Tìm kiếm Blog này

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2019

Mùa Chay - Mùa Xây Nhà Thờ


Nhà thờ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của xứ đạo, là trái tim của cộng đoàn, là bộ mặt của dân xứ, là biểu hiệu của tình hiệp nhất mọi người, là dấu ấn nhiệm kỳ cha sở, là niềm tự hào của ban Hành Giáo, là kiến trúc có một không hai mang nét văn hoá dân tộc, là kỳ quan ở châu Á, Việt Nam và còn là nhiều thứ khác kể ra không xiết tùy mục tiêu và cái nhìn của mỗi người… Nhưng điều quan trọng là nhà thờ không thể thiếu cho xứ đạo và nỗi lo hàng đầu cũng như nhức nhối hàng ngày của cha sở, cha phó, quý ban hành giáo là thấy nhà thờ xứ đạo chưa có, hay xuống cấp trầm trọng: dột nát, xiêu vẹo, gió thổi bên này, mưa tạt bên kia. Rất may, nếu đền thờ Giêrusalem đã phải mất bốn mươi sáu năm mới xây xong, nhà thờ ở Việt Nam, nếu có sẵn tiền, chỉ cần ba tháng là lên mái, sáu tháng là khánh thành. Nhanh nhất thế giới!

Đền thờ Giêrusalem trang trọng, đồ sộ, xây dựng công phu như thế mà Đức Kitô hôm nay lại đòi phá đi (Ga 2,19). Người Do Thái coi đền thờ là nơi Thiên Chúa ngự và ở đâu, đi đâu cũng hướng về Giêrusalem, ở đó có đền thờ Thiên Chúa. Tuyên bố “phá đền thờ rồi tự mình sẽ xây lại trong ba ngày” chắc chắn Đức Giêsu đã làm phẫn nộ nhiều người và ngày càng lọt vào tầm ngắm của các lãnh đạo tôn giáo và họ quyết định phải diệt Ngài.



Tin Mừng chúa nhật thứ ba Mùa Chay kể chuyện Đức Kitô vào đền thờ. Ngài thấy “nào là những người buôn bán chiên bò, bồ câu, nào là những người đổi tiền bạc đang huyên náo, nhố nhăng biến nơi thờ phượng trang nghiêm thành nơi buôn bán (Ga 2,14). Và Ngài đã nổi nóng, lấy roi xua đuổi họ cùng chiên bò ra khỏi đền thờ, ném tiền bạc của họ xuống đất và lật đổ các bàn ghế của họ” (Ga 2,15). Lòng yêu mến nhà Chúa đã thôi thúc Đức Kitô hành động và làm sôi sục cơn giận trong Ngài: Ngài giận con người đã coi thường, xúc phạm, làm ô uế nhà Chúa. Ngài giận con người đã lấy nhà Chúa làm nơi trao đổi thương mại và để tiền bạc trở thành Thiên Chúa trong đền thờ. Ngài giận vì đền thờ đang bị biến chất thành nơi làm tiền và tiền bạc đang chiếm đoạt chỗ của Thiên Chúa. Đền thờ được xây dựng với mục đích thờ phượng và là nơi Thiên Chúa ngự, nhưng nay con người muốn chuyển đổi mục đích, vì thấy Thiên Chúa không quan trọng bằng tiền bạc, không giải quyết cho họ những vấn đề mới của kinh tế thị trường, không đem lại những gì họ mong đợi. Chuyển đổi mục đích của đền thờ, con người đã phế bỏ Thiên Chúa khỏi đền thờ của Ngài và xúc phạm nặng nề danh dự Thiên Chúa của Ngài. Đức Giêsu đã nổi nóng, cơn nóng của người con thấy cha mình bị xúc phạm trầm trọng, cơn nóng của tình yêu khi chứng kiến những phản bội trắng trợn, cơn giận của Thiên Chúa khi tận mắt chứng kiến con người ngạo mạn đến độ dám biến thánh đường thờ phượng thành thương trường trao đổi tiền nong, hàng hoá. Nhưng có lẽ chuyện làm Ngài đau lòng nhất là chủ trương đóng cửa nhà Chúa đối với người ngoài đạo.



Như ta đã biết, đền thờ Giêrusalem được xây để đón Đấng Thiên Chúa sai đến, Đấng sẽ quy tụ mọi dân nước thành một dân tộc thánh; vì thế khi được xây, đền thờ đã chuẩn bị sẵn khu dành cho những người ngoài Israel. Thứ tự kiến trúc rất rõ rệt: tận trong cùng là khu cực thánh để “hòm bia Giao Ước”, nơi đó chỉ có thầy thượng tế mới được vào tế lễ mỗi năm một lần; tiếp theo là khu thánh dành cho các tư tế với bàn thờ tế lễ, rồi đến khu dành cho đàn ông, sau đó là khu đàn bà và ngoài cùng là khu dành cho người ngoại giáo. Khu này rất rộng, ước chừng năm trăm mét chiều dài và một trăm năm mươi mét chiều rộng. Chính khu này đã bị biến thành chợ buôn bán chiên lừa, chim câu và các thứ hàng hoá khác dùng cho việc tế tự. Chiếm đất của người ngoại giáo trong nhà Thiên Chúa nói lên tâm địa hẹp hòi, ích kỷ, co cụm và chủ trương “Đạo pháo đài, Đạo ấp chiến lược” của những người có trách nhiệm trong đạo Do Thái. Điều này đi ngược với Hiến Pháp Nước Trời của Đấng Cứu Thế, Đấng đến với muôn dân và quy tụ toàn thể nhân loại vì vương quốc của Ngài sẽ vượt ra khỏi ranh giới Israel và bao trùm mọi thời, mọi nơi.

Nhà thờ của xứ đạo chúng ta rất có thể cũng rơi vào tình trạng chuyển đổi này mà ta không biết: tiền bạc và pháo đài.



Ta không biết vì buôn bán bây giờ tinh tế, nhanh chóng và dễ dàng hơn xưa nhiều. Người ta có thể trao đổi bằng ngân phiếu vừa nhẹ vừa gọn, bằng phong bì dúi tay vừa nhanh vừa chính xác, dịch vụ chuyển tiền qua mạng vừa an toàn vừa kín đáo… Những người Do Thái khi khởi công xây đền thờ, họ cũng đã chọn đúng mục đích và tâm hồn mọi người đều chung niềm vui, háo hức xây đền thánh Chúa ngự; nhưng mục đích thánh thiện ban đầu bị bẻ cong, trệch sang hướng thương mại, tâm hồn náo nức, sốt sắng việc nhà Chúa bị thoái hoá biến thành tâm hồn tiền bạc. Nhà thờ ta xây tưởng chỉ để cho Chúa, vì Chúa, ai ngờ ta đang xây tháp Babel vì mình, cho mình. Nhà thờ ta xây tưởng là công trình của bác ái, hiệp nhất, ai ngờ là dịch vụ làm giàu danh tiếng cá nhân, vinh dự đoàn thể, thoả mãn tự ái cục bộ, địa phương. Nhà thờ ta tưởng là nhà Thiên Chúa, nơi con cái quây quần vui vẻ, hạnh phúc, ai ngờ bị chiếm đoạt, sang tên làm nhà riêng của một nhóm, đất dụng võ của quyền lực trần tục, diễn đàn củng cố ảnh hưởng phe nhóm, toà án mắng nhiếc, lên án phe đối lập… Nhà thờ vô phúc, vô tình đã biến thành tháp Babel thiếu Thiên Chúa, vắng con người vì không có tình yêu thương.

Sách Sáng Thế kể câu chuyện tháp Babel: Sau trận đại hồng thủy, con cái của Noe sinh sôi nảy nở, nhưng tất cả vẫn nói chung một ngôn ngữ. “Xảy ra là họ tìm thấy một cánh đồng ở đất Sinêa và họ định cư ở đó. Họ nói với nhau: “Nào chúng ta hãy đúc gạch và nung lò!” Gạch họ lấy làm đá và lịch thanh làm hồ. Và nói: “Nào chúng ta xây thành quách để ở và xây tháp cao thấu trời. Chúng ta sẽ làm rạng danh chúng ta để không bị phân tán ra khắp mặt đất” (St 11,1-4).



Trình thuật viết rất rõ: tháp Babel không được xây bằng đá, nhưng bằng gạch nung, không được trát bằng ximăng, nhưng bằng chất dán gạch là hồ lịch thanh. Trong Kinh Thánh, ximăng là biểu tượng của bác ái và đá biểu tượng của những khác biệt. Ở đây, người ta không dùng ximăng bác ái làm hồ, không dùng đá đa dạng, khác nhau để xây tháp, nhưng dùng lịch thanh là chất dán có sẵn, không phải pha và gạch nung đồng bộ.

Tính đồng bộ của gạch nói lên tính độc tài, độc điệu, độc quyền. Người ta không chấp nhận những khác biệt; nghĩa là chỉ tìm những gì đồng bộ, nhất loạt, giống nhau và loại trừ những người “khác”: chỉ đồng hương, đồng khói, đồng đạo là người của ta, còn những người khác xứ, khác họ, khác làng, khác xóm, khác địa phận, khác tiếng nói, khác chủng tộc, khác ý kiến, khác quan điểm, nhất là khác Đạo, ngoài Đạo đều không thuộc về ta và không được tham gia, dự phần với ta; chỉ những ai mặc đồng phục mới được vào nhà, còn những người ăn mặc tự do phải đứng ngoài. Không chấp nhận những người không như ta, không giống ta, tháp Babel đã chỉ dành cho mình: người của mình, người giống mình, người theo mình; bằng chứng là những người chủ trương xây tháp đã khẳng định: “Chúng ta xây tháp để làm vinh danh chúng ta” (St 11,4). Vinh danh mình là mục tiêu của công trình xây tháp trong khi tháp phải tìm vinh danh Thiên Chúa. Vinh danh mình là kỳ công con người cố gắng, trong khi vinh danh Thiên Chúa mới thật sự là điều họ phải thao thức, thực hiện. Vì tìm mình, họ sẽ gặp mình khi Thiên Chúa tránh mặt và khi gặp mình, họ sẽ chẳng còn nhận ra mình, nhận ra nhau vì bỏ Thiên Chúa ra ngoài, họ đã không còn hiểu nhau dù trước đó họ nói cùng ngôn ngữ (St 11,7). Tháp Babel phải bỏ dở dang và họ tự phân tán mỗi người một phương.



Như thế, con người chỉ hiểu được mình, hiểu được nhau khi có Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu gắn bó họ. Như ximăng bác ái gắn chặt những viên đá, hòn đá, khối đá không cùng kích thước, trọng lượng, hình thể với nhau; Đức ái kết chặt những cục đá tâm hồn muôn hình muôn dạng làm nên một đền thờ kiên cố, thánh thiện. Tình yêu nối kết, hợp nhất mọi người của mọi chủng tộc, màu da, tiếng nói, trình độ, hoàn cảnh, chính kiến. Thiếu đức yêu thương như ximăng, tất cả mọi công trình sẽ sụp đổ hoặc bỏ dở dang như tháp Babel vì gạch nung đứng xa nhau, đối kháng nhau, không hiểu nhau.

Nhà thờ chúng ta xây, nếu không dùng ximăng bác ái làm hồ, không chấp nhận những viên đá khác biệt đứng cạnh nhau, ở với nhau trước sau cũng sẽ trở thành tháp Babel kiêu căng, ganh ghét. Thiếu bác ái, nhà thờ sẽ trở thành hang trộm cướp với tham ô, lũng đoạn, buôn thần bán thánh. Thiếu yêu thương, nhà thờ sẽ biến thành chốn khoe của, khoe danh, trưng bầy tước vị, trình diễn thời trang, biểu dương quyền lực. Thiếu đức ái, nhà thờ sẽ trở thành sân khấu với đủ thứ kịch bản vô duyên, lố lăng, diễn viên hợm hĩnh, ngạo mạn, coi thường người khác, phỉ báng đồng đạo. Thiếu bác ái, nhà thờ sẽ là nơi hoạnh hoẹ, chỉ trích, đe dọa, vu khống, khủng bố nhau. Thiếu yêu thương, nhà thờ sẽ là nơi chỉ còn thiên chúa tiền bạc, thiên chúa quyền lực, thiên chúa danh vọng, thiên chúa ác ôn, thiên chúa chảnh chọe.



Sở dĩ nhà thờ dễ biến thành hang trộm cướp, sân khấu nhố nhăng và toà án khủng bố mà không bị phát hiện, chống đối là vì nhà thờ được che bằng lớp sơn nhà Chúa, được ngụy trang bằng tượng Chúa to đùng, được che chống bằng uy quyền Chúa rất oai phong, lẫm liệt, được che đậy bằng vinh danh Chúa rất cao sang và được bảo vệ bằng nhan thánh Chúa rất huy hoàng, tráng lệ. Ai dám tự tiện phong toả, kiểm tra nhà thờ? Ai dám xâm phạm nơi thánh? Chính vì thế, đám trộm cướp, buôn lậu gian tham mới tìm cho được nhà thờ để núp bóng, làm ăn an toàn.

Nói như thế không có nghĩa người viết phủ nhận ý ngay lành, công sức và tình yêu của những người suốt đời thiết tha với nhà Chúa, hao mòn vì lo xây dựng nơi thờ phượng, vất vả ngược xuôi tìm kiếm phương tiện để trùng tu nhà thờ để phục vụ đời sống thiêng liêng của xứ đạo. Người viết chỉ nêu lên nguy cơ có thể xảy ra, nếu những tâm tình và công trình thánh thiện vừa kể không xây dựng trên nền tảng bác ái, điều kiện không thể thiếu để nhà thờ xứng đáng là nhà của Thiên Chúa tình yêu. Đức Ái rất quan trọng, nhưng cũng rất mong manh, mỏng dòn, cần được thận trọng gìn giữ, phát huy. Chỉ một chút lửa kiêu căng muốn tháp chuông xứ mình phải cao hơn tháp chuông xứ bên cạnh, chỉ một tia lửa khoe tài điều quân khiển tướng, chỉ một đốm lửa háo danh muốn ghi dấu ngàn năm “triều đại “ cha xứ, chỉ một tàn lửa tự mãn “ta muốn là được” đã đủ đốt cháy nhà thờ với bao công sức xây dựng, như Giêrusalem đã hoang tàn, sụp đổ đưới chân quân thù. Quân thù đe doạ hôm nay không phải Nabucodonosor đã tàn phá đền thờ ngày xưa, nhưng là tham vọng, háo danh, say mê quyền lực. Những tia lửa tham vọng, đốm lửa háo danh, tàn lửa quyền lực sẽ phá nát tình huynh đệ, tình cha con, tình đồng đạo, tình những người con cùng một Cha trên trời và biến nhà Chúa thành hang trộm cướp, ổ mánh mung, lừa đảo như Đức Kitô đã quát mắng những người buôn bán chiên bò đang làm ô uế đền thờ (Ga 2,16).



Thách thức “sẽ xây lại đền thờ trong ba ngày”, Đức Kitô muốn nói đền thờ sẽ là chính thân xác phục sinh của Ngài. Chính Ngài mới là đền thờ xứng đáng, nơi Thiên Chúa Cha ngự. Từ nay, đền thờ không còn là công trình làm bằng gạch đá, nhưng là dân Chúa thấm nhuần bác ái, yêu thuơng luôn đón nhận sự hiện diện của Đức Kitô mà sự sống lại của Ngài đã mạc khải sức mạnh cứu rỗi của ơn sủng. Giáo Hội là đền thờ Thiên Chúa khi sống mầu nhiệm “thân thể” Đức Kitô. Dân Chúa là nhà thờ khi tuyên xưng sự chết và sống lại của Đức Kitô. Nhà thờ giáo xứ, nhà thờ giáo họ là dân chúa sống động với sự hiện diện của tình yêu Đức Kitô và tình bác ái huynh đệ của mọi người, vì “nơi nào có tình yêu, ở đó có Thiên Chúa”. Nhà thờ hôm nay phải được tiếp tục xây bằng những viên đá sống động yêu thương và trét bằng ximăng bác ái, huynh đệ. Thiên Chúa khao khát ở với con người, ở trong nhà thờ của xứ đạo. Để được như vậy, Ngài tha thiết xin ta xây dựng mỗi ngày nhà thờ của Ngài ngay trong trái tim ta, bởi nhà thờ không Tình yêu là nhà thờ không có Chúa và nhà thờ đẹp nhất, nguy nga, tráng lệ nhất, nhà thờ có tháp chuông cao tới trời, nhà thờ có Chúa ngự, có anh em quây quần, xum họp là nhà thờ được xây bằng những hòn đá yêu thương, trét bằng ximăng bác ái sống động.

Mùa Chay - Mùa Sống Đạo

Những năm vừa qua, trong cơn sốt bất động sản, nhiều cảnh mếu máo, khóc cười tang thương khi anh chị em trong nhà thưa kiện nhau ra tòa, con cái lừa gạt cha mẹ để chiếm đoạt nhà cửa, đất đai. Người ta “canh me”, cưỡng chế để giành sổ đỏ, tráo đổi giấy tờ, mạo nhận chữ ký, áp lực người này, mua chuộc người kia để chiếm nhà tổ, chiếm đất hương hoả. Xã hội điên đảo bởi những thủ đoạn, cạm bẫy ngay trong gia đình và niềm tin, tình nghĩa, trung thành, chân thật chỉ còn là những sáo ngữ, không còn hợp thời, không nhắc nhở, cảnh cáo được ai.

Tin Mừng thánh Mátthêu kể lại một cuộc cưỡng chiếm tương tự, không phải chiếm nhà, đoạt đất, nhưng chiếm hẳn cả trang trại lớn có vườn nho, có hầm ép rượu và chung quanh được rào dậu kiên cố, cẩn thận (Mt 21,33). Kẻ chiếm đoạt không phải con cái hay anh chị em trong gia đình, nhưng là những người làm vườn. Làm vườn mà âm mưu chiếm đoạt trang trại của chủ thì thật gan cùng cóc tía, uống quá đô thuốc liều. Làm công mà toan tính cướp trắng sự nghiệp của chủ thì thật không còn gì tồi tệ, đốn mạt hơn. Mấy anh làm vườn gian ác đã lần lượt vừa bắt bớ, đánh đập vừa tra tấn, hành hình, xử tử các gia nhân, sứ giả của ông chủ gửi đến để thu hoa lợi. Đến lượt chính con trai ông chủ, mấy anh làm vườn hung dữ cũng ra tay giết luôn, vì nghĩ rằng: giết được người thừa kế, chúng ta sẽ chiếm trọn gia tài (Mt 21,34-39).



Những người làm công đã chiếm gia sản của ông chủ vì tham lam; đã dùng phương sách khủng bố để thực hiện việc cưỡng chiếm vì gian dối, tàn ác. Gian dối khi không trung tín với chủ, không tôn trọng giao kèo làm việc, không ở đúng vị trí làm công như khế ước quy định. Lòng tham được ủng hộ bởi gian ác, gian ác được thúc đẩy bởi lòng tham đã biến những người làm công vốn thật thà, tận tụy, chân chất, đơn sơ thành những tên cướp hung bạo, khát máu. Những bàn tay chai sạn, gân guốc, cần cù của lao động chân chính nay đã biến thành những bàn tay sát nhân, bàn tay lý hình, bàn tay hung thần vấy máu. Tâm hồn nhân ái, bộc trực, hồn nhiên, vui vẻ của những “Hai Lúa” đã biến chất thành tâm địa lưu manh, nham hiểm, ác độc. Bả đất đai, ruộng vườn, nhà cửa đã biến dạng con người, thoái hoá tâm hồn. Giấc mộng làm chủ đã thay lòng đổi dạ người làm công hiền lành và không ai ngờ những anh làm vườn hôm qua nay mang “lòng lang dạ thú”.

Cũng như Giuse, con ông Giacóp trong Cựu Ước đã bị các anh bán cho người lái buôn chỉ vì Giuse được cha thương nhất. Lòng ganh ghét đã thúc đẩy các anh phải đề phòng thằng em vì nghĩ rằng sẽ có ngày nó nắm đầu mình; hơn nữa còn Giuse, gia tài không khéo sẽ về hết trong tay nó, nên tốt hơn cả là xoá tên nó khỏi sổ đời (St 37,3-4.12-13a.17b-28). Abel đã bị anh là Cain giết cũng chỉ vì của lễ của Abel được Thiên Chúa nhận. Chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt quyền làm chủ là hệ quả của lòng tham và ganh ghét cố hữu của con người. Rơi vào hố sâu của lòng tham, ganh ghét, ai cũng sẽ hành động một cách gian ác, hung bạo như Cain, các anh của Giuse và những người làm vườn được kể trong Kinh Thánh.



Câu chuyện chiếm trang trại được Đức Kitô cắt nghĩa rõ ràng: trang trại là Nước Trời, những người làm vườn là dân được Thiên Chúa chọn. Thay vì phát triển trang trại, làm vườn nho thêm hoa lợi; thay vì vui vẻ, đoàn kết, yêu thương chung sức làm việc, thay vì vun xới cho chủ và nghe lời chủ, những người làm vườn đã gian dối, âm mưu làm ngược lại: đóng cửa vườn, bắt giết người, không làm sinh lợi hoa mầu, chiếm đoạt trang trại làm của riêng, phản nghịch chủ. Và tất nhiên, những người làm vườn bất trung, hung dữ, tham lam, ích kỷ, gian dối đã bị tiêu diệt hoặc đuổi ra khỏi trang trại và ông chủ trao trang trại cho những người làm vườn mới (Mt 21,40-43).

Nếu có ai trong chúng ta bạo gan, uống sẵn thuốc liều lên tiếng: “Những người làm vườn gian ác đó là chính chúng ta”, thì không biết bạn sẽ phản ứng thế nào…?

Giáo phận, xứ đạo, họ đạo, hội đoàn nơi ta đang có mặt như thành viên chính là trang trại - Nước Trời. Nước Trời được trao cho ta cũng như trang trại được trao cho những người làm vườn. Được trao để làm lớn rộng, sinh sôi nảy nở thêm; được trao để chia sẻ, nối vòng tay lớn với mọi người; được trao để thu về hoa lợi dồi dào. Nước Trời không được trao để khư khư giữ riêng; không được trao để cổng khoá kín, tường xây cao, không cho ai qua lại, ra vào; không được trao để một mình hưởng lợi, một mình tung hoành, một mình múa gậy nhố nhăng; không được trao để chiếm làm của riêng, để chạy sổ đỏ với tên mình. Nước Trời được trao cho ta, nhưng Nước Trời không thuộc quyền ta sở hữu, vì ta chỉ là người làm công cho Nước Trời. Nước Trời cũng không do ta lập, như trang trại thuộc về ông chủ, nên kế hoạch lớn của Nước Trời, mầu nhiệm thẳm sâu của Nước Trời không thuộc thẩm quyền của ta, vì ta chỉ là người làm công phải làm những gì ông chủ muốn, ông chủ dặn. Nước Trời có hiến chương, luật pháp như trang trại có kỷ cương, kỷ luật, ta không có quyền vi phạm, xóa bỏ hay thay đổi kỷ cương, hiến pháp, vì người làm công không có quyền của chủ và chỉ thi hành những gì luật định. Nước Trời có tổ chức nhân sự riêng của Nước Trời, như trang trại có người đại diện chủ điều hành, thanh tra, ta không có quyền truất phế, đảo chánh, chiếm đoạt chức vị, vì người làm công chỉ biết tuân phục chủ và chu toàn bổn phận làm vườn.



Nếu lần lượt kể những khuôn mặt làm công trong trang trại Nước Trời hôm nay, ta sẽ ít nhiều giật mình vì có nhiều đột xuất, bất ngờ:

Có khuôn mặt khư khư giữ Đạo và không hiểu truyền giáo là gì. Với những người này, Nước Trời là của riêng, là kho tàng chỉ dành cho những người có Đạo như họ. Hơn thế nữa, trong số những người có Đạo chưa hẳn tất cả đều được phúc có Đạo trọn vẹn, hoàn hảo như họ. Họ mơ một Thiên Đàng chỉ có họ, gia đình họ và một số người họ thích, họ thân. Nhìn quanh trong nhà thờ, họ thấy ai cũng bất xứng, kém cỏi lòng đạo, khô khan, nhếch nhác, chỉ có họ là “số một” và bằng mọi giá họ phải giữ Đạo, không để Đạo lọt sang tay người khác. Việc truyền giáo với họ vì thế chỉ là chuyện “giời ơi”, chuyện “hồn ai nấy lo”.





Có khuôn mặt hung hăng hơn: không chỉ giữ đạo cho mình, họ còn giữ để Đạo khỏi bị người ngoài đạo gây ảnh hưởng xấu. Họ coi Đạo là một đồ vật mà người không rửa tay sờ vào sẽ làm dơ bẩn. Tránh cho Đạo khỏi mọi nguy cơ biến thái, họ đào hầm chôn Đạo thật kỹ, rào dậu thật kín để không ai vào Đạo được. Nỗi lo âu, sợ hãi Đạo bị ô nhiễm, lây bệnh đã làm họ rùng mình khi thấy Đạo bung ra mọi nơi, đến với mọi người, tìm gặp mọi dân tộc. Họ ngao ngán lắc đầu chờ ngày Đạo tàn vì những cánh cửa Đạo cứ mở toang, chẳng biết đề phòng gió độc, hơi độc từ bên ngoài và Đạo trở thành một ám ảnh sợ hãi đè nặng tâm hồn và ức chế nỗi lo âu của họ.

Có khuôn mặt độc tài muốn nắm Đạo trong tay và dần dần biến Đạo thành một tổ chức như các tổ chức trần tục khác. Đạo với họ là thành trì, pháo đài có sức mạnh trần thế vì dựa vào quyền lực, tiền bạc, số đông. Cần số đông, họ truyền giáo kiểu tuyển quân; cần tiền, họ ki cóp dưới chiêu bài dâng cúng lo việc thờ phượng; cần quyền lực, họ không từ bất cứ một thủ đoạn mưu mô nào. Đạo trở thành sự nghiệp họ phải đạt và Đạo là thành quả của chính họ, bởi ở đây họ có tất cả: tiền, tình, tài.

Có khuôn mặt độc ác: ở trong Đạo nhưng phá Đạo. Đạo là phương tiện vinh thân, là địa đạo cất giấu những ý đồ đen tối. Thần dữ mượn tay họ để chia rẽ, phá hoại. Ma quỷ dùng nhãn hiệu Đạo của họ để phá Đạo và nhiều người có Đạo phải khổ sở, lao đao vì họ. Chính họ là người nhúng tay tiêu diệt những sứ giả của Chúa và gây nên những phong trào chống phá, bôi nhọ làm siêu lòng, nản chí nhiều người, đồng thời chặn đường truyền giáo cũng như đường về của nhiều tâm hồn thiện chí.



Một vài khuôn mặt tiêu biểu đã phần nào nói lên tình trạng nhiều người có Đạo nhưng không sống Đạo, nhiều người có Đạo chỉ để giữ Đạo, bảo vệ Đạo, phá Đạo. Có Đạo như ý muốn của Đức Kitô, Đấng sáng lập Đạo vẫn có thể là điều nhiều người có Đạo chưa biết đến hoặc còn mù mờ lẫn lộn.

Như những người làm vườn được ông chủ tuyển chọn, người có Đạo được Thiên Chúa kêu gọi đi với Ngài, cộng tác với Ngài trong công trình cứu độ nhân loại. Hơn những người làm công, người có Đạo qua bí tích Thánh Tẩy được tháp nhập vào thân thể của Đức Kitô là Giáo Hội để trở thành con cái, bạn nghĩa thiết, môn đệ, cộng tác viên được tín nhiệm, ủy quyền. Họ biết Chúa một cách thiết thân và gắn bó, gần gũi Ngài. Vì thế, đòi hỏi đầu tiên của người có Đạo là phải có Chúa, phải mang Chúa trong cuộc đời, có Chúa trong cuộc sống. Không có Chúa, không được gọi là người có Đạo, vì tên cúng cơm của người có Đạo là “Kitô hữu, người có Chúa Kitô”. Để có Chúa, người có Đạo phải liên lạc, trao đổi, hiệp thông, hiệp nhất với Chúa qua cầu nguyện, lãnh nhận các Bí Tích, tham dự tiệc Thánh Thể… Để có Chúa, người tín hữu phải đặt để đời mình trong đời Chúa, tim mình trong tim Chúa và dấn thân bước theo Ngài trên mọi nẻo đường như các môn đệ ngày xưa đã đi theo và ở gần kề đêm ngày bên Đức Kitô. Có Chúa, người có Đạo sẽ có tình yêu và trong tình yêu, không được phép phản bội, ganh ghét, tị hiềm. Trong tình yêu, không có chiếm đoạt, lật đổ, dối gian, kiêu căng, ngạo mạn. Không như những người làm công phản phúc, không tình nghĩa với chủ, người có Đạo luôn ở trong tình nghĩa với Thiên Chúa, Đấng sai họ vào làm trong vườn nho của Ngài (Ga 15,1-10).

Gắn bó với Chúa qua cầu nguyện, người tín hữu còn sống tình yêu của Chúa để yêu mến mọi người. Nếu tên gọi người có Đạo là “Người có Chúa Kitô”, thì huy hiệu của người có Đạo là “Bác ái”; bởi “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Thầy là chúng con thương yêu nhau”. Vì thế không thương yêu, không thể được gọi là người có Đạo, người có Chúa Kitô, vì Thiên Chúa là Tình Yêu và ai yêu thương thì ở trong Ngài và Ngài ở trong người ấy. Những người làm công đã không yêu thương nên không thể ở trong trang trại - Nước Trời của Thiên Chúa Tình yêu. Tình yêu như ánh sáng không ở chung với bóng tối hận thù. Mang tâm địa gian manh, hung ác, những người làm công không thể chu toàn sứ mệnh là chứng nhân tình yêu trong Nước Tình yêu của Đấng là Tình yêu. Vườn nho của Chúa là Giáo Hội với sứ mệnh làm chứng Thiên Chúa là Tình yêu sẽ chỉ trung thành với Đức Kitô, đấng sáng lập khi Giáo Hội ấy sống triệt để yêu thương. Sứ mệnh làm chứng phải bắt đầu từ chứng nhân khi họ biết yêu thương nhau và thực hiện giới luật mới Yêu thương của Nước Trời. Không yêu thương, tổ chức, hiệp hội nào rồi cũng tan hàng, giải tán. Thiếu yêu thương, xứ đạo, giáo phận nào rồi cũng hoang tàn, xơ xác. Yêu thương là sức sống và lẽ sống của người có Đạo, nên nói đến người có Đạo, người ta phải hình dung ngay một người rất yêu thương (Ga 15,12.17).



Cầu nguyện, yêu thương - bác ái chưa đủ, người có Đạo còn phải chu toàn nghĩa vụ truyền giáo. Truyền giáo là giới thiệu Đức Kitô Tình yêu nhập thể cho mọi người, là nói cho họ Tin Mừng: họ được Thiên Chúa yêu thương và cứu chuộc. Đi Đạo mà không ra đi khỏi lòng mình, nhà mình, xứ đạo mình, giáo phận mình để giới thiệu Đức Kitô cho những người, những nơi chưa biết thì chưa được kể là người có Đạo. Có Đạo kiểu giữ khư khư Đạo cho riêng mình thì chẳng khác gì người đốt đèn rồi bỏ vào thùng đậy nắp lại, ánh sáng chẳng chiếu cho ai và đèn chẳng ích dụng gì. Đức Kitô không lập Giáo Hội cho một sắc dân, một chủng tộc hay một chủ nghĩa, Ngài lập Giáo Hội cho tất cả mọi người, ở mọi thời, khắp mọi nơi. Lệnh truyền của Ngài cho những người đi theo Ngài là “hãy đi khắp thế gian loan báo Tin Mừng cho mọi người” (Mc 26,15). Loan báo Tin Mừng là đặc tính của người tín hữu, người mang Chúa Kitô. Bản chất của Tin Mừng là được san sẻ như bản chất của Tình Yêu là thông ban. Tình yêu luôn đòi chia sẻ, mở ra, đến với. Tình giữ kín, tình đóng hộp, tình nhốt lồng, bỏ rọ sẽ biến thành một thứ tình chết non, chết ngộp. Chính vì thế, khi những người làm công lười biếng muốn chiếm đoạt trang trại làm của riêng mình, họ đã đóng cổng không cho ai vào, tức là chỉ muốn Đạo của riêng mình, Nước Trời thuộc về mình. Thiếu tình yêu, bác ái, nên ý thức truyền giáo, chia sẻ Tin Mừng cứu độ với người khác cũng không còn. Mất ý thức truyền giáo, người có Đạo cũng sẽ đánh mất bản chất “có Chúa Kitô” của mình và đời sống Đạo của họ sẽ ngày càng èo uột, héo úa như thánh Phaolô đã than thở: “Khốn cho tôi, nếu tôi không loan báo Tin Mừng” (1Cr 9,16).



Sống Đạo là sống ba căn tính của người tín hữu, người có Chúa Kitô. Đó là sống cầu nguyện, sống bác ái, sống truyền giáo. Cả ba cùng đi, cùng làm cho đời sống người có Đạo tràn đầy sức sống của Thiên Chúa Ba Ngôi. Cả ba gắn bó hiệp nhất, nên không thể thiếu một trong ba: có gắn bó thân mật với Chúa là Tình Yêu, ta mới yêu thương, bác ái; có yêu thương, bác ái, ta mới làm chứng được Thiên Chúa là Tình yêu.

Được gọi vào làm việc trong vườn nho Nước Trời và mang tên người có Chúa Kitô, chúng ta đừng để bị Chúa lên án, đuổi ra vì kiểu giữ đạo ích kỷ, kiểu giữ đạo tham lam, kiểu giữ đạo độc quyền, lười biếng như những người làm công thất tín, bất trung, tham lam, kiêu ngạo trong Tin Mừng. Xin cho Mùa Chay trở về với niềm vui sống Đạo: niềm vui cầu nguyện, niềm vui bác ái, niềm vui loan báo Tin Mừng để mỗi người sẽ được Thiên Chúa khen thưởng: “Hỡi tôi tớ tốt lành và trung tín. Hãy vào hưởng hạnh phúc với chủ ngươi” (Mt 25,21).

Đôi Mắt Không Yêu Thương!


    
    Suy Niệm TIN MỪNG CHÚA NHẬT 8 Thường Niên, Năm C
    Mắt là cơ năng biểu lộ nhanh và hiệu quả nhất tình yêu ta dành cho người khác. Kinh nghiệm yêu thương cho thấy : chỉ một ánh mắt thôi cũng đã đủ gửi trao nhau trọn cuộc đời, và chỉ một cái nhìn thôi cũng có thể thay đổi cả cuộc đời nhau.
    Tin Mừng Luca không vẽ lên đôi mắt yêu thương, trìu mến, nhưng phác họa những con mắt không chút yêu thương, với những đặc điểm :
    1/ Chỉ soi mói những cái xấu nơi người khác :
    Đặc điểm dễ thấy nhất ở những con mắt không tình yêu này là chỉ moi móc, tìm tòi, "canh me" những điểm tiêu cực nơi người, mà không bao giờ nhìn vào chính mình. Những đôi mắt ấy rất nhậy bén với cái xấu, vì tự thân đã xấu, say mê điều xấu, thích sưu tầm điểm xấu nơi người khác. Những đôi mắt ấy chụp rất nhanh, nhưng không chính xác những thiếu sót, khuyết điểm nơi người chung quanh, vì con mắt ấy mờ đục do bệnh ganh ghét, kiêu căng cố hữu.
     Đức Giêsu đã phơi bầy những đôi mắt xấu, bệnh hoạn, đui chột, mờ đục vì không yêu thương khi lên tiếng khiển trách : “Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của chính mình thì lại không để ý tới ?” (Lc 6,41).
     2/ Trơ trẽn chỉ trích và lố bịch can thiệp vào chuyện đời người khác :
      Không chỉ xâm soi những yếu kém của người, những con mắt cú vọ không yêu thương ấy còn trân tráo, vô duyên lên mặt dậy đời, lên lớp giảng luân lý, lên gân trích dẫn hết bộ luật này đến khoản luật kia với duy nhất chủ đích bôi bác mà không che chống, khinh bỉ mà không bảo vệ, đốn gục mà không nâng dậy, hủy diệt mà không cứu chữa người anh em còn thiếu sót, khuyết điểm.
     Đức Giêsu lên án những đôi mắt xâm phạm, làm tổn thương con người ấy trong Tin Mừng hôm nay : “Sao anh lại có thể nói với người anh em : Này anh, hãy để tôi lấy cái rác trong mắt anh ra, trong khi chính mình lại không thấy cái xà trong con mắt của mình? Hỡi kẻ đạo đức giả ! Lấy cái xà ra khỏi mắt ngươi trước đã, rồi sẽ thấy rõ, để lấy cái rác trong con mắt người anh em !” (Lc 6, 42).
     3/ Chỉ mang lại hậu quả tang thương, tai hại cho người khác và cho chính mình :
    Hình ảnh hai anh mù đưa nhau xuống hố trong Tin Mừng là hậu quả không thể tránh (Lc 6, 39), nếu chúng ta đi theo hướng dẫn của những đôi mắt không yêu thương này, bởi chỉ cây tốt mới cho được trái ngon, và cây xấu sẽ chỉ sinh trái độc (Lc 6, 43).
    Điều Thiên Chúa muốn cảnh giác chúng ta là phải tránh xa những đôi mắt không ánh sáng tình yêu, nhưng đui mù vì kiêu căng, tự mãn, mờ đục vì ghen tuông, đố kỵ đó, bởi chúng sẽ làm đui chột tâm hồn, làm mờ đục cuộc đời của chúng ta bằng chính sự mù loà, đui chột của chúng. Tránh xa chúng bằng không nghe lời chúng bàn, không theo đường chúng chỉ, bởi chúng có thấy gì đâu mà khuyên răn, sửa chữa; có thấy gì đâu mà dẫn lối, chỉ đường ?
     Ước gì mỗi ngày chúng ta không quên kiểm tra đôi mắt để mắt luôn trong sáng, trong sạch, hầu được chiêm ngắm Thiên Chúa và kỳ công của Ngài, trong đó con người là kỳ công tuyệt vời Thiên Chúa đã tạo dựng do tình yêu và cho tình yêu. Và như thế, với đôi mắt trong vắt tình yêu, chúng ta được chiêm ngắm chính Thiên Chúa yêu thương trong người anh em luôn được yêu thương bởi Thiên Chúa, để không bao giờ chúng ta nhìn anh em cách tiêu cực và chỉ ở những điểm tiêu cực, nhưng nhìn thấy Chúa là tình yêu, và phụng sự Chúa trong mọi người.

Jorathe Nắng Tím


Thứ Năm, 21 tháng 2, 2019

Mùa Chay - Mùa Mở Cửa Tâm Hồn

Trái tim, tâm hồn là đề tài được nhắc đến nhiều trong Mùa Chay. Các bài đọc Cựu Ước, nhất là của tiên tri Giêrêmia đã không ngừng kêu gọi làm mới con tim, thay đổi tâm hồn. Những trái tim ngỗ nghịch, bội phản, chống lại Thiên Chúa được ví như bụi gai trên đất khô cằn cỗi. Những tâm hồn chai đá, nguội lạnh, dửng dưng trước mời gọi của Thiên Chúa được gọi là vùng đất hoang, tiêu điều. Những quả tim khinh mạn, kiêu căng được coi là quả tim bệnh hoạn, chai đá. Tất cả hình ảnh bụi gai, hoang địa, đất khô cằn cỗi, chai đá, bệnh hoạn đều muốn dẫn đến một hệ quả: không sinh hoa kết trái vì không có sự sống; không hạnh phúc, mạnh khoẻ vì thiếu vắng niềm vui. Đối lại là tâm hồn đặt hy vọng ở Chúa, họ như cây trồng bên nước, không sợ nắng hạn, nhưng rễ ăn sâu trong suối mát, hoa lá xum xuê, trái thơm nặng cành (Gr 17,5-10).

Tin Mừng thánh Luca kể lại câu chuyện người phú hộ và người ăn mày tên Lazarô: Ông ăn mày nằm ngoài thềm nhà ông phú hộ, mình đầy mụn nhọt. Ông đói lắm, nên ao ước được ăn chút cơm thừa canh cặn nhưng không ai cho, chỉ có mấy chú chó chắc cũng đói lân la đến liếm các mụn nhọt. Rồi cả hai cùng chết. Ông ăn mày được về Trời, còn phú hộ xuống hoả ngục. Ở hoả ngục khổ sở quá, người phú hộ chợt nhớ ra có Lazarô là người ăn mày quen biết đang ở trên Trời, nên nài xin tổ phụ Ápraham nhắn với Lazarô nhỏ cho ông chút nước cho đỡ nóng nảy. Nhưng rất tiếc, vực thẳm giữa Thiên Đàng và Hoả ngục quá sâu và quá xa, nên không ai tới ai được… (Lc 16,19-26).

Đức Kitô không chống người giàu, không ghét người có của; bằng chứng là Ngài đến dự tiệc ở nhà người giàu và suốt ba năm dong duổi truyền giáo, chắc chắn Ngài và các môn đệ đã được nhiều gia đình có của rộng lòng giúp đỡ tài chánh. Đọc Tông Đồ Công Vụ, ta cũng thấy sự đóng góp tích cực của người giàu đã nâng đỡ hữu hiệu các tông đồ trong công cuộc truyền giáo. Dọc theo lịch sử Giáo Hội và quanh chúng ta hôm nay, biết bao gia đình giàu có đã tiếp tay xây dựng Giáo Hội, giúp đỡ các nhà truyền giáo. Như thế, một cách chính xác Đức Kitô không bao giờ lên án, miệt thị người giàu hay chủ trương san bằng giai cấp. Khi nói đến sự giàu có của cải, Ngài nhắm đến trái tim hơn là “địa vị, giai cấp người giàu” của họ.

Trái tim người phú hộ đã biến ông thành người nghèo, khốn khổ, mặc dù ông giàu kếch xù. Trái tim đóng kín đã giam hãm đời ông trong pháo đài của cải và tiếp tục giam ông trong hỏa ngục khổ sở. Trái tim không mở cửa đã khép cửa Thiên Đàng và đẩy ông vào vùng đất chết cằn cỗi. Trái tim không để đường ra lối vào đã cô lập ông trong vực thẳm ở đó mọi người đều quá xa và không ai đến được với ông. Và trái tim bị khoá kỹ nhiều vòng đã làm đời ông bị kết án.


Đức Kitô lên án trái tim đóng kín cửa của người phú hộ, lên án thái độ dửng dưng, vô cảm của trái tim trước đói khổ của người ăn mày trước cửa. Ngài không chấp nhận đời sống “bàng quan, đứng bên lề” của ông phú hộ khi ông chỉ biết hưởng riêng mình mà không chia sẻ, đoái hoài đến những mảnh đời rách nát, te tua chung quanh. Người nghèo không xa, nằm ngay trước hiên nhà nhưng với ông những người này đều xa lạ, không nằm trong vùng trách nhiệm của ông. Thái độ ích kỷ, vô trách nhiệm trước tha nhân trong cơn túng quẫn chính là hành động khép kín cửa lòng, đóng chặt trái tim, che kín hai mắt, bịt chặt hai tai, chân tay xếp lại. Ông phú hộ không muốn thấy cảnh nghèo, nghe tiếng khóc rên rỉ vì đói, không muốn chạnh lòng trước những mụn nhọt lở loét đau đớn trên thân xác gầy gò của người ăn mày tội nghiệp. Ông cần cứng rắn, nghiêm khắc, lạnh lùng, sắt đá hơn với mọi người và với chính trái tim mình để không phải tra tay vào ổ khoá, mở cửa ra. Nhiều lúc trái tim ông cũng thập thò rung động, nhưng ông kịp thời dập tắt ngay những nhen nhúm tình cảm. Điều ông muốn là cửa lòng luôn được đóng chặt, khép kín, vì ông nghĩ: chỉ như thế, đời sống mới an toàn, của cải mới không sút giảm, cơ nghiệp mới không bị thất thoát. Ông đóng cửa lòng để không ai đến được với ông và ông cũng chẳng còn bận tâm đến ai. Khép kín cửa lòng, ông sẽ được thảnh thơi một mình, không ai quấy rầy, không ai xin xỏ, không ai làm phiền. Đóng cửa lòng đã trở thành thượng sách và ông sống đời khép kín cửa như thế cho đến ngày ông chết, ngày Thiên Đàng cũng đóng cửa với ông, như ông đã đóng cửa với mọi người.


Đức Kitô muốn làm nổi bật trong câu chuyện này chọn lựa của ông như câu trả lời chính xác cho vận mệnh đời đời của ông. Chọn thái độ khép cửa lòng với tha nhân là chọn cánh cửa Thiên Đàng khép kín ở giờ chết. Tha nhân là câu trả lời mà con người hay thắc mắc: Chết rồi, tôi đi đâu, Thiên Đàng hay Hoả ngục? Nếu tha nhân có chỗ trong tim tôi, Thiên Đàng cũng ở đó trong tim tôi. Nếu tha nhân ở trong tâm hồn tôi, Thiên Đàng cũng tìm đến tâm hồn tôi cư ngụ. Tha nhân khi sống là Thiên Đàng lúc chết. Tha nhân hôm nay là Thiên Đàng mai sau. Tôi đón tha nhân trong cuộc sống, Thiên Đàng đón tôi sau cuộc sống. Tôi dọn chỗ cho tha nhân trong nhà tôi hôm nay, Thiên Đàng có chỗ dành riêng cho tôi ngày mai. Thiên Đàng và Tha nhân song hành. Tha nhân là chìa khoá của Thiên Đàng. Thiên Đàng là hoa thơm trái ngọt của hạt giống tha nhân trên mảnh đất đời tôi. Tin Mừng Mátthêu đã chứng thực chân lý này khi trình bày quang cảnh ngày phán xét với người lành một bên, kẻ dữ một bên, ở đó tha nhân đã là đáp số chính xác cho phần thưởng Thiên Đàng hay hình phạt hoả ngục của mỗi người (Mt 25,31-46).

Trở lại chuyện ông phú hộ xin chút nước cho đỡ khát từ hoả ngục, ta nhận ra người giàu dễ bị mù loà vì của cải và trái tim dễ bị khép lại. Sở dĩ họ dễ dàng bị mù loà là vì của cải nhiều quá làm họ choáng mắt; hào quang của cải chói quá làm mắt họ lu mờ; sức hút của của cải mạnh quá làm họ bị thôi miên lạc hồn. Nhưng mù lòa chưa đáng sợ, cái đáng sợ nhất là thái độ đóng chặt cửa lòng, khép kín trái tim đã biến người giàu thành cao ngạo khi nghĩ mình không thiếu gì, không cần gì, không đợi gì. Rơi vào tình trạng này, họ đang tự chôn mình ngay trên phần đất của nhà mình, ngay trong cuộc đời mình, mà không biết đất ấy, cuộc đời ấy chỉ là hư vô, tro bụi. Nguy cơ của người giàu khi đóng chặt cửa lòng là họ không đến được gần Chúa, không để Chúa đi vào tâm hồn vì chỉ mình Ngài biết rõ tâm hồn mỗi người và là nguồn sống của mọi tâm hồn. Đóng chặt cửa lòng, họ sẽ không đón được cái nhìn yêu thương, tín nhiệm, âu yếm của người cha luôn muốn chữa lành, vực dậy, thăng tiến đời con mình. Khi đóng cửa lòng, họ đã mất cơ hội vô cùng lớn cho Tình thương xót của Chúa biến đổi trái tim cứng cỏi, cằn cỗi, khô chồi của họ thành trái tim màu mỡ yêu thương, phì nhiêu ơn phúc. Đóng cửa lòng, tâm hồn họ mãi nghèo nàn, khô cháy, hoang vu, hứa hẹn một cái chết đời đời bất hạnh.

Mùa Chay về, Chúa gọi con mở lòng cho đi. Lại thêm một lời mời gọi mới. Chắc chắn con phải đồng ý đáp trả lời mời gọi của Chúa thôi… Nhưng như người thanh niên giàu có, con hơi ngần ngại, bởi con còn nhiều chuyện phải làm, nhiều nhu cầu phải đáp ứng, nhiều việc phải giải quyết lắm. Chúa cho con khất đến sáng mai sẽ trả lời Chúa được không?

Đêm nay con sẽ suy nghĩ chín chắn… để biết đâu là ý con, đâu là ý Chúa. Xin Chúa giúp con nhận ra điều này và cho con đủ yêu thương để quyết định cho đi một cách đơn sơ, không rắc rối, cầu kỳ. Và câu trả lời “đồng ý” của con chắc sẽ mạnh dạn, dễ thương, vui vẻ hơn, Chúa nhỉ...

Mùa Chay - Mùa Nhìn Lên Chúa

Thời gian là phương thuốc làm quên và chữa lành các vết thương lòng. Thời gian cũng là cơ hội để an bình nội tâm được tái lập sau những bấn loạn, chao đảo. Nhưng thời gian cũng là đe dọa, thử thách bởi thời gian có bóng tối, mây mù, chông gai, cạm bẫy và thách đố của thời gian.

Khi đem con trai duy nhất lên núi để giết làm của lễ dâng Thiên Chúa như Chúa truyền, Ápraham đã sống bóng tối của hiện tại. Bóng tối đã che khuất hy vọng của lời hứa được làm tổ phụ một dân riêng đông như sao trên trời, nhiều như cát dưới biển. Mây mù đã cuốn đi tương lai một dòng dõi được chúc phúc. Đêm đen đang thử thách hiện tại của ông và ông đau đớn trói ghì con lại, rồi đứt ruột vung dao sát tế con. Hiện tại của Ápraham thực sự kinh hoàng bởi thử thách khủng khiếp của Giavê Thiên Chúa. Hiện tại ấy gây hoang mang, mất ăn mất ngủ, nát tan cõi lòng. Hiện tại đáng sợ. Hiện tại của thứ sáu tuần thánh khi tất cả đều đổ vỡ, tiêu tan đối với các tông đồ: Thầy bị bắt, đóng đinh, anh em tứ tán mỗi người một phía vì sợ người Do Thái lùng bắt, cơ đồ nước Trời tan như mây khói, hy vọng được ngồi bên trái, bên phải vinh quang trong vương quốc chỉ còn là hoang đường, ảo tưởng. Đúng là hiện tại thê lương, buồn thảm. Đường Emmau cũng nặng nề một hiện tại bi thảm: Thầy đã chết ba ngày và chôn trong mồ, không còn tí ti hy vọng gì nữa. Mọi tia nắng hiện tại đều tắt ngúm để lại trong lòng người đau một nỗi khổ lo âu, hụt hẫng (Lc 24,21). Ngay cả Tôma mang tiếng là người cứng đầu, khó tin khi ông thẳng thừng tuyên bố: “Nếu tay tôi không được thọc vào vết thương cạnh sườn Thầy thì tôi không tin” (Ga 20,25) cũng chỉ là cách diễn tả nỗi ê chề thất vọng của ông trước hiện tại.

Như Ápraham, các tông đồ, hiện tại của mỗi người cũng không thiếu những cơn mây dày đặc, đan kín. Hiện tại với nỗi lo cơm áo, với thiếu thốn vật chất, với bấn loạn tinh thần. Hiện tại chất chồng niềm đau, nỗi buồn, hiện tại không lối thoát, hiện tại buồn tênh, hiu quạnh…

Nếu hiện tại kéo mây nặng nề, thì tương lai hứa hẹn giông bão. Nếu hiện tại thử thách thì tương lai đe dọa. Cả hiện tại, tương lai đều là thời gian và cả hai đều làm con người sợ hãi. Khi ngước mặt cầu xin Chúa Cha trong vườn cây Dầu trước khi bị bắt: “Lạy Cha, nếu có thể xin cất chén đắng này cho con”, Đức Kitô đã toát mồ hôi máu trước tương lai mịt mùng đe doạ. Thời gian đã làm Ngài sợ. Tương lai đang làm Ngài rùng mình, ngao ngán. Cũng như hai môn đệ, con của ông bà Giêbêđê lo mánh mung để được ngồi bên trái, bên phải khi nghe Đức Kitô hỏi lại: “Nhưng liệu chúng con có uống nổi chén đắng Thầy sắp uống không?” (Mt 20,22) đã khựng lại. Hai ông khựng lại vì chợt ý thức tương lai là một đe doạ.

Trước tương lai, không ai nắm chắc mình sẽ ra sao, ngày mai của mình thế nào… Vì là một ẩn số, nên tương lai làm con người sợ và cẩn thận dò dẫm, không dám vội vã bước vào, không dám liều mình gieo bước. Tương lai như cánh rừng rậm, nguy hiểm, như người vượt biển trước đại dương mênh mông, không bờ bến. Tương lai im lặng, tương lai hững hờ, tương lai đen tối hay tương lai mời gọi, tương lai rực rỡ, tương lai hứa hẹn. Tất cả đều là tương lai với nhiều ẩn số và con người vẫn thấp thỏm, lo lắng vì tương lai.

Tuy hiện tại khổ đau vì thử thách, tương lai nhức nhối vì đe doạ, nhưng vẫn chưa bằng quá khứ dằn vặt, nghiền nát vì tiếc nuối, lỡ làng. Người ta đau khổ nhiều vì sống nhiều với quá khứ hơn sống với hiện tại. Chính quá khứ làm con người già đi vì quá khứ không chỉ lấy đi quỹ thời gian cuộc đời, nhưng còn mãi mãi dai dẳng làm quay quắt tâm hồn vì những gì đã không làm hay không làm được trong quá khứ. Quá khứ đã không chỉ là quá khứ như quãng thời gian đã trôi qua, nhưng quá khứ còn lẩn quẩn ở hiện tại để đục khoét trái tim tiếc nuối, cày xới tâm hồn lưu luyến một thời. Khổ đau của con người đến từ quá khứ nhiều hơn hiện tại, tương lai và phần lớn những căn bệnh tinh thần đều do việc làm của quá khứ và thái độ quá gắn bó với những gì đã qua.

Đã có bao nhiêu thời gian trong hiện tại, ta ngồi một mình sầu buồn tiếc nuối quá khứ: tiếc đã không học làm bác sĩ, tiếc đã không lấy người ấy, tiếc đã không nghe lời cha mẹ chăm chỉ học, tiếc đã nghe lời bạn bỏ nhà đi hoang, tiếc đã đầu tư cho việc này, tiếc đã không chớp cơ hội tiến thân kia, tiếc đã không đủ khôn ngoan, tiếc đã háo danh, liều lĩnh, tiếc đã không trung thành, tiếc vì quá ngây thơ. Tiếc nuối một việc đã qua, tiếc xót những chuyện không còn có thể làm lại được, ta tự dằn vặt mình, trách móc mình, nguyền rủa mình, lên án mình, hành hạ mình và nguy hiểm nhất là không còn trân trọng, tin vào mình. Không thương mình và tin mình, ta sẽ không thương và dám tin tưởng ai, nói chi đến Chúa là Đấng ta không nhìn thấy được. Cái mình trở nên đáng ghét, đáng khinh vì mình bất lực, bất tài đã để quá khứ trở thành một chuỗi tiếc nuối, lỡ làng. Quá khứ trong đầu hiện tại đặc kín những lỡ làng đắng cay, lỡ làng chua chát, lỡ làng xót xa, lỡ làng thê thảm đến độ ta nhìn quá khứ đời mình chỉ còn là dòng chảy thất bại, những trang giấy lem luốc, những giòng chữ ghiêng ngả, xiêu vẹo mà trên đó ta đã gạch chéo một đường với hai chữ “đời bỏ”. Cái khốn khổ quậy nát tinh thần là cái “đời ta bỏ” lại không chịu bỏ ta. Nó cứ đeo đuổi, trêu ghẹo, nhắc nhớ. Nó cứ loanh quanh, lẩn quẩn, khiêu khích, quấy động. Quá khứ không buông tha tâm hồn hiện tại. Quá khứ không cho trái tim hiện tại ngơi nghỉ. Quá khứ càng không trấn an, trợ lực bước chân hiện tại. Nhưng quá khứ đã như oan hồn không siêu thoát cứ quay về đêm ngày đòi nợ, khóc lóc, ăn vạ.

Mùa Chay trở về với bước chân trở về của quá khứ, Đức Kitô nhắn gửi lòng ta một tâm sự: “Hãy nhìn lên Thầy thay vì nhìn quá khứ lỡ làng, thất bại, thiếu sót, tội lụy của con”. Như người trộm lành bị đóng đinh cùng Ngài trên núi Sọ, gần giờ chết khi tội lỗi của quá khứ đổ về, thay vì nhìn vào quá khứ với đủ thứ tiếc nuối và ngập tràn tội lỗi, anh đã ngước nhìn Đức Kitô - Thiên Chúa cũng đang chịu đóng đinh như anh và chân thành khẩn khoản: “Lạy Ngài, xin nhớ đến tôi trong nước Ngài”. Ánh mắt anh ngấn lệ hy vọng khi bắt gặp ánh mắt đầy xót thương của Đức Kitô và niềm hy vọng ấy đã thành hiện thực: “Ngay hôm nay, anh sẽ được ở cùng Ta trên trời” (Lc 23,42-43). Nhìn lên Chúa trong những quay quắt về quá khứ lỡ làng, không như ý là ký thác quá khứ bất toàn, bất trung, bất lực trong Tình yêu toàn năng, toàn thiện của Thiên Chúa. Nhìn lên Chúa trong cơn tiếc nuối tháng ngày qua hoang đàng là để Chúa biến đổi quá khứ nhơ nhớp thành nước mắt trong sạch đang thành tâm chiêm ngắm Tình Yêu thương xót. Nhìn lên Chúa trong nỗi buồn phí phạm cuộc đời dài đã qua là lời cầu thánh thiện nài xin ơn tha thứ. Bắt chước người trộm lành, dù đã hoang phí cả cuộc đời, dù trơ trẽn với quá khứ tội đồ, dù bị án tử vì thành tích bất hảo vẫn cứ dán mắt cậy trông vào Đức Kitô chịu đóng đinh với niềm hy vọng được thứ tha. Anh đã không thất vọng vì đã ngước mắt nhìn Đấng là niềm Hy Vọng. Anh đã không bị bỏ rơi, hắt hủi vì đã ngước mắt trông lên Đấng là nguồn ủi an, cứu chữa. Anh đã không bỏ mất cuộc đời nhưng được sống đời đời vì đã ngước mắt chiêm ngắm Đấng là Sự Sống. Anh đã không thất bại dù quá khứ chỉ toàn thất bại vì đã ngước mắt tin tưởng Đấng đã chiến thắng tội lỗi. Anh đã không mất gì của cuộc đời, dù đời anh chẳng còn gì để mất vì đã ngước mắt nài xin Đấng là nguồn ơn Cứu Độ. Như người trộm lành, ta có vòng tay bao dung của Chúa ôm trọn quá khứ cuộc đời khi biết nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh.

Mùa Chay đến với những bước chân đang đi trong hiện tại. Đức Kitô rảo bước đồng hành và nhắn gửi mỗi người một tâm sự: “Con đừng nhìn vào con và đừng nhìn xuống chân con, nhưng hãy nhìn vào mắt Thầy và bước đi, đừng sợ”.

Tin Mừng Mátthêu kể lại: “Các môn đệ chèo thuyền qua bờ bên kia. Khi thuyền đã ra giữa biển thì sóng gió nổi lên dữ dội làm thuyền chao đảo, sóng sánh nước. Đến khoảng canh tư, Đức Kitô đi trên mặt biển đến cùng các ông. Thấy Ngài đi trên mặt biển, họ sợ hãi la lên: “Ma kìa…” Nhưng Đức Kitô trấn an và bảo họ: “Thầy đây, đừng sợ”. Phêrô lên tiếng: “Thưa Thầy, nếu thật là Thầy, xin cho con đi trên biển mà đến với Thầy”. Đức Kitô bảo: “Lại đây”. Ông Phêrô liền bỏ thuyền đi trên nước mà đến với Chúa. Song thấy gió thổi mạnh, ông sợ hãi quá và thấy mình chìm xuống, liền hốt hoảng kêu lên: “Thầy ơi, cứu con với!” Đức Kitô liền đưa tay nắm lấy ông (Mt 14,22-30).

Phêrô đã nghe lời Chúa và bước trên nước. Khi nhìn vào Chúa và nghe lời Ngài, ông đã bước đi bình an dù sóng biển đang hồi dữ dội; nhưng khi không nhìn Chúa nữa, mà quay ra nhìn gió thổi, ông đã hoảng sợ và chìm nghỉm trong nước. Nhìn Chúa thì bình an bước đi, nhìn gió thì hốt hoảng chìm xuống. Hai cái nhìn, hai đối tượng khác nhau: một bên là Chúa, một bên là gió biển. Hai ánh mắt gắn vào hai thực tại khác nhau: một bên là Đấng chủ tạo, một bên là vật thụ tạo. Hai cái nhìn, hai đối tượng đem đến hai kết quả hoàn toàn trái ngược: bình an và hốt hoảng, bước đi và chìm xuống. Phêrô chỉ lơ đãng không nhìn Chúa một giây là lập tức có chuyện chẳng lành. Phêrô chỉ sơ sẩy ra khỏi tầm nhìn của Chúa một tích tắc là chìm nghỉm. Nhìn Chúa con đường sẽ bình an, bước chân sẽ vững chãi. Nhìn Chúa tâm hồn sẽ thư thái, hiện tại sẽ tưng bừng. Phêrô đã nhìn Chúa để không bị chìm nghỉm trên biển cũng như đã nhìn Chúa để nhận được lòng xót thương, tha thứ sau khi ông chối Chúa. Ánh mắt của Đức Kitô - Thiên Chúa có sức đánh động tâm hồn, truyền ban sinh lực, ban ơn cứu rỗi. Nhìn lên Chúa là nhìn thấy và nhận được tình yêu thương xót. Nhìn lên Chúa là tìm gặp nguồn ủi an, hạnh phúc khi hành trình hiện tại vất vả vì nắng hạn, gió mưa, bão táp. Đức Kitô đã âu yếm nhìn nhiều người và bất cứ ai nhìn lên Ngài đều nhận được từ Ngài niềm vui cứu độ.

Cuộc sống lệ thuộc thời gian và thời gian là của Chúa, nên quá khứ có lỡ làng, nhiều lầm lỗi, thay vì nhìn lại, ta hãy nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh để xin Ngài lấy máu rửa sạch; nếu hiện tại buồn, nhiều thử thách, thay vì nhìn vào, ta hãy nhìn lên Đức Kitô trên thánh giá để xin đôi tay Ngài đang giang rộng ôm trọn tháng ngày hôm nay; nếu tương lai bấp bênh, nhiều đe dọa, thay vì nhìn ngó, ta hãy nhìn lên Đức Kitô chết treo trên núi Sọ để xin tình Ngài trải kín bước chân ngày mai. Nhìn lên Chúa trong mọi thử thách, đe doạ; nhìn lên Chúa mọi lúc vui buồn, sướng khổ; nhìn lên Chúa trong mọi cảnh huống, tình trạng, tâm tư là bước đi trong an bình, hy vọng, dưới bóng mát của Tình yêu xót thương, bên Chúa là gia nghiệp, hạnh phúc đời đời.



Ước gì Mùa Chay cho ta những giờ thinh lặng nhìn lên Chúa để tâm hồn và cuộc đời ta được đôi mắt thánh, nhân từ, bao dung yêu thương, biến đổi như dân Do Thái ngày xưa trong sa mạc đã ngước nhìn lên Rắn đồng, hình ảnh của Đức Kitô chịu đóng đinh để được cứu chữa (Ds 21,9).

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019

Mùa Chay - Mùa Đáp Trả


Lịch sử ơn cứu độ là lịch sử những mời gọi và đáp trả: Thiên Chúa lên tiếng mời gọi và con người cất lời đáp trả. Khởi từ Ápraham, Môsê, Samuen, Đức Maria, Phaolô, cho đến hàng tỉ tín hữu, chứng nhân của hôm nay và mãi mãi đến tận thế, Thiên Chúa luôn kêu gọi và chờ ở mỗi người lời đáp trả “Xin Vâng”, “Lạy Chúa, này con đây”.

Tiếng gọi của Thiên Chúa trước hết luôn mang tính cá nhân, có nghĩa là gọi “từng người” và Ngài thường gọi đích danh người đó: “Ápraham, mang con trai đi tế lễ Ta” (St 22,1-2), “Môsê, hãy đi cứu dân Ta”, “Samuen, Samuen...”, “Saolê, tại sao ngươi bách hại Ta?” Tiếng gọi nằm trong một quan hệ được xác định rõ ràng, không chung chung, mơ hồ và người được gọi nhận ra ngay tiếng gọi đó dành cho riêng mình.

Ngài cũng gọi trong chính hoàn cảnh hiện tại của người đó. Gọi Ápraham, Môsê khi họ đang chăn cừu trên sườn đồi, gọi Samuen khi cậu đang ngủ trong đền thờ, gọi các tông đồ khi họ đang vá lưới bên bờ biển, gọi Đức Maria khi người là một thiếu nữ đang lo việc nhà, gọi Saolê - Phaolô khi ông đang trên đường lùng bắt các tín hữu. Hoàn cảnh hiện tại của mỗi người là nơi tiếng gọi được gửi đến dễ dàng nhất. Thiên Chúa không tách con người ra khỏi cảnh sống thường ngày của họ khi đến gọi họ; trái lại Ngài trân trọng tình trạng hiện tại và bối cảnh sống hàng ngày của người Ngài muốn gọi. Nếu là công chức sở thuế, Ngài sẽ đến tận văn phòng thu thuế để gọi như đã gọi Mátthêu; nếu là người thông thái, hiền triết, Ngài sẽ dùng chữ nghĩa, suy tư để gọi như trường hợp của thánh Augustinô.


Tất nhiên gọi ai, Thiên Chúa muốn trao cho người ấy một sứ mạng chính xác: Ápraham được gọi để làm tổ phụ dân riêng, Môsê được gọi để đi giải phóng và cứu dân ra khỏi đất nô lệ Ai cập, Maria được gọi để làm Mẹ Đức Giêsu, Saolê được gọi làm tông đồ dân ngoại... Nhưng sứ mạng được trao thường không được tiết lộ nếu người được gọi chưa hết tình, hết mình đáp trả. Tiếng gọi chờ đợi lời đáp trả chân thành, quả cảm và dứt khoát. Thiếu lời “Xin Vâng” của Đức Maria, chương trình nhập thể của Đức Giêsu sẽ không được thiên thần Gabriel tiết lộ; thiếu “Lạy Chúa, này con đây” của Ápraham, Môsê, Samuen... công cuộc cứu độ cũng không thể thành tựu. Bởi dựng nên con người, Thiên Chúa đã không hỏi ý kiến, nhưng cứu chuộc con người, Thiên Chúa cần sự cộng tác tích cực của con người. Vì thế mà tiếng gọi cần một đáp trả, cần một chia sẻ, cộng tác, cần một liên đới thiết thân và thông cảm sâu sắc. Khi đáp trả, người được gọi đã xác tín một cách vô điều kiện, đã quyết định liều lĩnh dấn thân theo Tiếng Gọi mặc dù chưa biết được gọi làm gì, gọi đi đâu... Ở họ, chỉ một điều cần thiết là ai đang gọi họ và nếu người lên tiếng gọi là Thiên Chúa thì họ sẵn sàng “bỏ mọi sự mà theo Ngài”, không cần biết chuyện gì sẽ xảy ra. Thái độ và tâm tình chung của tất cả những người được gọi đều là tin yêu, phó thác. Họ yêu nên tin, tin nên phó thác tất cả, không tính toán, do dự, chần chừ, nghi ngại. Thiên Chúa là Đấng họ tin yêu, cũng là Đấng họ đáp trả và đi theo.


Như thế, tiếng gọi là lời mời đi vào mầu nhiệm Đức Tin. Nói đến mầu nhiệm là nói đến “những gì không biết hết, không hiểu nổi, không thấy rõ”. Người được gọi, khi đáp trả, đã lao mình vào cuộc phiêu lưu của Đức tin: Ápraham có thấy gì đâu trước lời hứa sẽ được là tổ phụ một dân đông như sao trên trời, nhiều như cát dưới biển, trong khi đã trăm tuổi, còn vợ suýt soát chín mươi. Ông sẽ còn mù loà, tối tăm hơn nữa trước đề nghị của Thiên Chúa: “Ápraham, đem con trai duy nhất là Isaác sát tế, dâng ta”. Khiếp sợ và hãi hùng quá và Ápraham đã hoàn toàn không hiểu gì khi dắt con trai lên núi, trói lại và vung dao toan sát tế con làm của lễ dâng Thiên Chúa như ý Ngài. Môsê cũng đâu hiểu nhiều và gần như mù tịt trước sứ mạng được trao của mình: ông biết mình vừa ăn nói khó khăn, ngọng nghịu, vừa vô danh tiểu tốt làm sao dám đơn thân đối đầu Pharaon, vua Ai cập. Đức Maria càng không hiểu gì sứ mạng làm mẹ Thiên Chúa khi giữ mình đồng trinh...

Tất cả đều ẩn khuất sau đám sương mù Đức Tin dầy đặc: không chương trình cụ thể, rõ rệt; không khế ước, giao kèo chính xác từng điểm, từng mức độ; không hạch toán chi li, kỹ lưỡng... nhưng tất cả chỉ là phiêu lưu, cuộc phiêu lưu Đức Tin dựa trên uy tín của Đấng mời gọi dấn thân, nhập cuộc. Và cuộc phiêu lưu này hứa hẹn nhiều chông gai, thử thách.

Đáp trả với một niềm tin không điều kiện, người được gọi sau khi thân thưa “Xin Vâng”, “Lạy Chúa, này con đây” đã đứng dậy, lên đường theo Tiếng gọi để từ nay chính Đấng kêu gọi sẽ trực tiếp hướng dẫn từng bước, từng việc, từng nơi, từng thời điểm. Lòng tin dẫn đến niềm trông cậy phó thác tuyệt đối, không chỉ phó thác tương lai không thấy gì, mà còn ký thác cả hiện tại đầy trắc trở, vô thường. Quả thực, đứng trước nỗi lo sợ tương lai và bấp bênh của hiện tại, người được gọi đã dựa hẳn đời mình vào Thiên Chúa và chỉ biết nhắm mắt đi theo Tiếng Gọi. Người lên tiếng đáp trả từ nay phải chấp nhận nhiều thử thách, hy sinh cho niềm tin của mình ngày càng lớn mạnh, cho tinh thần phó thác của mình ngày càng dạn dĩ. Họ sẽ học bài học “liều”, vì đáp trả Tiếng Gọi là gieo mình vào đại dương của liều lĩnh. Ápraham đã phải liều giết con trai duy nhất, dù chỉ có một thằng bé để nối dòng; Môsê đã phải liều mất mạng trước tâm địa độc ác và sức mạnh bách chiến bách thắng của quân đội Ai Cập; Đức Maria đã liều mất cả cuộc đời và để lưỡi đòng suốt đời đâm thấu trái tim; các tông đồ đã liều mất hết vợ con, thuyền lưới, nhà cửa, sự nghiệp và chính mạng sống; các tín hữu theo Đức Kitô vẫn tiếp nối nhau liều mất tất cả vì đáp trả Tiếng Gọi. Liều lĩnh đáp trả là nhắm mắt theo Tiếng Gọi và sống chết với Tiếng Gọi ấy, dù không nắm vững chương trình, kế hoạch, đường lối của Đấng lên tiếng gọi.

Nhưng nếu đáp trả Tiếng Gọi để rồi chẳng biết gì, chẳng đi về đâu và nhất là chẳng biến đổi gì thì quả là người đáp trả Tiếng Gọi đã liều tận mạng, liều hết chỗ nói, liều có bằng cấp. Đúng vậy, nếu không là người trong cuộc, không là người được diện kiến, được nghe trực tiếp Đấng kêu gọi và không cảm được tận sâu thẳm lòng mình tình yêu, sức cuốn hút, hấp dẫn của Đấng kêu gọi thì khó có thể hiểu được tại sao người ta đã dám liều khi đáp trả. Nếu không gắn bó thiết tha, tình nghĩa với Đấng kêu gọi thì chẳng có ý nghĩa gì những lời đáp trả. Nếu thiếu quan hệ thân mật, khăng khít giữa Thiên Chúa là tiếng gọi và con người được gọi thì đáp trả chỉ là một công thức xã giao hời hợt. Như thế, khi gọi ai, Thiên Chúa đã yêu người ấy rất nhiều và đã đầu tư, chuẩn bị kỹ càng người ấy cho tình yêu kết hợp giữa Ngài và người ấy. Với Thiên Chúa, gọi ai là gắn bó, yêu thương suốt đời; gọi ai là ở với, ở trong, ở mãi với người ấy; nên ơn gọi là ơn được yêu thương, cưng chiều và đáp trả là đáp trả tình yêu bằng chính tình yêu. Hai nhân vị từ nay trở nên một trong tình yêu đòi hợp nhất, hai nhân vị từ nay muốn được hòa quyện trong nhau, tan biến trong nhau. Tiếng gọi và tiếng thân thưa đáp trả bây giờ chỉ còn là một tiếng: tiếng lòng của tình yêu. Và khi yêu nhau, Thiên Chúa cũng như con người đều ước mong nên một và nên giống nhau.


Muốn người được gọi trở nên giống mình, đó là điều Thiên Chúa nhắm trước tiên, trước cả sứ mạng sẽ trao cho người ấy, vì con người chỉ có thể chu toàn sứ mạng của Thiên Chúa trao, khi họ chấp nhận được biến đổi, biến hình để trở nên giống như Ngài. Giống Thiên Chúa trở thành mục tiêu của tiếng gọi và đáp trả chính là thái độ chấp nhận để Thiên Chúa biến đổi. Hầu hết chúng ta lầm tưởng: khi được kêu gọi làm việc cho Chúa, chúng ta chỉ cần hăng say làm công việc được trao là đẹp lòng Chúa và quá đủ rồi… Thực ra, điều Thiên Chúa mong muốn trước hết nơi ta, những người được gọi, chính là ngoan ngoãn để Thiên Chúa biến đổi mỗi ngày. Không chấp nhận được biến đổi, ta không thể nào thực hiện đến nơi đến chốn sứ mạng được trao, hoặc sẽ bỏ dở, hoặc sẽ làm hư, phản tác dụng. Không thiếu những người được gọi, vì lơ là với bổn phận “để Chúa biến đổi” thay vì làm sáng danh Chúa đã làm danh Chúa tối hơn và biến mất; thay vì phục vụ Thiên Chúa đã lợi dụng danh Chúa để được phục vụ; thay vì loan báo Tin Mừng đã gieo rắc tin buồn độc hại; thay vì dẫn dắt người đã làm trệch đường, sai hướng, đưa người khác xuống vực thẳm; thay vì xây dựng hoà bình đã gây hận thù, chiến tranh; thay vì yêu thương đã gây tàn ác; thay vì chữa lành đã làm tổn thương; thay vì săn sóc, chăm nom đã dập vùi, hắt hủi. Họ là những người được gọi và đã đáp trả tiếng gọi, nhưng rất tiếc, họ đã quên tiếng gọi ấy không chỉ là gọi họ cho một sứ mạng ngoại tại, mà còn gọi họ đi vào tình yêu với Đấng kêu gọi và phải được biến đổi ngày càng nên giống hơn Đấng đã kêu gọi họ. Không ý thức sự biến đổi chính mình để nên giống Đấng gọi mình là nguy cơ hàng đầu của những người tự nhận mình được Chúa gọi. Không gắn bó trong tình yêu là Chúa và để tình yêu ấy biến đổi, những người mang ơn gọi sẽ chỉ là những công chức lạnh lùng, không đồng cảm đồng tình với đám dân họ được sai đến, không giới thiệu đúng Đấng đã gọi và sai họ đi, vì sứ mạng của tất cả mọi người được gọi bởi Thiên Chúa đều quy về một điểm duy nhất là làm cho “danh Chúa được sáng, nước Chúa hiển trị, ý Chúa được thực hiện”; nên một khi không giống Chúa, không thiết thân, gần gũi Chúa, người được gọi ngay cả đã nhanh nhẩu đáp trả tiếng gọi cũng sẽ chỉ giới thiệu một Thiên Chúa kỳ lạ, xa lạ, một Thiên Chúa mang hình ảnh họ hơn là họ mang hình ảnh Thiên Chúa, nói đúng hơn, họ chỉ đủ khả năng và tâm huyết để quảng cáo, giới thiệu chính họ, như một thiên chúa quái lạ.

Được biến đổi trong Thiên Chúa khi đáp trả lời mời gọi của Ngài là công việc đầu tiên phải làm, là ưu tiên một trước cả việc thực hiện sứ mạng. Ápraham, Môsê, Đức Maria, Phaolô.., tất cả đều đã ý thức điều này và đã để hết tâm trí, cuộc đời cho sự gặp gỡ Thiên Chúa và mong được biến đổi nên giống Ngài. Sứ mạng được trao phó sẽ thành tựu mỹ mãn hay thất bại ê chề hệ tại ở tình nghĩa thiết thân với Thiên Chúa và mức độ giống Ngài của ta, vì “có ở trong Ngài, ta mới sinh nhiều hoa trái”.

Tin Mừng chúa nhật thứ hai Mùa Chay nhấn mạnh sự cần thiết được biến đổi trong Chúa khi kể chuyện Đức Kitô dắt theo ba môn đệ Phêrô, Giacôbê, Gioan lên núi và và đó Ngài biến hình sáng láng trước mặt các ông (Mc 9,2-10). Ngài biến hình để nhắc nhở bổn phận đầu tiên sau khi đáp trả lời mời gọi của Ngài là được biến đổi trong Ngài. Môsê lên núi cầu nguyện, gặp gỡ Thiên Chúa và đã được Thiên Chúa biến đổi, nên khi xuống núi, dân chúng không còn dám nhìn ông, vì mặt ông sáng và uy nghi quá… Ông đã được Thiên Chúa biến đổi vì ở với Ngài. Người đáp trả tiếng gọi của Đức Kitô cũng được biến đổi nên giống Đức Kitô và một khi được giống Ngài, người ấy sẽ không còn tìm kiếm hạnh phúc nào khác, vì giống Ngài là hạnh phúc tuyệt vời của người đi theo Ngài. Theo Ngài, đáp trả lời mời gọi cũng là đi lên núi biến hình sáng láng, vinh quang. Tuy không nói ra, nhưng người đáp trả tiếng gọi sẽ được ở với Ngài trong vinh quang, hạnh phúc ngày phục sinh. Bởi ai yêu mến và đáp trả lời Ngài thì ở với Ngài và Ngài ở với họ mãi mãi. Ở với Thiên Chúa trong thử thách của những ngày tử nạn, tất nhiên cũng sẽ ở với Ngài trong ngày sống lại vinh quang, ngày lên trời vinh hiển. Có đáp trả trong hiện tại của Đức Tin mới có đáp trả vinh phúc ngày về trời, như thánh Phaolô đã quả quyết: “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ cùng Ngài phục sinh; nếu ta chịu khổ với Ngài, ta sẽ cùng Ngài thống trị”.


Đáp trả tiếng gọi của Đức Kitô trong Mùa Chay là xác tín một lần nữa nhu cầu để Đức Kitô biến đổi cuộc đời, đổi mới tâm hồn, cải thiện đời sống. Sứ mạng trước mọi sứ mạng khi đáp trả lời kêu gọi của Đức Kitô chính là sứ mạng sống với Ngài và xin được biến đổi nên giống Ngài mỗi ngày hơn.