mẹ càu nhàu, khó chịu vì bé bú chậm làm mẹ mất thời giờ. Bé thương mẹ vì mẹ cho bé bú, nhưng bé không thích mẹ khi mẹ nổi nóng, làm mặt dữ với bé. Búp Bê của bé thì không dữ như mẹ. Búp Bê chẳng bao giờ biết giận dỗi bé, ngay cả khi bé lười không bú, làm reo không ngủ…

4.    Trấn an bé:
Bé rất sợ ở một mình, nhất là giữa đêm khuya  khi bé thình lình thức dậy không thấy mẹ. Bé tưởng tượng : nếu không có Búp Bê ở bên cạnh, chắc bé sẽ sợ đến chết được.

5.   An ủi, nâng đỡ bé:
Bé rất hay bị mẹ mắng vì không chịu bú sữa, lại không ngủ đúng giờ, chưa kể bé còn hay đái dầm nữa. Bị mẹ la, bé làm gì bây giờ, nên chỉ khóc thôi. Cũng may có Búp Bê an ủi, nếu không bé buồn đến chết được, vì chẳng có ai hiểu tại sao bé đã không bú, không ngủ...
Như thế, phần nào ta đã thấy vai trò khó thay thế của Búp Bê trong đời sống thơ ấu của em bé. Thực sự em cần Búp Bê và coi Búp Bê như bạn, như chị em, anh em song sinh. Ở đây ta cần lưu ý một điều: nhu cầu được lắng nghe, được quan tâm, được an ủi,nâng đỡ là nhu cầu chung của con người và em bé tuy còn bé nhưng  đã là một con người, nên có đủ những nhu cầu đó. Vì thế, nhu cầu có Búp Bê không chỉ dành cho các bé gái, mà cho cả  bé trai, chỉ khác một điều giữa trai – gái là hình dạng của Búp Bê. Các bé gái thích Búp Bê là người, các bé trai ưa Búp Bê bằng thú.
Kinh nghiệm nuôi con của nhiều cha mẹ cho thấy : rất khó tách con nhỏ ra khỏi Búp Bê của em. Đi đâu xa nhà mà quên mang theo Búp Bê là coi như con sẽ mất vui, khó ngủ…Búp Bê gắn liền đời sống của em bé và biến thành người bạn lý tưởng của em. Những đối thoại nghe được của em bé với Búp Bê càng cho ta thấy mức độ tin tưởng, tín nhiệm của bé dành cho Búp Bê của mình.
Ở đây, chúng ta nhìn nhận vai tró tích cực của Búp Bê trong đời sống của em bé khi cho em cơ hội trút bỏ lòng mình, giải toả ấn ức, xả bớt căng thẳng. Nó giúp em bé khám phá thế giới bên ngoài bằng tập diễn tả nội tâm cách tự nhiên, không sợ hãi, mặc cảm. Nó cũng đồng hành với em bé những bước đầu trong tiến trình tạo nhân cách qua tương quan.Và người ta có thể nói: Búp Bê là dàn trải của tâm hồn em bé.
Nhưng bên cạnh những điểm tích cực này, Búp Bê có thể đưa em bé đến tình trạng từ chối đối thoại với cha mẹ và những người khác. Em từ chối vì thấy mình không cần; bởi những nhu cầu tâm lý cần cho em  thì Búp Bê đã đáp ứng rồi. Vai trò của cha mẹ  trong đối thoại vì thế giảm bớt trầm trọng, nếu cha mẹ lơ là, ơ hờ không tìm dịp lắng nghe, nói chuyện với em.
Đối thoại là nhu cầu của em bé. Em có thể đối thoại qua ánh mắt, tay chân quờ quạng, đôi môi chúm chím, lắp bắp bi bô. Đối thoại giúp em ra khỏi mình để đến với người khác, hiểu người khác. Không có nhịp cầu đối thoại, em sẽ bị giam trong pháo đài cô quạnh, buồn chán là “cái tôi đặc sệt, ngộp thở”.Vì thế, cha mẹ không nên khoán trắng vai trò đối thoại cho Búp Bê vô hồn, vô cảm, vô tri mà quên nhiệm vụ xây nhịp cầu đối thoại với con cái của mình, mà hậu qủa tai hại có thể xẩy đến là biến em bé  thành một người lớn suốt đời “độc thoại”.     

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2020

HẠNH PHÚC ĐƯỢC BÌNH AN

    HẠNH PHÚC ĐƯỢC BÌNH AN
    Tác giả: Xuân Vui
   
Mỗi sáng thức dậy, tôi rất thích cảm giác ngồi nhìn những đóa hoa đang nở, nhâm nhi café và ngồi thưởng thức cuộc sống. Rất nhiều cảm giác khác nhau trong những buổi sáng tương tự như thế này. Nhưng nói chung những suy nghĩ thường hướng về con người xung quanh và những nhân sinh quan cuộc sống của họ. Như một người khách tham quan, tôi nhìn ngắm cuộc đời của họ và tìm hiểu những gì họ đang có và tôi luôn rút ra một kết luận: những con người luôn khao khát điều gì thuộc về tiền của, vật chất, danh lợi thì cuộc đời họ luôn bất an vì chính những điều ấy. Nỗi khao khát khiến họ luôn nỗ lực bằng mọi giá và trong số họ có người đạt được có người không nhưng dù kết quả thế nào tôi không cảm thấy họ đang hạnh phúc hay bình an. Có người vì ham làm Việt Kiều nên bị tan đàn sẻ nghé sau khi thành Việt Kiều, có người thì ham tiền bạc nên lựa chọn sự bất công và cuối cùng cũng không còn gì bao nhiêu, có người thì ham ông này bà nọ, ham được đứng trên cao, ham thích những ánh nhìn ngưỡng mộ và cuối cùng họ bị những điều ấy nhấn chìm. Cuộc đời có một sự sẻ chia rất công bằng đó là tiền bạc vì tất cả mọi người đều bảo rằng thiếu. sau tất cả những gian khổ của cuộc đời, hôm nay ngồi đây nhìn lại, tôi thấy hạnh phúc nó rất đơn sơ, một tình bạn đẹp có thể mang lại hạnh phúc, một tình nghĩa thủy chung trong tình vợ chồng cũng thế, một gia đình thuận hòa là hạnh phúc, anh chị em yêu thương nhau là hạnh phúc và nhiều, rất nhiều những điều hạnh phúc khác chẳng liên quan gì đến vật chất, tiền bạc hay danh lợi. Tôi đến nhà thờ, ngồi đối diện với Thiên Chúa không đọc kinh và cũng chẳng nói gì, đơn giản chỉ đến thăm, và nhìn ngắm thôi, nhưng cảm thấy rất bình an và hạnh phúc.
    Con người luôn mải mê và làm nô lệ cho những tham vọng của chính mình, đến khi giật mình nhìn lại thì đã cuối con dốc của cuộc đời, muốn thay đổi ư??? Không còn kịp nữa. Trong cuộc đời mình, tôi luôn tìm kiếm hai chữ bình an dù đôi khi phải trả giá nhiều, có thể đó là tiền bạc phải cho đi vì một lời kêu xin trợ giúp, có thể đó là thời gian và sức khỏe vì một công việc mà mình cảm thấy đó là một sứ mạng, nhưng tôi chưa phải suy nghĩ nuối tiếc khi nhìn lại. Sáng hộm nay, một sáng mùa hè, có nắng và trời xanh mây trắng, có tiếng chim hát ca và một ly trà ngon, cuộc sống dường như chậm lại và tôi, một kẻ vô công rỗi việc ngồi viết những dòng suy nghĩ vu vơ như một lời cảm ơn dâng lên: “Xin dâng lời cảm tạ…” đó là tất cả những gì tôi cảm thấy trong buổi sáng bình yên này.
Chúc mọi người một tuần mới nhiều niềm vui và hạnh phúc nhé. Yêu mọi người!!!


SINH NHẬT THÁNH GIOAN TIỀN HÔ


“Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân” (Gr 1,5). 
Thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiền hô của Đức Giêsu không những được Thiên Chúa biết và thánh hoá, mà còn đượcThiên Chúa đặt tên trước khi sinh ra, như Tin Mừng Luca thuật lại: “Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy cha là Dacaria mà đặt cho em. Nhưng bà mẹ lên tiếng nói: “Không, phải đặt tên cháu là Gioan. Họ bảo bà: “Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả”. Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em bé là gì. Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết: “Tên cháu là Gioan. Ai nấy đều bỡ ngỡ” (Lc 1,59-63).
“Gioan trong tiếng Do Thái có nghiã là Hồng Ân của Thiên Chúa. Đây là tên mà sứ thần của Thiên Chúa đã truyền cho Dacaria, cha của em bé  đang lúc dâng hương trong Đền Thờ của Đức Chúa”, vì ông thuộc hàng tư tế, và đã trúng thăm được vào dâng hương: “Bà Êlisabét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gioan” (Lc 1,13).
Được Thiên Chúa đặt tên là một hồng ân cao cả, lớn lao. Như chính tên Hồng Ân của  ông, Gioan đã được Thiên Chúa chuẩn bị từ muôn thuở để đón nhận hồng ân là Tiền Hô dọn đường cho Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, đồng thời là niềm vui cho mọi người, vì mọi người đều nhận trên cuộc đời ông “có bàn tay Chúa phù hộ” (Lc 1,66).
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, nên Dacaria, cha ông, và Êlisabét, mẹ ông, cả hai tuy đã lớn tuổi và không còn có thể sinh con vẫn được Thiên Chúa ban hồng ân làm cha mẹ. Sự việc này vượt qúa sức tưởng tượng của loài người, vì thế mà Dacaria, cha ông đã không dám tin, và  Dacaria đã “bị câm, không nói được, cho đến ngày các sự ấy xẩy ra” (Lc 1,20).
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, Gioan mới được hồng ân trở nên Tiền Hô của Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế, như lời ca tụng Thiên Chúa của Dacaria, cha ông trong kinh Chúc Tụng: “Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa mở lối cho Người, bảo cho dân Chúa biết: Người sẽ cứu độ là tha cho họ hết mọi tội khiên” (Lc 1,76).
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, tiếng hô của Gioan, như lời chép trong sách ngôn sứ Isaia: “Hãy dọn đường cho Đức Chúa, sửa lối thẳng để Người đi, mọi núi đồi, phải bạt cho thấp, khúc quanh co, phải uốn cho ngay, đường lồi lõm, phải san cho phẳng. Rồi hết mọi người sẽ thấy ơn Cứu Độ của Thiên Chúa” mới được nhiều người lắng nghe.         
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, đám đông mới lũ lượt kéo đến xin Gioan làm phép rửa, khi nghe “ông rao giảng, kêu gọi mọi người chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3,3).
“Có bàn tay Chúa phù hộ”, Gioan mới can đảm thực thi sứ mệnh làm chứng sự thật của ngôn sứ khi “khiển trách vua Hêrôđê vì đã lấy bà Hêrôđia là vợ của người anh” (Lc 3,19) để rồi bị tống giam và bị chém đầu sau đó (x. Mt 14,1-11).
Qủa thực, cả cuộc đời của  Gioan Tiền Hô là nguồn suối Hồng Ân không ngừng tuôn chảy: chảy từ cha mẹ trước khi thụ thai ông, và liên tục chảy dài trong suốt cuộc đời Tiền Hô, Ngôn Sứ cho đến giờ chết, khi đầu rời thân vì làm chứng cho sự thật, vì thi hành đến cùng và trọn vẹn sứ vụ Ngôn Sứ Thiên Chúa trao.
Nhưng điều quan trọng chúng ta cần học hỏi nơi thánh Gioan Tiền Hô, chính là tâm tình khiêm tốn biết ơn Chúa, tâm tình khiêm tốn phục vụ Chúa, tâm tình khiêm tốn sẵn sàng trở thành Của Lễ dâng Chúa.
Biết tên mình là Hồng Ân do chínhThiên Chúa chọn, thánh Gioan đã luôn khiêm tốn biết ơn Chúa, khi nhận mình “không đáng cởi quai dép cho Người” (Lc 3,16); biết đời mình là Hồng Ân do chính Thiên Chúa chuẩn bị, thánh nhân đã khiêm tốn phục vụ Chúa, bằng không giữ bất cứ sự gì (x. Mc 1,6), hay bất cứ môn đệ nào cho mình (x. Ga 1,35-40), nhưng tất cả dành cho Đức Giêsu Thiên Chúa. 
Chính Đức Giêsu đã công khai tuyên dương Gioan khi nói với đám đông về ông: “Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến” (Mt 11,7-10); biết sứ vụ của mình là loan báo Hồng Ân của “Thiên Chúa đầy lòng trắc ẩn” hằng tha cho dân Người hết mọi tội khiên (x. Lc 1,77-78), Gioan Tiền Hô đã khiêm tốn hiến mạng sống trong chốn lao tù làm Của Lễ tạ ơn Thiên Chúa. 
Thực vậy, cuộc đời thánh Gioan Tiền Hô là Hồng Ân, như tên Thiên Chúa đã chọn trước cho ngài, và suốt cuộc đời, thánh nhân luôn sống trong hạnh phúc được bao phủ bởi Hồng Ân, vì luôn “có bàn tay Chúa phù trợ”.
Lậy thánh Gioan Tiền Hô, xin cầu bầu cho chúng con biết sống tâm tình biết ơn Chúa và khiêm tốn phục vụ theo gương khiêm tốn với “khẩu hiệu ngôn sứ” của ngài: “Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3,30).              
Jorathe Nắng Tím        

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2020

TƯƠNG QUAN TÂM – SINH LÝ NƠI EM BÉ


Thân xác là tiếng nói của tâm hồn; nói cách khác, thân xác biểu lộ những gì tâm hồn muốn nói, nên cơn đau của bao tử chưa hẳn chỉ thuần là cơn đau của thân xác mà  có thể là cơn đau của cả  tâm hồn. Người mang tâm sự buồn là người mang thân xác rã rời, mệt mỏi, bần thần, chán sống. Cõi lòng tan nát kéo theo thân xác nát tan vì con người gồm thân xác và tâm hồn.
Một cách nôm na, ta gọi sinh lý là thân xác và tâm lý là tâm hồn. Sinh lý là những sinh hoạt thấy được trên thân xác, tâm lý là những sinh hoạt tuy có thực nhưng không thấy được như đam mê, tình cảm, mặc cảm, ý chí, tình yêu…
Em bé của chúng ta cũng là con người, nên sinh hoạt tâm sinh lý của em cũng theo những định luật bình thường của con người; nghiã là sinh lý ảnh hưởng tâm lý và ngược lại tâm lý cũng góp phần làm thay đổi sinh lý. Chỉ khác một điều: em bé không diễn tả như người lớn, nên cha mẹ phải bỏ công phỏng đoán, tìm tòi.
Một vài hiện tượng sinh lý thường gặp nơi em bé :
1.   Khóc nhè, dỗ hoài không nín :
Em “Gà con” khóc có thể vì đói, khát hay mới tè trong tã; cũng có thể em đau bụng hay khó chịu vì không ngủ đẫy giấc. Với các em 3, 4, 5 tuổi, khóc nhè có thể vì mẹ đã không chú ý đến em, hoặc em có cảm tưởng bị mẹ bỏ rơi, không còn thương em nữa khi mẹ quan tâm đặc biệt đến anh “Beo”. Em khóc cũng có thể sáng nay em lười đi nhà trẻ, muốn ở nhà chơi với bà ngoại, vì ở nhà trẻ có một bạn hay ghẹo, giành dựt đồ chơi và hay cào mặt bé.
Khi bé Gà Con khóc nhè như vậy, mẹ đừng nóng giận la rầy, nhưng điềm tĩnh lắng nghe và đặt cho bé những câu hỏi như : “Mẹ không thương bé hả ? Không có đâu, Mẹ thương bé mà…; Ai ghẹo bé ? Mẹ sẽ nói bạn không được ghẹo bé nữa…”. Những câu hỏi có tính giải toả những ấm ức không nói được của  bé sẽ làm bé nguôi ngoai và không khóc nhè nữa.

2.   Em bé thích sờ cu, vạch mông trước mặt người khác :
Em làm như vậy là vì chưa phân biệt được sự khác biệt giữa riêng tư và công cộng, giữa những gì phải giữ kín cho riêng mình và những gì có thể khoe với người khác. Nhiều em đã bắt chước những gì đã thấy trên truyền hình và làm lại một cách rất vô tư. Khoa phân tâm có khuynh hướng cắt nghiã hiện tượng trên theo Libido của Sigmund Freud. Người viết không hoàn toàn ủng hộ lối cắt nghiã dưới ảnh hưởng hoàn toàn của Libido này, vì cho  rằng em bé chưa phân biệt được sự khác biệt và công dụng riêng biệt của các bộ phận trên thân thể, nên em chưa phải  chịu sức ép của tính dục như Freud chủ trương.
Thực ra, hành động sờ cu, vạch mông trước mặt người khác của em bé chỉ là những hành động tự nhiên, bình thường, không nên đặt thành vấn đề. Vấn đề cần đặt là đừng gieo mặc cảm tội lỗi cho em khi giận dữ trách mắng : “Đừng sờ cu như vậy, dơ lắm ! Đừng vạch mông như thế, bẩn vô cùng !”. Với em cu hay mông cũng như đầu, mắt, bụng, tay chân. Bây giờ người lớn bảo cu dơ, mông bẩn, em mới biết chúng bẩn và sẽ ghi nhận hình ảnh dơ bẩn của cu, mông  trong tâm trí em. Sự việc này  tạo một mặc cảm khó phai sau này trong đời sống tình dục khi em khám phá ra công dụng của các phần tế nhị trên thân thể.
Gieo mặc cảm là việc làm rất vô tình của cha mẹ khi con cái có những cử chỉ, thái độ “không bình thường”. Đừng quên rằng quả quyết điều gì trước mặt các em là in sâu hình ảnh ấy trong tâm não các em. Nếu là hình ảnh đẹp, kết qủa sẽ tích cực; nhưng nếu là hình ảnh xấu, hậu qủa sau này sẽ rất tiêu cực. Điều cha mẹ nên làm trong trường hợp này là nhẹ nhàng cắt nghiã cho em bé : “Con sẽ đẹp hơn nhiều khi không sờ cu, vạch mông trước mặt người khác” mà không cần “chú giải” dài dòng. Với thời gian, em bé sẽ tự khám phá mình đẹp thực, và lời mẹ dặn là đúng.
3.   Em bé hay giận dữ bất thường:
Có những em bé năng động nhưng hay giận dữ. Khi giận dữ, em bỏ ăn, bỏ ngủ, tiêu tiểu không đúng giờ, đúng cữ. Đây là dấu hiệu của tình trạng tâm lý căng thẳng như sợ phải xa cách người thân, sợ mất bạn, sợ đối thủ, sợ thất bại…Tuy còn bé, nhưng em đã cảm được nỗi sợ mất mát và thất bại, nên khi có đe doạ, em thu mình vào vỏ ốc “hoảng sợ và giận dữ”. Với những em bé này, tốt hơn cả là tạo cho em một không gian rộng, đầy đủ tiện nghi, thóang mát để mang lại cho em bầu khí thư giãn thực sự. Trong bầu khí này, em sẽ có những ý nghĩ tích cực, những hình ảnh tươi sáng giúp cho vô thức của em tìm lại trạng thái an toàn. Có nhiều cơn hoảng sợ phát sinh từ cái nhìn và thái độ thiếu thiện cảm của người lớn. Một em bé bị người lớn đe dọa hay trừng phạt là một em bé bị khủng hoảng tâm lý trầm trọng. Hậu qủa “vô hình”, không ai hay biết, nhưng phân tâm học khẳng định: đây là những vết nứt có thể làm nghiêng ngôi nhà tâm lý. Nguời viết đã chứng kiến trường hợp em bé mỗi lần cha mẹ dẫn vào thang máy là hét lên hoảng hốt. Trấn an, dỗ dành thế nào em cũng không chịu vào, và không ai hiểu tại sao em đã không dám vào thang máy suốt thời gian 11 năm. Mãi đến năm 13 tuổi, em mới không còn sợ. Sau một thời gian dài tìm hiểu, gia đình mới biết: năm 1 tuổi, em đã bị ông chú  bỏ vào thang máy một mình, vì em cứ khóc đòi mẹ. Và từ đó, hình ảnh thang máy đã trở thành hình ảnh vô cùng khủng khiếp trong em. Ông chú đã làm em sợ bằng một hình phạt được xếp vào loại “phi nhân”, hình phạt “nhốt vào thang máy một em bé một tuổi” là một việc làm không thể chấp nhận đã làm tổn thương nặng nề tâm lý  còn non nớt của em. Đây cũng là kinh nghiệm cần được các bậc phụ huynh ghi nhận để tránh gửi con cho những người vô trách nhiệm, không đủ kiến thức tâm lý, không trưởng thành và nhất là không có những đức tính cần thiết như kiên nhẫn, chịu đựng. Trao con cho những người này là “giao trứng cho ác” mà hậu qủa tâm lý trên con sẽ tai hại khó lường.

Trên đây là tóm lược hết sức giản đơn  một vài hiện tượng thường gặp nơi trẻ em, để nói lên tương quan mật thiết giữa hai sinh hoạt sinh lý và tâm lý. Tương quan này chặt chẽ và phản ảnh trung thực tình trạng thực tế. Nắm vững nguyên tăc tương quan, cha mẹ sẽ không vội vã kết luận với những quan sát đơn thuần trên thân thể, mà còn nhìn sâu hơn, xa hơn vào sinh hoạt tâm lý để tìm ra căn nguyên, gốc rễ của vấn đề.
Ý thức mối giây liên lạc giữa thân xác và tâm hồn, cha mẹ sẽ nhìn em bé là một toàn phần cần được hiểu biết để có thể giúp em vượt qua những khó khăn mà em chưa tự mình diễn tả được.
Công trình nuôi nấng, giáo dục con cái là công trình trường kỳ và khó khăn đòi hỏi cha mẹ một trình độ sư phạm nào đó. Như người thầy, cha mẹ sẽ hướng dẫn con đi qua tuổi thơ dưới bầu trời nhiều sao sáng, những vì sao lấp lánh tình yêu của mẹ, hy sinh của cha, và hồn nhiên, trong trắng của tuổi thơ thiên thần.                

LỄ THÁNH TÂM CHÚA

Chúng ta có thể nói: Kitô giáo là đạo của Trái Tim, vì Đấng sáng lập  là Thiên Chúa Tình yêu, giáo lý là “yêu mến”, giới răn là “yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương”, và con đường phải đi để đến đích Thiên Đàng là con đường đức ái: cho kẻ đói ăn, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách lạ trú chân, chăm sóc kẻ đau ốm, thăm nuôi kẻ tù đầy, dậy dỗ kẻ ngu muội, an ủi kẻ âu lo, nâng đỡ người thất vọng, che chở người cô thế, bênh vực người thấp cổ bé miệng, cứu giúp người sa cơ thất thế, xót thương tội nhân yếu đuối, cùng đường… (x. Mt 25,31-46), nên lễ kính Thánh Tâm Chúa là lễ mừng Thiên Chúa Tình Yêu, là đại lễ của toàn thể những người mang Trái Tim Đức Giêsu trong cuộc đời và cùng đi theo Đức Giêsu, Đấng đã hiến mạng sống vì yêu thương nhân loại đến cùng trên “đường tình” đến với mọi người, không trừ ai, kể cả đối phương, kẻ thù.   
Khi nói đến Tình Yêu, người ta cảm thấy lâng lâng niềm hạnh phúc, vì tình yêu không làm sợ hãi, bởi tình yêu không đe dọa, nhưng bênh vực, che chở; tình yêu không áp bức, nhưng đằm thắm âu yếm, nâng niu; tình yêu không ích kỷ, lợi dụng, nhưng vị tha, dâng hiến; tình yêu không phá hoại, hủy diệt, nhưng xây dựng, ban sự sống; tình yêu không dữ dằn, hung bạo, nhưng khiêm tốn, hiền lành; tình yêu  không so đo, tính toán, nhưng chia sẻ quảng đại, tình yêu không kiêu căng thống trị, nhưng phục vụ quên mình vì người yêu, và hy sinh chính mình cho hạnh phúc của đối tượng.
Cũng vậy, hình ảnh lôi cuốn nhất là trái tim, vì trái tim là cơ năng của tình yêu và sự sống, nên khi yêu ai, ta nghe trái tim xôn xao, rạo rực; khi nhớ ai, ta thổn thức, quay quắt, bâng khuâng; khi mất người ta thương, tim ta nhức nhối, quặn đau như vỡ toang, nát vụn. Trái tim cũng là tổng hành dinh điều phối hoạt động của toàn thân, nên khi trái tim trong sáng, an bình, ta sống hồn nhiên,hạnh phúc, nhưng khi trái tim vẩn đục ganh ghét, hận thù, sinh hoạt đời sống trở nên u ám, nặng nề.
Ở trái tim có một sự thật quan trọng, đó là tình yêu đích thực lại rất kín đáo, tình yêu chân chất thường rất đơn sơ, tình yêu chung thủy chẳng bao giờ to tiếng ồn ào. Vì thế tình yêu chân chính, trung thành, sâu đậm ít được nhận ra, và những trái tim yêu thương nồng nàn, tha thiết, sâu lắng thường không được nhiều người để ý, lưu tâm. Đó là lý do, những tình yêu lớn thường chỉ gặp được ở những con người bé nhỏ, và những trái tim vĩ đại thường có mặt nơi những con người “tầm thường, hèn mọn”, vì ở những con người bé mọn này, tình yêu mới có thể đạt đến độ trong suốt, tinh ròng, bởi tình yêu của họ không bị danh vọng, của cải làm thoái hoá biến thành phương tiện cho tham vọng, trái tim không biến thái thành công cụ để thực hiện những mục tiêu không phải là tình yêu.
Đức Giêsu, Thiên Chúa của Tình Yêu trong Tin Mừng Mátthêu đã công nhận Tình Yêu Thiên Chúa được mặc khải nơi những người bé nhỏ, hèn mọn này: “Lậy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan, thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Mt 11,25), bởi ngoài Tình Yêu là chính mình, Thiên Chúa đã không mặc khải bất cứ điều gì, nói cách khác, toàn thể chân lý được Đức Giêsu mặc khải đều là Tình Yêu, như thánh Gioan đã khẳng định: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16), “vì Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8).
Khi công nhận Tình Yêu được mặc khải nơi những người bé mọn, Đức Giêsu cũng không giấu diếm những vất vả, cơ cực họ phải chịu vì sống Tình Yêu, những  sầu thương, ô nhục chất nặng đôi vai họ phải gánh vác vì trung thành với Tình Yêu được Thiên Chúa trao ban, bởi họ đã khóc vì yêu tha nhân, đã sầu buồn vì thấy anh em bất hạnh, đã bận tâm nặng lòng vì lo cho người khác ra khỏi bế tắc, đường cùng, đã chịu mất danh thơm tiếng tốt, vì thương xót thi ân, đã thiệt thòi, mất mát vì hiến thân làm con vật tế thân để chữa lỗi, chạy tội cho đồng loại. Và Đức Giêsu đã không quên khích lệ, nâng đỡ họ: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).
Điểm đặc biệt ở đây là Ngài đã dậy những người đã đi theo Ngài để phải “mang gánh nặng yêu thương”, những trái tim yêu thương như Ngài để phải chịu nhiều  phiền phức, liên lụy bí quyết của Thiên Chúa yêu thương, đó là: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,29-30).
Thực vậy, bí quyết tình yêu của Đức Giêsu, Thiên Chúa yêu thương là hiền hậu và khiêm nhường khi yêu thương, dâng hiến; hiền hậu và khiêm nhường khi trái tim yêu thương tan nát vì bị phản bội; hiền hậu và khiêm nhường khi tình yêu  “chết cho người mình yêu” bị người yêu phủ nhận; hiền hậu và khiêm nhường khi trái tim rướm máu vì bạc nghiã, vô ơn của người mình thương, bởi chỉ có bí quyết của “Thiên Chúa làm người” đã dầy kinh nghiệm đau khổ trong tình yêu, đã chết bởi tay những người mình yêu mới làm cho trái tim đau khổ vì yêu thương được nghỉ ngơi, bồi dưỡng; chỉ bí quyết của Đấng đã yêu thương đến cùng và chấp nhận chết để xoá tội, chuộc tội những người đã tra tay đóng đinh mình mới có thể chữa lành và làm nguôi ngoai những tâm hồn bị vùi giập, nghiền nát vì yêu thương, phục vụ.
Thực vậy, không  tình yêu nào không hy sinh, không trái tim biết cảm thương nào  thoát cảnh đọan trường, nên yêu là đau khổ, yêu là mang ách nghiệt ngã, tang thương, và oằn vai với gánh nặng nề, để  rồi chỉ còn một nơi an nghỉ, bồi dưỡng, chỉ còn một chốn nương náu, được chữa lành, ủi an, đó là Trái Tim của Đức Giêsu, Thiên Chúa Tình Yêu, Trái Tim của Thiên Chúa hiền hậu, khiêm nhường, Trái Tim của Chúa Cha giầu lòng xót thương, Trái Tim của Thiên Chúa yêu thương vô cùng và đến cùng những tâm hồn tuy yếu đuối, bất xứng nhưng luôn vững lòng trông cậy ở Thiên Chúa là Tình Yêu, và từng bước “khiêm nhường, hiền lành” đi theo Đức Giêsu trên đường Tình Yêu đến với Chúa Cha và mọi người.
Vâng người Kitô hữu là người mang Trái Tim của Đức Giêsu. Chính Trái Tim yêu thương của Thiên Chúa làm cho chúng ta được “sống sự sống của Đức Giêsu,Thiên Chúa”, như thánh Phaolô đã chia sẻ: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Cũng nhờ Trái Tim Thiên Chúa ban Tình Yêu và Sự Sống ấy, mà chúng ta được “nên hoàn hảo” và “được mạnh dạn trong ngày phán xét” (1 Ga 4,17).   
Jorathe Nắng Tím