Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2020

V. NHỮNG KHÓ KHĂN KHI LÀM TỪ THIỆN


1.   Dị nghị :
Làm từ thiện thường dính đến tiền bạc, có thể là tiền của bá tánh đóng góp, có thể là tiền của cơ quan, tổ chức ở xa... nhưng đã có mùi tiền là có dị nghị, lời ra tiếng vào. Tiền bạc cần thiết cho công tác từ thiện, nhưng cũng là nguyên cớ của nhiều thất bại trong từ thiện khi tiền không được kế toán minh bạch và xử dụng không đúng mục tiêu. Không thiếu những tổ chức từ thiện phải đóng cửa, tan hàng vì không chứng minh được chi thu. Không thiếu  những tâm hồn thiện chí phải buông tay, giã từ công tác từ thiện vì bị mang tiếng “biển thủ, lợi dụng tiền của người nghèo”.
Minh bạch trong chi thu là hoạch định ngay từ đầu lối vào, đường ra của tiền. Nếu chủ trương dùng hết tiền cho cứu trợ thì không cần nghĩ đến chuyện “tiền đẻ ra tiền”  bằng cách trích ra một phần tiền để đầu tư ngắn hạn, dài hạn. Nếu  rạch ròi ngay từ đầu nguyên tắc chi thu và công khai hoá tài chính thì không phải lấn cấn vì tham lạm, sai lầm hạch toán. Nếu cương quyết định rõ ranh giới quyền hạn của người trách nhiệm tiền bạc thì chẳng bao giờ phải đặt lại vấn đề tín nhiệm hay không tín nhiệm vì nghi ngờ, thắc mắc. Nếu tiền bạc từ thiện được xử dụng hợp lý thì chẳng sợ gì những “lời ong tiếng ve” của những người cố tình tấn công vì ác ý.
Trong một xã hội mà niềm tin không còn là một giá trị lớn, thì chuyện dị nghị, nghi ngờ là những chuyện thường ngày trong nhà, ngoài ngõ. Vì thế đôi khi cũng phải “phớt tỉnh Ăng Lê “để bình tâm làm việc từ thiện.          
2.   Khủng hoảng niềm tin :
Trong khi viết những giòng này, tôi đọc trên mạng rất nhiều  bài viết về chuyện làm từ thiện ở Việt Nam hôm nay. Các bài viết có ba khuynh hướng rõ rệt: Khuynh hướng thứ nhất chống triệt để việc Việt Kiều về nước làm từ thiện và giúp đỡ những tổ chức từ thiện ở quê nhà. Lý do được trưng dẫn là hầu hết các trung tâm từ thiện ở Việt Nam đều do những tay bịp bợm khai thác và tiền bạc thu được đều đổ vào túi những con buôn từ thiện này. Nhiều bài đã công khai nêu đích danh người sáng lập và điạ chỉ của trung tâm bị chỉ trích. Khuynh hướng thứ hai là không chống việc làm từ thiện ở Việt Nam, nhưng đề nghị không giao chuyển  tiền bạc cho bất cứ tổ chức hay cá nhân nào, mà phải tự mình trao tận tay người được trợ giúp. Lý do cũng như trên; vì không tin tưởng những người trung gian. Còn lại khuynh hướng cuối cùng là chấp nhận làm từ  thiện “hên xui may rủi”; nghiã là đành lòng gửi tiền giúp các trung tâm từ thiện nhưng xác xuất tin tưởng “toàn phần số tiền đến tay người cần được giúp đỡ ” rất thấp, nhưng vẫn chấp nhận.
Những bài viết trên mạng với ba khuynh hướng vừa kể phần nào đã nói lên tình trạng niềm tin bị khủng hoảng. Người ta không còn tin vào nhau nữa. Có thể vì kinh nghiệm chua cay, bẽ bàng làm người ta không dám đặt niềm tin vào người khác; có thể họat cảnh xã hội ngày nay bị ô nhiễm quá trầm trọng đến độ niềm tin trở thành một điều gì đó rất xa lạ, tưởng như không có. Không có niềm tin, con người khó gửi gắm nhau tâm sự, ước mơ, tiền bạc. Vắng bóng niềm tin, người ta cũng mất đi nhiều cơ hội xây dựng hạnh phúc cho nhau và dễ mất nhau trong dửng dưng, xa lạ. Hiện tượng mất niềm tin nơi những người làm từ thiện, dù đến từ đâu và dưới góc cạnh nào, ít nhiều cũng gây ra hậu qủa rất tiêu cực cho những nỗ lực phục vụ đồng bào xấu số của nhiều người thành tâm, thiện chí luôn cần bàn tay đóng góp của mọi người. 
3.   Cám dỗ : “tìm mình, chỉ có mình” :
Bản chất của công việc từ thiện là cao qúy, nên có thể gây cho người làm từ thiện ảo tưởng “mình là người hùng, thánh nhân, ân nhân của nhân loại”. Không thiếu những phô trương lố bịch nơi một số người làm từ thiện và không thiếu những cạnh tranh ấu trĩ giữa những người cùng làm từ thiện, giữa những tổ chức từ thiện vì những tước vị ảo, danh dự hão.
Như đã trình bầy ở trên: làm từ thiện là phải quên mình và chỉ  tìm kiếm hạnh phúc của người được giúp đỡ, ngoài ra không còn mục đích nào khác. Tìm mình, vinh danh mình trong khi giúp người thiếu thốn hơn mình là thiếu sòng phẳng, công bằng. Dùng việc  từ thiện là phương tiện để tiến thân là không lương thiện ; bởi  lợi dụng sự có mặt khổ đau của người nghèo cho lợi ích cá nhân cũng đáng trách như hành vi  tham lạm, chiếm đoạt, riả rói tiền bạc của người nghèo.
Ý thức cơn cám dỗ “tìm mình, chỉ vì mình ” để tránh tìm danh, tìm ảnh hưởng xã hội  cho riêng mình khi làm từ thiện  là nhắc nhở cần thiết cho người làm từ thiện. Rất ít người  lợi dụng tiền bạc của người nghèo khi làm từ thiện, nhưng một số không nhỏ có thể dùng  người nghèo như những nấc thang cho địa vị và danh thơm của họ trong xã hội.
Xoá mình khi phục vụ người cô thân, yếu thế, phận nhỏ hẩm hiu đòi quên mình triệt để; bởi không quên mình, cơn cám dỗ danh vọng, quyền lực sẽ khó buông tha khuynh hướng vị kỷ vốn tiềm tàng nơi mỗi người, nhất là khi họ đang đóng vai “người thi ơn, kẻ ban phát”.  
Bên cạnh cám dỗ “tìm mình” là cám dỗ “chỉ có mình”  khi thành qủa của từ thiện được nhiều người biết đến, khi công tác từ thiện tạo được tiếng vang, bùng lên ngọn lửa phong trào.
“Chỉ có mình” là thái độ tự mãn đưa đến độc tôn khi coi thường hay phủ nhận thành công, đóng góp của những tổ chức từ thiện “bạn bè, láng diềng, lân cận”. Thái độ ấy càng nguy hiểm khi biến chất thành đối đầu, đối kháng, đối nghịch với chính những người cùng một chí hướng, theo đuổi cùng một lý tưởng phục vụ người nghèo, người bệnh, người thất học.
Như thế mới biết: làm từ thiện không dễ vì đòi nhiều điều kiện; bởi  từ thiện là một nghề: nghề yêu thương, nghề phục vụ, một nghề cao qúy và khó nên cần được quan tâm đào tạo và trui rèn qua luyện tập, thử thách.      

4.   Tính bi quan, cầu toàn :
Ước vọng chung của tất cả những ai dấn thân làm từ thiện là hạnh phúc của nhân loại. Giấc mơ của những tâm hồn thiện nguyện này là thế giới không còn người đói, người bệnh, người thất học. Chính vì thế, hơn ai hết, họ dễ rơi vào tình trạng tâm lý cầu tòan; nghiã là muốn công việc từ thiện của họ mang lại kết qủa không những nhiều, lớn mà còn “ tuyệt diệu và ngay lập tức”. Họ cảm thấy bực bội khi  những người nhận sự giúp đỡ từ họ cứ “ tỉnh bơ, nhẩn nha, thong thả, hay ù lì ” trong ngõ bí cuộc đời. Đôi khi họ giận dỗi những  người nghèo khi những người  này không tỏ ra mau mắn, sốt sắng tìm đường thoát thân khỏi cảnh nghèo. Đến một lúc, họ chán nản vì cho rằng: công sức và tiền bạc của họ đổ vào đều vô ích.  Kết qủa là họ bi quan, không hứng thú làm từ thiện nữa.
Tâm trạng cầu tòan và bi quan trên không thiếu nơi những người làm từ thiện; nếu họ không chấp nhận từ đầu: làm từ thiện đòi một tầm nhìn xa, không đợi kết qủa trước mắt nhưng nhẫn nại chờ ngày muà, như hạt lúa cần thời gian để thối đi, nẩy mầm, lớn lên và trổ bông, đơm hạt.
Một điểm quan trọng khác cần phải xác định  là “ưu tiên số một” của từ thiện không là thành quả nắm bắt ngay, thấy được ngay, kiểm chứng được liền tại chỗ;  nhưng chính là sự có mặt “cảm thông, chia sẻ”  của con người bên những con người khác trong cơn túng quẫn, thất thế, sa cơ để làm nổi bật giá trị của tình người . Ưu tiên số một ấy cho thấy đâu là đất người, đâu là đất lành, đâu là nơi con người sống. “Nơì nào, ở đâu” đó chính là nơi có những con người đang yêu thương, chia sẻ, đùm bọc, nâng đỡ, dắt dìu nhau.
Ưu tiên số một này còn là dấu ấn không thể phai của một cộng đồng nhân loại được thành hình, sinh hoạt và mãi mãi trường tồn bởi những con người đã dám yêu thương bằng hành động hiến dâng, chia sẻ. Ưu tiên số một ấy còn  là dấu chứng không thể chối cãi của một thế giới loài người luôn ý thức điều kiện căn bản của cuộc sống con người là một cuộc “sống chung, sống với”, ở đó không ai là một hòn đảo và mọi người đều liên đới, gắn bó, cột chặt vào nhau bằng giây ân tình như “giây mơ rễ má” để  cùng sống và cùng phát triển.
Khi sự hiện diện có “tình người” được coi là “ưu tiên một” khi làm từ thiện, ta sẽ an tâm khi biết sự có mặt bằng xương bằng thịt, bằng mồ hôi nhọc mệt, bằng nụ cười yêu thương, bằng thái độ vui vẻ, lịch thiệp, bằng cung cách tương kính, nhã nhặn mà  ta đang cố gắng có sẽ tạo điều kiện cho  nhiều phép lạ của tình người được thực hiện. Phép lạ lớn nhất của việc làm từ thiện là sưởi ấm  trái tim giá lạnh cô đơn của người bất hạnh  Phép lạ vĩ đại nhất của công tác từ thiện là mạc khải cho người xấu số một chân lý: vẫn có người thương họ trong cuộc đời. Phép lạ thường xuyên nhất khi dấn thân làm từ thiện là khám phá hạnh phúc lớn lao, sâu sa, lắng đọng nhất ở con người là biết mình còn có chỗ trong tim người khác. Từ thiện khi đó mang một chiều kích siêu hình vì chạm tới sâu thẳm mầu nhiệm của Tuyệt Đối : Thượng Đế.

VI. TUỔI TRẺ VIỆT NAM HÔM NAY VÀ “LÀM TỪ THIỆN”


Những ngày dong duổi trên khắp nẻo đường quê hương từ thành phố xa hoa, “ăn chơi lút cán” đến thôn xóm nghèo “chưa từng thấy”, tôi đã chứng kiến, gần gũi và trải nghiệm một tuổi trẻ rất đa dạng. Đa dạng ở sức sống, đa dạng ở sinh hoạt, đa dạng ở góc nhìn, tầm ngắm. Có những bạn trẻ miệt mài, nhưng cũng không thiếu những bạn trẻ sa đoạ. Có những bàn chân luôn cố bước tới, nhưng cũng còn đó nhiều biếng lười, dựa dẫm, ỷ lại. Có những giọt mồ hôi mặn  nồng hy sinh, nhưng cũng có những bàn tay nhẫn tâm phá hoại. Có những tận tụy ân cần và cũng có những lạnh lùng, dửng dưng.
 Những đa dạng này xem ra muốn báo động một tuổi trẻ đang bị khủng hoảng trầm trọng. Tuổi trẻ khủng hoảng trong căn tính, trong suy tư, ngay trong môi trường sống. Nét đa dạng cũng cảnh giác một khủng hoảng niềm tin, khủng hoảng bậc thang giá trị. Nét đa dạng ấy cũng kín đáo mời gọi người lớn cần tín nhiệm tuổi trẻ hơn và trở nên một tấm gương, một  mẫu mực cho họ
Trước những bế tắc của hiện tại, đe doạ của tương lai, tuổi trẻ dễ rơi vào tình trạng mất hướng, mất điểm tựa, mất thăng bằng. Tất cả đều không xa và nhanh chóng dẫn đến “cái mất chính mình”.
Trên đây là bức tranh về tuổi trẻ Việt Nam hôm nay do tôi tự vẽ ra  từ những gì tôi thấy và cảm nhận trên quê hương tôi. Nó có thể mang tính chủ quan và  phiếm diện ; nhưng bức tranh ấy  giúp tôi can đảm nhìn sự thật và  khiêm tốn đón nhận thực tế để không một kiêu hãnh, tự hào qúa đáng nào, dù là tự hào dân tộc có cơ may lấn lướt công tác nhận định rất tế nhị tôi đang làm. Cũng nhờ vậy mà  tôi không bi quan, hay trầm trọng hoá bất cứ vấn đề nào tôi gặp nơi người trẻ. Tôi luôn mến thương và đặt niềm tin nơi họ vì ở đâu, bất cứ điểm dừng chân, buổi gặp gỡ, trao đổi nào, tôi cũng nhận ra ở người trẻ Việt Nam  một mẫu số chung. Đó là thao thức đi tìm, băn khoăn muốn biết và liều lĩnh muốn mạo hiểm. Với tôi, đó là ba chân kiềng cần thiết làm thành ước mơ và giá trị của tuổi trẻ. Đó cũng là những điều làm cho bức tranh tuổi trẻ có giá trị vì mang tính thách đố hiện thực. Ở đây, tôi chỉ có thể đề cập về mẫu số chung này trong phạm vi “làm từ thiện” , đề tài được chọn để chúng ta cùng chia sẻ.
Thực vậy, nếu nghiên cứu sinh hoạt làm từ thiện ở Việt Nam, ta sẽ bỡ ngỡ và vui mừng khi thấy thành phần trẻ chiếm đa số. Ở trung tâm nuôi trẻ khuyết tật Di An, không ngày nào văng bóng các bạn sinh viên, học sinh từ thành phố đến thăm và sinh hoạt với các em bé mồ côi, khuyết tật. Những chuyến công tác  cuối tuần gồm toàn bạn trẻ hăng say phục vụ người nghèo, người bệnh ở các vùng  thôn quê, hẻo lánh, nghèo nàn. Các chương trình khám bệnh từ thiện của các bác sĩ trẻ, xây dựng nhà cho dân nghèo của các sinh viên Kiến Trúc, hướng dẫn y tế thường thức của sinh viên các trường Y Khoa ... và nhiều tổ chức, sinh hoạt từ thiện được khởi xướng và sinh hoạt do các bạn trẻ đã nói lên tinh thần trẻ: nhập cuộc và phục vụ  của tuổi trẻ Việt nam hôm nay. Đây là niềm tự hào của giới trẻ và cũng là niềm hãnh diện của mọi  người Việt Nam; bởi bao lâu người trẻ còn  dám dấn thân hy sinh phục vụ, bấy lâu đất nước và nhân loại còn  tràn đầy niềm hy vọng thăng tiến. Cái đáng lo của một dân tộc là khi tuổi trẻ của dân tộc ấy không còn biết băn khoăn, thao thức và dám liều lĩnh mạo hiểm. Rất may, tuổi trẻ Việt Nam còn rất đông những người có đủ ba chân kiềng Băn Khoăn, Thao Thức, Liều Lĩnh này.
Người trẻ đã học được gì trong công việc từ thiện ? Nói cách khác, người trẻ đã gặt hái được những gì cho chính mình khi chấp nhận “tự đào tạo” qua các công tác nhân đạo, từ thiện ? .
1.   Trước hết, họ ra khỏi vỏ ốc kiêu căng, háo thắng thường gặp nơi những người trẻ thành công trong học vấn, hoặc thuộc gia đình  sang giầu, bề thế. Tham gia công tác từ thiện giúp bạn trẻ nhận ra tính tương đối của kiếp người khi đối diện với những mảnh đời bất hạnh, xấu số hơn mình. Họ sẽ nhờ những lần gặp gỡ cận kề người đau bệnh, tàn tật để hiểu ra rằng  những gì họ có đều là hồng ân, những gì họ hưởng phần lớn không do họ làm ra, tự tạo, nhưng do tình yêu, lòng tốt, tận tụy hy sinh của nhiều người, khởi đầu danh sách những ân nhân này là cha mẹ, gia đình, thầy cô...Tính kiêu căng, ngạo mạn, khinh người hay các kiểu “chảnh ”, “nhìn đời bằng nửa con mắt”  sẽ bớt dần khi những khổ đau thân xác và tinh thần của những người họ phục vụ đánh thức và nhắc nhở họ về tính vô thường của đời sống và những giới hạn rất đáng thương của kiếp người.
2.   Người trẻ sẽ tránh được căn bệnh thời đại rất nguy hiểm là Vô Cảm. Vô cảm là dửng dưng trước sự có mặt, đời sống và hoàn cảnh của người khác. Người vô cảm không quan tâm đến ai, nói chi đến khổ đau, hạnh phúc, vui  buồn, thành công, thất bại của người chung quanh. Họ không biết “vui với ai mừng vui, khóc với ai đang khổ sầu”. Trái tim sơ cứng, trí khôn đặc sệt một chất vô cảm có sức tàn phá  kinh khủng biến họ thành vô tâm, vô tình đối với tha nhân và vô phương, vô vọng, vô phúc cho chính bản thân họ.
 Bệnh Vô Cảm làm xã hội loài người bị đóng băng, biến gia đình thành địa ngục và khai tử tâm hồn bằng gieo hạt độc “trống vắng”. Không trống vắng sao được khi vô cảm làm họ chẳng giữ được dù là một chút tình cảm của người khác trong trái tim. Trái tim không rung cảm, không mang ân tình, không lưu trữ hình ảnh yêu thương, dấu ái làm sao được gọi là trái tim hạnh phúc, yêu thương ? Trái tim không còn nhậy bén trước một mời gọi, không còn trăn trở cho hạnh phúc, không còn rạo rực,  bâng khuâng khi mới yêu,  không còn xót xa, xao xuyến khi chia lià, không còn ngây ngất, đam mê khi trao dâng - đón nhận thì làm sao còn được gọi là tổng hành dinh của sự sống ? Trái tim ấy chỉ còn là một lỗ hổng vô vị, một cục thịt thừa thãi tai ương, một trống rỗng đáng nôn mửa mà sự sống của nó không hơn “cái chết lâm sàng”.
3.   Sự hiện diện của người thiếu thốn, nghèo khổ, bệnh tật cũng sẽ giúp người trẻ phản tỉnh để rồi tự hổ thẹn về lối sống thực dụng nếu có của mình và  nhìn ra những lố bịch của một đời sống hoang phí, ích kỷ, hưởng thụ, không có ích cho ai . Bên cạnh căn bệnh vô cảm là hiểm hoạ thực dụng. Cả hai là những bệnh nan y khó chữa cần được đề phòng và chích ngừa thường xuyên bởi một thứ thuốc rất rẻ, có sẵn trong trái tim mỗi người. Tên loại thần dược ấy  là Yêu Thương.
4.   Người trẻ khi làm từ thiện không những thấy được sự thật về con người qua hoàn cảnh “tội nghiệp”, mà còn khám phá tính mầu nhiệm của sự sống con người.
Họ sẽ cảm nghiệm sự sống rất  huyền bí, mầu nhiệm. Sự sống ấy mong manh, dễ mất, dễ tan, nhưng rất cao qúy và tuyệt vời. Mầu nhiệm sự sống của con người ở ngay chính trong những khổ đau, trần trụi, giới hạn rất thảm thương của con người. Nó hiện diện trong chính thân phận mỏng dòn của con người. Nó mặc nguyên hình con người trong bé nhỏ, yếu đuối của con người; nhưng đằng sau tất cả những giới hạn, sự sống con người nổi bật lên tính mầu nhiệm, huyền bí.
Dường như Thượng Đế đã đích thân can thiệp để con người được thông phần tuyệt đối xuyên qua mầu nhiệm sự sống. Nhờ cảm nghiệm  mầu nhiệm sự sống, người trẻ sẽ biết trân trọng sự sống mà khi đứng trước nó, trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người chỉ còn một chọn lựa duy nhất là phải cứu lấy sự sống với bất cứ giá nào. Như thế, sự sống sẽ không còn bị xếp vào những hàng số và gọi tên bằng các số thứ tự để thêm bớt, lên xuống tùy tiện kể cả  vì một lý do không chính đáng và bằng những phương thế phi nhân, phản lại chính sự sống.
Sự sống nhờ được tôn trọng sẽ giữ được phẩm giá của mình và không ai có thể ngang ngược coi thường, huỷ hoại sự sống. Trong nền văn minh của sự sống mà người trẻ vẫn tự hào là tác viên, sự sống phải được tuyệt đối tôn trọng, tôn trọng đến cùng cho dù sự sống ấy chỉ còn là một hơi thở thoi thóp, một thân thể  gầy giơ xương, một dáng dấp tàn phế vô dụng.
Học biết tôn trọng giá trị sự sống là nét đẹp của người trẻ, sức bật của nền văn minh sự sống, một nền văn minh mà người trẻ đã chọn như lý tưởng, đối nghịch với  nền văn minh sự chết là những gì đe doạ, ngăn cản, phá hủy sự sống của con người.
Làm từ thiện như thế đã trở thành một trường đào tạo mà người trẻ tự nguyện gia nhập để tự đào tạo mình: đào tạo thành  một con người mới với cái nhìn vị tha, xây dựng một nhân cách mới với thái độ hướng đến cộng đồng, thay đổi một qủa tim mới bằng thịt để bớt chai đá, nhưng nhân ái, hiền lành hơn. Tất cả là một chương trình tự đào tạo tuyệt vời mà việc làm từ thiện đề nghị.
Không gì tốt hơn là học sống làm người bằng sống với người, tập yêu thương con người bằng yêu thương người chung quanh,  học chia sẻ với đồng loại bằng chính hành động sẻ chia  trong đời thường với những người kém may mắn. Như thế, tương lai một quốc gia, hạnh phúc của một dân tộc chắc chắn sẽ được bảo đảm nhờ xác tín vững chắc và dấn thân qủa cảm của những người sẽ nắm vận mệnh nhân loại sau này là tuổi trẻ hôm nay, khi họ biết thao thức, băn khoăn và liều lĩnh lên đường phục vụ vì hạnh phúc của những người  đang cần đến lòng tốt và hy sinh của họ.
 Hôm qua tôi nhận Email của Quỳnh, cô cháu tôi viết : “ Chú ơi, con mới đi thăm Lều Cỏ về, nghe thầy Ngọc bảo người chủ đất muốn bán đất cho một công ty ngoại quốc nên xin thầy dời anh chị em Sida đi nơi khác. Thầy không biết sẽ đi đâu với 22  người con Sida của thầy... Cháu thấy tội quá. Chị Dung nói ở Bình Dương có một miếng đất khá rộng, dời Lều Cỏ lên đó thì tuyệt, nhưng giá trên 6 tỷ cơ ... Trên đường về, hai đứa đã mua 10 vé số với hy vọng trúng to để có tiền mua đất cho thầy Ngọc làm Lều Cỏ. Chú cầu nguyện nhé !”.
Tôi không hy vọng Dung và Quỳnh sẽ trúng số để có tiền mua đất cho thầy Ngọc giúp bệnh nhân Sida ở thời kỳ cuối, nhưng tôi thấy mình đã trúng lớn khi Email của cháu Quỳnh làm chứng cho những gì tôi viết ở trên về tuổi trẻ Việt Nam hôm nay giữa một xã hội “thực dụng, tiêu thụ - hưởng thụ” tưởng không còn gì đáng nói, để nói nữa.
Và cứ thế, người trẻ Việt Nam vẫn mãi miệt mài, hăng say trong công tác từ thiện dưới nhiều hình thức. Có bạn thích lo cho trẻ em khuyết tật, có bạn chăm lo người già, có bạn dành nhiệt tình cho người nghèo dân tộc, có bạn chuyên chăm dậy các em bé thất học, bụi đời... Như Quỳnh, tuổi trẻ Việt Nam  đằm thắm, dễ thương, ân cần, tế nhị, nhẹ nhàng, kín đáo. Như Hạnh, người trẻ Việt Nam  nhẫn nại, hy sinh, kiên cường, nhiệt thành, nhiều sáng kiến và chịu chơi vô cùng...Và như tất cả bạn trẻ Việt Nam,  chúng ta hãy cùng nhau tận tụy  gieo mỗi ngày những hạt giống tâm hồn “Tình người”,  chờ  ngày mùa sẽ đến, cho người đói rét được no ấm, bệnh nhân được chữa lành, thất học được đến trường và cõi lòng tan nát được san sẻ, ủi an. 

LỜI KẾT (Tác phẩm : Người Nghèo Và Từ Thiện, Tác giả Jorathe Nắng Tím)


Viết về từ thiện là hướng lòng về người nghèo, người nghèo có thể là bác xe ôm hàng xóm với năm đứa con nhỏ bụng ỏng da chì, hay cụ già cuối thôn cô qủa, mà cũng có thể là chính tôi, người đang viết những dòng này; bởi nghèo không chỉ tóm gọn trong thiếu thốn vật chất, mà có thể nghèo ở tinh thần như nghèo kiến thức, nghèo đạo đức, nghèo tư duy.
Nếu tuổi thơ có tâm lý tuổi thơ, tuổi già có tâm lý tuổi già, người giầu có tâm lý người giầu, thì người nghèo cũng có những đặc tính riêng, những vấn đề riêng, những suy tư, chọn lựa riêng không giống những người thuộc các thành phần xã hội khác.
Trước hết, người nghèo là người mang nhiều mặc cảm: mặc cảm nghèo, mặc cảm thua thiệt, mặc cảm bị Trời đoạ đầy, mặc cảm bị người đời bỏ rơi, mặc cảm không được lắng nghe, mặc cảm là người “không tiếng nói”, mặc cảm không được tham dự, góp phần, mặc cảm bị cô lập, khoanh vùng, mặc cảm vô tích sự, gánh nặng của cộng đoàn, mặc cảm thừa thãi, vô dụng, mặc cảm vô tài, bất lực, mặc cảm ăn bám ở nhờ, mặc cảm tầm gửi, lệ thuộc… và vô số những mặc cảm  không tên khác.
Vì mang qúa nhiều mặc cảm, người nghèo rất nhậy cảm trước cái nhìn, lời nói, thái độ của người khác, nhất là của những người thân cận, quen biết, hay những người giúp đỡ họ. Họ dễ hiểu lầm cái nhìn của người khác, dễ tủi thân khi nghe những lời không êm tai, dễ đau khổ trước thái độ thiếu tôn trọng và ân cần. Tâm hồn người nghèo như sợi giây đàn qúa căng, nên chỉ cần chạm nhẹ cũng đủ  rung lên tiếng lòng bi thương, ai oán.
Sẵn căng thẳng vì cảnh nghèo,  trái tim người nghèo như liên lỷ lên cơn sốt, động một tý là nhiễm độc, sơ sẩy một chút là  bị tổn thương, nên những sơ ý của người khác dễ trở thành  niềm đau, nỗi nhục của họ. 
Vì thế, đến với người nghèo bằng thái độ kẻ cả, trịch thượng là xúc phạm họ; giúp đỡ họ mà kể công, tạo áp lực là chà đạp họ; cho họ cơm ăn, áo mặc mà  nạt nộ họ là xỉ nhục họ; giúp họ “xoá đói giảm nghèo” mà chì chiết, mặt nặng mặt nhẹ với họ là vùi dập họ chìm sâu hơn; chia sẻ, bàn bạc với họ để giúp họ ra khỏi cảnh nghèo mà lên lớp dậy dỗ  là đẩy họ vào chân tường thất bại.
Bởi người nghèo sẵn “nghèo” nên sẵn sàng liều lĩnh phí đời, buông đời khi bị xỉ nhục. Bởi người nghèo sẵn không có gì, nên chẳng có gì được coi là quan trọng cần phải cất giữ với họ, kể cả sự sống, khi bị người khác coi thường, khinh khi. Và đó chính là lý do khiến những người làm từ thiện phải đặc biệt lưu ý, hầu tránh gây thêm khổ đau, buồn tủi cho người nghèo đang khi mình thực lòng muốn chia sẻ, ủi an, nâng đỡ họ.
Để tâm hồn người làm từ thiện luôn nồng nàn tình yêu người nghèo và cái nhìn, lời nói, thái độ của họ mãi là những hạt giống Hy Vọng, Tin Yêu, tưởng  không gì hay hơn là thắp sáng trong tim  tâm tình biết ơn người nghèo.
Qủa thực, không gì phi lý hơn khi mang của đi cho mà còn phải biết ơn. Nhưng đó là suy nghĩ bình thường, dễ đưa đến thái độ coi người nhận sự giúp đỡ “thấp cơ, dưới trướng, không cùng đẳng cấp” với mình. Đó cũng là lý do dễ biến những người làm từ thiện trở thành những người đạo đức “tự mãn, tự hào” với công trạng của mình.
Khác với ý nghĩ trên là tâm tình biết ơn người nghèo; vì chính  nhờ người nghèo mà ta nhận ra ta cũng nghèo như họ, nếu có khác là khác ở phạm trù nghèo, và mức độ nghèo. Biết ơn người nghèo  cũng giúp ta tránh kiêu căng, ngạo mạn khi nghĩ mình chẳng bao giờ nghèo, vì ai biết hết được ngày mai? Nhưng quan trọng hơn là người nghèo cho ta cơ hội chia sẻ, phục vụ và nhờ đó, ta biết sống tình người; và nhờ có tình người, đời ta được coi là  một đời người đáng sống, có giá trị.
Tâm tình biết ơn người nghèo rất cần thiết, vì người nghèo mang lại cho đời ta phúc lộc. Sở dĩ họ mang lại ơn phúc, vì người nghèo là người của Trời, Phật, người được Trời yêu thương, được Phật che chở, và ai phục vụ người nghèo, người ấy được Trời thương, Phật phù hộ. Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo đã khẳng định người nghèo được Thiên Chúa yêu thương và ai làm phúc cho người nghèo là “làm phúc” cho chính Thiên Chúa: “Việc gì con làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất, chính là làm cho Ta” (Mt 25,40).
Thiên Chúa đã chọn người nghèo làm đối tượng tình yêu của Ngài và là đường cho con người đến gặp Thiên Chúa. Qua người nghèo, chúng ta đến với Thiên Chúa và với người nghèo, chúng ta bước vào thiên đàng.  
Gửi gắm bạn  những chia sẻ về “người nghèo và làm từ thiện”, người viết không mong gì hơn là được cùng bạn tập yêu thương hơn mỗi ngày, không chỉ yêu mẹ cha, anh em, vợ con, gia đình, bạn hữu, mà còn yêu nhiều, yêu hơn nữa những người nghèo còn vất vưởng, cơ cực ở gần nhà, trong xóm ngõ, giữa công viên, trên hè phố… Họ là những người đáng yêu, tuy dung mạo đáng buồn vì nghèo. Họ là những người dễ thương, nhưng đáng thương vì túng quẫn. Nhưng trên hết và trước hết, họ là những con người như bạn, như tôi và đang cần bàn tay của tôi, của bạn.    
Viết xong tại Paris ngày 27/9/2013,
Lễ thánh Vincent de Paul, Tông Đồ Người Nghèo.
Jorathe Nắng Tím

VII. TÌNH YÊU NGƯỜI NGHÈO

Tất cả những chia sẻ ở trên không thay thế được tấm lòng yêu thương người nghèo như điều kiện phải có ở người làm từ thiện. Kỹ thuật từ thiện, phương án từ thiện, kế hoạch từ thiện, phương tiện từ thiện, tổ chức từ thiện ... ngay cả  con người từ thiện dù tuyệt vời, tài giỏi đến đâu cũng không thể thiếu tấm lòng yêu thương như động cơ làm chạy bánh xe từ thiện.
Thiếu tình yêu dành cho người cơ nhỡ, công trình dù hay đến đâu rồi cũng sẽ chấm dứt. Thiếu một tấm lòng thương người nghèo thật, cố gắng mấy rồi cũng ngã gục, bỏ dở, buông tay. Thiếu tình thương cho người khốn khổ, khó khăn đủ loại, đủ phiá sẽ nhanh chóng đánh gục lý tưởng  từ thiện. Tình thương thật dành cho người nghèo là nền móng vững chắc cho lý tưởng từ thiện, là đôi cánh cho thiện chí từ thiện bay cao, là nguồn sức mạnh cho mọi hoạt động từ thiện, là hy vọng cho mọi ý hướng từ thiện, là  bảo đảm cho mọi ước mơ từ thiện và sau hết là thuẫn đỡ bảo vệ người làm từ thiện trước mọi cám dỗ đầu hàng, buông xuôi; vì những tấn công phi lý và vô trách nhiệm từ nhiều phiá, bởi nhiều nguyên do rất đa dạng và rất khó nhận diện.
Tình yêu thật dành cho người nghèo phải là tuyên ngôn hùng hồn của người làm từ thiện trước những vô ơn, phản trắc. Tình yêu thật dành cho người đau khổ phải là kinh tin kính trước những nghi nan, ngờ vực. Tình yêu thật dành cho người cơ nhỡ phải là  kinh cầu khiêm tốn, đầy xót thương trước những khiêu khích thách thức lòng tự ái, háo thắng, kiêu căng. Tình yêu thật dành cho người yếu đuối, bệnh tật phải là lời hứa cam kết trước những thách đố của nội tâm và áp lực bên ngoài. Tình yêu thật ấy cũng phải là niềm tin, lòng tự hào và niềm vui nơi người làm từ thiện. Và cũng chính tình yêu ấy sẽ  làm cuộc đời từ thiện rực rỡ hạnh phúc, một trời hạnh phúc bao la chỉ có thể nhận và  cảm nghiệm  khi đã hết tình, hết mình cho đi.
Một vài bí quyết ghi nhận được nơi những người lâu năm làm từ thiện:
1.   Bình tĩnh khi bị tấn công:
Câu chuyện có thật “tô bay, điã bay “sau đây ít nhiều nói lên cái khó của từ thiện và sức mạnh của tình yêu; bởi “làm từ thiện không lãnh lương, không lãnh thưởng, nhưng không vì thế mà thỉnh thoảng đã không lãnh tô bay, điã bay vào mặt”.
Chị Dung vừa cười vừa tiếp tục kể câu chuyện xẩy ra cho chính chị ở  khu Xạ Trị thuộc bệnh viện Ung Bướu, Gia Định vào trung tuần tháng 11 năm 2011.
“Một ngày như mọi ngày, 4 giờ sáng tôi đã có mặt để chuẩn bị bữa cháo từ thiện cho bà con bệnh nhân trong khu Xạ Trị. Để tránh tình trạng mất trật tự và khỏi mất thời giờ của mọi người, nhất là để kịp xong trước giờ giao ban của các bác sĩ và y tá, chúng tôi yêu cầu bà con nhận cháo theo thứ tự từng giường. Sáng nay, khi vừa đẩy xe cháo vào phòng 3, tôi đã bị chặn lại bởi một chị bệnh nhân, tay đeo đầy nữ trang, vừa xấn xổ đòi nhận cháo trước mọi người vừa huyênh hoang tự đắc: “Tôi quen nhiều cha,  nhiều sơ lắm... Ông cha L. mới gọi điện thoại thăm tôi đây nè”. Tôi bình tĩnh trả lời : “Em chỉ biết phục vụ bệnh nhân, chứ không biết ai quen cha, quen sơ, quen thầy” và ôn tồn mời chị  trở về giường.
Chưa đến phiên chị nhận cháo, bất ngờ chị nổi sùng ném nguyên cái tô  để đựng cháo vào mặt tôi và oang oang chửi rủa. Chờ cho chị bớt nóng, tôi  vắn tắt nói với chị : “Cháo này là cháo không mất tiền, chúng tôi vất vả tự nguyện đến đây chuẩn bị từ 4 giờ sáng và đem đến mời chị dùng . Không mất tiền  mà chị còn đối xử như vậy, huống hồ  đi ăn tiệm, phải trả tiền, chắc chị còn hống hách, dữ tợn hơn nhiều ”. Và tôi mời chị một lần nữa nhận cháo, nhưng chị tự ái hất phăng tay tôi ra”.
Hai ngày sau, chị xin gặp  và chị đã xin lỗi vì thái độ không đẹp của chị khi cho tôi lãnh “nguyên con” cái tô đựng cháo”.
Hai mươi năm làm từ thiện trong bệnh viện Ung Bướu, chị Dung đã có nhiều kinh nghiệm ứng xử trước những thái độ “không giống ai” của bệnh nhân. Hỏi chị có buồn và nản không ? Chị cười trả lời : “Đôi khi cũng buồn, nhưng tình yêu dành cho bệnh nhân lớn hơn tất cả, nên tôi vẫn vui và tiếp tục phục vụ”.  
2.   “Để mình khỏi buồn”:
Đó là lời căn dặn của Đức mà tôi luôn nằm lòng suốt bao nhiêu năm làm việc từ thiện. Em bảo tôi : “Anh phải tập quên ngay người anh giúp và đừng bao giờ nghĩ mình sẽ có ngày nhờ họ hay họ sẽ trở lại thăm hay trả ơn mình. Hầu như tất cả sẽ quên anh, có thể sẽ ngang ngược, phụ lòng tốt của anh hay tệ hơn  nữa là phản bội anh... Khi đó, anh sẽ không qúa buồn và thất vọng vì mình đã không nuôi bất cứ một hy vọng nào”.
Lời khuyên đó tôi đã triệt để áp dụng và đã cho tôi nghị lực, thanh thản và an bình để mải mê làm từ thiện cho đến hôm nay và sẽ mãi cố gắng tiếp tục cho đến hết đời.
Đã có những cơn cám dỗ gìữ người mình giúp đỡ ở lại với mình, có thể vì quá thương họ, hơn là đợi chờ, tìm kiếm điều gì đó nơi họ ; nhưng  lời khuyên của em và hình ảnh chiếc cầu đã luôn giúp tôi tỉnh thức.
Này nhé, nếu khi làm từ thiện, giúp đỡ người khác, tôi tự nhận mình là nhịp cầu tre, cầu gỗ hay cầu sắt đưa khách qua sông, qua đèo hay qua thung lũng thì tôi không thể giữ mãi ngườì qua cầu ở lại trên cầu, cũng không nên cầm giữ bước chân những khách bộ hành đi qua; vì nhịp cầu là “tôi”  bé quá sẽ bị chiếm đóng, cắm lều và không còn chỗ trống đón những bước chân sắp đi tới, đang cần nhịp cầu để vượt qua khó khăn; vì nhịp cầu là “tôi” yếu đuối sẽ sụp đổ thảm thương nếu hàng trăm người chen chúc ở lại trên cầu; vì nhịp cầu là “tôi” chật hẹp quá sẽ không cho không gian, dưỡng khí và điều kiện sống cần thiết; vì nhịp cầu là “tôi” ngắn ngủi quá sẽ không mở ra cho ai đường đi tới, về một tương lai sáng lạn; vì nhịp cầu là “tôi” tầm thường qúa sẽ không thăng tiến được ai, không hướng cho ai đến một lý tưởng thích hợp; vì nhịp cầu là “tôi” mong manh qúa sẽ không bảo đảm được ngày mai của người đến với tôi; vì nhịp cầu là “tôi” nghèo nàn quá sẽ không làm giàu được đời sống của những người muốn ở mãi với tôi trên cầu.  Là nhịp cầu, tôi phải đón những bước chân người đi, nhưng đi qua thôi, không được dừng lại trên cầu và nhất là không được ở lì mãi trên đó. Là cây cầu, tôi đón khách, rồi tiễn chân khách ngay sau đó, không chần chừ, tiếc nuối, bịn rịn, đòi hỏi; vì nhịp cầu chỉ là nhịp cầu và có giá trị khi sống đúng bản chất là “phương tiện cho người đi qua, vượt qua” và sống đúng sứ mạng “nối hai bến bờ” của nó. Nối hai bến bờ chứ không bao giờ được tự biến chất hay thay đổi sứ mạng để trở thành “bến, bờ”. Bởi khi đòi làm bến, làm bờ, làm đích đến, cây cầu sẽ đánh mất ý nghiã đời mình là “nối kết, giao liên”.
Làm cây cầu cho đàn em, làm nhịp cầu cho đàn con, đàn cháu qua đó mà đi tiếp, qua đó mà đi lên, qua đó mà đạt đích tới là nét đẹp không gì so sánh được của người làm từ thiện. Họ đã  khiêm tốn, hy sinh, thinh lặng, âm thầm nằm xuống làm nhịp cầu cho mọi người buớc qua, đạp lên không vì  quyền lợi của họ, nhưng vì hạnh phúc của những vị khách qua cầu này hoặc nhẹ nhàng,  hoặc tế nhị,  hoặc hùng hổ, hoặc vô tình, hoặc lạnh lùng, hoặc vô cảm, hoặc ung dung, hoặc tỉnh bơ không thắc mắc  đang bước qua đời họ để đi lên, đi tới..
Hình ảnh nhịp cầu cũng là hình ảnh ông lái đò. Ông lái đò đã đưa bao nhiêu khách qua sông từ năm này sang năm nọ. Bao nhiêu khuôn mặt, bao nhiêu tâm tình, bao nhiêu kỷ niệm của khách qua sông đã ở trong ông và làm nên đời ông, nhưng tuyệt nhiên ông không giữ ai lại mãi trên đò. Ông chỉ mong chèo chống cho nhanh, cho khéo, cho an toàn để khách còn tiếp tục hành trình trước mặt, và ông còn kịp quay lại bờ bên kia đón khách. Công việc của ông là đưa khách qua sông, chứ không giữ khách mãi trên sông, vì sông là nơi phải vượt qua và con thuyền là phương tiện để vượt qua không gian khó khăn đó. Ông mãi vui với nghề đưa khách qua sông đã bao nhiêu năm, mà ông không  hề để ý đã có bao nhiêu khách đã nhờ đò ông mà thành công, thành đạt. Thực ra chính cái ông “không để ý” đã cho ông niềm vui và hạnh phúc được mãi là ông lái đò đưa khách qua sông.
Nhịp cầu và con đò là hai hình ảnh nâng đỡ, hai hình ảnh trợ lực, hai hình ảnh biểu tượng lý tưởng đã giúp ta không buồn, hay đúng hơn là không biết buồn như ông lái đò đã “không để ý “ trước những vô tình, vô ý, vô ơn của những người nhận từ ta sự giúp đỡ. Hai hình ảnh đã trở thành kim chỉ nam cho đời làm việc. Và ta sẽ thấy mình là người hạnh phúc khi dấn thân phục vụ  người khác. 
3.   “Cứ gieo hào phóng”:
Nhạc sĩ Giám Mục Thông Vi Vu nhắn nhủ tôi như vậy khi Ngài viết nhạc bài “Gieo và Gặt “. Thế ra “làm từ thiện “ không chỉ đóng khung trong quan niệm cổ điển là “cho  người nghèo tiền bạc, của ăn, áo mặc”, mà còn là gieo, gieo những hạt giống tốt trong cuộc đời, gieo những hạt giống nhân ái trong trái tim mọi người, gieo những hạt hạnh phúc trong đời sống từng người. Làm từ thiện là thực hiện công tác từ ái, thiện hảo, nên bất cứ công việc tốt lành, nhân bản, hành động tử tế, dễ thương, công tác xây dựng, thăng tiến nào cũng đều nằm trong vùng phủ sóng của “làm từ thiện”. Từ thiện là bác ái, từ bi; là đồng tâm, đồng hành; là chia sẻ, đùm bọc; là kết nối, yêu thương.
Từ thiện không chỉ còn là cho đi , nhưng còn là nhận lãnh; bởi đã có gieo, ắt sẽ được gặt; có những ngày gieo trong nước mắt thì cũng có ngày gặt giữa tiếng ca; có ngày vất vả chân lấm tay bùn thì cũng có ngày mùa mừng vui.
Cho đi và nhận lãnh là hai mặt của đồng bạc như gieo và gặt, như sẽ gặt những gì đã gieo. Tóm lại, từ thiện là công việc của con người làm cho con người mà mục đích là nâng đỡ, xây dựng nhau. Trong từ thiện, bản tính “người” của con người được biểu lộ và giá trị “người” của con người được biểu dương.
Từ thiện như thế không còn là việc của một vài người, một số đoàn thể, nhưng là việc chung, việc tự nhiên phải làm của mọi nguời. Mỗi cá nhân đều mang sứ mạng làm từ thiện, vì mỗi người đều được gọi vào đời để sống với người khác, và khi sống với,  nhu cầu chia sẻ, đùm bọc, yêu thương sẽ thúc bách mọi người nghĩ đến nhau. Như thế chương trình “làm từ thiện” sẽ là công việc không biên giới và người gieo sẽ vui tươi, hào phóng tung hạt như Thông Vi Vu diễn tả trong bài “Gieo và Gặt” :  
“Gieo Thành Thật, gặt  được Niềm Tin
Gieo Lòng Tốt, gặt được Thân Tình
Gieo Kiên Nhẫn sẽ gặt Quang Vinh
Gieo Tha Thứ sẽ gặt được An Bình”.

4.   Cùng tìm giải pháp:
Emmaus là tổ chức từ thiện do cha Pierre (5/8/1912- 22/1/2007), người Pháp thành lập lấy tên con đường ngày xưa trên đó hai môn đệ của chúa Giêsu đã đồng hành trong đau buồn, thất vọng sau khi Thầy bị đóng đinh. Cũng trên con đường chất ngất đau buồn, tuyệt vọng này, chúa Giêsu đã hiện ra với hai ông. Ý nghiã của con đường Emmaus là Chúa luôn có mặt, khi chúng ta đồng hành và chia sẻ với nhau từ cơm bánh, nhà ở đến niềm vui, nỗi buồn...
Năm 1949, một người tù vừa được trả tự do, sau khi tự tử hụt vì không có gì để sống đến gặp cha Pierre. Đối diện với anh, cha Pierre đã nói: “Tôi chẳng có gì cho anh và anh cũng chẳng có gì. Thôi, thay vì bó tay chịu chết, anh đến giúp tôi đi để tôi có thể giúp anh”. Và ông bạn tù tự tử hụt vì túng bấn ấy đã là thành viên thứ nhất của  tổ chức Emmaus.
Chủ trương của Emmaus là giúp những người nghèo đuợc sống xứng đáng bằng chính việc làm của mình và độc lập là nguyên tắc vàng của Emmaus. Những người nghèo, cơ nhỡ, không nhà cửa, bệnh tật, cô thân làm thành những nhóm nam - nữ riêng, nhưng sống chung như gia đình. Công việc hằng ngày là thu gom tất cả đồ cũ như sách vở, quần áo, chén diã, giường tủ, tivi, máy giặt, tủ lạnh, xe đạp, vi tính,... và bất cứ đồ gì còn có thể dùng được. Những đồ cũ này được đưa về để anh em cùng nhau sửa chữa, tu bổ, tân trang, rồi được bán lại với một giá rất rẻ cho mọi người mà phần lớn cũng là những người nghèo.
Mục đích là tạo cho người nghèo việc làm và cho những người nghèo khác cơ hội được dùng những phương tiện vật chất mà cứ sự thường họ không bao giờ có đuợc, vì không có tiền mua đồ mới  trong siêu thị, cửa hàng. Mua với giá rẻ những đồ đã dùng rồi, người nghèo sẽ sắm được những món đồ vừa cần thiết vừa  dần dà nâng cao đời sống của họ.
Trung bình mỗi huynh đoàn gồm 50 đến 60 người. Điều kiện để được nhận vào huynh đoàn rất đơn sơ, được tóm gọn trong câu nói bất hủ của người sáng lập : “Bất kể anh, chị là ai, nhưng nếu anh chi đau khổ, hãy đến đây ở, ăn, ngủ và tìm lại niềm Hy Vọng, vì ở đây anh, chị được yêu thương”.
Đau khổ là điều kiện duy nhất để được nhận vào huynh đòan, nên huynh đòan Emmaus hầu như không thiếu một bộ mặt nhân loại đau khổ nào: người nghèo, người thất nghiệp, người ngoại quốc không giấy tờ, người mới ở tù ra, người bị gia đình xua đuổi. Họ giống nhau vì cùng đau khổ và cùng muốn làm lại cuộc đời từ niềm Hy Vọng tìm thấy dưới mái ấm Emmaus.  Hiện trên nước Pháp có 117 huynh đoàn Emmaus với 6899 thành viên. Số thiện nguyện đến giúp Emmaus là 3262, chưa kể các huynh đoàn Emmaus đã có mặt trên 36 quốc gia  khác ở Phi Châu, Á Châu và Nam Mỹ.
Mỗi huynh đoàn có một giám đốc phụ trách điều hành sinh hoạt đời sống, tổ chức công việc, chuẩn bị tương lai cho từng thành viên. Mỗi thành viên đều làm việc và một phần lợi nhuận do công việc sẽ được giữ lại với mục đích chuẩn bị tương lai cho thành viên này, vì mục tiêu sau cùng của Emmaus vẫn là tạo cho mỗi người một đời sống riêng, độc lập, có công ăn việc làm, có gia đình và đời sống hạnh phúc như mọi người bình thường khác.
Chọn gia đình là khuôn mẫu, nên mỗi thành viên là thành phần của gia đình. Mỗi người có quyền lợi và bổn phận của một người anh, người em, người chị trong gia đình là yêu thương, tương trợ, nâng đỡ và thăng tiến nhau. Không có giới hạn thời gian cho thành viên được ở trong huynh đoàn, và thành viên chỉ rời tổ ấm khi đủ khả năng độc lập như con lớn khôn, trưởng thành rời mái nhà cha mẹ đi ở riêng, xây tổ ấm mới.
Cùng tìm giải pháp là cách giúp đỡ tốt nhất đối với người cần được giúp đỡ; vì hơn ai hết, họ biết họ có thể làm được gì và cần gì ở người khác. Giúp đỡ mà không lắng nghe cũng như yêu thương mà không đối thoại. Thiếu lắng nghe, đối thoại, tất cả sẽ bế tắc, bắt đầu từ bế tắc thông tin, đến bế tắc tình cảm, sau cùng là bế tắc chọn lựa, hành động.
Khi ai đến với ta, hay ta đến với người nào đó, việc cần làm trước hết là tìm xem đâu là nhu cầu của họ và đâu là khả năng của ta. Phải biết ta, biết người mới có thể thành công. Cũng có khi ta hoàn toàn bất lực trước những nhu cầu của người đối diện; khi đó, việc duy nhất phải làm chính là ngồi với họ và cùng  họ tìm một giải pháp đơn giản nhất, có thể thực hiện ngay, và rất cụ thể để ta với họ cùng giúp nhau ra khỏi bế tắc. Không cần nhiều lời, không nên toan tính xa xôi, phức tạp, nhưng nên nhắm những gì thực tế và ích lợi trước mắt dù rất nhỏ,  như cha Pierre đã làm với người bạn nghèo khi anh đến tìm cha, sau khi tự tử hụt. Cha không có sẵn giải pháp, nhưng ngồi với anh, cả hai đã  cùng khai sinh chương trình bác ái Emmaus. Nhờ ngồi với nhau và cùng tìm giải quyết bế tắc, cha Pierre đã thực hiện một phép lạ yêu thương vĩ đại mà chính Ngài đã không ngờ.
Thực vậy, chúng ta có thể nói mà không sợ đại ngôn: phép lạ tình yêu là do chính chúng ta làm cho nhau, vì Thượng Đế  tràn ngập Tình Yêu tuyệt vời của Ngài trong mỗi người, đến nỗi chỉ cần  một chút thiện chí “ngồi với nhau”, người ta có thể làm cho nhau nhiều điều kỳ lạ, nhờ sức mạnh nhiệm lạ của Tình Yêu mà Thượng Đế đã quảng đại ban cho con người.
Ý thức ơn huệ và khả năng yêu thương, ta sẽ trân qúy những gì là yêu thương, những gì thuộc về yêu thương, những gì dẫn đến yêu thương. Khi trân qúy những giá trị của tình yêu, ta sẽ không ngại tìm kiếm, xây dựng những giá trị này và nhờ thế, cuộc sống nhân loại ngày càng tươi đẹp, bình an khi tình yêu ngự trị; vì con người không thể hạnh phúc nếu không yêu thương nhau; bởi mọi người đều đã được sinh ra từ một cội nguồn Tình Yêu.
5.   Ở đây và ngay bây giờ  “Hic et nunc”:          
Với Tình Yêu và niềm Hy Vọng, chúng ta cứ bắt đầu bước chân thứ nhất ... còn đường dài  ngày mai đã có Trời và nhiều người thiện chí, nhiều tâm hồn quảng đại, nhiều bước chân dấn thân khác sẽ tiếp nối kiện toàn. Việc của chúng ta là “ở đây, và ngay bây giờ”.
Có những người nghèo chỉ chờ ở ta một bàn tay nắm chặt, một nụ cười cảm thông, một chiếc khăn, một miếng bánh, một ly nước, vài chục ngàn; nhưng ta không làm. Không làm không phải không làm được hay không được làm; nhưng không làm vì:
a.   Ta nấn ná, chần chừ để việc đó cho ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm tới. Khi không làm liền ngay điều có thể làm, chia sẻ ngay những gì đang có, ta đã đánh mất cơ hộiyêu thương người nghèo trong khi họ đang cần ta thương, rất cần ta giúp. Rất có thể họ chỉ cần ta lúc này và ở đây, còn ngày mai, họ không  cần ta nữa; nhưng  vì tình yêu dành cho  người nghèo không đủ lớn, nên ta đã không mau mắn ra tay giúp đỡ, nhưng trễ nải, triển hạn, kể cả nhẫn tâm “xù” luôn cuộc hẹn với họ những ngày sau đó; bởi họ nghèo và không mang lại lợi lộc, vinh dự gì cho ta.

 b.   Cũng có thể ta không làm ngay, giúp ngay vì ta ngại những gì mình giúp ít ỏi, nhỏ bé qúa. Ta nghĩ: đã làm thì phải làm cho ra trò, đã giúp thì phải giúp cho đáng; cũng có thể, người nghèo khó tính có thể cự lại ta, nếu tặng phẩm ta cho họ không đúng mức họ cần, không như họ đợi chờ, ước mơ. Chính những lý do này đã làm ta ngại và dễ dàng bỏ nhiều cơ hội làm từ thiện.  
Thế mới biết: làm từ thiện không dễ, không dễ vì người cho có nhiều khó khăn tâm lý, khó khăn vật chất; mà còn khó vì người nhận không dễ “chịu nhận” những gì người khác chia sẻ, trao tặng; cũng vì nhiều lý do tâm lý phức tạp.
Tuy thế, người làm từ thiện nên nhủ lòng: không để người nghèo trở về tay không, khi làm ngay những gì có thể làm, giúp liền những gì có thể giúp, dù rất ít, rất nhỏ. Đừng quên một đồng “ngay bây giờ và ở đây” nếu được cho với cả tấm lòng sẽ lớn hơn bạc triệu ở một nơi, một thời điểm khác…
 
6.   Yêu và ở lại:
Người ta có thể làm từ thiện  kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”, nghiã là đi nhanh qua, thoáng qua, nhưng không bao giờ dừng lại, chưa nói đến ở lại; trong khi yêu thương luôn đòi ở lại.
Có nhiều cách làm từ thiện và mỗi cách mang lại hiệu qủa khác nhau; nhưng cách nào đi nữa, người làm từ thiện cũng được mời gọi “ở lại” với người nghèo được giúp đỡ. Ở lại bằng nhiều cách, dưới nhiều dạng để người nghèo không tủi thân vì nghĩ mình chẳng giá trị hơn một đàn heo đói meo chờ cám.
Hình ảnh “người Samaritanô nhân hậu, bác ái” trong Kinh Thánh là hình ảnh người làm từ thiện với tình yêu biết  “ở lại” với người được giúp đỡ. Tình yêu “ở lại” mới thực là tình yêu quan tâm hết tình, và phục vụ hết mình.

TÌNH YÊU CHIA SẺ

Khi nghe đến “chia”, ta hình dung ngay một mất mát, một bớt đi, một tình trạng không còn nguyên vẹn như trước. Chạm mặt với “sẻ” ta nhận ngay ra một thiệt thòi. Chính vì thế từ “chia sẻ” đã không làm ta vui, đã không lôi cuốn hấp dẫn, nhất là khi chia sẻ ấy lại là “chia thương, sẻ tình”.
Quả thực, tình yêu đòi chuyên nhất, không muốn bị chia sẻ bởi chia nhỏ ra sẽ ít đi, tình yêu e có ngày sẽ không còn gì hoặc chẳng còn lại bao nhiêu.
Nguy cơ giảm sút tình yêu, nguy cơ tình yêu bị cắt xén đã làm ta canh giữ tình yêu cẩn thận, rào giậu không cho tình yêu có thể xổ lồng đi chia sẻ lung tung. Nỗi lo và những biện pháp ngăn chặn, bảo vệ đó không phải không có lý. Nó có lý vì nếu có chút tình cho nhau mà lại chia sớt cho người khác, hỏi làm sao yên tâm được? Không chỉ hữu lý, nó còn được xem là cần thiết vì trong thực tế, tình yêu thường là đứa con khó nuôi, khó giữ.
Tôi hoàn toàn đồng ý với cái lý, cái cần thiết đó khi cái lý, cái cần thiết ấy đứng với chia sẻ được hiểu theo nghĩa chia là mất đi, sẻ là giảm bớt. Với vật chất, khi chia sẻ là mất đi một phần. Cho ai một ngàn là mất đi một ngàn trong túi, ở trương mục; chia ai phần đất là mất đi phần đất ấy; chia ai gia tài là không còn nguyên vẹn gia tài trước đó. Vật chất đơn thuần theo cân, đong, đo, đếm: nhận vào thì nặng hơn, dài them, cắt đi sẽ ngắn lại, nhẹ hơn. Và như thế, chia sẻ là mất bớt, giảm thiểu.
Nhưng tình yêu không phải vật chất. Nó có mặt trong ta, trong thế giới người, nhưng không lệ thuộc vào vất chất, dù có thể ít nhiều chịu ảnh hưởng vật chất. Phạm trù của tình yêu là thế giới siêu hình, thế giới bao trùm cái thế giới ta đang thấy, đang cư ngụ. Hành trình của tình yêu tuy gắn chặt với con người sống động, nhưng mục tiêu đến của nó luôn là đỉnh cao tuyệt đối. Tình yêu vì thế không được nhìn và đánh giá theo các đơn vị đo lường vật chất.
Kinh nghiệm yêu thương cho thấy khi tình yêu bị khoanh vùng, giới hạn thì ta cảm thấy ngột ngạt, mất tự do, mất hứng thú. Nhiều anh em thường nói cho nhau nỗi nghẹn ngào, tiếc nuối tháng ngày tự do khi chưa lấy vợ. Phần các chị cũng chẳng vui hơn khi ngày mai lấy chồng “như chim vào lồng, như cá cắn câu”; hình ảnh cá cắn câu, chim vào lồng là hình ảnh quá rõ để nói lên tương lai mờ mịt “chẳng có ngày ra”.
Nhưng tại sao khi yêu nhau lại phải nhốt nhau, ký lệnh chung thân, khóa chặt đời nhau? Phải chăng tình yêu chỉ đẹp và hạnh phúc một thời khi yêu nhưng chưa thuộc về nhau? Nếu như thế, thì tình yêu ở đâu khi đã thuộc về nhau và nếu thuộc về nhau để bị kềm kẹp, mất tự do thì tình yêu có thực sự còn ý nghĩa? Và hôn nhân, một hình thức cụ thể thuộc về nhau, đúng là mồ chôn hạnh phúc như nhiều người vẫn nói.
Cái khó luôn dằn vặt ta là tính chuyên nhất, độc quyền trong tình yêu và nỗi khổ mất tự do khi yêu luôn làm ta lo sợ. Làm thế nào để có một thế quân bình cho ta được hạnh phúc khi yêu?
Tôi tưởng thế quân bình này chỉ có thể tái lập khi quan niệm về chia sẻ được thay đổi và ý nghĩa đích thực của chia sẻ được quan tâm.
Như đã trình bày ở trên, tình yêu không phải vật chất, không theo quy luật, phương pháp đo lường của các đơn vị vật chất, nên chia sẻ cũng theo đó, không còn là chia sẻ theo nghĩa thường là mất bớt, giảm sút đi cái mình đang có.
Điêu kỳ lạ của tình yêu là càng chia càng có, càng sẻ càng thêm, càng phân phát càng gia tăng, càng trao ban càng nhận về nhiều. Nó như một loại vi trùng, có cơ hội là lan tràn, chiếm cứ; không giảm khi cho, không mất khi sẻ, không thiệt thòi khi chia. Tình yêu hoàn toàn đi ngược kiểu cách, mực thước đong đo thông thường.
Nhìn vào các vĩ nhân, sở dĩ họ được gọi là vĩ nhân, ân nhân của nhân loại, được hậu sinh hay người đương thời yêu mến, biết ơn vì tình của họ đã được chia sẻ cho nhiều người. Một Ghandi, một cha Pierre, một mẹ Têrêxa, một Jean Caissaigne, nhiều chiến sĩ của hoà bình vẫn sống mãi trong trái tim nhiều người vì dấu vết tình yêu của họ đã đến được nhiều nơi, trái tim họ mang cho nhiều người. Ta cứ nghĩ vì quả tim không lớn nên chỉ có chỗ cho vài người, cho một nhóm hay tệ hơn nữa là chẳng có chỗ nào cho ai. Nghĩ như thế, tim ta sẽ nhỏ dần, lần mòn chết héo, kéo theo cái trống trải cô đơn, cái vô vị của cuộc sống.
Trái tim được sinh ra để gõ nhịp tình yêu, nên khi chối từ vai trò gõ nhịp, tim sẽ hết đập. Sống mà không yêu, cuộc sống sẽ suy thoái và trở thành một cái chết triển hạn. Tình yêu gắn liền với đời người, bởi đời ấy được tạo nên do tình yêu, nên ở bất cứ hoàn cảnh nào, đời ấy không được quên cội nguồn tình yêu của mình.
Không quên mình đến từ tình yêu và chỉ sống trọn vẹn hạnh phúc của đời người khi yêu và được yêu; đời con người không ngơi nghỉ trên hành trình yêu thương. Nó muốn yêu nhiều, yêu mãi dù đường tình lắm truân chuyên, dù người tình lắm lúc khó thương, khó chịu, dù duyên tình không mấy khi trọn vẹn, và dù gì đi nữa, nó vẫn khát khao yêu và ao ước được yêu.
Vì thế, chia sẻ trong tình yêu không làm trái tim hết chỗ, nhưng cho trái tim lớn hơn, rộng hơn. Chia sẻ tình yêu không làm mất vốn yêu thương, nhưng làm cho tình yêu phong phú, bao la và sâu rộng hơn. Người yêu nhiều là người lớn: lớn vì tình yêu của họ có mặt trong tim nhiều người, lớn vì tình họ sống mãi trong tim óc, cuộc đời người khác. Trái lại, người hẹp hòi ích kỷ chỉ yêu mình là người nhỏ, nhỏ vì chỉ có một mình, chỉ là mình và ngoài mình ra không ai nhận ra dấu vết có mặt của đời họ. Người chia sẻ yêu thương không những chỉ lớn, họ còn cao nữa: cao vì đời họ luôn hướng tới Tuyệt Đối, vươn lên đến Trời, nguyên thủy của Tình Yêu.
Chia sẻ là định luật căn bản trong tình yêu. Người không yêu ai là người không bao giờ chia sẻ; bởi yêu là chia cho nhau cái mình là, sự mình có. Càng chia sẻ cho nhau nhiều, tình cho nhau càng lớn. Càng chia sẻ cho nhiều người, tình ấy càng cao cả, vĩ đại. Bản chất của tình yêu là mang đến cho nhau hạnh phúc, hạnh phúc chỉ có thể đến với người khác khi ta chia sẻ, trao dâng chính ta cho họ. Cái ta lúc này là nguồn hạnh phúc cho người ta thương.
Đức Kitô đã sống tình yêu chia sẻ này. Ngài muốn trở thành tấm bánh được bẻ ra cho mọi người. Tấm bánh càng bẻ ra càng lớn, càng phân phát càng thêm nhiều. Hình ảnh phép lạ bánh hóa nhiều, nuôi dân ngày xưa chính là hình ảnh của chia sẻ. Thấy dân đói mệt, Ngài hỏi các môn đệ có bao nhiêu bánh và cá. Câu hỏi của Ngài đã làm các ông buồn cười vì quả thực với mấy con cá và dăm chiếc bánh ít ỏi làm sao đủ cho đám đông năm bảy ngàn người. Ý nghĩ của các ông là tư tưởng và phản ứng thường ngày của con người. Phản ứng tức thời ấy thuận chiều với ích kỷ, tính toán, sợ hết, sợ thiếu của ta. Ý nghĩ ấy có cùng mẫu số chung với trái tim hẹp hòi, nhỏ mọn, cục bộ, thu vén. Nhưng cũng chính vì ý nghĩ và phản ứng “không chia sẻ” mà nhiều phép lạ đã không được thành hình, không có điều kiện để xảy ra trong đời sống. Giá như ta luôn quảng đại, sẳn sàng chia sẻ dù chẳng còn bao nhiêu thì có lẽ vô số phép lạ tình yêu đã được Thiên Chúa thực hiện qua ta, nhờ ta và cùng với ta, như Ngài đã mượn mấy con cá, dăm chiếc bánh mà làm phép lạ nuôi dân ngày nào. Đừng nghĩ những con cá lòng tong nhỏ bé của đời ta là vô giá trị, những mẫu bánh khô cứng trong đời sống ta là đồ bỏ. Không có đồ bỏ, hay vô giá trị trong chương trình chia sẻ của Thiên Chúa với con người; không có đồ dư, hay phụ thuộc trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa với ta; nhưng tất cả những mẩu bánh khô, những con cá nhỏ sẽ làm nên đại sự, sẽ tạo thành phép lạ tình yêu, nếu ta chấp nhận chia sẻ với người khác.
Thiên Chúa không đòi chúng ta phải có nhiều mà chỉ muốn chúng ta chia sẻ những gì chúng ta có; dù những cái có của ta xem ra rất cỏn con, ít ỏi; bởi với tình yêu lớn, những cỏn con, ít ỏi đó sẽ trở thành lớn lao, cao cả.
Chia sẻ tình yêu không còn là món đồ trang sức cho tình yêu đẹp hơn, nhưng trở thành yếu tính của tình yêu. Không có nó, tình yêu không thể sống.
Biết chia sẻ là một hy sinh, một chọn lựa gay go, Đức Kitô nâng đỡ khó khăn nơi ta bằng hứa ban lại cho ta gấp trăm những gì ta chia sẻ và Ngài tự nhận thay ngưòi khác bổn phận đáp trả, đền ơn ta. Thấm thía kinh nghiệm và hạnh phúc khi chia sẻ, Thánh Phanxicô đã thốt lên trong kinh Hòa Bình: “Vì chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”.
Cùng đồng hành với Đức Kitô, Đấng luôn dậy ta chia sẻ trong yêu thương với mọi người, tôi với bạn cứ vui vẻ góp nhặt những mẩu bánh, những con cá đời mình để sẻ chia. Với Đức Tin và niềm vui trong Đức Ái, tôi với bạn chắc hẳn sẽ được thấy những phép lạ vô cùng vĩ đại trong đời sống chia vui sẻ buồn, chia cơm sẻ áo, chia mãi sẻ hoài tình yêu, hạnh phúc cho hết mọi người gặp được trong đời sống.

TÌNH YÊU KHÔNG SỢ HÃI


Thương ai, tin ai mà còn nơm nớp sợ họ là chưa thương, chưa tin họ thật. Tình yêu luôn sánh bước với niềm tin và cả hai không chấp nhận đi chung với sợ hãi.
Sợ người khác là vì người khác là một nguy hiểm cho tôi, một đe dọa cho an toàn của đời tôi. Không ai sợ một người không nguy hiểm hay hãi một người không còn khả năng đe dọa. Thế giới hôm nay có nhiều chuyện, nhiều người làm ta sợ: ta sợ những người cuồng tín đang muốn tiêu diệt những ai không tin điều họ tin, ta sợ những người chủ trương kỳ thị không còn thiện chí, kiên nhẫn sống chung với nhũng người không cùng màu da, tiếng nói với họ, ta sợ đám đông bạo động sẵn sàng điên cuồng bắn giết bừa bãi trên đường phố, ta sợ những khủng hoảng kinh tế, chính trị đang đưa ta đến ngõ cụt của đời sống. Sợ hãi đang ngự trị thế giới và làm đảo lộn trật tự sẵn có. Nỗi sợ ấy còn gặp trong tôn giáo khi tôn giáo đặt cho ta nhiều vấn đề chưa minh chứng: thiên đàng, hỏa ngục, thưởng phạt đời đời.
Những lo âu, nghi ngại, sợ sệt ấy là biểu hiện của thân phận người bất toàn và hạn hẹp trong những điều kiện của không gian, thời gian. Thời gian không cho ta an tâm khi nghĩ đến tương lai, không hài lòng với tháng ngày của quá khứ. Không gian giữ ta ở một nơi làm ta ngại những nghịch cảnh ở những nơi chưa tới, sắp tới. Thân phận người đáng sợ vì hữu hạn, bất toàn, khiếm khuyết và nỗi sợ ấy không mấy khi chịu buông tha con người.
Biết con người hay sợ, Đức Kitô mỗi lần gặp các môn đệ đều lên tiếng nhắc nhở “Các con đừng sợ, Thầy đây”. Khi nhắc các ông đừng sợ, Ngài xác nhận có nỗi sợ bủa vây con người. Là một cây sậy mỏng manh, con người sợ thiên nhiên, sợ quỷ thần, sợ nhau và sợ ngay cả chính mình. Là một sinh vật có ý thức, con người biết run rẩy, nổi da gà, lẩn trốn khi sợ hãi. Và nỗi khổ đau thường xuyên có mặt của con người chính là nỗi sợ này.
Ngay khi yêu nhau, ta vẫn sợ nhau. Vợ sợ chồng bỏ, chồng sợ vợ khinh, bạn bè sợ bị phản bội. Từ sợ nhau, ta dè dặt, đề phòng, thủ thân. Từ sợ nhau, ta đóng kịch, giả hình để rồi không lâu sau, tình yêu phai nhạt dần nhường chỗ cho nghi nan, lẩn tránh. Vấn đề của ta hôm nay là làm thế nào để không còn phải sợ nhau khi yêu nhau.
Để không còn sợ nhau, trước hết ta phải tránh làm cho nhau sợ. Có nhiều cách làm cho người khác sợ như la rầy, chửi bới, châm chọc, khinh mạn, phản phé, lừa đảo, giết hại; không kể đến những phương thức trấn áp có tính cách quy mô, khoa học của các nhà độc tài, những đường lối khai thác và gieo rắc kinh hoàng của các chế độ phi nhân mà ngày nào ta cũng thấy, cũng nghe qua các phương tiện truyền thông.
Những phương cách làm sợ trên, một cách nào đó, ta không thể xử dụng nên không cần bàn thêm; nhưng điều đó không có nghĩa ta đã chẳng làm ai sợ bao giờ; vì ngoài những phương thế khủng khiếp trên, trong tay ta vẫn luôn sẵn có những vũ khí tuy nhỏ nhưng đủ sắc bén để làm người khác sợ. Một trong những khí giới lợi hại ấy là sự “vắng mặt” của ta. Vắng mặt đây không chỉ là vắng mặt thân xác, nhưng còn là vắng bóng của tâm hồn. Ta có thể ngồi đó, ở đây nhưng không can dự gì vào đời của người quanh ta. Ta có thể nhìn họ, nghe họ nói, nhưng chẳng để tâm, ưu tư gì đến vấn đề của họ. Ta cũng có thể ở cùng nhà, ăn cùng mâm với một người nhưng trái tim ta không có chỗ cho họ. Sự vắng mặt tâm hồn mới thực sự là nỗi sợ lớn nhất cho người khác. Cứ hình dung một gia đình, chiều chiều mọi người đều về nhà, thấy nhau nhưng không ai nghĩ đến ai, không ai quan tâm đến ai, không ai chia sẻ với ai, mọi sinh hoạt ăn ngủ đều chu tất nhưng tâm hồn không có nhau, vắng bóng nhau; gia đình ấy ắt phải là một gia đình bất hạnh.
Tình yêu không chịu được giá lạnh của trái tim, không cam nổi dững dưng của tâm hồn. Nó sẽ chết vì sự vắng mặt đáng sợ của đối tượng, nên khi yêu nhau, người ta đòi có nhau trong đời, giữ nhau trong hồn, ấp ủ nhau trong tim, gặp gỡ nhau trong thao thức khắc khoải. Cái vắng bóng của tâm hồn này không chịu ảnh hưởng của không gian tù túng nên có thể xa nhau vạn dặm mà vẫn gần nhau, ở sát cạnh nhau mà lại nghìn trùng xa cách. Chính vì thế, ta không còn sợ khi được “có nhau”, dù biết giông bão cuộc đời có thể còn dữ dội, kinh khủng hơn ngàn lần khả năng hữu hạn của ta và người ta yêu. Kinh nghiệm vượt ngục, chạy loạn, chiến tranh cho thấy ta sẽ không còn sợ khi có nhau. Người lính sẽ can đảm khi có đồng đội cùng chia sẻ hiểm nguy chiến trường, người bạn gái sẽ không còn sợ sệt, nao núng giữa đêm khuya trên đường chạy loạn nếu bên nàng luôn có người yêu. Sự có mặt đã đẩy lui nỗi sợ; chỗ đứng trong tim người khác đã mang lại niềm tin lớn và hy vọng tràn đầy.
“Khi thấy các môn đệ sợ hãi, khiếp đảm trước sóng gió” (Mc 435,41), Đức Kitô đã bảo các ông “đừng sợ”. Đừng sợ vì có Ngài ở với các ông, đừng sợ vì Ngài không bao giờ bỏ các ông, đừng sợ vì có tình Ngài che chở các ông. Hình ảnh Ngài nằm ngủ trên con thuyền chòng chành, chao đảo vì sóng gió là hình ảnh có mặt của tình yêu. Chính “tình yêu có mặt” này đã trở thành phép lạ đem lại an bình cho các ông. Sự có mặt của tình yêu có đủ sức làm ta không còn sợ, bất chấp hiểm nguy, đe dọa. Đây chính là then chốt của tình yêu mạnh hơn sự chết.
Sở dĩ khi yêu con, người mẹ đã không sợ chết, trái lại còn sẵn sàng chết thay con là vì bà biết: bà có chỗ đứng trong trái tim con bà. Chỉ cần có chỗ đứng trong tim con thôi, người mẹ đã có thể đánh đổi tất cả, kể cả sự sống của chính mình. Đây cũng chính là hạnh phúc của những người yêu nhau dâng hiến mạng sống cho nhau. Họ mãn nguyện, an bình, không run rẩy sợ hãi vì có nhau trong trái tim và cuộc đời nhau. Chuyện tình Roméo và Juliette đã diển tả sâu sắc nét đẹp bi hùng và hạnh phúc viên mãn của một mối tình không sợ hãi vì biết “mình có nhau”.
Lạy Đức Kitô, người con yêu! Xin cho con đừng sợ những ngày dài vô vị, những đêm dài chập chờn, những chiều mưa tầm tả, quạnh hiu trên đường tình. Xin cho con đừng run rẩy khi cô đơn chiếc bóng, đừng thất vọng khi không ai dành cho con một chỗ trong tim họ. Ở những khúc quanh đau khổ đó, xin cho con đừng nóng nảy, đe dọa, trừng phạt người khác; nhưng cho con biết noi gương các môn đệ chạy đi tìm và đánh thức Chúa dậy. Cũng ở khúc rẽ nguy hiểm của đường tình, khi con nao núng, hoảng sợ, xin Chúa đừng ngủ quên nhưng nhớ thức dậy có mặt bên con; vì tim Chúa chính là nơi con tựa nương, an nghỉ.