Tìm kiếm Blog này

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2020

ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH Ở GIỮA CHÚNG TA TRONG CUỘC SỐNG


Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết! Đó là điều các môn đệ của Ngài đã được chứng kiến, khi các ông ở với nhau.
Ở với nhau “từ sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, khi bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Simôn Phêrô và người môn đệ Đức Giêsu thương mến”. Họ đã thấy “trong mộ những băng vải để ở đó, và khăn che đầu Đức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi” (Ga 20,6-7).
Ở với nhau, khi “Bà Maria Mácđala đi báo cho các môn đệ: Tôi đã thấy Chúa, và bà kể lại những điều Người đã nói với bà” (Ga 20,18).
Ở với nhau, “vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do Thái”. Đức Giêsu phục sinh đến, “đứng giữa các ông và nói: “Bình An cho anh em!” (Ga 20,19).
Ở với nhau, “tám ngày sau, các môn đệ Đức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em”. Rồi Người bảo ông Tôma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng tin nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20,26-27).
Riêng Tin Mừng Luca còn kể về hai môn đệ không chỉ ở với nhau, mà còn đi với nhau trên đường từ Giêrusalem về Emmau với dáng vẻ rầu rĩ, thất vọng, và Đức Giêsu đã hiện ra đồng hành với các ông, cùng ngày Phêrô, Gioan chạy ra mộ, sau khi các ông được mấy phụ nữ từ mộ chạy về báo tin “Tảng đá đã lăn ra khỏi mộ” và “không thấy thi hài Đức Giêsu đâu cả” (Lc 24,2-3).
Và lần “ở với nhau” được kể lại trong “Đoạn Cuối” của Tin Mừng Gioan khi “Đức Giêsu lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria”. Hôm ấy có các “ông Simôn Phêrô, ông Tôma là Đyđymô, ông Nathanaen người Cana miền Galilê, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau” (Ga 21,1-2).
Nhưng lần này có nhiều điểm đặc biệt, không giống những lần trước, khi các môn đệ ở với nhau và Đức Giêsu phục sinh hiện ra với các ông:
1.   Đức Giêsu phục sinh hiện ra giữa lúc các môn đệ đang bươn trải với cuộc sống hằng ngày:
Hiện ra với các môn đệ lần này, Đức Giêsu đã không đến với các ông trong nhà với cửa nẻo được đóng kín, khóa chặt, vì sợ người Do Thái, cũng không trong tình trạng lo âu, thất vọng, bất an, và tình huống ngưng trệ mọi sinh hoạt, vì chán nản, mất tinh thần, không còn động cơ phấn đấu, hoạt động, nhưng hiện ra giữa lúc các ông đang đánh cá, là nghề kiếm sống, ngay chính nơi làm việc là Biển Hồ, và rất tiếc “đêm ấy họ không bắt được con cá nào” (Ga 21,3).
2.   Đức Giêsu phục sinh hiện ra giữa những nhu cầu thiết thực của cuộc sống:
Không như những lần trước, lần này Đức Giêsu đến gặp các môn đệ ngay giữa thất bại và nhu cầu của các ông: thất bại, vì thả lưới suốt đêm, mà không bắt được con cá nào, và nhu cầu trước mắt của cả đám là đói và không có gì ăn.
Khi đứng trên bờ và hỏi các ông: “Này các chú, không có gì ăn ư ?” Các ông trả lời: “Thưa không”. Người bảo các ông: “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá”. Các ông thả lưới xuống, nhưng không sáo kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá” (Ga 21,5-6).    
Đến giữa lúc “làm ăn thất bát”, thả lưới suốt đêm mà không bắt được một con cá, đám ngư phủ chuyên nghiệp, môn đệ của Đức Giêsu thấm thiá tình của Thầy và xác tín: Thầy luôn hiện diện trong mọi hoàn cảnh của đời sống, biết rõ nhu cầu của từng người, và không để các ông phải chết.
a.   Nhu cầu vật chất:
Đức Giêsu biết các môn đệ buồn ngủ vì phải thức trắng, mệt vì suốt đêm phải thả lưới, canh lưới, chán nản và đói vì không bắt được con cá nào, nên Ngài đã hướng dẫn các ông chỗ có cá nhiều, và bảo các ông “Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền”’, dù biết các ông là những ngư phủ lành nghề.
Không chỉ hướng dẫn, bảo ban, Đức Giêsu còn chuẩn bị “sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa” (Ga 21,9), và bảo các ông “Anh em đến mà ăn!”. Ngài còn đích thân “cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy” (Ga 21,12-13).
Thái độ ân ân cần chăm sóc các môn đệ của Đức Giêsu phục sinh là bằng chứng cho thấy Đức Giêsu hằng lo cho nhu cầu vật chất để nuôi dưỡng thân xác con người. Sự hiện diện của Ngài giữa sinh hoạt nghề nghiệp có lúc lên xuống, thành bại của các môn đệ đã nói lên tình yêu quan phòng của Thiên Chúa trên mỗi người.
b.  Nhu cầu tinh thần:
Ngoài nhu cầu vật chất để nuôi thân xác, Đức Giêsu còn quan tâm đến nhu cầu tinh thần của các môn đệ Ngài:
“Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giêsu hỏi ông Simôn Phêrô đên ba lần: “Này anh Simôn, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?”. Và cả ba lần, Phêrô đều trả lời: “Lậy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy” (x. Ga 21,15-17).
Hỏi Phêrô cũng là hỏi các môn đệ khác có mặt, nhưng điều quan trọng khi hỏi Phêrô có yêu mến mình không, Đức Giêsu gián tiếp cho ông và các môn đệ biết Ngài yêu các ông rất nhiều. Cũng như hai người yêu nhau thường tế nhị “tỏ tình” với người mình yêu bằng hỏi “người yêu” có yêu mình nhiều hay  không… bởi  chỉ khi yêu đối tượng, người ta mới cần biết tình yêu của đối tượng dành cho mình.
Hơn ai hết, Đức Giêsu biết ngoài nhu cầu vật chất nuôi thân xác, con người còn một nhu cầu rất quan trọng khác, đó là yêu và được yêu. Và khi nhu cầu tinh thần này không được đáp ứng, bảo đảm, con người không thể quân bình, bình an, hạnh phúc.
3.   Đức Giêsu phục sinh mời gọi các môn đệ của Ngài lên đường:
Cuộc gặp gỡ các môn đệ ở Biển Hồ Tibêria sau khi sống lại của Đức Giêsu đã không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của các ông khi cho các ông ăn uống no nê và cho các ông biết mình được Thầy yêu và tình yêu của mình được Thầy đón nhận, mà còn đi xa hơn, khi Đức Giêsu mời gọi các ông đi theo Ngài, bởi đây mới là mục đích của cuộc sống người môn đệ:
“Hãy theo Thầy” khi sống cũng như khi biết mình phải chết, vì sống chết của người môn đệ cũng chỉ để “tôn vinh Thiên Chúa” (Ga 21,19).
“Hãy theo Thầy” để yêu mến đoàn chiên như Thầy, phục vụ đoàn chiên như Thầy, hiến mạng sống vì đoàn chiên như Thầy là Mục Tử nhân lành sẵn sàng “hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên” (Ga 10,11).
“Hãy theo Thầy”, vì nhu cầu vật chất và tinh thần được đáp ứng không phải để ở lì trong “cái tôi” ích kỷ, hưởng thụ, lười biếng, nhưng để lên đường loan báo Tin Mừng cứu độ và trao ban ơn Bình An Phục Sinh của “Thiên Chúa làm người” cho muôn dân ở mọi nơi, mọi thời (x. Mt 28,19).    
Như thế, tất cả đều quy về lý tưởng mà đời người môn đệ của Đức Giêsu hằng mong ước, đó là đi theo Đức Giêsu, để Thầy ở đâu thì con xin được ở đó với Thầy, cũng là lời cầu xin của Đức Giêsu trước những ngày Thương Khó:
Lậy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17,24).

Xin Đức Giêsu phục sinh cho chúng con, những người thuộc về Chúa, khả năng “ở với nhau”, bởi “không ở với nhau”, không cùng nhau lên thuyền ra khơi đánh cá, dù suốt đêm không bắt được con cá nào, chúng con sẽ không gặp được Chúa phục sinh, để được chăm nom, săn sóc phần hồn phần xác, nhất là không được theo Chúa đến gặp anh em và cùng anh em đến nơi Chúa ở, là quê hương Bình An, bến bờ Hạnh Phúc, Niềm Vui Phục Sinh của đời làm người, làm  con Chúa, anh em của mọi người. Alléluia!
Jorathe Nắng Tím  

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2020

NHỮNG KHUÔN MẶT DỄ THƯƠNG THỜI COVID-19

Không ai ngờ ở thời đại văn minh với khả năng gần như tột bậc của  y khoa, mà thế giới lại rơi vào cơn khủng hoảng rất trầm trọng của Covid-19 như những ngày này, khi con số tử vong và lây nhiễm ngày càng tăng đến chóng mặt, tạo nên cơn sốt cấp tính  toàn cầu.
Nhưng có lẽ cái không ngờ đáng nhớ là những khuôn mặt dễ thương toả sáng tình người, và rạng rỡ lòng nhân ái xuất hiện ngày càng nhiều giữa những thách đố như muốn vượt sức người có hạn của sóng thần Covid-19.
Đó là khuôn mặt dễ thương của những em bé nắn nót từng chữ trên lá thư mộc mạc, đơn sơ gửi những bệnh nhân Covid-19 và các bác sĩ, y tá, y công trong các bệnh viện. Những dòng chữ non nớt, nghiêng ngả, xiêu vẹo, chưa đủ sức thẳng hàng, thẳng lối được bao bọc bởi nhiều trái tim to nhỏ muôn mầu rực rỡ.
Những khuôn mặt nghệ sĩ chỉ quen vớí ánh đèn mầu và hào quang sân khấu, nay cũng lũ lượt đến “làm quen” những khu ổ chuột, chân cầu, ở đó có những người rất nghèo không có gì để sống những ngày không còn được ăn xin, bán vé số vì nạn dịch Covid. 
Những khuôn mặt học sinh, sinh viên tạm xa ghế nhà trường, dấn thân trong các phong trào cứu hộ, phòng dịch - chống dịch trên toàn quốc.
Những khuôn mặt doanh nhân thường ngày tất tả, bận bịu làm tiền, nay trở thành những mạnh thường quân, ân nhân làm từ thiện cứu những mảnh đời nổi trôi, bờ bụi từng ngày chiến đấu với số phận để được sống còn.
Những khuôn mặt tu hành thánh thiện thường ngày chỉ quanh quẩn với thánh đường, thánh thất, chùa chiền nay cũng sắn cao tay áo tu phục lao mình vào đời chia sẻ thân phận bọt bèo với chúng sinh.
Những khuôn mặt chính khách quen nhăn nhó trầm trọng với những tính toán chiến lược, chiến thuật, đường lối, kế hoạch, vĩ mô, quy mô nay cũng bình dân, bình dị hơn trong cách ăn mặc, thái độ, cung cách đến gần quần chúng trong cơn đại dịch.
Nhưng nổi bật hơn cả là khuôn mặt dễ thương của người đàn bà nghèo chắt chiu những đồng xu rất ít oi, bé nhỏ để chia sẻ nỗi thương đau của những người nghèo đáng thương hơn mình, vì hơn ai hết, bà hiểu thế nào là nỗi đau, nỗi khổ, nỗi nhục của người vừa nghèo đói, vừa đau bệnh, vì chính bà đã cảm nghiệm, trải qua.
Nổi bật hơn là khuôn mặt dễ thương của những cha mẹ đã dậy con biết tằn tiện, chắt góp từng đồng để mỗi buổi sáng có trước nhà mình một tủ nhỏ với những ổ bánh mì kẹp trứng, những nắm xôi đậu cho người nghèo cần lót dạ những ngày không còn có thể tự kiếm sống, vì không còn ve chai, bọc nhựa.
Nổi bật hơn là khuôn mặt dễ thương của những ông bà chủ nhà hàng, với những hộp đồ ăn gửi tặng nhân viên y tế trong các nhà thương, bệnh xá đang vất vả chăm sóc bệnh nhân Covid, như những chiến sĩ đang qủa cảm chiến đấu ở tuyến đầu chống lại “dịch giặc” đe dọa an sinh của nhân loại.
Nổi bật hơn là khuôn mặt dễ thương của hàng triệu người vào 20 giờ mỗi ngày cùng ra “ban công”, cửa sổ vỗ tay để biểu lộ lòng biết ơn đối với các chiến sĩ “y tế” đang hết lòng hy sinh vì an toàn sức khỏe của mọi người.
Nổi bật hơn là khuôn mặt trầm tư nhưng sốt sắng, thánh thiện của ông bà, cha mẹ nghiêm trang thầm thĩ cầu nguyện cho con cháu, lối xóm, và mọi người được bình an qua cơn đại dịch.
Và mãi mãi nổi bật khuôn mặt dễ thương của những con người đã hy sinh an toàn tính mạng của mình vì người khác trong cơn đại dịch. Họ là những người đã nằm xuống vì lên tiếng cảnh báo mọi người nguy hiểm của đại dịch, mặc dù bạo quyền cấm lên tiếng báo động; họ là những người không bỏ người bị lây nhiễm một mình, nhưng cống hiến tình yêu nâng đỡ, chữa lành; họ là những người mang trái tim của Thiên Chúa chấp nhận bị lây nhiễm để có mặt với người bệnh Covid giờ hấp hối để an ủi, ban ơn trợ giúp thiêng liêng; họ là những người âm thầm, kín đáo, tận tụy làm việc đêm ngày để chống đại dịch, đem lại an toàn sinh mạng cho mọi người; họ là những người quảng đại chia sẻ những gì mình có, nhưng luôn khiêm tốn và kính trọng những người nghèo khổ, thiếu thốn, bất hạnh hơn họ mà họ đang giúp đỡ; họ là những người không ồn ào, huyên náo khi phục vụ, không huyênh hoang kể công khi đóng góp, không đòi hỏi phải được khen thưởng, đáp đền khi công việc hoàn thành; họ là những người tiên vàn và mãi mãi chỉ sống với một ý thức, và một lý tưởng: đã là người thì phải có lòng nhân, muốn làm người xứng đáng thì phải yêu thương và phục vụ đồng loại. Tất cả những con người này đều dễ thương, mang những khuôn mặt dễ thương, bởi tim họ tràn đầy tình yêu thương.
Nhưng bên cạnh vô số những khuôn mặt dễ thương, cũng không tránh khỏi những điều khó coi. Khó coi như chuyện “nhà giầu” lấy xe lén lút chở về nhà mình những bao gạo tình nghiã của khu xóm đóng góp để giúp đỡ những người nghèo trong cơn đại dịch, vì không còn ai thuê mướn làm việc; khó coi trước những lợi dụng thời cách ly để khủng bố tinh thần, “làm tiền” dân nghèo bằng mọi cách ở một số viên chức phường xã thiếu lương tâm, vô trách nhiệm, bất tuân đường lối, chính sách; khó coi trước những người giầu “dư ăn, dư mặc” ùn ùn xếp hàng cả cây số để nhận mỗi người một thùng mì, quà dành riêng cho người túng thiếu thời đại dịch; khó coi truớc những lạm dụng tiền trợ cấp, những chứng từ giả để trục lợi làm người nghèo đã nghèo còn nghèo hơn vì bị quan tham bóc lột; khó coi trước những tố cáo hồ đồ, bừa bãi với công an: “nhà này có người mắc bệnh Covid, người kia bị dương tính”, với mục đích “mượn gió bẻ măng”, lợi dụng cơ hội để chơi xấu, trả thù; khó coi vì cảnh bạo hành gia đình, khi chồng đánh vợ, nạt nộ con, vì bực bội phải ở nhà, không được ra ngoài nhậu nhẹt, hát karaoke, ăn chơi, thăm bồ nhí… Và còn nhiều khó coi khác, bên cạnh những dễ thương đáng nhớ, đáng noi gương.
Vâng, ở mỗi thời, hoàn cảnh, mỗi tình huống, nhân loại đều có những thánh nhân và ác nhân xuất hiện. Thánh nhân giúp đời, ác nhân hại đời; thánh nhân yêu đời, yêu người, ác nhân ghét người, hận đời, và khác biệt ngàn đời, ở mọi nơi giữa thánh nhân dễ thương và ác nhân khó coi, khó nhìn mãi là một bên thiếu lòng nhân, một bên đầy nhân ái: thánh nhân có trái tim biết chạnh lòng, ác nhân chỉ là cõi lòng vô cảm, héo khô, cằn cỗi tình người.
Jorathe Nắng Tím

TÌNH NGHĨA

Suy niệm “Sáng Sớm Phục Sinh
Hạnh phúc sâu thẳm và bền bỉ nhất của một người là biết mình không bị bỏ rơi trong khủng hoảng thử thách, bị quên lãng trong tang thương thất bại, bị bạc đãi khi sa cơ thất thế, nhưng trong hoàn cảnh bi đát nhất, tận đường cùng thê lương nhất vẫn có người chia sẻ tình nghiã. Và Tin Mừng Gioan đã thuật lại hạnh phúc của hai người rất tình nghiã vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, ngay bên phần mộ, đã gặp gỡ, âu yếm gọi tên nhau.
“Bà Maria Mácđala đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc. Bà vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần măc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt thi hài của Đức Giêsu”… Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc?” Bà thưa : “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!”. Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu. Đức Giêsu nói với bà: “Này bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” Bà Maria tưởng là người làm vườn liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về”. Đức Giêsu gọi bà: “Maria!”. Bà quay lại và nói bằng tiếng Hípri: “Rápbuni!” (nghiã là ‘Lậy Thầy!’) (Ga 20,11-16)
Đọan Tin Mừng trên đã không chỉ tình nghiã ở khung cảnh, mà còn tình nghiã ở con người và thái độ:
1.   Khung cảnh tình nghiã:
Người ta vẫn nói: khi họan nạn, gian nan mới biết ai tình nghiã, nên đến với nhau ở những hoàn cảnh đau ốm, chết chóc, tìm nhau ở khung cảnh của bệnh viện, nhà xác, mộ phần thì chắc chắn khó có thể tình nghiã hơn, bởi người đời thường tìm nhau chốn vinh quang, quyền thế, khi người này còn hy vọng được người kia cất nhắc, người tìm cơ hội còn đặt kỳ vọng ở người có khả năng “ban ơn mưa móc”.
Thực vậy, hầu hết người ta tìm đến nhau, qua lại “thân thiết” với nhau, tỏ ra “tình nghiã” với nhau khi hai bên còn có lợi, nhưng chỉ cần một bên nhìn ra bất lợi sẽ về mình, nhận ra nguy hiểm sẽ dạt trôi theo mình thì lập tức “tình nghiã đôi ta chỉ thế thôi”. Và đó là câu chuyện thường tình của tình đời, mà ai cũng một lần thấm thía cảm nghiệm.
Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, tức vào ngày thứ ba sau khi Đức Giêsu chết, bà Maria Mácđala hối hả ra thăm mộ Ngài. Chắc chắn bà thương nhớ Đức Giêsu lắm, và lúc này tình yêu trong bà đột nhiên cháy bùng, khi bà nhớ lại khung cảnh tình nghiã trước mộ phần của Ladarô, em trai bà hôm nào ở Bêtania.
Hôm ấy, Đức Giêsu, người bà thương mến, và cũng thương mến bà đã đến tận Bêtania, nơi chị em bà cư ngụ, cũng là nơi Đức Giêsu cùng các môn đệ thường ghé nghỉ ngơi trên đường truyền giáo. Nghe tin Ladarô bệnh nặng, nhưng Đức Giêsu chỉ về chia buồn cùng hai chị em, sau khi đã an táng Ladarô.
Tuy không về kịp khi Ladarô còn nằm bệnh, nhưng trở về chia buồn hôm ấy, sau khi Ladarô đã chết được bốn ngày, Đức Giêsu đã biểu lộ một tình cảm đặc biệt như Tin Mừng Gioan kể: Trên đường ra viếng mộ, thấy cô Maria “khóc, và những người Do Thái đi với cô cũng khóc, Đức Giêsu thổn thức trong lòng, và xao xuyến. Người hỏi: “Các người để xác anh ấy ở đâu?” Họ trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem”. Đức Giêsu liền khóc. Người Do Thái mới nói:“Kìa xem! Ông ta thương anh Ladarô biết mấy!” (Ga 11,33-36).  
Nhớ lại con người tình nghiã đã đến tận nghiã trang, trước phần mộ, và gọi em mình ra khỏi mồ hôm ấy (x. Ga 11,43), Maria Mácđala bỗng nghe trào dâng trong hồn niềm thương nỗi nhớ, và quặn thắt trong tim cơn đau mất Đức Giêsu, con người tình nghiã, cũng là người bà đã trao dâng hết tình yêu, và sống trọn vẹn tình nghiã của một người môn đệ.
2.   Con người tình nghiã:
Tin Mừng Gioan cho chúng ta biết: “Đức Giêsu qúy mến cô Mácta cùng hai người em là cô Maria và anh Ladarô” (Ga 11,5). Và chị em của gia đình này cũng rất tình nghiã với Ngài, đặc biệt là cô Maria. Bằng chứng là Ngài chọn gia đình cô là nơi thân tín, chỗ đáng tin cậy, và năng lui tới nghỉ ngơi.  
Tình nghiã với Đức Giêsu, cô Maria Mácđala không chỉ là người tâm giao, môn đệ trung tín luôn khao khát lắng nghe Đức Giêsu (x. Lc 10,39), mà còn thường xuyên cùng Đức Maria, thân mẫu của Đức Giêsu có mặt trên hành trình truyền giáo của Ngài. Nhưng tình nghiã hơn cả là suốt đường Thương Khó, cũng như dưới chân Thánh Giá giờ hấp hối của Đức Giêsu, cô Maria Mácđala đã luôn có mặt với Mẹ Ngài, và không rời Đức Giêsu một bước (x. Ga 19, 25).    
Qủa thực, không thể chối cãi tình nghiã của cô Maria Mácđala đối với Đức Giêsu, và cũng không thể phủ nhận tình nghiã sâu thẳm Đức Giêsu dành cho người môn đệ nữ này, điều mà Tin Mừng đã cho chúng ta biết, mặc dù có giả thuyết cho rằng có ba cô Maria khác nhau đã được nói đến trong Tin Mừng: Maria người đàn bà tội lỗi đã lấy nước mắt lau chân Chúa và được Chúa tha thứ, Maria quê ở Bêtania, em của cô Mácta và chị của anh Ladarô, người được Đức Giêsu cho sống lại, và Maria Mácđala.
Về vấn đề này, truyền thống của Giáo Hội công giáo từ thế kỷ thứ sáu đã chính thức nhìn nhận Maria Mácđala và Maria quê ở Bêtania, em gái của Mácta và chị của Ladarô là một người, dựa vào những điểm chung giữa “Maria Mácđala, người đàn bà tội lỗi” và “Maria quê ở Bêtania”. Đó là tính đôn đả, mau mắn, chăm chú lắng nghe, và tình cảm sâu đậm gắn bó với Đức Giêsu.
Nhưng điểm quan trọng Giáo Hội dựa vào để qủa quyết Maria Mácđala, người đã lấy nước mắt và tóc lau chân Đức Giêsu và Maria quê Bêtania, em gái Mácta là một, đó là những gì nhận được từ Tin Mừng Gioan:
Phần đầu của trình thuật Ladarô được Đức Giêsu gọi ra từ mồ, thánh sử Gioan đã viết: “Có một người bị đau nặng, tên là Ladarô, quê ở Bêtania, làng của hai chị em cô Mácta và Maria. Cô Maria là người sau này sẽ xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Anh Ladarô, người bị đau nặng là em cô” (Ga 11,1-2).
Và ngay sau đó, ở chương 12, thánh Gioan kể về sự kiện xức dầu thơm tại Bêtania: “Sáu ngày trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu đến làng Bêtania, nơi anh Ladarô ở. Anh này đã được Người cho sống lại từ cõi chết. Ở đó, người ta dọn bữa ăn tối thết đãi Đức Giêsu; cô Mácta lo hầu bàn, còn anh Ladarô là một trong những kẻ cùng  dự tiệc với Người. Cô Maria lấy một cân dầu thơm cam tùng nguyên chất và qúy giá  xức chân Đức Giêsu, rồi lấy tóc mà lau. Cả nhà sực mùi thơm. Một trong các môn đệ của Đức Giêsu là Giuđa Ítcariốt, kẻ sẽ nộp Người liền nói: “Sao lại không bán dầu thơm đó lấy ba trăm quan tiền mà cho người nghèo?” (Ga 12,1-5).
Trả lời Giuđa khi ông phàn nàn về việc cô Maria đã lấy dầu thơm đắt tiền mà rửa chân mình, Đức Giêsu đã nói: “Hãy để cô ấy yên. Cô đã giữ dầu thơm này là có ý dành cho ngày mai táng Thầy. Thật vậy, người nghèo thì bên cạnh anh em lúc nào cũng có, còn Thầy, anh em không có mãi đâu” (Ga 12,7-8).
Nói với mọi người đang dự tiệc điều này, Đức Giêsu đã công khai trao phó cho Maria Mácđala sứ mệnh vô cùng quan trọng, đó là trở lại “tuần tới” để an táng Ngài. Và đó cũng là lý do cô Maria Mácđala đã khóc sướt mướt, khi không thấy xác Đức Giêsu tảng sáng Phục Sinh, khi cô ra mộ với “dầu thơm đã chuẩn bị sẵn” (x. Lc 24,1).
Riêng Tin Mừng Matthêu còn nhấn mạnh hơn sứ mệnh của Maria Mácđala, như củng cố những gì Tin Mừng Gioan qủa quyết qua lời Đức Giêsu: “Cô ấy đổ dầu thơm trên mình Thầy là hướng về ngày mai táng Thầy. Thầy bảo thật anh em: Tin Mừng này được loan báo bất cứ nơi nào trong khắp thiên hạ, thì người ta cũng sẽ kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô” (Mt 26,12)
3.   Thái độ tình nghiã:
Đức Giêsu luôn tỏ ra tình nghiã với Maria Mácđala. Ngoài những việc làm với tình cảm đặc biệt dành cho cô và gia đình, như cho em trai cô được sống lại, Đức Giêsu còn công khai bênh vực cô trước mọi người, khi họ bực tức, gắt gỏng với cô, vì cô lấy dầu thơm qúy giá, rất đắt tiền đổ trên mình Ngài và lấy tóc mà lau: “Cứ để cho cô làm. Sao lại muốn gây chuyện? Cô ấy vừa làm cho tôi một việc nghiãĐiều gì làm được thì cô đã làm: cô đã lấy dầu thơm ướp xác tôi, để chuẩn bị ngày mai táng” (Mc 14,6-8).
Cũng với thái độ tình nghiã, Đức Giêsu đã âu yếm gọi tên cô “Maria! sáng sớm phục sinh, khi cô mếu máo, sụt sùi năn nỉ: “Nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Ga 20,15), vì tưởng Đức Giêsu phục sinh là người làm vườn.
Phần Maria Mácđala, có lẽ không thể tìm thấy người môn đệ nào tình nghiã với Đức Giêsu hơn cô: tình nghiã khi sống, tình nghiã cả khi đã chết rồi; tình nghiã khi còn dong duổi rao giảng cho đám đông khao khát Tin Mừng, tình nghiã cả khi thất thế, bị theo dõi, truy lùng, bắt bớ, hành hình; tình nghiã trong những ngày êm ả, bình an, tình nghiã cả khi sóng gió phũ phàng, ở đó môn đệ phản bội, đồng bào lên án, thế quyền, thần quyền hợp đồng tiêu diệt.
Vì tình nghiã, cô bất chấp mọi nguy hiểm, đe dọa trong những ngày Đức Giêsu bị bắt bớ, tra tấn, đóng đinh, nhưng có mặt trên từng cây số của đường Thánh Giá, và cô là người môn đệ nữ đã sống những giây phút hấp hối kinh hoàng trên Thánh Giá của Thầy mình.
Hôm nay, tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, hơn ai hết cô đã biểu hiện tận cùng của tình nghiã đối với Đức Giêsu đã chết và mai táng trong mồ, và những giọt nước mắt đầm đià tình nghiã trên khuôn mặt gầy sọm vì thương nhớ Thầy của cô đã bất chợt biến thành những nụ hồng hạnh phúc khi cô nhận ra Đức Giêsu, qua tiếng Ngài gọi cô, và niềm vui phục sinh đã vỡ toang trong trái tim ngập tràn tình yêu của người môn đệ đã bỏ mọi sự mà đi theo Thầy, vì tha thiết yêu mến Thầy, khi cô mừng rỡ kêu lên “Rápbuni! - Lậy Thầy!”.
Tuần Thánh, con đường Thương Khó gập ghềnh những ganh ghét, dối trá, hận thù đã dẫn đến Núi Sọ chết chóc với cây thập tự sần sùi những bạo lực vu khống, bất công như được  khép lại, và kết thúc tất cả trong im ắng, thinh lặng của mộ phần thê lương, sầu thảm.
Tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, nghiã trang vẫn vắng vẻ, buồn thương, lặng lẽ. Chỉ có một điều không ai ngờ là “tảng đá đã lăn khỏi mộ”, và Đức Giêsu đã sống lại từ cõi chết như Lời Ngài đã hứa.
Chính giây phút không ngờ ấy, tình nghiã giữa Đức Giêsu phục sinh và người môn đệ trung tín Maria Mácđala đã gọi tên nhau: “Maria!” - “Rápbuni, Lậy Thầy!”.
Tên nhau cũng là tên của Thiên Chúa Tình Yêu và tên của con người Tình Nghiã, để từ nay, một kỷ nguyên phục sinh được khai mở, ở đó Thiên Chúa biểu lộ tình nghiã dành cho nhân loại qua ơn cứu rỗi tuôn đổ từ sự chết và sống lại của Ngài, cũng như con người  đáp trả bằng thao thức tìm gặp “Đức Giêsu sống lại” với tình nghiã của con thơ đối với Cha, môn đệ đối với Thầy mình.
Jorathe Nắng Tím

Ở với nhau mùa cách ly Covid


Một hiện tượng “tích cực” thời cách ly Covid là gia đình được trăm phần trăm đoàn tụ, khi cha mẹ không đi làm, con cái không đi học, ai ở nhà nấy, và bạn bè không rủ rê bỏ cơm nhà, kéo nhau đi la cà ăn nhậu, bởi có những gia đình quanh năm suốt tháng không có bữa cơm đầy đủ thành viên, từ rất lâu không có một ngày cả nhà thong thả, thư giãn, chuyện trò, nấu nướng, vì ai cũng tất bật kiếm ăn, ai cũng vội vã với miếng cơm manh áo, công danh, sự nghiệp.
Nhưng từ hiện tượng tích cực vừa kể lại vô phúc phát sinh một hiện tượng tiêu cực mới, đó là xung đột vợ chồng gia tăng, căng thẳng giữa cha mẹ - con cái nhẩy vọt, bạo lực gia đình nổi sóng đến nỗi nước Pháp phải báo động và thiết lập ngay một số điện thoại đặc biệt 114 dành riêng cho những phụ nữ bị bạo hành gia đình trong thời cách ly Covid.   
Thế mới biết “ở với nhau” không dễ, và không luôn là điều người ta mong đợi.
“Ở với nhau” không dễ vì có những hôn nhân “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, nên tạm thời nhân nhượng, hoà hoãn sống chung, vì con cái, vì uy tín gia tộc, danh dự gia đình, ràng buộc của tổ chức, nhưng thời gian “ở với nhau” không được  dài, để tránh đụng chạm, gây gỗ. Nay Covid “triệt buộc” hai người, và họ  phải “ở với nhau” suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, và thời gian  đã làm họ căng thẳng đến phát cuồng. Từ đó sinh sự, phát sinh bạo lực gia đình…
“Ở với nhau” không luôn là điều người ta mong đợi, vì ở với nhau kiểu “thoang thoảng hoa nhài” thì còn đẹp, còn tình, còn thơm, còn dễ thở, nhưng “ở với nhau” sát qúa, gần quá, bao trùm qúa, lấn sân qúa thì “ở với nhau” trở nên nặng nề, ngán ngẩm, gượng ép, ngộp thở, và khao khát cháy bỏng của hai người, nhiều người trong gia đình lúc bấy giờ sẽ là “xa nhau ra một chút”, bởi, thỉnh thoảng gặp nhau vẫn hay hơn cả tuần, cả tháng phải gồng mình “ở với nhau”.
Sở dĩ “ở với nhau” không dễ và không luôn là điều mong đợi, vì chấp nhận nhau là việc làm rất khó, đòi phải quên mình, bỏ mình rất nhiều trước người khác, và vì người khác.   
1.   Chấp nhận người khác là phải từ bỏ một phần của mình:
Người khác “khác” mình, bởi giống mình trọn vẹn, như mình từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài thì không còn “người khác”, và không xẩy ra những xung đột trong đời sống chung, vì những khác biệt giữa mình và người khác.
Vì khác nhau rất nhiều từ nguồn gốc gia đình, trình độ, sinh hoạt cuộc sống đến suy nghĩ, tính tình, chọn lựa, nên chấp nhận người khác không luôn dễ, vì khi chấp nhận ai chính là giảm thiểu một phần của mình, từ bỏ một phần thuộc về mình, mà trên đời mấy ai chịu mất mình, quên mình, bỏ mình, nhận thiệt thòi về mình.
2.   Vì khó chấp nhận, nên tìm cách thay đổi người khác:
Chấp nhận cái khác của người khác, bằng chịu hạ mình, nhân nhượng, xuống nước là một cố gắng phi thường ở mọi người, vì ở đời, thiệt thân luôn là điều tối kỵ cần phải tránh. Vì thế, thay vì chấp nhận, phần đông có khuynh hướng thay đổi người khác như ý mình, thay đổi nếp nghĩ, lối sống của người khác cho hợp với sở thích của mình hơn là ép mình, gồng mình chấp nhận “cái khác” của người khác, cho cuộc sống chung êm đẹp, bình an.
Thực vậy, những ngày phải “ở trong nhà”, phải “ở với người nhà”, phải sinh hoạt trong không gian “mái nhà” tuy có “ấm cúng” nhưng không thiếu những lúc “nóng nẩy, nực nội” khiến chúng ta cảm thấy  ngao ngán “ở với nhau”, mệt mỏi ra vào nhìn mãi những khuôn mặt quen thuộc, và có thể bất thình lình nổi quạo, bực bội không chỉ vì căng thẳng, lo âu do đại dịch, mà còn vì những nặng nề, ngột ngạt khi phải “ở với nhau” lâu ngày trong một không gian qúa chật hẹp, nhiều giới hạn.
Để vượt qua khó khăn “ở với nhau” giữa mùa cách ly vì đại dịch, có lẽ không gì tốt hơn là can đảm chọn “chấp nhận nhau” hơn “thay đổi nhau”, vì thay đổi nhau không bao giờ có thể thực hiện, nếu trước đó đã không chấp nhận nhau. Hơn nữa, giữa thay đổi và chấp nhận, mức độ khả thi của chấp nhau vẫn cao hơn thay đổi nhau rất nhiều.
Nhưng để chấp nhận người khác, chúng ta phải khởi đi từ chấp nhận mình, bởi mình mới là nguyên nhân của tất cả thành công, thất bại, cũng như chấp nhận mình mới thực là chià khóa để thành công trong công trình chấp nhận người khác.
Chấp nhận mình trước hết là nhận mình có nhiều giới hạn, kể cả giới hạn của khả năng chấp nhận người khác, và sống chung với họ. Khi nhận mình có giới hạn, thái độ của chúng ta sẽ mềm mỏng, nhẹ nhõm hơn trước những “chướng tai, gai mắt” người khác gây ra. Nhận mình có giới hạn, chúng ta sẽ khiêm tốn, quảng đại hơn để dễ thông cảm, tha thứ, bao dung trước những thiếu sót, chuệch chọac, hậu đậu của người khác. Nhận mình có giới hạn còn giúp chúng ta bình tĩnh, bình tâm hơn khi “ở với nhau” mà không ăn ý, sống với nhau mà cao thấp so le, ở cùng  nhau mà ngang dọc, lên xuống khác chiều.    
Chấp nhận mình chưa đủ, để chấp nhận người khác, chúng ta còn được mời gọi chấp nhận cuộc sống, chấp nhận những biến cố đang xẩy ra quanh mình, chấp nhận cả tình huống làm sợ hãi, hoang mang, bởi khi chấp nhận cuộc sống một cách trung thực và can đảm, chúng ta không còn khó khăn với người đang cùng chung số phận với ta trước cùng một biến cố, cũng không gay gắt đòi hỏi những gì vượt qúa giới hạn của người cùng ta chung sống, bởi cũng như ta, họ có nhiều giới hạn và cuộc sống với những bất ổn, khủng hoảng cũng đè nặng  tâm hồn và khuấy động, đảo lộn sinh hoạt vốn bình thường, bình an của họ, như ta đang bị bủa vây, công kích.     
Những ngày cách ly vì Covid cho chúng ta cơ hội ở nhà, sống trong nhà, ở với người nhà. Tuy cơ hội phát sinh từ tình huống bất đắc dĩ “chống dịch như chống giặc, và ở trong nhà là vũ khí tốt nhất”, nhưng chúng ta vẫn có thể biến cách ly thành cơ hội tích cực: đoàn tụ xum vầy, với tinh thần khiêm tốn, nhẹ nhàng, tế nhị chấp nhận nhau, mà không vì ích kỷ, háo thắng đòi thay đổi nhau bằng mọi giá, bởi không ai có thể thay đổi ai, nếu không yêu thương chấp nhận họ trước đó; không người nào có thể thay đổi được người nào, dù ý chí thay đổi  bốc cao ngùn ngụt, quyết tâm thay đổi cuồng nhiệt như  lửa hoả diệm sơn, hào khí thay đổi hừng hực, hối hả như bước chân ánh sáng.
Mong dịch Covid chóng qua, để mỗi người rút ra nhờ chấp nhận mình, chấp nhận cuộc sống để có thể chấp nhận nhau, từ những ngày ở nhà vì cách ly xã hội, những niềm vui, hạnh phúc từ bấy lâu khép mình, ẩn mình, giấu mình ngay trong nhà, ở người nhà, dưới mái nhà mà chúng ta vô tình không hay biết…
Jorathe Nắng Tím

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

Suy Niệm TUẦN THÁNH với Đức Mẹ

    THINH LẶNG CỦA ĐỨC MARIA, MẸ ĐỨC GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH
Trong suốt trình thuật Thương Khó, Tin Mừng Gioan chỉ kể lại duy nhất một lần về Đức Maria: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria, vợ ông Cơlôpát, cùng với bà Maria Máđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà’. Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh’. Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27).
Tuy không thường xuyên nhắc sự hiện diện của thân mẫu Đức Giêsu trên đường Thương Khó và Tử Nạn của con mình, nhưng mọi người đều hiểu Đức Maria không rời Con mình một bước, không xa con mình một giây, nhất là khi Con bị trói, bị đánh đập, đội mão gai, bị chế diễu, xỉ nhục, bị đám đông đả đảo, tố cáo, bị kết án tử hình, và tự mình vác thập giá đến nơi hành hình đóng đinh.
Không rời xa Con, nhưng “thinh lặng, đứng đó”, thinh lặng có mặt để chết với Con trong giây phút Con rướn mình kêu cầu Chúa Cha và tức tưởi chết trên Thánh Giá.
Thực không còn nỗi đau nào hơn nỗi đau của Mẹ phải đứng nhìn con chết treo, trần truồng như phạm nhân trọng tội; không còn nỗi khổ nào lớn hơn nỗi khổ của Mẹ  phải nghẹn ngào nuốt vào tim tiếng nấc tàn hơi, cạn sức của Con giờ hấp hối; không còn tang thương nào đắng đót hơn cho lòng Mẹ trước thân xác con rũ liệt đầm đià máu và nước từ thương tích của đinh nhọn, lưỡi đòng; không còn nước mắt nào mặn hơn, xót hơn nước mắt của Mẹ khi ôm chặt xác con vừa được tháo xuống từ thập tự.
Đức Maria, Mẹ Đức Giêsu chịu đóng đinh đã có mặt trong mọi tình huống của Con mình với thinh lặng của trái tim cầu nguyện.
Mẹ đã thinh lặng ngay từ buổi Truyền Tin với tâm tình cầu nguyện của nữ tỳ Thiên Chúa: Xin vâng như lời sứ thần truyền (x. Lc 1,26-34); thinh lặng khi bào thai Giêsu do quyền phép Chúa Thánh Thần từng ngày lớn lên mà chồng mình là Giuse chưa được biết (x. Mt 1,18-25); thinh lặng khi “chết lặng” trước lời tiên tri của cụ già Simêon: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35); thinh lặng khi con lạc mất ba ngày ở Giêrusalem, đến khi tìm lại được thì Con lại hỏi: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của cha con sao?” (Lc 2, 49); thinh lặng khi đồng hương Nadarét phẫn nộ tìm cách xô Con mình xuống vực, khi Con về thăm quê (x. Lc 4,28-30); thinh lặng khi đến gặp Con, “mà không làm sao lại gần được, vì dân chúng qúa đông” (Lc 8,19); thinh lặng khi thiên hạ thán phục, ngưỡng mộ Con, mà ca tụng Mẹ: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú” (Lc 11,27); thinh lặng khi Con nghe lời xin của Mẹ mà làm phép lạ cho sáu chum nước biến thành rượu ngon trong tiệc cưới ở Cana, vì nhà đám hết rượu giữa tiệc (x. Ga 2,1-11); thinh lặng dưới chân Thánh Giá, thinh lặng an táng Con, thinh lặng cả sau khi Con sống lại vinh hiển, và khi Mẹ hiện diện giữa Nhóm Mười Hai sau khi Con về trời (x. Cv 1,12-14).
Thực vậy, cuộc đời của Đức Maria, thân mẫu Đức Giêsu chịu đóng đinh là cuộc đời thinh lặng, nhưng không là thinh lặng của trí khôn rỗng tuếch, hời hợt, thinh lặng của tâm hồn vô cảm, lười biếng, thinh lặng của lối sống khép kín, ích kỷ. Trái lại, thinh lặng của Mẹ là thinh lặng của tâm hồn biết lắng nghe tiếng Chúa và “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51), thinh lặng của trái tim trung tín và kiên cường dám đón nhận thánh ý Thiên Chúa, dù “không hiểu lời Người vừa nói” (Lc 2,50), thinh lặng của cõi lòng khiêm nhu, hiền lành chỉ biết một dạ tri ân Đấng Toàn Năng đã đoái thương nhìn tới phận nữ tỳ hèn mọn, và thương xót thực hiện bao điều cao cả (x. Lc 1,48-50); thinh lặng của người tôi trung tận tụy phục vụ đến hy sinh quên mình.
Tóm lại, thinh lặng của Đức Maria là thinh lặng của cầu nguyện, vì tâm hồn cầu nguyện không ồn ào, huyên náo; trái tim cầu nguyện không huênh hoang, nhiều lời; tâm tình cầu nguyện không kiêu căng, tự đắc; thái độ cầu nguyện không biểu diễn, phô trương.
Thinh lặng nơi Mẹ còn là gắn bó hiệp thông với Con là Của Lễ cứu chuộc nhân loại trên Thánh Giá; là tình yêu hiệp nhất nên một trong Hy Lễ duy nhất và tuyệt đối là Đức Giêsu dâng Chúa Cha; là lễ dâng của toàn thể nhân loại được hoà tan như giọt nước trong Máu sinh ơn cứu độ của Thiên Chúa làm người.
Tuần Thánh thương đau có Mẹ, Tuần Thánh lặng lẽ với Mẹ, Tuần Thánh thinh lặng cầu nguyện bên gối Mẹ cũng là đường dài Thánh Giá, cuộc Thương Khó liên lỷ của đời chúng con có Mẹ cùng đi, là lời cầu bé nhỏ, bất xứng của chúng con có thinh lặng bình an của Tình Mẹ.
 Jorathe Nắng Tím  

A WRONGFUL CONVICTION

A WRONGFUL CONVICTION :
GEORGE CARDINAL PELL  - An Innocent Man
                                                  Author : Jorathe Nắng Tím
                                           Translator : A.Prisca

Cardinal George Pell has been freed from prison after Australia's High Court, a full bench of 07 judges, ruled unanimously in Cardinal Pell’s favor, found the jury had not properly considered all the evidence presented at the trial and overturned his conviction on five counts of historical child sex abuse in Brisbane at 10:02 April 7, 2020: He has consistently innocent ! Cardinal Pell, 78, was serving a six-year jail sentence after he was convicted in 2018 of abusing two choirboys in the priests’ sacristy after Mass in Melbourne’s St. Patrick’s Catheral in the 1990s  while he was Archbishop of Melbourne.
Pell was the most high-ranking figure in the Catholic Church to be jailed as part of a wave of court cases around the world against priests alleged to have committed serious sexual misconduct. The quashing of Cardinal Pell’s guilty verdict really brings the relief to the Vatican and the joy for the Universal Church, especially for Australia, where it seems that we cannot find the voice of justice for an innocent person in such a modern time.
Actually, the wrongful convictions are not the things that seldomly happen in the society because of different causes, but above all, they come from the limitations of human beings in terms of some limits of kindness, some limits of the purity of conscience, and and some lacks of the pure of heart, the benevolence and the generosity.
Like Cardinal George Pell, over 2000 years ago, Jesus was also in the list of poor victims who were sentenced to death despite of His innocence. The proof was that Governor Pontius Pilate, the only one who had the authority for the death sentence, in front of the Jews, the chief priests and the Pharisees shouting out loud “Let him be crucified!”, publicly said : “I find no guilt in him” (Jn 18,38). However, under the increasing pressure of the ones who tried to kill Jesus, Pilate once more went out and said to them, “Look, I am bringing him out to you, so that you may know that I find no guilt in him.” (Jn 19,4). Finally, being suppressed by the crowds when the chief priests and the guards saw Jesus, crying out, “Crucify him, crucify him!”, Pilate, though finding no guilt in Jesus, cowardly said to them, “Take him yourselves and crucify him.” (Jn 19,6) Likewise, for the past few years, although most of people have found out George Pell was not guilty and a lot of supporters had long argued that he was not guilty, the voice of justice has been too weak and low to overcome the pressure coming from the accusation of various social classes.     
The most cruel absurdity of the two situations of Jesus and Pell is in that people try to accuse them of what they never have any intention to do. When Jesus taught them to do : Repay to Caesar what belongs to Caesar and to God what belongs to God., he was accused of misleading [his] people; [opposing] the payment of taxes to Caesar and maintaining that he is the Messiah, a king.” (Lk 23,2) In the same way, Cardinal Pell was accused of child sexual abuse when he has made stand against same-sex marriage.  Additionally, people apply the common merely stupid and amateurish strategy to judge and accuse innocent people. We can find in the situation of Jesus, when asked “What charge do you bring [against] this man?” (Jn 18,29), the crow answered “If he were not a criminal, we would not have handed him over to you.” (Jn 18, 30). It is not far from the way Cardinal Pell was accused of child molestation, right in the priests’ sacristy after Mass around the crowd going just nearby, with the only argument : the altar boy said that !
The Way of the Cross or The Passion in the modern society with a lot of violence to accuse innocent people, to judge righteous people, and to break the scale of justice has always welcomed the lowly, the poor, the kind, the merciful, the righteous as the disciples and followers of Jesus, who willingly embrace the final sentence as Jesus “Lamb of God, taking away the sins of the world”.
In unity with the joy of the Universal Church on this event, we offer God great thanks and continue our praying for the other similar disciples, who have been going through difficult and possibly unpleasant challenges just because No disciple is above his teacher, so if they persecuted me, they will also persecute you…. And they will do all these things to you on account of  my name, because they do not know the one who sent me.” (Jn 1,20-21)

KẾT ÁN NGƯỜI VÔ TỘI

                               Đức Hồng Y George Pell, người vô tội
Với tỷ số tuyệt đối 7/7, Tối Cao Pháp Viện Úc tại toà án Brisbane vào lúc 10 giờ 02 phút ngày 07.04.2020 đã quyết định và công bố: Đức Hồng Y George PELL hoàn toàn vô tội. Vào lúc án lệnh vô tội được chính thức công bố, Đức Hồng Y vẫn còn ở nhà tù Barwon gần Geelong, bang Victoria, và trong vài giờ tới, Ngài sẽ  rời nhà tù này, nơi Ngài đã bị giam giữ “vô tội”, sau cáo buộc được đưa ra vào tháng 12 năm 1996 tố cáo Ngài lạm dụng tình dục hai cậu bé giúp lễ trong sáu phút ngay tại phòng áo lễ mở toang cửa, sau thánh lễ Chúa Nhật đầu tiên tại nhà thờ chính toà của tổng giáo phận Melbourne, nơi Ngài là Tổng Giám Mục.
Dòng dã những tháng ngày thụ án, và ngồi tù, Đức Hồng Y George Pell đã là khuôn mặt lớn của Giáo Hội Công Giáo bị bôi nhọ và tổn thương nặng nề, vì vai trò và chỗ đứng quan trọng trong Giáo Hội. Biến cố “vô tội” của Ngài được công nhận và công bố hôm nay thực là niềm vui lớn cho Giáo Hội đã đành, nhưng chính yếu là niềm hãnh diện của nhân loại, đặc biệt nước Úc, tưởng đã không còn tìm được tiếng nói của công lý trong vụ án người vô tội ở thời đại văn minh này.
Thực ra, người công chính bị kết án bất chính, người vô tội bị chụp mũ tội đồ, người đơn sơ, hiền lành bị vu khống oan uổng, nhục nhằn oan sai là chuyện xưa như trái đất, bởi không chỉ vì lòng dạ con người có khi biến thành “lòng lang dạ thú”, mà mắt con người nhiều khi cũng mù loà không nhìn ra sự thật vì nhiều lý do khác nhau, nhưng tựu trung đều xuất xứ từ giới hạn của con người.
Vì lòng tốt bị giới hạn, nên chuyện chơi xấu nhau, đánh lén nhau được coi là bình thường; vì tình người bị giới hạn, nên oan trái, oan uổng là lương thực hằng ngày của người hiền lành, thấp cổ bé miệng; vì độ trong sáng của lương tâm bị giới hạn, nên số người bị hiểu lầm, hiểu sai, chịu thiệt thòi, bất công thì vô số kể; vì tâm hồn vị tha, bao dung, quảng đại bị giới hạn, nên bạo lực lộng hành, người có quyền, có tiền luôn thắng thế và người bé nhỏ, vô tội tiếp tục bị kết án oan sai.
Như Đức Hồng Y George Pell, cách đây hơn hai ngàn năm, Đức Giêsu cũng nằm trong danh sách những nạn nhân đáng thương bị kết án tử hình, mặc dù Ngài hoàn toàn vô tội. Bằng chứng là chính quan tổng trấn Philatô, ngưòi duy nhất có quyền kết án tử hình, trước các thượng tế, Pharisêu và đám đông người Do Thái phẫn nộ đang inh ỏi hò hét yêu cầu bản án tử hình Đức Giêsu: “Đóng đinh nó vào thập giá!” đã công khai tuyên bố: “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy” (Ga 18,38). Nhưng vì áp lực qúa dữ dội của những người quyết tâm giết Đức Giêsu, Philatô lại một lần nữa ra ngoài và nói với họ: “Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông này” (Ga 19,4). Chưa hết, Philatô lại nói với họ lần thứ ba, nhưng lần này thì Philatô hoàn toàn bị quần chúng áp đảo và ông đã hèn nhát nhương bộ họ khi chấp thuận cho họ mang Đức Giêsu đi đóng đinh vào thập giá, mặc dù lương tâm vẫn nói với ông : Ngài là người vô tội: “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy” (Ga 19,6).
Như thế, dù biết chắc Đức Giêsu vô tội, Philatô, vì hèn nhát, vẫn giao nộp Ngài cho thượng tế, kỳ mục, Pharisêu và đám đông a dua, mù quáng đem đi đóng đinh, như những tháng qua, hầu hết mọi người đều nhận thấy Đức Hồng Y George Pell vô tội, nhưng tiếng nói của công lý yếu qúa, hèn qúa, nhu nhược qúa, bị nhiều ràng buộc, áp lực đủ loại, đủ cỡ, đủ phía đã buộc tội  người vô tội, tuyên án tù cho người không hề làm điều xấu xa, gian ác.
Nhưng điều phi lý ghê tởm đã xẩy ra cho cả Đức Giêsu và Hồng Y Pell là người ta đã kết án điều ngược lại. Như Đức Giêsu không hề chống chính quyền Rôma, không một lời khích động dân chúng nổi loạn chống thuế má. Trái lại, Ngài còn đề nghị đồng bào Ngài một cách sống khôn ngoan, dưới ách bảo hộ của đế quốc Rôma, khi nói với họ: “Của Xêda thì trả cho Xêda, của Thiên Chúa thì trả cho Thiên Chúa”. Thế mà người ta lại buộc tội Ngài trước mặt Philatô, đại diện chính quyền Rôma: “Chúng tôi đã phát giác tên này sách động dân tộc chúng tôi, và ngăn cản dân chúng nộp thuế cho hoàng đế Xêda, lại còn xưng mình là Mêsia, là Vua nữa” (Lc 23, 2). Tương tự như người ta tố cáo Đức Hồng Y Pell đã lạm dụng tình dục trẻ em, tức ấu dâm, trong khi ngài là người quyết liệt chống đồng tính. Và thật trớ trêu, người ta đã gán cho ngài cái tội mà chính ngài lên án!
Bên cạnh điều phi lý đáng nôn mửa trên là chiến thuật “mù mờ, lơ mơ” luôn được dùng để tố cáo và lên án người vô tội. Vì không nắm được sai sót của Đức Giêsu, những người mang dã tâm triệt hạ Ngài đã vu vơ tố cáo: “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi chẳng đem nộp cho quan” (Ga 18,30), khi Philatô hỏi họ: “Các người tố cáo ông này về tội gì?” (Ga 18,29). Thật không còn gì vô duyên, vô lý hơn với câu trả lời hoàn toàn không ăn khớp với câu hỏi, vì chỉ là một tố cáo hồ đồ, vu vơ, lơ mơ, mù mờ. Chiến thuật này cũng không khác chiến thuật người ta dùng để tố cáo Đức Hồng Y phạm tội ấu dâm ngay trong phòng áo lễ, sau thánh lễ chúa nhật đông người, với luận cứ: cậu bé giúp lễ nói vậy. Thật trơ trẽn những người cầm cán cân công lý của một xứ sở văn minh, ở đó công lý và nhân quyền được tôn trọng vào bậc nhất trên thế giới!
Đường Thương Khó với bạo lực buộc tội người công chính, kết án người vô tội, bẻ gẫy cán cân công lý vẫn mãi mãi còn đó và tiếp tục đón những bước chân người môn đệ.
Từ bao đời, và ở mọi nơi, trên con đường này, không biết bao nhiêu người “hiền lành, tốt bụng, chất phác, đơn sơ, bé nhỏ” đã bị hàm oan, tù tội, mất mạng… Họ là những người đi theo Đức Giêsu và chịu chung số phận “Chiên vô tội, gánh tội trần gian” của Ngài.
Trong vui mừng chung của Giáo Hội khi Đức Hồng Y George Pell được Tối Cao Pháp Viện Úc trả lại công lý qua phán quyết vô tội, chúng ta hiệp ý tạ ơn Chúa và tiếp tục cầu nguyện cho các môn đệ của Đức Giêsu đang gặp khó khăn, thử thách như Đức Hồng Y, chỉ vì “môn đệ không hơn Thầy”, nên “nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em… Họ sẽ làm tất cả những điều ấy chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” (Ga 15,20-21).
Jorathe Nắng Tím  

Covid-19: “VẪN LUÔN PHẢI LÀ NGƯỜI”

Nói chuyện “là người” với con người thì thật khó quan niệm, vì ai chẳng là người, nên mắc mớ gì phải nhắc chuyện “vẫn luôn phải là người”.
Ấy thế mà trong cuộc sống, không phải lúc nào chúng ta cũng “là người”, hoàn cảnh nào cũng sống xứng đáng là người, tình huống nào cũng cư xử như những con người đích danh, đúng nghiã, nhất là không luôn ý thức mình phải là người ở bất cứ đâu, thời nào, trong trạng thái, cảnh huống, kể cả thử thách, khủng hoảng nặng nề tưởng vượt sức người có hạn.
Nhìn vào hoạt cảnh thế giới, cũng như xã hội quanh ta trong những ngày đại dịch, người ta dễ nhận ra sự khác biệt giữa những người vẫn luôn là người, và những người không còn là người, dù cả hai ở chung một hoàn cảnh, đối diện chung một thách đố, chịu chung một số phận.
Trước đại dịch, có người vẫn “là người” khi chấp nhận thiệt thòi để chia sẻ cơm áo, vật dụng y tế để phòng chống dịch với người khác; có quốc gia vẫn quyết tâm “là người“ khi qủang đại san sẻ với các nước láng diềng, và quốc gia thiếu điều kiện những thiết bị y tế cần thiết để giúp ngăn chặn dịch bệnh; có những đoàn bác sĩ, y tá thiện nguyện trong hoàn cảnh rất ngặt nghèo, khó khăn cho chính họ cũng vẫn muốn “là người” khi bất chấp nguy hiểm của dịch bệnh lên đường đến những nơi  đang cần được cấp thời trợ giúp.
Họ là những người muốn phải “là người” trong bất cứ khủng hoảng nào, dù ảnh hưởng đến chính mạng sống của mình, để qủang đại chia sẻ tình đồng loại với mọi người đang lâm cảnh khốn khó. Họ là những trái tim không biết ngừng đập “nhịp nhân ái”, những bàn tay không biết khép lại trước bất hạnh của tha nhân, những bàn chân luôn hối hả lao vào nơi có nước mắt khổ đau của đồng bào, lăn xả vào chốn thiên tai, nhân tai đang hành hạ đồng loại, mà không ích kỷ ki bo, vun vén, gom góp, tích trữ cho riêng mình.
Bên cạnh những con người vẫn luôn muốn “phải là người” trong mọi hoàn cảnh, là những người không còn muốn là người, không vì ý nghĩ hạ thấp giá trị cũng như ý nghiã cao cả của con người, nhưng vì ích kỷ đã che phủ, bao trùm hết giá trị và ý nghiã nhân bản đó.
Bạn hãy nhìn ra chung quanh để quan sát những con người không muốn là người trong cơn khủng hoảng Covid-19: vì an toàn bản thân, thay vì cùng chung tay với mọi người đẩy lui dịch bệnh, họ chỉ lo cho thân mình, bằng lối sống cực kỳ khép kín, ích kỷ. Họ có thể khép kín đến mức trở nên xa lạ, kỳ thị đối với mọi người; có thể ích kỷ đến độ trở thành những kẻ tiểu nhân, gian tham, lừa gạt, để bảo vệ tuyệt đối an toàn, đảm bảo tuyệt đối an sinh của bản thân. Không thiếu những cảnh “rất khó coi, khó có thể chấp nhận được” ở nhiều người đã không còn muốn “là người” trong cơn khủng hoảng chung của thế giới vì dịch Covid-19 đe dọa.        
Qủa thực, con người lạ lắm… Lạ vì dễ thay đổi mỗi thời: có người ở thời hàn vi  thì dễ thương, hiền lành, khiêm tốn, cởi mở, chơi đẹp với anh em, bạn bè, nhưng đến thời vàng son, thành đạt, thăng quan tiến chức lại tự mãn, cao ngạo, trịch thượng, hống hách, lạnh lùng, khinh bạc, ngang ngược, hung dữ, chém chặt không nương tay; có người thời dăm ba đứa còn chung gác trọ sập xệ, ăn cơm xã hội thì rất qủang đại, rộng rãi, hào sảng, nhưng khi đến thời vinh hiển lại nhìn anh em bằng nửa con mắt, tránh né bạn bè vì không muốn bị làm phiền, và mang tiếng là bạn cũ với những người kém may mắn, không thành công, không vị thế như họ.
Cũng vậy, đang bình an mà rơi vào hoạn nạn chung, đang êm ấm mà chẳng may tai họa đổ về, thì cuộc sống đột biến đổi thay: mạnh ai nấy sống, không ai còn muốn trăn trở, can dự đến chuyện sống còn của người khác.
Vâng, để vẫn mãi là người có lòng nhân ái trong cơn khủng hoảng chung của toàn thể nhân loại, chúng ta phải cố gắng rất nhiều, nếu không, tính ích kỷ sẽ cột chặt tay chân, không cho chân chúng ta đến với người khác, cũng không cho tay chúng ta mở ra ôm lấy và chia sẻ với bất cứ người nào; để trong hoàn cảnh nhiêu khê, thiếu thốn chung của thế giới, vẫn là người có trái tim biết chạnh lòng thương cảm, chúng ta không thể ngừng phấn đấu với tính tham lam vô đáy của mình, để vẫn là người của mọi người, niềm vui của người sầu buồn, nụ cười của người đang mếu máo khóc cho thân phận hẩm hiu, phận số bất hạnh; để vẫn mãi là người có nhân nghiã trong bất cứ giai đọan tuột dốc thê thảm nào của cộng đồng xã hội, chúng ta luôn phải nhắc mình giá trị con người hệ tại ở ước muốn mang lại hạnh phúc cho người khác và nỗ lực thực hiện ước muốn nhân văn, cao đẹp đó.
Vâng, chúng ta phải cố gắng rất nhiều và liên lỷ để “luôn phải là người tử tế, người có lòng, có tâm, có đức”, bởi muốn làm con Phật hay con Chúa, làm con Trời hay làm con của bất cứ thần thánh nào, trước hết và trên hết, chúng ta phải làm “con người”, phải “là người với lòng nhân ái, vị tha.
     Ước mong trong khủng hoảng Covid, chúng ta vẫn không mất nhau, vì còn nhận ra nhau là người.
Jorathe Nắng Tím