Tìm kiếm Blog này

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

Suy Niệm TUẦN THÁNH với Đức Mẹ

    THINH LẶNG CỦA ĐỨC MARIA, MẸ ĐỨC GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH
Trong suốt trình thuật Thương Khó, Tin Mừng Gioan chỉ kể lại duy nhất một lần về Đức Maria: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria, vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Máđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà’. Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh’. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27).
Tuy không thường xuyên nhắc sự hiện diện của thân mẫu Đức Giêsu trên đường Thương Khó và Tử Nạn của con mình, nhưng mọi người đều hiểu Đức Maria không rời Con mình một bước, không xa con mình một giây, nhất là khi Con bị trói, bị đánh đập, đội mão gai, bị chế diễu, xỉ nhục, bị đám đông đả đảo, tố cáo, bị kết án tử hình, và tự mình vác thập giá đến nơi hành hình đóng đinh.
Không rời xa Con, nhưng “thinh lặng, đứng đó”, thinh lặng có mặt để chết với Con trong giây phút Con rướn mình kêu cầu Chúa Cha và tức tưởi chết trên Thánh Giá.
Thực không còn nỗi đau nào hơn nỗi đau của Mẹ phải đứng nhìn con chết treo, trần truồng như phạm nhân trọng tội; không còn nỗi khổ nào lớn hơn nỗi khổ của Mẹ  phải nghẹn ngào nuốt vào tim tiếng nấc tàn hơi, cạn sức của Con giờ hấp hối; không còn tang thương nào đắng đót hơn cho lòng Mẹ trước thân xác con rũ liệt đầm đià máu và nước từ thương tích của đinh nhọn, lưỡi đòng; không còn nước mắt nào mặn hơn, xót hơn nước mắt của Mẹ khi ôm chặt xác con vừa được tháo xuống từ thập tự.
Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu chịu đóng đinh đã có mặt trong mọi tình huống của Con mình với thinh lặng của trái tim cầu nguyện.
Mẹ đã thinh lặng ngay từ buổi Truyền Tin với tâm tình cầu nguyện của nữ tỳ Thiên Chúa: Xin vâng như lời sứ thần truyền (x. Lc 1,26-34); thinh lặng khi bào thai Giêsu do quyền phép Chúa Thánh Thần từng ngày lớn lên mà chồng mình là Giuse chưa được biết (x. Mt 1,18-25); thinh lặng khi “chết lặng” trước lời tiên tri của cụ già Simêon: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35); thinh lặng khi con lạc mất ba ngày ở Giêrusalem, đến khi tìm lại được thì Con lại hỏi: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của cha con sao?” (Lc 2, 49); thinh lặng khi đồng hương Nadarét phẫn nộ tìm cách xô Con mình xuống vực, khi Con về thăm quê (x. Lc 4,28-30); thinh lặng khi đến gặp Con, “mà không làm sao lại gần được, vì dân chúng qúa đông” (Lc 8,19); thinh lặng khi thiên hạ thán phục, ngưỡng mộ Con, mà ca tụng Mẹ: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú” (Lc 11,27); thinh lặng khi Con nghe lời xin của Mẹ mà làm phép lạ cho sáu chum nước biến thành rượu ngon trong tiệc cưới ở Cana, vì nhà đám hết rượu giữa tiệc (x. Ga 2,1-11); thinh lặng dưới chân Thánh Giá, thinh lặng an táng Con, thinh lặng cả sau khi Con sống lại vinh hiển, và khi Mẹ hiện diện giữa Nhóm Mười Hai sau khi Con về trời (x. Cv 1,12-14).
Thực vậy, cuộc đời của Đức Maria, thân mẫu Đức Giêsu chịu đóng đinh là cuộc đời thinh lặng, nhưng không là thinh lặng của trí khôn rỗng tuếch, hời hợt, thinh lặng của tâm hồn vô cảm, lười biếng, thinh lặng của lối sống khép kín, ích kỷ. Trái lại, thinh lặng của Mẹ là thinh lặng của tâm hồn biết lắng nghe tiếng Chúa và “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51), thinh lặng của trái tim trung tín và kiên cường dám đón nhận thánh ý Thiên Chúa, dù “không hiểu lời Người vừa nói” (Lc 2,50), thinh lặng của cõi lòng khiêm nhu, hiền lành chỉ biết một dạ tri ân Đấng Toàn Năng đã đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn, và thương xót thực hiện bao điều cao cả (x. Lc 1,48-50); thinh lặng của người tôi trung tận tụy phục vụ đến hy sinh quên mình.
Tóm lại, thinh lặng của Đức Maria là thinh lặng của cầu nguyện, vì tâm hồn cầu nguyện không ồn ào, huyên náo; trái tim cầu nguyện không huênh hoang, nhiều lời; tâm tình cầu nguyện không kiêu căng, tự đắc; thái độ cầu nguyện không biểu diễn, phô trương.
Thinh lặng nơi Mẹ còn là gắn bó hiệp thông với Con là Của Lễ cứu chuộc nhân loại trên Thánh Giá; là tình yêu hiệp nhất nên một trong Hy Lễ duy nhất và tuyệt đối là Đức Giêsu dâng Chúa Cha; là lễ dâng của toàn thể nhân loại được hoà tan như giọt nước trong Máu sinh ơn cứu độ của Thiên Chúa làm người.
Tuần Thánh thương đau có Mẹ, Tuần Thánh lặng lẽ với Mẹ, Tuần Thánh thinh lặng cầu nguyện bên gối Mẹ cũng là đường dài Thánh Giá, cuộc Thương Khó liên lỷ của đời chúng con có Mẹ cùng đi, là lời cầu bé nhỏ, bất xứng của chúng con có thinh lặng bình an của Tình Mẹ.
 Jorathe Nắng Tím  

A WRONGFUL CONVICTION

A WRONGFUL CONVICTION :
GEORGE CARDINAL PELL  - An Innocent Man
                                                  Author : Jorathe Nắng Tím
                                           Translator : A.Prisca

Cardinal George Pell has been freed from prison after Australia's High Court, a full bench of 07 judges, ruled unanimously in Cardinal Pell’s favor, found the jury had not properly considered all the evidence presented at the trial and overturned his conviction on five counts of historical child sex abuse in Brisbane at 10:02 April 7, 2020: He has consistently innocent ! Cardinal Pell, 78, was serving a six-year jail sentence after he was convicted in 2018 of abusing two choirboys in the priests’ sacristy after Mass in Melbourne’s St. Patrick’s Catheral in the 1990s  while he was Archbishop of Melbourne.
Pell was the most high-ranking figure in the Catholic Church to be jailed as part of a wave of court cases around the world against priests alleged to have committed serious sexual misconduct. The quashing of Cardinal Pell’s guilty verdict really brings the relief to the Vatican and the joy for the Universal Church, especially for Australia, where it seems that we cannot find the voice of justice for an innocent person in such a modern time.
Actually, the wrongful convictions are not the things that seldomly happen in the society because of different causes, but above all, they come from the limitations of human beings in terms of some limits of kindness, some limits of the purity of conscience, and and some lacks of the pure of heart, the benevolence and the generosity.
Like Cardinal George Pell, over 2000 years ago, Jesus was also in the list of poor victims who were sentenced to death despite of His innocence. The proof was that Governor Pontius Pilate, the only one who had the authority for the death sentence, in front of the Jews, the chief priests and the Pharisees shouting out loud “Let him be crucified!”, publicly said : “I find no guilt in him” (Jn 18,38). However, under the increasing pressure of the ones who tried to kill Jesus, Pilate once more went out and said to them, “Look, I am bringing him out to you, so that you may know that I find no guilt in him.” (Jn 19,4). Finally, being suppressed by the crowds when the chief priests and the guards saw Jesus, crying out, “Crucify him, crucify him!”, Pilate, though finding no guilt in Jesus, cowardly said to them, “Take him yourselves and crucify him.” (Jn 19,6) Likewise, for the past few years, although most of people have found out George Pell was not guilty and a lot of supporters had long argued that he was not guilty, the voice of justice has been too weak and low to overcome the pressure coming from the accusation of various social classes.     
The most cruel absurdity of the two situations of Jesus and Pell is in that people try to accuse them of what they never have any intention to do. When Jesus taught them to do : Repay to Caesar what belongs to Caesar and to God what belongs to God., he was accused of misleading [his] people; [opposing] the payment of taxes to Caesar and maintaining that he is the Messiah, a king.” (Lk 23,2) In the same way, Cardinal Pell was accused of child sexual abuse when he has made stand against same-sex marriage.  Additionally, people apply the common merely stupid and amateurish strategy to judge and accuse innocent people. We can find in the situation of Jesus, when asked “What charge do you bring [against] this man?” (Jn 18,29), the crow answered “If he were not a criminal, we would not have handed him over to you.” (Jn 18, 30). It is not far from the way Cardinal Pell was accused of child molestation, right in the priests’ sacristy after Mass around the crowd going just nearby, with the only argument : the altar boy said that !
The Way of the Cross or The Passion in the modern society with a lot of violence to accuse innocent people, to judge righteous people, and to break the scale of justice has always welcomed the lowly, the poor, the kind, the merciful, the righteous as the disciples and followers of Jesus, who willingly embrace the final sentence as Jesus “Lamb of God, taking away the sins of the world”.
In unity with the joy of the Universal Church on this event, we offer God great thanks and continue our praying for the other similar disciples, who have been going through difficult and possibly unpleasant challenges just because No disciple is above his teacher, so if they persecuted me, they will also persecute you…. And they will do all these things to you on account of  my name, because they do not know the one who sent me.” (Jn 1,20-21)

KẾT ÁN NGƯỜI VÔ TỘI

                               Đức Hồng Y George Pell, người vô tội
Với tỷ số tuyệt đối 7/7, Tối Cao Pháp Viện Úc tại toà án Brisbane vào lúc 10 giờ 02 phút ngày 07.04.2020 đã quyết định và công bố: Đức Hồng Y George PELL hoàn toàn vô tội. Vào lúc án lệnh vô tội được chính thức công bố, Đức Hồng Y vẫn còn ở nhà tù Barwon gần Geelong, bang Victoria, và trong vài giờ tới, Ngài sẽ  rời nhà tù này, nơi Ngài đã bị giam giữ “vô tội”, sau cáo buộc được đưa ra vào tháng 12 năm 1996 tố cáo Ngài lạm dụng tình dục hai cậu bé giúp lễ trong sáu phút ngay tại phòng áo lễ mở toang cửa, sau thánh lễ Chúa Nhật đầu tiên tại nhà thờ chính toà của tổng giáo phận Melbourne, nơi Ngài là Tổng Giám Mục.
Dòng dã những tháng ngày thụ án, và ngồi tù, Đức Hồng Y George Pell đã là khuôn mặt lớn của Giáo Hội Công Giáo bị bôi nhọ và tổn thương nặng nề, vì vai trò và chỗ đứng quan trọng trong Giáo Hội. Biến cố “vô tội” của Ngài được công nhận và công bố hôm nay thực là niềm vui lớn cho Giáo Hội đã đành, nhưng chính yếu là niềm hãnh diện của nhân loại, đặc biệt nước Úc, tưởng đã không còn tìm được tiếng nói của công lý trong vụ án người vô tội ở thời đại văn minh này.
Thực ra, người công chính bị kết án bất chính, người vô tội bị chụp mũ tội đồ, người đơn sơ, hiền lành bị vu khống oan uổng, nhục nhằn oan sai là chuyện xưa như trái đất, bởi không chỉ vì lòng dạ con người có khi biến thành “lòng lang dạ thú”, mà mắt con người nhiều khi cũng mù loà không nhìn ra sự thật vì nhiều lý do khác nhau, nhưng tựu trung đều xuất xứ từ giới hạn của con người.
Vì lòng tốt bị giới hạn, nên chuyện chơi xấu nhau, đánh lén nhau được coi là bình thường; vì tình người bị giới hạn, nên oan trái, oan uổng là lương thực hằng ngày của người hiền lành, thấp cổ bé miệng; vì độ trong sáng của lương tâm bị giới hạn, nên số người bị hiểu lầm, hiểu sai, chịu thiệt thòi, bất công thì vô số kể; vì tâm hồn vị tha, bao dung, quảng đại bị giới hạn, nên bạo lực lộng hành, người có quyền, có tiền luôn thắng thế và người bé nhỏ, vô tội tiếp tục bị kết án oan sai.
Như Đức Hồng Y George Pell, cách đây hơn hai ngàn năm, Đức Giêsu cũng nằm trong danh sách những nạn nhân đáng thương bị kết án tử hình, mặc dù Ngài hoàn toàn vô tội. Bằng chứng là chính quan tổng trấn Philatô, ngưòi duy nhất có quyền kết án tử hình, trước các thượng tế, Pharisêu và đám đông người Do Thái phẫn nộ đang inh ỏi hò hét yêu cầu bản án tử hình Đức Giêsu: “Đóng đinh nó vào thập giá!” đã công khai tuyên bố: “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy” (Ga 18,38). Nhưng vì áp lực qúa dữ dội của những người quyết tâm giết Đức Giêsu, Philatô lại một lần nữa ra ngoài và nói với họ: “Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông này” (Ga 19,4). Chưa hết, Philatô lại nói với họ lần thứ ba, nhưng lần này thì Philatô hoàn toàn bị quần chúng áp đảo và ông đã hèn nhát nhương bộ họ khi chấp thuận cho họ mang Đức Giêsu đi đóng đinh vào thập giá, mặc dù lương tâm vẫn nói với ông : Ngài là người vô tội: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19,6).
Như thế, dù biết chắc Đức Giêsu vô tội, Philatô, vì hèn nhát, vẫn giao nộp Ngài cho thượng tế, kỳ mục, Pharisêu và đám đông a dua, mù quáng đem đi đóng đinh, như những tháng qua, hầu hết mọi người đều nhận thấy Đức Hồng Y George Pell vô tội, nhưng tiếng nói của công lý yếu qúa, hèn qúa, nhu nhược qúa, bị nhiều ràng buộc, áp lực đủ loại, đủ cỡ, đủ phía đã buộc tội  người vô tội, tuyên án tù cho người không hề làm điều xấu xa, gian ác.
Nhưng điều phi lý ghê tởm đã xẩy ra cho cả Đức Giêsu và Hồng Y Pell là người ta đã kết án điều ngược lại. Như Đức Giêsu không hề chống chính quyền Rôma, không một lời khích động dân chúng nổi loạn chống thuế má. Trái lại, Ngài còn đề nghị đồng bào Ngài một cách sống khôn ngoan, dưới ách bảo hộ của đế quốc Rôma, khi nói với họ: “Của Xêda thì trả cho Xêda, của Thiên Chúa thì trả cho Thiên Chúa”. Thế mà người ta lại buộc tội Ngài trước mặt Philatô, đại diện chính quyền Rôma: “Chúng tôi đã phát giác tên này sách động dân tộc chúng tôi, và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Xêda, lại còn xưng mình là Mêsia, là Vua nữa” (Lc 23, 2). Tương tự như người ta tố cáo Đức Hồng Y Pell đã lạm dụng tình dục trẻ em, tức ấu dâm, trong khi ngài là người quyết liệt chống đồng tính. Và thật trớ trêu, người ta đã gán cho ngài cái tội mà chính ngài lên án!
Bên cạnh điều phi lý đáng nôn mửa trên là chiến thuật “mù mờ, lơ mơ” luôn được dùng để tố cáo và lên án người vô tội. Vì không nắm được sai sót của Đức Giêsu, những người mang dã tâm triệt hạ Ngài đã vu vơ tố cáo: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18,30), khi Philatô hỏi họ: “Các người tố cáo ông này về tội gì?” (Ga 18,29). Thật không còn gì vô duyên, vô lý hơn với câu trả lời hoàn toàn không ăn khớp với câu hỏi, vì chỉ là một tố cáo hồ đồ, vu vơ, lơ mơ, mù mờ. Chiến thuật này cũng không khác chiến thuật người ta dùng để tố cáo Đức Hồng Y phạm tội ấu dâm ngay trong phòng áo lễ, sau thánh lễ chúa nhật đông người, với luận cứ: cậu bé giúp lễ nói vậy. Thật trơ trẽn những người cầm cán cân công lý của một xứ sở văn minh, ở đó công lý và nhân quyền được tôn trọng vào bậc nhất trên thế giới!
Đường Thương Khó với bạo lực buộc tội người công chính, kết án người vô tội, bẻ gẫy cán cân công lý vẫn mãi mãi còn đó và tiếp tục đón những bước chân người môn đệ.
Từ bao đời, và ở mọi nơi, trên con đường này, không biết bao nhiêu người “hiền lành, tốt bụng, chất phác, đơn sơ, bé nhỏ” đã bị hàm oan, tù tội, mất mạng… Họ là những người đi theo Đức Giêsu và chịu chung số phận “Chiên vô tội, gánh tội trần gian” của Ngài.
Trong vui mừng chung của Giáo Hội khi Đức Hồng Y George Pell được Tối Cao Pháp Viện Úc trả lại công lý qua phán quyết vô tội, chúng ta hiệp ý tạ ơn Chúa và tiếp tục cầu nguyện cho các môn đệ của Đức Giêsu đang gặp khó khăn, thử thách như Đức Hồng Y, chỉ vì “môn đệ không hơn Thầy”, nên “nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em… Họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” (Ga 15,20-21).
Jorathe Nắng Tím  

Covid-19: “VẪN LUÔN PHẢI LÀ NGƯỜI”

Nói chuyện “là người” với con người thì thật khó quan niệm, vì ai chẳng là người, nên mắc mớ gì phải nhắc chuyện “vẫn luôn phải là người”.
Ấy thế mà trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng “là người”, hoàn cảnh nào cũng sống xứng đáng là người, tình huống nào cũng cư xử như những con người đích danh, đúng nghiã, nhất là không luôn ý thức mình phải là người ở bất cứ đâu, thời nào, trong trạng thái, cảnh huống, kể cả thử thách, khủng hoảng nặng nề tưởng vượt sức người có hạn.
Nhìn vào hoạt cảnh thế giới, cũng như xã hội quanh ta trong những ngày đại dịch, người ta dễ nhận ra sự khác biệt giữa những người vẫn luôn là người, và những người không còn là người, dù cả hai ở chung một hoàn cảnh, đối diện chung một thách đố, chịu chung một số phận.
Trước đại dịch, có người vẫn “là người” khi chấp nhận thiệt thòi để chia sẻ cơm áo, vật dụng y tế để phòng chống dịch với người khác; có quốc gia vẫn quyết tâm “là người“ khi qủang đại san sẻ với các nước láng diềng, và quốc gia thiếu điều kiện những thiết bị y tế cần thiết để giúp ngăn chặn dịch bệnh; có những đoàn bác sĩ, y tá thiện nguyện trong hoàn cảnh rất ngặt nghèo, khó khăn cho chính họ cũng vẫn muốn “là người” khi bất chấp nguy hiểm của dịch bệnh lên đường đến những nơi  đang cần được cấp thời trợ giúp.
Họ là những người muốn phải “là người” trong bất cứ khủng hoảng nào, dù ảnh hưởng đến chính mạng sống của mình, để qủang đại chia sẻ tình đồng loại với mọi người đang lâm cảnh khốn khó. Họ là những trái tim không biết ngừng đập “nhịp nhân ái”, những bàn tay không biết khép lại trước bất hạnh của tha nhân, những bàn chân luôn hối hả lao vào nơi có nước mắt khổ đau của đồng bào, lăn xả vào chốn thiên tai, nhân tai đang hành hạ đồng loại, mà không ích kỷ ki bo, vun vén, gom góp, tích trữ cho riêng mình.
Bên cạnh những con người vẫn luôn muốn “phải là người” trong mọi hoàn cảnh, là những người không còn muốn là người, không vì ý nghĩ hạ thấp giá trị cũng như ý nghiã cao cả của con người, nhưng vì ích kỷ đã che phủ, bao trùm hết giá trị và ý nghiã nhân bản đó.
Bạn hãy nhìn ra chung quanh để quan sát những con người không muốn là người trong cơn khủng hoảng Covid-19: vì an toàn bản thân, thay vì cùng chung tay với mọi người đẩy lui dịch bệnh, họ chỉ lo cho thân mình, bằng lối sống cực kỳ khép kín, ích kỷ. Họ có thể khép kín đến mức trở nên xa lạ, kỳ thị đối với mọi người; có thể ích kỷ đến độ trở thành những kẻ tiểu nhân, gian tham, lừa gạt, để bảo vệ tuyệt đối an toàn, đảm bảo tuyệt đối an sinh của bản thân. Không thiếu những cảnh “rất khó coi, khó có thể chấp nhận được” ở nhiều người đã không còn muốn “là người” trong cơn khủng hoảng chung của thế giới vì dịch Covid-19 đe dọa.        
Qủa thực, con người lạ lắm… Lạ vì dễ thay đổi mỗi thời: có người ở thời hàn vi  thì dễ thương, hiền lành, khiêm tốn, cởi mở, chơi đẹp với anh em, bạn bè, nhưng đến thời vàng son, thành đạt, thăng quan tiến chức lại tự mãn, cao ngạo, trịch thượng, hống hách, lạnh lùng, khinh bạc, ngang ngược, hung dữ, chém chặt không nương tay; có người thời dăm ba đứa còn chung gác trọ sập xệ, ăn cơm xã hội thì rất qủang đại, rộng rãi, hào sảng, nhưng khi đến thời vinh hiển lại nhìn anh em bằng nửa con mắt, tránh né bạn bè vì không muốn bị làm phiền, và mang tiếng là bạn cũ với những người kém may mắn, không thành công, không vị thế như họ.
Cũng vậy, đang bình an mà rơi vào hoạn nạn chung, đang êm ấm mà chẳng may tai họa đổ về, thì cuộc sống đột biến đổi thay: mạnh ai nấy sống, không ai còn muốn trăn trở, can dự đến chuyện sống còn của người khác.
Vâng, để vẫn mãi là người có lòng nhân ái trong cơn khủng hoảng chung của toàn thể nhân loại, chúng ta phải cố gắng rất nhiều, nếu không, tính ích kỷ sẽ cột chặt tay chân, không cho chân chúng ta đến với người khác, cũng không cho tay chúng ta mở ra ôm lấy và chia sẻ với bất cứ người nào; để trong hoàn cảnh nhiêu khê, thiếu thốn chung của thế giới, vẫn là người có trái tim biết chạnh lòng thương cảm, chúng ta không thể ngừng phấn đấu với tính tham lam vô đáy của mình, để vẫn là người của mọi người, niềm vui của người sầu buồn, nụ cười của người đang mếu máo khóc cho thân phận hẩm hiu, phận số bất hạnh; để vẫn mãi là người có nhân nghiã trong bất cứ giai đọan tuột dốc thê thảm nào của cộng đồng xã hội, chúng ta luôn phải nhắc mình giá trị con người hệ tại ở ước muốn mang lại hạnh phúc cho người khác và nỗ lực thực hiện ước muốn nhân văn, cao đẹp đó.
Vâng, chúng ta phải cố gắng rất nhiều và liên lỷ để “luôn phải là người tử tế, người có lòng, có tâm, có đức”, bởi muốn làm con Phật hay con Chúa, làm con Trời hay làm con của bất cứ thần thánh nào, trước hết và trên hết, chúng ta phải làm “con người”, phải “là người với lòng nhân ái, vị tha.
     Ước mong trong khủng hoảng Covid, chúng ta vẫn không mất nhau, vì còn nhận ra nhau là người.
Jorathe Nắng Tím

Thứ Hai, 6 tháng 4, 2020

NHIỀU KHUÔN MẶT BẠO LỰC

             Suy niệm Thứ Sáu Tuần Thánh
Chương 18 và 19 Tin Mừng Gioan ghi lại chi tiết cuộc thương khó của Đức Giêsu, ở đó, chúng ta sống những giờ phút chiến thắng huy hoàng của Bạo Lực dưới  nhiều khuôn mặt bạo lực.
1.   Khuôn mặt thứ nhất là Giuđa, với Bạo Lực phản bội:
Ông là người môn đệ đã bằng Bạo Lực của Phản Bội kín đáo chỉ điểm nơi cầu nguyện của Thầy cho các thượng tế và nhóm Pharisêu, để nhận ba mươi đồng như giá bán Thầy mình.
Đặc tính của Bạo Lực Phản Bội là bí mật, lén lút, thì thụt, tiêu lòn, đi đêm, đánh lén sau lưng, vờ vịt như không biết gì, giả hình như không hề quan tâm sự việc, diễn xuất khéo léo để không ai nhận ra ý đồ, và diễn sâu để đánh lạc hướng thiên hạ.
Giuđa đã thành công vượt sức tưởng tượng, vì chính ông cũng không ngờ  kịch bản Bạo Lực Phản Bội đã được ông tự biên rất chặt chẽ, khít khao, và tự diễn đạt mức “chuẩn không cần chỉnh”. Bằng chứng là các công đọan của kế hoạch đã được thực hiện không sai sót, và kín kẽ đến độ không một anh em môn đệ nào đã hay biết ông là người phản bội, cho đến khi thấy ông, “kẻ nộp Người, cùng đứng chung với họ” (Ga 18,5). Họ đây là “một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pharisêu; họ mang đèn đuốc và khí giới” (Ga 18,3) đến bắt Đức Giêsu “ở thửa vườn, bên kia suối Kítrôn” (Ga 18,1).    
Khuôn mặt Bạo Lực Phản Bội là khuôn mặt thường gặp trong cuộc đời. Nó luôn cần được giấu kỹ, giấu kín, giấu nhẹm, nhưng cuối cùng hầu như tất cả đều bại lộ, như những mặt nạ cũ kỹ, rách nát bị ê chề lột bỏ.
2.   Khuôn mặt thứ hai là Phêrô, với Bạo Lực tự nhiên, thuộc tính khí, bản chất:
Bản chất của Phêrô thẳng thắn, tính khí nóng nẩy, bốc đồng, nên khi thấy toán quân với đèn đuốc, khí giới đến vây bắt Thầy, ông đã không đủ bình tĩnh để kềm giữ  hành động bạo lực chống lại đối phương, để giải vây cho Thầy. Sẵn trên người có thanh gươm, Phêrô đã chém đứt tai phải của người đầy tớ vị thượng tế tên là Mankhô (x. Ga 18,10).
Phêrô đã hành xử theo tính nóng nẩy tự nhiên, và sử dụng bạo lực một cách tự phát để bộc lộ tính khẳng khái và quyết tâm bảo vệ Thầy và anh em. Bạo lực ấy tiềm tàng ở mỗi người, có sẵn nơi mỗi người, và khi hữu sự, bạo lực biến thành hành động, tùy theo mức độ bùng phát, và khả năng be bờ, ngăn chặn của chủ thể. Bạo lực thuộc dạng bản chất mang tính công khai, thường được biểu lộ tức khắc, khác với Bạo Lực Phản Bội vì mục tiêu là lật đổ, khuynh đảo, hãm hại, hủy diệt, nên ngấm ngầm, giấu diếm, ngụy trang, che đậy.
3.   Khuôn mặt thứ ba là Khanan, nhạc phụ của thượng tế Caipha với Bạo Lực vô trách nhiệm của người có tuổi, được coi là khôn ngoan:
Đức Giêsu bị điệu đến trước mặt ông này, là bố vợ của thượng tế Caipha. “Chính ông này đã đề nghị với người Do Thái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn” (Ga 18,14).   
Ông này tất nhiên đã có tuổi, vì là bố vợ của thượng tế Caipha. Xét theo chức phận, thì ông chẳng nên có mặt, cũng không nên lên tiếng trong vụ việc này, vì ông chỉ là bố vợ của thượng tế. Ông đã lẫn lộn việc nhà với việc công, hoặc người ta, vì muốn lấy lòng con gái ông, nên đã giải Đức Giêsu đến ông trước, để xin ông ý kiến.
Được thiên hạ trọng vọng, ông phải tỏ ra là người khôn ngoan tuyệt vời, quân sư của bàn dân thiên hạ, nên dù không biết Đức Giêsu là ai, cũng không nắm được lý lịch của Ngài, ông vẫn cứ buông lời kết án đầy bạo lực của kẻ vô trách nhiệm và tự hào mình là người khôn ngoan vì có tuổi.
Ông đại diện cho tầng lớp già, để tỏ ra mình nhiều kinh nghiệm và đầy khôn ngoan nhờ sống lâu, thường thích đưa ra những phương án giải quyết vấn đề một cách mơ hồ, theo những nguyên tắc chết, lệch lạc, cứng nhắc, không đúng lúc, đúng người, đúng việc nhưng lại nồng nặc bạo lực. 
4.   Khuôn mặt thứ tư là những người đầy tớ gái, với Bạo Lực lợi hại của miệng lưỡi:
Chắc chắn Phêrô không chối Chúa, nếu đã không vô phúc gặp mấy đầy tớ nữ rảnh rang, tò mò, bép xép “buôn lê”, kiếm chuyện. Mấy cô giúp việc này thực ra chẳng biết mô tê, ất giáp gì, nhưng vốn quen buôn chuyện người, quen tọc mạch vu vơ, để có câu chuyện làm qùa, như miếng trầu đưa duyên. Thế là người tớ gái giữ cổng nói với Phêrô: “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao?”. Ông liền đáp: “Đâu phải” (Ga 18,17). Và hai lần nữa, Phêrô đều chối “Đâu phải” khi bị đám gia nhân của thượng tế Caipha kiếm chuyện gặng hỏi (x. Ga 18,25-27).  
Qủa thực, miệng lưỡi tuy mềm nhưng không vì thế mà không biết sử dụng bạo lực. Trái lại, đã có bao nhiêu con người đã phải chết oan, chết tức tưởi, chết không toàn thây vì bạo lực của miệng lưỡi đàn bà. Đàn bà là phái đẹp, nhưng đẹp không tất yếu đi đôi với tốt, nên không thiếu những đàn bà ác hơn sư tử, và nham hiểm hơn rắn độc, khi dùng miệng lưỡi mềm mỏng, ngon ngọt làm vũ khí hại người, thanh toán đối phương, bởi cái yếu cố hữu ngàn đời của phái mạnh, cánh mày râu đàn ông là thích môi ngon, lưỡi ngọt của phái yếu, và sẵn sàng làm theo ý muốn của người đẹp, cả khi biết đó là điều xấu, không được phép làm.
Tin Mừng Máccô đã kể lại sự kiện Gioan Tẩy Giả bị chém đầu do lời đường mật từ miệng lưỡi nham hiểm, và bạo lực của mẹ con bà Hêrôđia, người mà vua Hêrôđê đã lấy làm vợ, dù bà này đang là vợ của anh mình. Và nhà vua đã bị Gioan Tẩy Giả lên tiếng khiển trách.
Do đó, “Hêrôđia căm thù ông Gioan và muốn giết ông” (Mc 6,19). Một ngày thuận lợi đến: nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hêrôđê mở tiệc thết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Galilê. Con gái bà Hêrôđia vào biểu diễn một điệu vũ, làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái: “Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con”. Vua lại còn thề “Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được”. Cô gái đi ra hỏi mẹ: “Con nên xin gì đây?” Mẹ cô nói: “Đầu Gioan Tẩy Giả” (Mc 6,21-24). Nghe thế, “nhà vua buồn lắm, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa vời cô” (Mc 6, 26). Và đầu Gioan Tẩy Giả đã được đặt “trên một cái mâm trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ” (Mc 6,28).
5.   Khuôn mặt thứ năm là tên thuộc hạ của thượng tế Caipha, với Bạo Lực nịnh hót, nâng bi, lấy điểm đối với thượng cấp, kẻ có quyền:     
Vị thượng tế tra hỏi Đức Giêsu về các môn đệ và giáo huấn của Người. Đức Giêsu trả lời: “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ; tôi hằng giảng dậy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do Thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. Sao ông lại hỏi tôi? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì”. Đức Giêsu vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói: “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư?” (Ga 18,19-22).
Cái tát vào mặt Đức Giêsu xuất phát từ Bạo Lực nâng bi, lấy điểm của tên thuộc hạ muốn chứng tỏ lòng tôn kính, và trung thành tuyệt đối của mình đối với chủ.
Những khuôn mặt bạo lực nâng bi, lấy điểm, khom lưng, luồn cúi kiểu này thì “hằng hà sa số” trong cuộc sống. Người ta không bị hành hạ bởi người có quyền nhiều cho bằng bị đám thuộc hạ vì nâng bi lấy điểm cấp trên đã tự ý tăng hình phạt, tăng mức độ dã man của tra tấn, tăng roi vọt hành hạ lên gấp nhiều lần, như trường hợp Đức Giêsu trước mặt thượng tế Caipha. Ông này đã không nói gì, sau khi nghe Đức Giêsu trả lời. Chỉ có tên thuộc hạ nịnh bợ, nâng bỉ vị thượng tế đã chớp cơ hội, bằng sấn sổ vả vào mặt Đức Giêsu và hằn học chụp mũ: “Anh trả lời vị thượng tế thế ư?”.
6.   Khuôn mặt thứ sáu là đám đông người Do Thái a dua, quá khích với Bạo Lực mù quáng, bị mua chuộc, dụ dỗ:      
Các thuợng tế và nhóm Pharisêu cần đám đông để quan tổng trấn Philatô tin mà cho lệnh sử tử hình Đức Giêsu, là mục tiêu kế hoạch của họ, vì người Do Thái không có quyền ra án tử hình (x. Ga 18,31), bởi quyền này thuộc đế quốc bảo hộ Rôma, mà Philatô là đại diện.  
Các ông biết, Đức Giêsu không có tội, nên không dễ gì Philatô sẽ chịu ký án tử hình đóng đinh Ngài. Vì thế, họ mới phải tìm đến đám đông để cùng đám đông làm áp lực trên Philatô.
Không có đám đông nhẹ dạ, mù quáng, a dua hôm đó vừa to miệng hò hét đòi “Đem nó đi! Đem nó đi! Đóng đinh nó vào thập giá!” (Ga 19,15), vừa ma mãnh đe dọa Philatô: “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xêda” (Ga 19,12), thì không chắc gì họ đã toại nguyện với bản án tử hình đóng đinh Đức Giêsu.
Qủa thực, đúng như các thượng tế và Pharisêu đã dự tính, nên khi nghe đến đó, Philatô đã bắt đầu nhượng bộ bằng “truyền dẫn Đức Giêsu ra ngoài” (Ga 19,13), và kết thúc bằng “trao Đức Giêsu cho họ đem đi đóng đinh vào thập giá” (Ga 19,16). 
Thật kinh khủng sức mạnh của bạo lực quần chúng, và trước cuồng phong bạo lực này, hầu như không sức mạnh nào trụ nổi. Chẳng thế mà khi cần đạt mục đích tiêu diệt một cá nhân hay một phe nhóm nào đó, người ta đều nghĩ đến sức mạnh của bạo lực quần chúng, một thứ bạo lực mù qúang, a dua, cả tin, nhẹ dạ, dễ bị dụ làm công cụ mà chẳng biết gì, hiểu gì, như đám đông Do Thái đã bị đám thượng tế và Pharisêu đẩy đưa, dụ dỗ để ngoan ngoãn trở thành sức mạnh bạo lực trấn áp tinh thần Philatô và ép ông phải lên án tử hình Đức Giêsu, điều mà tận thâm tâm, ông không muốn, vì chính ông đã công khai tuyên bố “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy” (Ga 19,38).
Trong cuộc sống, bạo lực quần chúng rất thường được sử dụng, và khi đám đông nhập cuộc với sức mạnh của dốt nát, thiển cận, mù qúang, a dua, a tòng, thì hậu qủa của bạo lực luôn là tai ương rất kinh hoàng, khủng khiếp, như trường hợp Philatô, vì áp lực của bạo lực quần chúng đã kết án tử hình Đức Giêsu, một người hoàn toàn vô tội.
7.   Khuôn mặt thứ bẩy là lính tráng, đội quân thi hành án với bạo lực của cơ chế:
Bất cứ chế độ, cơ chế nào cũng cần có bên mình bạo lực để bảo vệ cơ chế, giữ gìn chế độ. Có bạo lực được tổ chức, có bạo lực sẵn sàng được huy động, người nắm giữ cơ chế, chế độ mới an tâm, vì biết bạo lực càng mạnh càng có sức trấn áp, tiêu diệt phe phái đối kháng, thế lực thù địch.
Những người lính nhận lệnh Philatô “đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Người” (Ga 19,1). Cũng chính họ đã “đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá” (Ga 19,23).
Chúng ta nhận thấy ở đây, trong trình thuật Thương Khó của Đức Giêsu một điều thường gặp trong đời thường, đó là bạo lực ở bất cứ điều kiện nào, dù đã được quy ước, định chế cũng không mấy khi giữ đúng làn ranh giới hạn, mà không vượt qúa quy định, mức độ cho phép, như những người lính khi nhận lệnh thi hành đánh đòn, họ đã đi qúa điều cấp trên cho phép, khi “kết vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. Họ đến gần và nói: “Kính chào Vua dân Do Thái!, rồi vả vào mặt Người” (Ga 19,2-3). 
Họ đã đẩy bạo lực vượt qúa  mức độ cơ chế cho phép khi sáng kiến những màn bạo lực dã man, phi nhân: chế diễu, sỉ nhục và thi nhau vả vào mặt Đức Giêsu.
Thứ sáu tuần thánh, cùng đi với Đức Giêsu trên đường Thương Khó, chúng ta được chứng kiến những con người bạo lực dưới nhiều khuôn mặt. Có những khuôn mặt thủ đọan, nham hiểm, thâm mưu, độc kế của các thượng tế và nhóm Pharisêu. Bên cạnh là nhiều khuôn mặt bạo lực khác đã được họ lợi dụng, để thực hiện cho kỳ được kế hoạch giết Đức Giêsu, đối tượng không thể đội trời chung của họ.    
Nhưng đi với Đức Giêsu trên đường Thánh Giá hôm nay, chúng ta cũng có thể chột dạ, giật mình, vì bất ngờ gặp chính mình trong những khuôn mặt bạo lực đã làm nên cuộc thương khó của Ngài.
Có thể chúng ta đã là khuôn mặt bạo lực của Giuđa lén lút phản bội Chúa, phản bội nhau; là khuôn mặt bạo lực của Phêrô nóng nảy không biết kềm chế, be bờ nên làm tổn thương anh em; là khuôn mặt bạo lực của Khanan cậy tuổi già đáng kính để buông những phán đoán vô căn cớ nhưng vô cùng tai hại cho người vô tội; là khuôn mặt bạo lực của những người đầy tớ nữ với miệng lưỡi đẩy đưa người khác vào cạm bẫy; là khuôn mặt bạo lực của thuộc hạ thượng tế Caipha, vì nịnh bợ, nâng bi cấp trên, và muốn lấy điểm với kẻ có quyền đã nhẫn tâm chà đạp người cô thế, bắt nạt, hành hạ kẻ thấp kém hơn mình; là khuôn mặt của đám đông Do Thái  “sưng phù” bạo lực mù quáng, nhẹ dạ, nhưng đã là yếu tố rất quan trọng tạo ảnh hưởng lớn trên quyết định cuối cùng của Philatô: trao Đức Giêsu cho họ đem đi đóng đinh; là khuôn mặt bạo lực của đám lính đã vượt qúa giới hạn bạo lực của cơ chế mà họ phục vụ.
Tất cả, tuy hình dáng, cách thức, tầm cỡ khác nhau, nhưng cùng là khuôn mặt bạo lực, những khuôn mặt bạo lực đã làm sợ tha nhân, đã đe dọa những người  nhỏ bé, đã hành hạ những người cô thân cô thế, đã làm khổ bao nhiêu người vô tội, đã đóng vô số những “đường sống” của người khác, đã lên án bất công những mảnh đời chưa kịp sống đã phải ngậm ngùi chết tức tưởi, đã nhận chìm rất nhiều hy vọng của những con người đã gắng bước đi trên đôi chân bé nhỏ, non nớt của mình, nhất là đã bị bạo lực tha hóa đến độ tự đánh mất mình, tự hủy diệt mình, khi tự tách mình khỏi Đức Giêsu là Tình Yêu Thương Xót của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Vâng, trên đường Thánh Giá hôm nay, xin cho chúng con nhận ra thiếu sót, tội lỗi của mình, khi mang những khuôn mặt bạo lực trong tương quan với anh em, và dậy chúng con bài học “hiền lành, khiêm nhường” trước những bạo lực, cũng như sức mạnh cứu rỗi của Thánh Giá, trên đó Đức Giêsu, Thiên Chúa của lòng thương xót đã chịu treo để  kéo toàn thể nhân loại thoát ra khỏi bạo lực của tội lỗi để lên với Ngài trong vinh quang Phục Sinh.  
Jorathe Nắng Tím

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2020

COVID-19 VÀ KỲ THỊ TÔN GIÁO

Thực sự người viết không ngờ phải bận tâm suy nghĩ về đề tài không mấy vui này: Covid-19 và kỳ thị tôn giáo, mặc dù đã viết về kỳ thị, nhưng là nguy cơ kỳ thị chủng tộc, khi chủ nghiã dân tộc cực đoan ở nhiều quốc gia hiện đang bùng phát phong trào lên án Trung Quốc, bài Trung Quốc, tẩy chay người Trung Quốc đang sinh sống trên đất nước họ, vì những nghi vấn về một ý đồ bá vương, bá chủ thế giới, bằng tiêu diệt các quốc gia của nhà cầm quyền Trung Quốc, khi tung ra từ Vũ Hán vũ khí vi khuẩn cực nguy hiểm tiêu diệt loài người mang tên Corona, nay được đổi thành Covid-19.
Một chuyện ngoài sức tưởng tượng của người viết khi đọc những giòng sau được nhiều  bạn không cùng tôn giáo gửi từ Việt Nam, với tâm trạng rất bức xúc và thất vọng về tác giả của những giòng này: 

“Linh Mục chết nhiều ở Ý là do đi xức dầu, vì họ tin là sẽ chữa khỏi bệnh”, “Tây Ban Nha số ca nhiễm chỉ sau Trung Quốc, Ý số ca nhiễm thứ hai thế giới, hai  nước này theo công giáo”, “Nước Mỹ là nước phát triển, dân số theo đạo Tin Lành nhiều nhưng 80% là mê tín dị đoan”, “Iran là quốc gia trong thế giới Hồi Giáo đứng top 5 về số ca nhiễm”.
Cùng một tác giả mà đến ba tôn giáo lớn bị kết án treo cổ tức tưởi bởi Covid-19: Ý và Tây Ban Nha chết nhiều vì theo đạo công giáo, Linh Mục Ý chết vì đi xức dầu chữa dịch Corona cho giáo dân; Mỹ theo đạo Tin Lành, nhưng phần đông mê tín, nên hiểu ngầm bị Covid-19 “ăn tươi nuốt sống”; cả đến Iran, vì theo Hồi Giáo cũng không thoát khỏi cơn thịnh nộ của Covid-19.
Tác giả “Phật tử” trên đã mặc nhiên cho mọi người biết: chỉ có Phật Giáo là số một, là tôn giáo không hề hấn trước nạn dịch, nên đương nhiên được hiểu là tôn giáo duy nhất đích thực, và Phật Giáo là duy nhất chính đạo, trong khi các tôn giáo khác là tà giáo, tà đạo, bởi kiểu nói “u mê, mập mờ, dẫn dắt kiểu dụ dỗ, thôi miên người nghe, người đọc” của tác giả bắt buộc phải được hiểu như thế.
Hiểu như thế, theo ý tác giả là chủ trương phỉ báng các tôn giáo khác, coi thường giáo lý của các tôn giáo không phải của mình, nhất là bôi bác giá trị thánh thiêng của việc phụng tự nơi tôn giáo khác mà mình không biết hay hiểu hoàn toàn sai, như tác giả đã tỏ ra ngây ngô, chẳng hiểu gì ý nghiã của bí tích xức dầu bệnh nhân trong công giáo, khi cho rằng linh mục công giáo ở Ý chết nhiều, vì muốn xức dầu chữa bệnh Covid-19 cho giáo dân, trong khi chủ đích và ý nghiã của bí tích này là đem lại sự nâng đỡ thiêng liêng cần thiết cho người đang phải chiến đấu ác liệt với cơn bệnh, ở giờ sinh tử. 
Hiểu như thế, theo ý tác giả là ngạo mạn coi thường niềm tin thiêng liêng của các tín hữu không thuộc tôn giáo mình, và tinh ma đánh lừa quần chúng dễ tin, khi xếp niềm tin của những tín hữu không cùng tôn giáo với mình xuống hàng mê tín dị đoan, với một tỷ lệ vừa nghe qua cũng đã biết là vô căn cứ, và hoàn toàn không đáng tin cậy. Chỉ cần hỏi nhỏ tác giả: dựa vào đâu ngài có thể qủa quyết mà không ngượng miệng số liệu khủng khiếp: 80% tín hữu Tin Lành Mỹ mê tín, dị đoan?
Hiểu như thế, theo ý tác giả là công khai ủng hộ ý đồ chia rẽ khối đoàn kết liên tôn, nghiã là âm mưu làm suy yếu sức mạnh dân tộc, bằng khơi dậy đố kị, tỵ hiềm, thù hận giữa những người không cùng niềm tin tôn giáo; là kích động phong trào kỳ thị tôn giáo trong lòng quần chúng, tạo nên căng thẳng và mau chóng dẫn đến bạo lực, vì không ai sẽ không sẵn sàng đổ máu để bảo vệ đức tin, bảo vệ đạo pháp, bảo vệ những giá trị thiêng liêng của tôn giáo mình, khi qủa bom “kỳ thị tôn giáo” bất ngờ bùng nổ.
Hiểu như thế, theo ý tác giả là chuẩn bị một cuộc thánh chiến đẫm máu, bằng khơi dậy căm phẫn giữa tín đồ các tôn giáo, khi dùng những lời lẽ khích bác, châm chọc, chế diễu, chống báng với mục đích hạ uy tín, đốn gục danh dự của các tôn giáo khác, và suy tôn, thần tượng tôn giáo mình.
Hiểu như thế, theo ý tác giả là phát tán chương trình độc quyền đức tin, độc chiếm tín hữu, bằng tung những đòn hạ nhục, bôi nhọ các tôn giáo khác, bằng chụp cho Covid-19 cái mũ “thanh trừng, tiêu diệt” các tôn giáo khác không phải của mình được coi như tà giáo, tà đạo. Bằng chứng là tác giả đã không biết mình nói gì khi đưa số liệu tử vong, lây nhiễm Covid-19 ở các quốc gia có những tôn giáo khác với tôn giáo của tác giả, như những chứng cớ hùng hồn và hiển nhiên của sự trừng phạt vô hình từ đấng thiêng liêng nào đó, mà chắc chỉ tác giả mới biết và gọi tên.
Hiểu như thế, theo ý tác giả là phát động phong trào mở rộng tôn giáo mình bằng đánh phá các tôn giáo khác; mở mang bờ cõi đạo mình bằng vùi giập, đốn hạ những đạo khác; làm tăng số tín đồ của giáo hội mình bằng mạt sát, miệt thị tín hữu các giáo hội khác khi coi họ là đám mê tín, cả tin, dại khờ, ấu trĩ. Truyền giáo theo kiểu này thì qủa thực không còn tôn giáo, không còn ý nghiã tâm linh, không còn giá trị thiêng liêng, nhân bản, vì tín hữu, tín đồ vô phúc lọt vào tay tác giả này đã không còn một chút tự do trong chính niềm tin riêng tư, độc đáo, cá vị của mình.
Và sau cùng, hiểu như thế, theo ý tác giả là dứt khoát đi ngược đường lối chính danh, chính nghiã, chính trực của tôn giáo, mà người viết, và rất nhiều bạn đọc của mọi tôn giáo sẽ phải đồng ý, đồng lòng chủ trương, thực hiện:
1.   Niềm tin tôn giáo là giá trị thiêng liêng, bất khả xâm phạm của mọi người:
Nên khi niềm tin ấy bị bất cứ ai làm tổn thương, dưới bất cứ hình thức nào thì người gây nên tổn thương ấy đều là kẻ phá họai niềm tin tôn giáo và phải mang trách nhiệm nặng nề.
Vì thế, bất kỳ tín hữu, tín đồ của tôn giáo nào thiếu lòng trân trọng đối với tôn giáo của mình và của người khác, cũng như không tôn trọng tôn giáo của mình và của người khác đều bị coi là người tín hữu không xứng đáng, tín đồ không thuần thành, vì hành động coi thường niềm tin của người khác tự nó đã là vô tôn giáo, và người có hành động vô tôn giáo phải bị coi là người không có tâm hồn tôn giáo, không trái tim tôn giáo, đúng hơn là không niềm tin thiêng liêng, và bề ngoài “tôn giáo” cũng như niềm tin bên ngoài của họ chỉ là bung xung trá hình, chiêu bài đạo đức cho một mục tiêu thấp hèn nào đó.
Do đó, niềm tin tôn giáo của mỗi người phải được bắt đầu bằng tâm tình và thái độ tôn trọng niềm tin tôn giáo riêng của người khác, nên để đánh giá một tín đồ, tín hữu, giáo dân có nhân ái, từ bi, bác ái, đạo hạnh, xứng danh người có đức tin hay không, người ta chỉ cần nhìn vào thái độ, cung cách của người ấy đối với những anh chị em không cùng tôn giáo với họ, bởi một đòi hỏi căn bản của bất cứ niềm tin tôn giáo nào là tính cách “vị nhân sinh”, nghiã là vì hạnh phúc của con người, nên khi tôn giáo không hướng đến phục vụ sự sống và hạnh phúc của con người, mà chỉ lo đấu đá, chia rẽ, kỳ thị, đố kị, mạt sát người ngoài tôn giáo mình, người không cùng chính kiến, đường lối với mình, thì mức độ đáng tin của tôn giáo ấy phải được đặt lại tận gốc rễ.
2.   Niềm tin tôn giáo thuộc quyền tự do của mỗi người:
Các tôn giáo như những con thuyền với mục đích đưa con người qua biển đời nhiều sóng gió, thử thách, và trước những con thuyền, mỗi người hoàn toàn tự do chọn cho mình con thuyền nào thích hợp, con thuyền nào vừa ý, con thuyền nào có khả năng vượt biển bình an.
Việc truyền giáo của các tôn giáo vì thế phải được hiểu là những chứng từ được kể lại, những kinh nghiệm tâm linh được chia sẻ, những cảm nghiệm đức tin được nói với người chung quanh, với mục tiêu cùng đi tìm chân lý, cùng chung hưởng hạnh phúc, hoan lạc trong niềm vui của đức tin.
Hiểu như thế, việc truyền giáo, giảng đạo sẽ không bao giờ trở thành thủ đọan “dành dân, chiếm đất” kiểu hung hãn xâm lăng, cũng không bao giờ được phép biến thành âm mưu, ý đồ, chiến lược, kế sách “thôi miên, dụ dỗ, mua chuộc, mồi chài, chiếm đoạt, đe dọa, đàn áp, khống chế” người khác, bắt họ đi theo tôn giáo mình, gia nhập đạo mình, vì niềm tin là giá trị thiêng liêng không dựa trên con số, tỉ lệ hay thành qủa “cân, đo, đong, đếm”. 
Nhưng cũng chính vì tự do chọn hoặc không chọn cho mình một tôn giáo, mà việc làm lên án những người cải đạo, tức những người đi từ đạo này sang đạo khác, bỏ Phật Giáo theo Công Giáo hoặc ngược lại, ở bất cứ thời điểm và hoàn cảnh nào trong cuộc đời họ đều là việc làm xâm phạm tự do tôn giáo của người khác, và là hành động bất công, bất chính, bất nhân.
Ở đây, chúng ta cần nêu rõ vấn đề cải đạo vì hôn nhân mà nhiều người hiểu lầm giáo lý công giáo. Thực ra, công giáo không ép ai phải bỏ đạo mình nếu muốn kết hôn với người công giáo, cũng không đặt hôn nhân công giáo dưới điều kiện cả hai phải cùng có đạo công giáo. Trái lại, hai người nam nữ trong mọi trường hợp vẫn có thể thành hôn với hôn nhân khác đạo, và vẫn nhận được sự chứng giám của Giáo Hội trong nhà thờ, bởi hôn nhân thành sự là do hai người nam nữ tự do đón nhận nhau làm vợ chồng với những quyền lợi và nghiã vụ của vợ chồng đối với nhau, và cha mẹ đối với con cái của họ sau này.
Thú thực với Bạn, đây là bài viết ngao ngán nhất đối với người viết, vì là những điều không bao giờ người viết dám và muốn nghĩ tới, bởi hơn một nửa bạn hữu thâm giao, lâu dài của người viết đều là người ngoài công giáo. Người viết và bạn bè không cùng tôn giáo rất trân qúy nhau, không chỉ trân qúy con người, gia đình của nhau, mà còn qúy trọng niềm tin tôn giáo, sinh hoạt tín ngưỡng riêng tư của nhau trong từng chi tiết, chẳng hạn, hằng năm chúng tôi gửi thiệp hoặc tin nhắn chúc mừng nhau lễ Giáng Sinh, Phật Đản, cùng nhau lên Chùa, đến nhà thờ và cung kính, trang nghiêm ở những nơi thờ phượng của nhau, nhất là tuyệt đối tôn trọng giáo lý, hàng giáo phẩm, tổ chức tôn giáo của nhau. Nhờ thế mà “tình bạn liên tôn” của chúng tôi mãi mãi bền vững và phong phú, tốt đẹp. 
Chia sẻ với Bạn nỗi đau “kỳ thị tôn giáo” đang xẩy ra trên quê hương Việt Nam, ngay giữa tâm đại dịch Covid-19, người viết rùng mình khi thấy virút “kỳ thị tôn giáo” ngàn lần nguy hiểm hơn Covid-19. Và bên cạnh niềm đau, nỗi sợ này, còn là nỗi buồn khi phải chứng kiến cảnh “người là lang sói của người”, khi người ta nhẫn tâm đến độ có thể “vui với ai đang khổ sầu, và buồn bã, khóc lóc khi người khác được may mắn, bình an”. Bằng chứng là có những người Trung Quốc  qúa khích căm thù đế quốc Mỹ đã vui mừng, liên hoan, căng biểu ngữ “chúc mừng nước Mỹ gặt hái nhiều ca tử vong và lây nhiễm Covid-19”.
Tuy thế, việc làm không nhân ái, thiếu nhân văn của một số ít người Trung Quốc vẫn còn có thể hiểu được, nếu so với những khích bác, diễu cợt hoàn toàn không thể hiểu và chấp nhận được của người đã tung ra những ý nghĩ kỳ thị tôn giáo mà người viết đã bất đắc dĩ phải trình bầy và phản biện.
Ước mong dân tộc Việt Nam không phải khổ thêm với nạn “kỳ thị tôn giáo” trong lúc “dầu sôi lửa bỏng” vì đại dịch, bởi dân đã khổ vì nghèo vật chất, mong ai đấy đừng làm đau đớn tinh thần họ; đồng bào đã khốn đốn vì dịch Covid, mong tác giả “kỳ thị tôn giáo” ngừng tay đừng đẩy họ xuống đáy sâu tuyệt vọng của thánh chiến phi lý, phi nhân, phi đức tin, phi thần thánh.
Jorathe Nắng Tím         

NGƯỜI KITÔ HỮU SỐNG ĐỨC TIN GIỮA NHỮNG BẤT AN

Không ai chối cãi tình trạng bất an đang bao trùm thế giới, làm xao xuyến mọi tâm hồn, khi nhà nhà đóng cửa tránh dịch, nước nước phong toả biên giới chống nguy cơ dịch xâm lăng, chiếm đóng. Một thế giới hoàn toàn bất an, vì không còn làm chủ được vận mệnh của mình trước một vi khuẩn bé tí teo nhưng sức lan toả và công phá thì vô cùng kinh khủng. Chung số phận của mọi người, người tín hữu không tránh khỏi bất an, và trước nỗi bất an, bất ổn như đang phải đương đầu, chọn lựa nào chúng ta phải có để sống đức tin?
1.   Nhiều nỗi bất an, bất ổn:
Đại dịch không chỉ làm chúng ta bất an về sức khỏe, về việc học của con cái, về  kinh tế gia đình, về tương lai rất đen tối của đất nước thời hậu dịch, mà còn cảm thấy bất ổn về những rủi ro xã hội, khi người dân rơi vào tình trạng “túng làm liều, cùi không sợ lở”… Trong vô số bất an, bất ổn có thể thấy được, chúng ta còn những bất an thầm kín, những bất ổn không nói ra được liên quan đến chính niềm tin của mình.
Thực vậy, phải khiêm tốn nhận rằng chúng ta không thể khá hơn các tông đồ năm xưa. Tuy được Đức Giêsu trực tiếp tuyển chọn làm môn đệ, được sống với Ngài, được Ngài đào tạo, dậy dỗ, chia sẻ, nhưng khi tình thế trở nên bất an, bất ổn, vào những ngày đầu của mùa thương khó, khi mà các mũi dùi tấn công của đối phương đồng loạt chĩa thẳng vào Thầy, các ông đã không còn giữ được những lời thề thốt trung thành, không còn bình tĩnh để nhớ lại những lời căn dặn “sau ba ngày Thầy sẽ sống lại”, và các ông đã hoang mang, sợ hãi trước thử thách tưởng vượt sức người có hạn, và tự ý kết thúc công trình Đức Giêsu đang gầy dựng dang dở với các ông bằng phản bội, chỉ điểm, chối từ, bỏ rơi Thầy mình.
Như thế mới biết khi lâm vào tình huống khó khăn, hoàn cảnh bế tắc, khủng hoảng cùng độ, đức tin của chúng ta rất thường bị thử thách. Bị thử thách vì chúng ta cần được bình an, nhưng lúc nguy nan, thì người mà chúng ta tuyệt đối phó thác, tin tưởng lại xem ra không còn đủ sức bảo đảm bình an cho chúng ta; bị thử thách vì chúng ta không muốn chết tức tưởi, oan uổng, vô cớ, trong khi người mà chúng ta cậy trông, bám víu, dựa dẫm khi bị đe dọa  xem ra còn thê lương, yếu đuối hơn cả chúng ta; bị thử thách, vì chính lúc chúng ta cần tiếng nói bênh vực của người chúng ta tin để sóng gió cuộc đời phải im hơi lặng tiếng, thì người ấy lại chỉ gục đầu thinh lặng, như bất lực; bị thử thách, vì chúng ta muốn có “điềm thiêng dấu lạ” từ tay Đấng chúng ta tôn thờ, nhưng điềm thiêng, dấu lạ đâu chẳng thấy, chỉ thấy “ba chìm, bẩy nổi, chín long đong” thi nhau làm đời ta te tua, tơi tả, rách bươm như tầu lá chuối trước cuồng phong.
Thế nên càng bất an, chúng ta càng đứng ngồi không yên; càng bất ổn, chúng ta càng đi tìm người này người nọ để được trấn an; càng lo lắng, chúng ta càng cuống cuồng đôn đáo chạy vái tứ phương; càng hốt hoảng, chúng ta càng nhẹ dạ, vồ vập, dễ tin, và bán đứng niềm tin chính đáng của mình cho bất cứ ai xem ra có thể làm nhẹ nỗi lo sợ, làm giảm bớt hoang mang, và mau chóng tháo cởi mọi đe dọa đang làm chúng ta đứng tim, ngộp thở.
2.   Đức Giêsu đã cảnh báo các môn đệ tâm trạng bất an và tình trạng đi tìm điềm thiêng, dấu lạ và tiên tri giả:
Thời Đức Giêsu, người ta cũng đã nhiều phen điên đảo vì những biến cố chính trị, xã hội, khiến nhiều người lo lắng ngày tận thế đang đến gần. Ngay các môn đệ của Đức Giêsu cũng rơi vào tình trạng “ngồi trên lửa” và tâm trạng xao xuyến, lo âu này. Và trong bối cảnh ấy, Đức Giêsu đã nói với các ông: “Bấy giờ, nếu có ai bảo anh em: ‘Này, Đấng Kitô ở đây’ hoặc ‘ở đó’, thì anh em đừng tin. Thật vậy, sẽ có những Kitô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điềm thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn, nếu có thể. Thầy báo trước cho anh em đấy!” (Mt 24,23-25).
a.   Đức Giêsu cảnh báo: sẽ có nhiều người tự nhận là Đấng Thiên Chúa sai đến để lừa gạt những ai nhẹ dạ, cả tin trong cơn quẫn bách, lo sợ:
Ngay hôm nay, giữa cơn đại dịch Covid-19, trên mạng xã hội, chúng ta đọc nhan nhản những tin chống phá Đức Giêsu, bôi bác Đức Thánh Cha, mạ lị hàng giáo phẩm, lên án Giáo Hội công giáo, và thay bằng những “người của Thiên Chúa” khác, những giáo hội khác, với đức tin hoàn toàn khác.
Đó là những giáo phái hoàn toàn mới lạ với Giáo Hội được Đức Giêsu thành lập trên Tảng Đá Phêrô, hoàn toàn xa lạ với giáo lý của Đức Giêsu, hoàn toàn khác lạ với Tin Mừng của Ngài, nhất là hoàn toàn đi ngược đường lối yêu thương của “Thiên Chúa làm người”, Đấng đến cứu độ nhân loại bằng thập giá hiến mình chuộc tội.    
Đức Giêsu đã lập Giáo Hội của Ngài trên Nhóm Mười Hai Tông đồ, mà Phêrô là tông đồ trưởng, nên niềm tin của người công giáo là niềm tin từ Nhóm Mười Hai tông đồ, thường gọi là Tông Truyền, nghiã là đức tin được truyền từ các Tông Đồ trực tiếp của Đức Giêsu. Đây là điểm quan trọng mà chúng ta cần lưu ý, bởi người  Công Giáo tin với niềm tin của Phêrô đã tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), chứ không tin với niềm tin vu vơ, bâng quơ, vá víu, chắp nối nào khác.
Khi cảnh báo các môn đệ về nguy cơ sẽ có những Kitô giả, Đức Giêsu cũng muốn nhắc nhở chúng ta ở thời đại này phải thận trọng giữ vững niềm tin vào Đức Giêsu Kitô mà Phêrô, tông đồ trưởng đã thay mặt các tông đồ tuyên xưng, để không nhẹ dạ chạy theo bất cứ một “ngôn sứ, tiên tri, thiên sai, thiên chúa” giả hiệu nào khác, với bất cứ lý do, luận chứng, giải thích nào.
b.   Đức Giêsu cảnh báo khả năng tuyệt vời của những Kitô giả này, nên không chỉ người nhẹ dạ, cả tin sa lưới, mà cả “những người được tuyển chọn” cũng có thể bị sập bẫy:
Đây là điều rất đáng ngại và gây nhiều tổn thất lớn cho niềm tin của tín hữu, khi  một số những người của Giáo Hội, có chức tước, quyền bính trong Giáo Hội cũng nghiêng ngả trước đường mật của Kitô giả, cũng lung lay trước “điềm thiêng, dấu lạ” của tiên tri giả, cũng nghi ngờ chân lý đức tin tông truyền, và chạy theo ngôn sứ giả.
Không thiếu những người đã được tuyển chọn trong Giáo Hội, những người tín hữu được coi là có đức tin vững mạnh, kiên cường, từng hăng say “bảo vệ Giáo Hội” nay hăng say lên mạng qủang bá những tin chống phá chính Giáo Hội của mình đại để với nội dung: “Hội thánh Công Giáo hiện nay là hội thánh giả, giáo hoàng là giáo hoàng của Satan, hàng giáo phẩm là những kẻ đại bội giáo, linh mục, tu sĩ nam nữ là những con chó câm, hèn nhát trước bạo quyền thế gian, không dám mở miệng nói cho mọi người hiểu điều Thiên Chúa muốn”.
Chỗ khác, có người trưng dẫn:“Đức Mẹ dậy: từ nay không được gọi là Đức Thánh Cha, hay Đức Hồng Y, Đức Cha gì cả, chỉ gọi họ theo chức vụ thôi, vì bọn họ chẳng ai là người có đức độ, hay đạo đức nữa, cũng như từ sau ngày 21.06.2017, các thánh lễ bọn họ làm chỉ còn là thánh lễ thờ phượng Satan, nên ai đi lễ sau ngày ấy là thờ Con Thú, và rước lễ là rước lấy Satan vào lòng. Tất nhiên tất cả sẽ phải xuống hoả ngục với Satan”.
Thật không còn gì kinh dị hơn, khi những dòng chữ này lại được viết từ tâm hồn của những người được tuyển chọn…! Chẳng thế mà có lần Đức Giêsu đã than thở: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18,8).
c.    Phương thức của Đức Giêsu đề ra cho chúng ta trong cơn bất an, bất ổn:
Vậy, nếu người ta bảo anh em: ‘Này, Người ở trong hoang địa’, anh em chớ ra đó; ‘Kìa, Người ở trong phòng kín’, anh em cũng đừng tin” (Mt 24,26).
· Không tin ai ngoài tin một mình Ngài: Ngôi Lời của Thiên Chúa.
· Không chạy đôn đáo chỗ này chỗ nọ tìm đấng cứu tinh mới, vì không có Đấng Cứu Độ nào ngoài  Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người.
Còn một vấn đề gai góc khác, đó là có nên tin Giáo Hội, tin Đức Thánh Cha, tin các Giám Mục, Linh Mục không?
Qủa thực, khuynh hướng thời đại là tin Chúa, mến Chúa nhưng không tin Giáo Hội, không thương mến người của Giáo Hội, vì nhiều lý do rất khác nhau, mà người viết sẽ chia sẻ trong một dịp khác.
Ở đây, chúng ta cần xác định ý muốn của Đức Giêsu, khi cảnh báo chúng ta nguy cơ “đánh mất, từ bỏ đức tin vào Ngài”, và đề ra phương thức cứu giúp chúng ta trước hoàn cảnh bị thử thách, ở đó lòng tin dễ bị chao đảo, lung lay:
· Đức Giêsu muốn chúng ta tin Giáo Hội Công Giáo, Giáo Hội duy nhất được lập ra trên nền tảng các Tông Đồ, mà đại diện là Phêrô chính là Giáo Hội của Ngài, Giáo Hội do chính Ngài thiết lập, mà không một thế lực ác thần nào có thể đánh phá, làm sụp đổ (x.Mt 16,18), vì Ngài ở với Giáo Hội của Ngài mọi ngày cho đến tận thế (x. Mt 28,20).
· Vì là Giáo Hội của Ngài, nên Giáo Hội có sứ mạng giữ gìn trọn vẹn và tinh tuyền Chân Lý của Ngài đã mặc khải cho nhân loại, để Chân Lý không bị bóp méo, làm lệch lạc, phai mờ. Và để bảo đảm cho sứ mạng  gìn giữ Chân Lý này, Ngài đã xin Chúa Cha ban cho Giáo Hội Chúa Thánh Thần là “Thần Khí sự thật… Đấng ở giữa anh em và ở trong anh em” (Ga 14,17). Cũng Thánh Thần sẽ là Đấng “dậy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26).
Như thế ngay trong những lúc “hỗn quân hỗn quan”, khi có nhiều người tự xưng mình là ngôn sứ, tiên tri, người được Thiên Chúa sai đến với giáo lý này, chân lý nọ, chúng ta sẽ không phải suy nghĩ, băn khoăn, phân vân, lo sợ lầm đường, lạc lối, vì biết chắc một điều: ở ngoài Giáo Hội Công Giáo không có chân lý tinh tuyền và trọn vẹn của Đức Giêsu, bởi một lý do đơn giản, đó là Đức Giêsu đã chỉ ký thác Chân Lý và sứ mạng gìn giữ Chân Lý của Ngài cho Giáo Hội mà Ngài đã thiết lập trên tảng đá Phêrô, và Nhóm Mười Hai Tông Đồ của Ngài.         
Nhưng có một vấn đề khác được đặt ra: có khi nào chính Giáo Hội của Đức Giêsu sẽ phản bội Đức Giêsu, và đâu là dấu chỉ cho phép chúng ta biết Giáo Hội này phản bội?
Chúng ta sẽ chỉ cần nhìn vào Giáo Hội để biết Giáo Hội ấy có Đức Giêsu là Đầu của Thân Thể mầu nhiệm, và có Chúa Thánh Thần là Thần Khí sự thật và là Đấng ban sự sống cho Giáo Hội hay không… Cụ thể là:
· Giáo Hội có tin thờ Đức Giêsu, Ngôi Lời của Thiên Chúa, dung mạo đích thực của Chúa Cha, con đường dẫn nhân loại đến với Thiên Chúa, Đấng đã xuống thế làm người để yêu thương và cứu chuộc con người không? (x. Ga 3,16-17).
· Giáo Hội có tuyệt đối yêu mến và tín thác vào Đức Giêsu, Phu Quân trung tín và là Đấng Cứu Độ duy nhất đã hiến mình vì Giáo Hội không? (x. Ep 5,25-26).
· Giáo Hội có ở lại trong Đức Giêsu như chi thể trong “thân thể Đức Kitô” (1 Cr 12,27), như cành nho gắn liền cây nho trong đời sống cầu nguyện và bí tích không? (x. Ga 15,1-5).
· Giáo Hội có trung thành với sứ vụ “loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến” không? (x. 1 Cr 11,26)
· Giáo Hội có làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu, và cố gắng từng ngày trở nên dấu chỉ sống động sự hiện diện yêu thương của Thiên Chúa giữa nhân loại bằng yêu thương, phục vụ tha nhân đến hy sinh mạng sống mình không? (x. Ga 13,34-35).
Và nếu Giáo Hội trung thành sống lời tuyên xưng đức tin của Phêrô, cùng tông đồ đoàn trước mặt Đức Giêsu năm xưa, ở vùng Xêdarê Philípphê: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), thì dù có lúc đã sao lãng, hững hờ, thờ ơ, ngay cả yếu đuối phản bội như Phêrô đã chối Thầy nhưng vội vã ăn năn trở lại, thì Giáo Hội vẫn là Giáo Hội của Đức Giêsu, Giáo Hội có Đức Giêsu và Thần Khí sự thật của Ngài. Và chúng ta vẫn có đủ lý chứng để xác tín tính đích thực, trọn vẹn và tinh tuyền của Chân Lý Đức Tin được gìn giữ trong Giáo Hội, như ý muốn của Đức Giêsu.
Vâng, trong hoàn cảnh bất an, niềm tin của chúng ta không tránh được gian nan, thử thách, vì chúng ta còn là con người, và Đấng mà chúng ta tôn thờ là Đấng chúng ta chỉ nhìn thấy được bằng đôi mắt đức tin, chứ không thấy được Ngài bằng con mắt xác thịt. Đó là thách đố của đức tin, khi chúng ta được mời gọi sống như “đang thấy Đấng Vô Hình”.
Đức Giêsu biết chúng ta phải trải qua những thử thách của đức tin, để trưởng thành trong tình yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, nên đã cảnh báo rất rõ ràng, chi tiết và cho chúng ta phương thức đối phó, đương đầu trong giông bão. Ngài còn hứa ban bình an cho tất cả những ai trung thành yêu mến Ngài bằng giữ giới luật yêu thương của Ngài (x. Ga 14,15): “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,27).
Với Bình An của Đức Giêsu, bình an đến từ tình yêu hy sinh mạng sống vì người mình yêu, chúng ta sẽ không còn lý do xao xuyến, sợ hãi, vì trong thuyền là Giáo Hội, luôn có Đức Giêsu, Ơn Bình An của Thiên Chúa hiện diện, Đấng luôn ở với Giáo Hội, ở với mỗi người và không ngừng động viên, an ủi, nâng đỡ: “Cứ yên tâm, Thầy đây, đừng sợ!” (Mt 14,27).
Jorathe Nắng Tím