Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 20 tháng 9, 2018

Chương X : HUẤN LUYỆN CON BIẾT ĐỨNG LÊN TỪ THẤT BẠI


    Rất ít cha mẹ nghĩ đến việc huấn luyện con mình đối diện với thất bại, và can đảm đứng dậy từ thất bại, mặc dù thất bại là cơm bánh của đời người, bởi có ai làm người mà không nếm mùi thất bại?
    Thất bại là không thành công như lòng mong ước, là sai bét một kế hoạch, là đổ vỡ của công trình đã day công cưu mang, thực hiện. Thất bại do đó là điều không ai chờ đợi, và người ta tìm mọi cách tránh né, tẩy chay. Nhưng thất bại vẫn sừng sững trong cuộc đời, ngang ngược giữa lòng đời, và làm con người ê ẩm, xất bất xang bang. Con cái cũng là người, và như mọi người, con cái không tránh khỏi những lần thất bại, tuy mức độ nặng nề có khác nhau.       Đứng trước thất bại của con cái, cha mẹ có hai thái độ rất khác nhau:
1. Thái độ: không chịu nổi con mình thất bại
      Những cha mẹ nay thuộc hang ngũ chuyên nghiệp làm áp lực trên con, vì muốn con phải hoàn hảo. Thất bại của con với họ là điều không thể chấp nhận, vì trong tâm trí, con cái là những siêu nhân, siêu sao, “siêu quần bạt chúng”, nên không thể lệch đường, lỡ bước; con cái là những thần đồng, thần tượng chỉ biết thành công, thành đạt trong cuộc đời. Vì quá cường điệu và suy tôn con, đồng thời tạo áp lực liên lỉ và nặng nề trên con cái, cha mẹ thuộc diện này đánh mất khả năng chấp nhận con mình thất bại. Thái độ ngạo mạn này của cha mẹ sẽ ảnh hưởng trên con cái, để đến phiên mình, con cái cũng sẽ từ chối thân phận làm người vốn mang nhiều khiếm khuyết và quen thuộc với thất bại để biến thành những người bất mãn, hoặc bất đắc chí khi gặp thất bại. Không chịu nổi sự thật “thất bại” của con, cha mẹ sẽ cho con cảm giác thất bại mà không được ai chia sẻ, ủi an. Rơi vào tâm trạng buồn này, con sẽ rút mình vào vỏ ốc cô đơn, trầm cảm, tự tách biệt khỏi mọi người. Không chấp nhận thất bại của con, vì quá đề cao, tôn thờ con, cha mẹ sẽ cảm thấy mình bị chính con phản bội. Cảm tưởng này dẫn đến thái độ thù nghịch một cách vô ý thức của cha mẹ đối với con cái. Không tiêu hóa nổi thất bại của con, cha mẹ sẽ luôn sống trong bực bội, và khiêu khích chính con mình, bằng la mắng, lãnh đạm, thờ ơ, hoặc xa lạ, không thân thiện.
     Không được cha mẹ chia sẻ, cảm thông, nâng đỡ khi thất bại, bất cứ đứa con nào cũng đều cảm thấy tủi thân, suy sụp tinh thần, vì những ý nghi đen tối về một người cha không còn nhân hậu, một người mẹ không còn thương xót, bao dung. Cha mẹ quên rằng: Bị đẩy vào ngõ tối cuộc đời sau những thất bại, con cái là người buồn nhất, buồn hơn cả cha mẹ, nên rất cần cha mẹ nâng đỡ để có thể trỗi dậy, tiếp tục bước đi. Đường đời ai không vấp ngã? Tình đời ai không một lần cay đắng, rối bời? Chính vì thế, thất bại không xa lạ với kiếp người, và bàn tay yêu thương của cha mẹ mãi mãi cần thiết và quý báu cho đám con nổi trôi, bồng bềnh giữa dòng đời không luôn đẹp như mơ, không êm xuôi, hoàn hảo như gối mộng.

      2. Thái độ: đồng hành với con
     Không lúc nào người ta cần có bạn đồng hành, bàn tay người thân hơn khi ê chề thất bại, bởi thất bại là lúc trơ trọi, chơi vơi, đơn độc, khổ đau nhất. May mắn cho con khi được cha mẹ thấu hiểu nỗi nhục nhằn cay đắng của thất bại, và thương cảm, đồng hành. Sự có mặt của cha mẹ trong những hoàn cảnh bi đát do thất bại là sức mạnh cho con cái trỗi dậy. Sức mạnh ấy mãnh liệt hơn tất cả, và có sức phục sinh con từ mồ sâu thất bại. Cha mẹ sẽ là nguồn sinh lực cho con đang chìm đắm trong nỗi thất vọng, bằng những cử chỉ lặng lẽ, tế nhị như pha cho con ly nước, nắm chặt tay con, yên lặng đi bên con hàng giờ, bởi bất cứ một thể hiện tình cảm nào, dù nhỏ bé, đơn sơ đến đâu của cha mẹ cũng qúy giá và cần thiết cho con trong thử thách của thất bại. Được làm con của cha mẹ biết cảm thông để có mặt đồng hành với con khi con thất bại là diễm phúc lớn lao, và may mắn hiếm có. Những cha mẹ biết thể hiện yêu thương khi con thất bại sẽ qua thất bại:
     a. Dạy cho con ý nghĩa của thất bại trong đời làm người. Đó là ý nghia về giới hạn của thân phận người, những giới hạn mà con người phải can đảm chấp nhận, nếu muốn đời làm người của mình tròn đầy ý nghia, và giá trị.
     b. Dạy con biết bình tĩnh, bình thản, bình an trước thất bại, vì thất bại không là điều ô nhục, càng không là cú đấm nghiệt ngã, định mệnh kết thúc cuộc đời.
    c. Dạy cho con sự thật: Không ai là người hoàn hảo, nhưng giá trị đích thực của “con người hoàn hảo” hệ tại ở cố gắng trỗi dậy liên tục và không ngừng làm tốt hơn.
   d. Dạy con biết tìm ra trong thất bại những giá trị tích cực, như có thất bại mới biết cảm thông người thiếu may mắn, có thất bại mới khiêm tốn, cẩn trọng, có thất bại mới biết mình luôn cần tha nhân.
    e. Dạy cho con khả năng chế ngự nỗi buồn trước những rủi ro, và học hỏi từ thất bại những bai học mới cần thiết để thành công.
Nghiên cứu những yếu tố giúp người trẻ thành công, các nhà tâm lý, xã hội cùng chung quan điểm: cha mẹ là nguồn trợ lực quan trọng và hữu hiệu nhất giúp con vượt qua những thử thách của thất bại để đi đến thành công. Kết quả thống kê khẳng định điều này: 77% người trẻ đã đặt sự nâng đỡ của cha mẹ lên hàng đầu danh sách những yếu tố giúp họ trỗi dậy, đứng lên từ thất bại. Quả thực, thất bại và thành công là hai mặt của thực tế cuộc đời. Cha mẹ giáo dục con để con tự trách nhiệm đời mình, nên không thể bỏ qua lớp học phương cách và thái độ cần phải có khi đứng trưóc thất bại, cũng như thành công. Không biết đón nhận thành công một cách khôn ngoan sẽ biến thành công thành thất bại, cũng như khéo léo chấp nhận thất bại sẽ chuyển bại thành thắng, biến thất bại ra thành công, bởi trong thất bại đã có mầm mống thành công, và trong thành công đã nảy sinh hạt thất bại. Ý thức thất bại là lẽ thường tình, cha mẹ sẽ không dằn vặt khi con thất bại, không đổ tội cho con khi việc không thành, không la rầy, trách mắng vì con hậu đậu làm hỏng việc, không hằn học, lên án nếu chẳng may con lỡ bước sa chân. Tình cha mẹ phải lớn hơn tất cả, cao hơn tất cả, sâu hơn tất cả kể cả yếu đuối, khiếm khuyết, thất bại của con để con không mất niềm hy vọng, và luôn có cơ hội đổi mới, thành công. Thương con khi con thất bại là đưa tay cho con nắm, đưa vai cho con dựa, mở lòng cho con vào nghỉ ngơi, tinh dưỡng. Yêu con khi con thất bại là ân cần, kín đáo băng bó vết thương cuộc đời trong tim con; là thổi vào hồn con cô quạnh, trống vắng ấm áp của tình cha, nồng nàn của tình mẹ. Bênh đỡ con khi con thất bại là không tìm bất cứ giá trị nào khác ngoài con, không nhìn con như vật thể, phương tiện, không coi con như lá chắn, con tin, mà trước sau chỉ một tình thương con vì “con la chính con”. Xã hội bấp bênh kéo theo gia đình chênh vênh. Hệ quả của bấp bênh là một xã hội nhiễu nhương, không có gì bảo đảm, và bên cạnh là gia đình chênh vênh với xác suất tan vỡ ngày càng cao. Trong bối cảnh này, thất bại phải gia tăng, và tuổi đời của nạn nhân sẽ nhỏ hơn. Vì thế, huấn luyện con biết đối diện thất bại, và trang bị cho con một tâm lý vững chắc cũng như thái độ xứng hợp, khôn ngoan để đối phó với thất bại là việc làm cấp bách của cha mẹ. Hầu hết cha mẹ bị ảo tưởng “hoàn hảo” ru ngủ, nên tự trấn an, và tạo cho mình cảm giác an toàn khi giáo dục con cái. Đó là lý do “thất bại” nhanh chóng trở thành một điều cấm ky không được nêu ra, không cần đề cập. Cũng chính vì sự thật về “thất bại” luôn được giấu giếm, ém nhẹm quá kỹ, nên khi thất bại xuất hiện, con cái ngỡ ngàng, bàng hoàng, hoang mang và mau chóng đầu hàng. Tóm lại, huấn luyện con đủ trưởng thành để con hiểu thất bại là gì, và chịu đựng thất bại một cách khôn ngoan và nhân bản, nghia là không để thất bại đánh gục, làm nhụt chí, trái lại, dùng chính thất bại làm bệ phóng cho thành công. Chương trình đao tạo cần nhiều người, nhiều sự, nhưng người cần nhất vẫn là cha mẹ, và thứ không thể thiếu vẫn là tình yêu. Chỉ cha mẹ yêu thương con mới giúp con vượt qua thất bại để thành công.

Quý độc giả vui lòng đọc tiếp chương 11 : http://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/CMYT-chuong11

NHỮNG BẤT NGỜ Ở CỬA THIÊN ĐÀNG


                                      
      
   Đời ai chẳng có những bất ngờ, bất ngờ vui và bất ngờ buồn, bất ngờ may mắn không dám mơ, và bất ngờ xui xẻo chẳng dám nghĩ. Có những bất ngờ làm cuộc đời bỗng chốc lên hương, và những bất ngờ chỉ một phút làm tan vỡ cả một đời. Bay bổng theo cơn gió bất ngờ, tôi mường tượng một bất ngờ mà gần hết cuộc đời cũng chưa bao giờ nghĩ : “bất ngờ ở cửa thiên đàng”.
     Nghe đến bất ngờ ở cửa thiên đàng, có bạn sẽ cười và nói: có chắc được lên thiên đàng không, mà mơ với ngờ ? Tôi vốn lạc quan, nên tin tưởng: Chúa sẽ khó khước từ thiên đàng với những ai đi theo Ngài, dù họ tội lỗi. Và tôi, người Kitô hữu bất xứng, nhưng biết mình đang đi theo Đức Kitô.
    Vừa chợt thấy cửa thiên đàng, bất ngờ tôi thấy nhiều người rất quen như ông bảo vệ già khó tính, bà cụ cuối xóm nằm liệt nhiều năm với đứa con gái mù lòa bẩm sinh, nhất là anh chàng độc thân  hâm hâm, dở dở cứ nhà ai có việc là lao vào làm không công, bất kể chủ nhà có muốn hay không. Giúp không công đã đành, anh còn  làm không ăn, nên cứ đến giờ cơm là thong thả về nhà lục cơm nguội, rồi trở lại hùng hục “vác tù và hàng tổng”.
    Vừa đến cửa thiên đàng, bất ngờ tôi nhận ra trong đám đông các thánh của Thiên Chúa người hàng xóm đông con, nghèo nàn, làm nghề hốt rác, mà quanh năm suốt tháng chỉ ăn cơm độn, với rau muống luộc chấm nước muối. Nghèo đến độ cả hai vợ chồng khi chết, lối xóm phải đóng góp mua hòm, lo liệu hoả thiêu.
    Vừa vào cửa thiên đàng, bất ngờ tôi nghe có người  réo tên tôi với niềm vui khôn tả. Thôi đúng rồi, chị ấy là người tôi ghét nhất ở thế gian.Tôi ghét vì chị vô duyên và chẳng bao giờ tỏ ra thân thiện với tôi, nhưng hở ra là sửa lưng, lên lớp, giáo điều, chỉ bảo, trách mắng. Nhưng hôm nay, sao chị  rực rỡ, tươi tỉnh , thân thương, trìu mến đến như vậy ?   
     Vừa qua ngưỡng cửa thiên đàng, bất ngờ tôi được cả đám đông chực sẵn uà ra đón. Ai nấy đều vui như tết, và  không giấu được xúc động khi thấy tôi. Tôi nhận ra từng người và tất cả đều là những người tôi không thích, từ chối giao du khi còn sống, bởi với tôi, họ là những người xấu, từng ra vào nhà tù, trại cải tạo, trung tâm Phục Hồi Nhân Phẩm, cả đến ba mẹ tôi cũng  khinh họ ra mặt, và xếp họ vào thành phần bất hảo, tệ đoan xã hội, phá làng phá xóm và công khai cấm tôi liên hệ. 
    Vừa lọt sau cánh cửa thiên đàng, bất ngờ tôi gặp những người lương dân ở Xóm Chùa mà sáng nào tôi cũng gặp trên đường đi làm. Bên cạnh họ, tôi còn bất ngờ hơn khi thấy nụ cười rạng rỡ hạnh phúc của người thanh niên bị người yêu bỏ đi lấy chồng đã thắt cổ tự tử  hôm nào, người mà cả xóm đạo đều qủa quyết  “mất linh hồn, sa hoả ngục”, và cha xứ đã không cho đem xác vào nhà thờ.
    Vừa bước lên thềm cửa thiên đàng, bất ngờ tôi thấy ông Tám bán vé số, người đã được mấy chị trong hội Đạo Binh Đức Mẹ rửa tội tại nhà ít phút trước giờ chết, được hội thiện nguyện Phật Tử cho hòm chôn, nhưng lại bị ông chủ tịch Hội Đồng Giáo Xứ giật phăng miếng bảng nhỏ ghi  hàng chữ : “Cầu cho Linh Hồn Giuse” gắn ở đầu quan tài, vì theo ông: “rửa tội kiểu này thì không thành”. Và đã không thành thì làm sao được mang tên thánh ? 
  Thật  nhiều bất ngờ với tôi ở cửa thiên đàng.Có những người tôi tưởng ở hoả ngục thì nay đang ở đây, tươi cười, thân thiện đón tiếp tôi. Có những người tôi nghĩ đã bị Chúa phạt từ đời nào, thế mà hôm nay tôi lại gặp họ rạng rỡ, hân hoan ân cần dắt tay tôi vào thiên đàng. Có những người tôi đoán không thể mon men đến cửa thiên đàng được, vì cha xứ đã nhiều lần công khai ra “vạ tuyệt thông”, dân xứ xa lánh, chết không kèn trống, không hội đoàn tiễn đưa, thế mà họ lại ở đây vui mừng, hạnh phúc. Có những người vô danh tiểu tốt, không nổi đình đám, suốt đời chẳng được ai tuyên dương, nhắc nhở, thế mà họ lại chiếm đa số cư dân thiên đàng. Nhìn họ sung sướng, mà lòng tôi khấp khởi vì qúa nhiều niềm vui bất ngờ !
   Nhưng bất ngờ lớn nhất mang lại niềm vui vĩ đại khôn lường, đó là tất cả mọi người ở đây đều rất vui, rất hiền, rất thân thiện, rất yêu thương. Ai cũng phấn khởi, mừng rỡ với niềm vui tròn đầy, tuyệt đối. Nét mặt ai cũng sáng ngời, tươi rói một niềm vui chung. Họ vui với nhau, hiền hậu với nhau, thân thiện với nhau trong một thứ tình yêu kỳ diệu, bao la, không thể tả. Và tất nhiên, ai nấy đều vô cùng hạnh phúc !
    Hạnh phúc ấy họ chia sẻ hết với tôi, khi tay bắt mặt mừng, chuyện trò rôm rang. Tôi càng bất ngờ hơn, vì ở đây ai cũng  yêu thương tôi, dù tôi là lính mới. Những người ngày xưa ở dương thế đã không thiện cảm, nhưng kiếm chuyện, ganh ghét, từ bỏ tôi cũng không giả ngơ, làm mặt lạnh, xa lánh, nhưng ân tình, niềm nở chia sẻ hạnh phúc với tôi. Cả những người tôi “ghét cay ghét đắng”, đã  nhiều lần thề “không đội trời chung” cũng không chấp nhất gì, nhưng dễ thương và ân cần đón tiếp. Tôi thật sự bất ngờ, vì qiá nhiều bất ngờ dồn dập, những bất ngờ kỳ diệu, những bất ngờ hạnh phúc, những bất ngờ yêu thương.
      Vào hẳn cửa thiên đàng, tôi tột cùng bất ngờ khi Thiên Chúa Ba Ngôi ôm lấy tôi, như người cha nhân hậu đã ôm chầm đứa con hoang đàng ngày trở về. Tôi chỉ còn biết sụp xuống chân Thiên Chúa mà hạnh phúc kêu lên: Lậy Chúa là Thiên Chúa của con !
     Thiên Chúa của con đã không là thiên chuá chấp tội, nhưng khoan dung, nhẫn nại đợi chờ. Thiên Chúa của con đã không là thiên chúa đoán phạt, nhưng xót thương, cứu độ. Thiên Chúa của con đã không là thiên chúa quên lời hứa cứu độ và nhớ tội lỗi xưa, nhưng là Thiên Chúa nhớ lại Lời xưa Giao Ước và quên hết mọi lỗi lầm.
  Vì thế mà con đã đi từ bất ngờ này đến bất ngờ kia, khi đến cửa thiên đàng, và chỉ ở đây, con mới biết Thiên Chúa nhân hậu dường nào và yêu thương biết bao !
Jorathe Nắng Tím

THÁNH MAT-THÊU,TÔNG ÐỒ,TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG


          
NGƯỜI GIẦU CỦA THIÊN CHÚA
       Chúng ta thường chỉ  nghe “người nghèo của Thiên Chúa”, mà  ít nghe,  đúng hơn là chưa hề nghe “người giầu của Thiên Chúa”, phần vì thành kiến người giầu là người xấu, không được Thiên Chúa thương, phần vì chính người giầu đa phần dễ ghét, khó thương vì sang chảnh, kênh kiệu, khinh người, chưa kể nhiều người giầu đã làm giầu bằng mồ hôi, xương máu của người khác với đủ mánh khóe tham ô, bóc lột.
      Qủa thực, ở đâu và thời nào, người nghèo cũng chiếm đa số, nên thiểu số người giầu luôn là tầm ngắm của số đông cơ cực, thiếu thốn. Người giầu, vì giầu nên nổi bật, trồi cao, trội hẳn trên đám đông. Người giầu ở trên cao vì có nhà nhiều tầng chót vót; người giầu ra vào quan cách, vì “phú qúy sinh lễ nghiã”; người giầu không đi đứng một mình nhưng hoành tráng với “kẻ đưa người đón”, trống phách, xe con xe lớn; người giầu không bừa bãi, dễ dàng xuất hiện, nhưng cẩn trọng từng bước đi, nghiêm ngặt từng lộ trình với đội bảo vệ  hộ tống. Nói chung, người giầu là giai cấp “tiền rừng bạc bể, ăn trên ngồi trước, nhà cao cửa rộng, tiền hô hậu ủng, vinh sang phú qúy”, nên lời nói của họ là sức mạnh, và ý muốn của họ mọi người phải nghe theo. Vì thế, người giầu dễ bị đám đông cô lập, và dễ tự tách mình khỏi đám đông. Điều này đã triền miên tạo nên mâu thuẫn rất  khó  hoá giải giữa một nhóm giầu và đa số quần chúng nghèo, dòng dã suốt lịch sử lâu dài.
     Cũng chính vì mâu thuẫn tự phát, tự sinh hầu như tự nhiên và qúa dễ dàng này, mà những người đầu cơ chính trị đã triệt để khai thác lòng căm thù của người nghèo đối với người giầu cho mục đích không mấy tốt đẹp của họ, khi thúc đẩy người nghèo chống lại và tìm cách tiêu diệt người giầu, tạo nên cuộc đấu tranh giai cấp giầu - nghèo và gây ra những cuộc thư hùng đẫm máu giữa hai giai cấp bị coi là đối nghịch.
     Sống trong xã hội và hít thở bầu khí đấu tranh này, ít nhiều chúng ta cũng bị ảnh hưởng, khi thành kiến với người giầu, khi đánh giá thấp tất cả người có của, khi buông thả để lòng căm phẫn nhen nhúm, khi để bộc phát nhanh chóng phong trào lên án người nhiều tiền, khi sẵn sàng bùng nổ  lòng ganh ghét người giầu bằng bạo động, khi nguyền rủa và tuyên án hoả ngục cho những ai không nghèo như mình.
    Nhưng hôm nay, Đức Giêsu đã cho chúng ta một cái nhìn mới về người giầu:  “Đi ngang qua trạm thu thuế, thấy một người tên là Mátthêu đang ngồi tại trạm. Người bảo ông : Anh hãy theo tôi ! Ông đứng dậy đi theo Người”.
     “Khi Đức Giêsu đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ”. Thấy vậy những người Pharisiêu nói với các môn đệ Người rằng : “Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy ?” Nghe thấy thế, Đức Giêsu nói : “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Ta muốn lòng nhân chứ không cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi”. (Mt 9, 9-13).
    Chắc chắn cái nhìn mới mà Đức Giêsu muốn chúng ta có hôm nay hoàn toàn khác cái nhìn chúng ta đã bắn thẳng vào người giầu trước đây. Cái nhìn mới ấy đề nghị chúng ta thay đổi tư duy và thái độ đối với người giầu có mặt quanh chúng ta, trong đời sống hằng ngày.
    Trước hết là thái độ tôn trọng như Đức Giêsu đã tôn trọng người thu thuế tham ô Mátthêu khi Ngài lên tiếng gọi ông làm môn đệ của Ngài. Không tôn trọng, Ngài đã không đến gặp ông ở trạm thu thuế và tín nhiệm gọi ông đi theo Ngài. Không chỉ tôn trọng, tín nhiệm, Đức Giêsu còn gần gũi, hoà đồng, chia sẻ, khi đồng bàn với cả nhóm thu thuế của ông và nhiều người tội lỗi khác ở nhà ông. Thái độ không cô lập, xa lánh, tẩy chay, miệt thị, khinh bỉ, hay nguyền rủa, lên án những người thu thuế và tội lỗi của Đức Giêsu đã nói lên tấm lòng bao dung, yêu thương và tin tưởng ở “ơn đổi mới” của Ngài. Và để sáng tỏ chọn lựa nhân từ, nhân ái ấy, Đức Giêsu đã tự nhận mình là thầy thuốc đến để chữa lành những ai đau ốm, bệnh tật. Đây cũng là bài học Chúa dậy chúng ta: Hãy nhân hậu, bao dung với người giầu, vì Thiên Chúa luôn bao dung, nhân hậu với ta và với mọi người, bất kể họ là ai.    
     Thiết tưởng cuộc đấu tranh giai cấp giầu - nghèo  không thể có trong chương trình sống của người Kitô hữu, và chúng ta không thể như những người đầu cơ chính trị triệt để khai thác những rạn nứt căng thẳng và nguy hiểm giữa người giầu và người nghèo, nhưng như Đức Giêsu với lòng nhân từ, với cuộc sống nhân nghiã, với trái tim nhân ái, với thái độ nhân hậu, chúng ta tôn trọng, đồng hành và cầu nguyện cho mọi người, trong đó có cả “những người giầu” không nghèo như chúng ta.
Jorathe Nắng Tím

Chương IX : CHA MẸ HIỀN LÀNH ĐỂ ĐỨC CHO CON


    Có một điều không cha mẹ nào nói ra, nhưng tất cả đều ưu tư, lo lắng, đó là đạo đức của chính mình, nhất là tuổi già khi sồng sộc đến, và con cái ngày càng lớn khôn.
   Lý do của ưu tư, lo lắng, băn khoăn, kể cả hối tiếc về  đạo đức, chính là cái nhìn của con, thái độ của con, và  tương lai của con.
1.  Cái nhìn của con 
    Ngày xưa khi con còn bé bỏng, cha mẹ sống thế nào cũng được, nhưng con càng lớn, cái nhìn “đặt vấn đề,  nhận định vấn đề, phân tích vấn đề, phán đoán vấn đề” của con không cho phép cha mẹ sống tự do “như ý” nữa, nhưng phải theo một khuôn khổ đạo đức. Nhìn cha bê tha rượu chè, ngất ngưởng say xỉn sáng chiều ở quán  nhậu, con sẽ nhìn cha bằng đôi mắt trách móc rất buồn. Thấy mẹ bon chen, gian dối, con sẽ tủi thân, xấu hổ, coi thường. Cái nhìn của con cái là điều cha mẹ ngại  hơn tất cả. Người đan ông không sợ cái nhìn của vợ khi  ông phạm tội, nhưng run rẩy trước cái nhìn của con ông,  cũng như người mẹ có tội không kinh hãi gì cho bằng cái  nhìn chất vấn của con bà, bởi con cái là tấm gương, qua  đó cha mẹ thấy mình rõ nhất, nghiêm minh nhất, đáng  sợ nhất. Đó là tấm gương trung thực, chính xác, nhưng  cũng tinh vi, tường tận có sức làm cha mẹ ngã gục trước  ngây thơ, trong sáng của con.
2. Thái độ của con 
     Cha mẹ thiếu đạo đức thường né tránh con, vì thái  độ của con như gai nhọn làm nhức nhối lòng cha mẹ,  khi cha mẹ không đạo đức. Ai cấm con cái tỏ thái độ  vui, buồn, đồng tình, phản đối trước hành vi của cha mẹ. Nếu cha mẹ đạo hạnh, thái độ của con sẽ là yêu mến,  kính trọng; trái lại, cha mẹ vô trách nhiệm, lười biếng,  gian tham, lừa lọc, bạo hành, bất trung, bất nghia sẽ bắt  buộc con có thái độ không tin tưởng, dè dặt, kể cả khinh  thường và xa tránh. Thái độ của con cái nói lên yếu tính  “đạo đức” của ơn gọi làm cha mẹ, vì đã làm cha mẹ,  người ta không thể chối bỏ đạo đức, bởi một trong những  nghia vụ hàng đầu của cha mẹ là giáo dục, huấn luyện  con thành những người tử tế, đạo đức, đạo hạnh. Thử hỏi  không đạo đức, cha mẹ có chu toàn được bổn phận của  nhà giáo dục?
     Đàng khác, con cái cần nơi cha mẹ một tấm gương, một đuốc sáng, một ngọn hải đăng để sống và tiến bước mà không sợ lạc đường, mất hướng trên hành trình cuộc đời. Mất cha mẹ “đạo đức”, con cái bị thiệt thòi, và hụt hẫng trước vô vàn những cám dỗ, cạm bẫy nguy hiểm của tội ác, sa đọa trên đường đời.
  3. Tương lai của con 
    Tương lai của con là ẩn số lớn đối với cha mẹ. Tương  lai ấy không chỉ hệ tại ở khả năng học hành, tháo vát, khôn ngoan trong ứng xử của con, mà còn tùy thuộc  không ít vào đạo đức của cha mẹ. Có được cha mẹ đạo đức, con cái không chỉ an tâm, hạnh phúc, mà còn hãnh diện với mọi người, nhất là bạn  bè cùng trang lứa. Con sẽ vui mừng biết bao khi được  mọi người kính trọng, vì là con của cha mẹ có tiếng đạo  hạnh, tử tế. Con sẽ vinh dự biết bao khi được nghe người  khác ca tụng công đức của cha mẹ mình. Con sẽ phấn  khởi thế nào khi đi đến đâu cũng được nhiều người giúp đỡ, trân trọng, chỉ vì là con của cha mẹ đáng phục, đáng  yêu, đáng kính bởi mọi người. Và con sẽ dễ dàng thành công trong cuộc sống gấp nhiều lần người khác, vì xuất  thân từ gia đình tốt, cha mẹ đức độ, con cái hiếu thảo, anh chị em hiền hậu, thương yêu nhau. Đạo đức của cha mẹ kéo theo đạo đức của cả nhà, là đầu tàu cho cả dòng dõi con cháu đức độ. Vì thế, khi cha mẹ không đạo đức, cả con tau gia đình sẽ chìm, và nhiều  thế hệ con cháu sẽ chơi vơi, chao đảo. Đó là lý do mà người ta thường cho rằng: “đời cha ăn  mặn, đời con khát nước”. Thực ra thì ai ăn mặn, người ấy  khát nước, nhưng vì tương quan cha mẹ - con cái là một  tương quan rất đặc biệt vì khăng khít huyết thống, gắn bó dòng dõi, nên ảnh hưởng lớn và chặt trên nhau. Cha mẹ sinh ra con, nên máu huyết con là máu huyết cha mẹ;  cha mẹ tạo nên hình dạng con, nên trong con có tất cả  “chất liệu” của cha mẹ. Vì thế, không một liên đới nào  gần gũi, sâu sát, mật thiết hơn liên đới cha mẹ - con cái. Cũng vì ảnh hưởng nhiều và mạnh mẽ trên nhau, nên đời  con khó ra khỏi đời cha mẹ, và việc làm tốt xấu của cha mẹ luôn gây âm vang lớn, chấn động cao trên đời con.  Khi đề cập đến một thành viên của gia đình, người  ta không thể gạt bỏ ảnh hưởng của cha mẹ, vì bất cứ ai,  ở bất cứ nơi nào, khi thiết lập một quan hệ với một người  mới, người ta luôn tìm về nguồn cội của người này, và  nguồn cội phải tìm trước hết chính là cha mẹ. Nếu cha  mẹ hiền lành, con cái khó có thể hung dữ. Nếu cha mẹ  thuộc giai tầng “đá cá lăn dưa” thì lấy đâu con thuộc  hàng “trâm anh, thế phiệt”? Không hẳn: “Con vua thì  lại làm vua, con ông sãi chùa lại quét lá đa”, nhưng thực tế cũng không mấy xa “kinh nghiệm nhân gian” này, khi con cái của cha mẹ đạo hạnh luôn là những đứa con  thành nhân trong xã hội, thành công trong hôn nhân,  cũng như thành đạt trong đời sống nghề nghiệp.
    Thực ra, khi làm cha mẹ, không ai không băn khoăn về hạnh phúc của con mình, và băn khoăn ấy tăng gấp bội khi vấn đề đời sống cá nhân của cha mẹ được đặt ra. Cha mẹ đặt ra vấn đề đạo đức cho chính mình, vì đó là tiếng nói của lương tâm, đặc biệt lương tâm của người mang ơn gọi làm cha mẹ, người giáo dục. Lương tâm  hối thúc cha mẹ nhìn lại mình, kiểm tra lại đời mình, kiểm điểm nếp nghi, nếp nhà “quá khứ” của mình, vì  hạnh phúc của con, bởi cha mẹ thừa biết: Con cái sẽ tủi  hổ khi thấy cha mẹ thiếu đạo đức, khi nghe thiên hạ đồn  thổi tiếng xấu về cha mẹ mình, khi cảm nghiệm cha mẹ không xứng đáng với thiên chức “Đấng sinh thành”, khi  linh cảm một ngày mai không mấy tươi sáng, vì nếp nhà  đạo đức ngày càng xuống cấp, dột nát, suy sụp. Cha mẹ đặt lại vấn đề đạo đức cho chính mình, vì con cái không “buông thả” cha mẹ trong những thói quen  không đạo đức, bởi chính lương tâm của con cái réo gọi,  đòi hỏi. Nhiều cha mẹ mất hẳn thế đứng “rường cột” của gia đình, vì mặc cảm tội lỗi khi biết mình không xứng  đáng với chỗ đứng và bổn phận làm cha mẹ. Không thiếu  những cha mẹ ngậm đắng nuốt cay phải “bó tay đao ngũ” khỏi cương vị “cầm cân nẩy mực” của người lãnh đạo gia đình, vì không chịu nổi những cái nhìn “chất vấn” của con cái. Đây là thảm kịch tinh thần đau đớn nhất mà cha mẹ phải gánh chịu, nếu chẳng may rơi vào tình trạng  thiếu đạo đức trong đời sống. Nhiều người trốn gia đình, bỏ con cái đi biệt tăm không phải vì không thương con, cho bằng vì không chịu nổi đắng đót, cay nghiệt từ thái  độ “không còn kính trọng” của con cái. Cha mẹ tự đặt vấn đề đạo đức của mình, khi cảm  nghiệm một cách siêu nhiên ảnh hưởng của mình trên con cái, như khi cha mẹ ăn chơi, sa đọa thì con cái học hành xuống dốc, bầu khí gia đình lộn xộn, căng thẳng; trái lại, khi đạo đức, chuyên chăm cầu nguyện, bác ái, vị tha thì con cái thành công mọi mặt, và phúc lộc như đổ  xuống trên mọi người trong nhà. Cha mẹ tự đặt lại vấn đề đạo đức, vì đến lúc không  muốn cũng phải chấp nhận: trách nhiệm đầu tiên của đời cha mẹ là trở nên tấm gương đạo đức cho con. Không  đạo đức, cha mẹ sẽ như kẻ có tâm điạ xấu lén gieo cỏ  dại, cỏ gai, cỏ lùng và hạt độc trên thửa ruộng đời con, khác với sống đạo đức là gieo trong con những hạt giống tốt, những hạt giống sẽ nảy mầm hạnh phúc, thành công. Cha mẹ đặt vấn đề đạo đức của mình cũng là dấu  hiệu đến khúc quanh cuộc đời, khi tất cả đã có, đã trải  qua, nhưng có một cái bỗng dưng thấy rất cần, nhưng  chưa có, đó là gia sản đạo đức không thể thiếu cho mình  và cho con. Cho mình vì quỹ thời gian đời mình không còn nhiều; cho con vì tương lai của con đang mở ra như  một thách đố.  Sẽ đến một lúc cha mẹ không muốn tin cũng phải  tin sức mạnh vô song của đạo đức trong việc giáo dục  con cái. Chỉ sợ khi khám phá sức mạnh để tin, thì mọi sự đã quá muộn. Vì thế, ngay khi có thể, cha mẹ nên xem  lại đạo đức của mình, không những để ổn định đời sống tinh thần, bảo đảm bình an tâm hồn, mà còn giải quyết  những lấn cấn, khúc mắc trong tương quan giữa mình  và con cái, khi đạo đức là chìa khóa vạn năng cho tất cả  mọi nan đề. Ngôn ngữ bình dân rất thâm thúy khi tóm tắt đạo đức  ở “lòng nhân”. Lòng nhân là lòng người, khác với “lòng lang dạ thú”. Lòng nhân là trái tim người biết chạnh lòng thương người, là tâm hồn người biết mở rộng đón tiếp người, là bàn tay người sẵn sàng nối dài giúp đỡ người, là bàn chân người lặn lội tìm đến với người cần cứu giúp, là ánh mắt người bao dung, chia sẻ, là tiếng nói người an ủi, khuyến khích, yêu thương, là óc não người thao thức kiếm tìm hạnh phúc cho mọi người. Lòng nhân làm cho con người thật sự là người, người cao thượng, người đạo đức, người thánh thiện, người đáng kính, người lý tưởng,  người tuyệt vời. Lòng nhân đem lại hạnh phúc cho chính  mình và mọi người chung quanh đang cùng sống. Thế giới loài người không thể thiếu những con người có “lòng nhân”; nếu không, thế giới sẽ bùng nổ tức khắc  vì hận thù; sẽ đóng băng lập tức, vì thiếu lửa hy sinh; sẽ  đột tử thình lình vì không còn tình thương làm khí thở.  Lòng nhân làm cho đời người mang chất người, làm cho  ngày mai của người thành ngày mai hy vọng. Lòng nhân  biến quá khứ của người thành ký ức đáng nhớ, dễ yêu, cho phép người gọi tên nhau bằng tình người, và liên kết  mọi người thành một xã hội nhân loại hạnh phúc, an lạc.
    Tóm lại, đạo đức là có lòng nhân, và lòng nhân là thương người, quý người, giúp người. Người là đối tượng của tình yêu, đồng thời cũng là lề luật của tình yêu, nên lòng nhân trở thành điều kiện của đạo đức. Cha mẹ có lòng nhân sẽ dạy con thành người nhân nghĩa. Nhân nghĩa là thước đo người đạo đức, và là nấc thang cần thiết cho cuộc đời hạnh phúc, thành công. Tuy thế, để lòng nhân mãi bền vững, người đạo đức cần quy chiếu đời sống đạo đức của mình vào một lý tưởng siêu nhiên, hay một Đấng thiêng liêng nào đó. Niềm tin tôn giáo không thể thiếu trong đời sống đạo đức, vì đó là căn bản và là đích tới của mọi đạo đức nhân loại. Người viết đã làm việc trong nhiều nha dưỡng lão, bên các cụ ông, cụ bà rất cao tuổi ở Áo và Pháp thời còn đi học. Qua nhiều tiếp xúc, và chia sẻ thân tình, người viết biết rõ một điều: Nỗi buồn sâu lắng và không ngừng day dứt tâm hồn các cụ là đời sống đạo đức của quá khứ. Nhiều cụ đêm nào cũng khóc, vì tiếc nuối đã không sống đạo đức, để con cái hư hỏng. Có cụ thở dài trách mình đã  trác táng, sa đọa thời trai trẻ, để lại một gánh nặng tinh  thần trên đời con cái. Cũng có trường hợp tự tử vì không  chịu nổi những cắn rứt của lương tâm về cuộc sống quá  khứ không đạo đức, và đáng thương hơn là nhiều cụ đã hóa điên vì không đủ bao dung tha thứ cho quá khứ nhầy nhụa, hư đốn của mình. Sau nhiều năm thực tập bên các  người già, người viết nghiệm ra một điều: Đạo đức là ám ảnh khôn nguôi, đáng sợ nhất ở tuổi già, khi quá khứ như những thước phim cứ tuần tự trở về. Mỗi chợt  thoáng nhớ con là gọi về nỗi buồn đời không đạo đức;  mỗi vu vơ chợt tỉnh là nghe hồn nặng triu xót xa thời sa  đọa; mỗi choáng ngợp của thời gian là rùng mình sợ hãi  khi hành trang đạo đức còn lỏng lẻo, nhẹ tênh; mỗi trở mình khó ngủ là trăn trở, nghẹn ngào vì dĩ vãng nhiều  lầm lỗi. Và chính ở tuổi “gần đất xa trời”, người ta mới  nghiệm hết cái giá trị không thể thiếu của một đời đạo đức, có lòng nhân. Ước gì cha mẹ ý thức đạo đức là đòi hỏi không thể  thiếu cho hạnh phúc của con cái, và của chính bản thân, để mỗi ngày thêm một bước có thể rất ngắn, rất nhỏ, nhưng luôn quy hướng “lòng nhân”, đi tới lý tưởng một  đời làm cha mẹ đạo đức.


Quý độc giả vui lòng đọc tiếp chương 10 : http://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/CMYT-chuong10

Thứ Tư, 19 tháng 9, 2018

Chương VIII : CÔNG BÌNH : NỀN TẢNG CỦA TÌNH YÊU CHA MẸ


    Cha mẹ càng già, con cái càng lớn, thì gia đình dễ đưa đến bất hòa, dễ làm rạn nứt tình nghĩa, đó là vấn  đề công bình trong tình yêu của cha mẹ đối với con cái. Không ai phủ nhận: cha mẹ nao cũng có riêng cho mình đứa con được thương hơn như “cục cưng” của mẹ,  “niềm an ủi tuổi già” của cha. Điều này không sai trái,  vì đó là quyền của cha mẹ, nhưng cũng không chối cãi  được: Đây chính là nguyên nhân gây ra không ít vấn đề  nan giải giữa con cái, mà phần đông cha mẹ lại vô phước  trở thành nạn nhân.

1. Con cái rất nhạy bén với công bình 
Có thể cha mẹ không quan tâm khi thương yêu con,  nhưng các con lại rất nhạy bén khi cha mẹ không thương đồng đều. Chúng không cần biết cha mẹ thương em út  hơn, vì em sinh ra trong lúc gia đình khánh kiệt, làm ăn  thua lỗ, nên em chịu nhiều thiệt thòi, nay cha mẹ muốn bù đắp; hay thương chị cả hơn, vì mới lấy nhau, vừa ra  ở riêng, cha mẹ không có điều kiện kinh tế để chăm sóc  chị đầy đủ, nhưng chúng chỉ biết: Mình là con, nên đòi công bình trong tình yêu của cha mẹ, vì tất cả đều được sinh ra bởi cùng một cha, một mẹ.  Có thể cha mẹ không để ý trong cách yêu thương,  nhưng con cái lại rất tinh tế khi cha mẹ “bên trọng bên khinh”, thương đứa này hơn đứa kia, lo cho đứa này  nhiều hơn các đứa khác. Chúng đâu cần hiểu: Mỗi đứa  con là một trời kỷ niệm của tình yêu giữa cha và mẹ,  nên khác biệt là chuyện bình thường, dễ hiểu, cần được cảm thông. Có thể cha mẹ coi chuyện hơn - kém một chút trong tình cảm dành cho các con là chuyện nhỏ, nhưng với các con lại là chuyện lớn, có thể làm “kinh thiên động địa”. Có thể cha mẹ đánh giá tình huynh đệ của con cái quá cao, trong khi đám gà con đá nhau tá lả vì đứa có đứa không, đứa được cưng, đứa chẳng được cha mẹ hỏi  đến bao giờ, chẳng như lời khuyên của cha mẹ: “Gà  cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”.  Vì thế mà sơ ý của cha mẹ có thể làm phật ý con; sơ sót của cha mẹ là đắng đót lòng con; sơ sẩy của cha mẹ  làm cớ cho con cái đấu đá, bất hòa; sơ suất của cha mẹ đẩy đám con vào ghen tuông, chia rẽ, vì con cái rất nhạy  cảm trước bất công, ngay trong tình yêu của cha mẹ. 

       2. Con cái chưa là thánh 
      Cha mẹ thường nghi tốt cho con, nên hay quyết đoán con mình không có tính hư tật xấu, nhất la không so đo, tỵ nạnh, ganh ghét giữa nhau. Nghĩ như vậy là phủ nhận sự thật về con mình với nhiều giằng co thiện  - ác, xấu - tốt liên lỉ bắt phải quyết liệt chọn lựa. Là con người, con cái cũng chung thân phận phải chiến đấu  giữa điều phải lam, đáng lam va điều không được phép  làm, không nên làm. Cuộc chiến nội tâm không thiếu cam go, vì cơn cám dỗ lam điều xấu, chiều theo bản  năng luôn có mặt, hoạt động. Chính vì thế, con cái chưa là thánh, nên còn tham, sân, si, còn tranh giành, ganh  ghét, ken cựa, được thua. Ý thức điều này, cha mẹ sẽ không lơ là với công bình trong cách đối xử với các con. Thái độ trọng đứa này, khinh đứa kia, thương con này, bỏ con khác là nguyên nhân đưa đến nội chiến trong gia đình, và cảnh huynh  đệ tương tàn là điều khó tránh. Nhìn con như những con người nhiều yếu đuối, cha mẹ sẽ tránh cho con những cớ vấp phạm, để tình yêu của cha mẹ không thoái hóa thanh  ngòi nổ chiến tranh giữa anh em cùng cha cùng mẹ. Thực tế cho thấy: Có nhiều cha mẹ không công bình  trong đối xử với các con. Có những đứa con lớn bị cha mẹ khinh thường, không đoái hoai, không cho tham gia  ý kiến; ngược lại, đứa con út lại nắm đầu mọi anh chị, “tác yêu tác quái”, và quyết định mọi việc trong nhà cha  mẹ, vì “mua” được cha mẹ, nắm được cha mẹ, bởi cha mẹ yếu đuối, không cứng rắn, thiếu công bình.  Không thiếu những gia đình tan nát, kiện cáo nhau ra tòa, có khi còn đâm chém, hãm hại nhau, vì từ tình cảm không công bình của cha mẹ đã dẫn đến không công bình trong phân chia tai sản, để rồi tình cảm va vật  chất đan quyện lẫn lộn vao nhau tạo nên muôn van mâu thuẫn, đố ky. Rất nhiều cha mẹ vì thương con này nhiều, thương con kia ít, vun xới cho con nay, nhưng bỏ bê con kia để  rồi trắng trợn thiên vị trong quyết định, phân xử đã đẩy con cái vào bế tắc của tình huynh đệ khi bất công ngập tràn đã mở đường cho tội ác. Một vai điểm then chốt về công bình cần được cha mẹ quan tâm để tránh cho con cái cảnh “nồi da xáo thịt” rất đáng trách, đáng buồn.
3. Công bình là nền tảng của mọi tình yêu 
     Báo chí thường hay đăng những “chuyện tình” của những chàng có vóc dáng bảnh bao đi “cưa” những cô gái có tiền để trục lợi, kiếm chác, và thiên hạ gọi những chàng này là những tên “đào mỏ”. Đào mỏ là nhãn hiệu tồi tệ, đáng khinh, vì thiếu công bình, bất công, khi chủ trương “bóc” người yêu, “lột” người yêu. Với  những chàng đào mỏ chuyên nghiệp nay thì “bóc lột  thân thể” người yêu chỉ la phương tiện, bóc lột tiền bạc, của cải của “người yêu” mới la mục đích. Chuyện tình  của những chang đao mỏ, va người con gái ngây thơ, dễ  tin đã bị xây trên bất công, nên sụp đổ rất nhanh, va tan  khốc, bởi đó la mối tình “bạo phát, bạo tan” luôn kết  thúc bằng thương đau cho nàng, và bỉ ổi cho tên đạo tặc. Cũng thế, khi một trong hai người chỉ lợi dụng, vơ vét, thì tình yêu giữa hai người không thể bền chặt, va sớm muộn cũng tan vỡ. Tình yêu lứa đôi cũng không khác tình yêu cha mẹ. Khi bổn phận yêu thương đã chu toàn, mà quyền lợi được yêu thương không được thỏa mãn, trái tim con cái  sẽ nổi loạn, vì không chịu đựng được bất công. Vì thế, cha mẹ không công bình trong tình yêu dành cho các  con sẽ cho con cảm tưởng bị tước đoạt quyền được yêu thương, và đó la xúc phạm lớn đối với con cái. Bị xúc phạm vì không được yêu thương, hay bị phân bì, kỳ thị, con cái sẽ oán trách cha mẹ, va mang nặng mặc cảm bị  quên lãng, bỏ rơi. Có nhiều cha mẹ luôn miệng khuyên con cái “phải  thương yêu, đùm bọc nhau”, nhưng lại thi hành chính sách thiên vị, phân biệt rất bất công gây bất hòa giữa con cái thì hỏi lời khuyên ấy có giá trị gì và ảnh hưởng được đến ai? Nhìn cha mẹ bất công, thấy cha mẹ thiếu công bình, con cái nào có thể chân thanh va cởi mở tấm lòng  với nhau, nói chi đến chuyện đùm bọc, tương trợ? Là nền tảng của mọi tình yêu, nên cha mẹ không thể bứng đi công bình, nhưng bắt buộc phải đặt tình yêu con  cái trên đó:
 • Công bình trong lời ăn tiếng nói để tất cả cac con  đều thấy mình la con, được sinh ra bởi một tình  yêu cha mẹ. 
• Công bình trong thái độ để không đứa con nao thấy  mình bị phân biệt đối xử. 
• Công bình trong phán quyết để con nhận ra mình la  thanh viên toan phần của gia đình, đứa con “trăm  phần trăm” của cha mẹ.

4.  Công bình là đức tính cần thiết của cha mẹ 
    Vì công bình giữ cha mẹ ở điểm trung tâm, cọc mốc  tâm điểm cho con cái xum vầy, đoan tụ. Vòng tròn cần  tâm điểm để la vòng tròn, cũng như gia đình cần cha mẹ  để là mái ấm. Nếu mất tâm điểm, vòng tròn yêu thương sẽ méo mó, cong queo, như cha mẹ không ở đúng vị trí  sẽ lam gia đình hỗn loạn, mất đoan kết, không còn nhất  tâm, nhất trí. Công bình là tâm điểm cần thiết để bổn  phận của con được thúc đẩy chu toan, va quyền lợi của  con được vẹn toan bảo đảm.  Đến đây, chúng ta đồng ý với nhau: Công bình rất  cần thiết để tạo một bầu khí yêu thương giữa cha mẹ và con cái, tình huynh đệ gắn bó giữa các con. Và công bình trong tình cảm, công bình trong thái độ, công bình  trong mọi quyết định được nhận là chìa khóa của mái ấm hạnh phúc. Nhưng vấn đề được đặt ra, đó là công bình lý tưởng ấy có khả thi, hay chỉ là lý tưởng suông, không có  trong thực tế gia đình?  Quả thực, một công bình tuyệt đối, hay một công  bình cực đoan, vô điều kiện thiết tưởng là điều khó thực  hiện trong đời sống gia đình, bởi những lý do sau:

a. Mỗi đứa con là một cuộc đời, một vũ trụ,  một tình cảm đặc thù, khác biệt 
    Cha mẹ sinh ra nhiều con, nhưng không đứa nào  giống đứa nào, vì mỗi đứa con được sinh ra đã được cưu mang trong một thời gian, không gian đặc thù, với tình yêu, hoàn cảnh kinh tế, xã hội khác biệt. Đứa con sinh ra trong thời ly loạn, khi ma cha mẹ phải bỏ lang bỏ xóm chạy loạn, di cư sẽ khác hẳn đứa con được sinh trong thời bình, khi cha mẹ không còn lo lắng chốn đạn, tránh bom, chật vật với đời sống vất vả, nghèo nàn. Ngoài hoàn cảnh khác biệt, tình yêu của cha mẹ dành cho nhau khi sinh  các con cũng không ở cùng mức độ: có đứa được sinh ra khi tình yêu cha mẹ lên hương nồng nàn, nhưng cũng có đứa con không gặp may sinh vào lúc mẹ cha nhiều mâu thuẫn, hiểu lầm. Tình cảm vì thế cũng ảnh hưởng và ký  ức cũng do đó in sâu trên từng đứa con, để mỗi khi nhìn con, cha mẹ lại hồi tưởng, sống lại tình cảm xưa. 
     Chính vì thế, không thể có một đàn con hoàn toàn  giống nhau, hay một bầy con được sinh ra trong cùng một điều kiện, hoàn cảnh, tâm trạng của cha mẹ. Đó  cũng là lý do không thể có một tình cảm tuyệt đối công bình nhìn từ bên ngoài của cha mẹ dành cho các con. Nhưng điều quan trọng là cha mẹ yêu thương tất cả các con với một tình yêu tròn đầy, mặc dù mỗi đứa được yêu  thương bằng những cách khác nhau.  Cũng thế, cách thức yêu con sẽ không cùng một khuôn mẫu, những khác biệt tùy theo nhu cầu của mỗi đứa. Có đứa thâm trầm, kín đáo không thích cha mẹ bộc lộ công khai tình cảm; đứa khác tính tình phóng khoáng, cởi mở lại thích được cha mẹ tự nhiên nụng nịu, không che giấu, dè dặt. Hiểu con từng đứa, biết con từng phân ly da thịt, cha mẹ thương con trên nền tảng công bình, nhưng không  phải thứ công bình xơ cứng, cực đoan; trái lại, công bình  trong yêu thương là ánh đèn rất sáng soi dẫn tình yêu cha  mẹ đến tận sâu kín của nhu cầu nơi con cái, để tất cả các  con luôn là đối tượng của tình yêu tròn đầy, viên mãn, và không một đứa nào bị lọt khỏi tình yêu cha mẹ, nhờ  mắt sáng công bình.

b. Có những đứa con bất hiếu 

     Khi đối diện với đứa con bất hiếu, cha mẹ tuy vẫn yêu thương, nhưng không thể đối xử với cậu con bất hiếu  như với các con khác, bởi cậu con nay đã đơn phương phá vỡ khế ước tự nhiên giữa cha mẹ - con cái, theo đó, đã lam con tất phải có bổn phận hiếu thảo. Được cha  mẹ yêu thương là quyền lợi, nhưng bổn phận hiếu thảo  không được cậu thực hiện. Điều nay đương nhiên đưa  đến hậu quả la quyền lợi của cậu từ nay bị đặt dưới một số điều kiện, chứ không tự động như trường hợp bình  thường của các anh chị em khác. Cụ thể la cha mẹ không  thể tin tưởng cậu ma giao phó của cải, gia sản cho cậu, cũng không thể chia sẻ với cậu những công việc hệ trọng  cần phải kín đao va trung tín trong gia đình. Thái độ của  cha mẹ cũng phải thay đổi để cậu nhận ra sai trái của  mình va biết dừng lại trước khi quá đa, quá muộn.  Công bình với cậu không còn tự động, tự nhiên,  nhưng có điều kiện, vì tương quan cha mẹ - con cái giữa  cậu va song thân không còn bình thường, đáng tin.  Ở những trường hợp nay, người ta không có quyền  đòi hỏi cha mẹ một công bình tuyệt đối, hiểu theo nghĩa: phải tuyệt đối đồng đều giữa các con thảo hiếu va bất  hiếu, ngoan ngoãn va hư đốn, thương cha thương mẹ va  lêu lổng, hoang đang, “phá gia chi tử”. Và cha mẹ có  quyền đo lường mức độ công bình để bảo đảm an toan ở mọi phương diện cho mình va gia đình. Một thí dụ điển  hình: đứa con xì ke, ma túy bỏ nha đi hoang, nay dắt côn  đồ về đe dọa cha mẹ, mai đưa du đãng về hăm dọa, tống tiền anh em trong nha sẽ không được hưởng sự công  bình trong việc phân chia tai sản của cha mẹ, vì anh ta đã  không có đủ điều kiện tối thiểu để hưởng quyền lợi công bình đó. Với cậu, cha mẹ tuy rất thương, nhưng vì biết có cho cậu bao nhiêu của cải, tiền bạc, cậu cũng sẽ đem nướng vào “chất trắng chết người”, nên không thể cho  cậu phần gia tai đáng lý ra cậu được hưởng. Công bình  vì thế phải được bảo đảm bởi một số điều kiện để mục đích của tình yêu là hạnh phúc của cậu được thực hiện.  Như thế, công bình trong tình yêu của cha mẹ, ở vào một số trường hợp sẽ không thể áp dụng đồng đều cùng  mức độ cho tất cả các con. Công bình sẽ không được  hiểu nhất loạt như nhau, hoan toan như nhau, không  khác biệt; trái lại, công bình được ánh sáng khôn ngoan  của tình yêu hướng dẫn để cha mẹ biết phải yêu con thế  nào cho công bình, thương con thế nao cho con được  hạnh phúc, giúp con thế nao cho con đạt được giá trị lam  người. Va nếu công bình la nền tảng của tình yêu, thì  tình yêu cũng la hướng đạo viên của công bình để công  bình không chai đá, xơ cứng, ù lì dừng lại ở một điểm  cực đoan. Đồng thời khi soi sáng công bình, tình yêu  cũng sẽ không mù quáng phiêu dạt đó đây tạo nên mất  trật tự, mất cân đối, thiếu hòa điệu. Chia sẻ về công bình trong tình yêu cha mẹ đối với  con cái, chúng ta đã nêu lên được sự cần thiết của công  bình như nền tảng cho tình yêu cha mẹ đứng vững ở vị  trí trung tâm, quy tụ, nối kết; đồng thời trình bay gới hạn  của công bình trong một số trường hợp, ở đó, công bình  được thể hiện mộ cách linh động, khôn ngoan hầu đem  lại lợi ích không chỉ cho con, ma cho tất cả mọi thanh viên trong gia đình. Công bình như nền tảng của tình yêu,  nhưng cũng cần tình yêu hướng dẫn để công bình không  trở thanh một nguyên tắc chết lam mất thăng bằng, hòa  điệu của tình yêu cha mẹ - con cái. Nói cách khác, cha mẹ mang ơn gọi yêu thương, nên cũng được đặc sủng khôn ngoan để biết yêu thương đúng, yêu thương thực,  yêu thương công bình hầu đem lại hạnh phúc cho con. Học công bình trong yêu thương cũng la học yêu  thương công bình, bởi loại bỏ công bình, cha mẹ khó có  thể yêu thương chính đáng, yêu thương hữu hiệu, yêu  thương như đòi hỏi của ơn gọi lam cha mẹ.

Quý độc giả vui lòng đọc tiếp chương 9 : http://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/CMYT-chuong9

Chương VII : BÊNH CON MÙ QUÁNG

    Bênh con là căn bệnh khó chữa của nhiều cha mẹ. Chính căn bệnh này làm hư hỏng nhiều con em, và hầu hết chúng ta đã một lần chứng kiến cảnh tượng bênh con. Riêng tôi, không chỉ chứng kiến mà còn là nạn nhân của căn bệnh “bênh con mù quáng” này.
Cũng cái thói hay ngứa mắt, cộng thêm bệnh nghề nghiệp “giáo dục”, tôi gọi điện cho đứa cháu, va dặn dò duy nhất một câu: “Có ăn uống gì ở nha ông ngoại, nhớ dọn dẹp, đừng để ông ngoại phải dọn, cháu nhé, vì ông gia rồi. Cháu dọn 5 phút, ông sẽ phải dọn 15 phút. Tội nghiệp ông, 93 tuổi rồi!”. Bố tôi ở một mình, nhưng gia đình cô em ở gần đó, các cháu qua lại hằng ngay. Nhưng các cháu tôi, vì được cưng chiều quá đáng, đã trở thanh những đứa trẻ “bất trị”. chẳng thế ma sau cú điện thoại chính đáng ấy, cả nha em tôi như bão tố nổi lên chống tôi. Một chiến dịch chống, chống quyết liệt, chống kịch liệt kéo dai cả tháng, lôi cả bố gia tôi vao chiến dịch, chỉ vì tôi đã dám lên tiếng “trách” đứa cháu “thượng đế” được coi như vinh dự của gia đình em tôi. Câu chuyện của tôi chỉ la một trong trăm ngan câu chuyện bênh con của nhiều cha mẹ. Quan sát thái độ bênh con ở những cha mẹ nay, ta nhận ra những điểm sau:  
     1. Bênh con cách quá khích, cực đoan 
     Khi con bị người khác phê bình, nhắc nhớ, lập tức cả cha lẫn mẹ điên tiết, nổi giận mà không cần hỏi tại sao. Họ không đủ kiên nhẫn lắng nghe để hiểu ro ngọn nganh, nhưng tiên thiên cho rằng người khác sai, người khác hồ đồ, người khác chụp mũ, vu oan con họ, va lồng lộn bênh con cách cực đoan, quá khích. Quá khích đến độ phản công dữ dội với người giúp ý kiến để thăng tiến con mình. Cực đoan đến độ phủ nhận một cách lố bịch sai trái cần sửa đổi của con. Với họ, con cái la “thượng đế” không chỉ thượng đế thập toan, ma còn la thượng đế “bất khả xâm phạm”. Những cha mẹ bênh con quá khích, cực đoan thường thuộc khuynh hướng tôn sùng con, thần tượng con. Chính vì thế, chỉ cần đụng nhẹ đến phần yếu của các ông thần, ba thánh, họ có thể bằm nát kẻ đã dám phạm thượng phê bình, chỉ trích, sửa trị con cái họ.
      2. Bênh con cách dữ tợn, hung bạo  
    Vì cực đoan, quá khích, nên những cha mẹ mang bệnh “bênh con” thường sử dụng bạo lực trong ngôn từ, và hành động, vì chỉ có bạo lực mới diễn tả hết cơn cuồng nộ khi con cái họ bị “xúc phạm”. Hai chữ xúc phạm đây là do họ cường điệu, chứ thực ra, đó chỉ là những góp ý, phê bình mang tính xây dựng, tích cực của người khác. Nhưng vì thành kiến và mặc cảm, nên “nhất cử nhất động” của người khác đụng chạm đến con họ, đều bị họ xử lý bằng ngôn từ thô bỉ, nặng nề, có khi bằng hành vi bạo lực. Với họ, chỉ có một điều mà người khác được phép làm cho con họ, đó là tấm tắc khen, và nồng nhiệt chúc tụng.
 3. Bênh con cách vô lối, phi lý
     Khi bênh con bằng mọi giá, cha mẹ sẽ bất chấp mọi sự thật, lý lẽ, đúng sai, phải trái; nhưng cối chầy, ngang bướng, và ngoan cố đến độ dị hợm kéo cho bằng được phần thắng về phía con. Cha mẹ sẽ không còn đủ sáng suốt để nhận ra đúng sai, vì cơn sốt bênh con bùng nổ; cũng không nhìn thấy ích lợi của lời chỉ bảo, nhắc nhở, và nhất là lòng chân thành, và thiện chí giúp con mình thăng tiến của người khác. Não trạng “con là thượng đế” đầy đặc trí khôn, ý nghi “con mình là số một” bao kín tâm hồn, nên cha mẹ ôm lấy căn bệnh bênh con, để thỏa mãn kiêu căng, hợm hinh của mình. Tất cả quá khích, cực đoan, dữ tợn, hung bạo, vô lối, phi lý là dấu hiệu của căn bệnh bênh con nguy hiểm. Bệnh này nguy hiểm, vì đưa đến làm mù mắt cha mẹ, và mù luôn cả nhân cách của con.
    Cha mẹ mù vì không còn thấy ai, thấy gì ngoài thấy con. Nhưng ngay cả con, cha mẹ cũng không còn mắt sáng để thấy con mình có khuyết điểm nào cần sửa đổi, ưu điểm nào cần phát huy, tình trạng nào cần cải thiện, mức độ nào cần nâng cao. Vì mù, cha mẹ không thấy ai ngoài con, nên ảo tưởng về con mình: con hỗn láo, mà bảo con biết ứng xử; con kiêu căng, ngạo mạn, lại cho là giỏi giang, có nghị lực; con lười biếng, dốt nát nhưng lại tưởng con là thần đồng, vi nhân; con côn đồ, mất dậy lại nghi con ngoan ngùy, đoan trang; con gian dối nhưng cho rằng con khôn ngoan, khéo léo… Tắt một lời, cha mẹ không thấy gì, vì mù loà trước hào quang giả tạo của con, do chính mình tạo nên, vì quá thần tượng, suy tôn con. Thực ra, bệnh bênh con có nguyên nhân sâu sa của nó. Những hiện tượng bên ngoài là chiến lợi phẩm thu được của những siêu vi trùng giấu mặt trong cha mẹ để ngày đêm đục khoét đôi mắt tâm hồn. Ta có thể điểm mặt một số vi trùng độc hại:
a. Kiêu căng
      Bênh con là biểu chứng hùng hồn của tính kiêu căng, ngạo mạn, coi nhà mình là nhất, con mình là số một. Kiêu căng làm cho cha mẹ, con cái trở thành “tín đổ của nhau, khi chỉ nhìn nhau, thấy nhau, ca tụng nhau, bốc thơm nhau, tôn thờ nhau. Những gia đình kiêu căng tự tách biệt khỏi mọi người, vì với họ, chẳng có ai xứng đáng để họ kết bạn làm thân, hay tư vấn, học hỏi. Tính kiêu căng gia đình làm cho đời sống ngày càng nghèo nàn, vì tất cả thành viên trong nhà đều tự mãn, cho rằng mình tự đủ cho mình, mà không phải cần đến ai. Kiêu căng kéo theo tự mãn, và tự mãn chính là hố sâu sẽ chôn cả nhà trong đơn độc, xác xơ.
b. Kém cỏi, non nớt
      Người bênh con la người kém cỏi và non nớt, vì hoàn toàn lẫn lộn giáo dục và xúc phạm. Khi con mình được nhắc nhở để sửa một thiếu sót, bỏ một thói hư, chính là nó đang được giáo dục, mà giáo dục là việc làm cần thiết, công trình vi đại phải được thực hiện để giúp con nên người. Thiếu giáo dục, con cái sẽ thành những cây rừng hoang dã, những ngọn cỏ dại uá héo bên đường, những con người không tương lai và bất hạnh. Giáo dục cần cho con cái như dưỡng khí cần cho sự sống, máu cần cho thân thể. Người ta có thể sống nghèo, nhưng không thể sống thiếu giáo dục. Khi lẫn lộn “việc lớn” giáo dục với ám ảnh danh dự con cái, gia đình bị xúc phạm, cha mẹ ở dạng bênh con đã để lộ sự thật kém cỏi, non nớt của mình về mọi phương diện. Cũng vì thiếu hiểu biết, cha mẹ này càng kiêu căng, tự mãn… và càng tự mãn, kiêu căng, con cái càng không được giáo dục, mà hậu quả là nếp sống ngày mai nhiều rủi ro.
c. Tâm hồn chật hẹp, khép kín
     Tất nhiên cha mẹ bênh con mù quáng phải là những tâm hồn khép kín, chật hẹp. Khép kín mới không thể chấp nhận lời khuyên, ý kiến của người khác. Chật hẹp mới không có chỗ cho người khác ngoài gia đình. Đóng kín gia đình trong những nhỏ bé, giới hạn của thành viên gia đình, cha mẹ vô tình làm con cái chết yểu, vì ngột ngạt. Nhưng vì quen, nên mọi người không cảm thấy mình èo uột, khó thở; vì bị những tâng bốc, ca ngợi điều kiện hóa, các thành viên gia đình không thể tách rời nhau, hay làm khác nhau.
d. Ích kỷ, tham lam
     Sâu sa của hanh động bênh con vô lối là tính ích kỷ, tham lam. Cha mẹ ích kỷ khi “sở hữu” con mình, và không muốn bất cứ ai có quyền trên nó. Ích kỷ biến cha mẹ thành điên cuồng khi ai đó tỏ ra có chút quyền trên con cái họ, vì tận thâm tâm, con cái đã là sở hữu bất khả nhượng. Cha mẹ này cũng tham lam, vì chỉ muốn vơ vào. Sở di cha mẹ nổi điên khi con bị phê bình, trách mắng bởi người khác, là vì cha mẹ cảm thấy mất mát một cái gì đó mà bấy lâu vẫn khư khư giữ kỹ. Vì thế, phê bình, sửa sai với họ chính la cướp đi, lấy mất những gì thuộc về họ.
e. Si - Nổ
     Có một đặc điểm chung ở những cha mẹ bênh con mù quáng này là chất “si - nổ”. Si là “si diện dổm”, nổ là huyênh hoang, khoe khoang, tự đắc. Những cha mẹ này bênh con, phần lớn vì ôm cái danh dự ảo của “danh gia vọng tộc”, khi tự gán cho mình những vinh dự gia thế mà chẳng bao giờ có. Họ cũng thích khoe khoang, “trưng bay” con cái. Điều dễ thấy nhất là trong nhà họ chân dung con cái được treo cùng khắp, đặc biệt những bức ảnh ra trường có “mũ mão, cân đai” trịnh trọng, hoành tráng. Bằng cấp, chứng chỉ, bảng khen thì ngổn ngang trên tường, làm mờ mắt khách đến chơi. Thói si diện ảo và nổ chan chát, inh ỏi làm thiên hạ chán ngán đến nhờm tởm, nhưng với họ là cả niềm vui, thích thú. Tóm lại, cha mẹ bênh con mù quáng trở thành những cha mẹ bệnh hoạn làm con hư hỏng, không thích nghi, hội nhập được vào đời sống chung, mà trước sau con cái phải bước vào. Bênh con làm con quên sự thật về mình, để rồi mê man trong tính hư tật xấu, mải miết với non dại, ấu tri, yếu kém của mình mà không tóm được một bàn tay hướng đạo, nâng đỡ. Vì bênh con, cha mẹ làm con bị mọi người cô lập, bị xã hội loại bỏ. Vì bênh con, cha mẹ giam hãm con trong vòng tay ngục tù, sở hữu của mình, và biến con thành những con người “không giống ai”. Hậu quả tai hại của bênh con thì vô kể, và mức độ trầm trọng thì khôn lường. Giáo dục đòi cha mẹ tinh thần sáng suốt để luôn ý thức con cái là những thân măng mới nhú còn non nớt cần được uốn nắn bởi nhiều bàn tay. Ngoài bàn tay cha mẹ, còn những bàn tay thân ái, yêu thương, thành thạo khác góp phần, chung sức cho tương lai của măng. Vì thế, bênh con là chặt đứt những bàn tay nối dài rất cần thiết ấy; bênh con là khóa chặt những bàn tay muốn cộng tác xây dựng hạnh phúc của con mình; bênh con là cấm vận mọi nhánh sông đem nước vào đồng lúa là con; bênh con là bứng con ra khỏi những liên đới không thể thiếu để thành công trong cuộc đời. Tóm lại, bênh con là làm con chết ngạt trong kiêu căng, hãnh tiến, ngu si, ích kỷ của mình, và cha mẹ phải chịu trách nhiệm về hậu quả tai hại rất đáng buồn ấy.

Quý độc giả vui lòng đọc tiếp chương 8 https://tinmungduongpho.blogspot.com/search/label/CMYT-chuong8