Tìm kiếm Blog này

Thứ Tư, 19 tháng 2, 2020

MÙA CHAY TRUYỀN GIÁO (2)


Suy Niệm 2 : Trái Tim biết cảm thương, chạnh lòng
Trên đường theo Đức Giêsu truyền giáo, các tông đồ đã nhiều lần bộc lộ tinh thần còn xa Tin Mừng của các ông, khi dễ dãi chọn những phương án, và cách giải quyết thuần nhân loại trước những vấn đề của con người, không như Đức Giêsu mong muốn. Một trong những điều Ngài không mong muốn đó, chính là trái tim vô cảm, không biết cảm thương, chạnh lòng.
Một vài trường hợp cụ thể, điển hình :
Tin Mừng Matthêu kể câu chuyện người đàn bà xứ Canaan. Bà có đứa con gái bị qủy ám, nên lẽo đẽo đi theo và năn nỉ Đức Giêsu thương cứu chữa. Bà lớn tiếng kể lể, thở than, kêu van đến nỗi làm các tông đồ phát cáu, bực bội, và các ông đã  đề nghị với Đức Giêsu một phương án : “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo chúng ta mà kêu mãi !” (Mt 15, 23).
Kêu mãi, than hoài làm người nghe đầy tai, nên nổi quạu ; kêu hoài, than mãi khiến người chung quanh phải khó chịu, nổi khùng. Các môn đệ của Đức Giêsu đã rơi vào tình trạng nổi quạu, nổi khùng này, và đã chọn giải pháp “bảo bà ấy về đi” cho mọi người được yên, bớt nhức đầu.
Tin Mừng Máccô kể về đám đông dân chúng say mê nghe Đức Giêsu giảng dậy đã rơi vào tình trạng đói, khi trời đã về chiều và ở nơi hoang vắng. Trước hoàn cảnh này, các môn đệ cũng đã đề nghị một giải pháp mau chóng, giản tiện, thuần nhân loại, đó là giải tán, khi thưa với Đức Giêsu : “Xin Thầy cho dân chúng về…” (Mc 6,36).
Tin Mừng Luca thì kể chuyện các em bé được cha mẹ dẫn đến để xin Đức Giêsu đặt tay chúc lành, nhưng các môn đệ của Đức Giêsu thấy thế đã “la rầy chúng” (Lc 18,15).
Nếu có những người ngày xưa từng bước đi theo Đức Giêsu, nhưng đã không “chạnh lòng” như Ngài khi thấy đám đông “như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6,34) ; nếu có người  chăm chú nghe Đức Giêsu rao giảng trên đất nước Palestin cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng đã không “xót xa” như Ngài, khi thấy bà goá  trên đường đi chôn con trai duy nhất ở thành Nain (x. Lc 7,13) ; nếu có những người vất vả chen lấn để sờ được vào gấu áo Đức Giêsu ngày xưa, nhưng đã không  “thương cảm” như Ngài trước đoàn người đông đảo bệnh tật (x. Mt 14,14) ; nếu nhiều người có Đạo cách đây hai mươi mốt thế kỷ đã không “chạnh lòng thương” người anh em bị bọn cướp trấn lột, đánh nhừ tử, rồi bỏ mặc “nửa sống nửa chết” bên đường (x. Lc 10,33), thì hôm nay cũng không thiếu những người có đạo đầy quyền thế đã cho lệnh giải tán đám đông nghèo khó hay đến làm phiền ; không thiếu những tín hữu chẳng biết xót xa, thương cảm là gì trước những thân phận thiếu ăn, thiếu mặc, gầy giơ xương, nghèo kiết xác của đồng đạo, và nhiều lắm những người mang danh Kitô hữu “rất kêu, rất bóng, rất nổi, rất hoành tráng”, nhưng hoàn toàn không mang trên mình một hình ảnh, một dáng dấp, một thái độ, một lời nói, một việc làm “chạnh lòng thương” của Đức Giêsu. Và ngày xưa cũng như ngày nay, hôm nào cũng như hôm nay, thế giới vẫn không thiếu những con người vô cảm, trong Giáo Hội cũng không khó gặp những trái tim chai đá, giữa xứ đạo cũng còn nhan nhản những tấm lòng cứng cỏi, băng giá, vô tình trước đau khổ, khốn nạn của đồng đạo, tha nhân.
Nhưng có một con người không thể vô cảm, có một sứ mệnh không cho phép vô tình, vô tâm, có một ơn gọi không chấp nhận trái tim cạn khô lòng thuơng xót, đó là con người truyền giáo, sứ mệnh truyền giáo, ơn gọi truyền giáo, trái tim nhà truyền giáo.
Bởi truyền giáo là giới thiệu Đức Giêsu, dung mạo của Chúa Cha giầu lòng thương xót, bao dung ; truyền giáo là đồng hành với người khác đi vào trái tim thương cảm của Đức Giêsu, Thiên Chúa luôn chạnh lòng xót thương ; truyền giáo là cộng tác với Thiên Chúa trong công việc biến đổi trái tim kiêu căng, chai cứng, vô cảm của con người thành hiền lành, khiêm nhường, yêu thương, nhẫn nại, hy vọng và hy sinh vì hạnh phúc của tha nhân như trái tim Đức Giêsu ; truyền giáo là mở cõi lòng, mở tâm tư đón nhận tất cả, nên mọi sự cho tất cả trong yêu thương, phục vụ ; truyền giáo là nhân danh Đức Giêsu, Đấng là Tình Yêu cứu độ để “loan báo Tin Mừng cho người nghèo..., công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, và công bố năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19), nên vô cảm, vô tâm, vô tình không thể chung sống với nhà truyền giáo, người rao giảng Tin Mừng, giới thiệu và làm cho mọi người tin yêu, tôn thờ Đức Giêsu, Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng luôn chạnh lòng, trắc ẩn, thương xót, bênh vực, giải thoát, cứu chữa.
Vâng, nhà truyền giáo là người mang Đức Giêsu, Đấng luôn chạnh lòng thương xót ; là người loan báo Đức Giêsu, Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian ; là người chuyển ban ơn Bình An của Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” đã hiến mạng để cứu chuộc con người tội lỗi sẽ khó có thể sống ơn gọi và sứ mạng truyền giáo của mình, nếu không biết chạnh lòng thương xót, vì thực ra, ơn gọi truyền giáo, sứ mệnh truyền giáo, cũng như con người truyền giáo chính là Thương Xót mọi người như Đức Giêsu đã chạnh lòng thương xót.        
Khi còn ở với các Tông Đồ, Đức Giêsu đặc biệt chú tâm đào tạo con tim của các vị để các vị biết chạnh lòng như Ngài, biết nhìn đoàn chiên như Ngài nhìn, biết chăm nom, săn sóc đoàn chiên như Ngài chăm nom, săn sóc, nhất là biết hy sinh cho đoàn chiên như Ngài đã hy sinh. Vì thế, mỗi lần các vị chọn phương án không bác ái, như xin lửa từ trời xuống đốt một làng xứ Samari để trừng phạt dân làng đã không đón tiếp Đức Giêsu và các ông (x. Lc 9,52-56), hoặc tìm cách giải quyết cho “được việc”, nhưng thiếu từ tâm theo kiểu thế gian như “giải tán, đuổi về, la mắng”, thì đều bị Ngài khiển trách, dậy bảo.
Thực vậy, chỉ với trái tim biết thương cảm, chạnh lòng như Đức Giêsu, nhà truyền giáo mới thực sự truyền giáo khi quy tụ mọi người quanh Lời Chúa và Thánh Thể. Nếu không, nhà truyền giáo sẽ chỉ làm công việc của nhân viên quảng cáo, tiếp thị, khi giới thiệu một mặt hàng, một sản phẩm, mà không giới thiệu “Con Người Thiên Chúa”, không làm chứng Tình Yêu của Thiên Chúa, Đấng từ bi và nhân hậu, và không làm cho Đức Giêsu được có mặt và lớn lên trong trái tim và cuộc đời  mọi người, như điều Chúa muốn ở người được gọi và sai đi truyền giáo.
Jorathe Nắng Tím

LỄ TRO


Thứ Tư LỄ TRO
Hằng năm, vào thứ Tư Lễ Tro, khi cùng cộng đoàn khiêm tốn tiến lên để được chủ tế và các thừa tác viên xức Tro trên trán, tôi lại cảm thấy trong tim dạt dào một niềm xúc động rất đặc biệt của người có tội được Thiên Chúa yêu thương, và niềm vui khôn tả được đồng hành với mọi người trong Giáo Hội lên đường Sám Hối.
Niềm xúc động ấy phong phú đến kỳ diệu, khi duy nhất một lần trong năm phụng vụ, cả nhà thờ từ cụ già đến trẻ thơ, từ linh mục chủ tế đến người còn đang học giáo lý tân tòng, nam nữ, lớn bé bất kể, nghiã là không trừ một người nào, không loại bỏ một ai, nhưng tất cả đều “bình đẳng” nối đuôi nhau tiến lên, để được xức Tro, mở đầu một Mùa Trở Về.
Cả nhà thờ hôm ấy cùng “xé lòng” ăn năn, khóc lóc và thống thiết nài xin ơn thương xót (x.Ge 2,12-13).
Cả cộng đoàn cùng một trái tim hối tiếc vì tội cũ, lỗi xưa và đấm ngực thân thưa : “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài” (Tv 50,6).
Cả tập thể cùng lên đường trở về, vì “trông cậy vào lòng nhân hậu xót thương và lượng hải hà xoá tội” (Tv 50,3).
Cả đoàn người cùng cúi đầu nhận tội và “xin tha tội chết”, vì “biết tội mình đã phạm, và lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm” (Tv 50,5).
Và toàn dân cùng tha thiết nguyện cầu : “Lậy Chúa, xin dùng cành hương thảo rẩy nước thanh tẩy con, để con được tinh tuyền ; xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết” (Tv 50,9).
Vâng, chỉ ngày Lễ Tro, tôi mới nhận ra mình cùng chung một thân phận với mọi người : thân bụi tro, vì được dựng nên từ tro bụi, và phận “người có tội”, vì “ngay lúc chào đời đã vương lầm lỗi, và mang tội khi mẹ mới hoài thai” (Tv 50,7) ; chỉ khi trán được xức tro, tôi mới khám phá ra mình đồng cảnh, đồng thuyền với mọi người : đồng cảnh bị xua đuổi, không cho gần Nhan Thánh, đồng thuyền mong manh, dễ vỡ sắp bị Thiên Chúa dìm sâu, nghiền nát vì bất tín, bất trung (x. Tv 50, 10.13).   
Nhưng không chỉ cảm xúc dạt dào trong tim người có tội được tha thứ, tôi còn hớn hở vui mừng trong ngày lễ tro, khi không một người nào có mặt trong thánh đường đã bị “mất quyền” hay bị “tước quyền” được xức tro sám hối, và ai nấy, theo thứ tự bước ra khỏi hàng ghế, nghiêm trang, khiêm nhuờng tiến lên xin được  xức tro trên trán, dấu chỉ của thống hối, ăn năn.
Tôi vui khôn tả khi cả những người bị phạt vạ và “treo quyền” rước lễ từ nhiều năm, hôm nay cũng lên chịu tro cùng mọi người ; tôi hạnh phúc dạt dào khi thấy nhiều đôi bạn trẻ “sống chung” ngoài bí tích, những ngày lễ Chúa Nhật thường lấm lét, lủi thủi kiếm một chỗ kín đáo sau hàng cột để nép mình, hôm nay phấn khởi xếp hàng theo mọi người tiến về Cung Thánh để được xức Tro ; và tôi sung sướng đến bật khóc, khi không một người trong nhà thờ đã ngồi lì tại chỗ, nhưng tất cả  đứng dậy, cất bước cùng Giáo Hội lên đường Sám Hối, Trở Về với Thiên Chúa.
Vâng, với tôi, ý nghiã đẹp và sâu sa của Lễ Tro chính là tất cả chúng ta cùng khiêm tốn nhìn nhận mình là tội nhân trước mặt Thiên Chúa ; cùng chia sẻ thân phận yếu đuối, mỏng dòn, dễ bể, dễ gẫy trước cám dỗ, cạm bẫy của ma qủy, thế gian ; cùng biết mình không có gì cao qúy, cao trọng, cao cả đến độ tự cho phép mình hống hách, kiêu căng “lên mặt, lên lớp, lên giọng, lên gân” trước anh em, bởi tất cả chúng ta là chi thể của cùng một Thân Thể Đức Kitô, mà đã cùng một Thân Thể, thì không có chia rẽ, phân bì, kỳ thị, tranh giành, đấu đá, “trái lại các bộ phận đều lo lắng cho nhau. Nếu một bộ phận nào đau, thì mọi bộ phận cùng đau, một bộ phận nào được vẻ vang, thì mọi bộ phận cùng vui chung” (1 Cr 12,25 -27), để sẽ không chỉ một ngày Lễ Tro trong năm, nhưng là mọi ngày trong năm, mọi người trong cộng đoàn, mọi thành phần Dân Chúa, cùng toàn thể Hội Thánh chiến thắng, thanh tẩy, lữ hành cùng sốt sắng cất lời cầu xin :
“Lậy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tâm hồn cho con nên thủy chung. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con nguồn vui vì được Ngài cứu độ, lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con” (Tv 50, 12-14), bởi vì “Chúa là Đấng từ bi và nhân hậu, chậm bất bình và giầu tình thương, Người hối tiếc vì đã giáng họa” (Ge 2,13), để suốt đời “con cất tiếng ngợi khen Ngài” (Tv 50,17).
Jorathe Nắng Tím 

MÙA CHAY TRUYỀN GIÁO (1)

Suy Niệm 1 : Nhà Truyền Giáo nhận được rất nhiều để quảng đại trao ban, hào sảng phân phát
Tin Mừng Máccô 6,34-43 kể lại phép lạ Đức Giêsu làm cho bánh hóa nhiều lần thứ nhất. Trong trình thuật phép lạ này, Đức Giêsu đem đến cho nhà truyền giáo nhiều ngạc nhiên, bất ngờ :
Ngạc nhiên khi Đức Giêsu trả lời các tông đồ : “Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi !” (Mc 6,37).
Như chúng ta, các tông đồ đã không khỏi bất ngờ và ngạc nhiên khi nghe Thầy mình “nói như không nói, trả lời như không trả lời”, vì các ông biết, và tất nhiên Đức Giêsu thừa biết : sức các ông làm sao có thể lo ăn cho “đám người rất đông” như thế (Mc 6,34), khi “ở đây hoang vắng và bấy giờ đã khá muộn” (Mc 6,35).
Các Tông Đồ còn bỡ ngỡ, ngạc nhiên hơn khi Ngài hỏi : “Anh em có mấy chiếc bánh ?” (Mc 6,38), mặc dù các ông đã trình bầy với Ngài : lo cho đám đông ăn lúc này và ở đây là việc làm bất khả thi, vì ngay cả có hai trăm quan tiền, mà thực tế các Tông Đồ không có (x. Mc 6,37), cũng không mua đủ bánh nuôi ăn cả đám đông.
Và khi thấy Đức Giêsu “cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ bánh ra, trao cho các ông để các ông dọn ra cho dân chúng” (Mc 6,41), các Tông Đồ lại thêm một phen bất ngờ, kinh ngạc, và lần này thì không còn dám tin vào mắt mình nữa.
Không dám tin vào mắt mình, vì bánh càng bẻ ra càng tăng thêm, cá càng chia ra càng vô số “sinh sôi nẩy nở”. Không dám tin vào mắt mình, vì sự thật lạ lùng đang diễn ra trước mắt : chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá, “mà ai nấy đều ăn và được no nê” (Mc 6,42), chưa kể sau đó thu lại “những mẩu bánh được mười hai thúng đầy, cùng với cá còn dư” (Mc 6,43).
Thực vậy, cũng như các Tông Đồ, đời của nhà truyền giáo là đời của người đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, từ bỡ ngỡ này sang bỡ ngỡ nọ, từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên kia, bởi chân tính của người môn đệ Đức Giêsu là được kêu gọi, và sai đến một địa chỉ hoàn toàn không biết trước như Ápraham khi được gọi “đã rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha, mà đi tới đất” Thiên Chúa sẽ chỉ cho ông (St 12,1). Sẽ chỉ, chứ chưa chỉ, nên ông vẫn không biết  điều gì, việc gì sẽ xẩy đến trên hành trình được sai đi.
Không biết nơi sẽ đến, nhà truyền giáo cũng không biết trước những con người mình sẽ gặp, như Môsê có bao giờ nghĩ đến chuyện gặp Pharaô uy quyền của một đế quốc Ai Cập hùng mạnh. Và ông đã “bật ngửa” sững sờ, và hốt hoảng thưa với Thiên Chúa : “Con là ai mà dám đến với Pharaô… ?” (Xh 3,11), khi Ngài sai ông đi.
Không biết nơi sẽ đến, người sẽ gặp, nhà truyền giáo còn không được biết sẽ làm việc gì, sẽ thực hiện công trình nào, sẽ phụ trách kế hoạch, lãnh vực nào, nhưng chỉ biết : Thiên Chúa sẽ nói phải đi đâu, sẽ cho biết phải làm gì, gặp ai khi giờ Ngài đến, như những gia nhân ở tiệc cưới Cana đã chỉ biết làm những gì Đức Giêsu bảo, như lời căn dặn của Thân Mẫu Ngài (x. Ga 2,5).
Qủa thực, trong trình thuật “phép lạ bánh hoá nhiều”, các tông đồ ngay từ đầu đã ý thức : chỉ một mình Đức Giêsu mới có thể nuôi cả đám đông, vì Ngài được quyền năng Thiên Chúa bao phủ, nên lời nói, cũng như hành động của Ngài đều làm nên những việc lạ lùng, kỳ diệu. Đồng thời các ông hiểu rằng : tự các ông không làm được gì để cho đám đông gồm “năm ngàn người đàn ông, chưa kể đàn bà và trẻ em ăn no nê” (x. Mc 6,44), bởi các ông hoàn toàn bất lực trước đòi hỏi của Thầy : “Anh em hãy cho họ ăn đi !” (Mc 6,37).
Vì thế, chỉ còn giải pháp nhân loại có thể đề ra là xin Đức Giêsu giải tán đám đông, “cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn” (Mc 6,36).
Phải chờ đến khi Đức Giêsu “cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá”, mà các tông đồ đã đem đến cho Ngài, và làm phép lạ cho bánh và cá hoá ra nhiều, thì các ông mới hiểu điều Đức Giêsu muốn dậy các ông : 
Đức Giêsu muốn dậy các tông đồ và tất cả các nhà truyền giáo, cũng như những ai đi theo Ngài : Thiên Chúa không hoạt động một mình, nhưng hoạt động với con người để cứu độ con người ; không làm việc một mình, nhưng làm việc với con người để đem hạnh phúc và sự sống cho con người ; không độc quyền giải quyết vấn đề của con người, nhưng đòi con người cộng tác, đóng góp, dù phần đóng góp ấy bé nhỏ, và khả năng cộng tác ấy không đáng kể dưới mắt con người, bởi đối với Thiên Chúa, không đóng góp nào của con người là vô ích, không thiện chí nào của con người bị coi thường, không cộng tác nào của con người bị đánh giá không cần thiết, vô giá trị.
Cũng thế, con người  không thể một mình giải quyết, một mình xử lý, một mình bao sân, độc diễn, nhưng cần có sự trợ giúp của Thiên Chúa, cần có bàn tay can thiệp của Thiên Chúa, cần có hoạt động yêu thương, quảng đại của Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã làm cho “năm chiếc bánh và hai con cá” ít oi, bé nhỏ, “chẳng thấm thía vào đâu” của các tông đồ mang đến hóa thành những thúng bánh đầy, những mẹt cá ngon nuôi hàng ngàn người ăn no nê.
Đức Giêsu còn dậy các tông đồ và nhà truyền giáo ý thức sứ mệnh căn bản của mình là “nhận lãnh hồng ân từ Thiên Chúa để hào sảng ban phát cho mọi người”.
Hình ảnh các tông đồ, theo lệnh của Đức Giêsu “bảo mọi người ngồi thành từng nhóm trên cỏ xanh” (Mc 6,39), và dọn bánh, cá ra cho dân chúng ăn (x. Mc 6,41) đã nói lên sứ mệnh của các tông đồ và nhà truyền giáo là  lãnh nhận nhiều từ Thiên Chúa để qủang đại ban phát cho mọi người được no thỏa, phủ phê ơn sủng.
Tóm lại, để truyền giáo hữu hiệu và để tâm hồn luôn được thanh thản, bình an, nhà truyền giáo cần ý thức sứ vụ “nhận lãnh ơn sủng từ Thiên Chúa, để ban phát cho mọi người”. Ơn sủng ấy nhà truyền giáo không tự mình làm ra được, nhưng Thiên Chúa lại cần phần đóng góp tuy bé nhỏ, nhưng không thể thiếu của nhà truyền giáo để làm nên đại dương ơn phúc, và người kín múc ơn phúc từ đại dương tình yêu ấy để ban phát cho mọi người chính là nhà truyền giáo được Thiên Chúa chọn và sai đi.      
Vâng, càng ý thức phận hèn mọn và hồng ân Thiên Chúa ban, nhà truyền giáo càng xác tín : Thiên Chúa cần sự yếu đuối của người được chọn để làm nên những việc cao cả, phi thường, như đã lấy bụi tro tầm thường mà tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài. Một khi ý thức điều này, nhà truyền giáo sẽ nhủ mình phải khiêm tốn và qủang đại ban phát tất cả những gì nhận được từ Thiên Chúa cho mọi người, vì sứ mệnh của các vị là “nhận lãnh rất nhiều từ Thiên Chúa để quảng đại trao ban, hào sảng phân phát”, và không giữ ơn sủng như của riêng mình.
Jorathe Nắng Tím

YÊU NHƯ HỌ LÀ

Càng yêu nhau, ta càng sợ mất nhau. Càng sợ mất nhau, ta càng đặt cho nhau nhiều lần câu hỏi: "Anh có yêu em không, Em có yêu anh không?" Sở dĩ cứ phải hỏi nhau hoài về chuyện có yêu, còn yêu nữa không là vì ta bị ám ảnh bởi những đổi thay. Những đổi thay nơi ta làm ta sợ ngươì ta yêu không yêu ta nữa, những đổi thay nơi người ta yêu có thể làm họ tự tách xa ta hay ta giảm bớt yêu họ. Đổi thay ở ta hay nơi họ cuối cùng đều gây cho ta một nỗi lo, một bâng khuâng, nghi ngại. 
Đức Kitô cũng giống ta, Ngài yêu các môn đệ rất nhiều. Riêng với Phêrô, Đức Kitô yêu ông đặc biệt. Ông là người được tín nhiệm và tuyển chọn thay mặt anh em, rồi thay chính Ngài sau này đứng đầu Hội Thánh. Thuơng Phêrô nhiều, Ngài vẫn hỏi ông: "Con có yêu Thầy không?" Câu hỏi đã làm nặng lòng Phêrô vì nhiều lần ông đã trả lời Ngài: "Lạy Thầy, Thầy biết, con yêu mến Thầy." (Ga 21,15-17).
Như con người, Đức Kitô cũng hay hỏi người Ngài yêu: Con có yêu Thầy không? Nhưng khác con người, câu hỏi ấy không đến từ tâm trạng nghi ngại, lo sợ người mình yêu thay lòng đổi dạ, nhưng do lòng tín nhiệm tuyệt đối của Ngài nơi người Ngài yêu.
Khi hỏi Phêrô có yêu mình không, Đức Kitô biết Phêrô đã chối mình, phản bội mình. Biết rất rõ những bẽ bàng đã xẩy ra, nhưng Đức Kitô vẫn một lòng yêu Phêrô và tiếp tục tín nhiệm trao trọng trách cho ông. Ngài không thay măt đổi lòng khi Phêrô thay lòng đổi mặt. Ngài không ăn miếng trả miếng, không hậm hực, miả mai xa gần, bóng gió. Nhìn vào tình Ngài dành cho Phêrô, ta không tìm ra một khoảnh khắc suy thoái, xuống cấp; trái lại, xem ra Phêrô càng yếu đuối, tình Ngài cho ông càng mặn nồng, dào dạt.
Hỏi Phêrô có yêu mình nhiều không, Đức Kitô giúp ông nhận ra hơn tình Ngài thương ông mỗi lần ông trả lời Ngài. Trả lời yêu Ngài là nhận rõ hơn tình trạng đáng thương của mình, đồng thời thâm tín hơn tình yêu Đức Kitô đang bao phủ, ôm ấp đòi mình.
Với ta, khi hỏi người yêu có yêu ta không, ta tìm ta hơn tìm người ta yêu. Ta tìm thêm tình yêu cho ta, củng cố thêm chỗ đứng của ta trong tim người ta yêu. Cũng có những phần trăm ta nghĩ cho người ta yêu, nhưng nhiều vẫn trăm vẫn nghiêng về phiá ta. Hỏi người yêu có yêu ta không là một đòi hỏi xác nhận tương quan. Nếu tương quan còn tốt, ta tiếp tục yêu hoặc yêu nhiều hơn; nhưng chẳng may, nếu tương quan không còn như ta muốn, như ta đợi chờ, thử hỏi, ta sẽ có thái độ nào? Thái độ có thể thấy trước là thái độ nghi vấn: ta nghi ngờ, tra vấn mọi người, mọi sự, mọi chuyện để tìm ra đâu là nguyên nhân đưa đến câu trả lời tiêu cực nơi người ta yêu. Tiếp đến là thái độ hằn học, trả thù. Hằn học vì mặc cảm bị "cho de.", hận thù vì khinh bỉ đối tượng. Hoạ hiếm lắm mới có thái độ "nhìn lại mình để biết mình." hầu chấn chỉnh, sửa chữa những sai lầm đang tàn phá tình yêu.
Nơi Đức Kitô, sở dĩ không có những thái độ trên, vì Ngài yêu ta như ta là, không yêu những gì ta có hay yêu ta như ta có. Những cái có là những cái trước đó đã không có và sau này có thể sẽ mất đi. Yêu nhau " như nhau có." khác xa "yêu nhau như nhau là.". Tình yêu thứ hai sẽ bền vững, vì tôi yêu anh bao lâu anh là anh và anh sẽ phải mãi mãi là anh, không chỉ trong cuộc đời này mà ngay cả sau khi anh nằm xuống.Yêu anh như vậy, tôi sẽ không lo lắng, băn khoăn gì vì tình ấy luôn có lý do để tồn tại bao lâu anh còn tồn tại. Nó khác tình yêu thứ nhất đặt trên những gì anh có. Yêu anh vì anh có sự nghiệp, tôi sẽ hết yêu anh khi sự nghiệp khánh tận. Yêu anh vì anh giầu, đến khi anh nghèo, tôi sẽ hêt yêu anh. Yêu em vì em đẹp, nhưng về già, sắc đẹp tàn phai, tôi làm sao dám yêu em? Những cái "có." khi được chọn làm nền tảng của tình yêu sẽ giết chết tình yêu một ngày khi "có" biến thành "không". Thảm cảnh của tình yêu là đe doạ dài dài này, đe doạ mất nhau khi những cái "có" của nhau mất đi. Nó làm xáo động, nao núng nhiều trái tim, làm mệt mỏi nhiều nghị lực vì không có gì đảm bảo cho những cái "có" sẽ có mãi.
Yêu ai như họ là chính là chấp nhận không do dự, không sợ sệt toàn thể con người họ. Con người ấy có thể là một con người hoàn hảo, tốt đẹp, nhưng cũng có thể là một con người khiếm khuyết, nhiều bất toàn. Tình yêu thật không màng chi đến nhưng "sở hữu", nhưng đặt tất cả trên giá trị con ngươi ấy như "nguời ấy là".
Yêu Phêrô, Đức Kitô không tìm những cái có của con người hay một con người nhiều cái có: có tài năng, có ảnh hưởng, có đức tính, có sự nghiệp; nhưng tìm chính con người ấy. Phêrô không có nhiều, nhưng Phêrô là Phêrô, một Phêrô không thể thay thế, khấu trừ. Tình yêu Đức Kitô dành cho ông là tình yêu gắn trên ông, trên đời ông, trên con người ông, không hơn không kém, và chỉ có thế và mãi như thế. Tình ấy không đổi dời, vì Phêrô mãi mãi là Phêrô.Tình ấy không thay biến vì nền tảng và lý do có mặt của nó chính là Phêrô như Phêrô là.
Chính vì thế, khi hỏi Phêrô về tình yêu ông dành cho Ngài, Đức Kitô tự xác nhận tình Ngài mãi thủy chung cho ông hơn là đợi ông minh định tình ông cho Ngài.Với Ngài, Phêrô luôn được yêu, dù Phêrô có chối bỏ không yêu Ngài.Bởi chối bỏ Ngài hay không, Phêrô vẫn là Phêrô và Ngài chỉ biết yêu đến cùng Phêrô ấy. Sự có mặt của Phêrô trong đời Ngài là sự có mặt trong thời gian tuyệt đối, không chia thành từng quãng hay từng phần, để rồi có phần trước phần sau, có yêu và có không yêu. Đức Kitô đặt tình cuả Ngài trên chính con người Ngài yêu, không trên bất cứ giá trị, đơn vị ngoại tại nào, vì trong và trên chính con người ấy đã sẵn có tất cả những "đáng yêu, đáng qúy": hình ảnh sống động của Thiên Chúa." Chính hình ảnh sống động của Thiên Chúa trong mỗi người mà mỗi người trở nên đáng yêu mãi mãi. Không chỉ đáng yêu, dễ yêu khi "yêu vô", nhưng đáng yêu, dễ yêu cả những khi "yêu không vô" tý nào.
Cái tình đáng yêu ngàn đời và mãi mãi ấy phải được đóng trụ trên "hình ảnh Thiên Chúa tuyệt đối" này, Thiên Chúa tuyệt đối trong thời gian và trong tất cả. nhờ vậy, ta mới có thể chấp nhận yêu người khác như họ là, không như họ có; vì tin rằng trước hết và muôn thưở, Thiên Chúa đã cho họ chính hình ảnh tuyệt đối đáng yêu của Ngài.
Xác tín và lao mình vào tình yêu của Đức Kitô, ta sẽ an bình, nhẫn nại hơn khi yêu.An bình chia sẻ và nhẫn nại chịu đựng. Đức Kitô đã không nôn nóng, bức xúc, khó chịu klhi biết trước Phêrô sẽ chối mình vì Ngài thương ông như ông là. Ngài cũng không xôn xao, hốt hoảng, la ó, trừng phạt Phêrô bởi tin vào hình ảnh "sống động, có sức phục sinh" của thiên Chúa trong ông. Tin tưởng vào hình ảnh "sáng tạo và cứu rỗi." trong mỗi người là yêu thương họ thật, thương họ trong tận cùng trạng huống "người" của họ, thương tận gốc rễ người của họ, thương trọn vẹn con người họ.Tình yêu thương ấy không thể có nếu không được tình yêu siêu nhiên nâng đỡ. Lý do rất dễ hiểu là nó không còn đặt trên hững gì "có" nơi đối tượng, nhưng trên chính đối tượng như đối tượng "là". Nó đã "chạm." đến hữu thể như một thực thể tuyệt đối.
Sáng mai, thế nào bạn cũng phải ghé thăm người yêu. Với tâm tình của Đức Kitô và qua ánh mắt của Ngài, bạn thử tập chiêm ngưỡng người mình yêu như đang chiêm ngắm hình ảnh tuyệt vời của Thiên Chúa, cha bạn. Sau một vài lần tập yêu như Đức Kitô, bạn sẽ thấy tình của bạn an bình, mặn nồng hơn và người bạn yêu sẽ ngàn lần dễ thương hơn.

TÌNH YÊU KHÔNG ĐIỀU KIỆN


Ta khó có thể yêu một người nếu biết chắc người ấy sẽ không bao giờ đáp trả tình ta. Yêu ai là muốn được người ấy yêu lại; bởi tình yêu đòi như thế và như thế mới gọi là yêu nhau.
Tình của con người dừng chân ở bến bờ này. Nó khó có thể đi xa hơn về chân trời vô vị lợi, không điều kiện. Môi trường sống với những điều kiện, con người sống với những điều kiện đã điều kiện hóa tình yêu. Yêu ai, ta không thể tránh chờ mong một điều gì đó nơi họ. “Điều gì đó” có thể hiểu ngay, thấy liền, nhưng cũng có thể còn ẩn sâu, dấu kín.
Hiểu tình yêu là một cho đi và nhận lại, ta chấp nhận tính tương đối của tình yêu trong ta. Cái tương đối này khép chặt đời ta, bởi tính tương đối của không gian, thời gian, trong đó kiếp người có mặt. Nhưng tình yêu có một năng lực tiềm tàng, mầu nhiệm, gắn với thế giới siêu nhiên, thế giới mà tình yêu gọi là tuyệt đối. Nhờ thế, tình yêu không chỉ tương đối trong thế giới người với những điều kiện tương đối mà còn có thể vươn cao, vươn mãi đến Tuyệt Đối, Vô Cùng. Trong Tuyệt Đối, Vô Cùng này, tình yêu đã làm ngơ ngác thế giới tương đối vì những khó hiểu của nó.
Là tình yêu, Đức Kitô cũng trở nên khó hiểu với nhiều người và với chính ta khi Ngài đem tình yêu vượt khỏi hàng rào tương đối với những điều kiện này nọ. Lên tiếng biện luận cho một tình yêu vô vị lợi, một tình yêu ngược đời là yêu thương kẻ thù, làm phúc, thi ân cho kẻ ghét bỏ, vu oan mình, chia sẻ cơm bánh cho người hành hạ mình, cầu xin phúc lành cho người giết hại mình, Đức Kitô đã không để tình yêu ẩn núp mãi trong túp lều hạnh phúc, bình thường của nó mà bắt tình yêu phải ra khỏi “tổ ấm” để mang hơi ấm đến những tổ còn hoang vắng, quạnh hiu khác.
Công việc này đòi một từ bỏ anh hùng: bỏ tổ ấm an bình. Rời bỏ tổ ấm an toàn là mất đi tất cả điều kiện cần thiết để tình yêu được bảo đảm. Ra khỏi nhà trong đêm là một liều lĩnh, nhiều nguy hiểm. Rời hạnh phúc đang có là đối diện với bất hạnh. Thế mà tình yêu bỗng chốc phải nhổ rễ, bỏ lều mà ra đi trong đêm, về một chân trời, một địa chỉ không muốn đến, không muốn tìm là kẻ thù.
Kẻ thù là kẻ ta tránh, tránh ta. Tránh vì không yêu, không cần, không đội trời chung. Ấy thế mà Đức Kitô lại muốn và mời gọi những ai muốn theo Ngài, muốn yêu như Ngài, phải học yêu kẻ thù, ở với kẻ thù, gặp gỡ kẻ thù. Cái lý luận của Ngài là: "Nếu các con yêu những người yêu các con, điều đó chẳng có gì lạ; bởi những người tội lỗi cũng làm như thế. Nếu các con làm phúc, thi ân cho những người giúp đỡ các con, điều này cũng chẳng lạ, vì ai cũng làm được. Ngay việc cho người khác vay mượn, vì biết rằng họ sẽ hoàn trả; việc đó kẻ tội lỗi cũng thường làm” (Lc 6,32-34). Và Ngài nhấn mạnh: “Phần các con hãy yêu kẻ thù, làm ơn cho họ, cho họ vay mượn mà không cần hoàn trả” (Lc 6,35).
Đức Kitô đã đặt phần đầu lý luận của mình trên sự khác biệt giữa người tội lỗi và những người muốn theo Ngài, thuộc về Ngài. Nhấn mạnh sự khác biệt này, xem ra Đức Kitô muốn xác quyết đây chính là dấu chỉ duy nhất cho phép người ta phân biệt ai là người thuộc về Ngài. Dấu chỉ ấy quá đặc biệt vì đòi hỏi quyết liệt một từ bỏ, một dấn thân, một tình yêu lớn. Dấu chỉ ấy không ngập ngừng chờ “đánh lận con đen”, chờ tráo bài; nhưng rõ ràng, phân minh, dứt khoát. Sự phân biệt ở đây là sự phân biệt chính xác, rành mạch, công khai. Không ai nghe mà không hiểu, không ai nghe mà hiểu lầm, hiểu sai. Từng chi tiết, từng luận lý cho từng đòi hỏi, Đức Kitô đã đặt ta trước một chọn lựa duy nhất: Yêu cả kẻ thù nếu muốn theo Ngài.
Tuy thế, Đức Kitô vẫn tôn trọng những tương đối của con người. Ngài không nhấc bổng ta ra khỏi thế giới người với những điều kiện của nó. Ngài biết khi yêu, ta phải đợi chờ một điều gì, nuôi một hy vọng nào đó. Hiểu được những thắc mắc rất người của ta, Đức Kitô trấn an “tình yêu kẻ thù” của ta bằng đứng ra đảm bảo phần mà kẻ thù không làm được cho ta, không trả được cho ta. Nhận trả cho ta phần mà kẻ thù phải trả, Đức Kitô xác quyết rằng từ nay “con nợ tình yêu” của ta chính là Thiên Chúa. Chính Ngài sẽ trả cho ta bội hậu những gì ta đã làm cho những người không yêu, không giúp, không chia sẻ với ta (Lc 6,35).
Có Thiên Chúa là con nợ, ta nắm chắc không bị lừa, bị quỵt bởi Thiên Chúa không lừa dối ai vì Ngài là Sự Thật. Không những trấn an những việc làm của tình yêu ta, Đức Kitô còn nhân loại hơn khi khích lệ những cố gắng yêu thương vô vị lợi của ta bằng cho ta thấy trước Thiên Chúa sẽ nhiều lần quảng đại hơn lòng ta, và Ngài sẽ ban lại cho ta trăm phần hơn những gì ta đã cho đi. Những thúng, những hũ, những gánh tình yêu mà ta đã dành cho tha nhân, nhất là khi ta cho những kẻ ghét ta, sẽ được đong lại trĩu nặng, tràn đầy, chan chứa từ tay Thiên Chúa toàn năng (Lc 6,38).
Đến đây ta hiểu rằng, tình ta cho kẻ thù, ơn phúc ta làm cho kẻ thù, không là công cốc, vô ích; nhưng đặt ta trở thành chủ nợ tình yêu của Thiên Chúa và Ngài là con nợ của ta. Nhận làm con nợ của ta, Thiên Chúa muốn trở thành con người, không chỉ là những người đáng yêu, đáng trọng; mà còn là cả những người dễ ghét, đáng khinh, những kẻ thù của ta; chỉ vì yêu thương họ. Trả nợ thay ai, bán thân cứu ai là vì yêu họ nhiều, yêu nồng nàn, tha thiết. Yêu cả kẻ thù ta, Thiên Chúa trả cho ta tất cả những gì họ không thể trả vì hận thù còn trong họ. Yêu họ như yêu ta, Ngài chấp nhận trở thành con nợ của cả hai: ta và kẻ thù ta. Con nợ Thiên Chúa Tình Yêu ấy đã là nhịp cầu giao hoà, con chiên gánh tội, lễ vật hy sinh cho mùa xuân mới được nở rộ trong ta, trong kẻ thù ta. Và như thế, ta sẽ không còn lý do để tiếp tục oán ghét kẻ thù và kẻ thù cũng phải chấm dứt khiêu khích, chống đối ta khi nhận ra có Đức Kitô hiện diện.
Tình của Đức Kitô nhiệm lạ ở chỗ nó biến kẻ thù thành người thương, biến đối phương thành bè bạn. Giơ má cho kẻ thù vả, cởi áo cho kẻ thù tức là buông vũ khí đầu hàng, xuôi tay thua cuộc, ô nhục rút lui. Nhưng rút lui, đầu hàng, thua cuộc vì yêu họ, vì hạnh phúc của họ, lại chính là chiến thắng, thành công vì đã khai sinh một Tình Yêu mới trong một tâm hồn mới, một cuộc đời mới.
Nhìn lại tình ta, sao còn tương đối quá. Nó chưa chịu vươn cao, chưa khắc khoải với tình Tuyệt Đối. Nó vẫn còn biên cương, ranh giới, vẫn còn bị bao quanh bởi pháo đài kiên cố. Người khác vẫn còn “khác”; kẻ thù vẫn oán thù. Ta nhắm mắt để không thấy Đức Kitô đã thương ta như thương người khác, yêu ta cũng như yêu kẻ thù ta. Ta giả vờ điên để khỏi nặng lòng, khó nghĩ khi Đức Kitô gánh lấy món nợ của kẻ thù, đứng ra bảo lãnh cho kẻ thù, với hy vọng được thấy ta tha thứ và giao hòa với họ.
Lạy Đức Kitô, con cố yêu như Chúa dù tim con rướm máu khi phải yêu kẻ thù, thương người vu oan, làm phúc cho kẻ ghét con. Chúa biết tình con tương đối và cửa lòng con chật hẹp, xin ban cho con tình yêu của Chúa để trái tim con không vô tâm khép kín, viện cớ không còn giờ, còn chỗ trước những đòi hỏi cấp bách của người khác quanh con, trong số họ, không ít đã được con điểm mặt, điểm danh là “kẻ thù” của mình để rồi mất hẳn khả năng "cho không biếu không", một thứ khả năng chỉ có trong tình yêu ở độ đam mê thần thánh. Không còn khả năng "cho".

Thứ Ba, 18 tháng 2, 2020

MÙA CHAY

Mùa Chay bắt đầu với thứ tư lễ tro biểu hiện tinh thần sám hối, trở về : sám hối lỗi lầm xưa, và trở về với Thiên Chúa là Cha khoan dung, nhân hậu. Mùa Chay còn là thời điểm Đức Giêsu mời gọi mỗi người cùng Vượt Qua với Ngài : vượt qua cám dỗ để lớn lên trong ân sủng, vượt qua sự chết để được sống lại với Ngài trong ngày Phục Sinh vinh hiển.
Trong suốt mùa chay, chúng ta đi với Đức Giêsu trên hành trình sám hối, trở về, và với Đức Giêsu, chúng ta vào sa mạc để chiến đấu với cám dỗ, lên núi để chiêm ngưỡng Chúa biến hình, theo Chúa đến giếng Giacóp trò chuyện với người phụ nữ Samaria, tận mắt thấy người mù từ lúc mới sinh được Chúa cho sáng mắt và bỡ ngỡ, kinh ngạc khi Chúa gọi Ladarô, bạn của Ngài từ cõi chết sống lại, để qua những dấu chỉ và phép lạ, chúng ta nhận biết Ngài là Đấng Thiên Chúa sai đến. Đặc biệt trên đường vào thành thánh Giêrusalem khi đám đông lấy lá và áo choàng lót bước chân Ngài, và với Ngài trên đường Thánh Giá, chúng ta sẽ không còn nghi ngờ sứ mệnh Cứu Thế của Ngài, và cùng với Ngài chúng ta được chết và sống lại với Ngài.
Mùa Chay như thế chính là con đường từ bỏ những gì làm chúng ta xa Thiên Chúa, và gắn bó với những gì đem chúng ta lại gần Chúa hơn, trong tình yêu và ánh sáng cứu độ của Ngài.
Là con đường sám hối, Mùa Chay kêu gọi chúng ta nhìn lại mình, nhìn lại những thiếu sót, lỗi lầm của mình, nhưng việc nhìn lại không đơn thuần chỉ là nhìn lại rồi thôi, nhìn lại rồi để đó, hay nhìn lại để thất vọng, tuyệt vọng, nhưng nhìn lại để lên đường trở về với ơn tha thứ, trở về với nguồn tình yêu, trở về trong vòng tay Cha giầu lòng thương xót.
Sau đây là những lý do thúc bách chúng ta sám hối, trở về :
1.   Sám hối trở về để thoát cơn thịnh nộ của Thiên Chúa :
Ngôn sứ Giôen đã năn nỉ dân sám hối trở về với Đức Chúa, để mong được Đức Chúa rút lại hình phạt sắp đổ xuống trên dân :
Đây là sấm ngôn của Đức Chúa : “Nhưng ngay cả lúc này, các ngươi hãy hết lòng trở về với Ta, hãy ăn chay, khóc lóc, và thống thiết than van. Đừng xé áo, nhưng hãy xé lòng. Hãy trở về cùng Đức Chúa là Thiên Chúa của anh em, bởi vì Người từ bi và nhân hậu, chậm giận và giầu tình thương. Người hối tiếc vì đã giáng họa. Biết đâu Người chẳng nghĩ lại và hối tiếc” (Ge 2,12-14).
Và ngay cả không phạm tội, chúng ta cũng được kêu gọi trở về, vì cuộc đời người Kitô hữu hệ tại ở việc liên lỉ trở về với Đức Giêsu bằng từ bỏ lối sống thế gian không phù hợp với đòi hỏi của Tin Mừng. Chính cuộc trở về không ngơi nghỉ này là sứ mệnh phải chu toàn của người môn đệ Đức Giêsu, bởi trở về với Ngài là ơn gọi của người tin yêu và có Đức Giêsu trong cuộc đời.
2.   Sám hối, trở về để Giao Hoà :
Hành trình mùa chay, cũng là hành trình của người đi theo Đức Giêsu là hành trình trở về Hòa Giải : hoà giải với Thiên Chúa, hoà giải với anh em, hoà giải với chính mình.
Nhưng để hoà giải được với anh em, và với bản thân, trước hết và trên hết, chúng ta phải hoà giải với Thiên Chúa, như thánh Phaolô đã tha thiết kêu gọi, bởi không hoà giải với Thiên Chúa, không có ơn hoà giải của Ngài, chúng ta không hoà giải được với ai, cũng không hoà giải được với chính mình, vì chỉ một mình Chúa mới bảo đảm và gìn giữ hồng ân Hoà Giải, như hoa trái của lòng sám hối, trở về :
“Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa… Chúng tôi nài xin anh em hãy làm hoà với Thiên Chúa ...” (2 Cr 5, 19 -20).  
Và để hoà giải một cách thiết thực, Tin Mừng đề nghị chúng ta :
a.   Cầu nguyện để hoà giải với Thiên Chúa :
Cầu nguyện với lòng khiêm tốn, chân thành, và “đừng làm như bọn đạo đức giả”, thích phô trương, khoe khoang khi cầu nguyện (x.Mt 6,5), nhưng “khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo…” (Mt 6, 6).
b.   Chia sẻ, bố thí để hoà giải với anh em :
Chia sẻ với tha nhân, bố thí, giúp đỡ người thiếu thốn là “làm việc lành phúc đức”, nhưng khi làm việc lành này, “anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng” (Mt 6,1), nhưng “khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6,4).   
c.    Ăn chay để hoà giải với chính mình :
Ăn chay là trở về với mình, trở lại lòng mình, để thấy mình rõ hơn, nhận ra mình chính xác hơn, hầu tìm lại bình an, thư thái, hạnh phúc cho tâm hồn.
Rất nhiều người “mất ăn mất ngủ”, lo lắng, bồn chồn, sầu khổ, thất vọng không vì thiếu ăn, thiếu mặc, hay cơ hàn, khốn khổ, cho bằng vì không làm hoà được với chính mình, “cái tôi” không làm hoà được với “cái mình”, “cái tôi” không nhất trí, hoà thuận được với “cái ta”. Và cái khổ, cái khó là khi đối kháng ở ngay tâm hồn, đối nghịch ở ngay nội tâm, đối chọi có ngay trong lòng, thì ai có thể hoà giải, giải hoà, nếu không phải là chính bản thân.
Vì thế, ăn chay không chỉ là chuyện không ăn thịt, hay không ăn nhiều bữa, nhưng chính yếu là từ bỏ những gì làm cho “cái tôi” hư hỏng, những gì làm “cái tôi” không còn quy hướng về Chân Thiện Mỹ, những gì làm “cái tôi” không còn biết yêu thương, chia sẻ, phục vụ tha nhân, những gì làm “cái tôi” ngạo mạn chống lại Thiên Chúa như những tính hư tật xấu : kiêu căng, ích kỷ, tham lam, ganh ghét, nhỏ mọn, lười biếng, hưởng thụ…
Tóm lại, ăn chay chính là tu thân, sửa mình, từ bỏ tính hư, tập tành nhân đức. Cũng như cầu nguyện và bố thí, Đức Giêsu căn dặn chúng ta phải kín đáo khi ăn chay, và “chớ làm bộ thiểu não như bọn đạo đức giả : chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay” (Mt 6,16), vì Thiên Chúa, “Đấng hiện diện nơi kín đáo… thấu suốt những gì kín đáo” sẽ rộng lòng  yêu thương, chúc phúc (x. Mt 6, 18).
3.   Sám hối, trở về để đón nhận Nước Trời :   
Tất cả sứ điệp của Tin Mừng đều tập trung ở lời kêu gọi sám hối, trở về để được đón nhận Nước Thiên Chúa.
Đức Giêsu đã không ngừng chỉ cho môn đệ Ngài và tất cả những ai tin theo Ngài một lối sống mới đặt trên lời mời gọi và lệnh truyền của Thiên Chúa, chứ không đặt trên bản thân mình và những gì thuộc xã hội trần gian, và Thiên Chúa mới thực là Gia Nghiệp, Cùng Đích ; Nước Trời mới là chốn ước mong trở về, như tác giả  Thánh Vịnh 50 đã cảm tác :
“Lậy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tâm hồn cho con nên chung thủy. Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con Thần Khí thánh của Ngài. Xin ban lại cho con  niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần qủang đại đỡ nâng con” (Tv 50,12-14).
Vâng, Mùa Chay là thời kỳ thuận tiện, là thời gian thuận lợi, là thời điểm Thiên Chúa chọn để tỏ lòng thương xót chúng ta là dân Ngài.
Cũng như đám đông ngày xưa đã kéo đến gặp Gioan Tẩy Giả bên bờ sông Giôđan “xin chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội” (Lc 3,3), chúng ta cũng khiêm tốn xin Chúa thương xót tha thứ, bằng sống tinh thần sám hối, trở về với Thiên Chúa là Cha vô cùng quyền năng và bao dung, nhân hậu, để với ơn Hoà Giải của Ngài, chúng ta được hoà giải với mình và với anh em.
Jorathe Nắng Tím

TÌNH YÊU BẤT TỬ


Ai cũng có kinh nghiệm khổ đau khi tiễn biệt người thân qua đời. Lần tiễn đưa cuối cùng buồn không sao kể xiết, lần chia tay vĩnh viễn, nói sao hết khổ đau. Nước mắt người ở lại, đau đớn người còn sống trước yên lặng não nề của người nằm xuống. Cái chết kinh hoàng, rùng rợn. Nó lấy đi tất cả không bận tâm; nó càn quét tận cùng không do dự; nó cay nghiệt tàn ác không thắc mắc, xót xa. Nhưng dù buồn đến đâu, dù tiếc thương đến mấy; ta vẫn phải chấp nhận nhìn người thân ra đi.
Trong nỗi nhớ người thân, ta không cho phép mình nguôi ngoai tình yêu, ta muốn họ mãi sống trong ta và một cách nào đó, họ trở nên bất tử, luôn có mặt trong đời ta. Tình yêu ta dành cho họ xem ra không để uy quyền của sự chết thống trị, không chịu cúi mình vâng theo định luật tan biến của hư vô. Người ta yêu tuy vắng mặt trong thế giới vật lý hữu hình, nhưng ta muốn và ta cảm thấy họ luôn hiện diện sống động trong trái tim ta.
Như thế, tình yêu không muốn chết, không chịu chết theo định luật thể lý, không chịu tan biến theo thịt, da, xương, máu. Nó muốn sống và sống mãi trong trái tim của những người sống khác. Nó muốn có mặt trong đời đang sống của những người nhớ đến nó và nó muốn trường tồn và nối dài đến vô tận sự sống của mình.
Khi người tôi yêu thương mất, tôi không muốn họ chết trong trái tim tôi, nhưng giữ họ không chỉ trong ký ức, tâm tưởng mà còn trong từng giây phút sống của đời tôi. Tôi thấy họ gần tôi hơn khi họ còn sống; tôi chia sẻ với họ trọn vẹn và sâu xa đến độ tôi quên họ đã qua đời. Đời họ gắn với đời tôi, tuy hai cuộc đời ở hai thế giới khác nhau. Kinh nghiệm ấy cho tôi nhận ra tính bất tử của tình yêu. Tôi yêu được cả người chết, và người chết ấy “phải sống” để sống mãi trong tình yêu tôi.Tình yêu không chết để tình yêu là mầu nhiệm. Tình yêu phải sống mãi cho con người được giống hình ảnh đấng Chủ Tạo bất tử, hằng sống. Điều này cắt nghĩa lý do và cách phân xử của Thiên Chúa trong ngày chung thẩm khi tình yêu sẽ là điều kiện duy nhất, thước đo duy nhất, giá trị duy nhất để được nhận vào cung lòng Thiên Chúa Tình Yêu. Nếu tình yêu cũng nát rữa như da thịt, tiêu tan như xương cốt thì còn đâu gạch nối giữa đất với trời, giữa Thiên Chúa với con người, giữa người sống và người chết?
Tính bất tử còn có lý do hiện hữu vì con người hữu hạn, có cùng phải tiếp tục hành trình của mình vào vô hạn, vô cùng. Vô hạn, vô cùng vì con người từ khi được tạo dựng đã mang sẵn mầm sống vĩnh cửu của tình yêu.
Gửi gắm tình yêu cho người đã khuất là bí tích hiệp thông trong Giáo Hội. Khi cầu nguyện cho người quá cố, ta thực hiện bí tích tình yêu, dấu ấn ngàn đời vĩnh cửu của những người theo Đức Kitô. Trong bí tích này, chính Đức Kitô tình yêu là sức mạnh tác động và là điểm tụ của mọi gặp gỡ. Chính Ngài cho tình yêu nơi ta bất tử và nối kết mọi con người bất tử bằng tình yêu là chính Ngài.

TÌNH YÊU MẦU NHIỆM


Tôi đã cùng bạn nhìn tình yêu dưới nhiều góc cạnh, nhiều trạng thái, nhiều hoàn cảnh mà mục đích là giới thiệu một Đức Kitô Tình Yêu. Tất cả những cách nhìn, hướng nhìn trên không mổ xẻ, lột trần, chặt nhỏ tình yêu; cũng không pha trộn mọi thứ tình để cho ra một thứ tình yêu kiểu cocktail “hằm bà lằng xí cấu”, nhưng mục đích chính là để dẫn ta vào thâm cung của tình yêu mầu nhiệm của Thiên Chúa.
Quả thực, nếu chối bỏ tính mầu nhiệm của tình yêu, vô tình ta đã mang tình yêu vào phòng thí nghiệm để nghiên cứu bằng các phương pháp khoa học. Và tình yêu trong phòng thí nghiệm sẽ không còn những “bối rối, bồi hồi, xao xuyến, e ấp, thẹn thùng, bâng khuâng, day dứt, nhớ thương, thấp thỏm, đợi chờ; nó cũng không còn cao tới trời, sâu tận vực thẳm, bàng bạc bao la…”. Tình yêu ấy, khi bỏ xa vùng trời mầu nhiệm, sẽ trơ lạnh ù lì một khối và loài người sẽ chẳng khác gì những con chip, robot.
Trước hết, tình yêu mầu nhiệm vì Thiên Chúa là Tình Yêu và nguyên thủy của tình nhân loại là chính Thiên Chúa. Nơi Ngài có mầu nhiệm tình yêu, mầu nhiệm này đã được mạc khải qua công trình vào đời, làm người, yêu người, cứu đời của Đức Kitô, con Thiên Chúa. Công trình ấy là một mầu nhiệm, một bí tích, một khung trời vượt khỏi tầm nhìn của con người. Khi nói đến mầu nhiệm Đức Kitô vào đời, làm người, ta cũng chỉ hiểu được phần nào mối tình phụ tử của Thiên Chúa và nắm bắt phần nào mức độ cao siêu của sứ điệp yêu thương. Chính các môn đệ thân cận của Đức Kitô cũng chẳng hiểu nhiều, bằng chứng là các ông đã bỏ chạy, phản bội Ngài trong những ngày cuối đời Ngài. Phải đợi đến khi Thánh Thần Tình Yêu xuống sưởi ấm, khai mở dần và với ơn của Ngài, các ông mới xác tín mầu nhiệm yêu thương trong ngày lễ Hiện xuống. Đóng chốt và được khai sinh từ tình yêu mầu nhiệm này, tình con người cũng là một mầu nhiệm cao vời khôn ví.
Tình ấy mầu nhiệm ở bản thể. Có ai nhốt được tình yêu trong lồng, trong lọ bao giờ. Nó ở đâu, hình dáng ra sao, không ai thấy, không ai biết; chỉ thấy được, biết được qua những biểu hiện của nó. Thấy người mẹ âu yếm, chăm sóc con, ta bảo người mẹ ấy yêu con. Nhìn các nữ tu tận tụy săn sóc người phong hủi, siđa, ta nhận ra tình yêu tha nhân nơi các chị. Là một mầu nhiệm, tình yêu luôn ẩn dấu kín đáo, không dễ nhận diện, nắm bắt.
Tình yêu còn mầu nhiệm ở phạm vi, lãnh vực sinh hoạt. Nó vượt mọi ranh giới, cao đến trời và yêu chính Thiên Chúa; sang hẳn thế giới bên kia và thương cả những người đã chết. Nó vượt mọi điều kiện của không gian, thời gian: yêu tổ tiên sống trước hằng bao nhiêu thế kỷ, thương đàn em chưa có mặt trong đời, yêu những người ở gần, đối diện; nhưng cũng thương những người nghìn trùng cách trở. Nó còn mầu nhiệm ở khả năng yêu nhiều đối tượng một lúc, mà tất cả đều được yêu tha thiết nồng nàn: ta có thể cùng yêu cha mẹ, vợ con, bạn bè với một khối tình no tròn, một biển tình đầy ắp.
Nhưng mầu nhiệm lớn của tình yêu là khả năng vừa yêu Chúa vừa yêu người; hay đúng hơn yêu người là yêu Chúa. Đọc Tin Mừng Thánh Matthêu (25,31-46), ta thấy tình yêu đã làm ngỡ ngàng những người lành khi họ không biết rằng tình họ dành cho người khác chính là tình họ dành cho Chúa. Mầu nhiệm của tình yêu đã làm kinh ngạc những người yêu và họ chỉ hiểu giá trị mầu nhiệm của tình yêu sau khi chết. Có ai trong họ khi sống đã nhận ra Thiên Chúa trong những người nghèo hèn, bệnh tật, tù đày, cô quả đâu. Có ai trong họ khi sống đã đo được giá trị của những ly nước, những tấm mền, chén cơm, những nụ cười cảm thông, những bàn tay chia sẻ đâu. Hạnh phúc hôm nay của họ là khám phá mầu nhiệm sâu thẳm của tình yêu sau khi đã yêu; mầu nhiệm ấy lại tiếp tục cuốn hút họ vào cung lòng của chính Đấng là Tình Yêu.
Tình yêu còn mầu nhiệm ở cường độ sinh hoạt. Cường độ này không căn cứ, tùy thuộc vào công việc, công trình. Ta có thể làm một việc rất lớn, rất cả thể với một chút tình cỏn con, thừa thãi; ngược lại ta cũng có thể làm một việc cỏn con, bé nhỏ không tạo tiếng vang, không gây ồn ào với một tình yêu vĩ đại. Có thế, những cánh hoa nhỏ mới có cơ hội trở thành biểu chứng của tình yêu lớn, những ân cần kín đáo, tế nhị mới nên kho tàng ẩn chứa tình yêu vĩ đại.
Cường độ của tình yêu, nhờ mầu nhiệm đã cho ta khả thể làm lớn tình yêu trong việc nhỏ. Đức Kitô yêu con người bằng tất cả tình yêu Thiên Chúa và con người của Ngài. Qua mọi việc làm và hoàn cảnh sống: từ năm tháng chôn vùi, ẩn dấu ở Bêlem, Nazareth cho đến những ngày rao giảng thành công, cả đến giờ phút đau đớn, kiệt sức, bất lực trên Thánh giá, Ngài luôn giữ một cường độ yêu mãnh liệt, thiết tha. Và cường độ ấy đã thúc đẩy Ngài vui lòng chết cho những người Ngài yêu.
Đi vào tình yêu là chạm mặt mầu nhiệm. Những chạm mặt này có khi cho ta hạnh phúc; nhưng cũng nhiều lúc làm ta đau khổ. Ta hạnh phúc khi mầu nhiệm cho ta đi lên để hồn ta bay bổng, chắp cánh; ta khổ đau khi tình yêu dẫn ta xuống thẳm sâu của mầu nhiệm, ở cõi nhiệm mầu thẳm thẳm, tăm tối này, ta cảm thấy chao đảo, bàng hoàng, sợ hãi. Nỗi khổ, niềm đau của con người biết yêu là những chạm mặt kinh khủng với chính mầu nhiệm của tình mình đang yêu; vì mầu nhiệm này chỉ được khai mở sau đoạn đường hầm đen tối mà tình yêu phải đi qua: không ra khỏi hầm, không có ánh sáng.
Chính vì thế, khi yêu con người, Đức Kitô đã chọn chính hành trình mầu nhiệm tình người. Nó phải đi theo chu trình của mầu nhiệm. Trong chu trình này, bóng tối thử thách luôn chiếm một phần quan trọng, làm nền và điều kiện cho ánh sáng.
Nhìn vào đời Đức Kitô, ta thấy không ít những đoạn đường hầm. Trên những đoạn hầm âm u, mù mịt này, Ngài đã không được chính các môn đệ của mình nhận ra dung mạo sáng láng, không còn được một chút tình của những người đã hoan hô, ủng hộ, không còn một chút cảm thương kính trọng nơi những người đã nghe giảng và chịu ơn; cả đến đường dây liên lạc với Trời, mối tình cha con bất diệt cũng bị cắt ngang. Trên đoạn trường này, Ngài cô đơn tột độ, yếu đuối tột độ, bất lực tột độ; nhưng luôn yêu thương tột độ. Ngài biết và vui lòng chấp nhận đi hết con đường mầu nhiệm của tình yêu. Ngài hiểu và can trường đi vào đường hầm tăm tối của mầu nhiệm vì Ngài muốn yêu đến cùng, yêu đến chết, yêu đến tận đáy sâu của mầu nhiệm: chết cho người mình yêu.
Khi chấp nhận đi với Đức Kitô trên đường tình, ta cũng sẽ phải như Ngài, phải chạm mặt với mầu nhiệm. Cái khó của tình yêu thật là chỉ thật khi chấp nhận và sống chính mầu nhiệm này, mầu nhiệm ngay trong ta, nơi người ta yêu, trong những biến cố, thử thách của tình yêu. Tình yêu thật ấy sẽ không bám ngoài da như bụi, không mau qua như son phấn, không bề ngoài như đồ trang sức; nhưng sâu thẳm, cao vời, vượt thời gian, phủ lấp không gian, che kín cả sự chết.
Tin vào mầu nhiệm của tình yêu là tin vào Đấng là Tình Yêu. Chỉ với và trong niềm tin này, tình yêu ta mới tránh được những phút giây tuyệt vọng khi khổ đau, mới an bình trước phong ba bão tố, mới thanh thản khi bị hiểu lầm, vô ơn. Chỉ với niềm tin vào chính Đấng là Tình Yêu, mầu nhiệm của tình yêu mới có đất sống, mới mang lại cho tình yêu mùa màng sung túc, mới dắt được hy vọng của tình yêu vào mùa xuân rực rỡ. Không mầu nhiệm, tình yêu không thể bất diệt, cũng chẳng bao la, sâu thẳm hay vời vợi tuyệt đối. Và hạnh phúc thật của người dám yêu, biết yêu là dấn thân vào mầu nhiệm này, ở đó họ gặp được chính Đấng là Tình Yêu.

TÌNH YÊU KỲ DIỆU

Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 7, Thường Niên, Năm A
“Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi ?” (Mt 5,46)
Như thế, tình yêu được Đức Giêsu định nghiã hoàn toàn khác với tình yêu con người quan niệm : yêu kẻ yêu mình, thương người thương mình, và tình yêu là tình của hai người yêu nhau ; tình yêu của Đức Giêsu đề nghị  không còn là tình yêu con người thực hiện cho nhau : chỉ yêu người thương mình, chỉ thân thiện với người mình thân thương, chỉ chào hỏi người mình có cảm tình ; và giới luật mới  tình yêu mà Đức Giêsu muốn những ai đi theo Ngài phải sống cũng không giống luật sống : “Mắt đền mắt, răng đền răng”, mà con người coi như nguyên tắc căn bản trong tương quan ứng xử trong đời thường.
Qủa thực, Đức Giêsu đã thay đổi hoàn toàn định nghiã của Tình Yêu, bởi từ nay, với Ngài : Yêu không còn là yêu người yêu mình, mà còn là “yêu người không yêu mình, yêu người yêu mình không hết tình, yêu người yêu mình không đúng, không đủ”.
Nhưng vẫn chưa hết, tình yêu được định nghiã lại bởi Đức Giêsu còn đi xa hơn, lạ lùng hơn, quyết liệt hơn, và cũng cam go, khó khăn, vật vã hơn rất nhiều, khi đòi phải “yêu cả kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình” (x. Mt 5,44). 
“Yêu kẻ thù” thế nào được, vì đòi hỏi này hoàn toàn mâu thuẫn với luận lý bình thường, bởi có yêu thì phải yêu người đáng yêu, người yêu mình, hay ít ra là người chưa có ân oán, nợ máu, nợ xương gì với mình, chứ ai lại “ngu si, đần độn, khờ dại và liều mạng” đến độ đi yêu kẻ thù, yêu kẻ chơi xấu mình, yêu kẻ lợi dụng mình, yêu kẻ chỉ muốn dùng mình như bàn đạp, phương tiện, yêu kẻ đâm sau lưng mình, yêu kẻ chống lại mình, yêu kẻ nguyền rủa, vu khống mình, yêu kẻ lên án mình, yêu kẻ tìm mọi cách đốn gục mình, yêu kẻ muốn hãm hại mình, yêu kẻ muốn tiêu diệt mình ? 
Yêu kẻ thù còn là điều không thể quan niệm trong tình yêu, vì không những vô lý, mà còn không thể thực hiện : vô lý, và bất khả thi, khi làm một điều ngược với điều lý trí “coi là bình thường”, và với điều trái tim “bình thường cảm thấy”, nhất là hoàn toàn đi ngược đường lối “khôn ngoan của xã hội” .   
Tin Mừng hôm nay với Tình Yêu được Đức Giêsu đề nghị các môn đệ Ngài thực hiện không chỉ là tình yêu chịu đựng, hiền lành như “đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa.” (Mt 5,39) ; không chỉ là tình yêu quảng đại, hào sảng : “Ai lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài” (Mt 5,41), “Ai xin thì hãy cho ; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5,42) ; tình yêu kiên trì, nhẫn nại : “ai bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm” (Mt 5,41), nhưng còn là Tình Yêu vượt qua bình diện tự nhiên, để vươn cao đến siêu nhiên, chạm được Thiên Chúa khi ‘gồng mình’ “cầu nguyện cho cả những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44).
Đòi hỏi cầu nguyện cho kẻ thù là tột điểm của tình yêu mà Đức Giêsu muốn các môn đệ Ngài phải thực hiện. Là tột điểm của tình yêu, vì là hành vi cao cả, kỳ diệu, thánh thiện, mầu nhiệm và tuyệt vời khôn sánh, bởi cầu nguyện cho kẻ thù không những vượt tầm hiểu biết, suy nghĩ, mà còn vượt khả năng thực hiện của con người.
Vì thế, trong tình yêu được đề nghị bởi Đức Giêsu sẽ không chỉ có con ngừơi yêu nhau, không chỉ là tình yêu thuộc bình diện nhân loại, tình người yêu con người, mà còn có Thiên Chúa là Tình Yêu hiện diện, có Thiên Chúa tình yêu hoạt động, có Thiên Chúa tình yêu tham dự, có Thiên Chúa tình yêu ban sinh lực và nâng đỡ, tắt một lời : trong tình yêu kỳ diệu này, luôn “có Thiên Chúa là Tình Yêu cùng yêu với”, bởi đây là tình yêu vượt ra khỏi tự nhiên, vượt lên trên con người, để đi vào vùng siêu nhiên, chạm được chính Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối.
Đó chính là lý do Đức Giêsu đã công khai tuyên bố : sự thánh thiện của con người chính là đạt đến tình yêu kỳ diệu này, tình yêu như giới luật mới của Thiên Chúa truyền ban cho con người, vì chỉ khi ra khỏi “tình yêu theo khuôn khổ tự nhiên, và định chế xã hội” để đạt đến tình yêu không biên giới, không điều kiện, không đòi đền đáp, tình yêu mang hình ảnh của Thiên Chúa, tình yêu từ nguồn thánh thiện của Thiên Chúa, tình yêu như ơn gọi trở nên con Thiên Chúa, Đấng “cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45), người môn đệ Đức Giêsu mới thực sự sống theo Giới Luật mới của Thiên Chúa, và làm đẹp lòng Ngqài. Chỉ trong tình yêu “có Thiên Chúa”, với tình yêu không theo tính toán của thế gian, phù hợp với kế hoạch của loài người, bằng khôn ngoan của nhân loại, người môn đệ của Đức Giêsu mới có thể “nên hoàn thiện, như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48), và mới đáng được Thiên Chúa thưởng công đời đời (x. Mt 5,46-47).
Vâng, Đức Ái Kitô giáo không còn là tình yêu như người đời quan niệm, không còn là tình yêu như con người định nghiã, cũng không còn là tình yêu an nhàn, thoải mái, dễ thực hiện, nhưng đòi vượt qua nhiều biên giới, nhiều cản trở, nhiều chướng ngại, những chướng ngại của ích kỷ, tham lam, những cản trở của ganh ghét, đố kỵ, những biên giới của kỳ thị chủng tộc, giai cấp, thành phần xã hội.
Đức Ái ấy khó khăn, quyết liệt, và triệt để, đến cùng, nên khi thiếu yêu thương quên mình, thiếu chia sẻ đến thiệt thân, thiếu tha thứ đến nỗi bị đời cho là khờ dại, “người Giời”, chúng ta vẫn chưa được gọi là Con Thiên Chúa, vì bất xứng với Tình Yêu kỳ diệu, thần thánh mà Thiên Chúa muốn chúng ta đi vào. Cũng vì lý do này, Giáo Hội còn gặp nhiều khó khăn, khi những người con của Giáo Hội không sống tình yêu theo định nghiã mới của Đức Giêsu, nhưng tiếp tục để “tình yêu” theo kiểu thế gian hớp hồn, lôi cuốn.
Jorathe Nắng Tím