Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2020

TIN MỪNG CHO MUÔN DÂN

 



Đặc ân và vinh dự là dân riêng : dân được Thiên Chúa Giavê tuyển chọn, dân được Thiên Chúa yêu riêng, dân được Thiên Chúa bảo vệ đặc biệt đã khiến một số không nhỏ người dân Ítraen rơi vào tự mãn, tự phụ, kiêu căng, kỳ thị thể hiện qua cơ cấu tổ chức tôn giáo chặt chẽ, quyền lực, chức sắc lãnh đạo tôn giáo uy quyền, độc đoán và dân tộc khép kín, co cụm, kỳ thị, tự cô lập, cách biệt khỏi mọi dân tộc khác, mà cả bốn Tin Mừng đều ghi lại.

Thực vậy, những lời trách mắng kinh sư và những người Pharisêu (x. Mt 23), cũng như những lần gặp gỡ, chữa bệnh, và tuyên dương đức tin người ngoại đạo của Đức Giêsu bị đồng đạo, đồng bào Do Thái bực bội, khó chịu trong Tin Mừng đã cho chúng ta cảm được phần nào bầu khí rất khép kín, kỳ thị của người Do Thái lúc bấy giờ đối với các quốc gia lân bang, do não trạng dân riêng.

Chính Đức Giêsu đã công khai lên án não trạng, và lối sống kỳ thị của họ, như khi kể dụ ngôn “những người làm vườn nho sát nhân” (Mc 12,1-9). Dụ ngôn bắt đầu bằng : “Có người kia trồng được một vườn nho ; ông rào giậu chung quanh, đào bồn đạp nho và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác rồi trẩy đi xa...” (Mc 12,1), và kết thúc : “Ông sẽ đến tiêu diệt các tá điền, rồi giao vườn cho người khác” (Mc 12,9), bởi vì tá điền được ông giao trông nom vườn nho của ông đã không đón nhận bất cứ đầy tớ nào khác của ông gửi đến để thu hoa mầu, ngay cả người con trai duy nhất của ông.

Đây là hình ảnh của “dân riêng” kiêu căng, sở hữu đã dẫn đến bạo lực kỳ thị các dân tộc khác. Sự thật đã được chính Đức Giêsu khẳng định trước các thượng tế và người Pharisêu trong Tin Mừng Matthêu : “Bởi đó, tôi nói cho các ông hay : Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (Mt 21,43).

Vì thế, rất hiếm những người Do Thái như cụ già Simêon đã nhận ra ý muốn cứu độ mọi người, mọi dân tộc của Thiên Chúa, và chúc tụng Ngài khi được ẵm Hài Nhi Giêsu, trong ngày Hài Nhi chịu phép cắt bì : “Muôn lậy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân : Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ítraen Dân Ngài” (Lc 2,29-32).   

Qủa thực, Tin Vui chúng ta chờ mong trong muà Trông Đợi là tin vui Chúa thương mọi người, Chúa đến cứu mọi người, Chúa ban bình an cho mọi người, chứ không chỉ cho một số người, một đoàn thể, một tổ chức, một dân riêng ; Tin Mừng chúng ta trông mong trong Mùa Vọng là Tin Mừng Thiên Thần loan báo cho các mục đồng trong đêm Giáng Sinh : tin Thiên Chúa được vinh danh trên các tầng trời, và tất cả mọi người dưới thế được bình an trong ơn cứu độ của Ngài, nên sẽ không còn một dân riêng như ốc đảo được cứu rỗi giữa đại dương các dân tộc khác bị hủy diệt, cũng không còn một thiểu số ít ỏi được lên trời, còn bao nhiêu con người khác phải xuống hoả ngục. Trái lại, “lòng thương xót của Chúa trải qua đời này đến đời kia”, và ơn cứu độ sẽ đến với mọi tâm hồn, mọi nhà, mọi dân tộc.

Trong Cựu Ước, ngôn sứ Isaia đã được Thiên Chúa chỉ dậy đế báo trước : từ dòng dõi Đavít sẽ sinh ra Đấng cứu độ muôn dân : “Này Ta đặt Đavít làm nhân chứng cho các dân, làm thủ lãnh chỉ huy các nước. Này, ngươi sẽ chiêu tập một dân tộc ngươi không quen biết ; một dân tộc không quen biết ngươi sẽ chạy đến với ngươi…” (Is 55,4-5). Quây quần quanh Đấng Cứu Độ là Đức Giêsu, “dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi. Rằng : “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa… Người sẽ làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cầy, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” (Is 2,2-3.4).

Thực vậy, niềm trông đợi của muôn dân, Tin Vui cho toàn thể nhân loại đã được thực hiện khi “một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình” (Is 9,5).

Nếu ngôn sứ Isaia loan báo Tin Vui Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra từ dòng dõi Đavít, và ơn cứu độ của Ngài trải xa đến các dân tộc, nghiã là lòng thương xót của Ngài vượt ra ngoài biên giới, lãnh thổ dân riêng, thì ngôn sứ Giôna là ngôn sứ duy nhất Thiên Chúa sai đến với dân ngoại ở Ninivê vào thế kỷ thứ tám trước công nguyên, như sách các Vua đã ghi lại : “Chính vua đã thiết lập biên giới Ítraen từ Cửa Ải Khamát cho đến biển Arava, như lời Đức Chúa, Thiên Chúa của Ítraen, đã dùng tôi trung của Người là ngôn sứ Giôna, con ông Amíttai, quê ở Gát Khêphê, mà phán” (2 V 14,25).

Sách của ngôn sứ Giôna có thể được viết sau thời gian lưu đầy, khoảng giữa những năm 450 và 350 trước Công Nguyên. Nội dung cuốn sách là lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho dân ngoại, đặc biệt là dân ngoại ở Ninivê.

Giôna được Thiên Chúa gọi và sai đến Ninivê, lãnh địa của dân ngoại, “một thành phố lớn, và hô cho dân thành biết rằng sự gian ác của chúng đã thấu tới Ta” (Gn 1,2), nhưng Giôna không muốn đến với dân ngoại như bài sai của Thiên Chúa, nên “trốn đi Tácsít, tránh nhan Đức Chúa” (Gn 1,3). Ông xuống tầu trốn đi, với hy vọng khỏi phải đến Ninivê loan báo cho dân ngoại ăn năn, sám hối để khỏi bị Thiên Chúa hủy diệt. “Nhưng Đức Chúa tung ra một cơn gió to trên biển, và liền có một trận bão lớn ngoài khơi, khiến tầu tưởng chừng như sắp vỡ tan” (Gn 1,4). Và chỉ đến khi Giôna bị thủy thủ đoàn phát hiện đã “trốn đi để tránh nhan Đức Chúa”, và bị họ ném xuống biển thì biển mới lặng, sóng mới yên và tầu mới vào được đất liền.

Phần Giôna, “Đức Chúa đã khiến một con cá lớn nuốt ông”. Sau ba ngày trong bụng cá, ông được cá “mửa ra trên đất liền”. Từ đây, ông đi đến Ninivê, nơi ông được Thiên Chúa sai đến loan báo cho dân ngọai phải sám hối, ăn năn. Kết qủa là từ vua đến dân, “người và súc vật phải khóac áo vải thô và hết sức kêu cầu Thiên Chúa. Mỗi người phải trở lại, bỏ đường gian ác và những hành vi bạo lực của mình” (Gn3,8). “Thiên Chúa thấy việc họ làm, thấy họ bỏ đường gian ác mà trở lại, Người hối tiếc về tai họa Người đã tuyên bố sẽ giáng trên họ. Người đã không giáng xuống nữa” (Gn 3,10). 

Tin Vui của ngôn sứ Giôna là tin vui Thiên Chúa không bỏ dân ngoại, và đã làm mọi cách để họ ăn năn sám hối hầu được cứu sống.

Giôna là hình ảnh sống động của dân Do Thái hãnh tiến, kỳ thị đã không muốn ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với dân ngoại, nên đã kiếm cách thối lui, từ chối, trốn tránh để không phải đến với dân ngoại như Thánh Ý và bài sai của Thiên Chúa. Thái độ ương ngạnh, bực bội, khó chịu, và thi hành sứ vụ cách bất đắc dĩ của Giôna là thái độ cục bộ của dân riêng Ítraen, thái độ hoàn toàn không phù hợp với “Thiên Chúa từ bi nhân hậu, chậm giận và giầu tình thương, và hối tiếc vì đã giáng họa” (Gn 4,2). Chính Thiên Chúa ấy, Thiên Chúa của dân riêng, nhưng cũng là Thiên Chúa của dân ngoại và các dân tộc đã nói với Giôna khi ông nổi giận, bực tức “đến muốn chết đi cho rồi” vì cây thầu dầu có bóng mát che nắng cho ông ngồi nghỉ bị héo đi vì một con sâu cắn : “Ngươi, ngươi thương hại cây thầu dầu mà ngươi đã không vất vả vì nó, và không làm cho nó lớn lên ; trong một đêm nó đã sinh ra, rồi trong một đêm lại chết đi. Còn Ta, chẳng lẽ Ta lại không thương hại Ninivê, thành phố lớn, trong đó có hơn một trăm hai mươi ngàn người không phân biệt được bên phải bên trái, và lại có rất nhiều thú vật hay sao?” (Gn 4,10-11). Ý Chúa muốn nói đến hơn một trăm hai mươi ngàn em bé vô tội…

Thực vậy, Tin Mừng chúng ta đợi chờ, Tin Vui chúng ta ngóng đợi, chính là muôn dân được cứu rỗi, toàn thể nhân loại tội lỗi được Thiên Chúa thứ tha, xóa tội, và người được hưởng Tin Vui ấy, đối tượng được nhận Tin Mừng ấy chính là chúng ta vốn là dân ngoại, dân bên ngoài, dân xa lạ so với Ítraen là dân riêng, dân được tuyển chọn.

Là dân được đón nhận Tin Mừng Chúa xót thương nhân loại, dân tộc mới được cứu rỗi, chúng ta phải thay đổi cái nhìn đối với thế giới dân ngoại, thay đổi tâm tình với người anh em chưa biết Chúa, thay đổi thái độ đối với anh em trong các tôn giáo bạn, nhất là thay đổi trái tim chai đá, cằn cõi, khô héo, và thay bằng qủa tim bằng thịt hay chạnh lòng, giầu thương xót, từ tâm, nhân hậu, quảng đại, cởi mở với mọi người như trái tim của Đức Giêsu, Thiên Chúa Cứu Độ, Đấng chúng ta hằng trông đợi.

Jorathe Nắng Tím   

NGƯỜI CHO - KẺ NHẬN

 


     Có ai suốt đời chỉ cho hoặc nhận, mà không nhận và cho, bởi ai cũng có lúc cho, và lúc nhận, khi là kẻ nhận, khi là người cho, vì cho - nhận là hạnh phúc, và nghiã vụ của mỗi người suốt đời làm người.

Qủa thực, ai cũng phải nhận : nhận tình yêu và hy sinh trời bể của cha mẹ, anh chị em, vợ con, thân nhân, bạn hữu ; nhận lòng tốt và giúp đỡ của rất nhiều người, nhận kiến thức của cả loài người từ cổ chí kim, nhận thành qủa khoa học của vô số người tài giỏi, xuất chúng để đời sống mỗi ngày được bảo đảm an toàn, thoải mái, hạnh phúc hơn ; cả khi nhắm mắt chết rồi cũng còn nhận đươc từ nhiều người lời cầu nguyện, tâm tình lưu luyến, tiếc thương.

Bên cạnh niềm vui lãnh nhận, hạnh phúc được chia sẻ, con người còn niềm vui khác lớn hơn là cho đi, hạnh phúc sâu đậm hơn là trao ban, dâng hiến. Chúng ta có thể không nhận ra mình đang trao ban, khi tận tụy làm việc, âm thầm đóng góp công sức cho sinh hoạt vật chất, tinh thần cũng như tâm linh của nhiều người chúng ta thương, hoặc có bổn phận ; chúng ta cũng có thể không để ý đến những việc mình làm, tuy nhỏ bé, nhưng giúp nhiều người được hạnh phúc hơn, nhưng giá trị của trao ban, dâng hiến thì không bao giờ sút giảm hay mất đi, nhưng mang lại cho chúng ta niềm hạnh phúc, bình an sâu lắng.  

Tóm lại, sống là nhận lãnh và trao ban. Không có người chỉ cho mà không nhận, cũng chẳng có ai chỉ nhận mà không cho. Thiếu một trong hai, cuộc sống sẽ lệch lạc, mất quân bình, vì vô nghiã.

Vô nghiã khi tính liên đới ở con người không được thể hiện, phát triển ; vô nghiã khi tính xã hội bị ngộp thở, bức tử ; vô nghiã khi hạnh phúc tương trợ giữa người với người không có đất sống, và tất cả dồn con người vào tình trạng cô độc làm hao mòn, cạn kiệt sức sống, tàn phá khả năng sống hạnh phúc là mục đích của đời sống con người, bởi chỉ nhận mà không cho, chỉ cho mà không nhận, cả hai đều không đem đến hạnh phúc đích thực, và viên mãn.      

Nhưng Cho và Nhận thế nào?

Bởi có nhiều người cho như bố thí, cho như “hất vào mặt”, khi thái độ cho không biểu lộ lòng tôn trọng, không trân trọng người nhận và cũng chẳng trân qúy của được cho ; bởi có nhiều người cho cách lạnh lùng, lãnh đạm, thờ ơ, cho để được yên thân, cho để khỏi bị quấy rầy, phiền phức, cho để bỏ đi những gì không còn  cần thiết, bởi có nhiều người vừa cho vừa the thé kể lể công lao, vừa cho vừa bắt người nhận phải “phủ phục” trước công đức cao dầy của mình, vừa cho vừa kê hoá đơn, vừa cho vừa dậy bảo, lên lớp, dằn mặt người nhận…

Cho như thế không phải là cho, mà là bỏ đi những đồ mình không cần, khi coi người nhận như thùng rác để tha hồ vứt bỏ những đồ phế thải, hết xài.

Về phiá người nhận, có người nhận lòng tốt của người cho như nhận một tai ương, nhận một gánh nặng, khi tỏ thái độ không vui, nhưng khó chịu, bực dọc. Nhận món qùa nhỏ, không mấy có giá trị vật chất thì bĩu môi, lắc đầu khinh miệt người cho ; nhận món đồ không vừa ý thì giẫy nẩy kêu trời ; nhận qùa tặng không thích, thì sầm nét mặt, giận dỗi người cho.

Nhận như thế là nhận với tinh thần kẻ cả, vua chúa, khi cho rằng mọi người đều có bổn phận “triều cống”, biếu xén mình, vì mình là người nắm quyền sống chết trên mọi người. Nhận như vậy là nhận với trái tim kiêu căng coi người cho chẳng ra gì, và tặng vật không bao giờ xứng đáng, phù hợp với địa vị, vai vế của mình.

Đó là lý do nhiều người đã không muốn cho, lý do nhiều người đã thất vọng khi dấn thân làm từ thiện, mà trên mạng lúc này nhan nhản những câu chuyện được kể lại bởi những anh chị em trong các chương trình thiện nguyện đó đây, những câu chuyện làm cả người cho và người nhận đều “dở khóc dở cười”.

“Dở khóc dở cười” khi người cho bị người nhận hạch hỏi đủ điều, nào là tiền từ đâu, tại sao không cho mọi người đồng đều, sao không làm thế này thế kia, vân vân và vân vân? Chưa kể người cho còn bị người nhận gọi điện thoại, hay chặn xe hùng hổ, dữ tợn đe dọa…

“Dở khóc dở cười” khi người nhận bị người cho “hành tới bến” khi điều tra hết vòng ngoài đến vòng trong, hết qua tổ chức này đến tổ chức nọ trước khi được nhận đồ cứu trợ. Điều tra đã đành, nhưng có khi còn lên lớp, mắng nhiếc, thì qủa là khổ thân cho người nhận trong cảnh thiếu thốn cùng cực phải cắn răng cậy nhờ  sự giúp đỡ của người khác.

Nếu phải kể ra những chuyện “dở khóc dở cười” thì nhiều lắm, và có lẽ chẳng bao giờ hết chuyện để kể. Vấn đề ở đây là làm thế nào cả người nhận và người cho có thể hạnh phúc khi cho và nhận.

Chúng ta tạm để qua một bên số rất ít những người cho với mục đích ích kỷ, tìm tư lợi bất chính, theo kiểu “cho con tép để bắt con tôm”, còn lại phần đông khi làm thiện nguyện đều hướng đến một mục đích tốt, được thúc đẩy bởi động cơ tốt.

Khác với người cho, về phía người nhận, thì tâm tình và thái độ rất phức tạp, vì có người nhận luôn tự cho mình cái quyền phải được người khác giúp đỡ, cái quyền phải được người khác cho, cái quyền được hạch hỏi người cho, vì nghĩ rằng người cho đã nhân danh mình mà kiếm chác những mối lợi ngàn lần lớn hơn, đã lợi dụng cảnh khổ của mình mà đánh bóng tên tuổi, làm giầu ; lại có những người xem thường, coi nhẹ lòng tốt của người cho, khi nghĩ rằng : không cho mình, họ cũng cho người khác, nên không việc gì phải bận tâm, nặng lòng.

Suy nghĩ cho cùng, chúng ta sẽ thấy cả hai bên người nhân và người cho đều thiếu một Tình Yêu Biết Ơn. Đây là mấu chốt của mọi vấn đề, nguyên nhân của những câu chuyện “dở khóc dở cười” khi cho và nhận.

Nếu người cho có trong trái tim Tình Yêu Biết Ơn khi cho, người ấy sẽ không cho một cách trịch thượng, kẻ cả, cho nhưng thiếu tôn trọng người nhận, cho nhưng làm tổn thương người được cho, bởi Tình Yêu Biết Ơn nhắc cho họ công ơn của bao nhiêu người đã cho họ, từ tình yêu, sự sống, đến kiến thức, nghề nghiệp và cơ hội thành công. Tình yêu Biết Ơn sẽ nói cho họ đừng quên đời họ đã được làm nên nhờ lòng tốt và công sức của bao nhiêu người để họ được ở vào vị trí người cho hôm nay, nên việc làm cho đi, dâng hiến, trao ban của họ là hành động đền đáp, trả ơn những người đã cho họ, những ân nhân đã góp tình yêu, công sức, lao nhọc xây dưng đời họ, mà họ không được gặp lại để trực tiếp đền ơn, đáp nghiã. Cũng vì không được gặp lại tất cả những ân nhân đã làm ơn cho mình, mà họ phải biết làm ơn cho người khác là những người xa lạ, không quen biết, vì đó là nghiã vụ của tình yêu biết ơn.

Với tình yêu biết ơn khi cho đi, người cho sẽ không cho với kiểu cách của kẻ có quyền, nhưng với tâm tình của người chịu ơn, với thái độ của người đang làm nghiã vụ đền ơn những người đã làm ơn cho mình, bằng cách làm ơn, giúp đỡ  người khác. Và tâm hồn người cho sẽ tràn đầy hạnh phúc của tình yêu biết ơn.

Với người nhận, nếu tình yêu biết ơn ở trong tim, mắt người ấy sẽ nhìn thấy tình yêu trong tim  người cho, hy sinh trên đôi chân người cho khi vượt sông vượt núi, bất chấp nguy hiểm đến với họ nơi xa xôi, hẻo lánh, bão lụt ; nếu có tình yêu biết ơn ở trong tâm hồn, miệng người nhận sẽ không buông ra những lời ác độc vô ơn, nhưng thân thương huynh đệ ; nếu có tình yêu biết ơn trong đáy lòng, hạnh phúc sẽ lớn gấp bội, vì họ không chỉ nhận qùa tặng vật chất, mà còn nhận được chính trái tim ăm ắp tình yêu của người cho ; nếu có tình yêu biết ơn trong thái độ nhận lãnh, niềm vui sẽ tăng gấp ngàn lần, vì không niềm vui nào có thể so sánh với niềm vui khi biết mình được được yêu thương và được quan tâm chia sẻ, giúp đỡ.

Vâng, chúng ta rất cần tình yêu biết ơn trong cuộc sống, nhất là ở thời đại này, khi lòng biết ơn bị mất giá thảm hại, và tình yêu không còn là giá trị được mọi người trân qúy, gìn giữ. Nhưng rất tiếc, thiếu tình yêu biết ơn, đời sống không vui, không hạnh phúc, vì người cho kẻ nhận luôn làm tổn thương nhau, bắt nhau phải “dở khóc dở cười”, khi không yêu thương, biết ơn nhau, trong khi luật xã hội  không cho con người sống mà không biết cho và nhận, và niềm vui, hạnh phúc được làm người không đến với người chỉ nhận mà không cho, chỉ cho mà không nhận với tình yêu biết ơn người.  

Jorathe nắng Tím     

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

TRÔNG ĐỢI VÀ LÃNH ĐẠO

 


Trên hành trình dài Trông Đợi được vào Đất Hứa, dân Thiên Chúa đã luôn được Thiên Chúa ban cho những nhà lãnh đạo không chỉ để hướng dẫn, răn dậy, cảnh báo, mà còn để năn nỉ, van xin Thiên Chúa đừng nổi cơn thịnh nộ trừng phạt dân Ngài.

Suốt hành trình Vượt Qua cho đến khi vào Đất Hứa, và còn tiếp nối mãi cho đến Tân Ước, lịch sử của dân Chúa là chuỗi dài những biến cố vui buồn, những trung tín, phản bội, những mạnh mẽ, yếu nhược, những thăng trầm khôn lường với những nhà lãnh đạo cũng mang đủ tính cách đa diện và phức tạp. Ở đây, chúng ta tập trung vào con người lãnh đạo của Môsê, người mà Thiên Chúa chọn và được khen là “người hiền lành, khiêm nhường nhất trên đời” (Ds 12,3).

Môsê đã lãnh đạo dân trong một bối cảnh vô cùng khó khăn : đưa dân trốn khỏi đất nô lệ Ai Cập, và vất vả cùng dân thực hiện hành trình trông đợi Lời Hứa “được vào miền đất chảy sữa và mật” suốt bốn mươi năm.

Lãnh đạo ở hoàn cảnh không lãnh thổ ; lãnh đạo một dân trên đường vượt sa mạc thiếu thốn đủ thứ, mà tâm trạng còn luyến tiếc những ngày tháng tuy làm nô lệ khốn khổ nhưng có bánh có thịt dư thừa ở Ai Cập ; lãnh đạo một dân cứng đầu cứng cổ hay càm ràm, than thở, kêu trách, lại kiêu căng, phản bội, Môsê đã không lãnh đạo như những lãnh tụ  khác, nghiã là dùng quyền mà thống trị, dùng uy mà cai qủan, nhưng ông đã hoàn toàn dựa vào Thiên Chúa Giavê và khiêm tốn đứng chung hàng ngũ và chịu chung số phận với dân mình.

1.   Môsê đã lãnh đạo bằng hoàn toàn trông cậy vào Thiên Chúa Giavê qua Lời Hứa của Ngài :

Được Thiên Chúa chọn từ thân thế “không có gì đáng nói”, với khả năng được coi là “dưới trung bình”, Môsê biết mình bất xứng, bất tài khi thưa với Thiên Chúa : “Con là ai mà dám đến với Pharaô và đưa con cái Ítraen ra khỏi Ai Cập?” (Xh 311), nên Môsê đã hoàn toàn trông cậy vào Lời của Giavê Thiên Chúa hứa với ông : “Ta sẽ ở với ngươi” (Xh 3,12), và dấu chỉ cho ông biết ông được Thiên Chúa chọn chính là trên đường Trông Đợi, dân mà ông đưa ra khỏi Ai Cập sẽ được phúc thờ phượng Thiên Chúa, Đấng đã sai ông đi giải phóng họ. Và suốt hành trình Hy Vọng, trông đợi vào Đất Hứa ấy, Môsê đã luôn sống Lời Hứa của Thiên Chúa Giavê.

Sống Lời Hứa “Ta sẽ ở với ngươi”, Môsê đã không bao giờ rời xa Thiên Chúa, nhưng tìm mọi dịp để được “ở với Thiên Chúa, lắng nghe Thiên Chúa dậy bảo”, và trước những ngỗ nghịch, ngang tàng, bướng bỉnh, bất mãn nổi loạn của dân, như ở Mara, vì không thể uống được nước, vì nước ở đó đắng, họ đã kêu ca, trách móc ông : “Chúng tôi sẽ lấy gì mà uống?” (Xh 15,24), hay ở sa mạc Xin, giữa Êlim và Xinai, “toàn thể cộng đồng con cái Ítraen kêu trách ông Môsê và ông Aharon : “Phải chi chúng tôi chết bởi tay Đức Chúa trên đất Ai Cập, khi còn ngồi bên nồi thịt và ăn bánh thỏa thuê. Nhưng không, các ông lại đưa chúng tôi ra khỏi đó, mà vào sa mạc này, để bắt chúng tôi phải chết đói cả lũ ở đây” (Xh 16,2-3), Môsê đã luôn “kêu lên Đức Chúa, và Đức Chúa chỉ cho ông một khúc gỗ. Ông thả xuống nước và nước hoá ra ngọt” (Xh 15,25), và Đức Chúa phán với ông Môsê : “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn” (Xh 16,4).     

Sống Lời Hứa của Giavê, Môsê xác tín : Ítraen là dân của Lời Hứa, dân của Trông Đợi, nên chỉ Lời của Thiên Chúa Giavê mới bảo đảm thành công cho công cuộc Vượt Qua, chỉ Lời Thiên Chúa hứa mới đưa dân đến đích của hành trình Hy Vọng, và suốt đời làm lãnh đạo, Môsê đã một lòng một dạ tín thác vào Lời Hứa “Ta sẽ ở cùng ngươi” của Thiên Chúa, và vì có Thiên Chúa ở cùng, Môsê đã không sợ dân, mị dân, nhưng chuyển đạt Thánh Chỉ của Chúa cho dân, và thẳng thắn  cảnh cáo, răn đe dân, khi dân đi ngược Thánh Chỉ của Giavê Thiên Chúa (x. Xh 19-20).  

2.   Môsê đã lãnh đạo bằng chia sẻ tất cả với dân và chịu chung số phận của dân :

Không như các lãnh tụ khác với chế độ đặc biệt từ ăn uống đến ăn ở ; không như các lãnh chúa bắt thần dân phải hầu hạ, phục dịch tận răng, Môsê là người khiêm hạ phục vụ : phục vụ từ tâm tình yêu thương và xót xa yếu đuối của dân, khi phủ phục nài xin Thiên Chúa tha thứ những lỗi lầm, tội lỗi của dân (x. Xh 34,8-9) đến tâm tình cùng thống hối, ăn năn với dân và nhận hết tội cũng như hình phạt về mình, vì thương dân khi thân thưa với Thiên Chúa : “Than ôi, dân này đã phạm một tội lớn! Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng! Nhưng giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ! Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn sách Ngài đã viết” (Xh 32,32).

Tuy được Thiên Chúa chọn làm lãnh đạo dân Ngài với sứ vụ rất khó khăn, nhưng Môsê đã không tư phụ nghĩ rằng mình thủ đắc Thiên Chúa, hoặc dựa hơi Thiên Chúa, ỷ mình là người được Thiên Chúa nâng lên hàng khanh tướng để bóc lột, đàn áp, hành hạ dân, hay lên mặt hống hách, cửa quyền, độc đóan, độc tài, xây dựng thế lực, quần thần, lính lác để bảo vệ ngai vàng, bảo toàn ngôi báu. Trái lại, như bao người dân trên đường Trông Đợi khác, Môsê đã sống đời người lữ hành trên đường hy vọng vào Lời Hứa của Giavê Thiên Chúa, Lời Hứa với toàn dân, Lời Hứa với các tổ phụ, cha ông, Lời Hứa cho muôn muôn thế hệ.

3.    Sự cần thiết của lãnh đạo trên hành trình Trông Đợi :

Sách Xuất Hành ghi rõ lý do dân đã rủ nhau đúc bò vàng để thờ : “Dân thấy ông Môsê lâu qúa không xuống núi, bèn tụ họp bên ông Aharon và nói với ông : Xin ông đứng lên, và làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Môsê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ đất Ai Cập” (Xh 32,1).  

Môsê lên núi gặp Thiên Chúa, và vì thời gian khá lâu chưa xuống núi, dân chúng đã hoang mang, lại thêm khuynh hướng xấu như Aharon đã nói về dân với Môsê khi Môsê nổi giận vì  Aharon đã cùng dân đúc bò vàng : “Xin ngài chớ bừng bừng nổi giận ; chính ngài biết : dân này có khuynh hướng xấu” (Xh 32,22).

Sự vắng mặt của Môsê đã phần nào làm dân mất tinh thần, khi không biết mình sẽ đi đâu, sẽ làm gì, nhất là không có Môsê, dân không còn nghĩ đến Giavê Thiên Chúa là Đấng đã dẫn họ ra hỏi Ai Cập. Ngay cả Aharon là phụ tá của Môsê cũng không đủ bản lãnh để hướng dẫn dân theo đúng Thánh Chỉ của Thiên Chúa, và không đủ cương nghị để cầm cân nẩy mực như một nhà lãnh đạo “một tay nắm chặt tay Thiên Chúa, một tay nắm chặt tay dân”. Trái lại, chính Aharon đã để dân lôi cuốn và đứng ra tổ chức công trình đúc bò vàng và lập bàn thờ trước bò vàng (x. Xh 32,2-6).  

Thưc vậy, Thiên Chúa cần người lãnh đạo dân Ngài trên đường trông đợi Lời Hứa. Nhưng Ngài cần những lãnh đạo biết lắng nghe, có lòng khiêm tốn, thương xót và có trách nhiệm, bởi thiếu những người lãnh đạo thuộc về Thiên Chúa biết lắng nghe Ngài, những người lãnh đạo khiêm hạ dám đứng chung hàng ngũ với dân, những người lãnh đạo có trách nhiệm và  giầu lòng xót thương sẵn sàng chịu chung số phận của dân, dân Chúa trên đường trông đợi Lời Hứa sẽ rơi vào tình trạng thay vì “hiền lành và khiêm nhường” cùng mọi người đi tìm Thiên Chúa lại kiêu căng, ngạo mạn, kỳ thị, tẩy chay người khác, vì nghĩ mình độc quyền “nắm gọn” Thiên Chúa ; thay vì chuyên chăm sống Lời Hứa lại bàng quan, nhởn nhơ, phất phơ theo kiểu “sống sao cho đẹp đội hình”, nặng phần trình diễn, phô trương thành qủa, biểu dương lực lượng ; thay vì phấn đấu vượt qua thử thách, lại đi tìm cái dễ, cái nhàn ; thay vì hy vọng lại thất vọng vì nhiều thách đố, lực cản ; thay vì bước đi như người lữ hành hy vọng tiến về Lời Hứa, lại ươn lười, hưởng thụ bằng dừng chân, bám trụ, cắm rễ, dựng pháo đài ngàn năm, xây tháp ngà vĩnh cửu.

Vâng, Thiên Chúa ban cho dân Ngài trên hành trình trông đợi những người lãnh đạo để dân Chúa luôn nhớ mình là đoàn lữ hành còn đang trên đường về Đất Hứa. Người lãnh đạo tốt lành của Thiên Chúa không thể bỏ quên sứ vụ nhắc nhở dân căn tính trông đợi của họ, bởi rời xa căn tính này, dân sẽ hoang mang, mất tinh thần như Ítraen xưa đã mất phương hướng trong sa mạc là Lời Hứa của Thiên Chúa Giavê. Vì thế, họ đã đúc bò vàng làm thần dẫn đầu họ (x. Xh 32,23-24).

Xin Chúa ban cho chúng con những nhà lãnh đạo thánh đức biết lắng nghe Chúa và gắn bó yêu thương, chia sẻ, chịu đựng với dân trong tất cả trên hành trình trông đợi ngày giờ Chúa đến trong vinh quang. 

Jorathe Nắng Tím

TRÔNG ĐỢI VÀ TRỞ VỀ

 

Hành trình trông đợi Lời Hứa của Thiên Chúa không chỉ là những bước đi về phía trước, nhưng còn là những bước trở về, trở lui, trở lại với Thiên Chúa, Đấng đã ban Lời Hứa.

Ítraen đã làm chứng điều này qua những năm tháng dài trong sa mạc trên đường trông đợi vào Đất Hứa. Con đường dài nhiều vất vả, gian nan đã làm họ không luôn thẳng tiến, nhưng do dự, nghi nan, bất mãn, nổi loạn, phản bội Thiên Chúa Giavê, Đấng đã đưa họ lên từ miền đất nô lệ Ai Cập.

Sau lần toàn dân cùng Aharon đúc bò vàng thay thế Thiên Chúa Giavê và lập bàn thờ trước bò vàng “để dâng tiến những của lễ toàn thiêu và những lễ vật kỳ an” (Xh 32,6), Môsê đã không ngớt kêu gào dân hãy trở về với Thiên Chúa, ấn tượng nhất là viễn tượng lưu đầy mà Môsê đã thẳng thắn cảnh báo dân, nếu họ từ bỏ Thiên Chúa Giavê :

1.   Môsê đã nhận ra những dấu chỉ về cuộc lưu đầy :

Môsê biết rõ “dân này là một dân cứng đầu cứng cổ”, nên đã không ngại lên tiếng cảnh cáo : “Giữa anh em, đừng có người nào, nam hay nữ, đừng có dòng họ hay chi tộc nào nào mà hôm nay trở lòng, trở mặt với Chúa, Thiên Chúa chúng ta, mà đi phụng thờ các thần của những dân tộc ấy. Giữa anh em, đừng có thứ rễ độc sinh trái độc và qủa đắng. Nếu kẻ nào, khi nghe các lời thề nguyền này, lại tự chúc phúc cho mình trong lòng và nói : Tôi sẽ được bình an, cho dù tôi cứ sống theo lòng chai dạ đá của tôi ; như thể đất được tưới không khác gì đất khô cằn ; nếu kẻ nào làm thế, thì Đức Chúa sẽ không muốn tha cho nó ; bấy giờ cơn giận và lòng ghen tương của Đức Chúa sẽ bốc lên phạt người ấy… và Đức Chúa sẽ xóa tên nó không còn dấu vết trong thiên hạ” (Đnl 29,17-19).

Và những dấu chỉ của hình phạt sẽ là “những vết thương của miền đất này và những bệnh tật Đức Chúa giáng xuống trên đó… Cả miền đất chỉ là diêm sinh, muối và lửa, không ai gieo vãi, không chi nẩy chồi, không cọng cỏ nào mọc lên, giống như cảnh tàn phá ở Xơđôm, Gômôra, Átma và Xơvô-gim, những thành mà Đức Chúa đã phá đổ trong cơn thịnh nộ và lôi đình của Người” (Đnl 29,21-22).        

Thực vậy, hơn ai hết, Môsê thấy trước viễn tượng lưu đầy của dân, vì ông biết qúa rõ những phản phúc của Ítraen, cũng như khuynh hướng phản bội Giavê của họ khi buông thả “chung chạ” với dân ngoại ; cũng hơn ai hết, ông biết Thiên Chúa Giavê là Thiên Chúa trung tín nhưng ghen tương. Ngài không chấp nhận dân Ngài trở mặt chối bỏ Ngài và đi thờ ngẫu thần vô tri, vô giác.

Với Thiên Chúa, chỉ có hai con đường : một là yêu mến Ngài, đi theo đường lối, tuân giữ mệnh lệnh, thánh chỉ, quyết định của Ngài để được sống, được thêm đông đúc, được chúc phúc trong miền đất Ngài hứa ban ; hai là thay mặt đổi lòng và không vâng nghe, lại bị lôi cuốn và qùy lậy, phụng thờ các thần khác, để bị diệt vong (x. Đnl 30,15-18). Ngay cả Môsê và Aharon cũng bị Thiên Chúa quở trách, “bởi vì giữa con cái Ítraen, các ngươi đã không trung thành với Ta tại mạch nước Mơriva ở Cađê, trong sa mạc Xin, và bởi vì các ngươi đã không biểu lộ sự thánh thiện của Ta giữa con cái Ítraen, nên ngươi chỉ được thấy đất ấy từ xa, chứ không được vào đất Ta ban cho con cái Ítraen” (Đnl 32,51-52).     

Tóm lại, điều làm Thiên Chúa thịnh nộ chính là không tin vào Ngài, không tin vào sự trung tín, thánh thiện của Ngài, khi nghi ngờ Lời Ngài hứa, và không dám biểu dương lòng trung tín với Ngài trước mặt muôn dân, như chính Ngài đã khiển trách hai nhà lãnh đạo Môsê và Aharon : “Bởi vì các ngươi đã không tin vào Ta để biểu dương sự thánh thiện của Ta trước mắt con cái Ítraen” (Ds 20,12). 

2.   Môsê đã tha thiết kêu gọi Ítraen hãy liên lỉ trở về với Giavê Thiên Chúa :

Nếu hành trình trông đợi đòi phải tiến lên không ngơi nghỉ, thì cùng lúc hành trình trông đợi đòi liên lỷ trở về với Đấng ban Lời Hứa để hình thành con đường trông đợi.

Thi hành sứ vụ lãnh đạo dân Chúa trên đường về Đất Hứa, tức cùng với dân thực hiện hành trình trông đợi Lời Hứa, Môsê thấm thiá ý nghiã của đòi hỏi phải liên lỉ trở về với Thiên Chúa Giavê, dù trông đợi là phải đi tới, phải không ngừng tiến lên phiá trước, bởi ông thâm tín rằng con đường tìm gặp Thiên Chúa, chính là con đường trở về với Ngài, đường tiến lên hoàn thiện là đường trở lại với Thiên Chúa giầu lòng xót thương, vì bất cứ con đường nào mang dấu chân người, bất cứ bước chân đi tới, tiến lên nào của con người cũng đều mang dấu vết của phản bội, dấu ấn của tội lỗi, dấu tích của sa ngã, yếu đuối, vì đường nào cũng cam go, bước chân nào cũng vất vả, nên khi gặp hoàn cảnh khó khăn, trên những cây số cheo leo, hiểm trở, người ta thường đối phó bằng tìm cách rẽ sang một con đường “dễ dãi, buông thả, an ủi” khác, mà không còn trung thành đi trên con đường trông đợi Lời Hứa nữa. Điều này qúa tự nhiên, vì trong mọi hoàn cảnh, bản năng sinh tồn luôn xúi ta làm như thế, mà bản năng này lại luôn đi tìm thoả mãn những đam mê, ham muốn xác thịt.

Do đó, con đường trông đợi đòi người lữ hành phải trung tín với chọn lựa ban đầu, như dân Chúa phải trung thành trên đường trông đợi Đất Hứa, chứ không nay thay đường, mai đổi hướng, để rồi đi lạc vào vùng đất chết, vào miền đất bị nguyền rủa, chúc dữ, thay vì đến miền đất “chảy sữa và mật”, đất mà Thiên Chúa đã dành sẵn cho dân Ngài.

Khi kêu gọi dân trung tín với Giao Ước Thiên Chúa đã ký kết với dân Ngài, Môsê đưa ra cho dân bí quyết để sống lòng trung tín với Thiên Chúa Giavê, đó là liên lỉ trở về với Ngài :

a.   Liên lỉ trở về bằng lắng nghe :

Sở dĩ Môsê đã luôn đi trên con đường Thiên Chúa muốn, vì ông luôn biết lắng nghe Thiên Chúa. Ngay từ buổi đầu khi được Thiên Chúa gọi, ông đã luôn chăm chú lắng nghe Ngài nói (x. Xh 3,1-13), và suốt cuộc đời với sứ vụ đưa dân ra khỏi Ai Cập về Đất Hứa, Môsê đã không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa để được lắng nghe Ngài chỉ dậy, bảo ban.

Sách Xuất Hành tường thuật chi tiết những lần Môsê một mình lên núi tìm Thiên Chúa để thân thưa về chuyện dân Ngài, và lắng nghe Ngài dậy bảo những việc phải làm, những lỗi lầm phải sửa, những chương trình phải thực hiện. Với Môsê, việc quan trọng nhất của sứ vụ lãnh đạo là lắng nghe Thiên Chúa dậy để làm theo Thánh Ý Ngài.

b.  Liên lỉ trở về bằng phụng thờ Thiên Chúa :

Điều này không cần phải chứng minh, vì ai cũng biết sứ mạng giải phóng dân của Môsê gắn liền với sứ mạng thờ phượng Thiên Chúa, như Thiên Chúa đã phán với ông khi trao cho ông sứ mạng : “Ta sẽ ở với ngươi. Và đây là dấu chỉ cho ngươi biết là Ta đã sai ngươi : khi ngươi đưa dân ra khỏi Ai Cập, các ngươi sẽ thờ phượng Thiên Chúa trên núi này” (Xh 3,12).

Vì thế, tội lớn nhất mà dân Chúa đã phạm chính là “trở lòng và không vâng nghe, lại bị lôi cuốn và sụp xuống lậy các thần khác và phụng thờ chúng” (Đnl 30,17) ; tội nặng nhất mà Ítraen đã xúc phạm đến Giavê Thiên Chúa là đã đúc tượng con bê, rồi “dựng bàn thờ trước tượng con bê”, rồi xì xụp bái lậy nó như đức chúa của mình (x. Xh 32,1-6).

Chúng ta có thể nói Giavê Thiên Chúa đã tuyển chọn Ítraen để làm thành một “dân thờ phượng”. Môsê đã tiếp nối ơn gọi của Ápraham là tập hợp cho Chúa một dân thờ phượng. Ngài bảo Môsê nói với Pharaô : “Hãy thả con Ta ra để nó đi thờ phượng Ta” (Xh 4,23), bởi Ngài đã coi Ítraen là “một vương quốc tư tế, một dân thánh” của Ngài (Xh 19,6).

Và điều đã đúng trong Cựu Ước cũng đúng trong Tân Ước, khi ơn gọi của Giáo Hội và ơn gọi thờ phưọng Chúa là một, bởi ngay từ khi thiết lập Giáo Hội, Đức Giêsu đã muốn Giáo Hội là một cộng đoàn phụng tự, và Giao Ước mới đã được ký kết trong nghi lễ Tạ Ơn cho cộng đoàn Mười Hai tông đồ, và Ngài truyền cho các ông : “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22,19), để rồi bất cứ ở đâu có Giáo Hội, ở đó có “thờ phượng, phụng tự”. Hình ảnh hai môn đệ trên đường Emmau đã nhận ra Đức Giêsu khi “Ngài cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ” (Lc 24,30) và sách Công Vụ các Tông Đồ ghi lại rất rõ sinh hoạt phụng tự của cộng đòan tín hữu đầu tiên ở Giêrusalem : “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dậy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2,42) đã nói lên ơn Gọi thờ phượng này của Giáo Hội.

Thực vậy, con đường trông đợi cũng là con đường trở về với Thiên Chúa là Đấng chúng ta trông đợi, bởi Ngài hiện diện với Lời Hứa đang thành hình, Ngài có mặt ở Lời Hứa trên hành trình hy vọng trông đợi. Ngài ở với Lời Hứa để bảo đảm Lời Hứa, Ngài đồng hành với Lời Hứa để thực hiện Lời Hứa, Ngài là chính Lời Hứa để Lời Hứa mang ơn Cứu Độ, chuyển tải Tình Yêu của Ngài.

Trở về với Thiên Chúa đang khi trông đợi Lời Hứa của Thiên Chúa, để niềm trông đợi không lệch hướng, lạc đường ; trở lại với Thiên Chúa đang khi hy vọng ở Lời Hứa được Thiên Chúa ủi an, thương xót, được làm con Thiên Chúa và diện kiến Ngài, được Nước Trời làm gia nghiệp, được phần thưởng lớn lao dành sẵn trên trời.

Có trở về, trở lại liên lỉ với Ngài trên đừơng trông đợi Lời Hứa, chúng ta mới không bỏ Chúa khi túng bấn nghèo nàn, khi bị đời bạc đãi, hành hạ ; mới không nản chí xa đường Hy Vọng, rẽ sang con đường khác khi chính người mình thương yêu, cưu mang, xây dựng lại trở mặt vô ơn, lật kèo, phản bội; mới không thất vọng đốt cháy niềm trông đợi khi bị thiên hạ khinh chê, “sỉ vả, vu khống đủ điều xấu xa” (x. Mt 5,2-12). 

Ước gì không người Kitô hữu nào bỏ quên ơn gọi của mình là gắn bó, kết hợp với Chúa trên hành trình trông đợi Lời Thiên Chúa hứa, để liên lỉ trở về bằng lắng nghe, thờ phượng Ngài.

Jorathe Nắng Tím   

TẤT CẢ LÀ ANH EM VỚI NHAU

 


Tông Huấn Fratelli Tutti “Tất cả là anh em” của Đức Thánh Cha Phanxicô, được ký ngày 3, tháng 10, năm 2020 dựa trên Tin Mừng Matthêu : “Phần anh em thì đừng để ai gọi mình là ‘ráp-bi’, nghiã là thầy, vì anh em chỉ có một thầy ; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Kitô. Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em” (Mt 23,8-11).

Đây là Tông Huấn đề cập đến tình huynh đệ và tình bạn hữu đăt trên nền tảng Tin Mừng của Đức Giêsu, được coi như phương thức cần thiết để xây dựng một thế giới  công bằng, hoà bình và hạnh phúc hơn, với nỗ lực của mọi người, mọi quốc gia, dân tộc, vì thế giới là một gia đình.

Tông Huấn trình bầy hiện trạng của một thế giới khép kín, một “văn hoá xây tường”, một chính sách thương trường lợi nhuận, một chủ nghiã phân biệt, bất bình đẳng, và nêu ra những bế tắc là hậu qủa không thể tránh, và hình ảnh người Samari nhân hậu trong Tin Mừng Luca được nêu cao như tấm gương đem lại niềm hy vọng cho thế giới đang đánh mất dần giá trị huynh đệ và vô cảm trước đau khổ, quẫn bách, thử thách của anh em.

Người viết không có ý đi sâu vào Tông Huấn, mà  chỉ dừng lại ở đọan Tin Mừng, ở đó, Đức Thánh Cha đã chọn tựa đề cho Tông Huấn, và mang đến cho Tông Huấn một tinh thần.

Đọan Tin Mừng nằm trong bối cảnh “Đức Giêsu khiển trách những kinh sư và người Pharisêu” về lối sống thích làm cha thiên hạ, và thái độ kiêu căng, trịch thượng, phô trương, khoe khoang kệch cỡm, đạo đức giả, nói mà không làm, thích được mọi nguời trọng vọng, khúm núm thưa bẩm, nhất là “được thiên hạ gọi là ráp-bi” của các ông (x. Mt 23,1-7).

Đọan Tin Mừng còn được coi như tiền đề dẫn vào một chuỗi dài những lời khiển trách nặng nề : “Khốn cho các ngươi, hỡi kinh sư và người Pharisêu giả hình!”, mà Đức Giêsu đã thẳng thẳn, nghiêm khắc lên án thành phần chức sắc tôn giáo lúc bấy giờ (x. Mt 23,13-36).  

Qủa thực, chưa có khi nào Đức Giêsu đã nặng lời với ai như đã nặng lời với  những kinh sư và người Pharisêu mà Tin Mừng Matthêu đã kể lại. Điều này nói lên mức độ nặng nề của tội kiêu căng và lối sống “đè đầu” người khác, nhất là người khác ấy lại là những người nghèo hèn, yếu đuối, cô thân cô thế, không được ai bảo vệ, che chở.

Chính vì thế, đọan Tin Mừng đã mang giá trị của một kết luận, đồng thời đề ra một đường lối mới cho mọi người. Kết luận đó là : chúng ta có chung Thiên Chúa là Cha, là Thầy ở trên trời, và tất cả chúng ta là anh em với nhau. Đường lối mới là chúng ta không được đối xử với nhau như chủ với tớ, như vua chúa với quần thần, như lãnh tụ với bầy tôi, như “cha chú” với lính lác, thuộc hạ. Trái lại, vì tất cả đều là anh em chung một Cha, một Thầy, nên tất cả phải yêu thương, phục vụ nhau trong khiêm tốn của tình huynh đệ, bởi phần thưởng, cũng như hình phạt cho tất cả đã được Cha trên trời quy định theo nguyên tắc, tiêu chuẩn : “Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (Mt 23,12).

Khi đọc đọan Tin Mừng trên, nhiều người thở dài, chép miệng, đưa mắt nhìn nhau như thầm bảo : “Chúa trách, Chúa mắng, Chúa dậy, nhưng có ai làm đâu”, vì tình trạng tiêu cực mà Chúa lên án vẫn tồn tại từ hơn hai ngàn năm nay, và ngày càng  lan rộng đến độ chẳng ai còn muốn quan tâm, và coi như chuyện bình thường, không việc gì phải ầm ĩ, kẻo “làm phiền hàng xóm”,… để rồi rơi vào một tình thế “chẳng đặng đừng” là tìm cách cắt nghiã, chú giải sao cho nhẹ nhàng, bớt căng thẳng, tránh gây chấn động…

Nhưng không vì thế mà chúng ta được phép tránh né vấn đề, khi lương tâm Kitô hữu mời gọi chúng ta đặt mình trước đòi hỏi của Đức Giêsu, cũng như lời nhắc nhở của Đức Thánh Cha, bằng truy tìm sâu sa  hơn ý nghiã của sứ điệp : “Tất cả là anh em với nhau” :

1.   Chúng ta là anh em với nhau trong Đức Giêsu :

  Đức Giêsu đã xuống thế làm người giữa chúng ta trong cương vị “Con Một của Chúa Cha”, nên chúng ta được là em của Đức Giêsu, bởi chúng ta có chung  một  Cha với Ngài. Nói cách khác, nhờ Đức Giêsu đã làm người trong tương quan Cha - Con với Chúa Cha, mà loài người chúng ta được hạnh phúc đi vào tương quan Anh - Em với Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa.

Như thế, Thiên Chúa Cha không chỉ ban cho loài người Đấng Cứu Độ, mà còn ban cho mỗi người một Người Anh lớn, tên là Giêsu, như lời thánh vịnh : “Người sẽ thưa với Ta : Ngài chính là Thân Phụ… Phần Ta, Ta sẽ đặt Người làm Trưởng Tử cao cả hơn vua chúa trần gian” (TV 88,27-28). “Thật vậy, có bao giờ Thiên Chúa đã phán cùng vị thiên thần nào : Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con hoặc là: Ta sẽ là Cha Người, và chính Người sẽ là Con Ta. Khi đưa Trưởng Tử vào thế giới loài người, Thiên Chúa lại nói : Mọi thiên thần của Thiên Chúa phải thờ lậy Người” (Dt 1,5-6).    

Chính Đức Giêsu cũng khẳng định : “Ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi...” (Mt 12,50). “Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giêsu, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là anh em, khi nói : Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương” (Dt 2,11-12), và những ai Thiên Chúa “đã biết từ trước, thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,30).   

2.   Chúng ta là anh em với nhau vì là chi thể của một Thân Thể duy nhất :

Tự nhận mình là người Kitô hữu, là đạo dòng, đạo gốc, chức sắc, mà không sống với người khác như anh em thì qủa là một thiếu sót lớn, nếu không muốn nói là phản Tin Mừng, vì Tin Mừng không chủ trương chọn ra một số “siêu nhân” để cai trị đa số phàm nhân, không cổ xúy, ủng hộ một Giáo Hội nặng nề vì giai cấp, chức tước, thứ bậc, hay bỏ phiếu cho một đường lối cai trị kiểu vua chúa thời phong kiến, nhưng Tin Mừng là Đức Giêsu, Đấng đến thế gian với sứ vụ “phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,28), và Ngài đã hoàn thành sứ vụ đó khi giang tay chết trên Thánh Giá để trở nên Của Lễ chuộc tội nhân loại.

Vì thế, dù có nguỵ biện thế nào, lắt léo giải thích làm sao, dẫn giải dài dòng đến đâu đi nữa, chúng ta cũng phải trở về với chính Đức Giêsu là Tin Mừng để chân nhận : làm người Kitô hữu không phải để làm cha thiên hạ ; làm môn đệ Đức Giêsu không phải để thống trị thiên hạ, bắt thiên hạ phục dịch, hầu hạ mình, nhưng làm người có đạo để trở thành người tôi tớ phục vụ anh em như Đức Giêsu đã “mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2,7-8) ; đi theo Đức Giêsu không phải để cai trị kiểu các lãnh tụ thế gian, nhưng  để noi gương và cùng Ngài qùy xuống rửa chân cho anh em, và sẵn sàng làm người nhỏ nhất để phục vụ mọi người.

Trước những bon chen, đấu đá tìm chỗ đứng, chỗ ngồi, vinh danh, vinh dự trong Giáo Hội ở buổi đầu, thánh Phaolô đã lấy hình ảnh Thân Thể để khuyên dậy các tín hữu đón nhận nhau như anh em và sống tình huynh đệ trong Đức Giêsu là Đầu của Thân thể mầu nhiệm là Giáo Hội : “Ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy” (1 Cr 12,12). Nghiã là một khi đã thuộc về Đức Giêsu, trở thành người Kitô hữu, chúng ta phải ăn ở “hiệp thông, hiệp nhất” với mọi người như các chi thể, các bộ phận của cùng một thân thể. Các chi thể, bộ phận ấy tuy làm những nhiệm vụ khác nhau, ở những vị trí khác nhau, nhưng  liên đới chặt chẽ, ảnh hưởng trên nhau, “không có chia rẽ trong thân thể, trái lại, các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cũng đau. Nếu một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cũng vui chung” (1 Cr 12,25-26).

Những thái độ “ích kỷ, đi riêng, tiêu lòn, ăn mảnh, co cụm, cục bộ” trong đời sống đạo sẽ giống như chi thể ngang ngược, kiêu căng nào đó nghĩ mình có thể tồn tại mà không cần đến các chi thể khác. Đó là những thái độ tiêu cực, có hại cho “hiệp thông, hiệp nhất” là bản chất của người Kitô hữu. 

3.   Chúng ta là anh em với mọi người, qua sứ vụ loan báo Tin Mừng :  

Thiên Chúa không chỉ tạo dựng và cứu chuộc riêng một cá nhân, một nhóm, một thành phần, hay một giai cấp nào, nhưng tạo dựng loài người, và cứu chuộc mọi người. Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu cũng không của riêng ai, nhưng cho mọi người, được loan báo cho muôn dân, mọi nơi, mọi thời như lệnh lên đường của Đức Giêsu : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dậy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19).

Khi sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, Đức Giêsu đã truyền cho các ông dậy bảo muôn dân tất cả những gì các ông đã lãnh nhận từ Ngài, nghiã là chia sẻ với mọi người tất cả những gì các ông đã thấy, đã nghe, đã học, đã trải nghiệm, đã nhận lãnh ở Đức Giêsu, và làm cho họ trở nên môn đệ của Ngài như các ông đang là môn đệ.

Nói cách khác, khi loan báo Tin Mừng và làm cho muôn dân đón nhận Đức Giêsu, chúng ta không giữ lại cho mình bất cứ sự gì đã nhận được từ Đức Giêsu, vì tất cả là hồng ân được ban “nhưng không”, nên cũng phải được cho đi “nhưng không”, khi chia sẻ tất cả với mọi người, vì người được loan báo Tin Mừng thông dự quyền trở thành môn đệ như người loan báo, và người được rao giảng cũng “đồng vị, đồng đẳng” trong cung lòng Thiên Chúa như người rao giảng. Điều đó nói lên ý muốn của Đức Giêsu là chúng ta phải đến với mọi người như anh em, cư xử với mọi người trong tình huynh đệ để chia sẻ, mà không bố thí, để hiệp thông mà không áp đặt, để đồng hành mà không khống chế, ép buộc.

Một lý do khác nữa, đó là  tình yêu thương dành cho anh em đồng loại được Thiên Chúa dùng làm thước đo lòng yêu mến Ngài (x. Mt 22,34-40).

Thực vậy, với người đồng đạo, chúng ta là anh em vì chung “một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha”, và với người không cùng đạo, chúng ta cũng là anh em với họ, vì chúng ta được sai đến với họ để làm cho họ trở thành môn đệ, nghiã là chúng ta đã là anh em với họ trong sứ vụ và trong niềm hy vọng sẽ được chung “một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha”. Vì thế tâm tình và thái độ chúng ta cần phải có với cả người đồng đạo và người khác đạo là tâm tình và thái độ huynh đệ chân thành, tôn trọng, chia sẻ : Huynh đệ chân thành để không coi ai như thù địch, trái lại, nâng đỡ, “khuyên bảo như anh em” (2 Tx 3,15) ; chân thành huynh đệ để củng cố đức tin của anh em mình nên vững mạnh (x. Lc 22,32) ; huynh đệ tôn trọng để không coi thường, khinh miệt, làm tổn thương nhau, “nhưng gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành, thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình” (Rm 12,9-10) ; huynh đệ chia sẻ để “vui với ai mừng vui, khóc với ai đang khổ sầu” (Rm 12,14).  

Có được tinh thần huynh đệ, tình nghiã anh em, chúng ta sẽ không còn đặt nặng chuyện xưng hô thế nào cho phải phép, vì chuyện xưng hô có phải phép hay không hoàn toàn tùy thuộc vào tinh thần, tâm tình, và thái độ chúng ta có với nhau, đó là tinh thần huynh đệ như Thiên Chúa muốn, là tâm tình anh em của Tin Mừng, là thái độ tôn trọng, cảm thông, chia sẻ như Chúa dậy.

Bởi nếu có tinh thần huynh đệ, thì dù có gọi nhau thế nào, xưng hô với nhau làm sao, chúng ta vẫn không ra ngoài tâm tình của những người con cùng một Cha trên trời ; nếu có tình nghiã anh em, thì người được gọi là cha, hay kẻ được gọi là con cũng vẫn hạnh phúc trong tình yêu của những người môn đệ cùng một đức tin ; nếu đối xử với nhau chân tình như chi thể của một thân thể, thì anh cũng như em, tất cả đều tràn đầy niềm vui bởi được chia sẻ cùng một tấm bánh, một hành trình đức ái, một sứ vụ loan báo Tin Mừng, một vinh dự làm chứng Đức Giêsu.

Jorathe Nắng Tím


Thứ Ba, 10 tháng 11, 2020

YẾU ĐUỐI CỦA THIÊN CHÚA (Dẫn nhập)

CON CÁI TỰ DO CỦA THIÊN CHÚA

 



Tin Mừng của Đức Giêsu là Tin Mừng giải phóng, vì Đấng là Tin Mừng chính là Đấng Cứu Độ, Đấng loan báo Tin Mừng là Đấng giải cứu, mà sứ vụ của Ngài là mang lại Tự Do cho mọi người, khi “loan Tin Vui cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, và công bố năm hồng ân xóa nợ của Chúa cho mọi người” (Lc 4,18-19).

Như thế, không ai có thể chối cãi Đức Giêsu là nhà giải phóng, không những giải phóng người cùng khổ khỏi cảnh bị khinh miệt, bóc lột, tù nhân khỏi xiềng xích giam cầm, người đau ốm khỏi trói buộc của bệnh tật, nhưng còn giải phóng con người khỏi ách thống trị của thần dữ, khỏi gánh nặng vô song của tội lỗi và khỏi nỗi lo sợ triền miên, kinh hoàng của sự chết, khi ban lại cho con người quyền làm con cái tự do của Thiên Chúa.

Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã tạo nên con người giống hình ảnh Ngài, và hình ảnh Ngài chính là Tự Do. Cũng vì giống Thiên Chúa ở tự do, giống Thiên Chúa khi được là thụ tạo có tự do, mà con người đã có thể nói “không” với Thiên Chúa, như ông bà nguyên tổ đã bất tuân  lệnh cấm ăn trái cấm của Ngài.

Công trình cứu chuộc của Đức Giêsu, vì thế, cũng chỉ nhằm mục đích chuộc lại tự do đã mất của con cái Thiên Chúa, vì chỉ với tự do Đức Giêsu chuộc lại, con người tội lỗi mới nhận ra mình giống Thiên Chúa, nhờ thế mới có thể hiệp thông với Ngài trong sự sống và vinh quang đời đời của Ngài.

Kinh Thánh cho chúng ta biết Thiên Chúa là Đấng tự do : Ngài dựng nên muôn vật hữu hình và vô hình như Ngài muốn (x. St 1) ; Ngài tự do “thương ai thì thương, xót ai thì xót” (Xh 33,19) ; “Người quyết định rồi, ai làm Người đổi ý, điều lòng Người muốn, ắt Người sẽ thi hành” (G 23,13) ; “Ngài tự do chọn lựa mà không dựa vào việc người ta làm”, nhưng dựa vào ý muốn của Ngài, nên “người ta được chọn không phải vì muốn hay chạy vạy, nhưng vì được Thiên Chúa thương xót… Vậy Thiên Chúa thương xót ai là tùy ý Người, và làm cho ai ra cứng cổ cũng tùy ý Người” (Rm 9,12.16.18). Chính Đức Giêsu cũng cho các môn đệ biết “Ngài gọi đến với Người những kẻ Người muốn” (Mc 3,13).

Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu cho chúng ta thấy thế nào là con cái tự do của Thiên Chúa : “Đức Giêsu nói với người Do Thái đã tin Người : Nếu các ông ở lại trong lời của tôi, thì các ông thật là môn đệ tôi ; các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông”. Họ đáp : “Chúng tôi là dòng dõi ông Ápraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao ông lại nói : các ông sẽ được tự do?” Đức Giêsu trả lời : “Thật, tôi bảo thật các ông : hễ ai phạm tội, thì làm nô lệ cho tội. Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi. Vậy nếu Con Người có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Ga 8,31-36).

Như thế, không ai trong chúng ta là người con tự do, nếu không được Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa chuộc lại quyền làm con tự do của Thiên Chúa đã mất vì tội. Và đây chính là Sự Thật có khả năng giải phóng chúng ta, có sức mạnh kéo chúng ta ra khỏi vực sâu nô lệ, có quyền năng làm cho chúng ta trở lại tình trạng được ân nghiã với Thiên Chúa như con cái với Cha mình. Và Sự Thật ấy chính là Đức Giêsu, Đấng là “Đường, Sự Thật và Sự Sống” (Ga 14,6). Ở Đức Giêsu, chúng ta có Sự Thật, và Sự Thật giải phóng chúng ta khỏi mọi ách thống trị, mọi gánh nặng nô lệ, mọi xiềng xích ngục tù để chúng ta được là những đứa con hoàn toàn tự do của Thiên Chúa.  

Thánh Phaolô cắt nghiã về tự do của con cái Thiên Chúa trong các thư của Ngài, khi viết : “Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5,1) ; “Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do” (2 Cr 3,17) ; “Anh em không còn là nô lệ nữa, nhưng là con, mà là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa” (Gl 4,7).

Thánh Gioan Tông Đồ còn mạnh mẽ qủa quyết : “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,11-12).

Tóm lại, để được trở thành con cái tự do của Thiên Chúa, chúng ta phải tin và đón nhận Đức Giêsu, Đấng giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi, Đấng giải thoát chúng ta khỏi sự chết để ban lại cho chúng ta hạnh phúc của con người tự do, niềm vui của người con tự do.

Nhưng để tin và đón nhận Đức Giêsu, Thiên Chúa đòi chúng ta phải trở thành con cái của Sự Thật và con cái của Tình Yêu, khác với ma qủy, chúng có những đứa con của Dối Trá và những đứa con mang tên Ganh Ghét, Hận Thù.

Là con cái của Sự Thật, khi có trong cuộc đời Sự Thật của Thiên Chúa là Đức Giêsu, vì chỉ trong Ngài là Sự Thật của Thiên Chúa, chúng ta mới có Sự Sống của Thiên Chúa, bởi sự sống của Thiên Chúa chỉ thông ban cho con cái của ánh sáng, như thánh Phaolô đã khuyên dậy tín hữu Thêxalônica : “Thưa anh em, anh em không ở trong bóng tối, để ngày ấy như kẻ trộm bắt chợt anh em. Vì tất cả anh em là con cái ánh sáng, con cái của ban ngày. Chúng ta không thuộc về đêm, cũng không thuộc về bóng tối” (1 Tx 5,4-5). Trong văn hoá Do Thái, đêm và bóng tối biểu hiệu thời điểm thống trị của Thần Dữ, và vương quốc của sự chết, nên chỉ ai “thuộc về ban ngày”, “mới có niềm hy vọng được cứu rỗi” và được sống (x. 1Tx 5,8).

Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu đã khẳng định với đám đông : Ngài là Ánh Sáng : “Ánh sáng còn ở giữa các ông ít lâu nữa thôi. Các ông hãy bước đi, bao lâu các ông còn có ánh sáng, kẻo bóng tối bắt chợt các ông. Ai bước đi trong bóng tối, thì không biết mnìh đi đâu. Bao lâu các ông còn có ánh sáng, hãy tin vào ánh sáng, để trở nên con cái ánh sáng, và con cái ánh sáng chính là con cái của sự thật” (Ga 12,35-36).

Bên cạnh đòi hỏi phải trở nên con cái của Ánh Sáng Sự Thật, con cái tư do của Thiên Chúa còn phải là con cái của Tình Yêu, như thánh Phaolô đã viết : “Anh em đã được gọi để hưởng tự do. Có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt, nhưng hãy lấy đức yêu thương mà phục vụ lẫn nhau. Vì tất cả Lề Luật được nên trọn trong điều răn duy nhất này là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Nhưng nếu anh em cắn xé nhau, anh em hãy coi chừng, anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy!” (Gl 5,13-15).

Cũng trong thư gửi giáo đoàn Galát, thánh tông đồ dân ngoại nhấn mạnh : con cái tự do của Thiên Chúa là những người ở với Thần Khí của Chúa, “để cho Thần Khí hướng dẫn” (Gl 5,18), và được hưởng “hoa trái của Thần Khí là : bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22-23). Tất cả hoa trái vừa kể đều được cưu mang, nuôi lớn từ tình yêu, mà Thánh Thần là Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, và nhờ đón nhận Thánh Thần, “chúng ta được ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở trong chúng ta” (x. 1 Ga 4,13). 

Thực vậy, người con tự do của Thiên Chúa  là người có sự thật và tình yêu. Có sự thật khi người mang sự thật được tự do nói lên sự thật, tự do làm chứng sư thật, mà không sợ bất cứ ai, bất cứ sự gì, bất cứ quyền lực, thế lực nào đe dọa ; có tình yêu khi người mang tình yêu được tự do yêu thương, tự do gieo rắc yêu thương, tự do vun trồng, chia sẻ yêu thương với mọi người mà không phân biệt, kỳ thị.

Như thế, Sự Thật và Tình Yêu ở con người tự do, ở người con tự do của Thiên Chúa cùng lúc vừa là điều kiện để là người tự do, vừa là việc làm của tự do, vừa là mục đích của tự do, bởi Sự Thật, Tình Yêu là chính Thiên Chúa, Đấng cho chúng ta được trở nên con cái tự do của Ngài, và được thừa hưởng gia nghiệp đời đời Chúa Cha trên trời dành cho con cái tự do trong Sự Thật và Tình Yêu của Ngài.

Jorathe Nắng Tím

NGÔN SỨ GIẢ, THỢ VẼ

 


Chúng ta đang sống ở thời đại mà Đức Giêsu đã cảnh báo : “Anh em hãy coi chừng, đừng để ai lừa gạt anh em, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng : Chính Ta đây là Đấng Kitô, Bấy giờ sẽ có nhiều người vấp ngã. Người ta sẽ nộp nhau và thù ghét nhau. Sẽ có nhiều ngôn sứ giả xuất hiện và lừa gạt được nhiều người. Vì tội ác gia tăng, nên lòng yêu mến của nhiều người sẽ nguội đi. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mt 24,4-5.10-12).

Nhưng ngôn sứ giả là những ai, và chiêu trò lừa đảo, gạt gẫm là những chiêu trò nào?

Ngôn sứ giả là những người nhân danh Thiên Chúa, nhân danh là  người của Thiên Chúa chọn và sai đi để tung tin vịt, gieo rắc tin đồn thất thiệt làm hoang mang, nao núng niềm tin của dân chúng. Họ không nói điều Thiên Chúa muốn nói, nhưng nói điều họ muốn nói vì có lợi cho bản thân ; họ không được Thiên Chúa chọn, nhưng tự chọn và tự tấn phong ; họ không nhận từ Thiên Chúa sứ điệp để chuyển tải cho dân, nhưng lừa đảo dân bằng sứ điệp được sọan ra bởi chính họ. Tóm lại, họ tự phong cho mình chức ngôn sứ, tự gán cho mình quyền phát ngôn viên của Thiên Chúa, tự cho mình là gạch nối giữa Thiên Chúa và dân Ngài, trong khi tất cả đều không có thực, nhưng do ý nghĩ hoang tưởng, tham vọng bất chính, và khả năng lừa đảo của họ thực hiện, dàn dựng.

Nhưng làm thế nào để phân biệt ai là ngôn sứ thật và ai là ngôn sứ giả?

Câu chuyện tranh cãi giữa ngôn sứ Khanania và ngôn sứ Giêrêmia trong Cựu Ước cho chúng ta thấy phân định ngôn sứ giả và ngôn sứ thật là một công việc không dễ chút nào : Khi ấy ngôn sứ Khanania tuyên sấm rằng : “Đức Chúa các đạo binh, Thiên Chúa Ítraen phán như sau : Ta sẽ bẻ gẫy ách của vua Babylon. Còn hai năm nữa, Ta sẽ đem về nơi này mọi đồ dùng trong nhà Đức Chúa, mà Nabucôđônôxo, vua Babylon đã lấy ra khỏi nơi này đưa sang Babylon… Cả những người Giuđa bị lưu đày sang Babylon, chính Ta sẽ dẫn chúng về nơi đây, sấm ngôn của Đức Chúa, vì Ta sẽ bẻ gẫy ách của vua Babylon!”. Bấy giờ ngôn sứ Giêrêmia trả lời ngôn sứ Khanania… : Ước gì Người thực hiện các điều ông vừa tuyên sấm… Nhưng xin ông lưu ý đến những lời tôi sắp nói cho ông và toàn dân nghe đây : Các ngôn sứ có trước tôi và ông từ ngàn xưa đã tuyên sấm về nhiều xứ sở và vương quốc hùng mạnh, là sẽ có chiến tranh, tai ương và ôn dịch ; còn ngôn sứ nào tuyên sấm có bình an, thì chỉ khi nào lời ngôn sứ ấy ứng nghiệm, ông mới được nhìn nhận là ngôn sứ Đức Chúa sai đến thật sự!” (Gr 28,2-9).

Sau đó, ngôn sứ Khanania bẻ gẫy cái gông bằng gỗ ra khỏi cổ ngôn sứ Giêrêmia, như dấu chỉ Đức Chúa sẽ bẻ gẫy cái ách của Nabucôđônôxo, vua Babylon đè trên mọi dân tộc. Nhưng ngay sau đó, Đức Chúa phán với ngôn sứ Giêrêmia : “Hãy đi nói với Khanania như sau : Ngươi đã bẻ gẫy những cái gông bằng gỗ, thì hãy làm những cái gông bằng sắt thế vào!”, vì Đức Chúa không tháo ách thống trị của vua Babylon trên các dân tộc (x. Gr 28,12-14).

Ngôn sứ Giêrêmia liền đi nói với ngôn sứ Khanania : Ông Khanania, hãy nghe đây, Đức Chúa chẳng hề sai ông, thế mà ông lại làm cho dân này tin vào điều dối trá. Bởi thế, Thiên Chúa phán như sau : “Này, Ta sẽ bứng ngươi ra khỏi mặt đất : Ngay năm nay, ngươi sẽ phải chết, vì ngươi đã hô hào nổi loạn chống Đức Chúa. Ngôn sứ Khanania đã chết vào tháng bẩy năm ấy” (Gr 28,15-17).

Cuộc tranh cãi giữa hai ngôn sứ chắc chắn đã tạo thành hai phe chống nhau kịch liệt và tạo nên tình trạng chia rẽ rất trầm trọng trong Ítraen : một bên chuẩn bị hoà bình, vì Đức Chúa sắp bẻ gẫy gông cùm nô lệ của vua Babylon áp đặt trên dân theo sấm ngôn của ngôn sứ Khanania ; một bên biết mình phải tiếp tục sống cảnh nô lệ, lưu đầy vì Đức Chúa chưa tháo ách cho dân tộc này theo sấm ngôn của ngôn sứ Giêrêmia.

Đặt mình vào vị trí của dân Ítraen lúc bấy giờ, hầu hết chúng ta sẽ phấn khởi đứng về phiá ngôn sứ Khanania với sấm ngôn hoà bình sắp được tái lập, và ách nô lệ sắp được bẻ gẫy, hơn là nghe theo ngôn sứ Giêrêmia với sấm ngôn Ítraen phải tiếp tục chịu cảnh nô lệ, lưu đầy. Nhưng rất tiếc, sấm ngôn “tai hoạ” mới lại là điều Thiên Chúa muốn nói với dân.

Sự phân định còn rất khó, khi có những ngôn sứ không xuất hiện từ cơ chế tôn giáo luôn được coi là đáng tin cậy, mà xuất phát hoàn toàn ngoài cơ chế, và độc lập, tách biệt, đối nghịch với cơ chế.

Vì ở “ngoại vi cơ chế”, lại không chịu sự giám sát của vua chúa, tư tế, quan án, nên các ngôn sứ này bị coi như đối thủ của giai cấp và bộ máy lãnh đạo, nên gặp rất nhiều khó khăn, o ép từ cơ chế quyền lực.

Câu chuyện vua Giuđa và vua Ítraen, cả hai hợp đồng tiến đánh vua Aram để chiếm lại miền Ramốt Galaát. Trước khi quyết định tổng tấn công vua Aram, hai vua này đã tập họp khoảng bốn trăm ngôn sứ và hỏi ý kiến : “Ta có phải đi đánh Ramốt Galaát không hay là phải ngừng lại?”. Tất cả bốn trăm ngôn sứ “thuộc cơ chế” đồng thanh thưa : “Xin vua cứ tiến đánh, Chúa sẽ trao thành ấy vào tay vua”. Nhưng để nắm chắc phần thắng, vua Giuđa hỏi vua Ítraen : “Ở đây có còn ngôn sứ nào khác của Đức Chúa, để chúng ta nhờ ông thỉnh vấn Đức Chúa không?” Vua Ítraen trả lời : “Còn một người nữa chúng ta có thể nhờ thỉnh vấn Đức Chúa được, nhưng tôi ghét ông ta, vì ông ta không hề tiên báo cho tôi điều lành, mà chỉ toàn điều dữ”. Và người ta cho mời ngôn sứ Mikhagiơhu.

Vị ngôn sứ không được cơ chế “sủng ái, trọng dụng” này đã tuyên sấm hoàn toàn ngược lại : “Tôi đã thấy toàn thể Ítraen tán loạn trên núi như chiên không người chăn, Đức Chúa phán : chúng không còn chủ nữa”.

Vì tuyên sấm trái ý vua, với điềm dữ là cảnh bại trận, ngôn sứ Mikhagiơhu đã bị vua Ítraen ra lệnh : “Giam tên này vào nhà tù và cho nó ăn uống ít thôi, cho tới khi ta về bình an”. Nhưng khi lâm trận tại Ramốt Galaát, vua Itraen đã bị thương, máu ra nhiều “chảy cả vào lòng xe”, và vua chết ngay buổi chiều hôm đó (x. 1 V 22,1-38).     

Đó là sự thật lịch sử của dân Thiên Chúa được ghi lại trong Cựu Ước. Qua đó, chúng ta nhận ra phần nào những khó khăn khi phải phân định ai là ngôn sứ giả và ai là ngôn sứ thật của Thiên Chúa, và những khó khăn của dân Chúa ngày xưa đó cũng là những khó khăn của Giáo Hội ngày nay, khi nhiều luồng sấm ngôn khác nhau, đối nghịch nhau đang làm hoang mang tinh thần của dân Chúa.

Tạm gác ra một bên những hiện tượng lạ nổi lên như nấm khắp nơi trong Giáo Hội làm nhiều người Kitô hữu rơi vào tình trạng “bán tín bán nghi” giáo lý đức tin và nghi ngờ chính đức tin của mình, người viết chỉ tập trung trình bày một vấn đề then chốt, đó là tình trạng “vẽ Giáo Hội của nhiều thợ vẽ”, hiện thân của ngôn sứ giả của thời đại mới.

Tất nhiên những thợ vẽ này không vẽ tác phẩm của mình, cũng không tô lại cho đậm, hay vẽ lại cho đúng tác phẩm của người khác, nhưng lạm dụng tài vẽ của mình để làm hỏng tác phẩm của người khác bằng bôi lem luốc, vẽ nguyệch ngoạc, tô bừa bãi, thêm thắt, cắt xén lung tung theo ý mình, mà không chút ngượng ngùng trước tác giả, cũng như tác quyền bất khả xâm phạm.  

Trước hết, những thợ vẽ này tự nhận mình là người của Thiên Chúa sai đến để vẽ lại Giáo Hội, vì có những người trong số họ có chân trong cơ chế Giáo Hội, có khi lại giữ những vai trò trọng yếu, và có toàn quyền quyết định. Họ nhân danh Đức Giêsu để vẽ một Giáo Hội khác Giáo Hội của chính Ngài đã thiết lập trên nền móng Tông Đồ, như những ngôn sứ giả đã nhân danh Đức Chúa để tuyên sấm ý riêng mình, hay ý của một nhân vật, một đoàn thể, một tổ chức có “đơn đặt hàng” với họ, như bốn trăm ngôn sứ Ítraen đã đồng thanh tuyên sấm “chiến thắng” để làm vui lòng vua, hoặc sợ vua trừng phạt, hãm hại, nếu nói ngược ý vua.

Như những ngôn sứ giả có thể xuất thân từ đâu đó, hoặc ngay từ trong cơ chế Giáo Hội, những thợ vẽ này đã vẽ lại một giáo hội không có Đức Giêsu, là dung mạo đích thực của Chúa Cha giầu lòng thương xót, nhưng thay thế dung mạo yêu thương, bao dung, rộng lượng khoan hồng của người cha nhân hậu bằng dáng mạo của một ông chủ khó tính, khó gần, một quan chức hống hách, cửa quyền, một ông vua chỉ biết xây dựng, bảo vệ bằng mọi giá quyền bính, ngai vàng, và chẳng thiết tha gì đến hạnh phúc của dân ; những thợ vẽ tinh ma tráo đổi sự thánh thiện của Thiên Chúa không còn là lòng thương xót, nhưng đặt trên hoàn hảo của tổ chức, chặt chẽ của cơ cấu, kỷ cương, vỏ bọc hoành tráng, sức mạnh bành trướng bên ngoài ; những thợ vẽ tinh xảo đánh tráo Đức Giêsu hiền lành, khiêm nhường và thay bằng một thiên chúa khác toàn năng, toàn quyền sinh sát, thích trừng phạt hơn giáo huấn, tìm tiêu diệt hơn cứu sống, chữa lành.    

Như những ngôn sứ giả, những thợ vẽ đã gian xảo gột bỏ, tẩy xóa những  mầu sắc “phúc âm” của Hiến Chuơng Nước Trời, và thay thế tâm hồn nghèo khó bằng lòng dạ tham lam, trái tim hiền lành bằng lòng trí kiêu căng, khao khát công chính bằng bon chen bất chính, yêu mến hoà bình bằng  hơn thua đấu đá, phần thưởng Nước Trời bằng hư danh trần thế.

Và như những ngôn sứ giả, những thợ vẽ đã trắng trợn biến sứ vụ “được sai đi để phục vụ” như Đức Giêsu đã được Chúa Cha sai đến trong thế gian “không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28), thành đường lối của lãnh tụ thế gian dùng uy quyền mà thống trị, lấy bạo lực mà trấn áp.

Với cây cọ nhớp nhúa, trong bàn tay phù thủy của những anh thợ vẽ không còn tin, Giáo Hội của Đức Giêsu không còn có Đức Giêsu, Thiên Chúa của lòng thương xót, không còn Hiến Chương Nước Trời với Đất Hứa làm gia nghiệp,  Thiên Đàng là phần thưởng, với niềm ủi an cho người sầu khổ, hạnh phúc được nhìn thấy Thiên Chúa cho tâm hồn trong sạch, niềm vui được thưong xót cho người biết xót thương, và vinh dự được làm con Thiên Chúa cho người xây dựng hòa bình, và tương lai hằng phúc trong Vương Quốc đời đời cho những ai khao khát sống công chính và chịu sỉ vả, vu khống vì Đức Giêsu.

Khi kê ra việc làm của những người thợ vẽ Giáo Hội, chúng ta đừng xem đó là câu chuyện phiếm “vô thưởng vô phạt”, và cũng đừng vội vàng lên án là cường điệu qúa đáng những gì được mô tả, vì trong thực tế, người thợ vẽ  còn tồi tệ, nguy hiểm nhiều lần hơn, khi không để bị bại lộ hành vi thay thế hình ảnh, tráo đổi mầu sắc, giả mạo dung nhan Đức Giêsu và Giáo Hội. Họ là những thợ vẽ có tài, nên chỉ cần một thay đổi nhỏ thôi, Đức Giêsu không còn là Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, Giáo Hội không còn là Giáo Hội của Đức Giêsu thiết lập, mà  bản chất và sứ mệnh của các chi thể của thân thể mầu nhiệm Giáo Hội là hiệp thông, hiệp nhất, “có Đức Giêsu trong cuộc đời”, làm chứng Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ bằng yêu thương, phục vụ.

Họ cũng là những sứ ngôn giả và Thiên Chúa cũng sẽ hạch tội họ như đã hạch tội các ngôn sứ giả trong Cựu Ước : “Ta sẽ ra tay trừng phạt hạng ngôn sứ thấy thị kiến hão huyền và nói lời sấm dối trá… Bởi vì chúng đã làm cho dân Ta lạc đường, khi nói rằng : ‘Hoà Bình’, mà thực ra chẳng có hòa bình ; trong khi dân xây tường, thì chúng lại trát vôi lên tường...” (Ed 13,9.10).  

Thực vậy, khi Giáo Hội bị vẽ lại, tô lại, hoạ lại bởi những thợ vẽ của thế gian và Satan, thì không ít người sẽ rơi vào lầm lạc và  không còn tin vào Đức Giêsu, cũng như Giáo Hội của Ngài nữa. Vì thế, chúng ta cần thận trọng và khôn ngoan phân định để không rơi vào cạm bẫy các ngôn sứ giả của thời đại thường đội lốt những thợ vẽ “có tài”, bởi từ chính họ “mà sự vô đạo đã lan tràn khắp xứ” (Gr 23,15), như Lời Thiên Chúa phán : “Đừng nghe lời các ngôn sứ tuyên sấm, chúng phỉnh phờ các ngươi, điều chúng nói chỉ là thị kiến do tưởng tượng, chứ không phải do miệng Đức Chúa phán ra”, vì “Ta đã không phái các ngôn sứ ấy đi, thế mà chúng lại đi! Ta đâu có bảo chúng, thế mà chúng lại nói tiên tri!” (Gr 23,21), cũng như chẳng ai nhờ thợ vẽ “tô vẽ lại” dung mạo Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài, hiện tượng đang làm nhiều người hoang mang, mất hướng.

Nhưng có thực chúng ta chỉ là nạn nhân của hiện tượng ngôn sứ giả, mà không là tác nhân của hiện tượng “nhảm nhí nói tiên tri”, và nhiều người  đang là nạn nhân của chúng ta? Có thực chúng ta chỉ là những người chịu hậu qủa tai hại của những anh thợ vẽ đang bôi bác, bôi nhọ, “bôi tro trát trấu” khuôn mặt Đức Giêsu, mà không là chính thợ vẽ đã vẽ lại Giáo Hội và gây tai hoạ khủng khiếp cho nhiều người, khi đẩy họ đến tình trạng ngao ngán Giáo Hội, từ bỏ Giáo Hội, lên án Giáo Hội, vì Giáo Hội không còn “nguyên hình nguyên trạng” như chân dung Giáo Hội do chính tay Đức Giêsu vẽ nên? Có thực chúng ta chỉ là ngôn sứ đích thực do ơn sủng và sứ vụ nhận được từ bí tích Rửa Tội, mà không là ngôn sứ giả đã bừa bãi tuyên sấm vì mị dân, vì cơ đồ cá nhân, vì để được lòng bề trên, lãnh đạo? Và có thực chúng ta ý thức về đời sống kiêu căng, giả hình, gian ác, tham lạm, hưởng thụ, ăn không nói có, thiếu bác ái, từ tâm, bừa bãi quyết đoán, dễ dàng chụp mũ, vu khống, đổ tội cho người khác, không quan tâm đến người nghèo, không phục vụ như sứ vụ được trao, không coi việc loan báo Tin Mừng là căn tính của người Kitô hữu, nhất là không lương thiện, trung thực trong khi hành xử quyền bính, bởi đây chính là những việc làm của ngôn sứ giả, những đường sơn, nét bút của người thợ vẽ đang làm hoen ố dung mạo Đức Giêsu, và suy yếu thân thể mầu nhiệm là Giáo Hội?

Vâng, ngày xưa hay ngày nay đều có những ngôn sứ giả, những anh thợ vẽ, nhưng ai là ngôn sứ giả, ai là thợ vẽ, thì qủa thực rất khó nhận diện. Chỉ với ơn của Chúa Thánh Thần, chúng ta mới có thể phân định, vì những con người giả dối, giả hình, giả danh, giả dạng, giả mạo, “giả nhân giả nghiã” này rất ma mãnh, khéo léo và tài tình đến mức kinh dị khó lường.

Chúng ta cầu nguyện cho Giáo Hội trong cơn lốc xóay của nhiều thế lực Satan và thế gian trong đó hiện tượng ngôn sứ giả và thợ vẽ đang góp phần không nhỏ làm tăng tốc lốc xoáy và đè nặng hơn trên Giáo Hội sức nặng chia rẽ, phá họai.

Jorathe Nắng Tím